1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ôn thi đại học môn lịch sử (tài liệu chuẩn) 2011

56 476 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giai cấp t sản dân tộc Việt Nam tiến hành các cuộc đấu tranh vì muốn vơn lên giành lấy vị trị khá hơn trong nền kinh tế Việt Nam nh-ng họ vấp phải sự chèn ép của TDP, vì cha đủ sức cạ

Trang 1

ra khỏi cuộc chiến tranh với t cách

là ngời thắng cuộc nhng đồng thời

cũng là nớc bị tổn thất nặng nề: các

ngành sản xuất giảm sút, đồng

franc bị mất giá và nợ nớc ngoài

tăng, việc đầu t vào nớc Nga trớc đó

bị mất trắng, cuộc 12 khủng hoảng

thiếu trong các nớc t bản càng gây

nên khó khăn cho nền kinh tế

Pháp trở thành con nợ lớn trớc hết

là nợ Mỹ (năm 1920 số nợ quốc gia

lên tới 300 tỉ franc) Để khắc phục

hậu quả nặng nề của cuộc chiến

tranh và để vực dậy nền kinh tế của

cải vật chất cho chính quốc trong

thời gian chiến tranh) cung cấp

những sản phẩm đang đợc giá cao

trên thị trờng nh: lúa gạo, cao su,

quặng mỏ đã trở thành miếng mồi

béo bở đối với t bản độc quyền

Pháp.

Nh đã nói ở trên, năm 1918 khi

CTTG thứ nhất kết thúc, Pháp tuy

thắng trận nhng bị tàn phá nặng

nề, kinh tế kiệt quệ Chúng đã ráo

riết đẩy mạnh khai thác thuộc địa ở

Đông Dơng trong đó có Việt Nam

nhằm lấp đầy quốc khố của mình

có hai cái vòi - một cái vòi nó hút

máu của giai cấp vô sản ở chính

quốc và một cái vòi nó hút máu của

giai cấp vô sản ở thuộc địa Nh vậy

là bản chất bóc lột của CNTD thì

mãi mãi không thể nào thay đổi.

Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ

hai của TDP đợc tiến hành với một

phạm vi, quy mô rộng lớn, tính chất

của nó cũng khắc nghiệt hơn TDP

đã tăng cờng đầu t mở rộng sản

xuất để bóc lột đợc nhiều hơn Nếu

nh trớc chiến tranh Đông Dơng chủ

yếu là thị trờng tiêu thụ hàng hóa

thì sau chiến tranh t bản Pháp đã

quy mô lớn, tốc độ nhanh nhằm mở rộng một số ngành sản xuất có khả

năng kiếm lợi nhiều nhất Riêng năm 1920 vốn đầu t của t bản Pháp vào Việt Nam đã đạt đến 255 triệu franc và tính trong 6 năm (1924 -1929) số vốn đầu t của Pháp tăng gấp 6 lần so với trớc chiến tranh trọng tâm là tập trung vào nông nghiệp và công nghiệp.

Về nông nghiệp, Pháp đầu t lớn nhất vào mở rộng đồn điền chủ yếu

là đồn điền cao su, ngời ta ớc tính

đến năm 1927 vốn đầu t vào nông nghiệp đạt 400 triệu franc để lập

đồn điền, chúng ra sức cớp đất đai của nông dân Năm 1918 diện tích trồng cao su là 15.000 ha thì đến năm 1930 lên tới 120 nghìn ha

Nhiều công ty cao su lớn ra đời nh công ty Đất Đỏ, Công Ty Misơlanh

Sau nông nghiệp khai thác mỏ là ngành đợc Pháp chú trọng đầu t vì

đây là ngành kiếm lợi nhanh nhất

Nớc ta là một nớc giàu tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản đặc biệt là than đá Nhiều công ty than đã có

từ trớc nay đợc đầu t vốn để hoạt

động mạnh hơn đồng thời cũng có nhiều công ty mới ra đời: công ty than Hạ Long - Đồng Đăng, công

ty than Đông Triều Bên cạnh đó chúng còn mở một số ngành kinh tế mới chủ yếu là công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến nh các nhà máy sợi, nhà máy rợu, diêm, đờng sữa, sửa chữa ô tô, dệt bởi những ngành này có khả năng cạnh tranh với công nghiệp Pháp và các công

ty ở chính quốc không có điều kiện với tới đợc.

Sở dĩ Pháp đầu t vào hai ngành này vì cao su và than là hai mặt hàng

mà thị trờng thế giới đang cần Tuy vậy ngoài hai lĩnh vực trên TDP cũng chú trọng phát triển một số ngành khác nh thơng nghiệp, GTVT

Về thơng nghiệp cũng đã phát triển hơn nhng hoàn toàn phụ thuộc vào TDP Chúng đã ban hành nhiều

đạo luật đánh thuế nặng những mặt hàng ngoại nhập TDP độc chiếm thị trờng Đông Dơng nhằm

độc quyền XNK, nắm nguồn thuế

và đánh thuế nặng vào hàng ngoại

để hàng ngoại không đủ sức cạnh tranh với hành Pháp ở ĐD Trớc chiến tranh hàng Pháp nhập vào

xấp xỉ là 62% Ngoại thơng của Việt Nam thể hiện rất rõ tính chất thuộc địa kém phát triển (XK những mặt hàng nh lúa gạo, than

đá, cao su khối lợng nhiều, giá trị thấp còn NK chủ yếu là sản phẩm

CN nh vải lụa, len dạ, cơ khí khối lợng ít giá trị cao).

Về GTVT Pháp chú trọng phát triển đờng bộ, đờng thuỷ và đẩy mạnh xây dựng các tuyến đờng sắt xuyên ĐD nh Đồng Đăng - Na Sầm, Vinh - Đông Hà để phục vụ

đắc lực cho khai thác và chuyên chở nguyên vật liệu cũng nh lu thông hàng hóa Về tài chính, ngân hàng ĐD có cổ phần khắp các công

ty xí nghiệp lớn vì vậy Pháp nắm quyền chỉ huy các ngành kinh tế

ĐD Bên cạnh đó thì TDP còn thực hiện tăng thuế, đánh thuế nặng để tăng cờng bóc lột nhân dân ta.

Về văn hoá, giáo dục để phục vụ cho chính sách khai thác bóc lột về kinh tế, Pháp đã tăng cờng chính sách cai trị thâm độc (chia để trị), bên cạnh đó chúng còn thi hành chính sách khủng bố đàn áp bằng quân sự, vừa mua chuộc dụ dỗ bằng chính trị và thi hành chính sách văn hóa giáo dục nô dịch ngu dân để dễ bề cai trị.

tế của Pháp nhằm thu lợi cho Pháp chứ không phải vì ngời dân ĐD nói chung, Việt Nam nói riêng nhng lại

có tác động tới Việt Nam theo hai mặt cả tiêu cực và tích cực.

Về kinh tế, chính sách khai thác của Pháp đã làm kiệt quệ tài nguyên thiên nhiên của đất nớc, làm kiệt quệ sức lực của nhân dân làm cho nớc yếu dân nghèo Với chính sách kinh tế của Pháp đã làm cho kinh tế ĐD không có khả năng cạnh tranh với chính quốc nhất là

về mặt CN nặng: cột chặt kinh tế

ĐD trong mối lệ thuộc vào kinh tế Pháp kìm hãm kinh tế ĐD trong tình trạng nông nghiệp lạc hậu què quặt (duy trì quan hệ sản xuất

tế thực dân Đây là trở ngại lớn đã

kìm hãm sự phát triển của nền kinh

tế Việt Nam nói riêng, ĐD nói chung).

Về mặt khách quan với chính sách kinh tế của Pháp đã phần nào tác

động thúc đẩy kinh tế ĐD phát triển theo hớng TBCN do đợc đầu t vốn vào các ngành kinh tế và đa KHKT vào sản xuất Bên cạnh những

độc quyền của Pháp thành phần kinh

tế t sản Việt Nam cũng len lỏi vơn lên nhng nhỏ bé yếu ớt (khai mỏ có Bạch Thái Bởi, Nguyễn Hữu Thu )

Về mặt xã hội, chính sách của Pháp có ảnh hởng trực tiếp đến đời sống nhân dân làm tăng thêm sự nghèo đói của tầng lớp lao động nhất là bần cùng hoá ngời nông dân Tuy nhiên, chính sách khai thác lần thứ hai cũng đem đến cho xã hội Việt Nam những mặt tích cực Chính sách khai thác của Pháp đã làm nảy sinh những g/c mới và làm cho sự phân hoá xã hội thêm sâu sắc Việc tạo ra các g/c mới đã làm tăng thêm lực lợng cho

CM tạo ra ngời đào mồ chôn CNTD Chính sách khai thác bóc lột của Pháp làm tăng thêm mâu thuẫn vốn có giữa dân tộc Việt Nam với bọn đế quốc Pháp từ đó làm tăng thêm phong trào đấu tranh CM của nhân dân.

Thực tế xuất phát từ yếu tố nội tại:

Việt Nam không trải qua cuộc CM

t sản và nền văn minh công nghiệp

đáng lẽ phải có, cho nên nền kinh

tế nớc ta không mang tính công nghiệp Và hơi thở của nền công nghiệp mà TDP mang lại xét đến cùng càng làm cho nền kinh tế Việt Nam trở nên què quặt Song song với sự thay đổi của nền kinh tế là sự chuyển biến của xã hội Việt Nam so với các thời kỳ trớc Và cuộc khai thác lần 2 đã làm cho trong lòng xã

hội Việt Nam thuộc địa nửa phong kiến có cơ cấu g/c hết sức phức tạp.Có những g/c mới xuất hiện sẽ

là lực lợng chủ chốt cho CMVN sau này.

Đề 2: Dới tác động của đợt khai thác thuộc địa lần thứ hai của TDP, tình hình phân hoá g/c của xã hội Việt Nam có những gì thay

đổi?.

Bài làm.

Song song với sự thay đổi của nền kinh tế là sự chuyển biến của xã

hội Việt Nam so với các thời kỳ trớc

Việt Nam thực chất là một xã hội phong kiến thuần tuý trở thành xã

hội thuộc địa nửa phong kiến Mối quan hệ sản xuất cũng có sự thay

đổi Lúc này có hai mối quan hệ cùng song song tồn tại: quan hệ phong kiến lạc hậu và quan hệ xã

hội chủ nghĩa t bản đợc du nhập từ bên ngoài vào một cách hạn chế

Cơ cấu g/c trong lòng xã hội là do trình độ kinh tế quyết định, mà trong đó, mỗi một mối quan hệ sản xuất đều tơng ứng với sự ra đời và phát triển của một lực lợng sản xuất mới Chính vì thế, ảnh hởng của cuộc khai thác lần 2 đã làm cho trong lòng xã hội Việt Nam thuộc địa nửa phong kiến có cơ cấu g/c hết sức phức tạp Các g/c cũ tiếp tục bị phân hoá mạnh, các g/c mới tơng ứng với quan hệ sản xuất TBCN ra đời.

Trớc khi TDP xâm lợc đất nớc ta,

n-ớc ta là một nn-ớc phong kiến độc lập với hai g/c cơ bản là: g/c địa chủ phong kiến và g/c nông dân Sau khi TDP xâm lợc đặc biệt là sau CTTG 1 thì xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến ngoài hai g/c cũ, xã hội Việt Nam còn xuất hiện 3 g/c mới : công nhân, tiểu t sản, t sản

Các g/c này không ngừng phát triển nên số lợng và mâu thuẫn càng phân hoá sâu sắc Hơn bao giờ hết, trên "sân khấu" của nền chính trị xã hội Việt Nam những năm đầu của thế kỷ này lại tập hợp một lúc nhiều thành phần giai tầng khác nhau cả về tính chất lẫn t tởng

Và chính vì lẽ đó đã làm cho nó trở nên sôi động và đa dạng, làm cho bộ mặt xã hội nớc ta trở nên phức tạp và hỗn độn hơn.

Hình thành từ hàng chục thế kỷ

tr-ớc, g/c phong kiến đã từng g/c tiến

bộ Đây là g/c có nhiều ruộng đất,

có địa vị ở nông thôn, đã từng lãnh

đạo nhân dân đấu tranh chống xâm lợc và giành đợc nhiều chiến công hiển hách Từ TK XIX trở đi chính quyền phong kiến lâm vào tình trạng khủng hoảng, phản

động (nhà Nguyễn) Khi Pháp xâm lợc triều đình nhà Nguyễn chống

đỡ một cách yếu ớt và sau đó là đầu hàng Pháp vô điều kiện, chấp nhận

là một nớc phong kiến lệ thuộc (thuộc địa nửa phong kiến) G/c phong kiến đã mất hết vai trò lịch

sử của mình TDP áp dụng chính

cho nền thống trị của chúng Vì vậy sau CTTG lần thứ nhất địa chủ phong kiến Việt Nam vừa phát triển cả về số lợng và thế lực Tuy nhiên một bộ phận bị chèn ép về quyền lợi kinh tế nên có mâu thuẫn với TDP

và tham gia phong trào đấu tranh chống Pháp Nh vậy, g/c địa chủ phong kiến có sự phân hoá rõ ràng

đa số trở thành tay sai của Pháp

Qua thái độ chính trị của g/c địa chủ phong kiến thì rất dễ nhận thấy

đây là lực lợng phản động trong xã

hội và là đối tợng mà CM cần loại

bỏ vì vậy CM cần có chính sách phân biệt cụ thể.

Đất nớc ta là một đất nớc thuần nông vì vậy mà g/c nông dân hình thành cùng một lúc với g/c địa chủ

đó là lực lợng lao động ở nông thôn chiếm một tỷ lớn, hơn 90% dân số

Họ là ngời dân của một nớc có truyền thống chống ngoại xâm bị

đế quốc phong kiến áp bức bóc lột nặng nề, là g/c nghèo khổ không kém g/c CN Có thể nói những ngời nông dân Việt Nam một cổ hai tròng, su cao thuế nặng, phu phen tạp dịch vất vả, bị đẩy vào con đờng bần cùng hoá Họ là nạn nhân của chính sách khai thác bị xô đẩy vào quá trình bần cùng hoá phá sản hàng loạt Vì vậy g/c nông dân giàu lòng yêu nớc có tinh thần CM cao, là lực l- ợng chính trị to lớn, là động lực cơ bản của CM, có liên hệ máu thịt với công nhân cho nên dễ dàng liên minh với công nhân và chịu sự lãnh đạo của g/c công nhân.

Bên cạnh việc tồn tại những giai cấp cũ thì cũng có những g/c mới

ra đời nh g/c t sản Việt Nam Ra đời sau CTTG lần thứ nhất và trong cuộc khai thác thuộc địa lần hai, sau chiến tranh t sản Việt Nam cũng muốn nhân đà phát triển trong 4 năm chiến tranh mà vơn lên, họ có mặt ở nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác nhau, một số chạy theo t bản Pháp lập đồn điền hùn vốn vào khai mỏ để kiếm lời, còn số đông thành lập các công ty, hãng buôn các xí nghiệp hoạt động tơng đối mạnh và tập trung vào các ngành dịch vụ hoặc CN nhẹ sửa chữa ô tô, xay sát gạo Song ra đời

ở một nớc vốn phong kiến lạc hậu tiếp đó là thuộc địa bị chính sách thuộc địa của Pháp kìm hãm cho nên g/c t sản Việt Nam nhỏ bé, yếu

5% vốn của t sản nớc ngoài Có ờng hợp bị t sản Pháp cạnh tranh làm cho phá sản Sinh ra trong một xã hội thuộc địa phong kiến g/c t sản Việt Nam không chỉ yếu kém về kinh tế mà còn bạc nhợc về tinh thần và chính trị, họ phát triển đến một chừng mực nhất định thì phân hoá thành hai bộ phận.

tr-T sản mại bản là lớp t sản có quan

hệ, lợi ích gắn bó mật thiết với TDP

Vì vậy mà chúng là tầng lớp theo chân thực dân và là đối tợng của

CM T sản dân tộc bị đế quốc và t sản mại bản chèn ép nên có mâu thuẫn với chúng Họ có xu hớng kinh doanh độc lập ít nhiều có tinh thần dân tộc dân chủ yêu nớc chống đế quốc và tay sai Nhng họ

là một g/c yếu hèn chỉ tham gia đấu tranh trong một chừng mực khi kẻ thù nhân nhợng ban cho một số quyền lợi nhất định thì không tiếp tục đấu tranh Đây là thái độ không kiên định dễ thoả hiệp cải lơng

Nh vậy sau CTTG lần thứ nhất hai mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam phát triển sâu sắc đó là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với TDP và mâu thuẫn giữa các g/c trong xã hội Vì Pháp tăng cờng áp bức bóc lột với chính sách khai thác lần 2 có ảnh hởng tới toàn thể dân tộc Việt Nam.

Khi cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của TDP cùng ra đời với g/c tiểu t sản còn có g/c tiểu t sản G/c tiểu t sản bao gồm nhiều tầng lớp nhng chủ yếu là trí thức, học sinh, sinh viên, viên chức, dân nghèo thành thị, ngời làm ăn tự do chủ yếu sống tập trung ở thành thị Ra

đời ở một nớc thuộc địa có truyền thống yêu nớc lâu đời đang bị một nớc đế quốc áp bức bóc lột, họ sống nghèo khổ Cùng với công nhân và nông dân họ là g/c có tinh thần yêu nớc, tinh thần chống đế quốc phong kiến tinh thần dân tộc cao

G/c này có số lợng ngày càng phát triển và ngày càng trởng thành về chính trị, họ là lực lợng CM to lớn

đặc biệt nhiều ngời trong trí thức

đã trở thành lực lợng tiên phong của các phong trào CM.

Hình thành trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất và phát triển mạnh trong cuộc khai thác lần 2 do nhu cầu sử dụng sức lao động của TDP trong các ngành công nghiệp,

số lợng và chất lợng nhất là trình

độ chính trị, ý thức g/c (trớc CTTG g/c CN có hơn 10 vạn trong tổng số

20 triệu dân đến 1929 lên đến 22 vạn) CN trởng thành từ đấu tranh

tự phát lên tự giác khi có ánh sáng của CN M- L soi rọi và hoàn toàn trở thành g/ c tự giác khi ĐCSVN

ra đời.

Giai cấp CNVN từ khi ra đời đã mang những đặc điểm chung của công nhân quốc tế, là ngời lao động

bị áp bức hàng ngày sống nghèo khổ và tập trung ở các thành phố lớn, trong các ngành kinh tế chủ yếu, là lực lợng tiến bộ nhất và có

hệ t tởng riêng đó là CN M- L Bên cạnh đó CNVN lại có đặc điểm riêng: ra đời trớc g/c t sản Việt Nam, ra đời ở một nớc có truyền thống chống ngoại xâm phải chịu 3 tầng áp bức bóc lột (đế quốc - phong kiến - t sản) xuất thân phần lớn từ nông dân nên có quan hệ mật thiết với nông dân, đặc biệt CNVN xuất thân từ một đất nớc có truyền thống yêu nớc và sớm chịu

ảnh hởng của CN M - L Do đó họ

là g/c yêu nớc sớm liên minh với nông dân để phát triển sức mạnh,

là lực lợng CM, là g/c duy nhất lãnh đạo CMVN Tổng bí th Lê Khả Phiêu đã nhận định về sự ra đời của g/c công nhân :"Chơng trình khai thác thuộc địa mà TDP tiến hành ở Việt Nam từ cuối TK XIX đ-

ợc đẩy mạnh sau CTTG lần 1 nhằm xiết chặt ách thống trị của chúng, t- ởng có thể bảo vệ và nuôi béo mãi chế độ thực dân, nhng khách quan lại tạo ra một lớp ngời nô lệ mới, đó

là g/c CNVN, những ngời làm thuê mất nớc qua đấu tranh mà giác ngộ, sẵn sàng đảm đơng sứ mệnh lịch sử".

Nh vậy, sau cuộc khai thác thuộc

địa lần 2 của TDP xã hội Việt Nam xuất hiện hai mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ và mâu thuẫn của dân tộc với đế quốc Mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến là mâu thuẫn có từ trớc nhng sau chính sách khai thác càng sâu sắc hơn vì địa chủ phong kiến đợc Pháp dung dỡng ra sức áp bức bóc lột nông dân Hai mâu thuẫn này là nguồn gốc động lực dẫn tới phong trào CMVN phát triển mạnh mẽ Trong hai mâu thuẫn này thì mâu thuẫn giữa toàn

1

Trang 2

Pháp là mâu thuẫn chủ yếu đang

diễn ra ngày càng quyết liệt đòi hỏi

phải giải quyết

Để giải quyết hai mâu thuẫn này

CMVN phải thực hiện hai nhiệm vụ

cơ bản có tính chất chiến lợc quan

hệ khăng khít với nhau là đánh đổ

đế quốc, tay sai phản động để

giành độc lập dân tộc, là nhiệm vụ

chủ yếu hàng đầu của CM Căn cứ

vào tình hình các g/c trong xã hội

Việt Nam chúng ta thấy lực lợng

nghĩa lịch sử của phong

trào yêu nớc của khuynh

h-ớng dân chủ t sản giai

đoạn 1919 -1930.

Bài làm.

Giai đoạn 1919 - 1939 là giai đoạn

phát triển của các phong trào yêu

nớc Nhiều phong trào yêu nớc đã

diễn ra với nhiều khuynh hớng

khác nhau, trong đó có các phong

trào yêu nớc theo khuynh hớng dân

chủ t sản Mặc dù còn rất nhiều

hạn chế nhng các phong trào trong

khuynh hớng này vẫn mang những

ý nghĩa lịch sử quan trọng trong

cuộc đấu tranh lâu dài của dân tộc.

Từ sau CTTG lần thứ nhất tình

hình TG ảnh hởng rất sâu sắc đến

CMVN, t tởng t sản tiếp tục du

nhập vào Việt Nam đặc biệt là t

t-ởng CM của Tôn Trung Sơn với CN

tam dân (dân tộc độc lập, dân tộc tự

do, dân sinh hạnh phúc) CMT10

Nga thành công đã xóa bỏ chế độ

Nga hoàng lập Nhà nớc vô sản đầu

tiên trên TG Lần đầu tiên trong

lịch sử loài ngời một nớc chiếm 1/6

sự lãnh đạo của Lênin, QTCS đã

kết hợp vấn đề dân tộc với vấn đề thuộc địa kiên quyết ủng hộ cuộc

đấu tranh của nhân dân thuộc địa

Chính sự cổ vũ của CMT10, của QTCS đã làm cho phong trào CMTG phát triển dẫn tới sự ra đời của Đảng cộng sản Pháp (1920) và

Đảng cộng sản Trung Quốc (1921).

CMT10 Nga và sự phát triển của phong trào CMVSTG là các điều kiện khách quan thuận lợi cho bớc phát triển mới của CMVN sau CTTG 1

Đặc biệt nó tác động mạnh mẽ tới sự lựa chọn con đờng gpdt của NAQ Ng-

ời khẳng định "muốn gpdt không có con đờng nào khác ngoài con đờng CMVS" Ngời đã đi theo QTCS tham gia sáng lập Đảng cộng sản Pháp, tích cực truyền bá t tởng CM của CN M - L vào Việt Nam mở đờng giải quyết cuộc khủng hoảng về đờng lối gpdt của Việt Nam.

Sau CTTG 1 (1914 - 1918) phong trào DTDC ở Việt Nam bớc vào thời

kỳ phát triển mạnh mẽ lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dân tham gia với nhiều hình thức đấu tranh phong phú, sôi nổi trong đó g/c TSDT và TTS thành thị có hoạt động chống Pháp theo khuynh hớng DCTS.

Trớc hết phải kể đến các hoạt động của t sản dân tộc, đây là một bộ phận của g/c t sản T sản dân tộc bị

đế quốc, phong kiến và t sản mại bản chèn ép nên có mâu thuẫn với chúng Họ có xu hớng kinh doanh

độc lập ít nhiều có tinh thần dân tộc dân chủ yêu nớc chống đế quốc

và tay sai Nhng họ là một g/c yếu hèn chỉ tham gia đấu tranh trong một chừng mực nhất định khi kẻ thù nhân nhợng ban cho quyền lợi nhất định thì không đấu tranh Đây

là thái độ không kiên định dễ thoả

hiệp cải lơng.

Giai cấp t sản dân tộc Việt Nam tiến hành các cuộc đấu tranh vì

muốn vơn lên giành lấy vị trị khá

hơn trong nền kinh tế Việt Nam

nh-ng họ vấp phải sự chèn ép của TDP, vì cha đủ sức cạnh tranh với t bản Pháp nên t sản Việt Nam đã tổ chức những phong trào đấu tranh

hng nội hoá, bài trừ ngoại hoá chủ yếu là hàng Trung Quốc Năm

1919 bùng nổ phong trào tẩy chay các thơng gia Hoa kiều từ Sài Gòn

ra các thành phố lớn trong Nam ngoài Bắc Năm 1923 cuộc đấu tranh chống độc quyền thơng cảng Gài Gòn, độc quyền xuất cảng lúa gạo Nam Kỳ của t bản Pháp Cùng với các hoạt động kinh tế, g/c t sản dân tộc cũng dùng báo chí để bênh vực quyền lợi cho mình Năm 1923 một số t sản và địa chủ lớn trong Nam nh Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long đã tổ chức ra Đảng Lập hiến để tập hợp lực lợng rồi đa

ra một số khẩu hiệu đòi dân chủ nhằm tranh thủ sự ủng hộ của quần chúng làm áp lực đối với Pháp

Nh vậy do có mâu thuẫn với CN đế quốc Pháp đang thống trị nên t sản dân tộc đã bớc lên vũ đài chính trị

và g/c VSVN cũng bắt đầu có ý thức nên g/c t sản Việt Nam không thể

có thái độ CM triệt để Các hoạt

động của họ chỉ mang tính chất cải lơng giới hạn trong khuôn khổ của chế độ thực dân phục vụ quyền lợi của các tầng lớp trên và nhanh chóng bị phong trào quần chúng v-

ợt qua.

Vậy là g/c t sản dân tộc dù đa ra

c-ơng lĩnh hoạt động rất đúng đắn và tiến bộ song do còn có những hạn chế về mặt t tởng, tổ chức mà dần dần họ đánh mất lòng tin và sự ủng

hộ của quần chúng nhân dân Đối với việc này thì cũng coi nh sự lãnh

đạo của g/c t sản dân tộc bị thất bại.

Khi cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của TDP cùng ra đời với g/c TSDT còn có g/c TTS G/c tiểu t sản bao gồm nhiều tầng lớp nhng chủ yếu là những trí thức, học sinh, sinh viên, nhà báo Nhìn chung g/c tiểu t sản cũng bị đế quốc và phong kiến áp bức, bóc lột, khinh

rẻ Họ có điều kiện sống tập trung ở các đô thị và các trung tâm văn hóa chính trị nên họ rất nhạy cảm với thời cuộc Vốn xuất thân là những bộ phận trí thức nên họ có điều kiện tiếp xúc với các phong trào, có tinh thần hăng hái CM và là một lực lợng quan trọng của CM Trong khi t sản và đại

địa chủ đấu tranh chống độc quyền,

đòi quyền tự do dân chủ thích ứng với lợi ích g/c và địa vị xã hội của họ thì

cũng sôi nổi đấu tranh chống lại cờng quyền áp bức để đòi các quyền tự do dân chủ.

Và ở phong trào yêu nớc đấu tranh theo khuynh hớng dân chủ t sản thì

đây cũng là lực lợng quan trọng nhất Họ đã có rất nhiều hoạt động khác nhau nh tập hợp nhau lại trong các tổ chức chính trị nh Tâm tâm xã (1924), Việt Nam nghĩa

đoàn (1925), Phục Việt (1925), hội Hng Nam, đảng Thanh niên với nhiều hoạt động phong phú sôi nổi

Bên cạnh đó cũng giống nh g/c t sản dân tộc, họ cũng tiến hành đấu tranh trên mặt trận báo chí Họ cho

ra các tờ báo tiến bộ để tuyên truyền t tởng dân tộc dân chủ bằng tiếng Pháp nh Chuông rè, An Nam trẻ, Ngời nhà quê và bằng tiếng Việt nh "Tiếng dân tập thế kỷ" Họ lập ra các Nxb tiến bộ nh Nam

Đồng th xã, Cờng học th xã ở Sài Gòn và Quan hải tùng th ở Huế

để cổ động tinh thần yêu nớc, đòi các quyền tự do dân chủ và nêu quan điểm lập trờng chính trị của mình.

Trong cao trào yêu nớc dân chủ công khai do g/c tiểu t sản lãnh đạo

có hai sự kiện nổi bật Đỉnh cao của những sự kiện nổi bật là tiếng bom của liệt sĩ Phạm Hồng Thái (1924) ở Quảng Châu - Trung Quốc gây một tiếng vang lớn ở trong nớc và ngoài nớc Tiếng bom này có ý nghĩa mở màn cho thời đại

đấu tranh mới của dân tộc, vừa có tác dụng cổ vũ, thúc đẩy phong trào tiến lên Tuy vụ ám sát không thành nhng hơn bao giờ hết tiếng bom Sa Diện của Phạm Hồng Thái vang lên có ý nghĩa vô cùng to lớn nh HCT đánh giá: "Việc đó tuy nhỏ nhng nó báo hiệu bắt đầu thời đại

đấu tranh dân tộc nh chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân" Tiếp đó là cuộc đấu tranh đòi thả nhà yêu nớc PBC tháng 11/1925 Việc PBC bị bắt đa về nớc đã kích động lòng yêu nớc trong nhân dân đặc biệt là những lời lẽ đanh thép của ông trớc vành móng ngựa đã làm cho làn sóng đấu tranh đòi thả PBC sôi nổi khắp nơi buộc TDP phải tha bổng PBC và đa về giam lỏng ở Huế

Tiếp đến họ tổ chức lễ đa tang và truy điệu PCT (3/1926) có 14 vạn ngời gồm đủ các tầng lớp đã đa tang ông và sau lễ đa tang khắp nơi

truy điệu.

Nh vậy, có thể thấy phong trào yêu nớc dân chủ của tiểu t sản có một vị trí quan trọng trong cuộc vận động dân chủ nói riêng và phong trào dân tộc nói chung Về tổ chức chủ yếu do tiểu t sản lãnh đạo nhng bị t tởng t sản chi phối điều này là điều tất yếu vì lúc đó CN M - L cha có

điều kiện xâm nhập vào phong trào Tuy vậy, tổ chức yêu nớc dân chủ rõ nét các hoạt động này đã

chuẩn bị hỗ trợ cho phong trào công nhân và Hội VNCMTN

Phong trào đấu tranh này thể hiện lòng yêu nớc của thanh niên tiểu t sản Mặc dù họ cha đợc tổ chức thành chính đảng nên đấu tranh mang tính chất ấu trĩ nhng có ý nghĩa to lớn trong việc thức tỉnh lòng yêu nớc reo rắc t tởng tự do dân chủ trong dân Những thanh niên yêu nớc ấy sau này bằng nhiều con đờng khác nhau đã đến với

Đảng ta vì vậy khi nói về các điều kiện thành lập Đảng, Đảng ta coi phong trào yêu nớc là một trong 3 yếu tố.

Các phong trào theo khuynh hớng dân chủ t sản còn kéo dài với hoạt

động của tổ chức VNQDĐ và cuộc khởi nghĩa Yên Bái Cho đến năm

1930 cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại đồng thời các cuộc đấu tranh theo khuynh hớng dân chủ t sản cũng kết thúc và mở ra một giai

đoạn đấu tranh phát triển mới của CMVN.

Xét đến cùng các phong trào yêu

n-ớc theo khuynh hớng dân chủ t sản giai đoạn 1919 - 1930 bị thất bại là

lẽ tất nhiên Nếu nh các phong trào yêu nớc do g/c t sản dân tộc bị thất bại là do những hạn chế về mặt tổ chức, tầm nhìn thì các phong trào

do g/c tiểu t sản lại có những hạn chế nhất định Đó là g/c này vẫn ch-

a đợc tiếp cận với CN M - L Tuy vậy chúng ta cũng không thể phủ nhận đợc những đóng góp quan trọng của các phong trào theo khuynh hớng này bởi lẽ nó cũng góp phần thúc đẩy quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc nớc ta tiến lên một bớc mới và là một bài học kinh nghiệm quý báu cho các phong trào ở giai đoạn sau.

động đấu tranh diễn ra sôi nổi, nổi bật là cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm

1930 Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại nhng nó lại có ý nghĩa lịch sử rất quan trọng đối với CMVN.

Cơ sở hạt nhân đầu tiên của VNQDĐ là Nam Đồng th xã một nhà xuất bản tiến bộ do Phạm Tuấn Tài lập ra đầu năm 1927 Lúc

đầu Nam Đồng th xã chỉ là một nhóm thanh niên trí thức yêu nớc nhng cha có đờng lối chính trị rõ rệt do đó sự phát triển mạnh của phong trào dân tộc dân chủ và ảnh hởng của các trào lu từ bên ngoài (chủ yếu là CMTQ) VNQDĐ đã lấy

CN tam dân của Tôn Trung Sơn (dân tộc độc lập, dân tộc t do, dân sinh hạnh phúc) một t tởng dân chủ

t sản thịnh hành ở Trung Quốc làm nền tảng t tởng chính trị nhng những nguyên tắc và chính sách có tính CM đã bị loại bỏ (liên Nga, liên cộng, phù trợ công nông).

VNQDĐ là một chính đảng theo xu hớng cách mạng dân chủ t sản và tiêu biểu cho tầng lớp t sản dân tộc Việt Nam Lúc mới hình thành

Đảng cha có mục đích tôn chỉ rõ rệt

mà chỉ nêu ra cơng lĩnh hoạt động chung chung đó là: trớc làm CMDT sau là TGCM Đến bản điều lệ năm

1928 mới nêu lên chủ nghĩa của

Đảng là "chủ nghĩa xã hội dân chủ" Mục đích là đoàn kết lực l- ợng để đẩy mạnh CMDT, xây dựng nền dân chủ trực tiếp, giúp đỡ các dân tộc bị áp bức Nhng một điểm hạn chế là tổ chức này mới chỉ nêu

ra chứ cha trực tiếp giúp đỡ các g/c

đấu tranh và nó cũng không trực tiếp đấu tranh giải quyết các vấn đề

về mâu thuẫn giai cấp Đến chơng

nguyên tắc của Đảng là tự do, bình

đẳng, bác ái Mục đích làm CMDT,

CM chính trị, CMXH Chơng trình hoạt động chia làm 4 thời kỳ, thời

kỳ cuối cùng là bất hợp tác với Chính phủ Pháp và triều đình Nguyễn, cổ động bãi công đánh

đuổi giặc Pháp, đánh đổ ngôi vua, thiết lập dân quyền Tuy vậy, đây cũng chỉ là cơng lĩnh chính trị chung chung không thể hiện rõ mục đích lập trờng g/c của mình.

Lãnh tụ của VNQDĐ là những trí thức yêu nớc nh Nguyễn Thái Học, Phạm Tuấn Tài, Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính Đảng chủ trơng xây dựng thành 4 cấp từ TW

đến chi bộ cơ sở song cha bao giờ thành hệ thống trong cả nớc Địa bàn hoạt động chỉ bó hẹp trong một

số địa phơng ở Bắc Kỳ nh Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Bắc Giang cơ

sở ở Nam Kỳ và Trung Kỳ không

đáng kể Về tổ chức đáng chú ý là

Đảng chú trọng lấy binh lính ngời Việt trong quân đội Pháp làm lực l- ợng chủ yếu nên tổ chức cơ sở đảng trong quần chúng rất ít

Nếu nh trong thời đại ngày nay việc

đợc kết nạp vào Đảng luôn đợc lựa chọn và xem xét rất nghiêm túc thì

VNQDĐ không đặt vấn đề kết nạp

đảng viên lên hàng đầu Do đó mà thành phần đảng viên của tổ chức này rất "ô hợp", phức tạp, tổ chức lỏng lẻo, đảng viên bao gồm học sinh, sinh viên, công chức, t sản dân tộc, tiểu chủ, thân hào, phú nông địa chủ, binh lính ngời Việt trong quân đội Pháp Kết nạp thiếu thận trọng là cơ sở để mật thám và tay sai xâm nhập, kẻ thù theo dõi rất sát hoạt động của Đảng chỉ chờ

có dịp ra tay khủng bố, đàn áp Về phơng pháp CM, Đảng chủ trơng tiến hành CM bằng sắt và máu tức

là bạo động vũ trang, nặng về ám sát khủng bố cá nhân ít chú ý đến tuyên truyền vận động quần chúng không có cơ quan ngôn luận hoặc tài liệu văn kiện chính thức để giải thích tôn chỉ mục đích của mình

Trong quá trình hoạt động của mình thì phong trào nổi bật nhất của tổ chức VNQDĐ chính là cuộc khởi nghĩa Yên Bái Do không có lý luận làm cơ sở cho đờng lối và ph-

ơng pháp đấu tranh của VNQDĐ

nên tổ chức này hoạt động thiên về quân sự, nặng về ám sát cá nhân

đã tổ chức ám sát tên trùm mộ phu Bazanh Sau sự kiện này TDP đã tiến hành khủng bố trắng rất ác liệt, tổ chức nhiều cuộc vây bắt lớn, bắt bớ những ngời của các tổ chức chính trị bí mật VNQDĐ bị thiệt hại nặng nề hơn cả, cơ sở của Đảng

bị phá vỡ do sự chỉ điểm của bọn phản động mật thám Trớc tình hình nguy khốn đó các lãnh tụ của

Đảng còn cha bị bắt đã quyết định dồn sức để thực hiện một cuộc bạo

động cuối cùng may ra thì thành công nếu không thì cũng thành nhân.

VNQDĐ định mở một cuộc tấn công từ nhiều nơi cùng một lúc nh-

ng hành động trong thế đối phó bị

động, mệnh lệnh không thống nhất Việc chuẩn bị vội vã nên các nơi nổi lên không đều tuy vậy quân khởi nghĩa đã nổi dậy ở một số nơi

nh Yên Bái đêm 9/2/1930 sau đó là Phú Thọ, Hải Dơng, Thái Bình, ở

Hà Nội cũng có ném bom để phối hợp Tại Yên Bái quân khởi nghĩa

đã chiếm đợc trại lính, giết và làm

bị thơng một số hạ sĩ quan, sĩ quan Pháp Nhng do không làm chủ đợc tỉnh lị nên chỉ đến hôm sau cuộc khởi nghĩa đã bị TDP đa quân đến

đàn áp và bị dập tắt Còn ở các nơi khác nghĩa quân cũng chỉ tạm thời làm chủ vài huyện nhỏ nhng đã nhanh chóng bị địch chiếm lại Khởi nghĩa Yên Bái thất bại, số

đảng viên còn lại cùng các lãnh tụ Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí lãnh đạo Đảng bị bắt chém đầu ở Yên Bái ngày 17/6/1930 Trớc khi lên máy chém Nguyễn Thái Học và

12 đồng chí đã hiên ngang hô vang

"Việt Nam vạn tuế".

Sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái do nhiều nguyên nhân khác nhau Lúc này vai trò của g/c

t sản trên trờng quốc tế đã giảm Về khách quan thì TDP lúc đó còn mạnh, đủ thế và lực để đàn áp một cuộc khởi nghĩa vừa đơn lẻ, vừa non kém Về chủ quan khởi nghĩa Yên Bái thất bại là do VNQDĐ còn non yếu, không vững chắc về tổ chức và lãnh đạo Cơ sở Đảng yếu lại bị tan rã ở nhiều nơi trớc khi nổ

ra cuộc khởi nghĩa Nội bộ của

Đảng không thống nhất về chủ

tr-ơng khởi nghĩa, tổ chức không nghiêm ngặt, hàng ngũ phức tạp do

có nhiều thành phần tham gia vì

2

Trang 3

Pháp có thể lọt vào tổ chức phá

hoại từ bên trong Thất bại của

cuộc khởi nghĩa kéo theo sự tan rã

của chính đảng của g/c t sản chứng

tỏ phong trào dân tộc dân chủ theo

khuynh hớng dân chủ t sản đã

không đáp ứng đợc yêu cầu khách

quan của sự nghiệp giải phóng dân

tộc của nhân dân Việt Nam, không

đủ sức vợt qua sự đánh phá của kẻ

thù để tồn tại và phát triển Đánh

dấu sự phá sản hoàn toàn của đờng

lối chính trị t sản: "Sau cuộc bạo

động Yên Bái ngọn cờ phản đế

phản phong, ngọn cờ giải phóng

dân tộc đã chuyển hẳn qua tay g/c

sinh của các chiến sỹ Yên Bái là sự

nối tiếp truyền thống yêu nớc bất

khuất của dân tộc Việt Nam Cuộc

khởi nghĩa là sự biểu thị tinh thần

phản kháng dân tộc quyết liệt của

bộ phận tiến bộ nhất trong g/c t

sản, chống lại ách áp bức và sự chà

đạp lên các quyền tự do của con

ngời Mặc dù thế ta cũng không thể

phủ nhận vai trò lịch sử của Việt

Nam quốc dân đảng trong phong

trào dân chủ công khai vừa mới

xuất hiện đã tan rã và nhanh

chóng kết thúc cùng với sự thất bại

của cuộc khởi nghĩa Yên Bái Và sự

thất bại này là một bài học kinh

nghiệm về mọi mặt tổ chức, đờng lối, t

tởng cho sự ra đời của các đảng sau

đem lại nhiều nét mới trong hình

thức đấu tranh (nh báo chí, gây

phong trào quần chúng) tạo ra một

cao trào yêu nớc và dân chủ có lợi

cho sự phát triển CM nói chung

Song phong trào cũng thể hiện sự

thiếu thống nhất, bồng bột và đặc

biệt các đảng phái chính trị tiểu t

sản vẫn còn thiếu một đờng lối CM

đúng đắn toàn diện trong khi TDP

sự ra đời và quá trình phát triển của phong trào công nhân giai

đoạn 1919 - 1930 thì ta thấy có những bớc tiến quan trọng cho CMVN sau này.

Sau CTTG 1 thắng lợi của CMT10 Nga đã thức tỉnh các dân tộc phơng

Đông trong đó có Việt Nam Nó mở

ra thời đại chống đế quốc gpdt

Tiếp đó là sự thành lập QTCS đã

tạo điều kiện thuận lợi cho CM thuộc địa, hoạt động của QTCS đặc biệt là Ban Phơng Đông và các tổ chức quốc tế nh quốc tế nông dân, quốc tế thanh niên có ảnh hởng

to lớn tới CM nớc ta ảnh hởng của CMT10 và hoạt động của QTCS đã

thúc đẩy phong trào CMTG phát triển dẫn tới sự ra đời của Đảng cộng sản Pháp trong đó có sự đóng góp của NAQ đã tạo điều kiện cho

CN M - L đợc truyền bá vào Việt Nam Năm 1921 Đảng cộng sản Trung Quốc ra đời cùng với sự phát triển của CMTQ đã tạo điều kiện cho những ngời yêu nớc có thể

đứng chân.

Những nét mới này của tình hình

TG có ảnh hởng to lớn tới phong trào CMVN nói chung và phong trào công nhân nói riêng đồng thời lúc đó ở trong nớc g/c CN trởng thành trong cuộc khai thác thuộc

địa lần thứ hai của TDP Phong trào đấu tranh của CNVN từ sau CTTG 1 trong điều kiện lịch sử mới

đó đã chuyển dần từ tự phát lên tự giác Mặt khác đây cũng là quá

trình từng bớc xác lập vai trò lãnh

đạo của g/c CN trong CMVN và chứng tỏ sự thắng thế của khuynh hớng vô sản mà CN là đại diện.

Sau khi đạt đợc ách thống trị ở ĐD, TDP bắt tay thực hiện cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất nhằm biến ĐD thành một nơi khai thác tài nguyên bóc lột nhân công rẻ mạt và tiêu thụ hàng hóa Với cuộc khai thác này phơng thức sản xuất TBCN du nhập vào Việt Nam và dần dần giữ vị trí chủ đạo Tuy vậy TDP vẫn duy trì quan hệ sản xuất

đến lúc này nớc ta trở thành một

n-ớc thuộc địa nửa phong kiến

Chính nền công nghiệp thuộc địa vừa hình thành đã làm nảy sinh g/c CNVN Đó là lớp thợ thuyền đầu tiên làm việc ở đồn điền, hầm mỏ, xí nghiệp.

