Tất cả các quy định về tuyển dụng công chức cấp xã đều nhằm mục đích mong muốn xây dựng cho Nhà nước một đội ngũ công chức cấp xã tài năng, sáng tạo, có sức ảnh hưởng đến nhân dân ở từng
Trang 1KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Giảng viên hướng dẫn:
Ths Nguyễn Lan Hương
Sinh viên thực hiện:
Bùi Thị Phương Thảo MSSV: 5117430 Lớp: HG1163A1
Cần Thơ, tháng 11/2014
Trang 2KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Giảng viên hướng dẫn:
Ths Nguyễn Lan Hương
Sinh viên thực hiện:
Bùi Thị Phương Thảo MSSV: 5117430 Lớp: HG1163A1
Cần Thơ, tháng 11/2014
Trang 3Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Lan Hương, là giảng viên bộ môn Luật Hành chính của khoa Luật thuộc trường Đại học Cần Thơ Trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp, mặc dù bận rộn trong giảng dạy và công việc nhưng cô vẫn dành nhiều thời gian để hướng dẫn và thường xuyên nhắc nhở em phải nghiên cứu kĩ đề tài và hoàn thành theo đúng tiến độ Nếu không được sự tận tình hướng dẫn của cô thì chắc chắn em sẽ gặp rất nhiều khó khăn và trở ngại trong việc thực hiện luận văn
Tiếp theo, em cũng xin gởi lời cảm ơn đến quý thầy, cô của khoa Luật và các thầy, cô khác của trường Đại học Cần Thơ Trong suốt những năm tháng học Luật tại nơi đây, em rất may mắn khi được sự giúp đỡ và truyền đạt kiến thức từ quý thầy, cô, những giảng viên yêu nghề và giảng dạy chúng em bằng tất cả tấm lòng của mình Nhờ đó, em đã tiếp thu được rất nhiều kiến thức chuyên môn giúp ích cho công việc sau này và nhận được những bài học quý giá trong cuộc sống
Một lần nữa, em xin cảm ơn và chúc cô Nguyễn Lan Hương cùng tất cả các thầy cô của khoa Luật và của trường Đại học Cần Thơ được dồi dào sức khỏe, gặp nhiều may mắn trong cuộc sống và gặt hái được nhiều thành công trong sự nghiệp trồng người
Cần Thơ, ngày 10 tháng 11 năm 2014 Sinh viên thực hiện
Bùi Thị Phương Thảo
Trang 4
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG CHỨC CẤP XÃ VÀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.1 Những vấn đề chung về công chức cấp xã 3
1.1.1 Khái niệm công vụ 3
1.1.2 Khái niệm công chức cấp xã 3
1.1.3 Đặc điểm của công chức cấp xã 4
1.1.4 Phân biệt công chức cấp xã với cán bộ và công chức 5
1.1.4.1 Phân biệt cán bộ và công chức 6
1.1.4.2 Phân biệt công chức và công chức cấp xã 7
1.1.5 Vị trí, vai trò của công chức cấp xã 8
1.1.6 Quản lý nhà nước đối với công chức cấp xã 9
1.1.7 Sơ lược về sự phát triển của pháp luật về công chức 11
1.1.7.1 Giai đoạn trước khi ban hành Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 11
1.1.7.2 Giai đoạn sau khi ban hành Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 13
1.2 Những vấn đề chung về tuyển dụng công chức cấp xã 14
1.2.1 Khái niệm tuyển dụng công chức cấp xã 14
1.2.2 Ý nghĩa của việc tuyển dụng công chức cấp xã 15
1.2.3 Sơ lược về sự phát triển của pháp luật về tuyển dụng công chức cấp xã 16
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 2.1 Nguyên tắc tuyển dụng công chức cấp xã 19
2.2 Căn cứ tuyển dụng công chức cấp xã 21
2.3 Tiêu chuẩn công chức cấp xã 21
2.3.1 Tiêu chuẩn chung 21
2.3.2 Tiêu chuẩn cụ thể 22
2.4 Điều kiện và phương thức tuyển dụng công chức cấp xã 24
2.4.1 Điều kiện đăng ký dự tuyển 24
2.4.2 Phương thức tuyển dụng 26
2.4.2.1 Thi tuyển 27
2.4.2.2 Xét tuyển 28
2.4.3 Tuyển dụng đối với các trường hợp đặc biệt 30
2.4.3.1 Trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng 30
2.4.3.2 Điều kiện, tiêu chuẩn tiếp nhận vào công chức cấp xã không qua thi tuyển 30 2.4.3.3 Quy trình tiếp nhận vào công chức cấp xã không qua thi tuyển 31
Trang 62.7 Thẩm quyền tuyển dụng 34
2.8 Hội đồng tuyển dụng 34
2.9 Trình tự, thủ tục tuyển dụng công chức cấp xã 35
2.10 Tập sự 37
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ TẠI HUYỆN CỜ ĐỎ - THÀNH PHỐ CẦN THƠ 3.1 Tổng quan về huyện Cờ Đỏ - thành phố Cần Thơ 40
3.2 Khái quát về Phòng Nội vụ huyện Cờ Đỏ 41
3.2.1 Vị trí, chức năng 41
3.2.2 Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của từng thành viên 42
3.3 Tình hình công chức cấp xã tại huyện Cờ Đỏ 43
3.4 Tình hình tuyển dụng công chức cấp xã tại huyện Cờ Đỏ năm 2013 45
3.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tuyển dụng công chức cấp xã tại huyện Cờ Đỏ 49
3.6 Những mặt tích cực và hạn chế của công tác tuyển dụng công chức cấp xã tại huyện Cờ Đỏ 51
3.6.1 Tích cực 51
3.6.2 Hạn chế 52
3.7 Những đề xuất và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động tuyển dụng công chức cấp xã 56
KẾT LUẬN 62
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan hành chính nhà nước thực hiện quản lý mọi mặt của đời sống xã hội trên cơ sở lấy dân làm gốc, tất cả mọi hoạt động đều vì lợi ích của nhân dân Bộ máy hành chính nhà nước được tổ chức từ trung ương đến cơ sở nhưng sẽ không thể đi vào hoạt động nếu thiếu con người vận hành,
đó là lực lượng công chức được bố trí làm việc từ cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cuối cùng là cấp xã Trong đó lực lượng công chức ở cấp xã đóng vai trò quan trọng, là nền tảng ảnh hưởng đến sự phát triển hay suy yếu của toàn bộ hệ thống cơ quan quản lý nhà nước
Do đó việc tuyển dụng, bổ nhiệm công chức rất được trú trọng, đó là khâu đầu tiên trong quá trình quản lý nhà nước về công chức cấp xã nhưng lại đóng một vai trò then chốt ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã
Từ khi Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 (viết tắt là Luật Cán bộ, Công chức) được ban hành, đối tượng là công chức cấp xã đã được quy định rõ ràng Đồng thời, pháp luật
về tuyển dụng công chức cấp xã cũng được quy định cụ thể và ngày càng hoàn thiện Theo đó, việc tuyển dụng công chức cấp xã không được tùy tiện mà phải tuân theo các nguyên tắc đã được pháp luật quy định, căn cứ vào nhu cầu của cơ quan và tiến hành tuyển chọn những người thật sự tài năng cùng với những đức tính tốt Có như thế mới xây dựng được một hình tượng tốt đẹp về cơ quan hành chính nói riêng và cơ quan nhà nước nói chung trong lòng dân chúng
Tất cả các quy định về tuyển dụng công chức cấp xã đều nhằm mục đích mong muốn xây dựng cho Nhà nước một đội ngũ công chức cấp xã tài năng, sáng tạo, có sức ảnh hưởng đến nhân dân ở từng địa phương bằng một hình tượng gương mẫu, công chức cấp
xã vững vàng về năng lực, có khả năng giải thích cho dân hiểu, nói dân nghe và vận động nhân dân làm theo chính sách pháp luật của Nhà nước thì mới có thể xây dựng được một nhà nước thực sự “là của dân, do dân và vì dân”
Nhận thấy được tầm quan trọng của hoạt động tuyển dụng công chức cấp xã, người viết đã quyết định chọn đề tài: “Quy định của pháp luật về tuyển dụng công chức cấp xã, thực tiễn tại huyện Cờ Đỏ - thành phố Cần Thơ” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp cử nhân luật
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Việc nghiên cứu luận văn nhằm mục tiêu phân tích để hiểu rõ hơn về các quy định của pháp luật về tuyển dụng công chức cấp xã, xem xét việc áp dụng các quy định đó trong
Trang 8thực tiễn tại huyện Cờ Đỏ - thành phố Cần Thơ Đồng thời tìm ra giải pháp để khắc phục những hạn chế còn tồn tại của công tác tuyển dụng công chức cấp xã
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là lý luận về công chức cấp xã và tuyển dụng công chức cấp xã, các quy định của pháp luật về tuyển dụng công chức cấp xã, thực tiễn áp dụng, những mặt tích cực đã đạt được, hạn chế và giải pháp đặt ra
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là hoạt động tuyển dụng công chức cấp xã tại huyện Cờ
Đỏ - thành phố Cần Thơ vào năm 2013
4 Phương pháp nghiên cứu
Người viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp các quy định của pháp luật về tuyển dụng công chức cấp xã, phương pháp so sánh và thống kê số liệu được lấy từ thực tiễn ở huyện Cờ Đỏ - thành phố Cần Thơ
5 Kết cấu của luận văn
Bên cạnh phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung của luận văn gồm có 03 chương:
- Chương 1: Lý luận chung về công chức cấp xã và tuyển dụng công chức cấp xã
- Chương 2: Quy định của pháp luật về tuyển dụng công chức cấp xã
- Chương 3: Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác tuyển dụng
công chức cấp xã tại huyện Cờ Đỏ - thành phố Cần Thơ
Trang 9CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG CHỨC CẤP XÃ VÀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC
CẤP XÃ
1.1 Những vấn đề chung về công chức cấp xã
1.1.1 Khái niệm công vụ
Ở nước ta, có rất nhiều người làm việc ở những nơi khác nhau với sự đa dạng về ngành nghề, có người làm việc trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập hoặc các công ty, doanh nghiệp ngoài nhà nước v.v nhưng nhìn chung, tất cả những loại lao động này đều có những điểm đặc thù khác nhau Trong đó, người làm việc trong cơ quan nhà nước chiếm một lực lượng lao động khá đông Những người làm việc trong các
cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương là cán bộ, công chức được nhà nước trao quyền, khi nhắc đến những đối tượng này, ta không thể không nhắc đến khái niệm công
vụ, đó được xem là hoạt động đặc thù của cán bộ, công chức
Ở các nước trên thế giới, công vụ có những cách hiểu khác nhau và riêng ở Việt Nam cũng vậy, công vụ có một phạm vi rất rộng có nhiều cách giải thích khác nhau, tuy nhiên, khi gộp chung tất cả các cách hiểu khác nhau về công vụ thì ta có khái niệm sau: “Công
vụ là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do cán bộ, công chức tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, phục vụ lợi ích Nhà nước, nhân dân và xã hội”.1
Thông qua hoạt động công vụ, cán bộ, công chức thực hiện việc quản lý nhà nước, thi hành pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống và phục vụ nhân dân Tuy nhiên, hoạt động công vụ không chỉ là công việc đặc thù của các cơ quan nhà nước mà còn bao gồm cả hoạt động của những tổ chức do nhà nước thành lập