Sau chính sách khai thác thuộc địa

là 2 thì g/c CNVN trởng thành nhanh chóng Trớc chiến tranh có khoảng 10 vạn ngời sau chiến tranh phát triển nhanh đến năm

1929 là 22 vạn sống tập trung ở Hà Nội, Hòn Gai, Nam Định, Sì Gòn - Chợ Lớn CNVN có những đặc

điểm chung của CN quốc tế và đặc

điểm riêng của mình: đại diện cho lực lợng sản xuất tiên tiến, sống tập trung nằm trong các ngành kinh tế chủ yếu của t bản Pháp và Việt Nam Họ bị g/c phong kiến, t sản bản xứ bóc lột nặng nề, phần lớn từ nông dân mà ra vì vậy có mối liên

hệ tự nhiên với nông dân, có truyền thống yêu nớc bất khuất Hơn nữa

họ ra đời và lớn lên giữa lúc CMT10 Nga thành công nên sớm chịu ảnh hởng của CN M - L

Do điều kiện kinh tế, chính trị và lịch sử cụ thể của Việt Nam g/c CN

là g/c duy nhất đại diện cho sự tiến hoá của xã hội Việt Nam ngời duy nhất có khả năng nắm ngọn cờ gpdt, giải phóng lao động ở nớc ta

Bởi họ là lực lợng sản xuất tiến bộ nhất và là g/c CM nhất vì vậy trong các cuộc đấu tranh họ luôn hăng hái Có lẽ ý thức đợc rằng nếu mất thì họ chỉ mất đi xiềng xích trói buộc mình còn nếu đợc thì họ đợc cả thế giới trong tay Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng đánh giá về g/c

CN :"chỉ có g/c công nhân là dũng cảm nhất, luôn luôn gan góc đơng

đầu với bọn đế quốc thực dân, là lực lợng CM tiên phong và kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc

tế, g/c CN của ta đã tỏ ra là ngời xứng đáng nhất và đáng tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam" Đây chính là minh chứng hùng hồn nhất về sự ra đời rất quan trọng của g/c CNVN.

Ngay từ khi mới ra đời g/c CN bị áp bức bóc lột nặng nề đặc biệt là từ sau CTTG 1 Điều kiện sống và làm việc của CNVN hết sức thấp kém:

thời gian làm việc từ 9 - 10 giờ một ngày, CN dệt Nam Định là 12 giờ/

ngày tuy vậy tiền lơng rất rẻ mạt:

0,35 đồng/ ngày, mỏ than Hòn Gai

là 0,30 đến 0,40 đồng/ngày Bị

đánh đập ngợc đãi, cuộc sống khổ cực cùng quẫn, bị áp bức đói khổ cộng với truyền thống yêu nớc đã

thôi thúc CNVN đứng dậy đấu tranh và đấu tranh ngày càng mạnh mẽ.

Cũng nh gắn liền với sự ra đời của g/c t sản là các phong trào yêu nớc theo khuynh hớng dân chủ t sản thì

sự ra đời của g/c CNVN là các phong trào yêu nớc do g/c CN lãnh

đạo Phong trào đấu tranh của công nhân Việt Nam bắt đầu ngay

từ khi g/c CN mới hình thành Và hình thức đấu tranh của g/c CNVN cũng thay đổi theo thời gian

ở thời kỳ đầu g/c CN cha trở thành lực lợng chính trị độc lập vẫn còn

là một bộ phận của phong trào yêu nớc, họ đã tham gia nhiều cuộc đấu tranh của các phong trào yêu nớc khác (nh khởi nghĩa Thái Nguyên, Duy Tân và những vụ đấu tranh

đòi tự do dân chủ do thanh niên tiểu t sản trí thức phát động) Bên cạnh đó đã có các cuộc đấu tranh riêng chống chế độ hà khắc đòi cải thiện đời sống của mình Điều này dẫn đến các hình thức đấu tranh mới chỉ ở những hình thức thấp nh phá máy móc, đánh cai ký bởi họ cho rằng nguyên nhân chính dẫn

đến cuộc sống khổ cực của mình là máy móc chứ cha nhìn ra rằng các chủ t bản mới là kẻ thù của g/c mình Hay cao hơn nữa là họ tổ chức các cuộc bỏ trốn tập thể, tự ý phá giao kèo.

Sau CTTG 1, thời kỳ 1919 - 1925 phong trào CNVN chịu nhiều tác

động từ bên ngoài nh sách báo tiến

bộ, hoạt động của CN tiến bộ từ Pháp về Đặc biệt là hoạt động của

"Công hội đỏ" do Tôn Đức Thắng thành lập ở Sài Gòn năm 1920 Các cuộc đấu tranh của CN thuỷ thủ Pháp trên các tàu chiến Pháp ở các cảng Hải Phòng, Sài Gòn, công nhân của TQ tại các cảng lớn Tất cả những điều đó đã cổ vũ CNVN hăng hái đấu tranh vì vậy các cuộc

đấu tranh của CN nổ ra nhiều hơn

và bớc đầu đi vào con đờng có tổ chức CM.

Từ đầu 1919 - 1925 phong trào công nhân có tới 25 cuộc bãi công

Năm 1919 cuộc bãi công của CN tàu Sácnô ở Hải Phòng đòi tăng l-

ơng phản đối việc đa binh lính Việt Nam sang đàn áp CM Xiri Năm

Sài Gòn đấu tranh đòi phụ cấp đắt

đỏ Từ năm 1921 do ảnh hởng của phong trào công nhân TG một số công nhân và thuỷ thủ Việt Nam đã

ra nhập Liên đoàn công nhân tàu biển Viễn Đông vì vậy tính chất liên hiệp đấu tranh của CNVN xuất hiện Năm 1922 600 CN Sài Gòn - Chợ Lớn đấu tranh đã đợc NAQ

đánh giá là dấu hiệu của thời đại mới Năm 1924 là cuộc bãi công của CN các nhà máy dệt, rợu, xay xát gạo ở Nam Định, Hà Nội đã

liên tiếp nổ ra.

Quan trọng hơn cả là cuộc bãi công của hơn 1000 CN thợ máy x- ởng đóng tàu - sửa chữa Ba Son (tháng 8/1925) CN không chịu sửa chữa chiến hạm Mitsơlê của Pháp vì chiến hạm này đang trên đờng chở lính Pháp sang đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân và thuỷ thủ TQ ở tô giới của Pháp và

đòi tăng 20% lơng, đòi tất cả CN có việc làm Cuộc bãi công thắng lợi

đánh dấu bớc tiến mới của phong trào CNVN Qua cuộc bãi công này thấy rõ t tởng CMT10 Nga 1917 đã

thâm nhập vào g/c CNVN và bắt

đầu biến thành hành động có ý thức Nó thể hiện sự trởng thành quan trọng của CNVN và bắt đầu biến thành hành động có ý thức

Đấu tranh không chỉ vì mục tiêu kinh tế mà còn vì mục tiêu chính trị

và có tổ chức lãnh đạo Họ đã tỏ rõ sức mạnh giai cấp của mình và tinh thần QTVS Điều đó đánh dấu CNVN bắt đầu đi vào đấu tranh tự giác.

Có thể thấy rằng, các cuộc đấu tranh trong thời kỳ này của CN sôi nổi từ Bắc chí Nam Họ đã sử dụng hình thức đấu tranh riêng biệt của

CN là bãi công, có yêu cầu riêng về quyền lợi cụ thể của g/c mình Bớc

đầu xuất hiện tính chất tổ chức lãnh đạo và ý thức chính trị song về cơ bản phong trào còn trong thời

kỳ đấu tranh tự phát cha tỏ rõ đợc

là một lực lợng chính trị độc lập, cha có ý thức rõ rệt về sứ mệnh lịch

sử của g/c mình Họ mới đấu tranh chủ yếu nhằm đòi cải thiện đời sống hàng ngày chống lại bọn chủ bóc lột trực tiếp chứ cha nhằm chống lại chính phủ thuộc địa, đòi thủ tiêu chế độ thống trị Tức là phong trào đấu tranh của CN cha gắn liền với phong trào giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc.

Thực tế lịch sử đã chứng minh các phong trào của giai cấp công nhân

ờng lối mới ở giai đoạn 1926 -

1930 Trong giai đoạn này ngoài vai trò lãnh đạo của lãnh tụ NAQ thì những sự kiện chính trị ở bên ngoài dội vào CMVN có ảnh hởng rất lớn đến CM nớc ta Sự phát triển của cuộc CM DTDC ở TQ mà trung tâm là ở Quảng Châu, công xã Quảng Châu bùng nổ (1927) tiếp đến là sự phản biến của TGT

đã cung cấp một bài học kinh nghiệm nóng hổi về vai trò CM của g/c CN trong CM dân tộc dân chủ ở một nớc thuộc địa, nửa thuộc địa và

về tính hai mặt của g/c t sản Đại hội 5 (1924) tiếp đó Đại hội 6 (1928) của QTCS đã ra Nghị quyết quan trọng về phong trào CM ở các nớc thuộc địa Tình hình trên đã

tác động mạnh đến tổ chức CM tiên tiến của nớc ta là Hội VNCMTN do NAQ sáng lập năm 1925 và thông qua hoạt động sôi nổi của tổ chức này ảnh hởng của CMTG đã tác

có những chuyển biến mới Trong hai năm từ 1926 - 1927 ở nớc ta đã

liên tiếp nổ ra 27 cuộc bãi công của

CN tiêu biểu là cuộc bãi công của

1000 CN nhà máy sợi Nam Định,

500 CN đồn điền cao su Cam Tiên tiếp đó là CN đồn điền cà phê Rayna (Thái Nguyên), cao su Phú Riềng Các cuộc đấu tranh này

đều nhằm vào hai mục tiêu chung:

tăng lơng từ 20 - 40% và ngày làm

8 giờ Trong phong trào đấu tranh

đáng chú ý là CN đồn điền đấu tranh sôi nổi dài ngày.

Cuối 1928 sau khi có chủ trơng "vô

sản hoá" nhiều cán bộ của Hội VNCMTN đã đi vào hầm mỏ, nhà máy, đồn điền để tuyên truyền, cổ

động CM và nâng cao ý thức chính trị cho g/c CN Phong trào CN càng phát triển mạnh mẽ hơn và trở thành nòng cốt của phong trào CM cả nớc Đấu tranh của CN đã nổ ra tại các trung tâm kinh tế - chính trị

nh bãi công của CN mỏ than Mạo Khê (Quảng Ninh), nớc đá Laruy (Sài Gòn), Ca - diêm Bến Thuỷ, ximăng Hải Phòng, tơ Nam Định

Năm 1929 bãi công của CN nhà máy chai Hải Phòng, sửa chữa xe lửa Trờng Thi, nhà máy sửa chữa ô tô Avia Hà Nội, hãng buôn Sácne (Sài Gòn) Số lợng các cuộc đấu

lên tới 40 cuộc đấu tranh.

Đứng trên một góc độ lịch sử ta thấy phong trào công nhân ở giai

đoạn 1919 - 1930 đã có những biến

đổi cả về chất và lợng, quy mô các cuộc đấu tranh ngày càng lớn.

Phong trào đấu tranh của CN thời

kỳ này đã có sự chuyển biến về chất Tại nhiều nhà máy xí nghiệp

sự lãnh đạo của Thanh niên, của Tân Việt đợc củng cố, công hội Nam Kỳ đã liên lạc đợc với Tổng liên đoàn lao động Pháp để tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế Hình thức bãi công, vũ khí lợi hại của

CN đợc sử dụng phổ biến, khẩu hiệu đấu tranh không giới hạn ở mục đích kinh tế mà đã kết hợp với mục đích chính trị.

Phong trào đấu tranh nổ ra liên tiếp đều khắp cả 3 kỳ có sự lãnh

đạo, chỉ huy phối hợp Nó đã vợt khỏi phạm vi một xởng, một địa ph-

ơng, một ngành và bắt đầu có sự liên kết thành phong trào chung

Cuộc đấu tranh sôi nổi quyết liệt hơn, tính chất tự phát giảm đi thay bằng những cuộc đấu tranh có ý thức tổ chức với quy mô ngày càng lớn và trong phong trào đấu tranh tinh thần quốc tế đã đợc biểu lộ (nh các cuộc đấu tranh kỷ niệm ngày 1/5, kỷ niệm CMT10 Nga 7/11/1929) Điều đó chứng tỏ trình

độ giác ngộ chính trị của g/c CN từ chỗ chỉ là một lực lợng trong phong trào yêu nớc g/c CN dần dần vơn lên vị trí chủ thể của lịch sử, dần dần trở thành một lực lợng chính trị độc lập có tác dụng lôi cuốn quy

tụ và dẫn đầu phong trào yêu nớc nói chung Chính sự phát triển của phong trào CN đã dẫn tới sự ra đời của ba tổ chức cộng sản tiền thân của Đảng cộng sản ở Việt Nam.

Trớc tình hình phong trào CN và phong trào yêu nớc phát triển yêu cầu thành lập một chính đảng của g/c CN đặt ra gay gắt Hội VNCMTN đã bộc lộ rõ tính hạn chế lịch sử của mình nên không đủ sức

để giơng cao ngọn cờ tiên phong lãnh đạo DTDC đợc nữa Cuối tháng 3/1929 với sự nhạy bén về chính trị một số hội viên tiên tiến của Hội VNCMTN ở Bắc Kỳ đã lập

ra chi bộ cộng sản đầu tiên ở Việt Nam gồm 7 ngời tiêu biểu là Ngô

Gia Tự và Nguyễn Đức Cảnh Tại

Đại hội lần 1 (tháng 5/1929) của Hội VNCMTN họp tại Hơng Cảng

đoàn đại biểu Bắc Kỳ đã đặt vấn đề

là phải thành lập ngay Đảng cộng

không đợc chấp nhận Điều này dẫn tới sự tan rã của Hội VNCMTN Tháng 6/1929 đại biểu các tổ chức cơ sở cộng sản ở miền Bắc đã họp đại hội ở số nhà 312 phố Khâm Thiên - Hà Nội quyết

định thành lập ĐDCSĐ.

Đại hội đã thông qua tuyên ngôn,

điều lệ của Đảng, ra báo "Búa liềm" làm cơ quan ngôn luận và cử

ra BCHTW Đảng ĐDCSĐ tiếp tục

mở rộng tổ chức cơ sở Đảng trong nhiều địa phơng ở Bắc Kỳ, Trung

ảnh hởng của Đảng nhiều cuộc bãi công đã nổ ra ở Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định đòi tăng lơng, bớt giờ làm, cấm đánh đập v.v Sau khi ĐDCSĐ ra đời tháng 7/1929 các cán bộ lãnh đạo tiên tiến trong Tổng bộ và kỳ bộ của Hộ VNCMTN ở Nam Kỳ cũng quyết

định thành lập ANCSĐ ra tờ báo

"Đỏ" ở Hơng Cảng để tuyên truyền

về trong nớc Đảng đã tích cực vận

động để thống nhất với ĐDCSĐ rồi liên lạc với QTCS và một số Đảng cộng sản trên TG Đảng đã đẩy mạnh cuộc vận động phát triển tổ chức Đảng, tổ chức công hội, nông hội, đoàn thanh niên, nhiều cuộc bãi công đã nổ ra ở Nam Kỳ vào cuối 1929.

Khi ĐDCSĐ và ANCSĐ ra đời trong TVCMĐ đã diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa hai khuynh h- ớng t tởng là CM và cải lơng Bộ phận tích cực nhất trong Tân Việt

đã quyết định li khai khỏi Tổng bộ rồi tuyên bố thành lập ĐDCSLĐ vào tháng 9/1929 ĐDCSLĐ ra đời

đã thể hiện tinh thần yêu nớc và nguyện vọng cứu nớc của thanh niên trí thức tiểu t sản Việt Nam

Đánh dấu một bớc ngoặt trên con ờng phát triển của Tân Việt từ một

đ-đảng tiểu t sản khuynh "tả" đã phân hoá chuyển thành một tổ chức cộng sản Sự chuyển hoá của Tân Việt theo Hội VNCMTN phù hợp với xu thế phát triển khách quan của phong trào yêu nớc lúc đó, nó góp phần làm suy yếu và đánh bại chủ nghĩa cải lơng, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và tăng cờng sức mạnh

3

Trang 4

giành quyền lãnh đạo CMVN.

đang ảnh hởng và phát triển trong

phong trào dân tộc chiếm u thế

Chứng tỏ những điều kiện để ra đời

Đảng cộng sản ở Việt Nam đã chín

muồi.

Các tổ chức cộng sản trên đã

nhanh chóng phát triển tổ chức cơ

sở Đảng trong phong trào CN, trực

tiếp tổ chức lãnh đạo các cuộc đấu

tranh của CN do đó đã thúc đẩy

phong trào CN phát triển mạnh mẽ

Song ba tổ chức đó đều hoạt động

riêng rẽ, tranh giành ảnh hởng

thậm chí còn phê bình công kích

lẫn nhau gây nên một trở ngại lớn

cho sự phát triển của phong trào

CN và phong trào CM cả nớc Yêu

cầu cấp bách lúc đó của CMVN là

phải có một Đảng thống nhất trong

cả nớc NAQ đã thực hiện vai trò

Nh vậy, chính phong trào CN là

miếng đất tốt để CN M - L ăn sâu

bám rễ khi NAQ truyền bá vào nớc

ta và từ đó làm cho phong trào CN

phát triển mạnh mẽ, có ý thức chính

trị rõ rệt, cùng với sự phát triển của

phong trào yêu nớc nói chung đòi

hỏi phải có sự lãnh đạo của tổ chức

Đảng, CM tiên phong Các tổ chức

cộng sản lần lợt ra đời là sản phẩm

của sự kết hợp giữa CN M - L với

phong trào CN và phong trào yêu

nớc của nhân dân Việt Nam trong

và tác dụng của cá nhân, của lãnh

tụ, những nhà lãnh đạo, những nhân vật kiệt xuất trong sự phát triển của xã hội ĐCSVN ra đời do

sự đóng góp của nhiều ngời nhng NAQ là ngời có công lao to lớn nhất.

Vào cuối TK XIX phong trào chống Pháp diễn ra sôi nổi điển hình là phong trào Cần Vơng do các sĩ phu văn thân yêu nớc lãnh đạo nhng

đều thất bại Sang đầu TK XX cùng với những biến chuyển của nền kinh tế và xã hội là những ảnh h- ởng của t tởng dân chủ t sản từ Trung Quốc và cuộc vận động Duy Tân ở Nhật dội vào Phong trào CMVN lại bùng lên mạnh mẽ với nhiều hình thức phong phú Mặc

dù vẫn do những sĩ phu phong kiến lãnh đạo nhng đã mang nội dung t sản, dới ảnh hởng của hệ t tởng t sản các phong trào đấu tranh của dân tộc ta so với thời kỳ trớc đã tiến

bộ hơn (Cần Vơng đấu tranh gpdt theo hệ t tởng phong kiến sang đến Duy Tân đấu tranh để lập ra chính quyền t sản) nhng vẫn cha kết hợp việc giải quyết hai mâu thuẫn của xã hội Việt Nam Họ không hiểu rằng nội dung đấu tranh để thực hiện dân chủ ở một nớc nông nghiệp lạc hậu nh Việt Nam là làm cho ngời cày có ruộng Họ chỉ chống đế quốc đến một mức độ nhất định chứ cha nhằm xóa bỏ quan hệ sản xuất phong kiến, cha nhận thức rõ đối tợng của CMVN

là đế quốc và phong kiến Cho nên,

có ngời dựa vào đế quốc này để

đánh đế quốc kia, có ngời dựa vào

đế quốc để canh tân đất nớc nh hai

cụ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh, tuy có khác nhau về phơng pháp, đờng đi, nớc bớc nhng cả hai sau lần ấy đều tập trung phản ánh một vấn đề cơ bản là sự bế tắc về đ- ờng lối, muốn tìm lối thoát cho dân tộc

mà không đợc nên rơi vào mâu thuẫn, lúng túng.

Hoàn cảnh trên chỉ rõ rằng cứu nớc gpdt đã trở thành yêu cầu bức thiết nhất của toàn thể dân tộc song lúc này

khủng hoảng về đờng lối lãnh đạo.

NAQ sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nớc bị thực dân Pháp xâm lợc và thống trị, nhân dân ta trở thành nô lệ, cuộc sống đói khổ lầm than, lại xuất thân trong một gia

đình nhà nho yêu nớc, ở một quê

h-ơng có truyền thống yêu nớc và đấu tranh điều đó đã nung nấu lòng yêu nớc thơng dân của ngời thanh niên Nguyễn Tất Thành về quyết tâm ra đi tìm đờng cứu nớc Rút kinh nghiệm thất bại của các sĩ phu yêu nớc đơng thời NAQ không đi về phơng Đông mà đi sang phơng Tây

- nơi có khoa học kỹ thuật phát triển với một nhận thức đúng đắn

là muốn đánh đuổi kẻ thù phải biết

rõ kẻ thù đó Điều này có tầm quan trọng to lớn để NAQ đi đến với CN

M - L sau này.

Ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành dới tên Văn Ba bắt đầu đi vào cuộc sống mới trên tàu LatutsơTrêvin bằng nghề làm phụ bếp, quá trình lao động đó đã biến NAQ trở thành ngời công nhân Trong quá trình tìm đờng cứu nớc từ 1911 - 1918, NAQ đã đi nhiều nơi ở châu á, châu Âu, châu Mỹ và làm nhiều nghề lao động khác nhau để kiếm sống và hoạt động CM vì vậy Ngời

có dịp tiếp xúc với phong trào quần chúng ở những nớc đó, để từ đó thấy rõ cảnh bất công tàn bạo của xã hội t bản, và vô cùng xúc động trớc đời sống khổ cực của g/c công nhân và nhân dân lao động các nớc không kể da trắng, da vàng hay da

đen; đồng thời thấy rõ ở đâu ngời dân mất nớc cũng bị khổ nhục nh nhau, ở đâu g/c công nhân và nhân dân lao động cũng bị áp bức bóc lột dã man Các dân tộc thuộc địa đều

có một kẻ thù không đội trời chung

là bọn đế quốc thực dân Ngời rút

ra kết luận quan trọng về bạn và thù: ở đâu nhân dân lao động cũng

là bạn và ở đâu bọn đế quốc cũng

là kẻ thù Đây là những vấn đề có ý nghĩa chiến lợc không những đối với CMVN mà còn đối với CM ở các nớc thuộc địa khác.

Cùng thời gian này Ngời còn tham gia vào cuộc đấu tranh đòi cho binh lính và thợ thuyền Việt Nam sớm đợc hồi hơng Bác tham gia hoạt động trong phong trào CN Pháp Năm 1919 Ngời ra nhập

Đảng xã hội Pháp - một Đảng tiến

sách áp bức bóc lột của TDP ở thuộc địa.

Hoạt động có tiếng vang mạnh mẽ

và ảnh hởng sâu rộng hơn nữa là sau chiến tranh TG 1 các nớc đế quốc thắng trận đã họp Hội nghị để phân chia lại thị trờng TG ở Vecxay Thay mặt những ngời Việt Nam yêu nớc ngày 18/6/1919 NAQ

đã đa Bản yêu sách 8 điểm đòi quyền lợi cho nhân dân Việt Nam,

đòi quyền tự do ngôn luận, đi lại, tín ngỡng, hội họp, bình đẳng, quyền tự quyết Ngời đã gửi đăng Bản yêu sách trên báo "Dân chúng" của Đảng xã hội Pháp và

in thành truyền đơn gửi đến các

đoàn đại biểu các nớc Tất nhiên bọn đế quốc không thể nào đáp ứng những yêu cầu của NAQ Song bản yêu sách là lời nói chính nghĩa của đại biểu đầu tiên cho phong trào gpdt Việt Nam trên diễn đàn quốc tế Ngời đã dũng cảm đứng lên đấu tranh đòi những quyền lợi chính đáng của nhân dân ta ngay tại sào huyệt của bọn TDP Bản yêu sách đã bớc đầu vạch ra cho toàn

TG biết những tội ác của bọn đế quốc Pháp ở Việt Nam, đồng thời

đã làm cho g/c công nhân, các tổ chức bắt đầu chú ý đến tình hình Việt Nam dới ách thống trị của đế quốc Pháp.

Cuộc đấu tranh của NAQ tại Hội nghị Vecxay là đòn tấn công trực diện đầu tiên của nhà CM trẻ tuổi Việt Nam vào bọn trùm đế quốc Từ

đây Ngời rút ra một bài học quan trọng đó là: những tuyên bố về tự

do, dân chủ của bọn đế quốc chỉ là những lời đờng mật cốt để lừa bịp các dân tộc bị áp bức Vì vậy, muốn

đợc độc lập và tự do, các dân tộc bị

áp bức phải trông cậy trớc hết vào lực lợng của bản thân mình, ngời Việt Nam phải tự giải phóng lấy mình Và "chỉ có giải phóng g/c vô

sản thì mới giải phóng đợc dân tộc, cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản của cách mạng thế giới"

Kết luận ấy có giá trị lý luận và thực tiễn rất lớn, nó soi sáng con đ- ờng đấu tranh cách mạng của nhân dân ta và nhân dân các nớc thuộc

địa khác.

Sau CMT10 Nga thành công, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế phát triển mạnh mẽ Đầu

theo chủ nghĩa Mác họp đại hội ở Matxcơva, thành lập Quốc tế ba tức

là Quốc tế cộng sản Đây là những

sự kiện trọng đại có tác động mạnh

mẽ tới phong trào CMTG và tới các chiến sĩ chống áp bức trong đó có NAQ

Tháng 7/1920 NAQ đọc đợc "Sơ

thảo lần thứ nhất luận cơng về vấn

đề dân tộc và thuộc địa" của Lênin trong đó khẳng định lập trờng kiên quyết ủng hộ phong trào gpdt ở các nớc phơng Đông của QTCS Luận cơng của Lênin đã mang đến cho Ngời một nguồn ánh sáng chói lọi

Ngời rất đỗi cảm động và vui mừng khôn xiết, thấy đó là "cái cần thiết cho chúng ta, là con đờng giải phóng cho chúng ta" Ngời khẳng

định "chủ nghĩa M - L không những là cái "cẩm nang" thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam,

mà còn là mặt trời soi sáng con ờng chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản" Có thể nói Luận cơng của Lênin đã chỉ rõ cho NAQ con đờng dành độc lập và tự

đ-do cho đồng bào đã có tác động mạnh mẽ tới nhận thức và chuyển biến t tởng của NAQ Từ đây Ngời hoàn toàn tin theo Lênin và QTCS - niềm tin ấy là cơ sở t tởng để Ngời vững bớc đi theo con đờng CM triệt

để của CN M - L.

Ngày 25/12/1920, tại đại hội của

Đảng xã hội Pháp họp ở Tua, với

c-ơng vị là đại biểu chính thức và duy nhất của các nớc thuộc địa và cũng

là ngời Việt Nam đầu tiên tham dự

đại hội của một chính đảng Pháp

NAQ đã bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế ba và trở thành một trong những ngời tham gia sáng lập Đảng cộng sản Pháp

Sự kiện NAQ tham gia sáng lập

ĐCSP và là ngời cộng sản Việt Nam đầu tiên đã đánh dấu bớc nhảy vọt về chất trong quá trình chuyển biến t tởng của NAQ NAQ

đã đến với CN M - L, đọc nó, tiếp thu nó và biến nó thành lẽ sống, lý tởng của bản thân và của dân tộc

Từ một ngời yêu nớc chân chính Ngời đã trở thành một ngời cộng sản, Ngời đã tìm ra con đờng CM

đúng đắn cho nhân dân Việt Nam:

con đờng theo CN M - L, con đờng kết hợp đấu tranh gpdt với giải phóng ngời lao động: "muốn cứu

con đờng nào khác, con đờng CMVS".

Nếu nh cuộc đấu tranh của Ngời trong Hội nghị Vec xay năm 1919 mới là phát pháo hiệu thức tỉnh nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh chống thực dân Pháp thì sự kiện Ngời đọc bản Sơ thảo của Lênin và trở thành ngời cộng sản

đầu tiên đã cắm mốc mở đờng giải quyết cuộc khủng hoảng về đờng lối giải phóng dân tộc Việt Nam

Mở ra một bớc ngoặt mới cho CMVN.

Đề 7: Trình bày quá trình Việt Nam của NAQ ( quá

chính trị và tổ chức cho việc thành lập ĐCSVN).

Bài làm.

CN M- L khẳng định rằng quần chúng là ngời sáng tạo ra lịch sử nhng đồng thời cũng chỉ rõ vai trò

và tác dụng của cá nhân, của lãnh

tụ, những nhà lãnh đạo, những nhân vật kiệt xuất trong sự phát triển của xã hội ĐCSVN ra đời do

sự đóng góp của nhiều ngời nhng NAQ là ngời có công lao to lớn nhất.

Từ khi trở thành chiến sĩ cộng sản

và tìm ra con đờng cứu nớc đúng

đắn cho dân tộc đó là con đờng đi theo học thuyết Mác - Lênin, NAQ

đã tích cực truyền bá CN M - L vào Việt Nam kết hợp với phong trào

CN, phong trào yêu nớc để chuẩn

bị về t tởng, chính trị và tổ chức cho việc thành lập ĐCSVN.

Năm 1921 đợc sự giúp đỡ của

ĐCSP Ngời đã cùng với những nhà yêu nớc thuộc địa Pháp đã lập ra

"Hội liên hiệp các dân tộc thuộc

địa" để đoàn kết các lực lợng CM chống CNTD, thông qua tổ chức đó

mà đem CN M - L đến với các dân tộc thuộc địa Đây là một hình thức mặt trận thống nhất của nhân dân các nớc thuộc địa, nhằm đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, vì độc lập và tự do của các dân tộc bị áp bức.

Để đẩy mạnh công tác tuyên truyền, năm 1922, tờ báo "Ngời cùng khổ"

do Ngời làm chủ nhiệm kiêm chủ bút đã vạch trần chính sách đàn áp, bóc lột dã man của chủ nghĩa đế quốc nói chung và của đế quốc Pháp nói riêng, thức tỉnh các dân tộc bị áp bức nổi dậy đấu tranh tự giải phóng Ngời còn viết nhiều bài cho các báo "Nhân đạo" (của

ĐCSP), báo "Đời sống công nhân"

(của Tổng liên đoàn lao động

này, Ngời đã viết tác phẩm nổi tiếng

"Bản án chế độ thực dân Pháp"

Các hoạt động của Ngời đã xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa những ngời cộng sản và nhân dân lao động Pháp với các nớc thuộc

địa và phụ thuộc.

Các sách báo này mặc dù bị nhà cầm quyền Pháp cấm nhng vẫn bí mật đợc đa về Việt Nam gây ảnh h- ởng to lớn Nhân dân ta trớc hết là những ngời tiểu t sản trí thức yêu n-

ớc tiến bộ nhờ đọc sách báo đó hiểu

rõ hơn bản chất của CNĐQ nói chung, đế quốc Pháp nói riêng, hiểu đợc CMT10 Nga và đã hớng về

CN M- L Những sách báo ấy đợc

đ-a về Việt Nđ-am đúng lúc phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh càng có thêm điều kiện thuận lợi để đi sâu vào các tầng lớp nhân dân, phát huy ảnh hởng tích cực sâu rộng.

Giữa năm 1923 Ngời từ Pháp sang Liên Xô dự Hội nghị Quốc tế nông dân (10/1923) và đợc bầu vào Ban chấp hành hội Sau đó, Ngời ở lại Liên Xô một thời gian vừa nghiên cứu học tập, làm việc ở Quốc tế cộng sản, viết bài cho báo "Sự thật" của ĐCSLX, "Tạp chí th tín quốc tế" - cơ quan ngôn luận của QTCS Ngời tìm hiểu chế độ Xô

Viết nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức Đảng kiểu mới của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa đặc biệt tại Đại hội QTCS lần V (1924) NAQ đã trình bày bản tham luận về vấn đề dân tộc và thuộc địa, đã nêu lên những quan điểm cơ bản về chiến lợc CM gpdt Thời kỳ này Ng-

ời còn tiếp tục phát triển thêm về t ởng CM gpdt Tất cả các bài viết của Ngời đã vũ trang cho những ng-

t-ời yêu nớc Việt Nam nhiều quan

điểm.Thấm nhuần quan điểm của Lênin, Ngời khẳng định cách mạng thuộc địa phải đợc đặt ngang với cách mạng vô sản ở chính quốc

Về chiến lợc CM gpdt ở các nớc thuộc địa phải gắn liền với giải phóng g/c, độc lập dân tộc phải gắn liền với CNXH.

Về vị trí của CM: CM gpdt ở các

b-ớc thuộc địa là một bộ phận khăng khít của CMVS ở chính quốc có quan hệ với CMVS ở chính quốc song không phụ thuộc vào CMVS ở chính quốc, không ỷ lại trông chờ vào CMVS của chính quốc.

Về nhiệm vụ CM: Ngời khẳng định

CM của các nớc thuộc địa là một cuộc "dân tộc cách mệnh" có nhiệm vụ chống đế quốc và tay sai thực hiện độc lập dân tộc từng bớc

ruộng".

Về động lực cách mạng: Ngời khẳng định g/c nông dân là một lực lợng CM to lớn, một động lực mạnh của CM Nông dân và công nhân là hai bạn đồng minh tự nhiên phải giải phóng cho nông dân Song g/c nông dân muốn giải phóng phải

đặt dới sự lãnh đạo của g/c công nhân.

Về lực lợng CM: Ngời chỉ rõ công - nông là gốc CM cần phải tập hợp bầu bạn CM của công nông nh học trò, nhà buôn nhỏ, địa chủ nhỏ và phải thực hiện đoàn kết quốc tế.

Về phơng pháp cách mạng: phải lãnh

đạo tổ chức quần chúng đấu tranh để tiến lên lật đổ g/c thống trị CM là việc chung của cả dân chúng chứ không phải việc của một vài ngời.

Về lãnh đạo CM: Ngời chỉ rõ sự lãnh đạo của một Đảng CM là điểm cốt tử đầu tiên của Đảng CM, Đảng

đây Ngời đã tìm hiểu hoạt động của các tổ chức CMVN Ngời đã thấy rõ nhợc điểm của những ngời lãnh

đạo các tổ chức ấy là không hiểu chính trị lại càng không hiểu về tổ chức quần chúng Ngời đã chọn một số thanh niên trong các tổ chức

ấy và thanh niên từ trong nớc sang thành lập ra Hội VNCMTN (tháng 6/1925) Việc thành lập Hội VNCMTN đã mở ra một thời kỳ hoạt động cao hơn của NAQ nhằm

đào tạo một đội ngũ cán bộ đem CN

M - L về truyền bá vào trong nớc gây dựng cơ sở cho việc thành lập

Đảng của g/c CNVN Cùng thời gian này tháng 7/1925 Ngời còn sáng lập ra "Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở á Đông" có quan hệ chặt chẽ với Hội VNCMTN.

Đầu năm 1927, những bài giảng của NAQ tại các lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu đợc xuất bản thành sách "Đờng Kách mệnh" Mục đích của sách là để nói cho đồng bào ta biết rõ :"Vì sao chúng ta muốn sống thì phải cách mệnh Vì sao cách mệnh là việc chung của dân chúng chứ không phải việc của một hai ngời Đem

4

Trang 5

ơng cho chúng ta soi Đem phong

trào thế giới nói cho đồng bào ta

rõ Ai là bạn ta? Ai là thù ta? Cách

nhấn mạnh tầm quan trọng của đại

đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu

tranh chống kẻ thù chung và mối

quan hệ giữa cách mạng thuộc địa

mạng đồng thời đã vũ trang lý luận

CM cho các cán bộ của Hội

VNCMTN có giá trị giáo dục lòng

yêu nớc sâu sắc đối với thanh niên,

đối với CM quần chúng nớc ta thời

kỳ đó theo nội dung mới: cứu nớc

gắn liền với CM Vì vậy mà tổ chức

VNCMTN phát triển rất nhanh

của lớp thanh niên nhất là thanh

niên học sinh - sinh viên, tiểu t sản,

trí thức - một lực lợng yêu nớc nhiệt

tình tha thiết với độc lập tự do của

dân tộc và nhạy cảm với các trào lu

t tởng tiến bộ của thời đại Ngời đã

tuyên truyền giáo dục, vận động họ

lại Nga sang Đức rồi về Thái Lan

Ngời đã xây dựng cơ sở CM trong

kiều bào nhng Ngời vẫn tiếp tục

chuẩn bị ở trong nớc Từ cuối năm

1928, với phong trào "vô sản hóa"

Hội VNCMTN đã đa hội viên vào

các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền

để tự rèn luyện và truyền bá CN M -

L vào Việt Nam đã góp phần kết

hợp CN M - L vào phong trào CN

và phong trào yêu nớc Một đội ngũ

những ngời CM kiểu mới do NAQ

đào tạo đã trởng thành Hoạt động

của Hội VNCMTN đã gây tiếng

chức yêu nớc khác (Tân Việt chuyển dần hoạt động của mình theo khuynh hớng cộng sản chủ nghĩa) làm cho phong trào CN, nông dân, tiểu t sản và các tầng lớp nhân dân khác phát triển mạnh mẽ

Những điều kiện để thành lập chính đảng Mác xít ở ĐD đã dần dần hình thành đó là sự ra đời của

ba tổ chức cộng sản.

Nh vậy, NAQ là ngời Việt Nam đầu tiên du nhập CN M - L vào sự nghiệp của nhân dân ta Ngời đã

mở ra kỉ nguyên mới trong phong trào gpdt Việt Nam: kỉ nguyên của

CN yêu nớc kết hợp với CNXH

Ng-ời đã chấm dứt thNg-ời kỳ mò mẫm chân lý cứu nớc và mở ra thời kỳ CMVN đi vào phơng hớng đúng

đắn, hòa nhịp với phong trào CMTG Xu hớng của CMTG từ sau CMT10 là CMVS đồng thời mở ra thời kỳ phát triển nhảy vọt trong cuộc vận động gpdt của nhân dân

ta trực tiếp chuẩn bị về t tởng chính trị, tổ chức cho việc thành lập

và tác dụng của cá nhân, của lãnh

tụ, những nhà lãnh đạo, những nhân vật kiệt xuất trong sự phát triển của xã hội ĐCSVN ra đời do

sự đóng góp của nhiều ngời nhng NAQ là ngời có công lao to lớn nhất.

Vào cuối TK XIX phong trào chống Pháp diễn ra sôi nổi điển hình là phong trào Cần Vơng do các sĩ phu văn thân yêu nớc lãnh đạo nhng

đều thất bại Sang đầu TK XX cùng với những biến chuyển của nền kinh tế và xã hội là những ảnh h- ởng của t tởng dân chủ t sản từ Trung Quốc và cuộc vận động Duy Tân ở Nhật dội vào Phong trào CMVN lại bùng lên mạnh mẽ với nhiều hình thức phong phú Mặc

dù vẫn do những sĩ phu phong kiến lãnh đạo nhng đã mang nội dung t sản, dới ảnh hởng của hệ t tởng t sản các phong trào đấu tranh của dân tộc ta so với thời kỳ trớc đã tiến

bộ hơn (Cần Vơng đấu tranh gpdt theo hệ t tởng phong kiến sang đến Duy Tân đấu tranh để lập ra chính quyền t sản) nhng vẫn cha kết hợp

xã hội Việt Nam Họ không hiểu rằng nội dung đấu tranh để thực hiện dân chủ ở một nớc nông nghiệp lạc hậu nh Việt Nam là làm cho ngời cày có ruộng Họ chỉ chống đế quốc đến một mức độ nhất định chứ cha nhằm xóa bỏ quan hệ sản xuất phong kiến, cha nhận thức rõ đối tợng của CMVN

là đế quốc và phong kiến Cho nên,

có ngời dựa vào đế quốc này để

đánh đế quốc kia, có ngời dựa vào

đế quốc để canh tân đất nớc nh hai

cụ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh, tuy có khác nhau về phơng pháp, đờng đi, nớc bớc nhng cả hai sau lầm ấy đều tập trung phản ánh một vấn đề cơ bản là sự bế tắc về đ- ờng lối, muốn tìm lối thoát cho dân tộc

mà không đợc nên rơi vào mâu thuẫn, lúng túng.

Hoàn cảnh trên chỉ rõ rằng cứu nớc gpdt

đã trở thành yêu cầu bức thiết nhất của toàn thể dân tộc song lúc này CMVN

đang đứng trớc một cuộc khủng hoảng về

đờng lối lãnh đạo.

NAQ sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nớc bị thực dân Pháp xâm lợc và thống trị, nhân dân ta trở thành nô lệ, lại xuất thân trong một gia đình nhà nho yêu nớc, ở một quê hơng có truyền thống yêu nớc

và đấu tranh điều đó đã nung nấu lòng yêu nớc thơng dân của ngời thanh niên Nguyễn Tất Thành về quyết tâm ra đi tìm đờng cứu nớc

Rút kinh nghiệm thất bại của các sĩ phu yêu nớc đơng thời NAQ không

đi về phơng Đông mà đi sang

ph-ơng Tây - nơi có khoa học kỹ thuật phát triển với một nhận thức đúng

đắn là muốn đánh đuổi kẻ thù phải biết rõ kẻ thù đó Điều này có tầm quan trọng to lớn để NAQ đI đến với CN M - L sau này.

Ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành dới tên Văn Ba bắt đầu đi vào cuộc sống mới trên tàu LatutsơTrêvin bằng nghề làm phụ bếp, quá trình lao động đó đã biến ngời thành công nhân Trong quá trình tìm đ- ờng cứu nớc từ 1911 - 1918, NAQ

đã đi nhiều nơi ở châu á, châu Âu, châu Mỹ và làm nhiều nghề lao

động khác nhau để kiếm sống và hoạt động CM vì vậy Ngời có dịp tiếp xúc với phong trào quần chúng

ở những nớc đó, để từ đó thấy rõ cảnh bất công tàn bạo của xã hội t bản, và vô cùng xúc động trớc đời

man Các dân tộc thuộc địa đều có một kẻ thù không đội trời chung là bọn đế quốc thực dân Ngời rút ra kết luận quan trọng về bạn và thù:

ở đâu nhân dân lao động cũng là bạn và ở đâu bọn đế quốc cũng là

kẻ thù Đây là những vấn đề có ý nghĩa chiến lợc không những đối với CMVN mà còn đối với CM ở các nớc thuộc địa khác.

Cùng thời gian này Ngời còn tham gia vào cuộc đấu tranh đòi cho binh lính và thợ thuyền Việt Nam sớm đợc hồi hơng Bác tham gia hoạt động trong phong trào CN Pháp Năm 1919 Ngời ra nhập

Đảng xã hội Pháp - một Đảng tiến

bộ chủ trơng chống lại các chính sách áp bức bóc lột của TDP ở thuộc địa.

Hoạt động có tiếng vang mạnh mẽ

và ảnh hởng sâu rộng hơn nữa là sau chiến tranh TG 1 các nớc đế quốc thắng trận đã họp Hội nghị để phân chia lại thị trờng TG ở Vecxay Thay mặt những ngời Việt Nam yêu nớc ngày 18/6/1919 NAQ

đã đa Bản yêu sách 8 điểm đòi quyền lợi cho nhân dân Việt Nam,

đòi quyền tự do ngôn luận, đi lại, tín ngỡng, hội họp, bình đẳng, quyền tự quyết Ngời đã gửi đăng Bản yêu sách trên báo "Dân chúng" của Đảng xã hội Pháp và

in thành truyền đơn gửi đến các

đoàn đại biểu các nớc Tất nhiên bọn đế quốc không thể nào đáp ứng những yêu cầu của NAQ Song bản yêu sách là lời nói chính nghĩa của đại biểu đầu tiên cho phong trào gpdt Việt Nam trên diễn đàn quốc tế Ngời đã dũng cảm đứng lên đấu tranh đòi những quyền lợi chính đáng của nhân dân ta ngay tại sào huyệt của bọn TDP Bản yêu sách đã bớc đầu vạch ra cho toàn

TG biết những tội ác của bọn đế quốc Pháp ở Việt Nam, đồng thời

đã làm cho g/c công nhân, các tổ chức bắt đầu chú ý đến tình hình Việt Nam dới ách thống trị của đế quốc Pháp.

Cuộc đấu tranh của NAQ tại Hội nghị Vecxay là đòn tấn công trực

Việt Nam vào bọn trùm đế quốc Từ

đây Ngời rút ra một bài học quan trọng đó là: những tuyên bố về tự

do, dân chủ của bọn đế quốc chỉ là những lời đờng mật cốt để lừa bịp các dân tộc bị áp bức Vì vậy, muốn

đợc độc lập và tự do, các dân tộc bị

áp bức phải trông cậy trớc hết vào lực lợng của bản thân mình, ngời Việt Nam phải tự giải phóng lấy mình Và "chỉ có giải phóng g/c vô

sản thì mới giải phóng đợc dân tộc, cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản của cách mạng thế giới"

Kết luận ấy có giá trị lý luận và thực tiễn rất lớn, nó soi sáng con đ- ờng đấu tranh cách mạng của nhân dân ta và nhân dân các nớc thuộc

địa khác.