Công vụ có các đặc điểm cơ bản là nhằm mục đích phục vụ lợi ích của Nhà nước, nhân dân và xã hội; Chủ thể thực thi công vụ là cán bộ, công chức và cuối cùng, công vụ được tiến hành theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được Nhà nước giao và tuân theo pháp luật
Tuy nhiên, để công vụ được thực thi có hiệu quả thì đòi hỏi phải có một đội ngũ cán
bộ, công chức có năng lực, đạo đức và trình độ chuyên môn phù hợp, có như thế thì hoạt động công vụ mới đạt được mục đích đã đề ra
1.1.2 Khái niệm công chức cấp xã
Trong thực tiễn, một xã hội muốn tồn tại và phát triển lâu dài thì phải có một hệ thống chính trị vững chắc, một nền công vụ phù hợp và tiến bộ Để làm được điều đó thì yếu tố
1 Tài liệu bồi dưỡng thi nâng ngạch chuyên viên cao cấp khối Đảng, đoàn thể năm 2013, chuyên đề V, phần 1, tr.10
Trang 10con người là quan trọng nhất, những người làm việc trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị và gắn liền với chế độ công vụ được gọi là công chức
Trong mỗi giai đoạn của lịch sử, công chức đều có những cách hiểu và định nghĩa khác nhau, có thời kì sử dụng khái niệm viên chức bao hàm cả công chức, có thời kì sử dụng thuật ngữ “cán bộ, viên chức nhà nước”, cũng có thời kì thuật ngữ “cán bộ” được dùng để chỉ tất cả những người làm việc trong cơ quan nhà nước Trải qua nhiều giai đoạn phát triển đến năm 2008, Luật Cán bộ, Công chức ra đời đã phân biệt khá rõ ràng đối tượng là công chức với cán bộ và viên chức Sau khi Luật này có hiệu lực, Chính phủ
đã ban hành Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 quy định những người là công chức (viết tắt là Nghị định số 06/2010/NĐ-CP), đối tượng là công chức được liệt kê rõ ràng hơn tại Nghị định này Bên cạnh lực lượng công chức ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, nhận rõ được tầm quan trọng của cấp xã trong quản lý nhà nước nên trong Luật Cán bộ, Công chức có chia đội ngũ công chức ra thành một nhánh nhỏ đó là công chức cấp xã Ngày 5 tháng 12 năm 2011, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 112/2011/NĐ-CP về công chức xã, phường, thị trấn (viết tắt là Nghị định số 112/2011/NĐ-CP) quy định một cách chi tiết về tiêu chuẩn, tuyển dụng, điều động, tiếp nhận, trình tự và thủ tục đánh giá, thôi việc và thủ tục nghỉ hưu, xử lý kỉ luật và quản lý đối với công chức cấp xã
Theo Luật Cán bộ, Công chức thì công chức cấp xã được định nghĩa như sau: “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.2
1.1.3 Đặc điểm của công chức cấp xã
Dựa vào khái niệm nêu trên, ta thấy công chức cấp xã có những đặc điểm sau:
- Cũng giống như công chức ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện thì công chức cấp xã phải là công dân Việt Nam, đây là đặc điểm bắt buộc phải có và là điều kiện cần để xác định tư cách pháp lý của công chức Tuy nhiên, nếu một công dân Việt Nam muốn thật
sự trở thành công chức cấp xã thì họ cần phải đáp ứng thêm các điều kiện và tiêu chuẩn khác theo quy định
- Con đường hình thành công chức cấp xã là thông qua tuyển dụng Việc tuyển dụng công chức cấp xã phải trải qua kì thi tuyển do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiến hành, đối với những người thỏa mãn các điều kiện cụ thể thì sẽ được tiếp nhận hoặc tuyển dụng thông qua hình thức xét tuyển, tuy nhiên việc tuyển dụng thông qua thi tuyển vẫn là con đường đặc thù
2
Khoản 3, điều 4, Luật Cán bộ, Công chức
Trang 11- Nơi công tác: Theo khái niệm công chức cấp xã tại khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, Công chức thì nơi làm việc của công chức cấp xã là Ủy ban nhân dân cấp xã Có thể thấy rằng nơi làm việc của công chức cấp xã rất hẹp chỉ gói gọn trong Ủy ban nhân dân cấp xã, khác với công chức có nơi làm việc trong một phạm vi rất rộng trong nhiều cơ quan nhà nước, cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam tới các tổ chức chính trị - xã hội
- Nguồn trả lương: Do công chức cấp xã là người lao động nhưng hoạt động của họ là thực thi công vụ ở cấp xã nên họ sẽ được nằm trong biên chế và hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp giống như cán bộ, công chức
- Công việc: Mỗi công chức cấp xã sau khi được tuyển dụng sẽ được phân công giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với khả năng của mình, nhưng đặc điểm chung trong công việc của họ là đều thực thi công vụ ở cấp xã, những công việc này tuy
ở cấp thấp nhất trong bộ máy nhà nước nhưng nó lại không kém phần quan trọng, công chức cấp xã phải thường xuyên tiếp xúc với người dân, là “công bộc” của nhân dân, đem lại sự ổn định và giữ gìn kỉ cương cho đất nước
1.1.4 Phân biệt công chức cấp xã với cán bộ và công chức
Trong đời sống hằng ngày, các thuật ngữ cán bộ, công chức được sử dụng khá phổ biến và trở nên quen thuộc với mọi người Từ những năm 1945, Nhà Nước đã xây dựng
và không ngừng đổi mới những quy định về cán bộ và công chức, ở mỗi giai đoạn đều có những cách hiểu khác nhau về những đối tượng này
Mỗi quốc gia có những cách hiểu khác nhau về vấn đề này tùy thuộc vào thể chế chính trị, cách thức tổ chức bộ máy nhà nước, yếu tố lịch sử và văn hóa của dân tộc Riêng đối với Việt Nam, “thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa có một đặc điểm đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức luôn có sự liên thông với nhau”.3
Việc không phân biệt rõ và chồng lấn trong phạm vi áp dụng các đối tượng là cán bộ, công chức đã dẫn đến nhiều khó khăn trong việc xác định những điểm khác nhau liên quan đến quyền và nghĩa vụ, trong cơ chế quản lý, tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, quy định về các hình thức kỉ luật, tiền lương cũng như các chính sách đãi ngộ khác cho phù hợp với tính chất, đặc điểm và hoạt động của từng đối tượng
Luật Cán bộ, Công chức ra đời đánh dấu một bước ngoặt lớn trong công cuộc cải cách hành chính của nước ta, một trong những đổi mới cơ bản và quan trọng của Luật Cán bộ, Công chức đó là Luật đã làm rõ nhưng tiêu chí để phân biệt giữa cán bộ và công chức Luật cũng tách riêng đối tượng là công chức cấp xã ra thành một chương để phân biệt với đội ngũ công chức ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện
3
Tài liệu bồi dưỡng thi nâng ngạch chuyên viên cao cấp khối Đảng, đoàn thể năm 2013, chuyên đề V, phần 1, tr.2
Trang 12Luật Cán bộ, Công chức đã cơ bản khắc phục được những hạn chế và giải quyết được những vấn đề mà thực tiễn đặt ra Dựa vào đó, ta có thể xác định được những tiêu chí để phân biệt cán bộ, công chức và công chức cấp xã
1.1.4.1 Phân biệt giữa cán bộ và công chức
Theo Luật Cán bộ, Công chức thì: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kì trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.4
Nếu so sánh hai khái niệm cán bộ và công chức được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, Công chức ta sẽ nhận ra những điểm giống nhau và khác nhau sau đây:
Giống nhau
- Cán bộ, công chức đều phải là công dân Việt Nam;
- Là những người nằm trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (trừ trường hợp công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập thì hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập);
- Cán bộ, công chức mang quyền lực nhà nước, được nhà nước giao cho những quyền hạn nhất định để hoàn thành nhiệm vụ, bên cạnh thẩm quyền họ cũng phải gánh vác những nghĩa vụ nhất định đối với nhà nước và xã hội;
- Hoạt động của họ thường không trực tiếp tạo ra của cải vật chất nhưng hoạt động của
họ mang tính chất định hướng phát triển và đảm bảo sự lãnh đạo của Nhà nước đối với các quá trình sản xuất và ổn định đời sống xã hội;
- Cán bộ, Công chức làm việc tại công sở theo chế độ công vụ và được phân định theo cấp hành chính bao gồm cán bộ, công chức ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã
Khác nhau
Con đường hình thành Bầu cử, phê chuẩn, bổ
nhiệm giữ chức vụ, chức danh
Tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh
Thời gian giữ chức vụ,
chức danh
Chủ thể trao quyền Được nhân dân trao quyền Quyền lực công được cơ
4
Khoản 1, điều 4, Luật Cán bộ, Công chức
Trang 13và chịu trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và nhân dân
quan có thẩm quyền trao và chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
Hình thức kỉ luật Khiển trách, cảnh cáo,
cách chức, bãi nhiệm
Khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc
1.1.4.2 Phân biệt giữa công chức và công chức cấp xã
Giống nhau
- Công chức và công chức cấp xã đều là công dân Việt Nam được hình thành bằng con đường tuyển dụng theo hình thức thi tuyển và xét tuyển
- Đều là công chức mang quyền lực công để thực thi công vụ
- Giống nhau về cơ chế, chính sách đãi ngộ, tiền lương, các hình thức khen thưởng, kỉ luật v.v
+ Công chức trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam;
+ Công chức trong Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước;
+ Công chức trong Bộ, cơ quan ngang Bộ và các tổ chức khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập;
+ Công chức trong cơ quan hành chính ở cấp tỉnh, cấp huyện;
+ Công chức trong hệ thống Tòa án nhân dân;
+ Công chức trong hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân;
+ Công chức trong cơ quan của tổ chức chính trị - xã hội;
+ Công chức trong cơ quan, đơn vị của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; + Công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập;
+ Công chức được luân chuyển
- Công chức cấp xã theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 61 Luật Cán bộ, Công chức bao gồm:
+ Trưởng Công an;
+ Chỉ huy trưởng Quân sự;
Trang 14+ Văn hóa – xã hội;
+ Công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã
Do đó, công chức cấp xã chỉ giới hạn trong một số chức danh nêu trên trong khi đó, công chức ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện thì lại có một phạm vi rất rộng Một người làm việc trong Ủy ban nhân dân cấp xã có thể không là công chức cấp xã như thủ quỹ