Sau CMT10 Nga thành công, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế phát triển mạnh mẽ Đầu năm 1919, Lênin và những ngời theo chủ nghĩa Mác họp đại hội ở Matxcơva, thành lập Quốc tế ba tức

là Quốc tế cộng sản Đây là những

sự kiện trọng đại có tác động mạnh

mẽ tới phong trào CMTG và các chiến sĩ chống áp bức trong đó có NAQ

Tháng 7/1920 NAQ đọc đợc "Sơ

thảo lần thứ nhất luận cơng về vấn

đề dân tộc và thuộc địa" của Lênin trong đó khẳng định lập trờng kiên quyết ủng hộ phong trào gpdt ở các nớc phơng Đông của QTCS Luận cơng của Lênin đã mang đến cho Ngời một nguồn ánh sáng chói lọi

Ngời rất đỗi cảm động và vui mừng khôn xiết, thấy đó là "cái cần thiết cho chúng ta, là con đờng giải phóng cho chúng ta" Ngời khẳng

định "chủ nghĩa M - L không những là cái "cẩm nang" thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam,

mà còn là mặt trời soi sáng con ờng chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản" Có thể nói Luận cơng của Lênin đã chỉ rõ cho NAQ con đờng dành độc lập và tự

đ-do cho đồng bào đã có tác động mạnh mẽ tới nhận thức và chuyển biến t tởng của NAQ Từ đây Ngời hoàn toàn tin theo Lênin và QTCS - niềm tin ấy là cơ sở t tởng để Ngời vững bớc đi theo con đờng CM triệt

để của CN M - L.

Đảng xã hội Pháp họp ở Tua, với

c-ơng vị là đại biểu chính thức và duy nhất của các nớc thuộc địa và cũng

là ngời Việt Nam đầu tiên tham dự

đại hội của một chính đảng Pháp

NAQ đã bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế ba và trở thành một trong những ngời tham gia sáng lập Đảng cộng sản Pháp

Sự kiện NAQ tham gia sáng lập

ĐCSP và là ngời cộng sản Việt Nam đầu tiên đã đánh dấu bớc nhảy vọt về chất trong quá trình chuyển biến t tởng của NAQ NAQ

đã đến với CN M - L, đọc nó, tiếp thu nó và biến thành lẽ sống, lý t- ởng của bản thân và của dân tộc

Từ một ngời yêu nớc chân chính Ngời đã trở thành một ngời cộng sản, Ngời đã tìm ra con đờng CM

đúng đắn cho nhân dân Việt Nam:

con đờng theo CN M - L, con đờng kết hợp đấu tranh gpdt với giải phóng ngời lao động: "muốn cứu nớc và giải phóng dân tộc không có con đờng nào khác, con đờng CMVS".

Nếu nh cuộc đấu tranh của Ngời trong Hội nghĩ Vec xay năm 1919 mới là phát pháo hiệu thức tỉnh nhân dân ta trong sự nghiệp đối t- ợng chống thực dân Pháp thì sự kiện Ngời đọc bản Sơ thảo của Lênin và trở thành ngời cộng sản

đầu tiên đã cắm mốc mở đờng giải quyết cuộc khủng hoảng về đờng lối giải phóng dân tộc Việt Nam.

Từ khi trở thành chiến sĩ cộng sản

và tìm ra con đờng cứu nớc đúng

đắn cho dân tộc đó là con đờng đi theo học thuyết Mác - Lênin, NAQ

đã tích cực truyền bá CN M - L vào Việt Nam kết hợp với phong trào

CN, phong trào yêu nớc để chuẩn

bị về t tởng, chính trị và tổ chức cho việc thành lập ĐCSVN.

Năm 1921 đợc sự giúp đỡ của

ĐCSP Ngời đã cùng với những nhà yêu nớc thuộc địa Pháp đã lập ra

"Hội liên hiệp các dân tộc thuộc

địa" để đoàn kết các lực lợng CM chống CNTD, thông qua tổ chức đó

mà đem CN M - L đến với các dân tộc thuộc địa Đây là một hình thức mặt trận thống nhất của nhân dân các nớc thuộc địa, nhằm đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, vì độc lập và tự do của các dân tộc bị áp bức.

năm 1922, tờ báo "Ngời cùng khổ"

do Ngời làm chủ nhiệm kiêm chủ bút đã vạch trần chính sách đàn áp, bóc lột dã man của chủ nghĩa đế quốc nói chung và của đế quốc Pháp nói riêng, thức tỉnh các dân tộc bị áp bức nổi dậy đấu tranh tự giải phóng Ngời còn viết nhiều bài cho các báo "Nhân đạo" (của

ĐCSP), báo "Đời sống công nhân"

(của Tổng liên đoàn lao động Pháp) Đặc biệt, trong thời gian này, Ngời đã viết tác phẩm nổi tiếng

"Bản án chế độ thực dân Pháp"

Các hoạt động của Ngời đã xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa những ngời cộng sản và nhân dân lao động Pháp với các nớc thuộc

địa và phụ thuộc.

Các sách báo này mặc dù bị nhà cầm quyền Pháp cấm nhng vẫn bí mật đợc đa về Việt Nam gây ảnh h- ởng to lớn Nhân dân ta trớc hết là những ngời tiểu t sản trí thức yêu n-

ớc tiến bộ nhờ đọc sách báo đó hiểu

rõ hơn bản chất của CNĐQ nói chung, đế quốc Pháp nói riêng, hiểu đợc CMT10 Nga và đã hớng về

CN M- L Những sách báo ấy đợc

đ-a về Việt Nđ-am đúng lúc phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh càng có thêm điều kiện thuận lợi để đi sâu vào các tầng lớp nhân dân, phát huy ảnh hởng tích cực sâu rộng.

Giữa năm 1923 Ngời từ Pháp sang Liên Xô dự Hội nghị Quốc tế nông dân (10/1923) và đợc bầu vào Ban chấp hành hội Sau đó, Ngời ở lại Liên Xô một thời gian vừa nghiên cứu học tập, làm việc ở Quốc tế cộng sản, viết bài cho báo "Sự thật" của ĐCSLX, "Tạp chí th tín quốc tế" - cơ quan ngôn luận của QTCS Ngời tìm hiểu chế độ Xô

Viết nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức Đảng kiểu mới của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa đặc biệt tại ĐạI hội QTCS lần V (1924) NAQ đã trình bày bản tham luận về vấn đề dân tộc và thuộc địa, đã nêu lên những quan điểm cơ bản về chiến lợc CM gpdt Thời kỳ này Ng-

ời còn tiếp tục phát triển thêm về t ởng CM gpdt Tất cả các bài viết của Ngời đã vũ trang cho những ngời yêu nớc Việt Nam nhiều quan

t-điểm.Thấm nhuần quan điểm của Lênin, Ngời khẳng định cách mạng thuộc địa phải đợc đặt ngang với cách

quan điểm đó của NAQ đợc hình thành dới ánh sáng của CN M - L,

đợc truyền bá vào Việt Nam đã chuẩn bị về t tởng và chính trị cho việc thành lập ĐCSVN.

Sau một thời gian ở Liên Xô học tập cuối 1924 NAQ về Quảng Châu (Trung Quốc) Đây là thời kỳ Ngời chuẩn bị toàn diện, tích cực, trực tiếp cho việc thành lập đảng mà trong đó nổi bật là về tổ chức ở

đây Ngời đã tìm hiểu hoạt động của các tổ chức CMVN Ngời đã thấy rõ nhợc điểm của những ngời lãnh

đạo các tổ chức ấy là không hiểu chính trị lại càng không hiểu về tổ chức quần chúng Ngời đã chọn một số thanh niên trong các tổ chức

ấy và thanh niên từ trong nớc sang thành lập ra Hội VNCMTN (tháng 6/1925) Việc thành lập Hội VNCMTN đã mở ra một thời kỳ hoạt động cao hơn của NAQ nhằm

đào tạo một đội ngũ cán bộ đem CN

M - L về truyền bá vào trong nớc gây dựng cơ sở cho việc thành lập

Đảng của g/c CNVN Cùng thời gian này tháng 7/1925 Ngời còn sáng lập ra "Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở á Đông" có quan hệ chặt chẽ với Hội VNCMTN.

Đầu năm 1827, những bài giảng của NAQ tại các lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu đợc xuất bản thành sách "Đờng Kách mệnh" Mục đích của sách là để nói cho đồng bào ta biết rõ :"Vì sao chúng ta muốn sống thì phải cách mệnh Vì sao cách mệnh là việc chung của dân chúng chứ không phải việc của một hai ngời Đem lịch sử cách mệnh các nớc làm g-

ơng cho chúng ta soi Đem phong trào thế giới nói cho đồng bào ta rõ

Ai là bạn ta? Ai là thù ta? Cách mệnh thì phải làm thế nào?" Thông qua tác phẩm này cũng thể hiện mục đích giáo dục của Ngời Tác phẩm còn chỉ rõ về động lực của cách mạng Việt Nam: công nông là gốc cách mạng, còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ là bầu bạn của công nông Tác phẩm nhấn mạnh tầm quan trọng của đại

đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung và mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa với cách mạng vô sản thế giới Nhân tố quyết định thắng lợi của

5

Trang 6

theo CN M - L.

Báo "Thanh niên" và sách "Đờng

cách mệnh" là cơ sở lý luận cách

mạng đồng thời đã vũ trang lý luận

CM cho các cán bộ của Hội

VNCMTN có giá trị giáo dục lòng

yêu nớc sâu sắc đối với thanh niên,

đối với CM quần chúng nớc ta thời

kỳ đó theo nội dung mới: cứu nớc

gắn liền với CM Vì vậy mà tổ chức

VNCMTN phát triển rất nhanh

của lớp thanh niên nhất là thanh

niên học sinh - sinh viên, tiểu t sản,

trí thức - một lực lợng yêu nớc nhiệt

tình tha thiết với độc lập tự do của

dân tộc và nhạy cảm với các trào lu

t tởng tiến bộ của thời đại Ngời đã

tuyên truyền giáo dục, vận động họ

lại Nga sang Đức rồi về Thái Lan

Ngời đã xây dựng cơ sở CM trong

kiều bào nhng Ngời vẫn tiếp tục

chuẩn bị ở trong nớc Từ cuối năm

1928, với phong trào "vô sản hóa"

Hội VNCMTN đã đa hội viên vào

các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền

để tự rèn luyện và truyền bá CN M -

L vào Việt Nam đã góp phần kết

hợp CN M - L vào phong trào CN

và phong trào yêu nớc Một đội ngũ

những ngời CM kiểu mới do NAQ

đào tạo đã trởng thành Hoạt động

của Hội VNCMTN đã gây tiếng

mở ra kỉ nguyên mới trong phong trào gpdt Việt Nam: kỉ nguyên của

CN yêu nớc kết hợp với CNXH

Ng-ời đã chấm dứt thNg-ời kỳ mò mẫm chân lý cứu nớc và mở ra thời kỳ CMVN đi vào phơng hớng đúng

đắn, hòa nhịp với phong trào CMTG Xu hớng của CMTG từ sau CMT10 là CMVS đồng thời mở ra thời kỳ phát triển nhảy vọt trong cuộc vận động gpdt của nhân dân

ta trực tiếp chuẩn bị về t tởng chính trị, tổ chức cho việc thành lập

ĐCSVN.

Có thể nói hoạt động truyền bá CN

M - L của lãnh tụ NAQ về Việt Nam

đã làm cho phong trào CMVN đặc biệt là phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ Bọn đế quốc và tay sai điên cuồng chống phá CM:

chúng cho mở toà đại hình để xử những ngời CM (tháng 10/1929) phiên toà đặc biệt tại Vinh đã xử 45 chiến sĩ của Hội VNCMTN và tuyên

bố tử hình vắng mặt NAQ, Trần Phú.

Cùng lúc đó ở nớc ta đã xuất hiện 3

tổ chức cộng sản hoạt động riêng

rẽ, công kích lẫn nhau, tranh giành quần chúng nếu kéo dài sẽ ảnh h- ởng tới sự phát triển chung của phong trào và có nguy cơ dân tới sự chia rẽ lớn Yêu cầu khách quan bức thiết lúc bấy giờ là lập ra một

Đảng duy nhất của g/c CN để lãnh

đạo phong trào.

NAQ đã chăm chú theo dõi tình hình và đợc sự ủy nhiệm của QTCS Ngời từ Thái Lan trở về Trung Quốc triệu tập hội nghị đại biểu các

tổ chức cộng sản để thành lập một

Đảng duy nhất ở Việt Nam Từ ngày 3/2 đến 7/2/1930 tại Cửu Long gần Hơng Cảng (Trung Quốc) đã diễn ra Hội nghị bàn về việc hợp nhất thành lập ĐCSVN D-

ới sự chủ trì của NAQ và trớc những lý lẽ đầy sức thuyết phục của Ngời các đại biểu đã nhất trí bỏ mọi thành kiến xung đột thành thật hợp tác để thống nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng duy nhất là

ĐCSVN Đồng thời Hội nghị cũng thảo luận và thông qua "Chính c-

ơng vắn tắt", "Sách lợc vắn tắt",

Điều lệ, chơng trình tóm tắt của

Đảng do NAQ soạn thảo Cuối Hội nghị NAQ ra lời kêu gọi nhân việc thành lập ĐCSVN Những tài liệu

đó hợp thành Cơng lĩnh chính trị

đầu tiên của ĐCSVN Tuy còn vắn tắt song đây là một cơng lĩnh gpdt

đúng đắn và sáng tạo.

lịch sử của một đại hội thành lập

Đảng Thắng lợi của Hội nghị đã tỏ

rõ tài trí thông minh, năng lực tổ chức, uy tín to lớn của lãnh tụ NAQ

đối với những ngời cộng sản và toàn thể dân tộc Việt Nam Sự ra

đời của Đảng là một sự chuẩn bị tất yếu có tính chất quyết định cho những bớc phát triển nhảy vọt mới trong lịch sử tiến hóa của dân tộc Việt Nam.

Nh vậy, những dữ kiện trên đây đã

giúp chúng ta khẳng định rằng NAQ là ngời có công lao to lớn trong việc sáng lập ra Đảng ta Ng-

ời không chỉ tìm ra con đờng cứu

n-ớc đúng đắn, ra sức truyền bá Cn

M - L vào Việt Nam kết hợp với phong trào CN, phong trào yêu nớc

để chuẩn bị mọi mặt về t tởng, chính trị, tổ chức cho việc thành lập

Đảng mà còn đứng ra triệu tập Hội nghị thống nhất thành công và vạch ra đờng lối CM đúng đắn cho dân tộc ta.

Đề 9: Khái quát phong trào yêu nớc ở Việt Nam trong

ra nhận xét Bài làm.

Pháp tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ hai với quy mô lớn, tốc độ

đầu t nhanh đã thúc đẩy nhanh chóng quá trình phân hóa của các g/c cơ bản trong xã hội cũ và ra đời các g/c mới G/c CNVN trởng thành nhanh chóng, t sản, tiểu t sản trở thành g/c, các lực lợng xã hội mới này là điều kiện vật chất bên trong

để tiếp thu ảnh hởng của phong trào CMTG và sự du nhập của các khuynh hớng t tởng mới vào Việt Nam.

Sau CTTG 1 t tởng t sản tiếp tục du nhập vào Việt Nam đặc biệt là t t- ởng CM của Tôn Trung Sơn Tác

động của CMT10 Nga 1917 và các

sự kiện nh sự ra đời của QTCS (1919), sự thành lập ĐCSP (1920),

ĐCSTQ (1921) đặc biệt là sự nỗ lực hoạt động của lãnh tụ NAQ CN M -

L đã từng bớc đợc truyền bá vào Việt Nam Những sự kiện lịch sử mới này đã quy định tính chất quy mô

của phong trào yêu nớc ở Việt Nam từ

1919 - 1929.

Sau CTTG 1 (1914 - 1918) phong trào DTDC ở Việt Nam bớc vào thời

kỳ phát triển mạnh mẽ lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dân tham gia với nhiều hình thức đấu tranh phong phú, sôi nổi trong đó g/c TSDT và TTS thành thị có hoạt động chống Pháp theo khuynh hớng DCTS.

của t sản dân tộc, đây là một bộ phận của g/c t sản T sản dân tộc bị

đế quốc, phong kiến và t sản mại bản chèn ép nên có mâu thuẫn với chúng Họ có xu hớng kinh doanh

độc lập ít nhiều có tinh thần dân tộc dân chủ yêu nớc chống đế quốc

và tay sai Nhng họ là một g/c yếu hèn chỉ tham gia đấu tranh trong một chừng mực nhất định khi kẻ thù nhân nhợng ban cho quyền lợi nhất định thì không đấu tranh Đây

là thái độ không kiên định dễ thoả

hiệp cải lơng.

Giai cấp t sản dân tộc Việt Nam tiến hành các cuộc đấu tranh vì

muốn vơn lên giành lấy vị trị khá

hơn trong nền kinh tế Việt Nam

nh-ng họ vấp phải sự chèn ép của TDP, vì cha đủ sức cạnh tranh với t bản Pháp nên t sản Việt Nam đã tổ chức những phong trào đấu tranh

Họ đã phát động phong trào chấn hng nội hoá, bài trừ ngoại hoá chủ yếu là hàng Trung Quốc Năm

1919 bùng nổ phong trào tẩy chay các thơng gia Hoa kiều từ Sài Gòn

ra các thành phố lớn trong Nam ngoài Bắc Năm 1923 cuộc đấu tranh chống độc quyền thơng cảng Gài Gòn, độc quyền xuất cảng lúa gạo Nam Kỳ của t bản Pháp Cùng với các hoạt động kinh tế, g/c t sản dân tộc cũng dùng báo chí để bênh vực quyền lợi cho mình Năm 1923 một số t sản và địa chủ lớn trong Nam nh Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long đã tổ chức ra Đảng Lập hiến để tập hợp lực lợng rồi đa

ra một số khẩu hiệu đòi dân chủ nhằm tranh thủ sự ủng hộ của quần chúng làm áp lực đối với Pháp

Nh vậy do có mâu thuẫn với CN đế quốc Pháp đang thống trị nên t sản dân tộc đã bớc lên vũ đài chính trị

và g/c VSVN cũng bắt đầu có ý thức nên g/c t sản Việt Nam không thể

có thái độ CM triệt để Các hoạt

động của họ chỉ mang tính chất cải lơng giới hạn trong khuôn khổ của chế độ thực dân phục vụ quyền lợi của các tầng lớp trên và nhanh chóng bị phong trào quần chúng v-

ợt qua.

Vậy là g/c t sản dân tộc dù đa ra

c-ơng lĩnh hoạt động rất đúng đắn và tiến bộ song do còn có những hạn chế về mặt t tởng, tổ chức mà dần dần họ đánh mất lòng tin và sự ủng

hộ của quần chúng nhân dân Đối với việc này thì cũng coi nh sự lãnh

bại.

Khi cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của TDP cùng ra đời với g/c TSDT còn có g/c TTS G/c tiểu t sản bao gồm nhiều tầng lớp nhng chủ yếu là những trí thức, học sinh, sinh viên, nhà báo Nhìn chung g/c tiểu t sản cũng bị đế quốc và phong kiến áp bức, bóc lột, khinh

rẻ Họ có điều kiện sống tập trung ở các đô thị và các trung tâm văn hóa chính trị nên họ rất nhạy cảm với thời cuộc Vốn xuất thân là những

bộ phận trí thức nên họ có điều kiện tiếp xúc với các phong trào, có tinh thần hăng hái CM và là một lực lợng quan trọng của CM Trong khi t sản và đại địa chủ đấu tranh chống độc quyền, đòi quyền tự do dân chủ thích ứng với lợi ích g/c và

địa vị xã hội của họ thì tiểu t sản vì

bị áp bức bóc lột nặng nề cũng sôi nổi đấu tranh chống lại cờng quyền

áp bức để đòi các quyền tự do dân chủ.

Và ở phong trào yêu nớc đấu tranh theo khuynh hớng dân chủ t sản thì

đây cũng là lực lợng quan trọng nhất Họ đã có rất nhiều hoạt động khác nhau nh tập hợp nhau lại trong các tổ chức chính trị nh Tâm tâm xã (1924), Việt Nam nghĩa

đoàn (1925), Phục Việt (1925), hội Hng Nam, đảng Thanh niên

trong đó đặc biệt là các tổ chức Hội VNCMTN, TVCMĐ và VNQDĐ với nhiều hoạt động phong phú sôi nổi

Các tổ chức CM này hoạt động theo những khuynh hớng khác nhau

Hội VNCMTN do NAQ sáng lập ra chịu ảnh hởng của CN M - L nên hoạt động trên lập trờng vô sản

VNQDĐ do Nguyễn Thái Học, Phạm Tuấn Tài lập ra lại chịu

ảnh hởng của lập trờng t sản Đứng giữa hai xu hớng chính trị ấy các hội viên của tổ chức TV đã dần dần ngả theo HộiVNCMTN và hoạt

động theo xu hớng CMVS Tuy hoạt động trên những lập trờng khác nhau nhng sự ra đời của ba tổ chức đã có tác dụng thúc đẩy phong trào yêu nớc của Việt Nam phát triển mạnh mẽ.

Bên cạnh đó cũng giống nh g/c t sản dân tộc, họ cũng tiến hành đấu tranh trên mặt trận báo chí Họ cho

ra các tờ báo tiến bộ để tuyên truyền t tởng dân tộc dân chủ bằng tiếng Pháp nh Chuông rè, An Nam trẻ, Ngời nhà quê và bằng tiếng Việt nh "Tiếng dân tập thế kỷ" Họ lập ra các Nxb tiến bộ nh Nam

Gòn và Quan hải tùng th ở Huế

để cổ động tinh thần yêu nớc, đòi các quyền tự do dân chủ và nêu quan điểm lập trờng chính trị của mình

Trong cao trào yêu nớc dân chủ công khai do g/c tiểu t sản lãnh đạo

có hai sự kiện nổi bật Đỉnh cao của những sự kiện nổi bật là tiếng bom của liệt sĩ Phạm Hồng Thái (1924) ở Quảng Châu - Trung Quốc gây một tiếng vang lớn ở trong nớc và ngoài nớc Tiếng bom này có ý nghĩa mở màn cho thời đại

đấu tranh mới của dân tộc, vừa có tác dụng cổ vũ, thúc đẩy phong trào tiến lên Tuy vụ ám sát không thành nhng hơn bao giờ hết tiếng bom Sa Diện của Phạm Hồng Thái vang lên có ý nghĩa vô cùng to lớn nh HCT đánh giá: "Việc đó tuy nhỏ nhng nó báo hiệu bắt đầu thời đại

đấu tranh dân tộc nh chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân" Tiếp đó là cuộc đấu tranh đòi thả nhà yêu nớc PBC tháng 11/1925 Việc PBC bị bắt đa về nớc đã kích động lòng yêu nớc trong nhân dân đặc biệt là những lời lẽ đanh thép của ông trớc vành móng ngựa đã làm cho làn sóng đấu tranh đòi thả PBC sôi nổi khắp nơi buộc TDP phải tha bổng PBC và đa về giam lỏng ở Huế

Tiếp đến họ tổ chức lễ đa tang và truy điệu PCT (3/1926) có 14 vạn ngời gồm đủ các tầng lớp đã đa tang ông và sau lễ đa tang khắp nơi

ở Bắc - Trung - Nam đều tổ chức lễ truy điệu.

Nh vậy, có thể thấy phong trào yêu nớc dân chủ của tiểu t sản có một vị trí quan trọng trong cuộc vận động dân chủ nói riêng và phong trào dân tộc nói chung Về tổ chức chủ yếu do tiểu t sản lãnh đạo nhng bị t tởng t sản chi phối điều này là điều tất yếu vì lúc đó CN M - L cha có

điều kiện xâm nhập vào phong trào Tuy vậy, tổ chức yêu nớc dân chủ rõ nét các hoạt động này đã

chuẩn bị hỗ trợ cho phong trào công nhân và Hội VNCMTN

Phong trào đấu tranh này thể hiện lòng yêu nớc của thanh niên tiểu t sản Mặc dù họ cha đợc tổ chức thành chính đảng nên đấu tranh mang tính chất ấu trĩ nhng có ý nghĩa to lớn trong việc thức tỉnh lòng yêu nớc reo rắc t tởng tự do dân chủ trong dân Những thanh niên yêu nớc ấy sau này bằng nhiều con đờng khác nhau đã đến với

Đảng ta vì vậy khi nói về các điều

phong trào yêu nớc là một trong 3 yếu tố để thành lập ĐCSVN.

Phong trào đã thu hút đợc đông

đảo các g/c tầng lớp tham gia qua phong trào thể hiện rõ tính năng

động và vai trò của g/c TTS.

Phong trào yêu nớc những năm từ

1919 - 1929 diễn ra với nhiều hình thức đấu tranh phong phú: báo chí, biểu tình, mít tinh, khởi nghĩa

Phong trào yêu nớc của Việt Nam trong giai đoạn này diễn ra trên hai khuynh hớng chính trị là t sản và vô sản trong đó phong trào yêu nớc trên lập trờng vô sản ngày càng chiếm u thế.

Phong trào yêu nớc ở Việt Nam những năm 1919 - 1929 chính là nguyên nhân của quá trình chuyển hóa của VNCMTN, sự phân hóa của TVCMĐ và sự thất bại tan rã

của VNQDĐ.

Quá trình truyền bá CN M - L vào Việt Nam cũng là quá trình tuyên truyền những quan điểm của NAQ

về con đờng gpdt trên lập trờng vô

sản ở Việt Nam Con đờng CM trên lập trờng vô sản đáp ứng đợc các yêu cầu cơ bản của dân tộc và nhân dân Việt Nam Vì vậy các tổ chức

CM đứng trên lập trờng vô sản đợc quần chúng nhân dân làm hậu thuẫn ngày càng chiếm u thế và đã

giữ vai trò chủ đạo trong phong trào CMVN Ngợc lại con đờng CM

và tổ chức CM nào đứng trên lập ờng t sản không đề cập đầy đủ các yêu cầu cơ bản của dân tộc và của nhân dân thì ngày càng mất vị thế, lúng túng, thất bại và tan rã mà VNQDĐ là một điển hình.

tr-Đề 10: Hoàn cảnh, nội dung và ý nghĩa của Hội nghị thành lập Đảng cộng sản Việt Nam (3/2/1930).

Bài làm.

Lịch sử CMVN hay lịch sử bất cứ dân tộc nào cũng vậy, đều phải trải qua những bớc thăng trầm đợc ghi dấu bằng những sự kiện lịch sử

Song chỉ những sự kiện nào đánh dấu một bớc thắng lợi lớn, kết thúc một thời kỳ lịch sử đã qua, mở ra một bớc phát triển mới đi lên cho lịch sử thì sự kiện đó đợc coi là bớc ngoặt lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam ra đời chính là bớc ngoặt lịch

sử của CMVN và đây là sự đóng góp to lớn của lãnh tụ NAQ.

Đứng trớc sự đòi hỏi của phong trào CN và phong trào yêu nớc năm

thành hai tổ chức cộng sản:

ĐDCSĐ (6/1929) và ANCSĐ (7/1929) TVCMĐ bị phân hóa, bộ phận tiên tiến đã thành lập ra

ĐDCSLĐ (9/1929) Nh vậy chỉ trong vòng 4 tháng đã có 3 tổ chức cộng sản ở Việt Nam đợc thành lập

Đây là xu thế khách quan của lịch

sử Nó đã khẳng định bớc phát triển nhảy vọt của CMVN chứng tỏ

hệ t tởng cộng sản đã giành đợc u thế trong phong trào đấu tranh của dân tộc và chỉ rõ điều kiện thành lập Đảng cộng sản ở Việt Nam đã chín muồi Các tổ chức cộng sản đã nhanh chóng xây dựng cơ sở Đảng trong nhiều địa phơng và trực tiếp

tổ chức lãnh đạo nhiều cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân Vì vậy, phong trào đấu tranh của g/c công nhân phát triển mạnh, ý thức g/c, chính trị ngày càng rõ rệt: có hàng chục cuộc đấu tranh của công nhân suốt từ Bắc chí nam và nổ ra

ở các trung tâm kinh tế chính trị của thực dân Pháp, bãi công không giới hạn trong phạm vi một xí nghiệp, một địa phơng, một ngành

mà đã liên kết thành phong trào chung đồng thời công nhân cũng kết hợp với nông dân đấu tranh chống lại bọn quan lại địa chủ, c- ờng hào, tăng thuế, cớp ruộng, kết hợp với phong trào bãi khóa của học sinh, bãi thị của tiểu thơng đòi dân sinh dân chủ Tất cả kết thành một làn sóng đấu tranh khắp cả n-

ớc trong đó g/c công nhân thực sự trở thành lực lợng tiên phong cho CMVN.

Trớc sự phát triển của phong trào bọn đế quốc phong kiến tay sai điên cuống chống phá Tháng 7/1929 chúng cho mở tòa đại hình để xử những ngời CM, tháng 10/1929 phiên toà đặc biệt mở tại Vinh đã

xử 45 chiến sĩ yêu nớc của Hội VNCMTN và tuyên bố tử hình vắng mặt NAQ, Trần Phú Song việc xuất hiện ba tổ chức cộng sản hoạt động riêng rẽ, công kích lẫn nhau, tranh giành quần chúng Việc kéo dài cuộc tranh chấp giữa ba tổ chức cộng sản sẽ ảnh hởng đến sự phát triển chung của phong trào và nguy cơ dẫn đến sự chia rẽ lớn Tình hình trên đặt ra yêu cầu khách quan bức thiết là phải lập ra một Đảng duy nhất của g/c CNVN

để lãnh đạo phong trào Trớc tình

6

Trang 7

ngời cộng sản ĐD vạch ra sự cần

thiết phải chấm dứt chia rẽ bè phái

và hợp lại thành một Đảng cộng

sản thống nhất Đợc sự ủy nhiệm

của QTCS NAQ đã triệu tập hội

nghị đại biểu các tổ chức cộng sản

họp ở Cửu Long (Hơng Cảng -

Trung Quốc) từ 3/2 đến 7/21930 để

hợp nhất thành một Đảng duy nhất.

Hội nghị gồm hai đoàn đại biểu

của ĐDCSĐ là Nguyễn Đức Cảnh,

Trịnh Đình Cửu, hai đạI biểu của

ANCSĐ là Châu Văn Liêm, Nguyễn

Thiệu dới sự chủ trì của NAQ, hai

đại biểu hải ngoại là Lê Hồng Sơn

sản đoàn kết thống nhất lại thành

một Đảng duy nhất Đồng thời nêu

lên chơng trình của Hội nghị Các

đại biểu dự Hội nghị đã nhất trí bỏ

mọi thành kiến xung đột, thành

NAQ khởi thảo Đồng thời cũng

vạch kế hoạch tiến hành hợp nhất

các tổ chức cộng sản ở trong nớc và

cử ra Ban chấp hành TW lâm thời

của Đảng Đấy là những nội dung

của Hội nghị hợp nhất thành lập

Đảng.

Vậy là, với uy tín to lớn của NAQ

hội nghị đã thành công nhanh

chóng, nhân dịp Đảng ra đời NAQ

thay mặt Đảng cộng sản Việt Nam

đã ra lời kêu gọi "gửi công nhân,

nông dân, binh lính và những ngời

bị áp bức bóc lột Văn kiện lịch sử

có ý nghĩa nhất trong hội nghị phải

kể tới đó là Chính cơng, sách lợc

vắn tắt do NAQ soạn thảo.

Chính cơng đã nêu rõ hai giai đoạn

của CMVN là cuộc CMTS dân

quyền và CM ruộng đất để đi tới xã

hội cộng sản hai giai đoạn đó kế

tiếp nhau Nhiệm vụ của CMTS dân

quyền là đánh đổ để quốc Pháp,

bọn phong kiến và t sản phản CM

làm cho nớc Việt Nam đợc độc lập

dựng lên chính phủ công - nông -

binh; tịch thu hết sản nghiệp lớn

của bọn đế quốc, tịch thu ruộng đất

chia cho dân cày nghèo tiến hành

CM ruộng đất, đem lại ruộng đất cho nông dân Các nhiệm vụ đó bao gồm nội dung dân tộc dân chủ song nổi bật là nhiệm vụ chống đế quốc và tay sai phản động làm cho nớc Việt Nam độc lập, dân tộc Việt Nam đợc tự do.

Đồng thời, Chính cơng cũng nêu rõ lực lợng đánh đổ đế quốc và phong kiến là công nhân và nông dân

đông đảo đồng thời phải hết sức lôi kéo tiểu t sản, trí thức, trung nông

đi về phía g/c công nhân Đối với phú nông, trung - tiểu địa chủ, t sản Việt Nam cha lộ rõ mặt phản

CM phải lợi dụng hoặc ít nhất là trung lập trong khi liên minh giữ

vững nguyên tắc CM không sa vào

đờng lối thoả hiệp g/c.

Vị trí của CMVN là một bộ phận của CMTG Đảng phải liên kết với các dân tộc bị áp bức và g/c vô sản

TG nhất là g/c vô sản Pháp

Cuối cùng đó là nhân tố đảm bảo thắng lợi của CM đó là Đảng cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của g/c công nhân lấy CN M - L làm nền tảng, là ngời lãnh đạo CMVN,

là nhân tố quyết định thắng lợi CMVN Đảng phải có trách nhiệm thu phục đợc đại bộ phận g/c mình, phải làm cho g/c mình lãnh đạo đợc dân chúng, phải thu phục cho đợc

đại đa số dân cày, phải dựa vững vào dân cày nghèo Đồng thời phải liên minh với các g/c CM, các tầng lớp yêu nớc khác, đoàn kết họ, tổ chức họ đấu tranh.

Có thể nói Cơng lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng cộng sản Việt Nam

do NAQ soạn thảo tuy còn vắn tắt song đây còn là một Cơng lĩnh gpdt

đúng đắn và sáng tạo Đã vạch ra phơng hớng phát triển cơ bản của

CM nớc ta đi từ CM gpdt lên CM XHCN Đờng lối đó đã sớm kết hợp

đúng đắn vấn đề dân tộc và giai cấp thấm đợm tinh thần dân tộc trong đó độc lập tự do là t tởng chủ yếu của Cơng lĩnh này.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập

Đảng, thắng lợi của Hội nghị là thắng lợi về ý thức giác ngộ về quyền lợi căn bản và lâu dài của g/c công nhân và của toàn thể dân tộc, là thắng lợi của cuộc đấu tranh gian khổ chống mọi âm mu thủ

đoạn của kẻ thù Là thắng lợi của

g/c công nhân Thắng lợi của hội nghị cũng tỏ rõ tài trí thông minh, năng lực tổ chức và uy tín to lớn của lãnh tụ NAQ đối với những ng-

ời cộng sản và toàn thể dân tộc Việt Nam Sau hội nghị hợp nhất

Song chỉ những sự kiện nào đánh dấu một bớc thắng lợi lớn, kết thúc một thời kỳ lịch sử đã qua, mở ra một bớc phát triển mới đi lên cho lịch sử thì sự kiện đó đợc coi là bớc ngoặt lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam ra đời chính là bớc ngoặt lịch

sử của CMVN.

Đảng cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3/2/1930 là thành quả của cuộc đấu tranh dân tộc và g/c quyết liệt của nhân dân Việt Nam, là sự sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử trên trờng đấu tranh quyết liệt ở Việt Nam trong mấy chục năm đầu

TK XX.

Đảng ra đời là sản phẩm của sự kết hợp giữa 3 yếu tố: CN M - L kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nớc trong thời đại mới của nhân dân Việt Nam Đảng ra đời đã

tạo ra một bớc phát triển nhảy vọt

đối với CMVN.

Đảng ra đời là một bớc ngoặt lịch

sử vĩ đại của CMVN bởi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã mở ra một thời đại mới trong lịch sử dân tộc

Từ đây CMVN đã đặt dới sự lãnh

đạo duy nhất của ĐCSVN, một

Đảng theo học thuyết M - L có đờng lối CM khoa học và sáng tạo, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ

đảng viên kiên trung, có đội tiên phong của mình G/c CNVN trớc kia mới chỉ là một lực lợng quan trọng trong đời sống chính trị ở nớc

ta thì nay đã trở thành lãnh tụ của nhân dân Việt Nam trong cuộc CM DTDC Sự lãnh đạo của Đảng là một nhân tố thắng lợi của CM Vì

vậy, Đảng ra đời đã chấm dứt thời

kỳ khủng hoảng sâu sắc về g/c lãnh

đầu TK XX.

Từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra

đời lực lợng mới của CM đợc xây dựng trớc hết là khối công nông liên minh đã đợc hình thành Đó là nhân tố bảo đảm quyền lãnh đạo duy nhất của Đảng trong CM DTDC Việt Nam cũng là sự bảo

đảm cho thắng lợi của CM Nông dân Việt Nam chiếm tỷ lệ lớn nhất trong thành phần lực lợng dân tộc

là lực lợng chủ yếu trong cuộc đấu tranh dân tộc và g/c Tuy vậy trớc khi Đảng ta ra đời cha có ai nhìn

rõ và đánh giá đúng lực lợng nông dân càng cha có ai có đờng lối

đúng đắn lôi kéo họ Khi ra đời do nhận thức đúng đắn Đảng ta đã

thấy đợc vấn đề cốt lõi của CM DTDC là vấn đề ruộng đất với khẩu hiệu "độc lập dân tộc" và "ngời cày có ruộng" Đảng đã lôi kéo đợc

đông đảo nông dân đi theo mình làm CM Chính vì có nông dân, có liên minh công - nông mặc dù nhỏ

bé nhng g/c CNVN đã một mình lãnh đạo đợc CM DTDC Việt Nam.

Việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam đã đánh dấu bớc ngoặt vĩ đại

về đờng lối CM chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đờng lối của CMVN Trớc 1930 các bậc tiền bối cha ai nhìn thấy rõ nhiệm vụ của

CM gpdt ở Việt Nam cũng cha ai biết gắn liền nhiệm vụ chống đế quốc với chống phong kiến Cha ai nhìn thấy lực lợng CM chủ yếu là nông dân và công nhân Mặt khác trớc 1930 nhân dân ta đấu tranh rất anh dũng nhng thờng sai lầm về phơng pháp CM Ngời thì dùng khởi nghĩa vũ trang nhng lại nổ ra

lẻ tẻ trong từng địa phơng chiến thuật thì thủ hiểm để bị bao vây cô

lập và bị tiêu diệt Ngời thì dùng vũ lực nhng lại cầu viện từ bên ngoài

nh Phan Bội Châu, ngời thì dùng phơng pháp cải lơng nh Phan Châu Trinh Đảng ra đời đã vạch

ra những thiếu sót đó và giải quyết

đúng đắn các vấn đề trên đồng thời chỉ ra một phơng pháp CM đúng

đắn là sử dụng sức mạnh của quần chúng kết hợp xây dựng lực lợng chính trị với lực lợng vũ trang, đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nớc

Mặt khác, Đảng ta còn đề ra đợc sách lợc, khẩu hiệu nhằm giải

đoạn lịch sử cụ thể một cách linh hoạt sáng tạo.

Và cuối cùng Đảng cộng sản Việt Nam ra đời CMVN thực sự trở thành một bộ phận khăng khít của CMTG Kể từ đây CMVN nhận đợc

sự ủng hộ của CMTG đồng thời CMVN cũng góp phần mình cho CMTG.

Nh vậy, việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam có ý nghĩa lịch sử vĩ

đại, không có Đảng thì g/c CN không trở thành lãnh tụ của CM, không thể có khối liên minh công nông và mặt trận dân tộc thống nhất Với cơng lĩnh CM đúng đắn

Đảng ra đời là sự chuẩn bị tất yếu

đầu tiên cho mọi thắng lợi của CMVN Sự lãnh đạo của Đảng là nguồn gốc của mọi thắng lợi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của những điều kiện khách quan và chủ quan của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và g/c ở Việt Nam trong thời đại mới, là kết quả của quá trình lựa chọn con đ- ờng cứu nớc, tích cực chuẩn bị t t- ởng, tổ chức của một tập thể chiến

sĩ cách mạng mà ngời có công lao

đầu là NAQ - Hồ Chí Minh.

Đề 12: Tại sao nói Đảng cộng sản Việt Nam ra đời

là sự kết hợp của ba nhân tố: CN M - L, phong trào công nhân và phong trào yêu nớc.

Bài làm.

Sự ra đời của một Đảng cộng sản

có tính phổ biến trên TG là sự kết hợp giữa CN M - L kết hợp với phong trào công nhân Song do

điều kiện ở Việt Nam là một nớc thuộc địa toàn thể dân tộc bị áp bức bóc lột đều vùng dậy đấu tranh do

đó phong trào yêu nớc phát triển mạnh mẽ cùng với phong trào công nhân Vì vậy, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp của ba yếu tố: CN M - L, phong trào công nhân và phong trào yêu nớc Đó là nét đặc thù của Việt Nam nhng nó vẫn hợp quy luật do đó có tác động lớn tới CMVN.

ở Việt Nam từ khi Pháp xâm lợc thống trị đã xuất hiện hai mâu thuẫn cơ bản cần phải giải quyết là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp, nông dân với địa chủ Hai mâu thuẫn này là nguồn gốc

động lực làm nảy sinh và phát triển

nhân.

Phong trào yêu nớc chống Pháp xâm lợc của nhân dân ta kéo dài suốt nửa sau TK XIX đến đầu TK

XX nhng đều thất bại vì cha có một

đờng lối CM đúng đắn khoa học soi đờng chỉ lối Muốn giải quyết hai mâu thuẫn cơ bản đó cần phải

có chính đảng của g/c công nhân và

đảng đó phải có đờng lối đúng Đây là yêu cầu tất yếu của lịch sử Việt Nam.

Nhân tố đầu tiên để Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đó là phong trào yêu nớc mang khuynh hớng dân chủ t sản phát triển mạnh Đó là hoạt động yêu nớc của tiểu t sản - một giai cấp mới ra đời sau CTTG

1, là lực lợng xã hội trong đó đa số

là những ngời có học thức, có tinh thần dân tộc cao nên rất hăng hái

đấu tranh Họ đã thành lập ra các

tờ báo, các Nxb tiến bộ để tuyên truyền t tởng tự do dân chủ Họ vận

động, tập hợp, tổ chức quần chúng trong các phong trào phản đối bản

án Phan Bội Châu, đám tang Phan Châu Trinh ở trong nớc và các hoạt

động ở nớc ngoài nh tiếng bom của liệt sĩ Phạm Hồng Thái Họ lập ra các tổ chức yêu nớc CM trong đó tiêu biểu là Hội VNCMTN, TVCMĐ

và VNQDĐ Hội VNCMTN do lãnh

tụ NAQ thành lập hoạt động trên lập trờng CMVS VNQDĐ do Phạm Tuấn Tài, Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Ngu lập ra hoạt động trên lập trờng CMTS Còn Tân Việt

ra đời ở trong nớc do ảnh hởng của Hội VNCMTN nên tổ chức này nghiêng dần theo khuynh hớng CMVS Nh vậy, phong trào yêu nớc

ở Việt Nam những năm từ 1919 -

1929 diễn ra trên hai khuynh hớng chính trị: t sản và vô sản Trong đó khi CN M - L đợc truyền bá vào nớc

ta thì phong trào yêu nớc trên lập trờng vô sản ngày càng chiếm u thế.

Trong khi phong trào yêu nớc theo khuynh hớng dân chủ t sản với lập trờng t sản đang dần mất u thế thì

phong trào của g/c công nhân lại

có những bớc phát triển mới, mạnh

mẽ hơn, sôi nổi hơn rất nhiều Sau CTTG 1 do hậu quả của cuộc khai thác lần 2 của thực dân Pháp số l- ợng CNVN ngày càng tăng năm

1929 đã là 22 vạn công nhân và tính từ năm 1925 trở đi hàng năm

có khoảng 4 vạn ngời đi phu điền,

Tân Đảo, bổ sung lực lợng cho g/c công nhân Do đời sống khổ cực cùng với những tác động mới nh báo chí tiến bộ, Công hội do Tôn

Đức Thắng thành lập, đấu tranh của công nhân Trung Quốc, công nhân Pháp làm cho phong trào CNVN phát triển mạnh mẽ Phong trào CNVN từ sau CTTG 1 phát triển theo hai thời kỳ từ 1919 - 1925 phong trào phát triển mạnh mẽ nh-

ng vẫn ở thời kỳ đấu tranh tự phát

Năm 1925 cuộc bãi công của công nhân Ba Son (Sài Gòn) đã đánh dấu công nhân Việt Nam bớc sang thời kỳ đấu tranh tự giác, từ năm

1926 - 1929 là thời kỳ CN M - L đợc truyền bá sâu rộng vào Việt Nam

đặc biệt thông qua phong trào "vô

sản hóa" của hội viên Hội VNCMTN đã làm cho phong trào phát triển mạnh mẽ, sâu rộng Qua phong trào thể hiện g/c CNVN dần dần vơn lên vị trí chủ thể của lịch

sử Trở thành lực lợng chính trị độc lập có tác dụng quy tụ dẫn đầu phong trào yêu nớc.

Phong trào công nhân phát triển chính là miếng đất tốt để CN M - L

ăn sâu bám rễ khi NAQ truyền bá

vào nớc ta và từ đó làm cho phong trào công nhân phát triển mạnh

mẽ, có ý thức chính trị rõ rệt, cùng với sự phát triển của phong trào yêu nớc nói chung đòi hỏi phải có

sự lãnh đạo của tổ chức đảng, CM tiên phong CN M - L là hệ t tởng của g/c công nhân, là một lý luận khoa học nhất, CM nhất của thời

đại và ngời có công truyền bá Cn M

- L vào Việt Nam là lãnh tụ NAQ.

Sau khi tìm thấy con đờng cứu nớc

đúng đắn cho dân tộc - con đờng theo CMT10 Nga, theo CN M - L Ngời đã tích cực hoạt động Thông qua những sách báo do Ngời viết

nh báo "Ngời cùng khổ", "Nhân

đạo" đặc biệt là t/p "Đờng Kách mệnh" đã giác ngộ dân ta, giúp nhân dân ta hiểu về CMT10 Nga và chủ nghĩa xã hội Ngoài ra CN M -

L còn đợc những cán bộ do NAQ

đào tạo - Hội viên của Hội VNCMTN đem về Việt Nam kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nớc Khi ba yếu tố này kết hợp chặt chẽ với nhau đã dẫn tới sự

ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam.

nhân tố này đã kết hợp với nhau ở Việt Nam mà đầu tiên nó kết hợp ở một con ngời - NAQ Trong hoàn cảnh CMVN bế tắc không đờng ra thì lãnh tụ NAQ xuất hiện, xuất phát từ lòng yêu nớc năm 1911 NAQ đã ra đi tìm đờng cứu nớc Ng-

ời đã đi qua nhiều nớc á, Phi và làm việc nh một công nhân để hoạt

động và kiếm sống Trong quá trình

ấy Ngời đã gặp Luận cơng của Lênin Luận cơng đã chỉ ra cho Ng-

ời con đờng gpdt Vì vậy tại Đại hội Tua của Đảng xã hội Pháp họp vào tháng 12/1920 Ngời đã bỏ phiếu tán thành ra nhập QTCS và trở thành đảng viên cộng sản, là một trong những ngời sáng lập ra Đảng cộng sản Pháp Nh vậy, đến 1920

ba nhân tố đã thể hiện ở một con ngời NAQ - ngời tiêu biểu cho dân tộc, là tinh hoa của dân tộc, của g/c

đã mở đầu cho bớc ngoặt mới của CMVN.

Trong quá trình hoạt động và truyền bá CN M - L vào Việt Nam của NAQ, Ngời đã góp phần làm cho ba nhân tố này kết hợp ở mức

độ cao hơn đó là sự ra đời của ba tổ chức cộng sản tiền thân của Đảng cộng sản Việt Nam năm 1929

Từ sự kết hợp ở một con ngời NAQ

sự kết hợp của 3 nhân tố trên dần dần đợc mở rộng và củng cố trong

sự phát triển của phong trào CMVN Từ 1919 - 1925 phong trào công nhân phát triển đã chiếm một

vị trí quan trọng trong phong trào yêu nớc nói chung song g/c công nhân vẫn cha trở thành ngời lãnh

đạo CM vì còn thiếu lý luận CM tiên tiến soi đờng đó là CN M - L Nếu thiếu lý luận này phong trào công nhân chỉ phát triển thành phong trào công đoàn mà thôi.

Từ 1925 trở đi phong trào công nhân Việt Nam có những tác động

từ bên ngoài dội vào CMT10 Nga ngày càng ảnh hởng nhiều hơn QTCS và hàng loạt các tổ chức quốc tế nh: Quốc tế nông dân, thanh niên, phụ nữ hoạt động có

ảnh hởng lớn tới CMVN Sau khi thành lập Đảng cộng sản Pháp đã tăng cờng công tác tuyên truyền làm cho CN M - L đợc thâm nhập vào Việt Nam Tiếp đó là Đảng cộng sản Trung Quốc đợc thành lập và cũng có ảnh hởng tới CMVN Đặc biệt hoạt động của

7

Trang 8

thành lập Hội VNCMTN (1925),

mở các lớp huấn luyện chính trị,

đào tạo cán bộ, tổ chức phong trào

"vô sản hóa" đã tạo điều kiện gián

tiếp và trực tiếp cho CN M - L ngày

càng thâm nhập sâu vào phong

trào công nhân và phong trào yêu

nớc ở Việt Nam làm cho phong trào

công nhân, phong trào yêu nớc

phát triển mạnh mẽ Sự phát triển

của phong trào công nhân, phong

trào yêu nớc đã đặt ra yêu cầu

thành lập một chính đảng của g/c

công nhân Điều này đã dẫn tới sự

chuyển biến về chất của phong trào

công nhân Việt Nam và phong trào

yêu nớc thể hiện ở sự chuyển hóa

của Hội VNCMTN thành hai tổ

chức cộng sản: ĐDCSĐ, ANCSĐ và

sự phân hóa của Tân Việt Đa số

những hội viên tiến bộ tích cực của

cuối 1929 thể hiện bớc phát triển

của phong trào công nhân và

phong trào yêu nớc nhng ba tổ

chức này lại hoạt động riêng rẽ,

công kích lẫn nhau đặt ra một yêu

cầu khách quan của phong trào

CMVN là phải hợp nhất ba tổ chức

cộng sản Đó là một yêu cầu tất yếu

và hợp quy luật Đợc sự ủy nhiệm

của QTCS NAQ đã đứng ra chủ trì

Hội nghị thống nhất ngày 3/2/1930

thành công Hội nghị có ý nghĩa

nh một Đại hội thành lập Đảng

Văn kiện do Ngời soạn thảo đợc

hội nghị thông qua có giá trị nh

một cơng lĩnh đầu tiên của Đảng

Tuy còn vắn tắt song đây là một

t-ởng chủ yếu của Cơng lĩnh này.

Thực tế là tiêu chuẩn, là thớc đo

của mọi chân lý, Đảng ra đời là sự

kết hợp của ba yếu tố CN M - L kết

hợp với phong trào công nhân,

phong trào yêu nớc là một tất yếu

lịch sử Nó đánh dấu sự chiến

ởng phi vô sản Đảng ra đời xuất phát từ yêu cầu khách quan của lịch sử CMVN Vì vậy trở thành

động lực thúc đẩy CM tiến lên Có thể nói Đảng ra đời chính là một b-

ớc ngoặt của CMVN.

Đề 13: Trình bày nội dung cơ bản của Chính cơng vắn tắt, Sách lợc vắn tắt của Đảng do NAQ soạn thảo và đợc thông qua ngày 3/2/1930.

Bài làm.

Dân tộc Việt Nam anh hùng và thời

đại của chúng ta đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại Ngời là vị anh hùng kiệt xuất nhất, lãnh tụ vô

ơng vắn tắt, sách lợc vắn tắt tháng 2/1930 cho CMVN Đây đợc coi là sợi chỉ đỏ xuyên suốt CMVN và là

đờng lối k/c đúng đắn của mọi thời

chín muồi Ba tổ chức này xuất hiện nhng hoạt động riêng rẽ, công kích lẫn nhau, tranh giành quần chúng Việc kéo dài sẽ ảnh hởng

đến sự phát triển chung của phong trào và nguy cơ dẫn đến sự chia rẽ lớn Đợc sự uỷ nhiệm của QTCS từ ngày 3/2 đến ngày 7/2/1930 một hội nghị hợp nhất 3 tổ chức cộng sản ở Việt Nam đợc họp ở bán đảo Cửu Long (Hơng Cảng - Trung Quốc) d-

ới sự chủ trì của NAQ Hội nghị đã

nhất trí hợp nhất các tổ chức cộng sản duy nhất lấy tên là Đảng cộng sản Việt Nam, thông qua một số văn kiện quan trọng, trong đó có Chính cơng vắn tắt, Sách lợc vắn tắt do NAQ khởi thảo.

Chính cơng vắn tắt, Sách lợc vắn tắt đã vạch ra những nội dung cơ

trơng làm t sản dân quyền CM và thổ địa CM để đi tới xã hội cộng sản Đây là cuộc CM gpdt thuộc phạm trù CMVS bao gồm 3 nội dung gắn bó với nhau: dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội Ba nhiệm vụ này phải đợc tiến hành đồng thời với nhau.

Trong giai đoạn thực hiện chiến lợc CMTS dân quyền và CM thổ địa, nhiệm vụ của CM về các phơng diện chính trị, kinh tế, xã hội đợc tiến hành triển khai Về chính trị

đó là đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến làm cho n-

ớc Việt Nam hoàn toàn độc lập, dựng ra Chính phủ công - nông - binh, tổ chức ra quân đội công nông Về kinh tế, thủ tiêu hết các thứ quốc trái, thu hết sản nghiệp lớn (công nghiệp, vận tải, ngân hàng ) của t bản đế quốc Pháp giao cho Chính phủ công - nông - binh Thu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công và chia cho dân cày nghèo Đây là một

đờng lối mang tính tích cực thu hút

đợc đông đảo quần chúng nhân dân hởng ứng Miễn thuế cho dân nghèo, mở mang công nghiệp và nông nghiệp, thi hành luật ngày làm 8 giờ Về phơng diện xã hội đó

là dân chúng đợc tự do hội họp, nam nữ bình quyền, phổ thông giáo dục theo hớng công nông hóa.

Trong Chính cơng vắn tắt NAQ còn nêu rõ g/c lãnh đạo và lực lợng

CM Đảng chính là đội tiên phong của vô sản giai cấp, phải thu hút cho đợc đại bộ phận g/c mình lãnh

đạo đợc dân chúng Đảng phải thu phục cho đợc đại đa số dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa CM, đánh trúng bọn

đại địa chủ và phong kiến Đảng phải làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cày (công hội, hợp tác xã) khỏi ở dới quyền lực và ảnh hởng của bọn t sản quốc gia Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu t sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt để kéo họ đi vào phe vô

sản g/c Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và t bản An Nam

mà cha rõ mặt phản CM thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập Bộ phận nào ra mặt phản CM (Đảng Lập hiến ) thì

phải đánh đổ Ngoài ra, trong khi liên lạc với các g/c, phải rất cẩn

một chút lợi ích gì của công nông

mà đi vào đờng lối thỏa hiệp"

(Đảng cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 2) Nh vậy, lực lợng CM bao gồm các g/c và tầng lớp nh công nhân, nông dân, tiểu t sản, trí thức, t sản dân tộc và các cá nhân yêu nớc thuộc tầng lớp

địa chủ vừa và nhỏ, trong đó g/c công nhân là g/c lãnh đạo CM.

Và cuối cùng một cuộc CM sẽ không bao giờ thành công nếu không biết đoàn kết quốc tế Đoàn kết chặt chẽ với các dân tộc bị áp bức và g/c vô sản trên TG, nhất là g/c vô sản Pháp Sự thật là trong suốt tiến trình lịch sử CMVN, Đảng

và nhân dân ta đã luôn luôn nêu cao tình đoàn kết giữa ba nớc Đông Dơng bởi vì chúng ta có cùng những kẻ thù chung: bây giờ là đế quốc Pháp sau này là phát xít Nhật

và đế quốc Mỹ Chính nhờ có sự

đoàn kết này kết hợp với những yếu

tố khác đã đa đến thắng lợi cho CM

ở ba nớc ĐD.

Chính cơng vắn tắt, sách lợc vắn tắt

đã phát triển thêm một số luận điểm quan trọng trong t/p "Đờng cách mệnh" nh tính chất Đảng, chia ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản CM cho nông dân nghèo, lợi dụng mâu thuẫn có nguyên tắc C-

ơng lĩnh chính trị của Đảng ra đời sau Nghị quyết Đại hội QTCS lần thứ XI khoảng một năm rỡi NAQ

đã tiếp thu nhiều t tởng đúng đắn,

đồng thời đã không chịu ảnh hởng của một số quan điểm cánh "tả"

của QTCS.

Chính cơng vắn tắt, sách lợc vắn tắt

do NAQ khởi thảo là cơng lĩnh CM

đầu tiên của Đảng cộng sản Việt Nam, đó là một cơng lĩnh CM gpdt

đúng đắn và sáng tạo, phù hợp với

xu thế phát triển của thời đại mới

Độc lập, tự do gắn liền với định ớng tiến lên CNXH là t tởng cốt lõi của Cơng lĩnh này.

h-Đề 14: Trình bày nội dung cơ bản của Luận cơng chính trị tháng 10/1930 của Đảng cộng sản Đông Dơng.

Bài làm.

Nh chúng ta đều biết sau khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3/2/1930 thì Chính cơng vắn tắt, sách lợc vắn tắt do đồng chí NAQ khởi thảo đã đợc thông qua tại Hội nghị hợp nhất của Đảng Đó đợc

Đảng Mọi chiến lợc, sách lợc đợc trình bày trong văn kiện này đợc xem nh là kim chỉ nam đối với CMVN Và đờng lối do HCT đa ra lại một lần nữa đợc khẳng định trong Luận cơng chính trị tháng 10/1930 do Trần Phú khởi thảo.

Cuộc khủng hoảng 1919 - 1933 đã

có tác động tới tất cả các nớc trên

TG trong đó có Việt Nam ở trong nớc sau khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời phong trào CMVN có những bớc phát triển mới điển hình

là phong trào CM 30 - 31 với đỉnh cao là Xô Viết - Nghệ Tĩnh Để tăng cờng sự lãnh đạo của Đảng, Ban chấp hành TW lâm thời đã họp Hội nghị lần thứ nhất tại Hơng Cảng (Trung Quốc) từ ngày 14 đến 31/10/1930 Hội nghị đã thông qua Nghị quyết về tình hình và nhiệm

vụ cần kíp của Đảng, thông qua

Điều lệ Đảng, và Điều lệ các tổ chức quần chúng Hội nghị đã đổi tên Đảng cộng sản Việt Nam thành

Đảng cộng sản Đông Dơng Nh vậy

là đã gắn kết phong trào CMVN với phong trào CM các nớc trong khu vực Hội nghị cử ra Ban Thờng vụ

TW và cử đồng chí Trần Phú làm Tổng bí th Đảng Đồng chí Trần Phú tốt nghiệp Đại học Cảnh sát Phơng Đông (Matxcơva) đợc QTCS

cử về ĐD hoạt động Tháng 4/1930, Trần Phú về tới Việt Nam và đợc bổ sung vào Ban chấp hành TW Lâm thời của Đảng (7/1930), đợc giao soạn thảo ra Cơng lĩnh CM mới của Đảng Sau thời gian ngắn nghiên cứu và khảo sát tình hình CMVN ở một số tỉnh và với lý luận

đã đợc học ở Cảnh sát Phơng Đông

đồng chí đã soạn thảo ra Cơng lĩnh

CM mới của Đảng, đợc thông qua Ban chấp hành TW lần 1 (tháng 10/1930) và còn đợc gọi là Luận c-

ơng 10/1930.

Trong cơng lĩnh mới, sau khi phân tích tình hình đế quốc và ảnh hởng của nó đối với CMĐD, Trần Phú đã

trình bày những luận điểm cơ bản

về đờng lối của CMĐD Trong Luận cơng, Trần Phú đã nêu rõ về mâu thuẫn giai cấp ở Việt Nam, Lào và Cămpuchia, mâu thuẫn diễn

ra gay gắt giữa một bên là thợ thuyền, dân cày và các phần tử lao khổ với một bên là địa chủ phong kiến, t bản và CNĐQ.

Về tính chất CMĐD, Luận cơng cũng nêu rõ: "Trong lúc đầu cuộc CMĐD sẽ làm một cuộc CMTS dân quyền nhờ vô sản g/c chuyên chính các nớc giúp sức mà phát triển, bỏ qua thời kỳ t bản mà tranh

(Đảng cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 2).

Về nhiệm vụ CM: "Sự cốt yếu của t sản dân quyền CM thì một mặt là phải tranh đấu để đánh đổ các cách bóc lột theo lối tiền t bản và để thực hành thổ địa CM cho triệt để, một mặt nữa là tranh đấu để đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho ĐD hoàn toàn độc lập Hai mặt tranh

đấu có liên lạc mật thiết với nhau, vì có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá đợc g/c địa chủ và làm CM thổ địa đợc thắng lợi Mà có phá

tan chế độ phong kiến thì mới đánh

đổ đợc đế quốc chủ nghĩa"

Về lực lợng CM: "Vô sản g/c và nông dân là hai động lực chính, nh-

ng vô sản có cầm quyền lãnh đạo thì CM mới thắng lợi đợc" T bản thơng mại, t bản công nghệ, khi phong trào quần chúng nổi lên cao thì bọn này sẽ theo đế quốc Tiểu t sản có nhiều hạng: thủ công nghiệp đối với phong trào CMVS, hạng này cũng có ác cảm rất do

đã rung động, các g/c đứng giữa đã

muốn bỏ về phe CM Đảng phải lập tức lãnh đạo quần chúng để

đánh đổ chính phủ của địch Vũ trang bạo động không phải là một việc thờng phải làm theo khuôn phép nhà binh" (Đảng cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2).

Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản là

điều kiện cốt yếu cho sự thắng lợi của CM ở ĐD, là cần phải có một đ- ờng lối chính trị đúng, có kỷ luật tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng và từng trải tranh đấu

mà trởng thành, "Đảng là đội tiên phong của vô sản g/c lấy Cn M - L làm gốc".

Ngoài ra Luận cơng còn chỉ rõ mối quan hệ quốc tế của CMVN đó là

"vô sản ĐD phải liên lạc mật thiết với vô sản TG, nhất là vô sản Pháp

chống phong kiến, nhằm thực hiện

độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho nông dân CMTS dân quyền thắng lợi sẽ lập ra Nhà nớc công - nông sau đó chuyển thẳng sang làm CM XHCN G/c công nhân và g/c nông dân là hai động lực chính của CM, trong đó g/c công nhân là lực lợng lãnh đạo CMVN liên kết mật thiết với g/c vô sản các nớc và các dân tộc thuộc địa.

Nội dung trên phản ánh sự giống nhau căn bản giữa "Chính cơng vắn tắt, sách lợc vắn tắt" và "Luận cơng chính trị" trên những vấn đề then chốt của lý luận CN M - L, đã

bớc đầu khẳng định một số vấn đề

có tính quy luật của CMVN Luận cơng còn xác định thêm con đờng

đúng đắn tiến lên giành chính quyền phải là con đờng CM bạo lực của quần chúng.

Bên cạnh những điểm giống nhau mang tính chất kế thừa và phát huy

về giá trị lịch sử của Chính cơng, sách lợc vắn tắt do NAQ soạn thảo

Xuất phát từ những hạn chế về mặt khách quan, thực tế lịch sử, tầm nhìn của Trần Phú mà Luận cơng chính trị (10/1930) cha đặt đúng vị trí, đúng mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề dân chủ trong một cuộc CM gpdt, cha giơng cao ngọn cờ đoàn kết dân tộc Nhng xét

đến cùng thì Luận cơng chính trị (10/1930) vẫn luôn có ý nghĩa giá

trị lịch sử hết sức quan trọng Và những nhợc điểm này sẽ dần dần đ-

ợc khắc phục trong quá trình đấu tranh của CMVN.

giai đoạn 1930 - 1945

Đề 1: Cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh và tính chất, ý nghĩa của nó?

Bài làm.

Năm 1930 Đảng ta ra đời từ đây CMVN đã có đờng lối đúng đắn tuy nhiên đất nớc vẫn nằm trong thời

kỳ đen tối dới ách thống trị của đế quốc phong kiến Mục tiêu của CM

là phải lật đổ đế quốc phong kiến giành lại chính quyền về tay nhân dân "vì vấn đề cơ bản của mọi cuộc

CM là vấn đề chính quyền Nhà ớc" (Lênin) Muốn giành đợc chính quyền phải chuẩn bị và phải nắm thời cơ vì vậy giai đoạn từ năm

n-1930 - 1945 là giai đoạn chuẩn bị giành chính quyền mà mở đầu cho

sự chuẩn bị ấy là phong trào CM

là Xô Viết - Nghệ Tĩnh.

Phong trào CM 30 - 31 nổ ra và phát triển đều nhờ có sự tác động của tình hình trong nớc và thế giới Cuộc khủng hoảng kinh tế TG

1929 - 1933 đã tác động tới nớc Pháp chậm hơn các nớc t bản khác nhng lại hết sức mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp kinh tế Việt Nam vốn phụ thuộc vào kinh tế Pháp nên đã phải gánh chịu hậu quả nặng nề Kinh

tế tiêu điều kéo theo những hậu quả trên mọi lĩnh vực của đất nớc Đời sống của mọi g/c tầng lớp Việt Nam

đặc biệt là công nông hết sức khổ cực Đối với nông dân mức thu nhập thấp do lúa gạo sụt giá từ 11,58 đ/tạ hạ xuống chỉ còn 3,2 đ/tạ năm 1933 trong khi đó su thuế không ngừng tăng số công nhân bị thất nghiệp chiếm 1/3, các tầng lớp khác cũng sống trong cảnh điêu

đứng Điều này làm cho mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc Pháp và tay sai ngày càng sâu sắc Đặc biệt sau khởi nghĩa Yên Bái (tháng 2/1930) Pháp đã tăng cờng khủng

bố dã man càng làm cho mâu thuẫn dân tộc sâu sắc hơn.Trong lúc đó trên TG, tiếng vang của CMTQ ở Quảng Châu, Hoa Nam, CM ấn

Độ, của chế độ xã hội Xô Viết Nga

đã cổ vũ tinh thần đấu tranh sẵn có của nhân dân Việt Nam Và cùng lúc này Đảng cộng sản Việt Nam ra

đời đã giơng cao ngọn cờ gpdt phát

động một cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp rộng khắp trong cả nớc biến sự căm thù của quần chúng thành hành động CM Phong trào 1930 - 1931 là phong trào đấu tranh dân tộc của công nhân và nông dân dới sự lãnh đạo của Đảng nổ ra với một quy mô lớn, rộng khắp trong cả nớc Từ tháng 2

đến tháng 4 có nhiều cuộc đấu tranh đã nổ ra mà tiêu biểu là cuộc

đấu tranh của công nhân đồn điền Phú Riềng tháng 2/1930, bãi công của 4000 công nhân nhà máy sợi Nam Định, công nhân đồn điền Dầu Tiếng, công nhân nhà máy diêm ca Bến Thủy Các cuộc đấu tranh này là những phát pháo hiệu

mở đầu cao trào CM mới ở Việt Nam Cùng với phong trào của công nhân là phong trào đấu tranh của nông dân Hà Nam, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh chống phong

8

Trang 9

của các tầng lớp nhân dân khác.

Từ tháng 5 phong trào lên mạnh

tiêu biểu là cuộc biểu dơng lực lợng

của công nông và quần chúng nói

chung ngày 1/5/1930 tại các thành

phố lớn nh Hà Nội, Hải Phòng,

Nam Định, Vinh, Huế, Sài Gòn

đều xuất hiện cờ đỏ búa liềm,

truyền đơn đòi tăng lơng bớt giờ

làm cho công nhân, hoãn su thuế

cho nông dân Cả nớc có 16 cuộc

đấu tranh của công nhân, 34 cuộc

đấu tranh của nông dân và 4 cuộc

đấu tranh của học sinh Cuộc đấu

tranh 1/5/1930 đã đánh dấu bớc

phát triển mạnh mẽ của CMVN

Công - nông Việt Nam không chỉ

đấu tranh đòi quyền lợi cho mình

mà còn thể hiện tình đoàn kết với

nhân dân lao động TG Phong trào

tiếp tục dâng cao thành cao trào từ

Sang tháng 10/1930 ở Quảng Ngãi

những cuộc biểu tình của nông dân

liên tiếp nổ ra, cùng thời gian này

những ngời cộng sản ở Bắc Kỳ đã

vận động một cuộc đấu tranh mới

phản đối Hội đồng đề hình cùng

những án tử hình các chiến sĩ CM

Trong dịp kỉ niệm CMT10 Nga vào

chiều 6/11/1930 đã xuất hiện cờ đỏ

ở nhà máy nớc Hàng Đậu (Hà Nội)

và truyền đơn đợc rải khắp thành

phố

Bớc sang năm 1931 do chính quyền

thực dân Pháp khủng bố nên

phong trào giảm sút tuy vậy ở Nam

Kỳ phong trào vẫn tiếp tục sôi nổi,

Bến Tre, Trà Vinh, Thủ Dầu Một

đấu tranh đòi cải thiện đời sống

Đến giữa 1931 phong trào tạm thời

lắng xuống cuộc đấu tranh chuyển

sang một giai đoạn mới.

Giữa lúc phong trào đấu tranh của

nhân dân đang lên cao "Luận cơng

chính trị" tháng 10/1930 của Trần

Phú đã phần nào chỉ ra phơng

h-ớng cho CMVN Vì vậy phong trào

1930 - 1931 là phong trào CM mới

ở Việt Nam, do Đảng của g/c công

nhân lãnh đạo mà đỉnh cao của nó

Bên cạnh nguyên nhân chung làm bùng nổ phong trào đấu tranh thì ở Nghệ Tĩnh có những nét riêng làm cho phong trào đạt tới đỉnh cao đó là ở Nghệ Tĩnh chịu ách đế quốc phong kiến nặng nề lại là vùng đất nghèo Cơ

sở công nhân Vinh - Bến Thuỷ là trung tâm kỹ nghệ lớn nhất Trung Kỳ

là điều kiện thuận lợi cho liên minh công nông Mặt khác, nhân dân Nghệ Tĩnh có truyền thống CM lâu đời và

điều cuối cùng đó là ở đây các tổ chức cộng sản và cơ sở Đảng phát triển khá

mạnh.

Ngay từ đầu tháng 5/1930 phong trào đấu tranh của công nhân nhà máy ca diêm Bến Thuỷ cùng hàng nghìn nông dân phụ cận đấu tranh

đã diễn ra quyết liệt Ngày 1/5/1930

5000 công nhân và nông dân Vinh

- Bến Thủy đòi tăng lơng, giảm giờ làm, chống khủng bố, công nhân

và nông dân sát cánh với nhau trong cuộc đấu tranh Thực dân Pháp đàn áp dã man, giết hại bắt

bớ hơn 1000 ngời Cùng ngày hôm

đó 3000 nông dân Thanh Chơng đã

phá đồn điền, ký viện Trong tháng

6 và tháng 7 Nghệ Tĩnh đã nổ ra 11 cuộc biểu tình lớn với trên 12.000 ngời tham gia Tiêu biểu nhất là ngày 1/8/1930 công nhân diêm ca Bến Thủy lại bãi công mở đầu một

đợt đấu tranh mới nhân ngày quốc

tế chống chiến tranh.

Sang tháng 9 phong trào đấu tranh

ở hai tỉnh Nghệ An - Hà Tĩnh lên tới đỉnh cao Những cuộc đấu tranh chính trị có vũ trang tự vệ với quy mô từ vài nghìn đến vài vạn ngời tham gia, nổ ra ở các huyện Nam

Đàn, Thanh Chơng, Diễn Châu, Nghi Lộc, Hng Nguyên, Đô Lơng, Can Lộc, Thạch Hà Đặc biệt ngày 12/9/1930 hơn 2 vạn nông dân Hng Nguyên đã liên kết với nông dân Nam Đàn tổ chức cuộc biểu tình lớn với mục đích ủng hộ cuộc bãi công của công nhân Bến Thủy, h- ởng ứng những cuộc đấu tranh của nông dân các tỉnh bạn Đoàn ngời xếp hàng dài tới hơn 1 km kéo về Vinh Và gần tới Vinh thì đoàn

đông tới gần 30.000 ngời và dài gần 4 km Thực dân Pháp đã cho máy bay đàn áp dã man làm cho

174 ngời chết Hôm sau khi dân làng tổ chức đa tang Pháp lại bắn chết thêm 43 ngời nữa Trong hai ngày chúng đã bắn chết 217 ngời,

nóc nhà, hai làng Lộc Châu và Lộc Hải bị triệt hạ hoàn toàn.

Thực dân Pháp đàn áp dã man càng làm cho ngọn lửa đấu tranh bốc cao hơn phát triển thành cuộc

đấu tranh vũ trang Trong hai tháng

9, 10/1930 nông dân các huyện nh Thanh Chơng, Diễn Châu, Nghệ An, Hơng Sơn, Hà Tĩnh đã khởi nghĩa vũ trang kéo đến phá các huyện lị, nhà rạc, ga xe lửa, cắt dây điện tín Công nhân Vinh - Bến Thuỷ bãi công suốt hai tháng liền để ủng hộ phong trào nông dân và phản đối chính sách khủng bố của địch.

Trớc khí thế phong trào đấu tranh của quần chúng chính quyền địch tan rã ở nhiều địa phơng, các tổ chức chi bộ Đảng, Nông hội đỏ đã

đứng ra quản lý điều hành đời sống của mình Đây là kiểu chính quyền Xô Viết ở Nga mà những ngời CMVN vận dụng trong làng xã gọi

là xã hội nông do nông dân bầu ra

và có đại biểu công nhân làm cố vấn Xô Viết Nghệ Tĩnh tuy còn sơ

khai nhng thực chất đã làm chức năng của chính quyền CM do g/c công nhân lãnh đạo.

Thực tế lịch sử đã cho thấy chính quyền Xô Viết ra đời đã đạt đợc một

số thành công nhất định Chính quyền Xô Viết ra đời đã ban bố và thực hiện các quyền tự do dân chủ cho nhân dân, thành lập ra các

đoàn thể quần chúng nh công hội, nông hội, đội tự vệ, hội phụ nữ giải phóng Xô Viết có nhiệm vụ tổ chức lãnh đạo nhân dân đấu tranh tịch thu ruộng đất công, tiền thóc công chia cho dân nghèo Bãi bỏ các thứ thuế vô lý chống nạn đói đang đe dọa và chú ý tới công tác đắp đê phòng lụt Về văn hóa xã hội, chính quyền Xô Viết tổ chức học chữ quốc ngữ cho nhân dân, xóa bỏ những phong tục tập quán lạc hậu và trật

tự an ninh đợc giữ vững.

Có thể nói Xô Viết là tổ chức đại diện cho lẽ phải, cho công lý đứng ra giải quyết tất cả những vụ việc mà dân chúng không tự giải quyết nổi Chính vì vậy, mặc dù còn thô sơ nhng Xô Viết

đã thực sự là chính quyền của dân, do dân và vì dân làm chức năng của một chính quyền thực sự Vì thế, tuy chỉ tồn tại trong 4, 5 tháng nhng Xô Viết - Nghệ Tĩnh đã tỏ rõ bản chất CM và tính u việt của nó.

Đề 2: Chứng minh cao trào 30 - 31 là cao trào CM triệt để có quy mô rộng lớn

và hình thức đấu tranh quyết liệt.

Bài làm.

Năm 1930 Đảng ta ra đời từ đây CMVN đã có đờng lối đúng đắn tuy nhiên đất nớc vẫn nằm trong thời

kỳ đen tối dới ách thống trị của đế quốc phong kiến Mục tiêu của CM

là phải lật đổ đế quốc phong kiến giành lại chính quyền về tay nhân dân "vì vấn đề cơ bản của mọi cuộc

CM là vấn đề chính quyền Nhà ớc" (Lênin) Muốn giành đợc chính quyền phải chuẩn bị và phải nắm thời cơ vì vậy giai đoạn từ năm

n-1930 - 1945 là giai đoạn chuẩn bị giành chính quyền mà mở đầu cho

sự chuẩn bị ấy là phong trào CM

30 - 31 và đỉnh cao của phong trào

là Xô Viết - Nghệ Tĩnh Có thể nói cao trào 30 - 31 mà đỉnh cao là Xô

Viết - Nghệ Tĩnh đợc coi là một cao trào CM có quy mô rộng lớn, hình thức đấu tranh quyết liệt và triệt để.

Ngời ta nói cao trào 30 - 31 mà

đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh là một cao trào CM triệt để bởi phong trào CM trớc khi có Đảng ra đời còn có biểu hiện ảo tởng về kẻ thù dân tộc và đấu tranh cải lơng nh phong trào của g/c t sản Đảng lập hiến của Bùi Quang Chiêu đã đấu tranh bằng việc đa ra các bản thỉnh cầu mong thực dân Pháp nới rộng quyền tự do dân chủ, quyền đại diện bản xứ trong các Viện dân biểu rồi thu nhận ngời Việt Nam vào các chức vụ của Nhà nớc Cao trào CM 1930 - 1931 hoàn toàn nhằm trúng 2 kẻ thù của CM nớc ta

là đế quốc và phong kiến nhằm

đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến Nam triều thành lập chính quyền công - nông - binh Khẩu hiệu đấu tranh của công nhân, nông dân đều chĩa mũi nhọn CM vào đế quốc và phong kiến Đồng thời, cao trào đã đoạn tuyệt với chủ nghĩa cải lơng t sản mà lãnh tụ NAQ đã lên án "Họ muốn chữa bệnh nhng không dám tìm và tấn công vào nguồn gốc của bệnh".

Phong trào 30 - 31 là một phong trào CM có quy mô rộng lớn Cao trào đã thu hút hàng triệu ngời tham gia khắp trong phạm vi cả n-

ớc kéo dài gần 2 năm trời trong đó lực lợng chủ yếu là công nhân và nông dân Có nhiều cuộc đấu tranh lớn tiêu biểu nh mít tinh kỷ niệm ngày Quốc tế lao động 1/5/1930 đã

cao là phong trào ở Nghệ Tĩnh.

Hình thức đấu tranh rất quyết liệt bởi cao trào CM 30 - 31 diễn ra sôi nổi với nhiều hình thức đấu tranh phong phú, quyết liệt nh mít tinh, biểu tình, thị uy, bãi công Bản thân các cuộc đấu tranh đã mang tính quyết liệt nhng quyết liệt hơn

là những cuộc đấu tranh của nhân dân điển hình là biểu tình có vũ trang tự vệ tiến lên đập phá huyện

đờng, phá nhà lao buộc địch phải thừa nhận yêu sách Quyết liệt nhất

là quần chúng dùng bạo lực CM để

đập tan chính quyền địch ở 2 tỉnh Nghệ An - Hà Tĩnh thành lập chính quyền Xô Viết Từ phong trào này các đội tự vệ đỏ đã ra đời góp phần tích cực chống địch khủng bố bảo

vệ quần chúng.

Nh vậy, cao trào 30 - 31 đã kết hợp

đợc đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang trong đó đấu tranh chính trị là chủ yếu.

Đề 3: ý nghĩa lịch sử và bài học của cao trào 30 - 31.

Bài làm.

Mặc dù bị thất bại nhng phong trào

có ý nghĩa lịch sử to lớn Phong trào CM 30 - 31 với đỉnh cao là Xô

Viết Nghệ Tĩnh là cuộc đấu tranh

đầu tiên của nhân dân ta dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam Cao trào này đã làm thức tỉnh nhân dân, lôi cuốn đợc quần chúng tham gia trong đó đặc biệt là công nhân và để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho CMVN.

Phong trào đợc đánh giá cao trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Tháng 4/1931 QTCS đã

quyết định công nhận Đảng cộng sản Đông Dơng là một bộ phận độc lập trực thuộc QTCS Phong trào cũng góp phần làm tăng thêm ảnh hởng cộng sản trong các nớc thuộc

địa nhất là các nớc phơng Đông.

Qua cao trào 30 - 31 lần đầu tiên

c-ơng lĩnh của Đảng đợc đa ra thực hiện và qua phong trào đấu tranh

đợc quần chúng hởng ứng nhiệt liệt Điều đó chứng tỏ cơng lĩnh của

Đảng là hoàn toàn đúng đắn đồng thời cũng khẳng định quyền lãnh

đạo của Đảng, của g/c công nhân.

Lần đầu tiên Đảng ta đã xây dựng

đợc khối liên minh công - nông tức

là tạo ra đợc một nhân tố quyết

định thắng lợi của CM và phát huy khả năng CM của các g/c khác trong CMDTDC.

điểm việc xây dựng chính quyền

CM và bảo vệ chính quyền (chuẩn

bị mô hình chính quyền).

Đây là lần đầu Đảng lãnh đạo quần chúng tiến hành CM bạo lực, qua cao trào Đảng đã tập dợt lãnh

đạo, quần chúng đợc tập dợt đấu tranh, CN M - L đợc truyền bá sâu rộng trong quần chúng làm cho quần chúng hiểu về Đảng và đào tạo cho Đảng đợc một đội ngũ chiến sỹ CM trung kiên làm nòng cốt cho các phong trào CM sau này.

Phong trào CM 30 - 31 mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh đã đa ra vấn đề thời cơ giành chính quyền

Phong trào CM 30 - 31 nổ ra cha

đúng thời cơ Năm 1930 ở Nghệ Tĩnh có một số điều kiện thúc đẩy nhân dân hai tỉnh nổi dậy Tuy vậy, tình thế CM trong toàn quốc cha chín muồi Đế quốc Pháp tuy gặp khủng hoảng kinh tế nhng vẫn còn mạnh do đó cao trào nổ ra trong so sánh lực lợng quá chênh lệch nên

bị thất bại Thất bại này đã chỉ ra cho Đảng ta vấn đề xác định đúng thời cơ CM để phát động quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền.

Phong trào đã đa ra vấn đề giải quyết đúng mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ phản đế và phản phong

Xô Viết Nghệ Tĩnh nổ ra khi Đảng

ta mới ra đời, kinh nghiệm cha có nên không tránh khỏi một số sai lầm quyết liệt trong đó có vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ này cha đúng, cha nhận thức đợc rằng kẻ thù nguy hại nhất lúc đó là đế quốc Pháp Do đó cha chú trọng tập hợp lực lợng phản đế vào mặt trận dân tộc thống nhất để triệt để phân hóa hàng ngũ kẻ thù

Điều này chỉ ra nhiệm vụ cấp thiết

là trên cơ sở đờng lối chiến lợc

đúng phải đề ra sách lợc phù hợp

điều kiện lịch sử cụ thể và trên cơ

sở khối liên minh công - nông hình thành cần thành lập mặt trận dân tộc thống nhất để đoàn kết rộng rãi nhân dân, đoàn kết các g/c.

Nh vậy bài học thành công cũng

nh thất bại của cao trào có tác dụng lớn cho cuộc đấu tranh sau này vì vậy phong trào CM 30 - 31 đ-

ợc coi là cuộc diễn tập thứ nhất chuẩn bị cho CMT8 nh lãnh tụ NAQ đã khẳng định: "Phong trào

ợng cho CMT8 thắng lợi sau này".

Đề 4: Hoàn cảnh lịch sử và chủ trơng của Đảng ta trong cao trào vận động dân chủ

1936 - 1939.

Bài làm.

Năm 1930 Đảng ta ra đời từ đây CMVN đã có đờng lối đúng đắn tuy nhiên đất nớc vẫn nằm trong thời

kỳ đen tối dới ách thống trị của đế quốc phong kiến Mục tiêu của CM

là phải lật đổ đế quốc phong kiến giành lại chính quyền về tay nhân dân "vì vấn đề cơ bản của mọi cuộc

CM là vấn đề chính quyền Nhà ớc" (Lênin) Muốn giành đợc chính quyền phải chuẩn bị và phải nắm thời cơ vì vậy giai đoạn từ năm

n-1930 - 1945 Sau phong trào CM

30 - 31 CMVN bớc vào thời kỳ thoái trào để rồi sau đó lại bừng dậy ở phong trào vận động dân chủ 36 - 39.

Lúc này trên TG, cuộc khủng hoảng KTTG 1929 - 1933 đã để lại cho nền kinh tế của các nớc nhất là các nớc t bản phát triển hậu quả

Tháng 7/1935 QTCS đã họp Đại hội lần thứ 7 Đảng ta đã tham gia

Đại hội với t cách là một thành viên chính thức Đại hội đã thông qua một Nghị quyết quan trọng là lúc này g/c công nhân TG hãy tạm gác khẩu hiệu đánh đổ chủ nghĩa t bản nói chung, thành lập mặt trận nhân dân ở các nớc, tập trung mũi nhọn vào việc chống CN phát xít, chống chiến tranh bảo vệ hòa bình Nghị quyết của Đại hội đã kịp thời giúp

đỡ các Đảng cộng sản đề ra chủ

tr-ơng đúng đắn phù hợp với hoàn cảnh từng nớc Nó đã thống nhất hành động CM của g/c công nhân

TG trong một mục tiêu chung.

Sau Đại hội phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít của nhân dân TG phát triển, nhiều nớc đã

thành lập đợc "Mặt trận nhân dân", đặc biệt là Mặt trận nhân dân Pháp ở Pháp những ngời cộng sản đã liên minh với phái cấp

thành lập đợc chính phủ bình dân thi hành một số chính sách cho nhân dân thuộc địa trong đó có nhân dân Việt Nam.

Cùng lúc này ở trong nớc, hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929

- 1933 kéo dài cùng với cuộc khủng

bố trắng của Pháp đã tác động sâu sắc đến đời sống của tất cả các tầng lớp g/c trong xã hội Việt Nam Yêu cầu cải thiện đời sống và các quyền

tự do dân chủ đặt ra hết sức bức thiết Chính phủ "Mặt trận nhân dân Pháp đã ban bố những chính sách tự do dân chủ áp dụng phần nào cho thuộc địa Một số tù chính trị đợc tha và tìm cách hoạt động trở lại.

Đồng thời, Đảng ta cũng nh phong trào quần chúng đã đợc phục hồi Tháng 3/1935 Đại hội lần thứ nhất của Đảng đã họp ở Ma Cao (Trung Quốc) Đại hội đã thông qua Nghị quyết chính trị, điều lệ Đảng, các Nghị quyết về vận động quần chúng công - nông Đại hội đã bầu ra BCH TW gồm 13 đồng chí,

đồng chí Lê Hồng Phong là Tổng bí

th, NAQ đợc cử là đại diện Đảng bên cạnh QTCS.

Căn cứ vào tình hình TG trong nớc và vận dụng sự chỉ đạo của QTCS vào hoàn cảnh của nớc ta Hội nghị TW

Đảng cộng sản Đông Dơng do Lê Hồng Phong chủ trì đã họp vào tháng 7/1936 quyết định sự chuyển hớng chỉ đạo CM Nghị quyết của Hội nghị đề cập tới một

số vấn đề cơ bản.

Nhiệm vụ chiến lợc của CM DTDC ở Việt Nam là chống đế quốc phong kiến không hề thay

đổi nhng để phù hợp với tình hình mới Đảng xác định mục tiêu trực tiếp trớc mắt là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc

địa, chống phát xít, chống chiến tranh đòi tự do dân chủ cơm áo

và hòa bình Từ đó chỉ ra kẻ thù chủ yếu trớc mắt của nhân dân

Đông Dơng là bọn phản động thuộc địa và bè lũ tay sai của chúng Đồng thời, tạm thời cha nêu ra khẩu hiệu đánh đổ đế quốc Pháp và tịch thu ruộng đất của bọn địa chủ chia cho dân cày

mà đòi tự do dân chủ cơm áo hòa bình.

Hội nghị chủ trơng thành lập

"Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dơng" đến tháng

9

Trang 10

chủ Đông Dơng" bao gồm các

giai cấp Đảng phái dân tộc, tổ

chức chính trị và tôn giáo khác

nhau Hình thức tổ chức quần

chúng thay đổi cho phù hợp

Công hội, nông hội thay bằng

các hội cứu tế, ái hữu Đoàn

thanh niên cộng sản thay đổi

thành Đoàn thanh niên dân chủ.

Về phơng pháp đấu tranh, tận

dụng mọi hình thức tổ chức đấu

tranh công khai, nửa công khai,

đảng trong việc vận dụng sáng

tạo CN M - L và Nghị quyết của

Đại hội VII của QTCS vào điều

kiện cụ thể của Đông Dơng Hội

nghị đã giải quyết đúng đắn mối

quan hệ giữa mục tiêu chiến lợc

với mục tiêu cụ thể trớc mắt của

CM Mối quan hệ giữa mục tiêu

đấu tranh với hình thức tổ chức

và hình thức đấu tranh Chủ

tr-ơng của Đảng phù hợp với thực

tiễn CM Vấn đề dân tộc dân chủ

đặt ra ở mức độ thấp phù hợp với

yêu cầu và nguyện vọng bức thiết

của quần chúng nên đã đẩy

phong trào phát triển mạnh mẽ

trong cả nớc Điều đó chứng tỏ

sách lợc CM đúng đắn của Đảng

ta.