- Bên cạnh đó, hình thức kỉ luật giáng chức và cách chức chỉ áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, còn công chức cấp xã thì áp dụng 02 hình thức kỉ luật giáng chức và cách chức đối với công chức Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã và Trưởng Công an xã
1.1.5 Vị trí, vai trò của công chức cấp xã
Nhìn lại lịch sử của dân tộc ta, mỗi người Việt Nam đều tự hào một đất nước anh hùng, những con người bất khuất đã làm nên những chiến thắng oanh liệt Để làm nên những chiến thắng vẻ vang ấy thì cán bộ và công chức nói chung có vị trí, vai trò rất quan trọng, cách mạng thành công hay thất bại là phụ thuộc vào đội ngũ những người lãnh đạo Những người lãnh đạo tốt, có đủ khả năng tổ chức, đề ra những chính sách hiệu quả
và hướng dẫn, thuyết phục người dân tuân theo đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước là chìa khóa để quyết định vận mệnh của đất nước và không thể phủ nhận một điều rằng, đất nước ta có được ngày hôm nay là nhờ vào những con người đó
Ngày nay, đất nước ta đã lùi xa chiến tranh và đang trên đường xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa thì vị trí, vai trò của công chức cấp xã ngày càng quan trọng hơn trong hoạt động quản lý, điều hành chính quyền cấp cơ sở Cấp xã tuy là cấp thấp nhất trong bộ máy nhà nước ta nhưng nó là nền móng để đảm bảo bộ máy nhà nước có thể đứng vững và phát triển lớn mạnh Công chức cấp xã có vị trí, vai trò quan trọng thể hiện trên nhiều phương diện:
Thứ nhất, công chức cấp xã là người mang quyền lực Nhà nước đại điện cho Nhà
nước, đồng thời họ cũng là người đại điện cho nhân dân Khi thực thi công vụ, hoạt động của họ gắn liền với nhân dân, công chức cấp xã phải thường xuyên tiếp xúc với các tầng lớp trong xã hội, vì thế họ gần gũi và dễ dàng hiểu được mong muốn và nguyện vọng của người dân, từ đó phản ánh lên các cấp chính quyền để có hướng điều chỉnh phù hợp, bởi
vì tất cả các chính sách khi Nhà nước ban hành đều nhằm mục đích là đảm bảo lợi ích của người dân Nhà nước ta được xây dựng trên cơ sở lấy dân làm gốc, vì vậy mỗi người
Trang 15dân đều có quyền đóng góp ý kiến và thông qua lực lượng công chức cấp xã, những ý kiến đó được nhà nước tiếp thu, khắc phục những hạn chế và tiến hành sửa đổi để ngày càng hoàn thiện
Thứ hai, để đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước được mọi người
biết đến thì phải thông qua đội ngũ công chức cấp xã, vì họ là những người hiểu rõ và trực tiếp nắm bắt những thông tin từ chính quyền cấp trên và có trách nhiệm phổ biến cho người dân và vận động nhân dân làm theo, tuân thủ theo đúng pháp luật và cùng nhau xây dựng một đời sống văn hóa, hình thành khối đại đoàn kết toàn dân Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền thì vai trò của công chức cấp xã là hết sức quan trọng, đảm bảo cho người dân có thể hiểu đúng và đầy đủ các phương hướng hoạt động và tham gia đóng góp vào thành công của đường lối, chính sách đó
Thứ ba, công chức cấp xã là người đại diện cho nhân dân thực hiện chức năng quản lý
nhà nước, trực tiếp giải quyết những yêu cầu, giải đáp những thắc mắc nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của người dân vì thế họ được xem là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân
Thứ tư, công chức cấp xã đảm bảo các chủ trương của Đảng và Nhà nước đề ra được
thực hiện một cách nghiêm túc thông qua qua các biện pháp xử lý, đấu tranh với các hành
vi sai trái, góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
1.1.6 Quản lý nhà nước đối với công chức cấp xã
Trong các cơ quan và tổ chức, con người nhân tố điều hành, tổ chức các hoạt động và nếu không có nhân lực đáp ứng cho nhu cầu lao động thì không thể hình thành nên các tổ chức Tại cơ quan nhà nước nói chung và Ủy ban nhân dân cấp xã nói riêng cũng vậy, việc xây dựng được một đội ngũ công chức chuyên nghiệp là rất cần thiết nhưng có thể nói việc quản lý và điều hành nguồn nhân lực là công việc khó khăn và phức tạp nhất Quản lý nhà nước đối với công chức cấp xã bao gồm rất nhiều các hoạt động như:
- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về công chức cấp xã nhằm hướng dẫn và
cụ thể hóa Luật Cán bộ, Công chức cũng như các văn bản quy phạm pháp luật về Cán bộ, Công chức có quy định về công chức cấp xã và tổ chức thực hiện các văn bản này
- Xây dựng quy hoạch công chức cấp xã
- Quy định tiêu chuẩn, chức danh công chức cấp xã, quy định rõ yêu cầu của từng vị trí việc làm
- Xác định biên chế, quy định số lượng công chức cấp xã; việc quản lý, hình thức tuyển dụng, sử dụng, đánh giá thành tích, đào tạo, bồi dưỡng, các chính sách khen thưởng, kỉ luật, chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ khác nhằm mục đích phát huy tối đa năng lực của công chức và gia tăng hiệu quả trong hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã, đồng thời quy định về việc phân cấp quản lý công chức cấp xã
Trang 16- Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê về công chức cấp xã
- Thanh tra, kiểm tra đối với cơ quan, tổ chức và đối với công chức cấp xã trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về công chức cấp xã
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với công chức cấp xã
- Các công tác khác liên quan đến quản lý công chức cấp xã
Đối với việc xác định thẩm quyền quyết định biên chế và quản lý công chức cấp xã thì “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định số lượng cụ thể công chức cấp
xã theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Nội vụ, Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền tuyển dụng và quản lý công chức cấp xã và Ủy ban nhân dân cấp
xã là cơ quan trực tiếp quản lý và sử dụng công chức cấp xã” v.v.5
Về thẩm quyền quản lý công chức trong phạm vi cả nước, khoản 2 Điều 67 Luật Cán
- Ủy ban nhân dân cấp huyện trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về công chức theo phân cấp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Để quản lý tốt công chức cấp xã thì nhất thiết phải tuân thủ theo các nguyên tắc quản
lý cán bộ, công chức quy định tại Điều 5 Luật Cán bộ, Công chức sau đây:
Thứ nhất, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà
nước Trong quá khứ, Đảng là hạt nhân của mọi thắng lợi, với sự lãnh đạo của Đảng, đất
nước ta đã hoàn toàn giành được độc lập thoát khỏi ách thống trị của giặc ngoại xâm Ngày nay, sự lãnh đạo của Đảng là không thể thiếu, nhất là trong công tác quản lý nhà nước đối với công chức cấp xã, đường lối của Đảng giúp mỗi công chức trong Ủy ban nhân dân cấp xã có hướng hoạt động đúng đắn tránh đi sai đường lối của Đảng và đảm bảo bản chất của Nhà nước ta, Nhà nước xã hội chủ nghĩa
Thứ hai, kết hợp giữa tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế Việc
xác định biên chế phải dựa trên cơ sở khoa học, phải mô tả, phân tích, xây dựng tiêu chuẩn, yêu cầu đối với từng vị trí việc làm một cách rõ ràng và có hệ thống chứ không phải chỉ dựa vào nhu cầu công việc hoặc tuyển chọn những người có bằng cấp phù hợp, bởi vì mỗi vị trí việc làm sẽ có công việc và mức độ mỗi công việc khó dễ khác nhau nên phải tuyển chọn đúng người có khả năng đáp ứng được những tiêu chuẩn đó mới có thể hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan một cách có hiệu quả nhất
5
Điều 46, Nghị định số 112/2011/NĐ-CP
Trang 17Thứ ba, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ trách nhiệm cá nhân và
phân công, phân cấp rõ ràng Trong công việc, công chức cấp xã được đóng góp ý kiến
của mình một cách dân chủ và ý kiến đóng góp của họ được tôn trọng, các quyết định hoặc kế hoạch quan trọng của Ủy ban nhân dân cấp xã phải được đưa ra bàn bạc, mỗi công chức cấp xã đều có quyền nói lên quan điểm cá nhân của mình vì cấp trên luôn khuyến khích tư duy sáng tạo của họ Tuy nhiên, quyền quyết định vẫn tập trung vào người lãnh đạo, công chức cấp xã phải phục tùng mệnh lệnh hợp pháp của cấp trên đề ra
để tránh tình trạng tùy tiện, cục bộ và vô chính phủ, người lãnh đạo sẽ tập hợp tất cả các
ý kiến lại và xem xét những đóng góp tích cực để tiếp thu và chỉ đạo mọi người làm theo
kế hoạch đó Mọi cá nhân công chức cấp xã phải tự chịu trách nhiệm về những việc mình làm, có sự phân định rõ chức trách, nhiệm vụ của mỗi cá nhân, phân cấp rõ ràng để tạo sự công bằng, tránh tình trạng gom góp quá nhiều công việc vào một số người
Thứ tư, việc sử dụng, đánh giá, phân loại cán bộ, công chức phải dựa trên phẩm
chất chính trị, đạo đức và năng lực thi hành công vụ Tài năng và đạo đức là hai tiêu
chí rất quan trọng để đánh giá một công chức Trên thực tế, ở cấp xã hay xảy ra tình trạng công chức đi trễ về sớm vì công việc này từ lâu đã mang tính chất ổn định, suy nghĩ “có vào, không có ra” đã ăn sâu vào nhận thức của những người làm việc trong cơ quan quản
lý nhà nước cấp xã Vì vậy phải đánh giá công chức thông qua tác phong, ý thức và mức
độ hoàn thành nhiệm vụ được giao, cần chú ý kết hợp cả các yếu tố để có cái nhìn đúng đắn về một người, từ đó làm căn cứ để xem xét khen thưởng và xử lý vi phạm
Thứ năm, thực hiện bình đẳng giới Trong hoạt động quản lý nhà nước, cả nam và nữ
công chức đều bình đẳng trước pháp luật, nhà nước luôn tạo điều kiện cho phụ nữ được tham gia vào hoạt động công vụ và học tập nâng cao kiến thức để có thể đóng góp vào công tác quản lý nhà nước
1.1.7 Sơ lược về sự phát triển của pháp luật về công chức
Cùng với bề dày lịch sử của dân tộc ta, pháp luật về công chức cũng được hình thành
và phát triển và hoàn thiện qua các giai đoạn
1.1.7.1 Giai đoạn trước khi ban hành Luật Cán bộ, Công chức năm 2008
Đây được coi là giai đoạn phôi thai của pháp luật về công chức, từ sau Cách mạng tháng tám năm 1945, nhà nước ta đã ban hành các văn bản pháp luật nhưng thuật ngữ công chức chưa được sử dụng mà hầu hết các văn bản pháp luật chỉ sử dụng thuật ngữ viên chức Theo đó, viên chức bao gồm tất cả những người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước và viên chức được hiểu là công chức Bên cạnh đó, cũng có những Sắc lệnh sử dụng cả hai thuật ngữ viên chức và công chức như Sắc lệnh của Chủ tịch
Trang 18Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa số 142NV/CC và Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời số 58 ngày 10/11/1945.6
Sau khi giành được độc lập, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng pháp luật, ban hành ra bản Hiến pháp đầu tiên được Quốc hội lập hiến thông qua tháng 11/1946 Dựa vào chủ trương xây dựng chế độ công vụ mới thể hiện trong Hiến pháp năm 1946, khái niệm công chức đã được quy định tại Quy chế công chức trong Sắc lệnh số 76/SL do chủ tịch Hồ Chí Minh kí ban hành ngày 20-5-1950, Sắc lệnh chỉ đề cập đến đối tượng là công chức và “công chức Việt Nam chỉ được xác định trong phạm vi các cơ quan của Chính phủ Theo Sắc lệnh số 76/SL, những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển dụng, giao giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”.7 Thời kì này không có khái niệm về viên chức nhưng khái niệm công chức vẫn bị thu hẹp trong một phạm vi nhất định không bao gồm những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát, từ đó nảy sinh tình trạng thiêú hụt nguồn nhân lực trong bộ máy nhà nước
Vào cuối những năm 50, đầu những năm 60, mặc dù Quy chế công chức 1950 vẫn có hiệu lực nhưng những văn bản pháp luật ban hành sau đó không sử dụng thuật ngữ công chức mà thay vào đó là viên chức với một phạm vi rất rộng, viên chức trong giai đoạn này được hiểu là bao gồm cả công chức Hiến pháp năm 1959 ra đời không đi theo hướng phân biệt những đối tượng làm việc trong cơ quan nhà nước, khái niệm công chức không được quy định mà sử dụng khái niệm nhân viên để chỉ chung tất cả những người phục vụ trong cơ quan nhà nước
Từ những năm 60 đến đầu thập kỉ 80, khái niệm công chức đã bị phai mờ và dường như không còn tồn tại, không có sự tách biệt rõ ràng thế nào là công chức, thế nào là viên chức mà sử dụng thuật ngữ “cán bộ, công nhân viên chức” để chỉ chung những đối tượng này Đến 1980, khi Hiến pháp mới ra đời thì khái niệm “cán bộ, viên chức nhà nước” đã được chính thức đưa vào sử dụng
Cuối những năm 70 đầu những năm 80, nền kinh tế nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính vẫn là do chế độ quan liêu bao cấp của Nhà nước, từ đó đặt ra yêu cầu cấp bách là phải đổi mới và cải cách toàn diện hệ thống hành chính nhà nước Ngày 25 tháng 05 năm 1991, Nghị định số 169/HĐBT của Hội đồng bộ trưởng về công chức ra đời và một lần nữa, thuật ngữ công
6 Cơ sở dữ liệu khoa học chuyên ngành Thanh tra, Luật, Quản lý công, Kinh tế, Hành chính, Quá trình hình thành
và phát triển của pháp luật về viên chức ở Việt Nam, Vũ Trọng Hách, trinh-hinh-thanh-va-phat-trien-cua-phap-luat-ve-vien-chuc-o-viet-nam.html , [ngày truy cập 23-10-2014]
http://thanhtra.edu.vn/category/detail/70-qua-7 Tài liệu bồi dưỡng thi nâng ngạch chuyên viên cao cấp khối Đảng, đoàn thể năm 2013, chuyên đề V, phần 1, tr.3
Trang 19chức đã quay trở lại và báo hiệu một xu hướng mới trong quy định của pháp luật về công
vụ và công chức, nhưng vẫn có sự chồng lấn giữa hai khái niệm công chức và viên chức trong thời kì này Tuy nhiên, nếu so sánh giữa Nghị định này và Sắc lệnh số 76/SL năm
1950 nêu trên thì Nghị định số 169/HĐBT có những điểm mới và tích cực hơn, quy định
về công chức được mở rộng bao gồm cả những người được tuyển dụng, bổ nhiệm, giao chức vụ thường xuyên ở cả trung ương và địa phương (Quy chế công ước 1950 chỉ gọi những người ở cơ quan hành chính trung ương là công chức) Đây là văn bản rất quan trọng bắt đầu cho sự tách biệt hai khái niệm cán bộ, công chức trong gian đoạn sau này Hiến pháp năm 1992 ra đời, thuật ngữ công chức lại không được sử dụng mà sử dụng thuật ngữ cán bộ, viên chức Tuy nhiên, trong nhiều văn bản pháp luật khác thì thuật ngữ cán bộ - công chức hay cán bộ - viên chức nhiều khi được sử dụng lộn xộn thay thế cho nhau như những từ đồng nghĩa như Thông tư của Ban tổ chức - Cán bộ Chính phủ số 32/TCCP ngày 20 tháng 01 năm 1996 về hướng dẫn nội dung thi tuyển vào các ngạch công chức, viên chức
Đến năm 1998, Pháp lệnh Cán bộ, Công chức (gọi tắt là Pháp lệnh Cán bộ, Công chức) được ban hành và gọi những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước là “cán bộ, công chức” Lúc này, phạm vi đã được thu hẹp hơn so với trước nhưng vẫn còn mập mờ trong việc xác định đối tượng là cán bộ và công chức
1.1.7.2 Giai đoạn sau khi ban hành Luật Cán bộ, Công chức năm 2008
Trước khi có Luật Cán bộ, Công chức, pháp luật về công chức cũng đã ra đời nhưng chưa có quy định rõ ràng về công chức Các khái niệm cán bộ, công chức, viên chức được sử dụng ở mỗi giai đoạn là khác nhau và không theo một quy tắc nào, điều đó gây khó khăn cho công tác xây dựng và quản lý từng nhóm đối tượng, bởi vì cán bộ, công chức, viên chức có những đặc điểm và tính chất hoạt động khác nhau
Nhận thấy những hạn chế nêu trên, Quốc hội đã ban hành Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010 và Luật Viên chức năm 2010 có hiệu lực từ ngày 01/01/2012 để xác định và phân biệt rõ các đối tượng cán bộ, công chức và viên chức
Từ khi có Luật Cán bô, Công chức, đối tượng là công chức đã được tách biệt rõ ràng với cán bộ và viên chức Cho đến năm 2013, Hiến pháp mới đã ra đời, tiếp tục kế thừa và phát huy những điểm tiến bộ của Luật Cán bộ, Công chức, Hiến pháp 2013 sử dụng thuật ngữ cán bộ, công chức, viên chức để phân biệt những đối tượng có sự khác biệt về hoạt động này Sự điều chỉnh này thật sự rất cần thiết và phù hợp với nội dung của từng loại hoạt động
Luật Cán bộ, công chức đã cơ bản khắc phục được những tồn tại trước đây và có ý nghĩa như sau:
Trang 20- Luật Cán bộ, Công chức là kết quả của quá trình tìm hiểu về nhu cầu thực tiễn, tổng kết, đánh giá hạn chế của pháp luật cán bộ, công chức và của nền công vụ ở Việt Nam, từ
đó đề ra những hướng đi phù hợp với hoàn cảnh nước ta
- Thông qua Luật Cán bộ, Công chức, các quy phạm pháp luật về cán bộ, công chức được nâng lên thành một luật riêng, hàng loạt các quy phạm lạc hậu, chồng chéo đã bị loại bỏ và thay thế bằng những quy phạm đồng bộ, phù hợp với thực tế
- Luật đã tạo cơ sở pháp lý cho việc cải cách chế độ công vụ như tạo ra cơ chế cạnh tranh trong tuyển dụng công chức, tạo điều kiện để Nhà nước tuyển chọn được những người thực sự có đức, có tài; khẳng định xu hướng chuyển dần từ chế độ công chức chức nghiệp sang cơ chế kết hợp giữa mô hình công chức chức nghiệp và mô hình vị trí việc làm; tạo nền tảng cho việc quản lý công chức theo việc thay vì chú trọng quản lý theo người
- Luật đã làm rõ được những tiêu chí để phân biệt cán bộ với công chức và tách riêng viên chức ra thành một nhóm khác, trong đó cán bộ, công chức cấp xã được quy định cụ thể
- Góp phần đảm bảo sự kiểm soát của nhà nước thông qua hoạt động thanh tra công vụ Đồng thời, quy định về sự phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước thông qua việc quy định rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan nhà nước
- Luật Cán bộ, Công chức đã xây dựng một hướng đi cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức một cách thiết thực và hiệu quả Theo đó, quyền và nghĩa vụ của cán
bộ, công chức đã từng bước được hoàn thiện và bổ sung, đạo đức và văn hóa giao tiếp cũng được nhấn mạnh để cán bộ, công chức xứng đáng là “công bộc”, là “người đầy tớ” của nhân dân
Với những ý nghĩa nêu trên, Luật Cán bộ, Công chức có đóng góp hết sức quan trọng việc cải cách tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và chế độ công vụ, góp phần tuyển chọn và xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức thực sự có đức, có tài để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước Luật có những quy định phù hợp với từng nhóm đối tượng cụ thể, hoạt động công vụ của cán bộ, công chức được đảm bảo tuân thủ theo pháp luật và hướng tới phục vụ nhân dân
1.2 Những vấn đề chung về tuyển dụng công chức cấp xã
1.2.1 Khái niệm tuyển dụng công chức cấp xã
Ở nước Việt Nam ta, cơ quan nhà nước là nơi tiếp nhận một đội ngũ công chức khá
lớn, bộ máy nhà nước ta được thống nhất quản lý theo nhiều cấp khác nhau như cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã Do đó, nhu cầu tuyển chọn công chức là những chủ thể mang quyền lực công để cống hiến và phục vụ cho đất nước luôn là vấn đề được quan tâm, nhất là ở cấp xã, công chức cấp xã là những người thường xuyên tiếp xúc với nhân
Trang 21dân, họ được coi là cầu nối giữa nhân dân và nhà nước nên phải đặc biệt quan tâm tới việc tuyển chọn con người
Để một người bình thường có thể trở thành công chức cấp xã thì phải trải qua một quá trình tuyển dụng Hiện nay, Luật Cán bộ, Công chức và các văn bản liên quan hầu như chưa có khái niệm thế nào là tuyển dụng công chức cũng như tuyển dụng công chức cấp
xã, nhưng hiểu theo một cách đơn giản thì tuyển dụng công chức cấp xã có nghĩa là lựa chọn người phù hợp để làm công chức cấp xã
Quản lý nhà nước là một hoạt động hết sức quan trọng, vì vậy cần phải trải qua quá trình tuyển dụng để đảm bảo lựa chọn được những người có phẩm chất, trình độ và năng lực đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm Một đội ngũ công chức cấp xã tài đức vẹn toàn sẽ rất cần thiết, đó là nền móng để đảm bảo xây dựng một hệ thống chính trị vững chắc, để nhân dân có thể yên tâm phát triển kinh tế xây dựng đất nước
1.2.2 Ý nghĩa của việc tuyển dụng công chức cấp xã
Nhìn lại lịch sử của dân tộc ta, trải qua một khoảng thời gian dài đấu tranh đến khi giành được độc lập, chúng ta đã có thể khẳng định rằng, đất nước ta có được hòa bình, dân tộc ta có thể dành được quyền tự chủ là chúng ta biết dựa vào Đảng Cộng sản Việt Nam Thật vậy, Đảng là hạt nhân của mọi thắng lợi, xây dựng được một tổ chức Đảng lớn mạnh bao gồm những con người ưu tú là chìa khóa để mở ra một trang sử mới với những chiến thắng vẻ vang của dân tộc Việt Nam