Cao trào vận động dân chủ 36 -

39 đợc mở đầu bằng phong trào

Đông Dơng đại hội Đợc tin

Quốc hội Pháp cử phái đoàn

sang điều tra tình hình ở Đông

Dơng Đảng cộng sản Đông Dơng

đã chủ trơng phát động và tổ chức

nhân dân thu thập nguyện vọng tự

do dân chủ trong cả nớc gửi tới

phái đoàn Đảng kêu gọi thành lập

các ủy ban hành động ở khắp nơi tập

hợp lực lợng quần chúng nhân dân và

chuẩn bị cho Đại hội Đông Dơng.

Phong trào đợc quần chúng hởng

ứng rất đông đảo và gây một tiếng

vang rất lớn trong d luận trong nớc

và trên TG Khắp nơi B - T - N các

ủy ban hành động đợc thành lập

Khí thế đấu tranh của quần chúng đã

buộc nhà cầm quyền Đông Dơng phải

ban bố một số Nghị định cải thiện một

thiểu của công nhân và ân xá tù chính trị (có hơn 3000 cán bộ CM đợc tha)

Lo sợ trớc sự phát triển của phong trào ngày 15/4/1938 chính quyền thực dân đã ra lệnh giải tán các ủy ban hành động.

Đại hội Đông Dơng sớm bị đàn áp nhng những kết quả thu đợc rất to lớn: hàng triệu quần chúng đợc giác ngộ về quyền lợi g/c của mình

Đợc tập hợp tổ chức và rèn luyện ý thức đoàn kết, tinh thần đấu tranh, niềm tin vào Đảng, vào CM đợc nâng cao Đảng ta thu đợc những kinh nghiệm quý báu, phong trào

Đông Dơng Đại hội chứng tỏ rằng khi chủ trơng chính sách và khẩu hiệu đấu tranh của Đảng phù hợp với nguyện vọng của quần chúng thì đợc nhân dân ủng hộ, mau chóng trở thành phong trào quần chúng Những cán bộ của Đảng tích lũy đợc nhiều bài học về công tác lãnh đạo phong trào đấu tranh công khai hợp pháp ở một nớc thuộc địa.

Tiếp theo phong trào Đông Dơng

Đại hội là phong trào đấu tranh đòi dân sinh dân chủ Mở đầu phong trào này là phong trào của công nhân phát triển mạnh mẽ đòi tăng lơng giảm giờ làm, chống cúp phạt

đánh đập và đòi tự do nghiệp đoàn

Sáu tháng cuối năm 1936 có 361 cuộc bãi công tiêu biểu là cuộc tổng bãi công của công nhân mỏ than Hồng Gai (Cẩm Phả) vào tháng 11/1936 Đỉnh cao của phong trào

là năm 1937 có 400 cuộc bãi công ở khắp các ngành điển hình nhất là bãi công của công nhân khu mỏ Hòn Gai thu hút ngót 3 vạn ngời tham gia và kéo dài suốt 7 ngày đã

gây thiệt hại lớn cho bọn địa chủ

Năm 1938 có 135 cuộc bãi công, từ trong phong trào đấu tranh g/c công nhân đã thành lập đợc nhiều

tổ chức nghiệp đoàn và các tổ chức khá chặt chẽ.

Phong trào đấu tranh của nông dân cũng sôi nổi rầm rộ đòi địa chủ phong kiến giảm tô, giảm tức chia lại ruộng công Năm 1937 khi công nhân Trờng Thi - Vinh đấu tranh thì nông dân các vùng lân cận đã

ủng hộ gạo, ngô, khoai, tiền Trong năm 1937 có hơn 150 cuộc đấu tranh của nông dân chống cớp ruộng đất, đòi chia lại ruộng công

Năm 1938 có 125 cuộc đấu tranh

miền Nam xảy ra nạn đói, nông dân nhiều nơi biểu tình đấu tranh trong đó tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh của hơn 1000 nông dân Cà Mau.

Phong trào đấu tranh của quần chúng nói chung phát triển mạnh cùng với phong trào của công nhân Đông đảo tiểu thơng, viên chức, học sinh sinh viên thậm chí cả một bộ phận tầng lớp trên và một số ngời Pháp dân chủ cũng tham gia trong các phong trào

Năm 1937 có những cuộc mít tinh biểu tình lớn của nhân dân ta suốt

từ Bắc chí Nam trong dịp đón rớc Gôda và Brêviê Ngày 1/5/`1938 lần

đầu tiên ngày quốc tế lao động đợc

tổ chức mít tinh công khai, ở Sài Gòn, Hà Nội đã có hàng vạn ngời tham gia Đó là thắng lợi lớn nói lên trình độ giác ngộ, ý thức tổ chức

đoàn kết đấu tranh của quần chúng và chính sách mặt trận dân chủ đúng đắn của Đảng cộng sản

Đông Dơng.

Cuối cùng đó là phong trào đấu tranh nghị trờng và báo chí công khai Đảng cộng sản Đông Dơng

đã tận dụng mọi khả năng đấu tranh công khai, hợp pháp hình thức mới mẻ đợc Đảng thực hiện là tham gia các cuộc bầu cử vào các Viện dân biểu, Hội đồng thành phố, Hội đồng quản hạt Mặt trận dân chủ Đông Dơng đã giành thắng lợi trong cuộc bầu cử Hội

đồng dân biểu Bắc Kỳ 1938 thu đợc nhiều phiếu trong cuộc bầu cử Hội

đàn này để mở rộng lực lợng của Mặt trận dân chủ, vạch trần chính sách phản động của kẻ địch và bênh vực quyền lợi của nhân dân.

Đảng cộng sản Đông Dơng cũng triệt để sử dụng báo chí công khai làm vũ khí đấu tranh CM, tuyên truyền đờng lối quan điểm, tập hợp hớng dẫn phong trào đấu tranh của quần chúng Lợi dụng cơ hội thuận lợi của thời kỳ này Đảng ta

đã xuất bản hàng loạt sách báo bằng tiếng Việt, tiếng Pháp và đợc

là các tờ: Tin tức, Dân chúng, Tiến lên, Nhành lúa và cuốn sách

"Dân cày" của hai đồng chí Trờng Chinh và Võ Nguyên Giáp Báo chí

CM lúc đó trở thành mũi xung kích sắc bén trong các phong trào lớn của cuộc vận động dân chủ dân sinh thời kỳ 36 - 39 nh Đông Dơng

đại hội, đón rớc Gôda và Brêviê rồi

đa kiến nghị và biểu dơng lực lợng quần chúng Những cuộc bầu cử và

đấu tranh trên nghị trờng.

Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, triết học và t tởng cũng diễn ra rất sôi động nh "nghệ thuật vị nghệ thuật", "nghệ thuật vị dân sinh" của phái duy tâm và duy vật đã làm cho văn nghệ sĩ tỉnh ngộ.

Qua phong trào cụ thể cho ta thấy

đây là một cao trào đấu tranh rộng lớn thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia với nhiều hình thức phong phú.

Có thể nói phong trào CM 36 - 39

là một cuộc vận động dân chủ nhng

đồng thời cũng là một cao trào CM DTDC thực sự rộng lớn Đây là một thắng lợi lớn vì những ngời cộng sản và nhân dân lao động đã dành

đợc một số quyền tự do dân chủ tối thiểu cha có ở Đông Dơng bao giờ.

Qua phong trào một lần nữa đảng

ta đợc rèn luyện trong công tác lãnh đạo, quần chúng đợc tập dợt

đấu tranh và chứng minh thêm khả

năng CM, sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân trên cơ sở công nông liên minh, CN M - L lại có dịp tuyên truyền sâu rộng hơn nữa trong quần chúng Đội quân chính trị hùng hậu đợc hình thành tiêu biểu

là tổ chức Mặt trận dân chủ Đông Dơng Nhiều cán bộ CM mới tiếp tục đợc đào tạo.

Qua phong trào những hình thức

đấu tranh mới xuất hiện Ngoài

đấu tranh chính trị là chủ yếu còn

đấu tranh công khai, hợp pháp, bán hợp pháp đợc vận dụng rất linh hoạt mà trớc kia cha hề có

Các hình thức đấu tranh trong phong trào 36 - 39 rất phong phú

bổ sung cho những thiếu sót của thời kỳ 30 - 31 làm cho những hình thức đấu tranh của Đảng có tính chất hoàn chỉnh: đấu tranh chính trị, vũ trang, công khai bán công khai, bí mật hợp pháp, bất hợp pháp, nghị trờng đấu tranh t tởng

CMT8 sau này.

Nếu nh thời kỳ CM 30 - 31 Đảng ta vững vàng trong việc đề ra đờng lối chiến lợc thì giờ đây Đảng ta trởng thành về mặt chỉ đạo sách lợc Biết

đề ra chủ trơng đúng đắn phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của lịch sử.

Ba bài học cơ bản mà Đảng rút ra

từ thực tiễn đấu tranh của phong trào là xây dựng mặt trận, đề ra sách lợc đấu tranh phù hợp, vận dụng linh hoạt các hình thức đấu tranh và biết rút vào bí mật kịp thời khi điều kiện công khai không còn cho phép để bảo toàn lực lợng Tất cả những điều đó chứng tỏ phong trào dân chủ 36 - 39 là cuộc diễn tập thứ 2 và chuẩn bị tiếp theo cho CMT8.

Đề 5: Điều kiện lịch sử đòi hỏi CMVN phải đặt vấn đề gpdt lên nhiệm vụ hàng đầu.

Bài làm.

Năm 1930 Đảng ta ra đời từ đây CMVN đã có đờng lối đúng đắn tuy nhiên đất nớc vẫn nằm trong thời

kỳ đen tối dới ách thống trị của đế quốc phong kiến Mục tiêu của CM

là phải lật đổ đế quốc phong kiến giành lại chính quyền về tay nhân dân "vì vấn đề cơ bản của mọi cuộc

CM là vấn đề chính quyền Nhà ớc" (Lênin) Muốn giành đợc chính quyền phải chuẩn bị và phải nắm thời cơ vì vậy giai đoạn từ năm

n-1930 - 1945 là giai đoạn chuẩn bị giành chính quyền Tiếp sau phong trào 30 - 31 và 36 - 39 là giai đoạn

mà CMVN có những điều kiện lịch

sử mới đòi hỏi Đảng ta phải đa ra những chủ trơng chỉ đạo chiến lợc

đúng đắn và lúc này Đảng ta đã đặt vấn đề gpdt lên nhiệm vụ hàng đầu.

Tháng 9/1939 CTTG 2 bùng nổ, t bản phản động Pháp đã đầu hàng

Đức vào tháng 6/1940 Sau khi nhảy vào vòng chiến chính phủ Pháp thi hành hàng loạt biện pháp

đàn áp lực lợng tiến bộ trong nớc

Chúng phá vỡ Mặt trận nhân dân Pháp và đặt Đảng cộng sản Pháp

ra ngoài vòng pháp luật đồng thời chúng thi hành chính sách hết sức phản động đối với các thuộc địa.

Trong khi đó, ở Việt Nam và Đông Dơng bọn thực dân Pháp đã thủ tiêu những quyền lợi mà nhân dân

ta giành đợc trong thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dơng Giải tán các

đoàn thể quần chúng, các tổ chức

Đảng cộng sản Đông Dơng Thực dân Pháp đã thi hành chính sách kinh tế chỉ huy đồng thời ra sức vơ

vét của cải của nhân dân ta, kiểm soát gắt gao sản xuất và phân phối,

ấn định giá cả độc đoán, tăng thuế giảm tiền lơng Hơn nữa, thực dân Pháp chọn con đờng thỏa hiệp với phát xít Nhật: ký hiệp ớc thừa nhận cho Nhật có những đặc quyền ở

Đông Dơng, thỏa thuận cho Nhật dùng 3 sân bay ở Bắc Kỳ.

Từ những chính sách cai trị của mình thực dân Pháp đã đẩy nhân dân ta vào cảnh sống ngột ngạt về chính trị, bần cùng về kinh tế Mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc Pháp và tay sai trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.

Tiếp đó, mùa thu năm 1940 phát xít Nhật tràn vào Đông Dơng, thực dân Pháp đã quỳ gối dâng Đông D-

ơng cho Nhật Nhật - Pháp cấu kết với nhau để áp bức nhân dân ta đến tận xơng tủy Nhật bắt dân ta nhổ lúa trồng đay, đóng thóc tạ, đi lính,

đi phu thực dân Pháp cũng ra sức bóc lột nhân dân ta bằng cách tăng thuế để chuẩn bị chiến tranh và cung cấp cho Nhật Bọn địa chủ phong kiến ở các địa phơng cũng nhân cơ hội đó ra sức bóc lột dân ta

để làm giàu Nhật - Pháp còn tăng cờng tuyên truyền lừa bịp về cái gọi

là "CM quốc gia", thuyết đại Đông

á.

Hậu quả của chính sách thống trị của Pháp - Nhật là nhân dân ta phải chịu cảnh một cổ hai tròng và nạn đói khủng khiếp làm cho hơn 2 triệu đồng bào ta bị chết vào cuối

1944 đầu 1945 Tình hình ấy làm cho mâu thuẫn giữa dân tộc ta với

tiến hành cuộc chiến tranh ái quốc vĩ

đại chống chiến tranh phát xít đã làm cho tính chất của CTTG 2 thay đổi: từ một cuộc chiến tranh đế quốc phi nghĩa thành một cuộc chiến tranh chính nghĩa, giữa một bên là phát xít với một bên là lực lợng hòa bình mà Liên Xô là lực lợng đi đầu Đây là cơ

hội thuận lợi cho các dân tộc thuộc địa

mình.

Khi CTTG 2 bùng nổ Đảng đã kịp thời ra Chỉ thị cho cán bộ hoạt

động công khai hợp pháp, nửa công khai rút vào hoạt động bí mật, chuyển trọng tâm về nông thôn, xây dựng các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa thành căn cứ địa đồng thời vẫn duy trì các cơ sở ở đô thị, ở ven

Hội nghị đã phân tích tính chất của CTTG 2, những chính sách của thực dân Pháp và thái độ của các g/c xã hội, vạch ra đờng lối chính trị của CMVN trong tình hình mới.

Hội nghị đã nêu bật lên nhiệm vụ cấp bách nhất và mục tiêu trớc mắt của CM Đông Dơng là đánh đổ đế quốc và tay sai, gpdt khỏi ách đế quốc dù là Pháp hay là Nhật làm cho Việt Nam và Đông Dơng hoàn toàn độc lập Đồng thời, Hội nghị cũng đề ra khẩu hiệu để tập trung lực lợng thực hiện đợc nhiệm vụ chính cốt của CM là đánh đổ đế quốc Hội nghị chủ trơng tạm gác khẩu hiệu "CM ruộng đất" và thay bằng các khẩu hiệu "chống địa tô

cao", "chống cho vay nặng lãi",

"tịch thu ruộng đất của thực dân,

đế quốc và bọn địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc đem chia cho dân cày nghèo".

Hội nghị còn chủ trơng tạm gác khẩu hiệu "lập chính quyền Xô

Viết công nông binh" thay bằng khẩu hiệu lập "Chính phủ cộng hòa dân chủ" hình thức Nhà nớc chung cho tất cả tầng lớp dân chúng và cho phong trào gpdt.

Tổ chức ra mặt trận để tập trung mọi lực lợng của dân tộc vào nhiệm

vụ chủ yếu trớc mắt là đánh đổ đế quốc, tay sai Hội nghị chủ trơng thành lập "Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dơng" Lực lợng chính là công nông đoàn kết với tiểu t sản, đồng minh trong chốc lát hoặc trung lập là t sản dân tộc, trung - tiểu địa chủ.

Về phơng pháp đấu tranh, do đờng lối CM có sự chuyển hớng một cách căn bản mà phơng pháp cũng đòi hỏi có sự thay đổi từ đấu tranh đòi quyền dân sinh dân chủ sang đấu tranh trực tiếp, đánh đổ chính quyền của đế quốc, tay sai, từ hoạt

động hợp pháp nửa hợp pháp sang

chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa vũ trang Ngoài ra, Hội nghị đã khẳng định CMVN phải giơng cao ngọn cờ gpdt, giải quyết đúng đắn mối quan

hệ giữa dân tộc và dân chủ Đảng

đồng thời cũng giơng cao ngọn cờ

đoàn kết với các lực lợng CMTG do Liên Xô làm trụ cột phối hợp chặt chẽ với các cuộc đấu tranh của nhân dân Lào và Cămpuchia Để

đảm bảo cho việc thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ lịch sử nặng nề Hội nghị đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng về mọi mặt, tăng c- ờng sự thống nhất về ý chí và hành

Chủ trơng của Hội nghị TW lần 6

là chủ trơng chỉ đạo chiến lợc và sách lợc của CMVN thời kỳ 1939 - 1945: thời kỳ đấu tranh gpdt Nó chứng tỏ sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo, sự nhạy bén của Đảng trong điều kiện có chiến tranh đế quốc và cả trong điều kiện một nớc thuộc địa, nửa phong kiến Do đó

nó có giá trị to lớn không những về mặt thực tiễn mà cả trong lý luận

đã phát triển bổ sung thêm một số vấn đề về chiến lợc và sách lợc CM

đề ra từ trong Luận cơng chính trị tháng 10/1930 Chủ trơng này đợc tiếp tục phát triển và hoàn thiện ở Hội nghị TW lần 8 vào tháng 5/1941.

Đề 6: Trình bày quá trình xâm lợc Đông Dơng của Nhật và chính sách của Nhật đối với nhân dân

Đông Dơng.

Bài làm.

Sau khi CTTG 2 nổ ra, Pháp bị phát xít chiếm đóng, quân phiệt Nhật kéo vào Đông Dơng Điều này chứng tỏ tầm quan trọng của Đông Dơng đối với kế hoạch xâm lợc của Nhật.

Đông Dơng có một vị trí chiến lợc quan trọng về quân sự Từ đây có thể đi thông tới các châu lục, các

đại dơng Đặc biệt Đông Dơng có nguồn tài nguyên phong phú, nhân lực dồi dào vì vậy các nớc đế quốc luôn tìm cách xâm chiếm ở châu

á, Nhật chiếm đợc phần lớn lãnh

10

Trang 11

Pháp, Nhật lấn dần từng bớc để

xâm chiếm Đông Dơng Nhật ép

Pháp phải ký một loạt Hiệp ớc bất

bình đẳng mở cửa Đông Dơng cho

Nhật làm hậu phơng lớn cho chiến

trờng Châu á - Thái Bình Dơng nh

buộc Pháp phải đóng cửa biên giới

Việt - Trung không để quân đồng

minh chuyên chở vũ khí, hàng hóa

xuyên qua Bắc Kỳ vào nội địa TQ

một hiệp ớc cho mợn con đờng xe

lửa từ Lạng Sơn qua Hà Nội xuống

Hải Phòng để chuyên chở lơng

thực, thuốc men, vũ khí, đạn dợc,

phơng tiện chiến tranh và quân đội

ra Thái Bình Dơng rồi cho Nhật

mọi yêu sách của Nhật nhng ngay

sau đó quân đội Nhật vẫn vợt biên

giới vào Bắc Việt Nam đanhs chiếm

Lạng Sơn, ném bom Hải Phòng và

đổ bộ lên Đồ Sơn.

Tháng 5/1941 Pháp phải thừa

nhận địa vị đặc biệt u đãI của Nhật

trong các quan hệ kinh tế với Đông

toàn diện" nh giúp mọi sự dễ dàng

cho Nhật trong việc hành binh,

cung cấp lơng thực và bố trí doanh

trại, bảo đảm an ninh, đàn áp

phong trào đấu tranh của nhân

ngấm ngầm chuẩn bị chống lại Nhật chỉ chờ thời cơ thuận lợi (khi quân đồng minh vào Đông Dơng)

sẽ nổi dậy Vì hai tên đế quốc không thể ăn chung một miếng mồi béo bở - Đông Dơng Cuối 1944

đầu 1945 cuộc CTTG bớc vào giai

đoạn kết thúc, phe phát xít dồn dập thất bại trên các chiến trờng Nhật thất bại ở Thái Bình Dơng mất đ- ờng tiếp tế trên mặt biển Anh - Mỹ

mở mặt trận thứ 2, thủ đô Pari đợc giải phóng, chính phủ phản động Pêtanh sụp đổ, chính phủ ĐờGôn lên cầm quyền ở Đông Dơng bọn thực dân Pháp ngóc đầu dậy chuẩn

bị kế hoạch khôi phục lại địa vị thống trị cũ ở Đông Dơng khi quân

đồng minh kéo vào đánh Nhật Để trừ hậu họa về sau Nhật đã đảo chính Pháp.

Đúng 8 giờ tối 9/3/1945 Nhật gửi tối hậu th đòi Pháp phải trao tất cả

quyền hành và ra lệnh bắt toàn quyền Đờcu và nổ súng lật Pháp trên toàn cõi Đông Dơng Thực dân Pháp bỏ chạy hoặc đầu hàng, quỳ gối dâng toàn bộ Đông Dơng cho Nhật.

Kết quả là Nhật đã giành thắng lợi

và thi hành những chính sách hết sức phản động đối với nhân dân

Đông Dơng.

Về chính trị, chúng thẳng tay đàn

áp CM và những ngời yêu nớc, bóp nghẹt mọi quyền tự do dân chủ của nhân dân, chúng lập chính phủ bù nhìn thân Nhật do Trần Trọng Kim

là Thủ tớng và các tổ chức tay sai thân Nhật với chiêu bài là "Việt Nam độc lập" để lừa bịp nhân dân

ta Thực chất là Nhật thay thế Pháp nắm mọi quyền hành ở Đông Dơng,

đa bọn võ quan Nhật thay chân bọn toàn quyền thông sứ, khâm sứ ngời Pháp ở Đông Dơng Chúng thiết lập một chính quyền tay sai từ TW

đến cơ sở làm công cụ kìm kẹp nhân dân ta.

Về kinh tế, chúng ra sức vơ vét của cải, bóc lột nhân dân ta nặng nề hơn, đẩy mạnh chính sách thu thóc tạ, phá lúa trồng đay, tăng thêm thuế và bắt dân ta đi phu xây dựng

đồn bốt cho chúng Hậu quả là làm cho nạn đói càng lan rộng và trầm trọng hơn, hai triệu đồng bào ta

càng lộ rõ, nền độc lập mà Nhật tuyên bố chỉ là cái bánh vẽ.

Về quân sự, chúng thẳng tay đàn

áp, chém giết đồng bào ta, tấn công vào các vùng căn cứ CM, mũi nhọn

là nhằm vào các tổ chức Đảng và MTVM Dùng các thủ đoạn tra tấn giết ngời cực kỳ man rợ, gửi th cho

VM, vừa dụ dỗ vừa đe dọa (hoặc là hợp tác thân thiện với Nhật, hoặc bị tiêu diệt).

Về văn hóa - giáo dục, chúng mị dân, lừa bịp, tuyên truyền cho các thuyết

đại đông á, Đồng văn đồng trục, khối thịnh vợng chung Chúng dùng văn hóa nô dịch để đầu độc dân ta: mở tr- ờng dạy tiếng Nhật, chiếu phim Nhật nhằm ru ngủ thanh niên, chúng tuyên truyền cho văn hóa Nhật, sức mạnh Nhật để gây tâm lý phục Nhật, sợ Nhật

và biến một bộ phận thanh thiếu niên thành bia đỡ đạn cho chúng.

Nh vậy, cuộc đảo chính đã gây ra một cuộc khủng hoảng sâu sắc, một

kẻ thù của nhân dân Đông Dơng bị tiêu diệt, kẻ thù còn lại là phát xít Nhật mới lên cầm quyền cha ổn

định đã tạo cho CMĐD có cơ hội phát triển mau chóng, chính sách phản động cùng với vô số những hoạt động thù địch của Nhật và tay sai đã làm cho đời sống của nhân dân ta điêu đứng, mâu thuẫn giữa các dân tộc Đông Dơng với bọn đế quốc và tay sai càng sâu sắc, nhanh chóng thức tỉnh quần chúng vùng dậy đấu tranh Đây là nguyên nhân dẫn đến sự bùng nổ của cao trào kháng Nhật cứu nớc ở nớc ta do

Đảng lãnh đạo.

Đề 7: Những nét chính về diễn biến của các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam

đã thúc đẩy quá trình CM hóa, nhân dân Đông Dơng vốn có lòng yêu nớc và tinh thần đấu tranh bất khuất dới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã vùng dậy khởi nghĩa chống Pháp - Nhật Điển hình cho các cuộc đấu tranh ấy là khởi nghĩa Bắc Sơn (9/1940), Nam

(1/1941).

Từ cuối 1840, quân Nhật đã tiến sát biên giới Việt - Trung Ngày 22/9/1940 Pháp buộc phải ký với Nhật hiệp định mở cửa Đông Dơng cho Nhật tràn vào Ngay đêm đó Nhật tấn công Lạng Sơn, quân Pháp ở đây tuy đông nhng chỉ sau vài ngày chiến đấu đã tan rã, số lớn thì đầu hàng, số còn lại tháo chạy

về Thái Nguyên qua đờng Bắc Sơn

Chính quyền thực dân ở những vùng này lung lay tan rã Quần chúng nhiều nơi tự động thu nhặt

vũ khí của địch trang bị cho mình

Một số đồng chí của ta thoát khỏi nhà tù của Pháp nhân cơ hội đó ngày 27/9/1940 nhân dân Bắc Sơn dới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phơng nổi dậy khởi nghĩa.

Mở đầu với lực lợng khoảng 600 ngời có vũ trang đã chiếm đồn Mỏ Nhài, viên tri châu Bắc Sơn chạy trốn, chính quyền địch ở Bắc Sơn tan rã, chính quyền CM thành lập

và đội du kích Bắc Sơn ra đời.

Để đối phó với cuộc nổi dậy ở Bắc Sơn, Pháp - Nhật đi đến hoà hoãn,

đợc Nhật trao trả tù binh Pháp quay trở lại chiếm đóng Lạng Sơn

và thẳng tay đàn áp cuộc khởi nghĩa Chúng đốt phá làng bản, bắn giết những ngời tham gia khởi nghĩa, tập trung dân Chúng dìm cuộc khởi nghĩa trong một biển máu Trong tình hình đó cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn chỉ tồn tại đợc gần một tháng.

Sau Hội nghị TW 6 của Đảng, phong trào CM ở Nam Kỳ phát triển nhanh chóng cùng với cuộc sống nô lệ không thể chịu nổi lại đ-

ợc tinh thần của các chiến sĩ Bắc Sơn cổ vũ trên hầu khắp Nam Bộ sôi sục khí thể đấu tranh Đặc biệt khi cuộc xung đột Pháp - Thái nổ

ra dọc biên giới Lào - Cămpuchia, thực dân Pháp đã đẩy nhân dân Việt Nam và nhân dân CPC đi làm bia đỡ đạn cho chúng Nhân dân Nam Kỳ và binh lính sôi nổi đấu tranh chống bắt lính đa lính ra mặt trận Đứng trớc tình hình đó xứ ủy Nam Kỳ triệu tập nhiều cuộc họp để bàn về khởi nghĩa và kế hoạch khởi nghĩa đợc vạch ra và cử ngời ra xin Chỉ thị của TW.

Hội nghị TW lần thứ 7 sau khi xem xét tình hình đã ra Chỉ thị hoãn cuộc khởi nghĩa vì ở MN cha đủ

bảo đảm cho khởi nghĩa giành thắng lợi Nhng lệnh của TW không đến kịp vì đồng chí Phan

Đăng Lu ủy viên TW Đảng, phái viên của xứ ủy Nam Kỳ ra Bắc xin Chỉ thị khi trở vào Nam đã bị giặc bắt Lệnh khởi nghĩa của xứ ủy đã

về đến địa phơng không hoãn lại

đ-ợc Mặc dù cha chủ trơng khởi nghĩa nhng khởi nghĩa vẫn nổ ra

Khi khởi nghĩa nổ ra TW đã kịp thời ra lời kêu gọi các nơi hởng ứng ủng hộ.

Đêm 22 rạng ngày 23/11/1940 khởi nghĩa nổ ra ở hầu khắp các tỉnh Nam Kỳ từ miền Đông đến miền Tây có sự tham gia đông đảo của binh lính ngời Việt Nam trong quân đội Pháp Đặc biệt quyết liệt

là ở Hóc Môn (Bà Điểm - Gia

Định), Cay Lậy (Mỹ Tho), ở một số nơi có phong trào nổi dậy mạnh mẽ chính quyền địch tan rã, chính quyền CM đợc thành lập, chính quyền mới đã thực hiện một số chính sách dân chủ, thi hành nhiều biện pháp nhằm giữ trật tự trị an và lập tòa án xét xử bọn phản CM Lá

cờ đỏ sao vàng lần đầu xuất hiện từ trong phong trào nổi dậy của quần chúng đã tung bay trớc trụ sở cơ

quan CM ở một số vùng thuộc tỉnh

Mỹ Tho và Vĩnh Long.

Hoảng hốt trớc tình hình thực dân Pháp đã tập trung lực lợng dùng nhiều thủ đoạn đàn áp dã man cuộc khởi nghĩa nh máy bay dội bom, đốt nhà, cớp của giết ngời làm cho CM Nam Kỳ bị tổn thất rất nặng nề Nhiều chiến sĩ CM u tú của dân tộc bị chúng giết hại nh Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần Song một số cán bộ và nghĩa quân đã bí mật rút vào rừng chấn chỉnh đội ngũ để chờ cơ hội hoạt

động trở lại.

Cuối 1940 đầu 1941 tại miền Trung một số binh lính ngời Việt bị thực dân Pháp đẩy đi làm bia đỡ đạn cho chúng

ở vùng biên giới Lào - Thái Một số

ng-ời có lòng yêu nớc đã đứng lên làm binh biến.

Ngày 13/1/1941 dới sự chỉ huy của

Đội Cung và Cai á, binh lính ở đồn chợ Rạng - Đô Lơng - Nghệ An tự

động nổi dậy Họ chiếm đợc đồn Đô

Lơng, giết và làm bị thơng một số binh lính và sĩ quan Pháp, thu đợc một

số vũ khí Sau đó họ định kéo về Vinh

chiếm thành nhng kế hoạch không thực hiện đợc.

Cuộc binh biến Đô Lơng nhanh chóng bị thực dân Pháp dập tắt vì

cuộc nổi dậy tự phát của binh lính không đợc đông đảo quần chúng tham gia song cuộc binh biến thể hiện tinh thần yêu nớc của binh lính ngời Việt Nam trong quân đội Pháp, Đảng cộng sản Đông Dơng hoan nghênh tinh thần yêu nớc của binh lính đồng thời điều này cũng chứng minh khả

năng CM của binh lính khi đợc giác ngộ.

Nh vậy, trong vòng không đầy 4 tháng từ khi phát xít Nhật bắt đầu xâm chiếm Đông Dơng trên cả 3 miền đất nớc đã nổ ra hai cuộc khởi nghĩa và một cuộc binh biến, 3 cuộc nổi dậy không thành vì thực dân Pháp còn mạnh, nổ ra cha

đầu tiên báo hiệu thời kỳ CM mới - thời kỳ khởi nghĩa vũ trang cớp chính quyền của nhân dân ta đã

bắt đầu, nó cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh của nhân dân ta và gây tiếng vang trong d luận.

Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đã để lại cho CM đội du kích Bắc Sơn, cái vốn lực lợng vũ trang đầu tiên của

CM trong thời kỳ mới Từ cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ lá cờ đỏ sao vàng ra

đời và trở thành biểu tợng thiêng liêng của dân tộc ta.

Các cuộc nổi dậy thất bại nhng để lại cho Đảng ta nhiều bài học quý báu cho thắng lợi của CMT8 sau này Các cuộc khởi nghĩa trên đều thất bại vì nó nổ ra không đúng thời cơ, điều kiện chủ quan và khách quan cha chín muồi Điều đó

đã chỉ ra cho Đảng ta bài học kinh nghiệm về vấn đề lựa chọn đúng thời cơ Về quyết tâm giành thắng lợi và nghệ thuật phát động quần chúng khởi nghĩa, liên tục tiến công đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa, về vấn đề xây dựng và tổ chức lực lợng vũ trang và chiến tranh du kích.

Với những ý nghĩa và bài học nh vậy 3 cuộc khởi nghĩa có tác dụng

Bài làm.

Việc hình thành và củng cố đạo quân chính trị quần chúng thông qua việc hình thành và củng cố mặt trận dân tộc thống nhất, là một trong những nền tảng cơ sở, điều kiện cần và đủ ảnh hởng trực tiếp

và tác động đến tiến trình CM Là một trong những vấn đề có tầm quan trọng, chiến lợc quyết định

đến sự thành công của CMT8 Sau khi CTTG bùng nổ, tình hình TG

và trong nớc biến đổi sâu sắc Đầu

1941 lãnh tụ NAQ về nớc để trực tiếp lãnh đạo CMVN để tăng cờng khối đoàn kết toàn dân, Ngời đã

Đông Dơng chịu hai tầng áp bức Pháp - Nhật, quyền lợi của tất cả

các tầng lớp g/c lúc này đều bị cớp giật, vận mệnh dân tộc nguy vong không lúc nào bằng Vì vậy gpdt là nhữnphòng chống yêu cầu bức thiết nhất của CM Đông Dơng.

Để phát huy sức mạnh dân tộc ở mỗi nớc Đông Dơng cần phải giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ mỗi nớc Vì thế, ở mỗi nớc có mặt trận dân tộc thống nhất riêng

ở Việt Nam lấy tên phù hợp là "Việt Nam độc lập đồng minh" (gọi tắt là Việt Minh).

MTVM có nhiệm vụ là động viên mạnh mẽ hơn nữa tinh thần toàn dân trong cuộc đấu tranh vì độc lập

tự do, thực hiện chính sách đại

đoàn kết dân tộc và triệt để phân hóa kẻ thù vì vậy nhấn mạnh Việt Nam độc lập Đồng thời lúc ấy trên

TG đang có những biến chuyển sâu sắc Phát xít Đức sau khi chiếm hầu hết các nớc Châu Âu chuẩn bị quay sang tấn công Liên Xô, tính chất của cuộc chiến tranh sẽ thay đổi, trên TG dần dần hình thành hai trận tuyến: một bên là các lực lợng dân chủ do Liên Xô đứng đầu, một

bên là khối phát xít Đức - ý - Nhật Cuộc đấu tranh của mỗi dân tộc

Đông Dơng là một bộ phận của mặt trận dân chủ chống phát xít TG

VM tập hợp mọi tầng lớp nhân dân chống đế quốc phát xít Pháp - Nhật giành độc lập dân tộc, đồng thời

đứng trong phe đồng minh chống phát xít, tích cực góp phần vào sự nghiệp CMTG Vì vậy Đảng ta thành lập mặt trận gọi là "Việt Nam độc lập đồng minh" Ngày 19/5/1941 MTVM ra đời bao gồm các tổ chức quần chúng yêu n-

ớc chống đế quốc có tên chung là Hội cứu quốc Ngày 25/10/1941 thì công bố tuyên ngôn, chơng trình,

điều lệ của mặt trận.

Tuyên ngôn nêu rõ là liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái CM, các đoàn thể dân chúng yêu nớc đang cùng nhau đánh đuổi Nhật - Pháp làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập dựng lên một nớc VNDCCH.

Chơng trình bao gồm các chính sách về kinh tế, văn hóa, xã hội trong đó nổi bật 2 điều cốt yếu mà toàn dân mong ớc là làm sao cho n-

ớc Việt Nam hoàn toàn độc lập, dân Việt Nam đợc sung sớng tự do Sau khi đánh đuổi bọn đế quốc Nhật - Pháp sẽ lập nên một chính phủ CM của nớc VNDCCH theo tinh thần tân dân chủ lấy cờ đỏ sao vàng là lá

cờ chung Chơng trình sau đợc đúc kết thành 10 chính sách lớn đem thực hiện ở chiến khu Việt Bắc Mục đích của mặt trận VM là phản

đối xâm lợc, tiễu trừ Việt gian, lập nên một nớc VNDCCH hoàn toàn

độc lập.

Về chính sách đối nội, vũ trang nhân dân chống Nhật mở rộng quân giải phóng Việt Nam; tịch thu tài sản của lũ giặc nớc và của Việt gian tùy từng trờng hợp để làm của chung hay chia cho dân nghèo, bỏ hết thuế khóa, phục dịch do đế quốc đặt ra, thực hiện quyền tự do dân chủ, quyền phổ thông tuyển cử, thừa nhận dân tộc bình đẳng, nam nữ bình quyền Chia lại ruộng công làm cho dân nghèo có ruộng, giảm

địa tô địa tức, hoãn nợ, thi hành luật làm 8 giờ và đặt luật xã hội bảo hiểm, cứu tế nạn nhân Thành lập và mở mang nền kinh tế quốc dân, khuyến khích giúp đỡ công nghiệp, nông nghiệp, thơng nghiệp lập quốc gia ngân hàng, chống nạn

11

Trang 12

bậc sơ học, đào tạo các hạng nhân

tài.

Về đối ngoại, mặt trận chủ trơng

thân thiện với tất cả các nớc coi

trọng nền độc lập của Việt Nam và

đây cũng chính là đờng lối đối

ngoại của Đảng ta hiện nay.

Với Cơng lĩnh 10 điểm VM nhanh

chóng trở thành ngọn cờ tập hợp

lực lợng, xây dựng khối đoàn kết

toàn dân đứng lên cứu nớc cứu

nhà.

Từ những hoạt động của mình mà

trong suốt 10 năm hoạt động cho

đến khi kết hợp với Hội Liên Việt

MTVM đã có vai trò quan trọng đối

với CMVN Bởi, MTVM là trung

tâm đoàn kết toàn dân dới sự lãnh

hợp để nổi dậy khởi nghĩa giành

chính quyền khi thời cơ đến.

Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa VM

đã lãnh đạo cao trào kháng Nhật

cứu nớc, tổ chức những cuộc đấu

tranh vũ trang, khởi nghĩa từng

phần ở các địa phơng cùng với

nhiều hoạt động khác nh biểu tình,

phá kho thóc để tập dợt cho quần

chúng đấu tranh.

Trong những ngày Tổng khởi

nghĩa Tháng 8, Tổng bộ VM đã

đứng ra triệu tập Quốc dân đại hội

Tân Trào trực tiếp kêu gọi, tổ chức,

huy động lực lợng của quần chúng

đấu tranh giành chính quyền Lá

cờ đỏ sao vàng 5 cánh của MTVM

đã tung bay trong cả nớc trở thành

quốc kỳ của nớc VNDCCH.

Nh vậy, đối với CMT8, MTVM có

vai trò to lớn trong việc chuẩn bị và

lợi.

Sau CMT8 thắng lợi, MTVM tiếp tục củng cố khối đoàn kết toàn dân trong mặt trận, lãnh đạo nhân dân, giải quyết những khó khăn trớc mắt, xây dựng chính quyền mới và

đấu tranh chống thù trong giặc ngoài chuẩn bị cho cuộc k/c.

Trong cuộc k/c chống Pháp, MTVM cùng với Hội Liên Việt đã

tập hợp mọi lực lợng nhân dân tiến hành cuộc k/c trờng kỳ gian khổ chống thực dân Pháp Và ngày 3/3/1951 đã thống nhất với Hội Liên Việt thành MTLV để củng cố tăng cờng khối đoàn kết toàn dân.

MTVM đã hoàn thành nhiệm vụ và vai trò lịch sử của mình Khối đoàn kết dân tộc mà mặt trận xây dựng đ-

ợc ngày càng đợc củng cố và phát triển qua cuộc k/c chống thực dân Pháp rồi cuộc k/c chống Mỹ và trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc hiện nay.

Đề 9: Cao trào kháng Nhật cứu nớc thời kỳ tiền khởi nghĩa từ tháng 3 đến tháng 8/1945.

đế quốc thuộc loại sừng sỏ nhất

nh-ng tinh thần yêu nớc từ nh-ngàn đời nay đã làm nên một chiến thắng vang dội Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại một đất nớc nhỏ bé đã

chống lại đợc một nớc đế quốc thuộc lại hùng mạnh nhất TG

Thắng lợi của CMT8 ở Việt Nam đã

để lại cho nhân dân ta cũng nh các dân tộc thuộc địa trên TG những bài học kinh nghiệm quý báu Vậy phải chăng thắng lợi của CMT8 chính là kết quả của các phong trào 30 - 31, 36 - 39 đặc biệt là cao trào k/c chống Nhật cứu nớc của nhân dân ta?

Cuối 1944 đầu 1945, về phía ta lực lợng CM của quần chúng bao gồm cả lực lợng vũ trang và lực lợng chính trị đều phát triển mạnh mẽ, rộng rãi Lúc này, về phía kẻ thù đó

là kẻ thù cắn xé nhau, Nhật - Pháp mâu thuẫn sâu sắc với nhau Cuối

1944 đầu 1945 CTTG 2 bớc vào

dập bị thất bại trên các chiến trờng

ở Pháp chính phủ Pêtanh sụp đổ, chính phủ Đờ Gôn lên cầm quyền

Bọn Pháp ở Đông Dơng ngóc đầu dậy hoạt động, để trừ hậu họa về sau Nhật đã đảo chính Pháp (9/3/1945) Sau đảo chính Nhật đã

thi hành những chính sách hết sức phản động đối với nhân dân Đông Dơng về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội Những chính sách phản

động cùng với những hoạt động thù địch và tay sai đã làm cho nhân dân ta điêu đứng, mâu thuẫn giữa các dân tộc Đông Dơng với đế quốc phát xít càng sâu sắc Nhân dân ta không còn con đờng nào khác là phải vùng dậy đấu tranh dới sự lãnh đạo của Đảng.

Bắt mạch kịp thời và chính xác tình hình ngay đêm 9/3/1945 Thờng vụ

TW Đảng đã họp tại làng Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh do Tổng

bí th Trờng Chinh chủ trì và ngày 12/3/1945 ra Chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" Toàn bộ nhận định về tình hình

và chủ trơng mới của Đảng đợc thể hiện tập trung trong bản Chỉ thị này.

Hội nghị nhận định tình hình:

Nhật đánh Pháp là để độc chiếm

Đông Dơng, Nhật sẽ thắng Pháp nhng Nhật thắng chỉ là tạm thời và không thể củng cố ách thống trị của chúng ở Đông Dơng Cuộc đảo chính đó tạo ra một cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc làm cho cuộc khởi nghĩa nhanh chóng chín muồi Điều kiện đó là: chính trị khủng hoảng, nạn đói tăng lên và chiến tranh đến giai đoạn kết thúc.

Đồng thời, Hội nghị cũng dự đoán

điều kiện khách quan cho cuộc Tổng khởi nghĩa có thể nổ ra thắng lợi đó là khi quân đồng minh tiến vào Đông Dơng đánh Nhật tạo cơ

sở sau lng Nhật ở Đông Dơng

Song dù sao cũng không đợc ỷ lại

điều kiện khách quan, phải nêu cao tinh thần dựa vào sức mình là chính.

Trên cơ sở phân tích tình hình Hội nghị đã chỉ rõ kẻ thù chính cụ thể trớc mắt và duy nhất của nhân dân

Đông Dơng lúc này là phát xít Nhật Từ đó khẩu hiệu "đánh đuổi phát xít Pháp - Nhật" đợc thay bằng khẩu hiệu "đánh đuổi phát xít Nhật để chống lại chính phủ bù nhìn thân Nhật Hội nghị đa ra

CM của nhân dân Đông Dơng"

Phát động cao trào kháng Nhật cứu nớc làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa sau này với nhiều hình thức kể cả hình thức khởi nghĩa vũ trang cớp chính quyền thay đổi mọi hình thức hoạt động, mọi hình thức

đấu tranh cho phù hợp với thời kỳ tiền khởi nghĩa Hình thức hoạt

động tuyên truyền cao hơn, mạnh bạo hơn - tuyên truyền xung phong

có vũ trang, biểu tình, tuần hành thị uy, phá kho thóc Đẩy mạnh xây dựng các đội tự vệ cứu quốc, căn cứ địa, thống nhất các chiến khu.

Bản chỉ thị thể hiện sự lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết kịp thời của

Đảng, là kim chỉ nam cho mọi hành

động của Đảng và mặt trận trong cao trào kháng Nhật cứu nớc Bản Chỉ thị có giá trị ý nghĩa nh một ch-

ơng trình hành động, một lời hiệu triệu, ngọn cờ dẫn dắt dân ta tiến hành cao trào kháng Nhật cứu nớc, trực tiếp dẫn tới thắng lợi của Tổng khởi nghĩa tháng 8.

Tiếp sau bản Chỉ thị của Thờng vụ

TW Đảng, tháng 4/1945 Hội nghị quân sự Bắc Kỳ đã họp ở Hiệp Hòa (Bắc Giang) do đồng chí Trờng Chinh chủ trì nhằm giải quyết cụ thể những vấn đề quân sự đã đợc Hội nghị Thờng vụ TW tháng 3 nêu ra.