Ngày nay, đồng bào ta đã được sống trong hòa bình, xã hội ngày càng văn minh và tiến bộ nhưng mỗi thời đại đều có những khó khăn riêng của nó, đòi hỏi chúng ta phải hết sức thận trọng để vượt qua Để bắt kịp sự phát triển nhanh chóng của xã hội và quản lý tốt đất nước thì việc hoàn thiện hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương là rất cần thiết, trong đó việc xây dựng được một đội ngũ công chức cấp xã có đủ khả năng để quản lý nhà nước ở địa phương có ý nghĩa to lớn góp phần vào thắng lợi của những phương hướng mà Đảng và Nhà nước đã đề ra
Hệ thống cơ quan nhà nước của Việt Nam ta được chia thành nhiều cấp từ trung ương tới địa phương và cấp thấp nhất là cấp xã, tuy chỉ là một cấp cơ sở nhưng nó đóng một vị trí quan trọng, để phát huy hết vai trò của mình thì cấp xã cần có một đội ngũ công chức lớn mạnh Như chúng ta đã biết, một ngôi nhà muốn đứng vững thì cần phải có một nền móng vững chắc, cũng vậy, cơ quan nhà nước muốn ngày càng lớn mạnh thì việc tuyển dụng công chức cấp xã là việc làm đầu tiên nhằm tuyển chọn được những con người đủ đức, đủ tài, xây dựng một nền tảng vững chắc là chỗ dựa cho toàn bộ hệ thống chính trị Cấp xã là một cấp hành chính đặc thù, công việc đòi hỏi phải có sự chuyên nghiệp và
tỉ mỉ Vì vậy, việc tuyển dụng công chức cấp xã, lựa chọn những người có đủ khả năng
Trang 22đảm nhiệm những công việc đó sẽ giúp hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã đạt được chất lượng và hiệu quả cao
Công chức cấp xã ngoài những tiêu chuẩn về khả năng trong công việc thì cũng cần phải có đạo đức tốt, tài và đức là hai yếu tố quan trọng để tuyển dụng công chức cấp xã, công chức cấp xã là những người gần gũi và thường xuyên tiếp xúc vói nhân dân Vì vậy, việc tuyển dụng lực lượng công chức cấp xã tài năng và đức độ, luôn thấu hiểu và có thái
độ tốt với nhân dân sẽ là cầu nối để kéo gần khoảng cách giữa nhân dân và Nhà nước, từ
đó tạo điều kiện cho các chính sách của Nhà nước có thể dễ dàng được nhân dân tiếp thu
và thực hiện có hiệu quả
Bên cạnh đó, việc tuyển dụng công chức cấp xã mang một ý nghĩa rất quan trọng trong việc xây dựng hình ảnh của đất nước, vì công chức cấp xã là tấm gương để mọi người noi theo, là những người tiên phong trong mọi công việc, một công chức cấp xã tốt về mọi mặt thì sẽ được người dân xem trọng, từ đó họ học tập để ngày càng hoàn thiện, có lối sống lành mạnh và tích cực trong mọi công việc
1.2.3 Sơ lƣợc sự phát triển của pháp luật về tuyển dụng công chức cấp xã
Sau thắng lợi của Cách mạng tháng tám năm 1945, đất nước ta vẫn đang trong quá trình đấu tranh giành độc lập, mặc dù còn khó khăn về nhiều thứ nhưng Nhà nước vẫn không quên đề ra các biện pháp để ổn định đất nước, thực hiện chủ trương vừa kháng chiến vừa kiến quốc, đáp ứng yêu cầu bổ sung nguồn nhân lực làm việc trong bộ máy Nhà nước bằng việc ban hành Sắc lệnh số 76/SL về quy chế công chức nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Trong giai đoạn này, khái niệm về công chức không rõ ràng và công chức được hình thành bằng con đường tuyển dụng Do bộ máy chính quyền còn non trẻ và khó khăn trong công tác cán bộ, công chức nên vấn đề về công chức cấp xã chưa được tách biệt, và đương nhiên, các quy định về tuyển dụng công chức cấp xã thời kì này cũng chưa được hình thành mà các văn bản pháp luật chỉ quy định việc tuyển dụng chung cho tất cả những người là công chức Tuy nhiên, do hoàn cảnh kháng chiến khó khăn cần một lực lượng lớn công chức nhưng những người đạt tiêu chuẩn lại quá ít nên việc tuyển dụng công chức theo Quy chế này không được áp dụng đầy đủ
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, dân tộc ta đã hoàn toàn đánh đuổi được thực dân Pháp ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, miền bắc bắt đầu vào công cuộc xây dựng đất nước và làm hậu phương vững chắc cho miền nam, vì một mục tiêu chung đó là thống nhất đất nước, trong giai đoạn này, quy định của pháp luật về công chức rất ít đề cập đến vấn đề tuyển dụng công chức mà chỉ tập trung vào cải cách chế độ tiền lương và điều chỉnh biên chế “Văn bản bản quy phạm pháp luật duy nhất liên quan đến vấn đề tuyển dụng công chức đó là Nghị định số 24/CP ngày 13/3/1963 của Chính phủ về ban hành
Trang 23Điều lệ tuyển dụng và cho thôi việc đối với công nhân, viên chức nhà nước”.8 Qua đó ta thấy, ở giai đoạn này, Nhà nước chỉ tập trung đến những vấn đề khác còn các quy định về tuyển dụng thì vẫn còn mờ nhạt và rất ít được quan tâm
Những năm sau đó, các quy định về cán bộ, công chức cấp xã được điều chỉnh bởi các văn bản như Quyết định số 112/HĐBT ngày 15 tháng 10 năm 1981 quy định về chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã, Thông tư số 477/TCCP ngày 10 tháng 12 năm
1981 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 112/HĐBT, Nghị định số 50/CP ngày 26 tháng
07 năm 1995 quy định về số lượng và chế độ chính sách của cán bộ công tác đảng, chính quyền, đoàn thể ở cấp xã, Thông tư số 97/TTLB/TCCP-BTC ngày 16 tháng 08 năm 1995 hướng dẫn thực hiện nghị định số 50/CP ngày 26 tháng 07 năm 1995 nhưng hầu như các văn bản luật này không quy định về việc tuyển dụng đối với công chức cấp xã Năm
1998, Pháp lệnh Cán bộ, công chức ra đời, trong Pháp lệnh này không có sự tách biệt giữa công chức ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện với công chức cấp xã và tương tự, các quy định về tuyển dụng cũng chỉ được quy định chung cho tất cả các đối tượng là công chức Sau Pháp lệnh Cán bộ, Công chức, ngày 17 tháng 11 năm 1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 95/1998/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức và Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước cũng đã được hình thành nhưng tuyển dụng công chức cấp xã vẫn chưa được quy định
Năm 2008, Nhà nước ta ban hành Luật Cán bộ, Công chức tạo ra một bước phát triển hoàn toàn mới trong nền hành chính của nước ta, một điểm tiến bộ trong Luật Cán bộ, Công chức là do tính chất khác nhau trong hoạt động công vụ và những đặc điểm riêng nên công chức cấp xã đã được tách riêng thành một chương chứ không còn gộp chung như trước đây Việc tách riêng công chức cấp xã ra khỏi đội ngũ công chức nói chung là một điểm mới và tiến bộ so với Pháp lệnh Cán bộ, Công chức, thể hiện sự nhận thức đúng đắn của Đảng và Nhà nước về vai trò của công chức cấp xã và là nền tảng cho sự hình thành quy định của pháp luật về tuyển dụng công chức cấp xã Từ đó, vấn đề về tuyển dụng công chức cấp xã cũng được quy định và phát triển trong các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị định số 112/2011/NĐ-CP và Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30 tháng 10 năm 2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn (viết tắt là Thông tư số 06/2012/TT-BNV) Qua những văn bản này, đối tượng là công chức cấp xã được hiểu một cách rõ ràng hơn, các quy định về tuyển dụng công chức cấp xã được nêu lên khá chi
8 Cơ sở dữ liệu khoa học chuyên ngành Thanh tra, Luật, Quản lý công, Kinh tế, Hành chính, Pháp luật về tuyển
dụng công chức giai đoạn 1945 – 1954, Nguyễn Minh Tuấn, luat-ve-tuyen-dung-cong-chuc-giai-doan-1945 -1954.html , [ngày truy cập 12-07-2014]
Trang 24http://www.thanhtra.edu.vn/category/detail/73-phap-tiết tạo cơ sở cho việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý một cách hiệu quả đội ngũ công chức cấp xã
Trang 25CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ
2.1 Nguyên tắc tuyển dụng công chức cấp xã
Hiện nay, việc tuyển dụng công chức cấp xã rất được xem trọng, để thực hiện việc tuyển dụng một cách có hiệu quả thì phải tuân thủ theo những nguyên tắc cụ thể, tránh tình trạng tùy tiện làm ảnh hưởng tới chất lượng công việc cũng như hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã Khi tìm hiểu Luật Cán bộ, Công chức, ta có thể thấy các nguyên tắc được quy định khá cụ thể để phục vụ cho hoạt động tuyển dụng công chức và đương nhiên, tuyển dụng công chức cấp xã cũng phải tuân theo những nguyên tắc đó
Theo Điều 38 Luật Cán bộ, Công chức, hoạt động tuyển dụng phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định:
Thứ nhất, bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật
Để mọi người dân có thể biết được cụ thể và chính xác những thông tin về tuyển dụng công chức cấp xã thì những thông tin đó phải được cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức cấp xã công khai, thông báo rộng rãi đến toàn thể nhân dân về thời gian, thời hạn đăng kí dự tuyển, số lượng công chức cần tuyển là bao nhiêu, quy trình tuyển dụng cũng như kết quả thi tuyển, xét tuyển, tất cả những gì liên quan đến quyền, nghĩa vụ, và nhiều thông tin khác liên quan đến tuyển dụng đều phải đảm bảo công khai bằng tất cả các hình thức như thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên trang thông tin điện tử hoặc niêm yết tại trụ sở của Ủy ban nhân dân cấp xã v.v, tránh tình trạng mập
mờ trong tuyển dụng Sự không công khai trong tuyển dụng công chức cấp xã sẽ kéo theo hậu quả rất lớn đó là không đảm bảo tính khách quan và cạnh tranh, từ đó làm giảm sút
uy tín của Nhà nước, đánh mất lòng tin của nhân dân Bên cạnh đó, phải minh bạch và khách quan đảm bảo sự bình đẳng của mọi công dân, tránh tình trạng bỏ sót nhiều nhân tài Để làm được điều đó, cơ quan có thẩm quyền cần tổ chức thi tuyển hoặc xét tuyển sao cho minh bạch và tuân thủ đúng pháp luật mà Nhà nước đã quy định, nếu không sẽ đánh mất những giá trị tốt đẹp và ý nghĩa của hoạt động tuyển dụng, đồng thời tạo điều kiện làm phát sinh các hành vi gian lận và tiêu cực
Thứ hai, đảm bảo tính cạnh tranh
Nhà nước ta luôn đề cao tính cạnh tranh trong khâu tuyển dụng và xây dựng thành một nguyên tắc đó là nguyên tắc cạnh tranh Theo đó, tất cả mọi người nếu đáp ứng đủ điều kiện theo quy định thì đều có thể đăng kí dự tuyển, không hạn chế về số lượng đăng
ký và không có sự phân biệt, từ đó tạo ra một lực lượng đông đảo thí sinh dự thi, đảm bảo tính cạnh tranh trong tuyển dụng Bởi vì số lượng người được trúng tuyển sẽ có giới hạn trái ngược với số lượng hồ sơ dự tuyển lại rất đông nên tạo cho họ ý thức tự cố gắng để
Trang 26vượt qua những đối thủ của mình Đảm bảo tính cạnh tranh là một yếu tố rất quan trọng, thông qua đó, chúng ta có thể đánh giá một cách chính xác về năng lực của từng người, tuyển chọn được những người thực sự có tài, góp phần xây dựng một đội ngũ công chức cấp xã có phẩm chất tốt và vững vàng về chuyên môn Bên cạnh đó, cạnh tranh góp phần loại bỏ được tình trạng tiêu cực từ lâu đã gây ra sự bất đình đẳng, làm suy giảm chất lượng của đội ngũ công chức cấp xã là những tế bào của bộ máy nhà nước
Thứ ba, tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và vị trí việc làm
Tại Ủy ban nhân dân cấp xã, có rất nhiều công việc với yêu cầu và đòi hỏi về chuyên môn khác nhau Mỗi vị trí, công việc cần xác định và mô tả rõ ràng để làm cơ sở cho công tác tuyển dụng và quản lý công chức cấp xã và việc tuyển dụng công chức cấp xã nhất định phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và còn tùy thuộc vào biên chế của cơ quan sử dụng công chức Trước khi đăng kí dự tuyển, mỗi công dân cần xem xét
kĩ các điều kiện về chuyên môn, kĩ năng, kinh nghiệm v.v mà cơ quan đã xây dựng nên dựa trên công việc của vị trí cần tuyển Việc tuyển dụng công chức theo vị trí việc làm có mục đích là nhằm đảm bảo tuyển chọn những người thật sự thích hợp, tránh tình trạng lựa chọn nhầm người thiếu chuyên môn của vị trí đó gây lúng túng và mơ hồ trong công việc, làm chậm trễ trong hoạt động của cơ quan Khi đáp ứng yêu cầu công việc, công chức được chọn nhất định sẽ có khả năng hoàn thành tốt công việc của mình, mang lại hiệu quả tốt nhất trong hoạt động của chính quyền cấp xã
Thứ tư, ưu tiên tuyển chọn người có tài năng, người có công với nước, người dân tộc thiểu số
Từ xưa đến nay, Nhà nước ta luôn xem trọng người có tài năng và có những chính sách đặc biệt để họ phát triển, trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhân tài luôn
là trọng tâm để phát triển bền vững Vì vậy, tuyển chọn công chức cấp xã cần ưu tiên cho những người có tài năng, tránh tình trạng bỏ sót hoặc lãng phí nhân tài, gây tổn thất nghiêm trọng cho đất nước Ông bà ta thường có câu “hiền tài là nguyên khí quốc gia”, nhân tài quyết định sự thịnh suy của đất nước, họ có năng lực đặc biệt, có bản lĩnh, nghị lực, niềm đam mê với công việc của mình và giải quyết công việc với tinh thần sáng tạo cao mà những người bình thường không có Đặc biệt trong tình hình hiện nay, đất nước
ta ngày một phát triển và những khó khăn mới cùng dần nảy sinh, việc tuyển dụng nhân tài vào làm việc tại Ủy ban nhân dân cấp xã là rất cần thiết, đó sẽ là nguồn lực để giải quyết những khó khăn và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
Bên cạnh ưu tiên cho người tài, chúng ta cũng phải chú ý đến những người có công với nước, nếu không có sự chiến đấu anh dũng của họ thì làm sao chúng ta được sống hòa bình, hạnh phúc như ngày hôm nay, vì vậy cần phải nhớ ơn những người đã có công với đất nước và phát huy truyền thống uống nước nhớ nguồn tốt đẹp của dân tộc
Trang 27Cuối cùng, việc tuyển dụng công chức cấp xã có sự ưu tiên cho những dân tộc thiểu
số, nước ta tự hào là đất nước đa dân tộc với hơn 54 dân tộc, tất cả đều là anh em một nhà nhưng đồng bào dân tộc thiểu số thường đứng ở thế yếu hơn, họ có ít người, sống ở những nơi khó khăn không có điều kiện thuận lợi để sinh sống học tập, vì vậy cần dành cho họ sự ưu tiên khi tuyển dụng công chức cấp xã để khuyến khích họ cố gắng hết mình cho sự nghiệp quản lý và duy trì sự ổn định của đất nước
2.2 Căn cứ tuyển dụng công chức cấp xã
Tuyển dụng công chức cấp xã là bước đầu tiên nhưng lại rất quan trọng, nó quyết định chất lượng hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã Theo chỉ tiêu biên chế được giao, cấp xã chỉ giới hạn về số lượng biên chế vì vậy chỉ tuyển dụng khi còn thiếu công chức làm việc tại một hoặc một số vị trí việc làm nhất định Dựa vào nhu cầu thực tế tại cơ quan, nếu thiếu bộ phận nào thì Ủy ban nhân dân cấp xã có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức cấp xã để tuyển chọn công chức vào vị trí đó, không thể tuyển dụng công chức khi không cần thiết hoặc sắp xếp họ vào vị trí đã có đủ người, dẫn đến tình trạng tùy tiện trong tuyển dụng làm lãng phí ngân sách nhà nước, đùn đẩy trách nhiệm và không đạt hiệu quả cao trong thi hành công vụ
Theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 112/2011/NĐ-CP thì việc tuyển dụng công chức cấp xã phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, tiêu chuẩn chức danh và số lượng công chức theo từng chức danh được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao
Công chức cấp xã không do Ủy ban nhân dân cấp xã trực tiếp tuyển dụng nhưng do cấp huyện quản lý và tuyển dụng công chức cho cấp xã Để cấp huyện có thể nắm bắt được tình hình và nhu cầu công chức cấp xã thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm xây dựng kế hoạch tuyển dụng công chức cấp xã hằng năm theo từng chức danh, báo cáo
Ủy ban nhân dân cấp huyện để phê duyệt và tổ chức tuyển dụng
Kế hoạch tuyển dụng công chức cấp xã cần nêu rõ số lượng chức danh công chức cấp
xã được giao, số lượng công chức hiện có và số lượng công chức còn thiếu so với số được giao theo từng chức danh, điều kiện đăng kí dự tuyển theo từng chức danh công chức cấp xã
2.3 Tiêu chuẩn công chức cấp xã
2.3.1 Tiêu chuẩn chung
Điều 3 Nghị định số 112/2011/NĐ-CP đã quy định cụ thể một số tiêu chuẩn chung cho công chức cấp xã đối với các chức danh công chức Văn phòng - thống kê, Địa chính
- xây dựng - đô thị và Môi trường hoặc Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường, Tài chính - kế toán, Tư pháp - hộ tịch, Văn hóa - xã hội như sau:
- Hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước;
Trang 28- Có năng lực tổ chức vận động nhân dân ở địa phương thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước;
- Có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ,
vị trí việc làm, có đủ năng lực và sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao;
- Am hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư trên địa bàn công tác Riêng đối với công chức Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã và Trưởng công an xã thì ngoài những tiêu chuẩn chung nêu trên còn phải có khả năng phối hợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực lượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thực hiện một số nhiệm vụ phòng thủ dân sự; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước
2.3.2 Tiêu chuẩn cụ thể
Bên cạnh những tiêu chuẩn chung nêu trên, công chức cấp xã cũng phải đáp ứng tiêu chuẩn cụ thể được quy định tại Nghị định số 112/2011/NĐ-CP, Điều 4 Nghị định này quy định như sau: Tiêu chuẩn cụ thể đối với công chức cấp xã theo từng chức danh do Bộ trưởng Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng các bộ quản lý ngành, lĩnh vực quy định Đối với công chức tại các xã miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì tiêu chuẩn về trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ có thể thấp hơn một cấp trình độ Nghị định số 112/2011/NĐ-CP quy định khá ngắn gọn về tiêu chuẩn cụ thể, để làm rõ một cách chi tiết và hiểu đúng quy định này thì tại Điều 2 Thông tư số 06/2012/TT-BNV quy định tiêu chuẩn cụ thể của công chức cấp xã gồm các nội dung như độ tuổi, trình độ văn hóa, chuyên môn, trình độ tin học, khả năng sử dụng tiếng dân tộc và đào tạo bổ sung sau tuyển dụng
- Về độ tuổi: công chức cấp xã phải là người đủ 18 tuổi trở lên
- Công chức cấp xã phải tốt nghiệp trung học phổ thông, có chứng chỉ tin học văn phòng trình độ A trở lên và tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp trở lên của ngành đào tạo, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức được đảm nhiệm
- Bên cạnh đó, ở địa bàn công tác phải sử dụng tiếng dân tộc thiểu số trong hoạt động công vụ thì công chức cấp xã phải biết thành thạo tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác đó; nếu khi tuyển dụng mà không biết tiếng dân tộc thiểu số thì sau khi tuyển dụng phải hoàn thành lớp học tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác được phân công
- Sau khi được tuyển dụng cần phải hoàn thành lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước và lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo chương trình đối với chức danh công chức cấp xã hiện đảm nhiệm
Trang 29Người được bổ nhiệm vào chức danh Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã phải đáp ứng các tiêu chuẩn cụ thể tại khoản 3 Điều 17 Thông tư liên tịch số 01/2013/TTLT-BNV-BQP ngày 10 tháng 04 năm 2013 của Bộ Nội vụ - Bộ Quốc phòng hướng dẫn việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng Chỉ huy trưởng, Chỉ huy phó Ban chỉ huy Quân sự xã, phường, thị trấn (viết tắt là Thông tư liên tịch số 01/2013/TTLT-BNV-BQP) như sau:
- Phải có bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp ngành quân sự cơ sở trở lên
- Tiêu chuẩn về năng lực đòi hỏi công chức của chức danh này phải có năng lực tham mưu cho cấp ủy, Ủy ban nhân dân xã ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác quốc phòng, công tác dân quân tự vệ, giáo dục quốc phòng an ninh và phòng thủ dân sự, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân trên địa bàn cấp xã Đồng thời phải tham mưu có hiệu quả cho cấp ủy, chính quyền cấp xã trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chế độ chính sách đối với lực lượng dân quân tự
vệ, dự bị động viên, chính sách hậu phương quân đội và xây dựng, tổ chức thực hiện hoàn thành các nhiệm vụ công tác quốc phòng, quân sự ở cấp xã
Tiêu chuẩn đối với chức danh Trưởng công an xã được quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 73/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 09 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Công an xã (gọi chung là Nghị định số 73/2009/NĐ-CP)
- Muốn được bổ nhiệm làm Trưởng Công an xã, trước hết công dân phải là người từ đủ