Hội nghị nhận định tình hình lúc này và đặt nhiệm vụ quân sự lên trên tất cả các nhiệm vụ quan trọng cần kíp Chúng ta phải tích cực phát triển chiến tranh du kích, xây dựng căn cứ địa kháng Nhật để chuẩn bị cuộc tổng khởi nghĩa cho kịp thời cơ Hội nghị chủ trơng thống nhất các lực lợng vũ trang sẵn có, phát triển hơn nữa lực lợng

vũ trang và bán vũ trang, mở trờng

đào tạo cán bộ quân sự và chính trị Xây dựng 7 chiến khu trong cả

nớc Cả nớc bớc vào cao trào CM mới - cao trào kháng Nhật cứu nớc hay cao trào tiền khởi nghĩa.

Dới ánh sáng Nghị quyết của Hội nghị TW mở rộng ngày 9/3/1945 và bản Chỉ thị 12/3/1945 cao trào kháng Nhật bùng lên mạnh mẽ.

Đầu tiên đó là phong trào khởi nghĩa từng phần và chiến tranh du kích cục bộ Khởi nghĩa từng phần

đã diễn ra ở nhiều vùng nông thôn nhất là nông thôn miền núi ở Bắc

ủy ban giải phóng ở nhiều xã Đội

du kích Bắc Giang đợc thành lập.

ở Quảng Ngãi ngày 11/3/1945 một

số cán bộ đảng viên đang bị giam trong trại tập trung Ba Tơ và thị xã

Quảng Ngãi đã thoát khỏi nhà lao của địch và lãnh đạo quần chúng

đứng lên tiến hành khởi nghĩa Họ chiếm đợc đồn Ba Tơ, tuyên bố thành lập chính quyền CM và đội

du kích Ba Tơ ra đời Cùng ngày tự

vệ chiến đấu đã chiếm đồn Bần Yên Nhân (Hng Yên).

ở Nghĩa Lộ - Sơn La hàng nghìn cán bộ đảng viên bị giam trong nhà lao đã nổi dậy phá trại giam vợt ngục

ra ngoài hoạt động Đó là nguồn bổ sung cán bộ quan trọng cho CM.

Đặc biệt tại căn cứ địa Việt Bắc đội VNTTGPQ và Cứu quốc quân đã

chia thành nhiều toán gấp rút tỏa

đi nhiều hớng chặn đánh địch (chặn đánh giao thông, cớp lơng thực, diệt các đồn lẻ, kêu gọi những binh sĩ ngời Việt có lòng yêu nớc hãy ra hàng hoặc giao nộp súng cho CM) Họ đã tuyên truyền phát triển lực lợng, phối hợp với quần chúng nổi dậy giải phóng hàng loạt xã, tổng, châu thuộc các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên Nhiều nơi đã

thành lập đợc chính quyền CM dới hình thức ủy ban nhân dân hoặc

ủy ban giải phóng Chiến tranh du kích cục bộ diễn ra ở nhiều nơi đã

gây tiếng vang mạnh mẽ.

Tiếp sau khởi nghĩa từng phần thì

phong trào phá kho thóc của Nhật

để giải quyết nạn đói cũng lên cao trong cả nớc Phong trào diễn ra sôi nổi ở các vùng nông thôn, nạn

đói giết hơn 2 triệu đồng bào ta là hậu quả của chính sách phản động của Nhật - Pháp Đảng đa ra khẩu hiệu trên nhằm đáp ứng yêu cầu bức thiết nhất của quần chúng

Đồng thời qua đó lôi cuốn quần chúng vào trận tuyến CM.

Kết quả là hàng trăm kho dự trữ

của Pháp - Nhật và tay sai bị phá

lấy đi hàng chục vạn tấn thóc gạo chia cho nông dân Nhiều cuộc phá

kho thóc biến thành những cuộc

đấu tranh chính trị, những cuộc biểu tình vũ trang, tuyên truyền ủng hộ VM, trừng trị bọn ác và chống đàn áp khủng bố Phong trào này đã lôi cuốn hàng triệu quần chúng tham gia nhất là ở

Bộ.

Cuộc đấu tranh dới khẩu hiệu

"phá kho thóc giải quyết nạn đói"

trớc tiên là vì mục đích kinh tế trớc mắt song có ý nghĩa chính trị lâu dài và hết sức sâu sắc Đây thực sự

là cuộc tập dợt để đa quần chúng tiến lên giành chính quyền, nó đợc quần chúng hởng ứng đông đảo nên nhanh chóng biến thành một khẩu hiệu chính trị dẫn tới một phong trào thi đua "sắm vũ khí

đuổi thù chung".

Kết hợp với các phong trào chiến tranh du kích, phong trào phá kho thóc của Nhật thì phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân ở các thành phố, thị xã nhất là ở các thành phố lớn nh Hà Nội, Huế, Sài Gòn gây tiếng vang rất mạnh mẽ

Lực lợng tham gia chủ yếu là công nhân, học sinh, sinh viên, trí thức

Trong công nhân bên cạnh những cuộc đấu tranh đòi quyền sống hàng ngày họ còn tổ chức phá hoại sản xuất của địch, bí mật chế tạo, sửa chữa vũ khí cho VM hoặc lấy súng đạn của Nhật gửi lên chiến khu, in tài liệu truyền đơn báo chí

Tại nhiều thành phố các đội tuyên truyền xung phong tổ chức những cuộc diễn thuyết chớp nhoáng tố cáo tội ác của phát xít Nhật, chính quyền bù nhìn và giải thích đờng lối của VM Các đội danh dự VM thẳng tay trừ khử những tên sĩ quan Nhật tàn ác và bọn tay sai phản động

Bên cạnh đó cuộc đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa, t tởng, báo chí để

mở rộng ảnh hởng CM trong quần chúng, thống nhất về t tởng và hành động cùng phát triển.

Tới những ngày đầu tháng 8/1945 cao trào kháng Nhật diễn ra ngày càng sôi sục Tại các thành phố lớn thỉnh thoảng xuất hiện truyền đơn, biểu ngữ, khẩu hiệu chống Nhật

Nhiều nơi quần chúng đã xung đột với binh lính và võ quan Nhật

Khắp nơi nhân dân bí mật may cờ rèn vũ khí, không khí chuẩn bị khởi nghĩa sôi sục, quần chúng đã

sẵn sàng.

Những phong trào trên có ý nghĩa tác dụng rất to lớn Đây là một cao trào CM rộng lớn thu hút hàng triệu quần chúng tham gia với nhiều hình thức đấu tranh phong phú và quyết liệt Đấu tranh chính

tiến hành chiến tranh du kích, giành chính quyền từng bộ phận

Nó thể hiện là một bớc phát triển

v-ợt bậc của CM nớc ta, làm tiền đề

để đa nhân dân ta tiến tới tổng khởi nghĩa thắng lợi.

Cao trào đã lôi cuốn hàng triệu quần chúng vào trận tuyến đấu tranh với kẻ thù, rèn luyện họ qua những hình thức đấu tranh phong phú quyết liệt Đây là một cuộc tập dợt vĩ đại để đa quần chúng trực tiếp tiến tới tổng khởi nghĩa khi thời cơ đến.

Qua cao trào lực lợng CM (chính trị, vũ trang) ở cả nông thôn và đô

thị đều phát triển vợt bậc còn lực ợng kẻ thù thì suy yếu nhanh chóng

l-đã đa thời cơ khởi nghĩa chóng chín muồi.

Chính nhờ quá trình chuẩn bị lực ợng lâu dài bền bỉ nhất là sự phát triển của CM qua cao trào kháng Nhật cứu nớc đã làm cho nhân dân

l-ta chớp đợc thời cơ ngàn năm có một đa tổng khởi nghĩa đến thành công nhanh chóng.

có nhiều biến chuyển ở Pháp t bản phản động đã đầu hàng phát xít, chính phủ phản động Pêtanh lên cầm quyền Chúng đã thi hành những chính sách hết sức phản

động đối với nhân dân trong nớc và nhân dân các nớc thuộc địa ở

Đông Dơng chúng thủ tiêu những quyền lợi mà nhân dân ta giành đ-

ợc trong thời kỳ mặt trận dân chủ

Đông Dơng, đẩy mạnh đàn áp CM, bóp nghẹt các quyền tự do dân chủ

và thi hành chính sách kinh tế chỉ huy, ra sức áp bức bóc lột nhân dân ta Chính sách của chúng đã làm cho mâu thuẫn giữa dân tộc ta với bọn đế quốc Pháp và tay sai trở nên gay gắt Đứng trớc tình hình đó

Đảng ta đã chỉ đạo các lực lợng

CM kịp thời rút vào bí mật Từ ngày

6 đến 8/11/1939 Đảng đã họp Hội nghị TW lần 6 để chuyến hớng chỉ

đạo chiến lợc CMVN.

Hội nghị đã vạch ra đờng lối chính trị của CMVN trong tình hình mới

Phân tích tình hình, tính chất của cuộc CTTG 2, phân tích chính sách

các g/c trong xã hội từ đó chỉ rõ kẻ thù chính của ngời dân Đông Dơng

là thực dân Pháp Vấn đề gpdt đợc

đặt lên hàng đầu và cấp bách của

CM Đông Dơng lúc đó.

Để tập trung lực lợng thực hiện đợc nhiệm vụ hàng đầu là đánh đổ đế quốc, Hội nghị chủ trơng tạm gác khẩu hiệu CM ruộng đất và thay bằng các khẩu hiệu chống địa tô cao, chống cho vay nặng lãi, tịch thu ruộng đất của thực dân đế quốc

và của bọn địa chủ phản động quyền lợi dân tộc chia cho dân cày nghèo, tạm gác khẩu hiệu chính quyền Xô Viết công - nông - binh thay bằng khẩu hiệu thành lập chính quyền cộng hòa dân chủ Nh vậy, nhiệm vụ dân chủ vẫn thực hiện nhng chỉ tiến hành từng bớc

để phục vụ cho nhiệm vụ dân tộc.

Để tập hợp mọi lực lợng của dân tộc vào nhiệm vụ chủ yếu trớc mắt, Hội nghị chủ trơng thành lập mặt trận thống nhất dân tộc phản đế

Đông Dơng thay cho mặt trận dân chủ Đông Dơng.

Thay đổi phơng pháp đấu tranh từ

đấu tranh đòi quyền dân sinh dân chủ sang đấu tranh trực tiếp đánh

đổ chính quyền của đế quốc và tay sai Từ hoạt động hợp pháp sang hoạt động bí mật và bất hợp pháp

Đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa vũ trang.

Giơng cao ngọn cờ đoàn kết với các lực lợng CMTG do Liên Xô làm trụ cột, phối hợp chặt chẽ với các cuộc

đấu tranh của nhân dân Lào và Cămpuchia

Coi trọng công tác xây dựng Đảng

về mọi mặt, tăng cờng sự thống nhất ý chí và hành động trong

Đảng.

Hội nghị TW lần 6 đã đánh dấu bớc

đầu chuyển hớng đúng đắn về chỉ

đạo chiến lợc và phơng pháp CM của Đảng, mở đầu thời kỳ CM mới - thời kỳ vận động gpdt.

Sau Hội nghị TW 6, phong trào CM

ở nhiều nơi phát triển khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ ngày 27/9/1940, tiếp đó là cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chuẩn bị bùng nổ, qua thất bại của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn cho thấy

rõ sự non kém của lực lợng CM Vì vậy, Tháng 11/1940 Hội nghị TW 7

đã họp tại Đình Bảng - Bắc Ninh

12

Trang 13

đã đề ra chủ trơng mới cho CMVN.

Hội nghị khẳng định chủ trơng

chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc của

CMVN, nêu cao nhiệm vụ gpdt, tạm

gác khẩu hiệu "CM ruộng đất" của

Hội nghị TW 6 là đúng và nhận

định kẻ thù chính của CM Đông

D-ơng lúc bây giờ là phát xít Pháp -

Nhật Nhấn mạnh nhiệm vụ chống

đế quốc phong kiến là hai bộ phận

khăng khít của cuộc CMTS dân

quyền.

Trên cơ sở phân tích tình hình Hội

nghị dự đoán một cao trào CM

nhất định sẽ nổi dậy Đảng phải

chuẩn bị để giành lấy sứ mạng

thiêng liêng là lãnh đạo các dân tộc

bị áp bức Đông Dơng võ trang bạo

động giành lấy quyền tự do độc lập.

Hội nghị đề ra chủ trơng sáng suốt

về 2 cuộc khởi nghĩa: quyết định

phát triển ảnh hởng của khởi nghĩa

Chỉ thị cho xứ ủy Nam Kỳ hoãn

cuộc khởi nghĩa dự định nổ ra vào

cuối tháng 11/1940 vì ở MN cha có

đủ điều kiện chủ quan và khách

quan bảo đảm cho cuộc khởi nghĩa

và tiến công xuống phía nam.

Trong nớc, sau khi Nhật nhảy vào

quyền đóng quân trên toàn cõi

Đông Dơng Hiệp ớc thừa nhận cho

Nhật sử dụng tất cả các sân bay và

buộc Pháp phải cung cấp các nhu

yếu phẩm nh gạo, ngô cho chúng,

bắt dân ta phải nhổ lúa trồng đay

Pháp dùng nhiều thủ đoạn gian

xảo để thu đợc lợi nhuận lớn: nắm

Đông Dơng, tăng cờng bóc lột, thuế, cỡng bức mua lúa gạo với giá

rẻ mạt Đồng thời chúng dùng những thủ đoạn chính trị lừa bịp nh: Nhật tập hợp những phần tử thân Nhật, lập ra các Đảng thân Nhật nh Đại Việt quốc xã, Việt Nam ái quốc, đồng thời tung ra các luận điệu lừa bịp nh khu vực thịnh vợng chung, đại Đông á Còn Pháp thì thi hành chính sách hai mặt:

đàn áp khủng bố, bắt bớ các chiến

sĩ CM và nhân dân ta, mặt khác đa

ra những thủ đoạn lừa bịp hòng làm nhân dân ta lầm tởng chúng là bạn nh khẩu hiệu "Pháp - Việt phục hng"

Chính sách của Nhật - Pháp đã đặt nhân dân Đông Dơng trong tình cảnh 2 tầng áp bức Đời sống của tất cả các tầng lớp g/c bị đẩy đến tình trạng cực khổ điêu đứng Điều này làm cho mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Đông Dơng với đế quốc phát xít Pháp - Nhật trở nên gay gắt hơn bao giờ hết Vận mệnh dân tộc bị nguy vong không lúc nào bằng.

Lúc này, sau hơn 30 năm tìm đờng cứu nớc, hoạt động yêu nớc CM ở nớc ngoài ngày 28/1/1941 đã trở về

Tổ quốc để trực tiếp lãnh đạo phong trào CM Ngời đã triệu tập Hội nghị BCH TW Đảng lần 8 tại Pắc Pó - Cao Bằng từ ngày 10 đến 19/5/1941.

Sau khi phân tích tình hình TG và trong nớc, Hội nghị đã quyết định những vấn đề quan trọng.

Về kẻ thù: từ khi Nhật nhảy vào

Đông Dơng, Pháp đầu hàng Nhật,

ở Đông Dơng mọi hoạt động kinh

tế đều bị chiến tranh hóa, tất cả bộ máy cai trị đều bị phát xít hóa Vì

vậy, mâu thuẫn chủ yếu đòi hỏi phải đợc giải quyết cấp bách là mâu thuẫn giữa các dân tộc Đông Dơng với bọn đế quốc phát xít xâm lợc Pháp - Nhật Xác định kẻ thù của nhân dân Đông Dơng là phát xít Pháp - Nhật và các lực lợng phản CM, tay sai của chúng.

Về nhiệm vụ: khẳng định tiếp tục thực hiện chủ trơng của Hội nghị

TW 6 nhng đề cao hơn nữa nhiệm

vụ gpdt lên hàng đầu và xác định nhiệm vụ bức thiết nhất của CM là gpdt vì quyền lợi của tất cả các g/c

bị chiếm đoạt, vận mạng dân tộc nguy vong không lúc nào bằng

quyền lợi của bộ phận g/c phải đặt dới sự sinh tử tồn vong của quốc gia, của dân tộc Nếu không giải quyết đợc vấn đề giải phóng, không

đòi đợc độc lập tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu

mà quyền lợi của bộ phận, của g/c đến vạn năm cũng không đòi lại đợc.

Về khẩu hiệu, chủ trơng tiếp tục tạm gác khẩu hiệu tịch thu ruộng

đất của g/c địa chủ chia cho dân cày, thay bằng khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo, giảm tô giảm tức, chia lại ruộng đất công, tiến tới thực hiện "ngời cày

có ruộng" Nh vậy, vấn đề ruộng

đất (nhiệm vụ dân chủ) chỉ đợc đề

ra ở một mức độ nhất định để phân hóa g/c địa chủ Để tập trung mũi nhọn CM vào kẻ thù chính là bọn phát xít Pháp - Nhật.

Về tổ chức mặt trận: căn cứ vào hoàn cảnh của TG và tình hình CM mỗi nớc Đông Dơng, Hội nghị đã

đặt vấn đề dân tộc trong phạm vi từng nớc: Việt Nam, Lào, Cămpuchia để đánh thức tinh thần dân tộc xa nay trong nhân dân Vì

vậy, hình thức mặt trận cũng phải

đổi mới cho có tính dân tộc hơn

Song các dân tộc Đông Dơng phải cùng nhau chống kẻ thù chung là Pháp - Nhật và liên hệ mật thiết với Liên Xô, với các lực lợng dân chủ chống phát xít ở Việt Nam, quyết

định thành lập Việt Nam độc lập

đồng minh (Việt Minh) thay thế cho mặt trận thống nhất dân tộc phản

đế Đông Dơng Các đoàn thể quần chúng đợc tổ chức thành các hội cứu quốc nhằm tập hợp đoàn kết mọi lực lợng quần chúng nhân dân chống kẻ thù chính là phát xít Pháp

- Nhật và tay sai ở Lào và Cămpuchia Hội nghị chủ trơng giúp đỡ 2 nớc thành lập mặt trận của mình đó là "Ai Lao độc lập

đồng minh" và "Cao Miên độc lập

đồng minh" Trên cơ sở ra đời 3 mặt trận ở 3 nớc tiến tới thành lập mặt trận chung với hình thức phù hợp là Đông Dơng độc lập đồng minh.

Hội nghị chủ trơng sau khởi nghĩa thắng lợi sẽ thành lập nớc VNDCCH lấy lá cờ đỏ sao vàng làm lá cờ Tổ quốc.

Về phơng pháp CM, một trong những chủ trơng quan trọng nhất

về khởi nghĩa vũ trang - vấn đề này Hội nghị 6 và 7 đã có dự kiến Đến lúc này, do có kinh nghiệm của các cuộc khởi nghĩa vũ trang nh Bắc Sơn, Nam Kỳ và những dự đoán sáng suốt xu thế phát triển của tình hình TG, trong nớc, Hội nghị đã có những chủ trơng đúng đắn.

Phải xúc tiến ngay công tác chuẩn

bị những điều kiện cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành thắng lợi, coi

đây là nhiệm vụ trung tâm của toàn

Đảng, toàn dân.

Hội nghị vạch rõ khởi nghĩa muốn thắng lợi phải chuẩn bị chu đáo, phải nổ ra đúng thời cơ "Phải luôn luôn chuẩn bị một lực lợng sẵn sàng nhằm vào cơ hội thuận tiện hơn cả mà đánh lại quân thù tức là phải có đủ điều kiện chủ quan và khách quan".

Hội nghị dự kiến tình thế CM xuất hiện khi phong trào chống Nhật ở

TQ phát triển mạnh có ảnh hởng tới CMVN hoặc khi quân đồng minh đổ bộ vào Đông Dơng đánh Nhật và dự kiến hình thức khởi nghĩa giành chính quyền là đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa Hội nghị chỉ rõ: mai

đây sau cuộc chiến tranh TBD và cuộc k/c của nhân dân TQ xoay sang hoàn toàn có lợi cho cuộc CM

Đông Dơng thì lúc đó với lực lợng sẵn có ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng

địa phơng cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đờng cho cuộc tổng khởi nghĩa to lớn.

Phát động quần chúng nổi dậy đấu tranh dới nhiều hình thức phù hợp với tình hình mới Hội nghị cử ra BCH TW Đảng do đồng chí Trờng Chinh làm tổng bí th.

Hội nghị BCH TW Đảng lần 8 có ý nghĩa lịch sử to lớn Hội nghị đã

hoàn chỉnh chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc CM của Đảng đề ra từ hội nghị TW lần 6: kiên quyết giơng cao ngọn cờ gpdt, giải quyết đúng

đắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lợc chống đế quốc, chống phong kiến và đề ra phơng pháp

CM cụ thể.

Việc chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc

CM của hội nghị có tác dụng quyết

định trong việc động viên toàn

Đảng, toàn dân ta tích cực chuẩn bị tiến tới CMT8 Với chủ trơng của Hội nghị, MTVM ra đời và các tổ

triển nhanh chóng Qua đó Đảng ta

đã xây dựng đợc khối đoàn kết toàn dân vững chắc, lực lợng CM đợc nuôi dỡng từ các giai đoạn trớc đến lúc này ngày càng phát triển Lực l- ợng chính trị của quần chúng lớn mạnh rồi lực lợng vũ trang lần lợt

ra đời Các căn cứ địa CM đợc thành lập phong trào đấu tranh phát triển mạnh mẽ rộng khắp nông thôn và đô thị.

Chủ trơng giải quyết vấn đề dân tộc theo phạm vi từng nớc và thành lập mặt trận dân tộc thống nhất phù hợp đã thức tỉnh ý thức dân tộc, tinh thần đấu tranh tự giải phóng

và phát huy sức mạnh của mỗi dân tộc ở Đông Dơng.

Chính vì vậy, Hội nghị TW 8 có tác dụng quyết định đối với thắng lợi của CMT8/1945 Nghị quyết của Hội nghị đồng thời cũng đã góp phần bổ sung, phát triển lý luận về

CM DTDC ở nớc ta Sự kiện này cũng thể hiện sự đóng góp của NAQ trong buổi đầu về nớc trực tiếp lãnh đạo CM nớc ta.

Đề 11: Hội nghị TW lần thứ 8 của Đảng ta (tháng 5/1941).

Bài làm.

Lúc này, sau hơn 30 năm tìm đờng cứu nớc, hoạt động yêu nớc CM ở nớc ngoài ngày 28/1/1941 đã trở về

Tổ quốc để trực tiếp lãnh đạo phong trào CM Ngời đã triệu tập Hội nghị BCH TW Đảng lần 8 tại Pắc Pó - Cao Bằng từ ngày 10 đến 19/5/1941.

Sau khi phân tích tình hình TG và trong nớc, Hội nghị đã quyết định những vấn đề quan trọng.

Về kẻ thù: từ khi Nhật nhảy vào

Đông Dơng, Pháp đầu hàng Nhật,

ở Đông Dơng mọi hoạt động kinh

tế đều bị chiến tranh hóa, tất cả bộ máy cai trị đều bị phát xít hóa Vì

vậy, mâu thuẫn chủ yếu đòi hỏi phải đợc giải quyết cấp bách là mâu thuẫn giữa các dân tộc Đông Dơng với bọn đế quốc phát xít xâm lợc Pháp - Nhật Xác định kẻ thù của nhân dân Đông Dơng là phát xít Pháp - Nhật và các lực lợng phản CM, tay sai của chúng.

Về nhiệm vụ: khẳng định tiếp tục thực hiện chủ trơng của Hội nghị

TW 6 nhng đề cao hơn nữa nhiệm

vụ gpdt lên hàng đầu và xác định nhiệm vụ bức thiết nhất của CM là

bị chiếm đoạt, vận mạng dân tộc nguy vong không lúc nào bằng

Hội nghị chỉ rõ: trong lúc này quyền lợi của bộ phận g/c phải đặt dới sự sinh tử tồn vong của quốc gia, của dân tộc Nếu không giải quyết đợc vấn đề giải phóng, không

đòi đợc độc lập tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu

mà quyền lợi của bộ phận, của g/c đến vạn năm cũng không đòi lại đợc.

Về khẩu hiệu, chủ trơng tiếp tục tạm gác khẩu hiệu tịch thu ruộng

đất của g/c địa chủ chia cho dân cày, thay bằng khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo, giảm tô giảm tức, chia lại ruộng đất công, tiến tới thực hiện "ngời cày

có ruộng" Nh vậy, vấn đề ruộng

đất (nhiệm vụ dân chủ) chỉ đợc đề

ra ở một mức độ nhất định để phân hóa g/c địa chủ Để tập trung mũi nhọn CM vào kẻ thù chính là bọn phát xít Pháp - Nhật.

Về tổ chức mặt trận: căn cứ vào hoàn cảnh của TG và tình hình CM mỗi nớc Đông Dơng, Hội nghị đã

đặt vấn đề dân tộc trong phạm vi từng nớc: Việt Nam, Lào, Cămpuchia để đánh thức tinh thần dân tộc xa nay trong nhân dân Vì

vậy, hình thức mặt trận cũng phải

đổi mới cho có tính dân tộc hơn

Song các dân tộc Đông Dơng phải cùng nhau chống kẻ thù chung là Pháp - Nhật và liên hệ mật thiết với Liên Xô, với các lực lợng dân chủ chống phát xít ở Việt Nam, quyết

định thành lập Việt Nam độc lập

đồng minh (Việt Minh) thay thế cho mặt trận thống nhất dân tộc phản

đế Đông Dơng Các đoàn thể quần chúng đợc tổ chức thành các hội cứu quốc nhằm tập hợp đoàn kết mọi lực lợng quần chúng nhân dân chống kẻ thù chính là phát xít Pháp

- Nhật và tay sai ở Lào và Cămpuchia Hội nghị chủ trơng giúp đỡ 2 nớc thành lập mặt trận của mình đó là "Ai Lao độc lập

đồng minh" và "Cao Miên độc lập

đồng minh" Trên cơ sở ra đời 3 mặt trận ở 3 nớc tiến tới thành lập mặt trận chung với hình thức phù hợp là Đông Dơng độc lập đồng minh.

Hội nghị chủ trơng sau khởi nghĩa thắng lợi sẽ thành lập nớc

lá cờ Tổ quốc.

Về phơng pháp CM, một trong những chủ trơng quan trọng nhất của Hội nghị lần này là chủ trơng

về khởi nghĩa vũ trang - vấn đề này Hội nghị 6 và 7 đã có dự kiến Đến lúc này, do có kinh nghiệm của các cuộc khởi nghĩa vũ trang nh Bắc Sơn, Nam Kỳ và những dự đoán sáng suốt xu thế phát triển của tình hình TG, trong nớc, Hội nghị đã có những chủ trơng đúng đắn.

Phải xúc tiến ngay công tác chuẩn

bị những điều kiện cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành thắng lợi, coi

đây là nhiệm vụ trung tâm của toàn

Đảng, toàn dân.

Hội nghị vạch rõ khởi nghĩa muốn thắng lợi phải chuẩn bị chu đáo, phải nổ ra đúng thời cơ "Phải luôn luôn chuẩn bị một lực lợng sẵn sàng nhằm vào cơ hội thuận tiện hơn cả mà đánh lại quân thù tức là phải có đủ điều kiện chủ quan và khách quan".

Hội nghị dự kiến tình thế CM xuất hiện khi phong trào chống Nhật ở

TQ phát triển mạnh có ảnh hởng tới CMVN hoặc khi quân đồng minh đổ bộ vào Đông Dơng đánh Nhật và dự kiến hình thức khởi nghĩa giành chính quyền là đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa Hội nghị chỉ rõ: mai

đây sau cuộc chiến tranh TBD và cuộc k/c của nhân dân TQ xoay sang hoàn toàn có lợi cho cuộc CM

Đông Dơng thì lúc đó với lực lợng sẵn có ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng

địa phơng cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đờng cho cuộc tổng khởi nghĩa to lớn.

Phát động quần chúng nổi dậy đấu tranh dới nhiều hình thức phù hợp với tình hình mới Hội nghị cử ra BCH TW Đảng do đồng chí Trờng Chinh làm tổng bí th.

Hội nghị BCH TW Đảng lần 8 có ý nghĩa lịch sử to lớn Hội nghị đã

hoàn chỉnh chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc CM của Đảng đề ra từ hội nghị TW lần 6: kiên quyết giơng cao ngọn cờ gpdt, giải quyết đúng

đắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lợc chống đế quốc, chống phong kiến và đề ra phơng pháp

CM cụ thể.

Việc chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc

CM của hội nghị có tác dụng quyết

Đảng, toàn dân ta tích cực chuẩn bị tiến tới CMT8 Với chủ trơng của Hội nghị, MTVM ra đời và các tổ chức quần chúng của mặt trận phát triển nhanh chóng Qua đó Đảng ta

đã xây dựng đợc khối đoàn kết toàn dân vững chắc, lực lợng CM đợc nuôi dỡng từ các giai đoạn trớc đến lúc này ngày càng phát triển Lực l- ợng chính trị của quần chúng lớn mạnh rồi lực lợng vũ trang lần lợt

ra đời Các căn cứ địa CM đợc thành lập phong trào đấu tranh phát triển mạnh mẽ rộng khắp nông thôn và đô thị.

Chủ trơng giải quyết vấn đề dân tộc theo phạm vi từng nớc và thành lập mặt trận dân tộc thống nhất phù hợp đã thức tỉnh ý thức dân tộc, tinh thần đấu tranh tự giải phóng

và phát huy sức mạnh của mỗi dân tộc ở Đông Dơng.

Chính vì vậy, Hội nghị TW 8 có tác dụng quyết định đối với thắng lợi của CMT8/1945 Nghị quyết của Hội nghị đồng thời cũng đã góp phần bổ sung, phát triển lý luận về

CM DTDC ở nớc ta Sự kiện này cũng thể hiện sự đóng góp của NAQ trong buổi đầu về nớc trực tiếp lãnh đạo CM nớc ta.

Đề 12: Trình bày việc xây dựng lực lợng chính trị.

Bài làm.

CM muốn thắng lợi bên cạnh vạch

ra đờng lối đúng còn phải tổ chức xây dựng lực lợng CM bao gồm lực lợng chính trị của quần chúng và lực lợng vũ trang Việc hình thành

và củng cố đạo quân chính trị quần chúng thông qua việc hình thành, củng cố mặt trận dân tộc thống nhất, là một trong những nền tảng cơ sở, điều kiện cần và đủ ảnh hởng trực tiếp và tác động đến tiến trình

CM, là một trong những vấn đề có tầm quan trọng, chiến lợc quyết

định đến sự thành công của CMT8 Trên cơ sở lực lợng chính trị đã đợc hình thành từ các cao trào CM 30 -

31, 36 -39, 39 - 41 và đến thời gian này ngày càng đợc củng cố và phát triển dới sự lãnh đạo của Đảng và MTVM.

Dới ngọn cờ VM với cơng lĩnh 10

điểm, VM đã nhanh chóng trở thành nơi tập hợp khối đoàn kết toàn dân đứng lên cứu nớc cứu

13

Trang 14

rãi, bao gồm tất cả các g/c, tầng lớp

yêu nớc trong xã hội, không phân

biệt giàu nghèo, sang hèn, già trẻ,

gái trai, tôn giáo hay dân tộc (gồm

cả công nhân, nông dân, tiểu t sản,

t sản dân tộc, quan lại tiến bộ )

Họ đợc tập hợp trong các tổ chức

quần chúng đợc gọi là hội Cứu

quốc nh công nhân cứu quốc, nông

dân cứu quốc, đoàn thanh niên cứu

quốc, phụ nữ cứu quốc nhằm nhắc

nhở mọi ngời nhiệm vụ chính của CM

lúc đó là cứu nớc gpdt MTVM là tổ

chức quần chúng vững chắc dựa trên

cơ sở liên minh công nông dới sự lãnh

đạo của Đảng.

Trớc hết là ở Cao Bằng, nơi đợc coi

là thí điểm của cuộc vận động

thành lập hội cứu quốc (năm 1942

hầu khắp các xã, tổng, châu của

Cao Bằng đều có hội cứu quốc)

trong đó có những xã tổng châu thì

ban VM đều hoàn toàn do bầu cử

dân chủ từ dới lên và ban VM liên

bắt, giam cầm giết hại nhng tổ chức

VM với các hội cứu quốc, nông dân

cứu quốc, thanh niên cứu quốc vẫn

nhanh chóng phát triển ở một số

tỉnh miền Bắc, miền Trung và ở hai

thành phố lớn là Hà Nội, Hải

Phòng hầu hết các "hội phản đế"

đ-ợc chuyển thành các "hội cứu quốc"

Đồng thời còn lập thêm nhiều hội cứu

cụ thể về công cuộc chuẩn bị toàn

diện cho khởi nghĩa nh nhấn mạnh

tầm quan trọng của việc phát triển

MTVM, xây dựng lực lợng ở thành

nhân dân khác nh học sinh, sinh viên, trí thức t sản dân tộc vào MTVM Chủ trơng tăng cờng vận

động binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp Thậm chí tranh thủ cả những ngời ngoại kiều ở Đông Dơng chống Pháp ở miền Bắc dới

sự lãnh đạo của các đảng bộ địa phơng, trên hầu khắp các vùng nông thôn, thành thị, các đoàn thể

VM, các hội cứu quốc đợc xây dựng

và củng cố Tại Hà Nội tổ chức VM

đợc xây dựng trong nhiều nhà máy, trờng học (xe lửa Gia Lâm, sửa chữa ô tô Avia, trờng Bởi, trờng kỹ nghệ thực hành ) Đồng thời, phong trào đấu tranh chính trị cũng phát triển, nhiều cuộc bãi công đòi tăng lơng của công nhân

nổ ra ở Hà Nội, Hải Phòng, Uông

Bí, Nghệ An phong trào đấu tranh chống nhổ lúa trồng đay, thầu dầu, chống thu thóc tạ, chống cớp nhà, cớp đất đã lôi cuốn đông

đảo nông dân tham gia.

ở miền Trung phong trào CM cũng phát triển trong nông dân, công nhân và dân nghèo Đặc biệt ở MN sau 2 năm chống khủng bố trắng, phong trào CM trên toàn miền dần dần đợc phục hồi Hệ thống tổ chức cơ sở Đảng đợc xây dựng lại ở nhiều địa phơng Tổ chức VM có cơ

sở ở Sài Gòn - Gia Định, Tây Ninh, hàng chục cuộc đấu tranh của công nhân nổ ra ở Sài Gòn nh đấu tranh của công nhân khuân vác, may mặc, xây dựng chống chế độ ngợc đãi của Nhật, đòi tăng lơng.

Sau Chỉ thị sửa soạn khởi nghĩa ngày 7/5/1944 của Tổng bộ VM và lời kêu gọi sắm vũ khí đuổi thù chung tháng 8/1944 của TW Đảng phong trào trong các hội cứu quốc phát triển mạnh Đặc biệt là ở 2 căn

cứ Bắc Sơn - Vũ Nhai và Cao Bằng quần chúng đã sẵn sàng nổi dậy.

Phong trào VM phát triển chứng tỏ

Đảng ta đã xây dựng đợc lực lợng chính trị to lớn thông qua Tổng bộ

VM Đảng đã phổ biến chủ trơng chính sách của mình đến quần chúng VM là cầu nối giữa Đảng và quần chúng VM là đặc trng cho

chính trị hùng hậu của CM.

Đề 13: Quá trình xây dựng

và vai trò của lực lợng vũ trang đối với sự thắng lợi của CMVN từ năm 1941

đến Tổng khởi nghĩa giành chính quyền (8/1945).

Bài làm.

Bên cạnh lực lợng chính trị là lực ợng vũ trang nhân dân Đó là một trong 2 lực lợng CM không thể thiếu trong khởi nghĩa giành chính quyền đợc Đảng và Bác quan tâm xây dựng.

l-Khi CTTG 2 bùng nổ Pháp tham chiến và bị giam chân trong vòng chiến Để thực hiện âm mu chiến tranh phi nghĩa Pháp đã thực hiện nhiều chính sách hà khắc Đây là

điều gây ra mâu thuẫn dân tộc đợc

đẩy lên cao Phát xít Nhật nhảy vào

Đông Dơng, Pháp đã hèn nhát dâng Đông Dơng cho Nhật Từ đây nhân dân ta phải sống dới ách nô

lệ một cổ hai tròng Đó chính là

điều kiện chín muồi dẫn đến tổng khởi nghĩa Trớc hoàn cảnh đó

Đảng ta đã khẳng định nhiệm vụ giải phóng dân tộc đợc đặt lên hàng đầu Đồng thời với quyết định

đó Đảng ta đã đề cập đến việc khởi nghĩa vũ trang và từng bớc xây dựng lực lợng vũ trang.

Sau khi Nhật vào Đông Dơng, khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ và thất bại

Đảng ta đã triệu tập Hội nghị TW 7 (1940) và điều thành công lớn nhất

là đã đặt hẳn khởi nghĩa vũ trang vào chơng trình nghị sự của CM

Đông Dơng và qua đó Đảng ta đã

quyết định duy trì đội du kích Bắc Sơn, giáo dục rèn luyện để trở thành đội vũ trang tập trung đầu tiên.

Đến Hội nghị TW8 (từ 10 đến 19/5/1941) đồng thời với việc đặt nhiệm vụ dân tộc lên hàng đầu NAQ và TW Đảng đã đa vấn đề khởi nghĩa vũ trang thành nhiệm

vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, chủ trơng đẩy mạnh việc xây dựng lực lợng vũ trang CM của ta Chỉ rõ các điều kiện khách quan thuận lợi để một cuộc khởi nghĩa vũ trang có thể diễn ra và giành thắng lợi Đồng thời cũng chỉ ra con đờng giành chính quyền của CMVN xuất phát

từ khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền

thể nói t tởng chỉ đạo khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa

đợc bắt đầu và xuất phát từ Hội nghị TW lần 7 và đợc hoàn thiện cụ thể ở Hội nghị lần 8 Đây chính là một điểm thể hiện sự sáng tạo của

Đảng ta trong việc vận dụng học thuyết về khởi nghĩa vũ trang của

CN M - L vào điều kiện cụ thể ở nớc ta.

Tại Bắc Sơn - Vũ Nhai sau thất bại của khởi nghĩa Bắc Sơn, TW Đảng chủ trơng duy trì, bồi dỡng lực lợng

vũ trang ra đời trong khởi nghĩa để làm cái vốn đầu tiên cho CM Đội

du kích Bắc Sơn lớn dần lên Đầu năm 1941 thành lập trung đội Việt Nam cứu quốc quân gồm 30 chiến

sĩ Vừa thành lập "Cứu quốc quân" đã lao ngay vào cuộc chiến

bộ phận nhỏ tiến hành vũ trang tuyên truyền gây dựng cơ sở chính trị trong quần chúng Cả hai bộ phận cứu quốc quân đó trong quá

trình hoạt động tiếp tục phát triển thêm lực lợng Đến tháng 9/1941 trung đội cứu quốc quân 2 với 47 chiến sĩ đợc thành lập.

Cứu quốc quân hoạt động mạnh,

mở rộng khu căn cứ rèn luyện ở các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phú Thọ, Bắc Ninh trong quá trình đó lực lợng cứu quốc quân phát triển thêm một trung đội nữa vào tháng 2/1944.

ở Cao Bằng trên cơ sở các tổ chức chính trị của quần chúng đợc xây dựng và củng cố, lực lợng vũ trang nhân dân đã ra đời Cuối 1941, NAQ quyết định thành lập đội tự vệ

vũ trang làm nhiệm vụ bảo vệ cơ

quan đầu não của Đảng, giao thông liên lạc và huấn luyện tự vệ cứu quốc để chuẩn bị cho việc xây dựng lực lợng vũ trang nhân dân

và thúc đẩy cơ sở chính trị phát triển Ngời đã tổ chức nhiều lớp huấn luyện chính trị, quân sự Tiếp

đó khi khắp nơi trong tỉnh sôi nổi không khí chuẩn bị khởi nghĩa thì

nhiều đội tự vệ vũ trang, đội du kích

đợc thành lập thêm và nhiều lớp huấn luyện chính trị, quân sự liên tiếp đợc mở.

bị khởi nghĩa, từ ngày 25 đến 28/2/1943 Ban Thờng vụ TW Đảng

đã họp hội nghị ở Võng La, phân tích tình hình và nhận định toàn bộ công tác của Đảng phải nhằm vào chuẩn bị lực lợng vũ trang để khi thời cơ đến kịp thời lãnh đạo quần chúng nhân dân chiến đấu Ngày 7/5/1944 Tổng bộ VM ra Chỉ thị sửa soạn khởi nghĩa đón thời cơ Vì

thời cơ không phải tự nó đến, một phần do ta sửa soạn nó, phong trào

CM phát triển mạnh, khắp nơi nhân dân hăng hái góp tiền mua vũ khí, ra sức huấn luyện quân sự, củng cố và phát triển các đội tự vệ.

Tháng 11/1944, ở Vũ Nhai - Thái Nguyên một cuộc khởi nghĩa đã nổ

ra quá sớm làm cho lực lợng CM ở

đây bị tổn thất TW Đảng đã Chỉ thị chuyển hớng hoạt động để bảo toàn lực lợng Cùng thời gian trên, trong không khí sôi sục CM của quần chúng, ở Cao - Bắc - Lạng, một cuộc khởi nghĩa vũ trang sắp đợc phát động, đúng lúc đó (tháng 10/1944) NAQ trở lại Cao Bằng Ngời đã quyết định hoãn kế hoạch khởi nghĩa vì chủ trơng ấy mới chỉ căn cứ vào tình hình địa phơng mà ch-

a căn cứ vào tình hình cụ thể trong cả

đợc chiến thắng liền trong 2 trận, tiêu diệt gọn hai đồn Phay Khắt và

cứ C - B - L, cổ vũ và thúc đẩy phong trào CM cả nớc Các đội vũ trang tuyên truyền và tự vệ chiến

đấu ở Cao Bằng cũng phát triển

Tại Thái Nguyên, Cứu quốc quân phát động chiến tranh du kích hạ

đồn chợ Chu, tiến đánh Chiêm Hóa

Yên, Phú Thọ.

Tháng 4/1945, Đảng đã quyết định thành lập ủy ban quân sự Bắc Kỳ chỉ huy các lực lợng vũ trang ở miền Bắc, Đông Dơng hoạt động cho thống nhất Đồng thời, hỗ trợ cho các lực lợng vũ trang miền Nam Đông Dơng Hội nghị đã

quyết định hợp nhất VNTTGPQ với Cứu quốc quân vào tháng 5/1945 thành VNGPQ Đây là lực lợng quân chủ lực, tổ chức tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam sau này.

Có thể nói trong quá trình vận

động CMT8 lực lợng vũ trang đóng vai trò quan trọng là nền tảng, là cơ sở bảo vệ cơ quan đầu não của

CM vừa là chỗ dựa vừa là động lực cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng Và đến cao trào kháng Nhật lực lợng vũ trang không chỉ là chỗ dựa cho phong trào đấu tranh CM của quần chúng

mà nó còn đứng ra với lực lợng chính trị khởi nghĩa từng phần

đồng thời đẩy mạnh chiến tranh du kích Trong những ngày tổng khởi nghĩa giành chính quyền lực lợng

vũ trang CM đã cùng với lực lợng chính trị quần chúng quyết định

đến sự thắng lợi của tổng khởi nghĩa tạo nên sự toàn thắng trong phong trào đấu tranh gpdt.

Nh vậy, bên cạnh lực lợng chính trị hùng hậu, Đảng ta đã xây dựng đ-

ợc lực lợng vũ trang Dựa vào 2 lực lợng này Đảng đã phát động 2 hình thức đấu tranh: đấu tranh chính trị

và đấu tranh vũ trang và kết hợp hai hình thức ấy để lật đổ ách thống trị của kẻ thù trong tổng khởi nghĩa tháng 8.

Đề 14: Quá trình xây dựng căn cứ địa CM.

khu an toàn vẫn đợc giữ vững và củng

cố còn xây dựng mới những khu du kích, căn cứ địa CM rộng lớn ở nông thôn, vùng núi cho cấp TW, các cấp khu, tỉnh, huyện và xã Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn thất bại, đội du kích Bắc Sơn đợc duy trì, Đảng và Bác đã

chủ trơng xây dựng Bắc Sơn, Vũ Nhai thành căn cứ địa CM dựa trên cơ sở hoạt động của lực lợng vũ trang.

Đầu 1941 sau khi về nớc NAQ đã

chọn Cao Bằng làm nơi thực hiện thí

điểm chính sách mặt trận, chính sách

đoàn kết dân tộc và xây dựng Pắc Pó - Cao Bằng thành căn cứ địa CM dựa trên cơ sở hoạt động của lực lợng chính trị Từ Pắc Pó căn cứ địa dần đ-

ợc mở rộng ra nhiều nơi thuộc tỉnh Cao Bằng.