18 tuổi trở lên, có lý lịch rõ ràng, phải có đạo đức tốt, không có tiền án, tiền sự và phải là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, bản thân và gia đình chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
- Trưởng Công an xã phải được cơ sở y tế cấp huyện trở lên chứng nhận có đủ sức khỏe
để thực hiện nhiệm vụ
- Tiêu chuẩn về trình độ học vấn của Trưởng Công an xã là có bằng tốt nghiệp hoặc giấy chứng nhận tốt nghiệp đã học hết chương trình trung học phổ thông do cơ quan có thẩm quyền cấp, riêng đối với miền núi, vùng sâu, vùng xa thì tiêu chuẩn về học vấn có thể thấp hơn một cấp trình độ nhưng ít nhất cũng phải là người đã học xong chương trình tiểu học
Căn cứ vào tiêu chuẩn công chức cấp xã nêu trên và căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được xem xét, quyết định:
- Giảm một cấp về trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn đối với công chức làm việc tại
xã đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận thuộc khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
Trang 30khăn; đồng thời xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để chuẩn hóa công chức cấp xã;
- Ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của từng chức danh công chức cấp xã;
- Thời gian để công chức cấp xã mới được tuyển dụng phải hoàn thành lớp học tiếng dân tộc thiểu số, lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước và lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo quy định
Tiêu chuẩn cụ thể của công chức cấp xã theo quy định trên là căn cứ để các địa phương thực hiện công tác quy hoạch, tạo nguồn, sử dụng, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, xếp lương, nâng bậc lương và thực hiện các chế độ, chính sách khác đối với công chức cấp xã
2.4 Điều kiện, phương thức tuyển dụng công chức cấp xã
2.4.1 Điều kiện đăng ký dự tuyển
Trong việc đăng ký dự tuyển công chức, tất cả mọi người đều bình đẳng, không có sự phân biệt đối xử về dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, tất cả mọi công dân đều có quyền đăng ký dự tuyển công chức cấp xã nếu họ đáp ứng đủ các điều kiện đăng ký dự tuyển công chức theo quy định, không còn giới hạn về đối tượng đăng
ký dự tuyển, cánh cửa tuyển dụng vào công chức cấp xã luôn rộng mở đối với tất cả mọi người nếu họ thỏa mãn được các điều kiện theo Điều 36 Luật Cán bộ, Công chức sau đây:
- Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam Trên thực tế, không có một công dân nước ngoài nào có thể trở thành công chức tại Việt Nam, chỉ có người là công dân của Nhà nước Việt Nam và có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam mới được đăng ký dự tuyển công chức, quốc tịch là căn cứ thể hiện sự gắn bó của công dân với quê hương, đất nước của mình Luật Cán bộ, Công chức có quy định về điều kiện có một quốc tịch Việt Nam thể hiện niềm tin của Đảng và Nhà nước đối với dân tộc ta, với mong muốn công chức được tuyển dụng sẽ có trách nhiệm và nhận thức được vai trò của bản thân, từ đó cố gắng hết mình để quản lý và điều hành đất nước;
- Đủ 18 tuổi trở lên, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên, khi đó, con người đã có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nên
họ có thể tham gia đăng ký dự tuyển công chức, có thể tự xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật;
- Có văn bằng, chứng chỉ phù hợp nhưng theo điểm a khoản 1 Điều 10 Thông tư số 06/2012/TT-BNV thì không phân biệt hình thức đào tạo và loại hình đào tạo công lập, ngoài công lập Đây được coi là điều kiện hợp lý đối với người muốn đăng ký dự tuyển công chức, vì văn bằng, chứng chỉ là hình thức để công nhận trình độ, năng lực của một
Trang 31người, công dân muốn được tuyển dụng làm công chức thì đòi hỏi họ phải đạt tới một trình độ nhất định mới có đủ khả năng đảm nhận công việc được giao;
- Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt Cán bộ, công chức là nhân tố quyết định đến hoạt động của bộ máy Nhà nước cũng như toàn bộ hệ thống chính trị, người công chức không những cần có tài năng mà phải kết hợp với phẩm chất chính trị và đạo đức tốt, công chức
là nền tảng và cơ sở quyết định tới chất lượng trong hoạt động của cơ quan Nhà nước Nếu có một đội ngũ công chức tài đức vẹn toàn, có phẩm chất chính trị vững vàng, nghiêm túc trong công việc, biết tự phê bình và khắc phục những điểm chưa tốt thì chắc chắn sẽ hoàn thành tốt công việc, nâng cao chất lượng và hoạt động của cơ quan ngày càng hiệu quả Còn ngược lại, nếu chọn nhầm những người có đạo đức suy thoái, phẩm chất chính trị yếu kém thì sẽ ảnh hưởng đến công việc, đẩy chất lượng của hoạt động công vụ theo chiều hướng đi xuống Điều kiện về phẩm chất chính trị và đạo đức trong tuyển dụng công chức cấp xã là vô cùng quan trọng, vì vậy, cơ quan có thẩm quyền cần xem xét kỹ và đề bạt những cá nhân thật sự xứng đáng với vị trí cần tuyển
- Có đủ sức khỏe để thực hiện nhiệm vụ, người muốn đăng ký dự tuyển công chức cần phải đảm bảo điều kiện sức khỏe vì sức khỏe có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến chất lượng công việc, công chức cấp xã sẽ cảm thấy mệt mỏi, chán nản và không có khả năng hoàn thành công việc với sức khỏe không tốt, gây trì trệ trong hoạt động quản lý nhà nước ở cấp xã Khi có sức khỏe tốt, công chức mới đảm bảo khả năng thực hiện nhiệm vụ với tư duy sáng suốt, khả năng sáng tạo và niềm hăng say trong công việc;
- Theo điểm b, khoản 1, Điều 10 Thông tư số 06/2012/TT-BNV thì các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí dự tuyển do Ủy ban nhân dân cấp xã xây dựng gắn với ngành đào tạo, các kỹ năng, kinh nghiệm phù hợp với tiêu chẩn cụ thể và nhiệm vụ cụ thể của chức danh công chức cấp xã cần tuyển dụng Bên cạnh đó, khoản 2, Điều 10 Thông tư số 06/2012/TT-BNV quy định Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản báo cáo về các điều kiện đăng ký dự tuyển công chức cấp xã để Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định
Pháp luật Việt Nam luôn đề cao sự bình đẳng đối với tất cả mọi người trong tuyển dụng công chức Tuy nhiên, để đảm bảo lợi ích của Nhà Nước, lợi ích của công dân và tránh ảnh hưởng xấu đến hoạt động công vụ, Nhà nước ta đã quy định hạn chế quyền đăng ký dự tuyển công chức đối với một số đối tượng Những người không được đăng ký
dự tuyển công chức là:
- Cá nhân không cư trú tại Việt Nam không được đăng ký dự tuyển công chức vì đối tượng này sinh sống ở nước ngoài nhưng hoạt động công vụ và quản lý Nhà nước lại được thực hiện ở Việt Nam nên tất nhiên, họ sẽ không có khả năng để hoàn thành tốt công việc của mình nếu được trúng tuyển vào công chức;
Trang 32- Người mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Trên thực tế, người mất năng lực hành vi dân sự do mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không thể làm chủ được hành
vi của mình thì không thể tham gia hoạt động công vụ vì họ không có ý thức, không biết mình đang làm gì và không thể hiểu được trách nhiệm trong công việc của mình Bên cạnh đó, những người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích dẫn đến hạn chế năng lực hành vi dân sự cũng bị hạn chế quyền đăng ký dự tuyển để tránh hành vi của họ gây thiệt hại cho tài sản của Nhà Nước
- Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành hoặc đã chấp hành xong bản án, quyết định về hình sự của Tòa án mà chưa được xóa án tích; đang bị áp dụng biện pháp
xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục.9
Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 6 Nghị định số 112/2011/NĐ-CP quy định đối với chức danh Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã và Trưởng Công an xã thì ngoài các điều kiện đăng
ký dự tuyển nêu trên còn phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn chung trong tuyển dụng công chức cấp xã
2.4.2 Phương thức tuyển dụng
Theo quy định của Luật Cán bộ, Công chức và Nghị định số 112/2011/NĐ-CP thì có hai phương thức tuyển dụng công chức cấp xã đó là thi tuyển và xét tuyển Tuy nhiên, không được tùy tiện áp dụng các phương thức tuyển dụng này mà phải căn cứ vào nhiều yếu tố như chức danh công chức cấp xã cần tuyển dụng, điều kiện phát triển ở nơi có chỉ tiêu tuyển dụng, trình độ của người dự tuyển v.v để áp dụng đúng phương thức tuyển dụng theo quy định của pháp luật
Đối với các chức danh Văn phòng – thống kê, Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã), Tài chính – kế toán, Tư pháp – hộ tịch, Văn hóa – xã hội thì áp dụng hình thức tuyển dụng thông qua thi tuyển, trừ các trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng; Tuy nhiên, có thể thực hiện việc tuyển dụng thông qua xét tuyển đối với những người
có đủ điều kiện đăng ký dự tuyển và cam kết tình nguyện làm việc từ 05 năm trở lên ở địa bàn các xã miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
Riêng đối với chức danh Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã và Trưởng Công an xã thì không thực hiện thi tuyển mà thay vào đó thực hiên việc xét tuyển và bổ nhiệm đối với người có đủ điều kiện đăng ký dự tuyển theo quy định Khoản 4 Điều 29 Luật Dân quân
tự vệ năm 2009 (gọi tắt là Luật Dân quân tự vệ) quy định việc bổ nhiệm Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định theo đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã sau khi thống nhất với Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự
9
Khoản 2, điều 36, Luật Cán bộ, Công chức
Trang 33cấp huyện; Trưởng Công an cấp huyện sau khi trao đổi, thống nhất với Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, cách chức Trưởng Công an xã theo quy định tại khoản 3, Điều 10 của Pháp lệnh Công an xã năm 2008 (gọi tắt là Pháp lệnh Công an xã).10
2.4.2.1 Thi tuyển
Thi tuyển công chức là một hình thức được áp dụng phổ biến để tuyển dụng công chức tại Ủy ban nhân dân cấp xã cũng như hầu hết các cơ quan Nhà nước khác Đây là hình thức thể hiện tính công khai, minh bạch trong tuyển dụng, tạo nên sự cạnh tranh cho tất cả những ứng viên dự tuyển
Các môn thi và hình thức thi
Theo Điều 11 Nghị định số 112/2011/NĐ-CP thì đối với hình thức thi tuyển, thí sinh phải hoàn thành các bài thi môn kiến thức chung, môn nghiệp vụ chuyên ngành và thi tin học văn phòng Thông qua đó, Hội đồng thi tuyển hoặc Phòng Nội vụ cấp huyện (trường hợp không thành lập Hội đồng thi tuyển) có thể đánh giá đúng năng lực của từng người một cách khách quan, đảm bảo tuyển chọn được nhân tài cho đất nước
Đối với môn kiến thức chung, thí sinh phải viết 1 bài thời gian 120 phút về hệ thống chính trị, tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội; quản lý hành chính nhà nước; chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về ngành, lĩnh vực tương ứng với chức danh công chức cần tuyển dụng
Kế đó, môn nghiệp vụ chuyên ngành gồm cả 02 dạng là thi viết và thi trắc nghiệm, bài thi viết có thời gian 120 phút và bài thi trắc nghiệm có thời gian 30 phút về nghiệp vụ chuyên ngành theo yêu cầu của chức danh công chức cần tuyển dụng
Cuối cùng, tiến hành thi thực hành trên máy hoặc thi trắc nghiệm đối với môn tin học văn phòng trong thời gian 30 phút theo yêu cầu của chức danh công chức cần tuyển dụng Tuy nhiên, môn thi này sẽ được miễn nếu người đăng ký dự tuyển công chức cấp xã có bằng tốt nghiệp từ trung cấp chuyên ngành công nghệ thông tin trở lên
Cách tính điểm
Theo Điều 12 Nghị định số 112/2011/NĐ-CP, bài thi được chấm theo thang điểm 100, trong đó điểm thi môn kiến thức chung được tính hệ số 1, môn nghiệp vụ chuyên ngành được tính hệ số 2 đối với bài thi viết, bài thi thực hành tính hệ số 1 và môn tin học văn phòng tính hệ số 1 nhưng không tính vào tổng số điểm thi
Kết quả thi tuyển là tổng số điểm của các bài thi môn kiến thức chung và môn nghiệp
vụ chuyên ngành tính theo quy định về cách tính điểm nêu trên cộng với điểm ưu tiên theo quy định (xem mục 2.6)
10
Điều 7, Nghị định số 112/2011/NĐ-CP
Trang 34 Xác định người trúng tuyển trong kì thi tuyển
Điều 13 Nghị định số 112/2011/NĐ-CP quy định người trúng tuyển trong kì thi tuyển công chức cấp xã được xác định khi có đủ các bài thi của các môn thi, có điểm mỗi bài thi đạt từ 50 điểm trở lên (kể cả điểm bài thi môn tin học văn phòng nếu không được miễn thi và điểm bài thi viết môn nghiệp vụ chuyên ngành chưa nhân hệ số 2) và có kết quả thi tuyển cao hơn lấy theo thứ tự từ cao xuống thấp trong phạm vi chỉ tiêu tuyển dụng của từng chức danh công chức
Trường hợp có từ 02 người trở lên có kết quả thi tuyển bằng nhau ở chức danh công chức cần tuyển dụng thì người có điểm bài thi viết môn nghiệp vụ chuyên ngành cao hơn
là người trúng tuyển; nếu bài thi viết môn nghiệp vụ chuyên ngành bằng nhau thì người
có điểm bài thi trắc nghiệm môn nghiệp vụ chuyên ngành cao hơn là người trúng tuyển; nếu vẫn chưa xác định được người trúng tuyển thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định người trúng tuyển
Người không trúng tuyển trong kì thi tuyển công chức không được bảo lưu kết quả thi tuyển cho các kì thi tuyển lần sau
2.4.2.2 Xét tuyển
Bên cạnh hình thức thi tuyển, xét tuyển cũng là một phương thức tuyển dụng công chức cấp xã, hình thức tuyển dụng này không được áp dụng rộng rãi như thi tuyển mà phải tùy thuộc vào những điều kiện cụ thể theo quy định của pháp luật (ví dụ như vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo v.v) mới được áp dụng xét tuyển Nhưng nhìn chung, xét tuyển nhẹ nhàng hơn so với hình thức thi tuyển, dựa vào kết quả học tập và quá trình phỏng vấn trực tiếp người dự tuyển, cơ quan có thẩm quyền vẫn có thể đánh giá đúng và tuyển chọn cá nhân thật sự phù hợp với từng vị trí việc làm
Nội dung xét tuyển
Theo Điều 14 Nghị định số 112/2011/NĐ-CP thì đối với chức danh Văn phòng – thống kê, Địa chính – xây dựng – đô thị - môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã), Tài chính – kế toán, Tư pháp – hộ tịch, Văn hóa – xã hội thì xét kết quả học tập và phỏng vấn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người dự tuyển
Đối với chức danh Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã và Trưởng Công an xã thì xét các điều kiện đăng ký dự tuyển đối với các chức danh này (xem mục 2.4.1) và không thực hiện cách tính điểm xét tuyển như đối với các chức danh công chức cấp xã khác
Cách tính điểm
Điều 15 Nghị định số 112/2011/NĐ-CP quy định cách tính điểm xét tuyển như sau:
Trang 35- Điểm học tập được xác định bằng trung bình cộng kết quả các môn học trong toàn bộ quá trình học tập của người dự xét tuyển ở trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo yêu cầu của chức danh công chức dự tuyển, được quy đổi theo thang điểm 100 và tính hệ số 2
- Điểm tốt nghiệp được xác định bằng trung bình cộng tất cả các bài thi tốt nghiệp hoặc điểm bảo vệ luận văn của người dự xét tuyển, được quy đổi theo thang điểm 100 và tính
hệ số 1
- Điểm phỏng vấn được tính theo thang điểm 100 và tính hệ số 1
- Kết quả xét tuyển là tổng số điểm học tập, điểm tốt nghiệp, điểm phỏng vấn và điểm
ưu tiên theo quy định (xem mục 2.6)
Ví dụ: một người tham gia xét tuyển có điểm học tập sau khi đã tính trung bình là 6,0; điểm thi tốt nghiệp là 5,0; điểm phỏng vấn là 80 và không có điểm ưu tiên Sau khi quy đổi sang thang điểm 100 thì số điểm lần lượt như sau: 60 (điểm học tập), 50 (điểm tốt nghiệp), 80 (điểm phỏng vấn) Dựa vào cách tính điểm nêu trên thì tổng số điểm xét tuyển của người này: 60*2+50+80=250 điểm
- Trường hợp người dự xét tuyển có trình độ đào tạo cao hơn so với trình độ đào tạo theo yêu cầu của chức danh công chức cần tuyển dụng, Hội đồng xét tuyển căn cứ kết quả học tập trong hồ sơ của người dự tuyển và điểm phỏng vấn để tính điểm
Xác định người trúng tuyển trong kì xét tuyển công chức
Điều 16 Nghị định số 112/2011/NĐ-CP quy định người trúng tuyển trong kì xét tuyển các chức danh công chức cấp xã phải có điểm học tập, điểm tốt nghiệp và điểm phỏng vấn, mỗi loại đạt từ 50 điểm trở lên (điểm học tập chưa nhân hệ số 2) Ngoài ra, người đó phải có kết quả xét tuyển cao hơn lấy theo thứ tự từ cao xuống thấp trong phạm vi chỉ tiêu được tuyển dụng của từng chức danh công chức
Trường hợp có từ 2 người trở lên có kết quả xét tuyển bằng nhau ở chức danh công chức cần tuyển dụng thì người có kết quả điểm học tập cao hơn là người trúng tuyển; nếu kết quả điểm học tập bằng nhau thì người có kết quả điểm tốt nghiệp cao hơn là người trúng tuyển; nếu vẫn chưa xác định được người trúng tuyển thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định người trúng tuyển
Người trúng tuyển trong kì xét tuyển chức danh Chỉ huy trưởng quân sự cấp xã và Trưởng Công an xã là người đạt các điều kiện đăng ký dự tuyển theo quy định, đáp ứng các tiêu chuẩn chung trong tuyển dụng công chức cấp xã và theo đề nghị của Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy Quân sự cấp huyện (nếu tuyển Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã) hoặc Trưởng Công an cấp huyện (nếu tuyển Trưởng Công an xã)
Người không trúng tuyển trong kì xét tuyển công chức không được bảo lưu kết quả xét tuyển cho các kì xét tuyển lần sau
Trang 362.4.3 Tuyển dụng đối với các trường hợp đặc biệt
2.4.3.1 Trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng
Bên cạnh hai hình thức chính trong tuyển dụng công chức cấp xã là thi tuyển và xét tuyển, cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức cấp xã có thể tiếp nhận không qua thi tuyển đối với những người có trình độ học vấn cao khi họ có mong muốn về làm việc tại cấp xã, người viết cho rằng đây cũng là hình thức xét tuyển nhưng chỉ được áp dụng trong một số trường hợp đặc biệt Cấp xã là cấp chính quyền ở cơ sở nên ít thu hút được nhân tài về làm việc, những quy định này trong tuyển dụng là chính sách ưu tiên, thể hiện
sự quan tâm của Nhà nước đối với người có tài năng để khuyến khích họ tham gia quản
lý và xây dựng đất nước Căn cứ điều kiện đăng ký dự tuyển công chức cấp xã và yêu cầu công việc, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện được xem xét, tiếp nhận không qua thi tuyển đối với các trường hợp đặc biệt sau:
- Người tốt nghiệp đại học loại giỏi trở lên trong nước và đạt loại khá trở lên ở nước ngoài có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với chức danh công chức cần tuyển dụng;
- Người có trình độ đào tạo từ đại học trở lên, có ít nhất 05 năm công tác (không kể thời gian tập sự, thử việc) trong ngành, lĩnh vực cần tuyển, đáp ứng được ngay yêu cầu của chức cấp xã cần tuyển dụng
Trường hợp người được tuyển dụng vào chức danh công chức cấp xã theo quy định, đã
có thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, chưa nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần, được bố trí chức danh theo đúng chuyên ngành đào tạo hoặc theo đúng chuyên môn nghiệp vụ trước đây đã đảm nhiệm thì thời gian công tác có đóng bảo hiểm
xã hội bắt buộc được tính để làm căn cứ xếp lương phù hợp với chức danh công chức được tuyển dụng (trừ thời gian tập sự, thử việc theo quy định), thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc nếu đứt quãng thì được cộng dồn
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện khi tiếp nhận và xếp lương đối với các trường hợp nêu trên phải báo cáo và có ý kiến chấp thuận bằng văn bản của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Hằng năm, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải báo cáo kết quả bằng văn bản việc thực hiện tiếp nhận các trường hợp đặc biệt trong phạm vi quản lý của
Bộ Nội vụ để theo dõi, kiểm tra.11
2.4.3.2 Điều kiện, tiêu chuẩn tiếp nhận vào công chức cấp xã không qua thi tuyển
Người tốt nghiệp loại giỏi trở lên ở trong nước, loại khá trở lên ở nước ngoài có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với chức danh công chức được tuyển dụng và người có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ của ngành đào tạo phù hợp với chức danh công chức cần tuyển dụng được xem xét tiếp nhận vào công chức cấp xã không qua thi tuyển, nếu bảo đảm các điều kiện đăng ký dự tuyển công chức cấp xã, và tốt nghiệp đại học loại giỏi trở lên ở
11
Điều 21, Nghị định số 112/2011/NĐ-CP