Tháng 8/1943 đoàn Nam Tiến từ Cao Bằng gặp đội cứu quốc quân trong đoàn "Bắc Tiến" ở chợ Đồn - Bắc Kạn Hai trung tâm căn cứ địa Bắc Sơn - Vũ Nhai và Cao Bằng đ-

ợc nối liền với nhau bằng một hành lang chính trị rộng lớn Từ 2 căn cứ Bắc Sơn - Vũ Nhai và Cao Bằng, căn cứ địa của ta dần dần mở rộng

ở 3 tỉnh C - B - L và từ C - B - L mở rộng dần xuống các tỉnh miền xuôi.

Từ 1944 đến 1945, nhiều căn cứ địa mới cũng xuất hiện trong cả nớc

nh Đông Triều, Hoà Ninh Thanh, Sơn La, Nghĩa lộ, Đồng Tháp Mời

nớc.

Đề 15: Quá trình tập dợt cho quần chúng đấu tranh

Chuẩn bị bộ máy lãnh đạo tổng khởi nghĩa.

Bài làm.

CM là sự nghiệp của quần chúng nhng không phải lúc nào, ở đâu họ cũng làm CM và giành đợc thắng lợi Để làm đợc CM quần chúng phải đợc giáo dục, tổ chức giác ngộ, tập dợt đấu tranh Có nh vậy lực l- ợng của quần chúng mới biến thành sức mạnh toàn dân Nhận thức rõ điều này ngay từ khi mới ra đời Đảng ta đã luôn luôn kiên trì vận động quần chúng từ cao trào 30 - 31 Đảng đã lôi cuốn đ-

ợc đông đảo quần chúng tham gia nhất là công nông Qua phong trào khối công - nông liên minh đợc hình thành Tiếp đến cuộc vận

động dân chủ 36 - 39 hàng triệu lợt quần chúng đợc huy động xuống đ- ờng Đội quân chính trị to lớn của

CM đợc hình thành.

Trong phong trào phản đế 39 - 45, quần chúng đợc tập hợp trong mặt trận dân tộc thống nhất phản đế

Đông Dơng và tiếp tục đợc rèn luyện đấu tranh Tiêu biểu là qua 2 cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn - Nam Kỳ Khi MTVM ra đời (1941) dới sự lãnh đạo của mặt trận, phong trào

VM phát triển mạnh mẽ Đặc biệt trong chiến tranh kháng Nhật cứu nớc - cao trào tiền khởi nghĩa (tháng 3 đến tháng 8/1945) Đảng

đã lãnh đạo phong trào phá kho thóc biến thành những cuộc đấu tranh chính trị, những cuộc biểu tình vũ trang, tuyên truyền ủng hộ

VM Phong trào này đã lôi cuốn hàng triệu quần chúng tham gia Qua đấu tranh quần chúng càng nung nấu lòng căm thù đối với giặc Nhật và tay sai Đồng thời phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân ở đô thị cũng đợc phát triển

Do đó phong trào thi đua sắm vũ khí đánh đuổi quân thù rất sôi nổi

đâu đâu ngời dân cũng bí mật may

cờ, rèn vũ khí vì vậy đây thực sự là cuộc tập dợt để đa quần chúng tiến lên giành chính quyền Quân Nhật

và bọn tay sai đứng trớc tình thế giống nh một bãi cỏ khô đặt cạnh một đám than hồng Chỉ chờ một luồng gió mạnh thổi tới là sẽ làm

14

Trang 15

chúng Tất cả quần chúng đều sẵn

sàng chỉ chờ cơ hội là xuống đờng

tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Khi đợc tin Nhật đầu hàng đồng

minh không điều kiện: 14/8/1945

Hội nghị toàn quốc của Đảng đã

họp từ 13 đến 15/8/1945 đã phân

tích tình hình và nhận định kẻ thù

chính của nhân dân ta là phát xít

Nhật, chính phủ bù nhìn Trần

Trọng Kim đang hoang mang lúng

túng, hội nghị đã chỉ rõ trớc khi

quân đồng minh cha kéo vào nớc

tập Quốc dân đại hội Tân Trào

tham dự đại hội có 60 đại biểu đại

diện cho nhân dân 3 miền B - T - N,

cho các đảng phái tôn giáo dới sự

chủ trì của HCM, đại hội đã họp từ

16 đến 17/8/1945 thảo luận và biểu

quyết tán thành chủ trơng tổng

khởi nghĩa của TW Đảng thống

nhất quốc kỳ, quốc ca, đặt tên nớc

và thảo luận bổ sung một số cơ sở

phải thi hành ngay sau khi tổng

khởi nghĩa thắng lợi Cuối cùng đại

hội thông qua mệnh lệnh khởi

nghĩa và quân lệnh khởi nghĩa -

quân lệnh số 1 Nh vậy, Đại hội đã

quyết định những vấn đề hết sức

quan trọng liên quan đến vận mệnh

của đất nớc, chuẩn bị công cuộc

cuối cùng cho tổng khởi nghĩa.

tiến hành chuẩn bị lâu dài, chu đáo

cho cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8

Chính có sự chuẩn bị trong suốt 15

bỏ luận điệu xuyên tắc của các sử

gia t sản cho rằng: CMT8 ở Việt

nổ ra trong một thời cơ bỏ ngỏ - hay CMT8 chẳng qua là ăn may

Mặt khác trên thực tế cũng làm sáng tỏ quan điểm CM không tự nó

đến mà phải chuẩn bị và giành lấy nó.

Là điểm nút của tình thế CM đã

phát triển đến cao độ Thời cơ bùng

nổ và thắng lợi của một cuộc CM là

sự kết hợp nhuần nhuyễn của 3

điều kiện: kẻ thù đã suy yếu đến mức không thể tiếp tục thống trị nh

cũ đợc nữa, đội tiên phong của CM tức Đảng lãnh đạo đã sẵn sàng lãnh đạo CM và khi quần chúng bị thống trị không thể thống trị nh cũ

đợc nữa.

Khi thời cơ đến muốn đa CM đến thắng lợi cần phải nhận thức đúng thời cơ và kiên quyết hành động

CM Và CMT8 nổ ra trong hoàn cảnh thời cơ chín muồi.

Lúc này CTTG 2 đã đi tới những ngày cuối, ở Châu Âu phát xít Đức

đã bị tiêu diệt hoàn toàn, buộc phải

đầu hàng không điều kiện Tháng 5/1945 ở châu á, Nhật ngày càng bại trận Hạm đội của Nhật đã bị hạm đội của Anh - Mỹ đánh tan

Nhật bị cắt đờng tiếp tế trên mặt biển và trở nên cô lập Ngày 8/8/1945 hồng quân Liên Xô tuyên chiến với quân Nhật Trong vòng một tuần lễ, 1 triệu quân Quan

Đông của Nhật bị đánh tan Nhật buộc phải đầu hàng không điều kiện vào ngày 14/8/1945.

Quân Nhật thua trận làm cho bọn Nhật ở Đông Dơng nh rắn mất đầu, hoang mang rệu rã Chính phủ Trần Trọng Kim cùng các hạng tay sai khác của Nhật có chung số phận với chủ đều hoang mang tan rã Kẻ thù không thể thống trị nhân dân ta đợc nữa Quân đồng minh lại cha kịp vào nớc ta, Pháp cha kịp

sang Việt Nam.

Quần chúng CM đã sẵn sàng nổi dậy giành chính quyền, chiến tranh

du kích ở các chiến khu và phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng ở nông thôn, thành thị lan rộng tạo nên một không khí CM sôi sục.

Đảng cộng sản Đông Dơng đã

chuẩn bị đầy đủ, có quyết tâm cao, sẵn sàng lãnh đạo quần chúng giành chính quyền Điều kiện cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền đã chín muồi "thời cơ

ngàn năm có một đã đến" Vì nếu khởi nghĩa trớc 14/8 hoặc sau 28/8

đều không có lợi cho CMVN Trớc 14/8 Nhật còn mạnh, sau 28/8 CM

có nhiều kẻ thù Đảng ta đã kịp thời nắm bắt thời cơ quyết tâm phát

động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, đứng ở vị trí ngời chủ đất n-

ớc mà tiếp đoàn quân đồng minh vào giải giáp quân Nhật Đảng ta kịp thời chớp thời cơ dũng cảm phát động quần chúng tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Đề 17: Hội nghị toàn quốc của Đảng (đêm 13 đến 15/8/1945) và Quốc dân đại hội.

Bài làm

Trớc tình hình biến chuyển mau lẹ,

đêm 13/8 Hội nghị toàn quốc của

đảng đã họp ở Tân Trào - Tuyên Quang, thành phần là đại biểu các

đảng bộ và một số đại biểu ở nớc ngoài.

Hội nghị nhận định những điều kiện cho một cuộc tổng khởi nghĩa

nổ ra chín muồi vì quân lính Nhật tan rã, mất tinh thần Hàng ngũ chỉ huy Nhật ở Đông Dơng chia rẽ đến cực điểm, Việt gian hoảng sợ Hội nghi quyết định phát động tổng khởi nghĩa trong toàn quốc giành chính quyền trớc khi quân đồng minh vào Đông Dơng, Pháp cha kịp tập hợp tàn quân và điều quân viễn chinh vào xâm lợc nớc ta lần nữa

Thành lập ủy ban khởi nghĩa, ủy ban khởi nghĩa ra "quân lệnh số 1" hạ lệnh tổng khởi nghĩa.

Hội nghị đề ra 3 nguyên tắc chỉ đạo khởi nghĩa là tập trung, thống nhất

và kịp thời Đề ra phơng châm hành động là đánh chiếm ngay những nơi chắc thắng không kể thành thị hay nông thôn, phối hợp chặt chẽ chính trị, quân sự làm tan rã tinh thần địch và dụ chúng hàng

quyền ở những nơi đã làm chủ.

Hội nghị còn đề ra một số chính sách đối nội, đối ngoại cần thực hiện sau khi CM thắng lợi: thực hiện 10 chính sách của VM Về đối ngoại thực hiện sách lợc "thêm bạn bớt thù" triệt để lợi dụng mâu thuẫn giữa khối đế quốc Anh - Pháp và Mỹ - Tởng về vấn đề Đông Dơng Hết sức tránh một mình đối phó với nhiều kẻ thù trong một lúc

và tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của Liên Xô, của nhân dân Pháp, nhân dân TQ và loài ngời tiến bộ.

Hội nghị thể hiện sự thiên tài của

Đảng mà đứng đầu là HCT đã nhạy bén nắm bắt thời cơ, kịp thời phát

động quần chúng nổi dậy và đề ra sách lợc đúng đắn đối với bạn và thù.

Tiếp đó là Quốc dân đại hội do Tổng bộ VM triệu tập họp tại Tân Trào từ 16 đến 17/8/1945 Tham dự

đại hội có 60 đại biểu các giới, các

đoàn thể, các dân tộc, các tôn giáo tiêu biểu cho ý chí và nguyện vọng của toàn dân Đại hội đã thông qua bản Nghị quyết lịch sử giành chính quyền toàn quốc, thông qua lệnh tổng khởi nghĩa của Tổng bộ VM

và 10 chính sách lớn của VM.

Đại hội cử ra ủy ban dân tộc giải phóng tức chính phủ lâm thời do HCM làm chủ tịch Đại hội quyết

định lấy lá "cờ đỏ sao vàng" làm quốc kỳ, quốc ca là bài "Tiến quân ca" Đại hội Tân Trào thể hiện sự

đoàn kết nhất trí của toàn dân đối với sự nghiệp của Đảng, biểu thị lòng tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của đảng, HCT, biểu thị quyết tâm thực hiện chủ trơng tổng khởi nghĩa của nhân dân ta.

Sau đó HCT đã gửi tới đồng bào cả

nớc lời kêu gọi nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền :"Giờ quyết định vận mệnh Tổ quốc đã

đến toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta, chúng ta không thể chậm trễ tiến lên! tiến lên! dới lá cờ VM! đồng bào hãy dũng cảm tiến lên".

Nh vậy, thực tế trên chứng tỏ rằng

Đảng ta không chỉ có đờng lối chủ

tr-ơng đúng đắn mà còn nắm vững nghệ thuật CM Mặt khác, cũng thể hiện quyết tâm cao nên đã đa CMT8 đến thắng lợi.

Đề 18: Tổng khởi nghĩa và

sự ra đời của nớc VNDCCH.

bài làm.

Hởng ứng lệnh tổng khởi nghĩa của

Đảng, lời kêu gọi của HCT, đồng

tề đứng lên với tinh thần dù hy sinh tời đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Tr- ờng Sơn cũng phải dành cho đợc

độc lập.

Chiều ngày 16/8/1945, sau khi nhận đợc mệnh lệnh, một đơn vị quân giải phóng do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy xuất phát từ Tân Trào tiến về giải phóng thị xã

Thái Nguyên mở đầu cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền Tại vùng căn cứ địa sau khi nhận mệnh lệnh tổng khởi nghĩa, các lực lợng

vũ trang của ta (vũ trang tập trung

và địa phơng) đã gấp rút tỏa đi nhiều hớng lãnh đạo quần chúng nổi dậy khởi nghĩa, khởi nghĩa đến

giành đợc chính quyền ở tỉnh lị sớm nhất trong cả nớc.

ở Hà Nội, ngày 15/8 lệng khởi nghĩa về tới Hà Nội, ủy ban quân

sự CM Hà Nội (ủy ban khởi nghĩa)

đã đợc thành lập ủy ban đã khẩn trơng hoàn thành tốt kế hoạch khởi nghĩa Quần chúng CM ở nội thành đã sẵn sàng xuống đờng, tầng lớp trung gian ngả về phía

CM Cuộc mít tinh ngày 17/8 do bọn thân Nhật tổ chức đã biến thành mít tinh ủng hộ VM Chính quyền bù nhìn rệu rã đến cực điểm:

khâm sai Bắc Kỳ bỏ nhiệm sở ở Hà Nội Nh vậy điều kiện khởi nghĩa ở

Hà Nội đã chín muồi, nhân dân đã

kịp thời đứng lên khởi nghĩa Ngày 19/8/1945 hàng chục vạn ngời dân ngoại thành có vũ trang mang băng cờ, biểu ngữ khẩu hiệu đấu tranh kéo qua các cửa ô tiến vào thành phố Phối hợp với đông đảo quần chúng nội thành với khí thế

CM sục sôi, quần chúng rầm rập tiến về quảng trờng Nhà hát lớn dự cuộc mít tinh do VM tổ chức Một rừng cờ sao vàng mọc lên, quần chúng hát vang các bài ca CM và hô vang khẩu hiệu "đả đảo xâm lăng", "đả đảo chính phủ bù nhìn

Minh", "Việt Nam hoàn toàn độc lập" Khoảng 10 giờ sáng cuộc mít tinh bắt đầu Sau một loạt súng chào cờ bài "Tiến quân ca" vang lên, đại biểu của ủy ban quân sự

CM đọc lời hiệu triệu khởi nghĩa của VM Khoảng 11 giờ 30 ' cuộc mít tinh lớn nhanh chóng chuyển thành cuộc biểu tình tuần hành vũ trang đánh chiếm các cơ quan đầu não của địch: phủ khâm sai, sở mật thám, sở Cảnh sát, trại bảo an binh,

sở bu điện, ga hàng cỏ, đài phát thanh trớc khí thế của quần chúng khởi nghĩa, bọn địch chống

cự yếu ớt, chính quyền hoàn toàn về tay nhân dân.

Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa ở ngày 19/8 đã có tiếng vang nhanh trong cả nớc, có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ các tỉnh và các thành phố khác, làm tăng thêm cuộc khủng hoảng trong hàng ngũ kẻ thù tạo

điều kiện thuận lợi cho tổng khởi nghĩa.

Huế là trung tâm chính trị lớn của

địch ở miền Trung, là dinh lũy chủ yếu của chính quyền phong kiến

Mờ sáng ngày 23/8/1945, Đảng bộ

và ủy ban Thừa Thiên Huế đã huy

động quần chúng các huyện ngoại thành đã giành đợc chính quyền phối hợp với công nhân, thanh niên, sinh viên trong nội thành tới hơn 15 vạn ngời, tiến hành cuộc biểu dơng lực lợng Trớc sức mạnh

nh nớc vỡ bờ của quần chúng, bộ máy chính quyền bù nhìn hoàn thành tê liệt, quân đội Nhật nằm

im Quần chúng khởi nghĩa lần lợt chiếm các công sở của địch mà không có sự kháng cự nào đáng kể

Khởi nghĩa ở Huế thắng lợi góp phần thúc đẩy khởi nghĩa ở các địa phơng còn lại nhanh hơn.

ở Sài Gòn đợc tin thủ đô Hà Nội và Huế giành chính quyền, Đảng bộ miền Nam và Sài Gòn quyết định phát động quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền ở Sài Gòn và các tỉnh Đêm 24/8 hơn 1 triệu quần chúng khởi nghĩa đã biểu tình thị uy Lần lợt chiếm các công

sở quan trọng của địch nh sở mật thám, nha Cảnh sát, nhà ga, bu

điện Quân đội Nhật "án binh bất

động" chỉ có sự chống cự yếu ớt của bọn ngoan cố ở sở mật thám catinát nhng nhanh chóng bị dập tắt Chỉ trong ngày 25/8 khởi nghĩa

ở Sài Gòn đã thành công Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa ở Sài Gòn có ý nghĩa quyết định đến cuộc khởi nghĩa của các tỉnh còn lại ở MN

Cuối cùng, ngày 28/8, các nơi khác còn lại ở Nam Bộ, Đồng Nai Th- ợng, Hà Tiên kể cả Côn Đảo chính quyền đã về tay nhân dân.

tuần hành thị uy có vũ trang thô sơ, tiến hành khởi nghĩa đập tan chính quyền địch Một số cuộc tấn công quân sự đã diễn ra ở một số nơi nh

Hà Đông, Thái Nguyên, Tuyên Quang Trớc sức mạnh của CM, chính quyền địch bị tan rã nhanh chóng, trong vòng 15 ngày tổng khởi nghĩa đã thành công trong cả

nớc.

Từ ngày 25/8/1945 HCT cùng với

TW và ủy ban dân tộc giải phóng

từ Tân Trào về tới Hà Nội Theo đề nghị của Ngời, ủy ban dân tộc giải phóng do Đại hội quốc dân Tân Trào bầu ra cải tổ thành chính phủ lâm thời nớc VNDCCH.

Ngày 28/8 một phái đoàn của chính phủ lâm thời từ Hà Nội vào Huế dự

lễ thoái vị của Bảo Đại Ngày 30/8 trớc cuộc mít tinh của hàng vạn quần chúng tại Ngọ môn Huế, Bảo

Đại đọc lời thoái vị, nộp ấn kiếm cho chính quyền CM Cờ của Chính phủ bù nhìn hạ xuống, lá cờ

đỏ sao vàng từ từ kéo lên đánh dấu

sự chấm dứt của chính quyền thực dân phong kiến ở nớc ta.

Ngày 2/9/1945 tại Quảng trờng Ba

Đình - Hà Nội, HCT đã thay mặt chính phủ lâm thời đọc tuyên ngôn

nông thôn, thành thị bao gồm mọi hình thức đấu tranh trong đó lực l- ợng chính trị có vũ trang thô sơ giữ

vai trò chủ yếu Lực lợng vũ trang

đóng vai trò xung kích để đập tan chính quyền địch trong khởi nghĩa giành chính quyền.

Đề 19: Tính chất, ý nghĩa, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm của CMT8.

Thắng lợi của CMT8 có ý nghĩa lịch sử to lớn không những đối với

đất nớc mà còn cả TG Đối với đất nớc: CMT8 là một sự kiện vĩ đại trong lịch sử tiến hóa của dân tộc,

đã phá tan xiềng xích nô lệ của

thực dân Pháp trong hơn 80 năm, lật nhào chế độ quân chủ chuyên chế ngót chục TK của nớc ta lập nên nớc VNDCCH.

Với thắng lợi của CMT8, Việt Nam

từ một nớc thuộc địa trở thành một nớc độc lập tự do dới hình thức thể cộng hòa dân chủ Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành ngời chủ đất nớc, làm chủ vận mệnh của mình, Đảng ta từ hoạt

động bí mật, bất hợp pháp trở thành Đảng cầm quyền Thắng lợi của CMT8 đã mở ra kỉ nguyên mới của đất nớc: kỉ nguyên

độc lập tự do, nhân dân lao động nắm chính quyền, làm chủ đất nớc, làm chủ vận mạng dân tộc Vì vậy, sau thắng lợi của tổng khởi nghĩa tháng 8 chính quyền về tay nhân dân, CM có những điều kiện để tiến những bớc dài trên con đờng tiến lên hoàn thành gpdt Đó là bớc nhảy vọt đầu tiên trong lịch sử CMVN dới sự lãnh đạo của đảng.

Đối với TG, thắng lợi của CMT8 là thắng lợi của cuộc CM gpdt ở một nớc thuộc địa nửa phong kiến bằng chính sức của mình, bằng việc đem sức ta mà tự giải phóng cho ta Nó

đã góp phần vào chiến thắng chủ nghĩa phát xít ở CTTG 2 Đánh bại một bớc chủ nghĩa thực dân cũ của Pháp Đây là thắng lợi vĩ đại của một dân tộc vốn là thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, đã cổ vũ mạnh

mẽ phong trào CMTG đặc biệt là phong trào gpdt ở châu á, Phi, Mỹ

La tinh Trực tiếp làm thay đổi cục diện chính trị ở Đông Dơng Tạo

điều kiện thuận lợi cho 2 nớc láng giềng anh em Lào và Cămpuchia

đấu tranh giành độc lập CMT8 thành công là thắng lợi của

t tởng độc lập tự do của HCT của ờng lối CM gpdt theo đờng lối CMVS Nó đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm làm phong phú kho tàng lý luận CM của CN M - L Thắng lợi của CMT8 không phải ngẫu nhiên, mà nó do rất nhiều nguyên nhân đem lại.

Về mặt khách quan, CMT8 thành công một mặt là do hoàn cảnh thuận lợi, hồng quân Liên Xô và các lực lợng đồng minh chiến thắng CNPX, trực tiếp là phát xít Nhật đã góp phần tạo nên thời cơ vô cùng thuận lợi cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền Phát xít

15

Trang 16

trực tiếp trớc mắt của CM nớc ta

cùng với Chính phủ bù nhìn Trần

Trọng Kim hoang mang tê liệt Tuy

nhiên, điều kiện khách quan đó chỉ

chỉ đạo chiến lợc thể hiện qua Nghị

quyết Hội nghị TW 6, 7, 8 Đờng lối

giơng cao ngọn cờ độc lập dân tộc,

đặt nhiệm vụ gpdt lên hàng đầu đã

thể hiện sự đúng đắn, sáng tạo

phản ánh đúng thực tế Việt Nam

trong xu thế phát triển của TG

Nhờ đó Đảng đã khơi dậy phát huy

sẵn sàng khi điều kiện khách quan

thuận lợi đến Đảng đã kịp thời

chớp thời cơ phát động quần chúng

nổi dậy Sử dụng khéo léo các lực

l-ợng chính trị, lực ll-ợng vũ trang CM

trong tổng khởi nghĩa giàng chính

quyền đấu tranh chính trị kết hợp

với đấu tranh vũ trang, đi từ khởi

nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi

nghĩa Đây là nhân tố quyết định

thắng lợi của CMT8.

CMT8 đã để lại những bài học kinh

nghiệm vô cùng quý báu làm phong

phú thêm kho tàng lý luận của CN

M - L về CM ở thuộc địa.

Trên cơ sở nắm vững nguyên lý về

mối quan hệ g/c và dân tộc, quan

điểm về mối quan hệ giải phóng g/c

và gpdt của Cn M - L Đảng ta đã

giải quyết đúng đắn mối quan hệ

giữa hai nhiệm vụ chiến lợc chống

giơng cao ngọn cờ độc lập dân tộc,

đa nhiệm vụ chống đế quốc và tay sai lên hành đầu nhằm tập trung mọi lực lợng để thực hiện cho kỳ đ-

ợc yêu cầu nóng bỏng của CM là gpdt, giành lấy chính quyền về tay nhân dân lao động Bởi vì nớc ta là một nớc thuộc địa trong g/c phong kiến có một bộ phận nhỏ cũng có lòng yêu nớc Tuy đế quốc và tay sai, phong kiến cấu kết với nhau nhng giữa chúng cũng có mâu thuẫn với nhau về quyền lợi, địa vị

Phong kiến cũng bị đế quốc thống trị, coi khinh, chèn ép Lợi dụng mâu thuẫn này, Đảng ta đã phân hóa hàng ngũ kẻ thù, lôi kéo một

bộ phận trong g/c phong kiến đi với dân tộc làm cho lực lợng CM mạnh hơn, lực lợng kẻ thù suy yếu đi để tiến lên đánh đổ chúng.

Trên cơ sở nắm vững nguyên lý CM

là sự nghiệp của quần chúng, nớc lấy dân làm gốc, dân chúng, công nông làm gốc CM Đảng đã khơi dậy mạnh mẽ tinh thần dân tộc trong mọi tầng lớp nhân dân Tập hợp rộng rãi mọi lực lợng yêu nớc tiến bộ trong mặt trận dân tộc thống nhất mà tiêu biểu là MTVM

Dựa trên cơ sở liên minh công nông vững chắc, lợi dụng mâu thuẫn của

kẻ thù, cô lập cao độ kẻ thù chủ yếu tiến lên đánh đổ chúng Trong thời

kỳ 39 - 45 và trong CMT8 cùng một lúc ta phải đơng đầu với nhiều kẻ thù (Pháp - Nhật, phong kiến, tay sai của Pháp , Nhật) nên phải làm sao phân hóa đợc chúng, từng thời gian xác định cho đợc kẻ thù chính trớc mắt để tập trung mũi nhọn tiêu diệt chúng Cách giải quyết cụ thể của Đảng trong thời kỳ này rất

đúng đắn, linh hoạt Từ 1940 đến trớc khi Nhật đảo chính Pháp,

Đảng nêu lên khẩu hiệu là "đánh

đuổi phát xít Pháp - Nhật", sau đảo chính của Nhật lại nêu khẩu hiệu

"đánh đuổi phát xít Nhật" Ngay trong nội bộ thực dân Pháp Đảng cũng phân biệt đợc những ngời Pháp dân chủ và những ngời Pháp theo Pêtanh Trong nội bộ Nhật ta chia rẽ phái chủ chiến và phái chủ hòa Trong nội bộ tay sai của Pháp

và Nhật Đảng cũng tìm cách phân hóa chúng.

Nắm vững và vận dụng sáng tạo quan điểm CM bạo lực và khởi nghĩa vũ trang của CN M - L Đảng

chính trị với lực lợng vũ trang và căn cứ địa CM kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và chiến tranh du kích Kết hợp phong trào ở nông thôn miền núi với đô

thị, đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa ở cả nông thôn lẫn thành thị mà đòn quyết định nhằm vào các cơ quan đầu não của

địch ở thủ đô và các thành phố quan trọng để giành chính quyền trong cả nớc.

Tích cực chuẩn bị nhanh chóng chớp thời cơ, dũng cảm phát động quần chúng đứng lên giành chính quyền

Chuẩn bị là yếu tố chủ quan, thời cơ là yếu tố khách quan Yếu tố chủ quan bao giờ cũng giữ vai trò quyết định yếu

tố khách quan cũng rất quan trọng

CM muốn thắng lợi ngoài việc chuẩn

bị sẵn sàng còn phải có thời cơ Ngợc lại thời cơ dù có thuận lợi đến đâu nh-

ng nếu không có sự chuẩn bị thì cũng

bỏ lỡ cơ hội Vì thế thắng lợi của CMT8 là do Đảng ta đã tiến hành đầy

đủ hai yêu cầu trên.

Trong CM cần giải quyết mối quan

hệ giữa chuẩn bị chớp thời cơ với dũng cảm phát động quần chúng

đứng lên khởi nghĩa Đó cũng là mối quan hệ giữa yếu tố chủ quan với yếu tố khách quan Mặc dù CM

đã đợc chuẩn bị chu đáo nhng khi thời cơ đến ngời CM còn phải dũng cảm phát động quần chúng xông lên quật ngã kẻ thù thậm chí dám

hy sinh đổ máu để giành thắng lợi nếu không CM sẽ không thành công vì kẻ thù dù yếu đến đâu cũng không bao giờ dễ dàng đầu hàng.

Trong CMT8 Đảng đã kết hợp đợc các yếu tố đó với nhau nên giành đ-

ợc thắng lợi Các bài học trên của CMT8 có giá trị mãi mãi đối với chúng ta.

Thực tiễn là thớc đo của chân lý

Thắng lợi của CMT8 không phải ngẫu nhiên mà là kết quả của 15 năm hoạt động và lãnh đạo của

Đảng ta Chính vì thế nếu không có

Đảng thì không có nớc VNDCCH

"Chẳng những giai cấp lao động

và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào mà g/c lao động bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử

CM của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo CM thành công"

TG nền độc lập của dân tộc ngày 2/9/1945 tại Hà Nội, HCT đã đọc bản TNĐL công bố trớc quốc dân

và TG nớc VNDCCH đã đợc thành lập.

Tuyên ngôn khẳng định nguyên lý

về quyền bình đẳng giữa các dân tộc, nêu lên những lời trích dẫn từ bản TNĐL của nớc Mỹ (1776) và của bản tuyên ngôn "Nhân quyền

và dân quyền" của CM Pháp (1791) để chứng minh đó là một chân lý mà ai cũng phải thừa nhận:

"Tất cả các dân tộc trên TG đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung s- ớng và quyền tự do" Dân tộc Việt Nam ta dù nhỏ bé nhng cũng là một dân tộc, chúng ta cũng có quyền sống bình đẳng với tất cả các dân tộc khác trên TG, không kẻ nào có quyền tớc bỏ quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của chúng ta.

Bản Tuyên ngôn đã tố cáo tội ác dã

man của bọn phát xít Nhật - mới thống trị Đông Dơng 5 năm mà đã

làm cho 2 triệu đồng bào ta bị chết

đói và gây bao nhiêu tai họa khác

Đồng thời, tuyên ngôn cũng tố cáo tội ác của Pháp Pháp là kẻ thống trị Đông Dơng, gây bao tội ác cho nhân dân Đông Dơng nhng Pháp lại không bảo hộ đợc Đông Dơng

nh lời chúng nói Trái lại Pháp đã

quỳ gối dâng Đông Dơng cho Nhật làm cho dân ta phải chịu 2 tầng áp bức vô cùng cực khổ nghèo nàn

Trên thực tế nhân dân ta đã giành

đợc chính quyền từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp Dụng ý tuyên ngôn muốn chỉ cho đồng bào

ta thấy chính Pháp là kẻ đang muốn trở lại xâm lợc Đông Dơng còn Nhật thì không còn thực lực nữa Nhng Pháp đã mất quyền thống trị Đông Dơng từ lâu nên nếu chúng có trở lại xâm lợc Đông Dơng là điều vô lý và phi nghĩa

Mặt khác, tuyên ngôn cũng muốn nhắc nhở đồng bào ta nhớ lại tội ác của Pháp mà căm thù chúng, đề cao cảnh giác và sẵn sàng đánh trả

chúng khi chúng trở lại Đông

D-ơng.

định chủ quyền của dân tộc ta:

"n-ớc Việt Nam có quyền hởng tự do

độc lập và sự thật đã trở thành một nớc tự do độc lập", Nh vậy, tuyên ngôn đã khẳng định cả hai phơng diện trên pháp lý cũng nh trên thực

tế chủ quyền của dân tộc ta Khẳng

định ý chí quyết tâm giữ gìn độc lập

tự do của nhân dân ta: "toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả

tinh thần và lực lợng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy".

TNĐL là một văn kiện có giá trị t ởng và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc

t-Nó nói lên truyền thống yêu nớc nồng nàn, ý chí giữ gìn độc lập tự

do của dân tộc ta Đó là bản anh hùng ca chiến đấu và chiến thắng tràn đầy sức mạnh, niềm tin của nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giành và bảo vệ độc lập tự do

TNĐL là văn bản ghi nhận thắng lợi của cuộc CMT8/1945 khai sinh

ra nớc VNDCCH, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc ta - kỷ nguyên độc lập tự do TNĐL là một văn bản pháp lý công bố trớc TG nền độc lập ở nớc ta.

đ-TW trực tiếp lãnh đạo CM Ngời đã

có nhiều đóng góp to lớn đối với

ợc CMVN đề ra từ Hội nghị 6 và 7

Hội nghị TW 8 đã giơng cao hơn nữa nhiệm vụ gpdt lên hàng đầu và coi đây là nhiệm vụ cấp bách nhất

Hội nghị cũng giải quyết vấn đề dân tộc trong phạm vi từng nớc

Đông Dơng, đề ra chủ trơng khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền

từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa khi thời cơ chín muồi và đặt nhiệm vụ chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân Chủ trơng đúng đắn và sáng suốt đó của Hội nghị có tác dụng quyết định đối với thắng lợi của CMT8/1945 góp phần bổ sung,

ớc ta.

Bên cạnh việc hoàn chỉnh chủ

tr-ơng chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc CMVN Ngời đã tích cực hoạt động chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.

Thấm nhuần quan điểm CM là sự nghiệp của quần chúng, công nông là gốc CM và tầm quan trọng của khối

đoàn kết toàn dân trong đấu tranh

CM, Ngời đã sáng lập ra Việt Nam

độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) để tập hợp tất cả các tầng lớp, g/c trong xã hội trên cơ sở liên minh công - nông Đây là một hình thức tổ chức mặt trận dân tộc thống nhất phù hợp do Ngời đứng đầu, có hệ thống tổ chức trong cả nớc - một trung tâm

đoàn kết đấu tranh chống Pháp - Nhật

để giành độc lập tự do.

Cuối năm 1941 Ngời đã quyết định thành lập đội tự vệ vũ trang làm nhiệm vụ bảo vệ cơ quan đầu não của Đảng, giao thông liên lạc, huấn luyện tự vệ cứu quốc để chuẩn bị cho việc xây dựng lực l- ợng vũ trang nhân dân thúc đẩy cơ

sở chính trị phát triển Ngời đã tổ chức nhiều lớp huấn luyện quân sự, chính trị qua những t/p lịch sử nớc

ta, địa lý Việt Nam, cách đánh du kích, cách huấn luyện cán bộ quân sự do Ngời viết từ giữa năm 1941

đến đầu năm 1942 đã tuyên truyền giáo dục cán bộ đảng viên, quần chúng CM về lòng yêu nớc, về tinh thần đoàn kết chiến đấu đồng thời thông qua các t/p đó Ngời còn khái quát kinh nghiệm của các nớc, nêu lên những nét cơ bản về đờng lối chiến lợc, chiến thuật quân sự, chính trị cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.

Tháng 10/1944 Ngời đã kịp thời hoãn kế hoạch phát động chiến tranh du kích trong phạm vi liên tỉnh của Liêngời tỉnh ủy C - B - L vì

chủ trơng ấy mới chỉ căn cứ vào tình hình địa phơng mà cha căn cứ vào tình hình cụ thể trong cả nớc, mới chỉ thấy bộ phận mà cha thấy toàn cục Quyết định đúng đắn kịp thời đó đã giúp cho C - B - L tránh

đợc những tổn thất to lớn.

Ngời đã nhận định sáng suốt tình hình CMVN vào năm 1944 thời kỳ

CM hòa bình đã qua nhng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa cha tới Cuộc

đấu tranh bây giờ phải đi từ hình thức chính trị tiến lên hình thức

thích hợp thì mới có thể đẩy mạnh phong trào tiến lên Từ đó Ngời đã

Chỉ thị thành lập đội VNTTGPQ vào ngày 22/12/1944 tại Cao Bằng

Đây là đội quân chính quy đàn anh của CM Bản Chỉ thị thành lập đội

có tính chất nh một cơng lĩnh quân

sự đầu tiên của Đảng Với 34 chiến

sỹ - 34 cây súng đội đã thực hiện nhiệm vụ vũ trang tuyên truyền vận

động nhân dân nổi dậy gây dựng cơ sở chính trị và quân sự cho cuộc khởi nghĩa sắp tới.

Ngời đã tổ chức xây dựng căn cứ

địa CM: khi mới về nớc Ngời đã xây dựng tổ chức Cao Bằng làm nơi thực hiện thí điểm chính sách mặt trận, chính sách đoàn kết dân tộc

và xây dựng thành căn cứ địa CM trên cơ sở lực lợng chính trị của quần chúng Đến đầu tháng 6/1945 tại hội nghị cán bộ VM 6 tỉnh đã

quyết định thành lập khu giải phóng Việt Bắc và bầu ra ủy ban khu giải phóng do Ngời đứng đầu

Trong khu giải phóng đã thi hành

10 chính sách của MTVM: chia công điền công thổ cho dân nghèo, xây dựng lực lợng vũ trang, chính trị thực hiện phong trào đời sống mới, cải thiện một phần đời sống của nhân dân Khu giải phóng chính là hình ảnh thu nhỏ của nớc VNDCCH do Ngời đứng đầu.

Nh vậy, Ngời đã có công lao hoàn chỉnh chuyển hớng chỉ đạo chiến l-

ợc CMVN và sáng lập ra lực lợng chính trị, lực lợng vũ trang, căn cứ

địa CM để chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.

Nhận rõ tầm quan trọng của vấn đề

đoàn kết quốc tế từ 1942 đến 1945 Ngời đã 2 lần đi TQ (tháng 8/1942

và tháng 3/1945) để liên hệ và tranh thủ sự ủng hộ của các lực l- ợng đồng minh dân chủ chống phát xít Tởng - Mỹ Qua các chuyến đi này ngoài việc tranh thủ đợc sự

đồng minh sắp tranh đợc thắng lợi

giải phóng chỉ trong 1 năm hoặc năm rỡi, thời gian gấp rút ta phải làm nhanh.

Đến cuối tháng 7/1945 khi còn

đang ốm nặng Ngời đã nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp: lúc này thời cơ chuẩn bị tới dù hy sinh đến đâu,

dù phải đốt cháy cả dãy Trờng Sơn cũng cơng quyết phải giành cho đ-

ợc độc lập.

Ngày 6/8/1945 khi biết tin Mỹ ném bom nguyên tử xuống 2 thành phố của Nhật, HCT chỉ thị viết nhiều th hỏa tốc đi các hớng để thúc giục các đại biểu địa phơng về Tân Trào họp hội nghị toàn quốc của đảng Ngày 10/8/1945 tại lán Nà Lừa, HCM đã bàn với một số đồng chí về việc chuẩn bị hội nghị toàn quốc Khi Thờng vụ TW cha ấn định ngày Ngời nói: nên họp ngay và cũng không nên kéo dài hội nghị chúng

ta cần tranh thủ từng giây, từng phút, tình hình sẽ chuyển biến Khi thời cơ đến Ngời đã triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào để quyết định lệnh Tổng khởi nghĩa thành lập ủy ban khởi nghĩa TW Đảng để lãnh đạo tổng khởi nghĩa Ngời đã chủ trì Quốc dân đại hội Tân Trào từ 16, 17/8/1945 để thông qua chủ trơng tổng khởi nghĩa của TW Đảng thông qua quốc kỳ, quốc ca, đặt tên nớc, cử ra ủy ban dân tộc giải phóng do HCM làm chủ tịch thảo luận và bổ sung một số chính sách cần làm ngay sau khi Tổng khởi nghĩa thắng lợi Cuối cùng Đại hội thông qua mệnh lệnh khởi nghĩa và Quân lệnh số 1 Nh vậy, dới sự chủ trì của HCM, Đại hội đã quyết định những vấn đề hết sức quan trọng liên quan tới vận mệnh của đất nớc

và chuẩn bị những việc cuối cùng cho tổng khởi nghĩa.

Đại hội quốc dân vừa bế mạc, HCT

đã gửi th kêu gọi đồng bào cả nớc

đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền Lời kêu gọi nh một lời hiệu triệu toàn dân đứng lên cứu nớc cứu nhà Chính quyết định đúng

đắn đó của Ngời đã dẫn tới thắng lợi nhanh chóng của CMT8 trong cả nớc.

Ngời đã thành lập Chính phủ CM của nớc Việt Nam mới và đứng đầu chính phủ Từ ngày 25/8 theo đề nghị của Ngời ủy ban dân tộc giải phóng do Đại hội Tân Trào cử ra

16

Trang 17

VNDCCH do Ngời đứng đầu Từ

25/8 đến 31/8 Ngời ở 48 Hàng

Ngang - Hà Nội Tại đây Ngời đã

soạn thảo bản TNĐL và ngày

ngời khai sinh ra nớc VNDCCH - Nhà

n-ớc dân chủ nhân dân đầu tiên ở ĐNA.

quyền Vấn đề đặt ra lúc này là

phải củng cố xây dựng và bảo vệ

đ-ợc chính quyền CM Về phía bọn đế

quốc, trớc thắng lợi của CMVN

chúng rất lo ngại vì đốm lửa của

CMT8 có thể làm bùng cháy phong

trào CM ở ĐNA Vì vậy, chúng tập

trung ra sức chống phá điên cuồng

Do đó, sau CMT8 nhân dân ta phải

mất 30 năm, trải qua 2 cuộc k/c

tr-ờng kỳ chống Pháp (1945 - 1954)

và chống Mỹ (1954 - 1975) mới giải

phóng đợc hoàn toàn đất nớc

Đúng nh lời dạy của Lênin: "Giành

chính quyền đã khó nhng giữ chính

quyền còn khó hơn" Thời kỳ đầu

tiên của giai đoạn 1945 - 1954 là

thời kỳ bảo vệ những thành quả

đa lại cho phong trào CMTG, nhất là

phong trào CM ở các nớc thuộc địa và

phụ thuộc những thuận lợi cơ bản

Với bản chất phản động, bọn đế quốc

ra sức chống phá phong trào CM, tìm

mọi cách chiếm lại các thuộc địa đã

mất và tranh giành thuộc địa lẫn

nhau Việt Nam là một trong những

đối tợng tranh giành của chúng.

ớc ta cũng có những khó khăn và thuận lợi Đầu tiên, đó là những khó khăn do chế độ cũ để lại, do hậu quả của chiến tranh đế quốc, nạn đói làm chết 2 triệu ngời vẫn

đang đe dọa, sản xuất bị đình trệ

Vụ mùa năm 1945 thu hoạch chỉ bằng 1/2 năm 1944 mà lại phải cung cấp cho hơn 4,5 vạn quân Nhật và 20 vạn quân Tởng Nông dân mất ruộng đất, công nhân viên chức bị mất việc làm, đồng bạc bị mất giá Nghèo nàn, lạc hậu, đói kém đang diễn ra Đặc biệt, hơn 90% dân ta mù chữ Vì vậy, nạn dốt

và các tệ nạn xã hội cũ đang hoành hành.

Khó khăn do chính quyền CM vừa mới thành lập còn đang trong thời

kỳ trứng nớc: "thiếu kinh nghiệm quản lý Nhà nớc, lực lợng vũ trang còn non yếu, trang bị thô sơ và thiếu kinh nghiệm chiến đấu, ngân quỹ Nhà nớc trống rỗng, kho bạc

vĩ tuyến 16 trở ra có 20 vạn quân ởng dới danh nghĩa đồng minh vào tớc khí giới quân Nhật, gây khó khăn về kinh tế - chính trị cho

T-Đảng ta Chúng tung giấy bạc, quan kim mất giá trị ra vơ vét thóc gạo, gây sức ép về chính trị giúp bọn Việt gian (Việt quốc, Việt cách ) chống phá CM Chúng nuôi dã tâm tiêu diệt Đảng cộng sản, phá tan Việt Minh và lật đổ chính quyền nhân dân lập ra một chính phủ phản CM làm tay sai cho chúng Chúng biết rằng, nếu CMVN thắng lợi, nếu chính quyền

CM đợc củng cố thì sẽ thúc đẩy sự tan rã của hệ thống thuộc địa ở

ĐNA Do đó, đế quốc Mỹ - Tởng âm

mu lật đổ chính quyền CM nhằm biến Việt Nam thành thuộc địa của chúng Chúng xúi giục bọn tay sai

đòi ta phải cải tổ chính phủ, đòi gạt những ngời cộng sản ra khỏi chính phủ lâm thời, đòi thay đổi quốc kỳ, quốc ca và HCT phải từ chức

Trong khi đó ở miền Nam từ vĩ tuyễn 16 trở vào, quân đội của đế quốc Anh dới danh nghĩa đồng minh đã vào giải giáp quân đội

đuổi dã tâm trở lại xâm lợc Đông

D-ơng nên tìm mọi cách để đợc Anh tạo điều kiện trở lại thuộc địa cũ

Bè lũ phản động thân Pháp, thân Nhật ngóc đầu dậy làm tay sai cho

đế quốc Pháp Vào ngày 23/9/1945,

đợc Anh che chở Pháp đã nổ súng xâm lợc nớc ta lần thứ 2 Nhân dân Nam Bộ theo lời kêu gọi của Xứ ủy

và ủy ban nhân dân Nam Bộ đứng dậy k/c, kìm chân quân Pháp ở Sài Gòn Sau đó, đợc quân Anh giúp đỡ

và đợc tăng viện, quân Pháp chiếm

đợc hầu hết các thành phố, thị xã,

đờng giao thông chiến lợc chủ yếu

ở Nam Bộ và lan ra vùng cực Nam Trung Bộ.

Cuộc k/c của nhân dân Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ đợc đồng bào cả nớc ủng hộ, chi viện Phong trào Nam Tiến, sự đóng góp tiền của, công sức đã góp phần ngăn chặn b-

ớc tiến công của địch, chiến tranh

du kích phát triển, chính quyền Cm

đợc bảo vệ, củng cố buộc thực dân Pháp phải tìm cách thơng lợng hoà hoãn.

Khó khăn của ta lúc này là rất lớn, trực tiếp đe dọa sự tồn vong của chính quyền CM Có thể nói cha bao giờ dân tộc ta đứng trớc nhiều khó khăn, phức tạp nh vậy Vận mệnh Tổ quốc nh "ngàn cân sợi tóc".

Khó khăn tuy nhiều nhng thuận lợi không phải nhỏ Nhân dân ta vốn

có truyền thống yêu nớc chống ngoại xâm, sau non một thế kỷ nô

lệ, bây giờ đợc độc lập nên quyết tâm ủng hộ chính quyền CM, sẵn sàng bảo vệ đất nớc bằng bất kỳ giá

nào Không một khó khăn nào làm chùn bớc đợc nhân dân một nớc mà khi đa số quần chúng công nông hiểu rằng họ đang bảo vệ chính quyền của họ, họ đang bảo vệ quyền lợi mà họ đã tốn bao xơng máu mới giành lại đợc.

Đảng ta đã nắm đợc chính quyền trong cả nớc, giành đợc quyền lãnh

đạo hợp pháp, Đảng ta lại đợc tôi luyện qua các phong trào CM và thứ thách trớc đó, nhất là thử thách

lãnh đạo Lãnh tụ HCM đứng đầu Nhà nớc, vững tay lái đa con thuyền CMVN vợt qua sóng gió thác ghềnh.

Đề 2: Những biện pháp để giải quyết những khó khăn trớc mắt.

Bài làm.

Lúc này Đảng ta tiếp tục cuộc CMDTDC, nhiệm vụ dân tộc đợc

đặt lên hàng đầu Tiến hành đồng thời cùng một lúc 3 nhiệm vụ cụ thể: giải quyết những khó khăn tr-

ớc mắt, xây dựng củng cố chế độ mới, tiến hành cuộc đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao để chống thù trong giặc ngoài Ba nhiệm vụ trên phải tiến hành song song nhng quan trọng nhất là nhiệm vụ chống thù trong giặc ngoài để giữ chính quyền.

Đầu tiên Đảng đã đề ra những biện pháp để thanh toán nạn đói vì dân

có no thì mới có thể đánh giặc Biện pháp trớc mắt là phải dựa vào dân

để "tiết kiệm và quyên góp", ờng cơm xẻ áo" Lời kêu gọi thống thiết của HCT và việc tự mình làm gơng đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy phong trào cứu

"nh-đói đạt đợc nhiều kết quả Đồng bào cả nớc đã phát huy mọi sáng kiến để cứu đói nh "lập hũ gạo cứu

đói", "ngày đồng tâm" Chính phủ

đã tích cực điều hoà thóc gạo giữa các địa phơng trong toàn quốc, ra Sắc lệnh nghiêm trị những kẻ đầu cơ tích trữ thóc gạo Nhng về lâu dài thì phải tăng gia sản xuất, lấy ngắn nuôi dài HCT kêu gọi: "tăng gia sản xuất - tăng gia sản xuất ngay - tăng gia sản xuất nữa" Từ thành thị đến nông thôn đâu đâu cũng ra sức sản xuất.

Nhờ nỗ lực của toàn dân mà vụ chiêm năm 1946 thu hoạch hơn năm 1945, ở Nam Bộ nạn đói bị

đẩy lùi Đây là một thuận lợi lớn hơn của Chính phủ dân chủ nhân dân Dân chúng thấy cuộc sống của mình gắn chặt với sự bền vững của chính quyền nên ra sức xây dựng

và bảo vệ chính quyền.

Ngời ta thờng nói nạn đói và nạn dốt thờng đi kèm với nhau, HCT đã

nói "một dân tộc dốt là một dân tộc yếu" Do ảnh hởng của chế độ cũ 90% dân nớc ta mù chữ Vì vậy, ngày 8/9/1945 Chính phủ lập ra Nha bình dân học vụ để phục trách

dân để mở các lớp bình dân học vụ

đồng thời cho mở hệ thống trờng cấp I, cấp II Cho nên, trong thời gian một năm đã có hơn 2,5 triệu ngời biết đọc, biết viết Tiếng Việt đ-

ợc dùng giảng dạy trong các hệ thống phổ thông và đại học.

Để giải quyết vấn đề tài chính, trớc mắt ta phát động tuần lễ vàng nhằm động viên sự đóng góp của

đồng bào toàn quốc ủng hộ nền

độc lập của Tổ quốc Chỉ trong thời gian ngắn nhân dân ta đã tự nguyện đóng góp đợc 370 kg vàng,

20 triệu đồng vào quỹ độc lập và 40 triệu đồng cho quỹ Đảng vụ quốc phòng.

Về lâu dài phải ổn định nền tài chính, phát hành tiền mới và tổ chức thuế khóa Ngày 23/11/1946, Quốc hội đã

quyết định lu hành tiền Việt Nam trong cả nớc Nhân dân ta phấn khởi tiêu tiền Việt Nam và tẩy chay tiền ngân hàng Đông Dơng Đó là 2 cách giải quyết nạn khan hiếm tài chính.

Các biện pháp trên đều nhằm phục

vụ quyền lợi của nhân dân Vì vậy

đã làm nổi bật tính u việt của chế

độ mới Qua các biện pháp trên đã

xây dựng đợc khối liên minh công nông vững chắc làm cho nhân dân

ta tin tởng gắn bó với Đảng, với chính quyền Đồng thời qua những biện pháp trên cũng thể hiện tinh thần yêu nớc của nhân dân ta, tạo

ra sức mạnh tổng hợp để nhân dân

ta chống thù trong giặc ngoài.

Sau khi đã bớc đầu giải quyết những khó khăn trớc mắt, Đảng ta

đã bắt tay vào xây dựng chế độ mới

Đầu tiên đó là phải xây dựng chính quyền vừa giành đợc thực sự vững mạnh, thực sự là của dân, do dân bầu ra và đợc dân tin yêu ủng hộ

Tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc hội vào ngày 6/1/`946 Mặc dù thực dân Pháp và bọn phản động tìm mọi cách ngăn cản nhng vẫn có gần 90% cử tri đã đi bầu cử Tại thủ đô Hà Nội có gần 90% cử tri nội thành, ngoại thành đi bầu cử

Ngời đại biểu cao phiếu nhất là HCT với 98,4% Đặc biệt ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, dới bom đạn của giặc Pháp nhân dân

ta vẫn đi bầu cử Tại Nam Bộ có 42 cán bộ chiến sỹ hy sinh trong khi làm nhiệm vụ tổng tuyển cử Kết quả là ta đã bầu đợc 333 đại biểu

VNDCCH.

Chính thức hóa chính quyền ta ngày 2/3/1946 thông qua danh sách chính phủ chính thức do HCM

đứng đầu lập ra ban dự thảo Hiến pháp Và đến cuối năm 1946 Hiến pháp đầu tiên của nớc ta đợc Quốc hội thông qua Tiếp đó ở khắp các

địa phơng tiến hành bầu cử Hội

đồng nhân dân các cấp theo phổ thông đầu phiếu.

Thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp có ý nghĩa to lớn Nó

đã giáng một đòn mạnh vào âm mu chia rẽ, lật đổ và xâm lợc của bọn

đế quốc và tay sai, nâng cao uy tín của Nhà nớc VNDCCH trên trờng quốc tế tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc của một Nhà nớc CM để thực hiện nhiệm vụ đối nội, đối ngoại trong thời kỳ mới đầy chông gai thử thách Điều này đã biểu dơng sức mạnh và ý chí sắt đá của khối đoàn kết toàn dân Khẳng định niềm tin tuyệt đối của nhân dân ta đối với Mặt trận Việt Minh và HCT.

Đồng thời với việc xây dựng chính quyền mới thì Đảng ta cũng ra sức củng cố xây dựng lực lợng ta về mọi mặt

Về quân sự, ta ra sức củng cố xây dựng lực lợng vũ trang nhân dân 3 thứ quân Khắp nơi trên cả nớc một phong trào luyện tập quân sự, tìm kiếm vũ khí diễn ra sôi nổi Các đội

tự vệ đợc củng cố và mở rộng, các

đơn vị VNGPQ trong CMT8 đợc mở rộng và đổi tên thành Việt Nam vệ quốc quân (vào tháng 9/1945) Đây

là đội quân chính quy của Nhà nớc VNDCCH.

Về chính trị, ta tăng cờng đoàn kết lực lợng dân tộc Ngày 29/5/1946, Hội Liên Việt đợc thành lập đã đề

ra việc đoàn kết tất cả các đảng phái yêu nớc, các đồng bào yêu nớc không phân biệt g/c tôn giáo xu h- ớng chính trị, chủng tộc để làm cho nớc Việt Nam độc lập thống nhất, dân chủ, phú cờng.

Về kinh tế, thực hiện bồi dỡng sức dân: quy định ngày làm 8 giờ, cấm

đánh đập đối với công nhân viên chức, nông dân đợc giảm tô 25%

chia lại công điền, công thổ, lấy ruộng đất của bọn thực dân, Việt gian phản động chia cho dân cày

Các xí nghiệp công nghiệp cần thiết nh điện, nớc, khai thác than

ngoài kinh doanh nhng phải dới quyền kiểm soát của Chính phủ Việt Nam ta khôi phục một số mỏ thác khác, bãi bỏ thuế thân và những thứ thuế vô lý khác của chế

độ cũ.

Về văn hóa xã hội, lúc này ta ban hành Sắc lệnh mới, thực hiện quyền bình đẳng dân tộc, nam nữ Cuộc vận động đời sống mới do HCT đề xớng đợc đông đảo nhân dân hởng ứng nhằm xây dựng một đạo đức mới, với nội dung: cần kiệm liêm chính Bài trừ các tệ nạn xã hội cũ

nh cờ bạc, rợu chè, trộm cắp Tất cả những điều trên nhằm xây dựng cơ sở pháp lý cho chính quyền mới.

Những thành tựu cho đối nội tạo

điều kiện thuận lợi cho hoạt động

đối ngoại có hiệu quả Đồng thời những thành công bớc đầu trong xây dựng chính quyền mới tạo điều kiện cơ bản cho nhân dân ta k/c lâu dài.

Trong điều kiện chính quyền CM còn non trẻ lực lợng CM mới đợc hình thành, những vấn đề đối nội còn mang tính thách thức lại cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù Từ đó đòi hỏi Đảng và Nhà n-

ớc ta phải có đợc "nhãn quan" để phân tích đánh giá từng kẻ thù một

để thông qua đó đề ra những đờng lối thích hợp đối phó với kẻ thù.

Kẻ thù của ta lúc này là đế quốc và tay sai chúng chia làm 2 khối: phía Bắc là Tởng - Mỹ và tay sai Phía Nam là Anh - Pháp và tay sai Giữa hai khối có mâu thuẫn với nhau về quyền lợi nhng thống nhất với nhau trong âm mu chống phá CM

Lực lợng kẻ thù đông và mạnh trong đó Pháp là kẻ thù chủ yếu, do

đó trên cơ sở nắm vững nguyên tắc chiến lợc Đảng ta đã mềm dẻo trong sách lợc, biết phân hóa kẻ thù

để đánh đổ chúng Lúc này Đảng ta tuyên bố tự giải tán, thực tế là rút vào hoạt động bí mật Cuộc chiến tranh thể hiện qua hai kỳ: từ 2/9/1945 đến 6/3/1946 và từ 6/3/1946 đến 19/12/1946.

Từ 2/9/1945 đến 6/3/1946 ở nớc ta diễn ra cục diện "Bắc đàm Nam

đánh" tức là miền Bắc thì nhân ợng Tởng, miền Nam chống lại sự xâm lợc của Pháp Đầu tiên đối với Tởng ở miền Bắc, để tập trung lực l- ợng đánh Pháp ở miền Nam, ta chủ trơng tránh những cuộc xung đột,

nh-nhân nhợng một số yêu sách về kinh tế, chính trị của Tởng nh nhận tiêu tiền quan kim và quốc tệ, cung cấp một phần lơng thực cho chúng

Ta cho tay sai của Tởng một số ghế trong chính phủ (nh Phó Chủ tịch nớc Nguyễn Hải Trần, Bộ trởng ngoại giao Nguyễn Tờng Tam ) chấp nhận bổ nhiệm thêm 70 ghế trong Quốc hội cho chúng Song mọi sự nhân nhợng đều phải bảo

đảm nguyên tắc CM, chính quyền phải đợc giữ vững, Đảng phải lãnh

đạo chính quyền, HCM phải đứng

đầu Chính phủ độc lập chủ quyền

đất nớc phải đợc tôn trọng Đối với bọn phản động tay sai của quân đội Tởng đã ra mặt chống phá CM thì

ta kiến quyết vạch trần bộ mặt bán dân hại nớc của chúng trớc công luận Bọn phản động có tội ác đều

bị trừng trị theo pháp luật Chủ trơng nhân nhợng với Tởng là cần thiết vì chúng là kẻ thù CM nh-

ng lại dới danh nghĩa đồng minh (hợp pháp) đặc biệt lực lợng CM của ta lúc đó còn non trẻ, chính quyền CM còn trong trứng nớc lực lợng vũ trang đang trong quá trình hình thành phải tập trung lực lợng

để đánh kẻ thù chủ yếu Hơn nữa, lúc đó chính phủ ta đang đứng trớc tình thế hết sức hiểm nghèo, phải đ-

ơng đầu với nhiều khó khăn nhiều

kẻ thù Vì vậy, nhân nhợng với ởng là sách lợc đúng đắn Việc thực hiện sách lợc nhân nhợng với Tởng đã hạn chế và vô hiệu hóa

T-đến mức thấp nhất các hoạt động chống phá của quân Tởng và tay sai, làm thất bại âm mu lật đổ chính quyền CM của chúng, làm cho chính quyền Cm ngày càng mạnh

và tăng thêm uy tín cho cuộc đấu tranh.

Đối với Pháp ở miền Nam, ta kiên quyết đánh Pháp ở miền Nam từ ngày 23/9/1945, xứ ủy và UBND Nam Bộ đã họp Hội nghị ở đờng Cây Mai - chợ Lớn, quyết định phát

động nhân dân Nam Bộ đứng lên k/c Vì Pháp đã vi phạm trắng trợn

độc lập chủ quyền của dân tộc ta Nhân dân Sài Gòn - chợ Lớn, nhân dân Nam Bộ đã nhất tề đứng lên chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, phối hợp chặt chẽ với các lực lợng vũ trang

đánh địch trên các đờng phố, nhân dân Sài Gòn đã triệt để tổng bãi công, bãi thị, một số cầu đờng bị

17

Trang 18

ngổn ngang các chớng ngại vật,

cản bớc tiến của kẻ thù TW Đảng,

Chính phủ và HCT cũng đã kịp

thời đề ra những chủ trơng lãnh

đạo k/c ở miền Nam Cả nớc chi

viện về mọi mặt cho miền nam Các

nhanh" của chúng, phát triển

chiến tranh du kích, giữ vững và

mở rộng lực lợng, tích luỹ đợc kinh

nghiệm chiến đấu góp phần củng

cố và bảo vệ CM Tạo điều kiện cho

cực Nam Trung Bộ theo sự dàn xếp

giữa Anh - Mỹ - Pháp, ngày

28/1/1946 Anh rút khỏi Sài Gòn,

nhờng cho Pháp quyền chiếm đóng

miền Nam Công việc tiếp theo của

Pháp là chuẩn bị tiến quân ra Bắc

Nhng thực lực của Pháp lúc này

ch-a đủ Sch-au một thời gich-an dài, dùng

lực lợng vũ trang xâm lợc ở miền

nam - Việt Nam đã không đạt đợc

kết quả nh mong muốn Chúng

thấy không thể đánh nhanh thắng

nhanh đợc Với một lực lợng hiện

có, quân Pháp thấy rằng không thể

đánh thắng đợc một dân tộc đang

kiên quyết chống lại chúng Hơn

nữa, muốn đánh chiếm miền Bắc

phải giải quyết 2 trở ngại quân

Pháp theo Hiệp ớc Pháp nhờng cho

Tởng một số quyền lợi về kinh tế -

chính trị nh hủy bỏ cai trị ngoài

pháp quyền của Pháp trên đất

khu đặc biệt để tự do buôn bán và

có quyền kiểm soát thuế quan ở cảng Hải Phòng, bán cho Tởng

đoạn đờng sắt từ Hồ Kiều đến Côn Minh (thuộc đờng sắt Hà Nội - Vân Nam) Còn Tởng thì cho quân đội Pháp quyền thay thế quân đội Tởng

là phải đánh với 2 kẻ thù trong một lúc khi mà chính quyền CM vừa đ-

ợc xây dựng còn non yếu, lực lợng

vũ trang xây dựng cha đợc bao nhiêu, kinh tế gặp nhiều khó khăn, hoặc là hoà hoãn nhân nhợng tạm thời với Pháp để có thể tránh tình trạng đối phó một lúc với nhiều kẻ thù,

đẩy đợc 20 vạn quân Tởng ra khỏi miền Bắc, tranh thủ thời gian hòa hoàn để tiếp tục củng cố và phát triển lực lợng CM Chuẩn bị mọi mặt để bớc vào một cuộc chiến đấu về sau khi

điều kiện bắt buộc Trớc tình hình đó

Đảng, Chính phủ và HCT đã chọn giải pháp đàm phán với Pháp.

Chiều 6/3/1946, Chính phủ ta kí với

đại diện chính phủ Pháp bản "Hiệp

định sơ bộ" đặt cơ sở cho một cuộc

đàm phán để đi đến một hiệp ớc chính thức Nội dung của bản Hiệp

định là Chính phủ Pháp công nhận nớc VNDCCH là một quốc gia tự

do nằm trong khối Liên hiệp Pháp,

có chính phủ riêng, nghị viện riêng, quân đội riêng, tài chính riêng Sự thống nhất 3 kỳ do nhân dân ta quyết định.

Chính phủ Việt Nam đồng ý để cho 15.000 quân Pháp đợc vào miền Bắc thay chân quân đội Tởng Mỗi năm sẽ rút 1/5 số quân đó về nớc và sau 5 năm sẽ rút hết.

Hai bên sẽ ngừng cuộc xung đột và giữ nguyên quân đội 2 bên tại vị trí

cũ tạo điều kiện cần thiết để đi đến một cuộc điều đình thân thiệt để bàn về các vấn đề ngoại giao của Việt Nam, chế độ tơng lai của Đông Dơng, những quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp ở Việt Nam.

Việc ký Hiệp định sơ bộ có ý nghĩa rất quan trọng đối với CMVN

Chính quyền Cm đã lợi dụng đợc mâu thuẫn giữa Pháp và Nhật đuổi

tay sai ra khỏi đất nớc Ta đã loại trừ đợc một kẻ thù nguy hiểm

Tránh đợc một cuộc chiến đấu mà

ta biết chắc là bất lợi cho ta vì cùng một lúc chống lại nhiều kẻ thù.

Tranh thủ đợc thời gian hết sức cần thiết để củng cố chính quyền phát triển lực lợng vũ trang, mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất chuẩn

bị mọi mặt cho cuộc chiến đấu sau này ở phía Nam ta cũng tranh thủ

đợc tình hình ngừng bắn để xây dựng lực lợng k/c Về mặt pháp lý chính phủ Pháp đã phải thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do không còn là thuộc địa của Pháp.

Trong tình thế vô cùng khó khăn của những tháng đầu năm 1946, việc ký Hiệp định sơ bộ thể hiện sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, thiên tài của HCT đã biết tạm thời hoà hoãn với một kẻ thù để loại bớt những kẻ thù khác, tranh thủ thời gian hòa hoãn với một kẻ thù để loại bớt những kẻ thù khác, tranh thủ thời gian chuẩn bị lực lợng, đa nớc nhà thoát khỏi tình thế nguy hiểm "ngàn cân treo sợi tóc" một cách có lợi nhất.

Sau Hiệp định sơ bộ ta và Pháp tiếp tục mở Hội nghị trù bị Đà Lạt từ ngày 17/4/1946 đến 11/5/1946 nhng hội nghị đã tan rã Hội nghị Phôntenơblô

cũng bế tắc (6/7/1946) và chấm dứt ngày 10/9/1946 Tình hình bang giao Việt - Pháp càng thêm căng thẳng nguy cơ một cuộc chiến tranh đã đến gần, cần phải có một quyết định nhanh chóng nhằm kéo dài thêm thời gian hòa hoãn làm cho nhân dân thấy

rõ Pháp thấy rõ thiện chí hoà bình của Việt Nam và dã tâm xâm lợc của Pháp HCT đã ký với Chính phủ Pháp

"Tạm ớc 14/9/1946".

Qua Tạm ớc Chính phủ Việt Nam và chính phủ Pháp cam kết tiếp tục chính sách hợp tác nh Hiệp định sơ bộ đã

nêu, tiếp tục cuộc đàm phán và sẽ đợc triển khai chậm nhất vào tháng giêng 1947.

Chính phủ Việt Nam bảo đảm các quyền tự do dân chủ, những quyền lợi về kinh tế, văn hóa của thực dân Pháp ở Việt Nam.

Chính phủ Pháp sẽ đình chỉ xung

đột ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ bảo

đảm các quyền tự do dân chủ cho nhân dân Việt Nam và Pháp trả

hết tù chính trị, chấm dứt tuyên truyền không thân thiện Việc trng

định thời gian và cách thức.

Với việc ký Tạm ớc ta đã duy trì

thêm 3 tháng nữa để xây dựng lực ợng, để tranh thủ tình cảm của nhân dân Pháp, chuẩn bị sẵn sàng bớc vào cuộc k/c.

l-Những chính sách trên đã làm tăng thêm niềm tin của nhân dân đối với chính quyền CM, đã xây dựng và củng cố đợc chính quyền CM từ TW

đến địa phơng - lực lợng chỉ đạo cuộc k/c sau này Những chính sách trên đã xây dựng và củng cố đ-

ợc lực lợng k/c (vệ quốc quân, dân quân tự vệ) và cơ sở kinh tế xã hội phục vụ k/c Các biện pháp trên đã

thắt chặt hơn nữa khối đoàn kết toàn dân trong k/c, kiến quốc.

Nh vậy trong cuộc đấu tranh để xây dựng và bảo vệ chính quyền ta đã

giành nhiều thắng lợi Có đợc những thắng lợi đó là do toàn thể nhân dân Việt Nam đã đoàn kết chặt chẽ chiến đấu dới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng Đảng ta đứng

đầu là HCT với đờng lối chính trị vô cùng sáng suốt, vừa cứng rắn về nguyên tắc, vừa mềm dẻo về sách l-

ợc đã đa nớc nhà vợt qua muôn vàn khó khăn tởng nh không sao vợt qua nổi "Những biện pháp cực kỳ sáng suốt đó đã đợc ghi vào lịch sử

CM nớc ta nh một mẫu mực tuyệt vời của sách lợc Lêninít về lợi dụng những mâu thuẫn trong hàng ngũ

kẻ địch và sự nhân nhợng có nguyên tắc".

ớc ta phải có đợc "nhãn quan" để phân tích đánh giá từng kẻ thù một

để thông qua đó đề ra những đờng lối thích hợp đối phó với kẻ thù.

Kẻ thù của ta lúc này là đế quốc và tay sai chúng chia làm 2 khối: phía Bắc là Tởng - Mỹ và tay sai Phía Nam là Anh - Pháp và tay sai Giữa hai khối có mâu thuẫn với nhau về quyền lợi nhng thống nhất với nhau trong âm mu chống phá CM

Lực lợng kẻ thù đông và mạnh

đó trên cơ sở nắm vững nguyên tắc chiến lợc Đảng ta đã mềm dẻo trong sách lợc, biết phân hóa kẻ thù

để đánh đổ chúng Lúc này Đảng ta tuyên bố tự giải tán, thực tế là rút vào hoạt động bí mật Cuộc chiến tranh thể hiện qua hai kỳ: từ 2/9/1945 đến 6/3/1946 và từ 6/3/1946 đến 19/12/1946.

Từ 2/9/1945 đến 6/3/1946 ở nớc ta diễn ra cục diện "Bắc đàm Nam

đánh" tức là miền Bắc thì nhân ợng Tởng, miền Nam chống lại sự xâm lợc của Pháp Đầu tiên đối với Tởng ở miền Bắc, để tập trung lực l- ợng đánh Pháp ở miền Nam, ta chủ trơng tránh những cuộc xung đột, khiêu khích vũ trang, chúng ta đã

nh-nhân nhợng một số yêu sách về kinh tế, chính trị của Tởng nh nhận tiêu tiền quan kim và quốc tệ, cung cấp một phần lơng thực cho chúng

Ta cho tay sai của Tởng một số ghế trong chính phủ (nh Phó Chủ tịch nớc Nguyễn Hải Trần, Bộ trởng ngoại giao Nguyễn Tờng Tam ) chấp nhận bổ nhiệm thêm 70 ghế trong Quốc hội cho chúng Song mọi sự nhân nhợng đều phải bảo

đảm nguyên tắc CM, chính quyền phải đợc giữ vững, Đảng phải lãnh

đạo chính quyền, HCM phải đứng

đầu Chính phủ độc lập chủ quyền

đất nớc phải đợc tôn trọng Đối với bọn phản động tay sai của quân đội Tởng đã ra mặt chống phá CM thì

ta kiến quyết vạch trần bộ mặt bán dân hại nớc của chúng trớc công luận Bọn phản động có tội ác đều

bị trừng trị theo pháp luật.

Chủ trơng nhân nhợng với Tởng là cần thiết vì chúng là kẻ thù CM nh-

ng lại dới danh nghĩa đồng minh (hợp pháp) đặc biệt lực lợng CM của ta lúc đó còn non trẻ, chính quyền CM còn trong trứng nớc lực lợng vũ trang đang trong quá trình hình thành phải tập trung lực lợng

để đánh kẻ thù chủ yếu Hơn nữa, lúc đó chính phủ ta đang đứng trớc tình thế hết sức hiểm nghèo, phải đ-

ơng đầu với nhiều khó khăn nhiều

kẻ thù Vì vậy, nhân nhợng với ởng là sách lợc đúng đắn.

T-Việc thực hiện sách lợc nhân ợng với Tởng đã hạn chế và vô hiệu hóa đến mức thấp nhất các hoạt

nh-động chống phá của quân Tởng và tay sai, làm thất bại âm mu lật đổ chính quyền CM của chúng, làm

mạnh và tăng thêm uy tín cho cuộc

đấu tranh.

Đối với Pháp ở miền Nam, ta kiên quyết đánh Pháp ở miền Nam từ ngàu 23/9/1945, xứ ủy và UBND Nam Bộ đã họp Hội nghị ở đờng Cây Mai - chợ Lớn, quyết định phát

động nhân dân Nam Bộ đứng lên k/c Vì Pháp đã vi phạm trắng trợn

độc lập chủ quyền của dân tộc ta.

Nhân dân Sài Gòn - chợ Lớn, nhân dân Nam Bộ đã nhất tề đứng lên chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, phối hợp chặt chẽ với các lực lợng vũ trang

đánh địch trên các đờng phố, nhân dân Sài Gòn đã triệt để tổng bãi công, bãi thị, một số cầu đờng bị

đánh sập phá hoại Cả thành phố ngổn ngang các chớng ngại vật, cản bớc tiến của kẻ thù TW Đảng, Chính phủ và HCT cũng đã kịp thời đề ra những chủ trơng lãnh

đạo k/c ở miền Nam Cả nớc chi viện về mọi mặt cho miền nam Các

đơn vị "nam tiến" từ thủ đô Hà Nội, căn cứ Việt Bắc, đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ đã tấp nập lên đờng vào nam đánh giặc, cứu n- ớc.

Cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân Nam Bộ đã ngăn chặn từng bớc tiến công của địch, hạn chế âm mu "đánh nhanh thắng nhanh" của chúng, phát triển chiến tranh du kích, giữ vững và

mở rộng lực lợng, tích luỹ đợc kinh nghiệm chiến đấu góp phần củng

cố và bảo vệ CM Tạo điều kiện cho cả nớc chuẩn bị lực lợng về mọi mặt cho cuộc k/c toàn quốc về sau Điều

đó chứng tỏ tinh thần yêu nớc, ý chí bất khuất kiên cờng của dân tộc ta.

Từ 6/3/1946 đến 19/12/1946, đến

đầu 1946, thực dân Pháp về cơ bản chiếm đóng các đô thị Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ theo sự dàn xếp giữa Anh - Mỹ - Pháp, ngày 28/1/1946 Anh rút khỏi Sài Gòn, nhờng cho Pháp quyền chiếm đóng miền Nam Công việc tiếp theo của Pháp là chuẩn bị tiến quân ra Bắc

Nhng thực lực của Pháp lúc này

ch-a đủ Sch-au một thời gich-an dài, dùng lực lợng vũ trang xâm lợc ở miền nam - Việt Nam đã không đạt đợc kết quả nh mong muốn Chúng

nhanh đợc Với một lực lợng hiện

có, quân Pháp thấy rằng không thể

đánh thắng đợc một dân tộc đang kiên quyết chống lại chúng Hơn nữa, muốn đánh chiếm miền Bắc phải giải quyết 2 trở ngại quân T- ởng và lực lợng CMVN ở miền Bắc.

Về phía Tởng, lúc này TGT đang cần tập trung lực lợng để đối phó với lực lợng CM của Đảng cộng sản Trung Quốc Bọn tay sai của Tởng lúc này không có cơ sở chính trị - xã hội, ở trong nớc bộ mặt phản dân hại nớc đã bị lộ tẩy, hơn nữa T- ởng cũng thấy rằng không thể bóp chết đợc CMVN.

Pháp - Tởng đã ký hiệp ớc Hoa - Pháp theo Hiệp ớc Pháp nhờng cho Tởng một số quyền lợi về kinh tế - chính trị nh hủy bỏ cai trị ngoài pháp quyền của Pháp trên đất Trung Quốc nhờng cho TGT một khu đặc biệt để tự do buôn bán và

có quyền kiểm soát thuế quan ở cảng Hải Phòng, bán cho Tởng

đoạn đờng sắt từ Hồ Kiều đến Côn Minh (thuộc đờng sắt Hà Nội - Vân Nam) Còn Tởng thì cho quân đội Pháp quyền thay thế quân đội Tởng

là phải đánh với 2 kẻ thù trong một lúc khi mà chính quyền CM vừa đ-

ợc xây dựng còn non yếu, lực lợng

vũ trang xây dựng cha đợc bao nhiêu, kinh tế gặp nhiều khó khăn, hoặc là hoà hoãn nhân nhợng tạm thời với Pháp để có thể tránh tình trạng đối phó một lúc với nhiều kẻ thù,

đẩy đợc 20 vạn quân Tởng ra khỏi miền Bắc, tranh thủ thời gian hòa hoàn để tiếp tục củng cố và phát triển lực lợng CM Chuẩn bị mọi mặt để bớc vào một cuộc chiến đấu về sau khi

điều kiện bắt buộc Trớc tình hình đó

Đảng, Chính phủ và HCT đã chọn giải pháp đàm phán với Pháp.

Chiều 6/3/1946, Chính phủ ta kí với

đại diện chính phủ Pháp bản "Hiệp

đàm phán để đi đến một hiệp ớc chính thức Nội dung của bản Hiệp

định là Chính phủ Pháp công nhận nớc VNDCCH là một quốc gia tự do nằm trong khối Liên hiệp Pháp, có chính phủ riêng, nghị viện riêng, quân đội riêng, tài chính riêng Sự thống nhất 3 kỳ do nhân dân ta quyết định.

Chính phủ Việt Nam đồng ý để cho 15.000 quân Pháp đợc vào miền Bắc thay chân quân đội Tởng Mỗi năm sẽ rút 1/5 số quân đó về nớc và sau 5 năm sẽ rút hết.

Hai bên sẽ ngừng cuộc xung đột và giữ nguyên quân đội 2 bên tại vị trí

cũ tạo điều kiện cần thiết để đi đến một cuộc điều đình thân thiệt để bàn về các vấn đề ngoại giao của Việt Nam, chế độ tơng lai của Đông Dơng, những quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp ở Việt Nam Việc ký Hiệp định sơ bộ có ý nghĩa rất quan trọng đối với CMVN Chính quyền Cm đã lợi dụng đợc mâu thuẫn giữa Pháp và Nhật đuổi nhanh 20 vạn quân Tởng và bọn tay sai ra khỏi đất nớc Ta đã loại trừ đợc một kẻ thù nguy hiểm Tránh đợc một cuộc chiến đấu mà

ta biết chắc là bất lợi cho ta vì cùng một lúc chống lại nhiều kẻ thù Tranh thủ đợc thời gian hết sức cần thiết để củng cố chính quyền phát triển lực lợng vũ trang, mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất chuẩn

bị mọi mặt cho cuộc chiến đấu sau này ở phía Nam ta cũng tranh thủ

đợc tình hình ngừng bắn để xây dựng lực lợng k/c Về mặt pháp lý chính phủ Pháp đã phải thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do không còn là thuộc địa của Pháp Trong tình thế vô cùng khó khăn của những tháng đầu năm 1946, việc ký Hiệp định sơ bộ thể hiện sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, thiên tài của HCT đã biết tạm thời hoà hoãn với một kẻ thù để loại bớt những kẻ thù khác, tranh thủ thời gian hòa hoãn với một kẻ thù để loại bớt những kẻ thù khác, tranh thủ thời gian chuẩn bị lực lợng, đa nớc nhà thoát khỏi tình thế nguy

18

Trang 19

nhằm kéo dài thêm thời gian hòa

hoãn làm cho nhân dân thấy rõ

Pháp thấy rõ thiện chí hoà bình

của Việt Nam và dã tâm xâm lợc

của Pháp HCT đã ký với Chính

phủ Pháp "Tạm ớc 14/9/1946".

Qua Tạm ớc Chính phủ Việt Nam và

chính phủ Pháp cam kết tiếp tục chính

sách hợp tác nh Hiệp định sơ bộ đã

nêu, tiếp tục cuộc đàm phán và sẽ đợc

triển khai chậm nhất vào tháng giêng

truyền không thân thiện Việc trng

cầu dân ý ở Nam Bộ do 2 bên quy

quân tự vệ) và cơ sở kinh tế xã hội

phục vụ k/c Các biện pháp trên đã

thắt chặt hơn nữa khối đoàn kết

toàn dân trong k/c, kiến quốc.

Nh vậy trong cuộc đấu tranh để xây

dựng và bảo vệ chính quyền ta đã

giành nhiều thắng lợi Có đợc

nhân dân Việt Nam đã đoàn kết chặt chẽ chiến đấu dới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng Đảng ta đứng

đầu là HCT với đờng lối chính trị vô cùng sáng suốt, vừa cứng rắn về nguyên tắc, vừa mềm dẻo về sách l-

ợc đã đa nớc nhà vợt qua muôn vàn khó khăn tởng nh không sao vợt qua nổi "Những biện pháp cực kỳ sáng suốt đó đã đợc ghi vào lịch sử

CM nớc ta nh một mẫu mực tuyệt vời của sách lợc Lêninít về lợi dụng những mâu thuẫn trong hàng ngũ

kẻ địch và sự nhân nhợng có nguyên tắc".

Đề 4: Trình bày đờng lối k/c chống thực dân Pháp

ở Hải Phòng, Lạng Sơn, chiếm một

số cơ quan của ta ở Hà Nội gây ra

vụ thảm sát ở phố Hàng Bún Gửi tối hậu th cho Chính phủ ta bắt ta phải giải giáp lực lợng tự vệ, đòi quyền kiểm soát ở thủ đô Hà Nội.

Lịch sử đã đặt cho ta 2 con đờng phải chọn: một là đầu hàng trở lại làm nô lệ, hai là toàn dân đánh

đuổi thực dân Pháp giữ vững chủ quyền độc lập Thực dân Pháp đã

buộc nhân dân ta phải đứng lên chiến đấu để bảo vệ chính quyền

CM, bảo vệ độc lập và tự do của Tổ quốc Đảng, chính phủ và HCT đã

quyết định phát động cả nớc đứng lên k/c.

Để đa cuộc k/c đến thắng lợi ngay

từ ngày đầu Đảng và HCT đã kịp thời vạch ra đờng lối k/c để lãnh

đạo cuộc chiến đấu của quân và dân ta Đờng lối k/c đợc hình thành dần dần từng bớc qua các văn kiện lịch sử của Đảng.

Đầu tiên đó là lời kêu gọi toàn quốc k/c của HCT vào đêm 19/12/1946

và sáng 20/12 thì lan truyền khắp toàn quốc Lời kêu gọi đã vạch rõ nguyên nhân của cuộc chiến tranh

là do chính sự xâm lợc của thực dân Pháp, chính nghĩa thuộc về nhân dân ta "chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhợng nhng chúng ta càng nhân nhợng

chúng quyết tâm cớp nớc ta một lần nữa".

Đồng thời, lời kêu gọi đã nêu lên quyết tâm chiến đấu của nhân dân

ta nhằm bảo vệ độc lập tự do của

Tổ quốc: "Không! chúng ta thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nớc, nhất định không chịu làm nô lệ"

Nêu lên t tởng cơ bản về chiến tranh nhân dân, chiến tranh toàn dân "bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ ngời già, ngời trẻ không chia tôn giáo đảng phái hễ là ngời Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp cứu Tổ quốc, ai có súng thì

dùng súng, ai có gơm thì cầm gơm,

ai không có gơm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nớc".

Cuối cùng lời kêu gọi đã nêu lên niềm tin tất thắng đối với k/c: "dù phải gian lao k/c nhng với một lòng quyết tâm hy sinh, thắng lợi nhất

định về dân tộc ta".

Lời kêu gọi chính là lời hịch cứu

n-ớc khơi dậy mạnh mẽ lòng tự hào dân tộc, truyền thống yêu nớc anh hùng bất khuất quyết tâm CM của cả dân tộc đứng lên đem sức mạnh

đoàn kết của toàn dân chiến đấu với một tinh thần nhất định chiến thắng.

Phác họa một cách cơ bản và súc tích nhất về t tởng đờng lối chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc, đánh lâu dài và dựa vào sức mình là chính Đây chính là đờng lối k/c của dân tộc ta.

Đờng lối k/c đó còn đợc bản Chỉ thị toàn dân k/c của Ban Thờng vụ TW

Đảng vào ngày 22/12/1946 đã vạch

rõ mục đích, tính chất, phơng châm cơ bản và chơng trình k/c Chỉ thị khẳng định cuộc k/c của ta là "k/c toàn dân, toàn diện, trờng kỳ và dựa vào sức mình là chính".

Cuộc k/c của ta là một cuộc chiến tranh chính nghĩa vì độc lập tự do dân chủ của nhân dân ta và vì hòa bình TG vì thế ta phải k/c toàn dân

Đó là cuộc k/c mà toàn dân tham gia đánh giặc, toàn dân k/c theo khẩu hiệu "mỗi ngời dân là một chiến sỹ, mỗi làng xã là một pháo

đàI" Trong đó, lấy lực lợng vũ trang nhân dân làm nòng cốt Đ- ờng lối này xuất phát từ truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc ta Xuất phát từ mục đích của cuộc k/c, từ quan điểm Cm là sự

- L, từ t tởng chiến tranh nhân dân của HCT, từ chủ trơng k/c toàn diện, trờng kỳ và dựa vào sức mình

là chính Vì vậy mà phải k/c toàn dân.

Cuộc k/c của ta là một cuộc k/c toàn diện bao gồm tất cả các mặt quân sự, chính trih, kinh tế, văn hóa Sở dĩ phải k/c toàn diện vì địch

đánh ta toàn diện nên ta phải chống lại chúng toàn diện Ta vừa k/c lại vừa kiến quốc tức là xây dựng chế độ mới nên phải xây dựng toàn diện Mặt khác vì ta chủ trơng k/c toàn dân nên phải k/c toàn diện

là để tạo điều kiện cho mọi ngời

đều có thể tham gia k/c tuỳ theo khả năng của mình.

Xuất phát từ chỗ so sánh tơng quan lực lợng lúc đầu giữa ta và địch chênh lệch Địch mạnh hơn ta về quân sự, kinh tế ta chỉ hơn địch về tinh thần và có chính nghĩa Do đó,

ta phải có thời gian để chuyển hóa lực lợng làm cho địch yếu dần, ta càng đánh càng mạnh đến một lúc nào đó ta mạnh hơn địch tiến lên

đánh bại chúng Vì thế Đảng chủ trơng k/c trờng kỳ.

Ta k/c phải dựa vào sức mình là chính vì ta hiểu rõ mối quan hệ giữa các yếu tố chủ quan và khách quan Yếu tố chủ quan bao giờ cũng giữ vai trò quyết định nhất

Cuộc đấu tranh của nhân dân ta phải do nhân dân ta thực hiện là chính Mặc dù ta vẫn coi trọng sự

hỗ trợ từ bên ngoài Mặt khác, lúc

đầu khi ta bắt đầu cuộc k/c thì ta bị bao vây tứ phía nếu không tự lực cánh sinh thì cũng không dựa vào

ai đợc Phải đến năm 1950 sau chiến thắng Biên giới ta mới nhận

đợc sự viện trợ từ các nớc XHCN anh em Nhng Đảng và Chính phủ trớc sau nh một vẫn đề ra chủ trơng k/c là dựa vào sức mình là chính.

Đờng lối k/c trên nhằm phát huy sức mạnh toàn dân, toàn diện của dân tộc, khắc phục những nhợc

điểm của ta về vật chất, kỹ thuật vừa đánh vừa bồi dỡng sức ta khiến

ta càng đánh càng mạnh làm thay

đổi tơng quan giữa ta và địch để cuối cùng dành thắng lợi hoàn toàn.

Đờng lối k/c của Đảng và HCT ngày càng phát triển hoàn chỉnh hơn trong quá trình k/c nhất là qua

ĐH lần thứ 2 vào năm 1951 của

TW Đảng những năm cuối của cuộc k/c.

Đờng lối k/c đó đã đợc thể hiện một cách phong phú và sinh động trong thực tiễn k/c của quân và dân ta trên tất cả các mặt hoạt động k/c, làm ngọn cờ để đoàn kết toàn Đảng, toàn dân phát triển cao nhất sức mạnh của toàn dân tộc để đánh thắng kẻ thù xâm lợc.

Đề 5: Quá trình phát triển của

và can thiệp Mỹ từ ngày toàn quốc k/c 19/12/1946 đến hết 1947.

Bài làm.

Sau Tạm ớc 14/9/1946 thực dân Pháp đã ngày càng tăng quân ở

Đông Dơng và quyết tâm trở lại xâm lợc Việt Nam Chúng ta càng nhân nhợng thì thực dân Pháp càng lấn tới cuối cùng nhân dân ta phải đứng lên chống lại chúng

Ngày 19/12/1946 cuộc k/c bùng nổ,

do bản chất của chiến tranh xâm

l-ợc cũng nh dựa vào u thế về quân

sự, binh khí, kỹ thuật nên thực dân Pháp âm mu "đánh nhanh thắng nhanh" Chúng chủ trơng bất ngờ

xé bỏ Tạm ớc và Hiệp định đã kí với

ta, nhanh chóng đánh chiếm các thành phố, thị xã rồi từ đó lấn ra các vùng xung quanh Lúc này thực dân Pháp còn hoàn toàn nắm quyền chủ động về chiến thuật.

Vì còn non yếu nên lúc này ta chủ

tr-ơng kìm chân địch trong các thành phố một thời gian, tiêu hao một bộ phận sinh lực địch, bảo toàn lực lợng của ta đập tan một bớc kế hoạch

"đánh nhanh thắng nhanh" của chúng tiếp tục chuẩn bị k/c lâu dài Về mặt chiến thuật ta lấy đánh du kích là chủ yếu.

Mở đầu là cuộc k/c anh dũng quyết

tử của quân và dân ta trong các thành phố đô thị nh Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Huế, Đà Nẵng Riêng ở Hà Nội với 2 trung

đoàn quyết tử quân đợc sự hỗ trợ của nhân dân chúng ta đã duy trì đ-

ợc cuộc chiến đấu trong 2 tháng, diệt và làm bị thơng hàng nghìn tên

địch, hàng chục xe cơ giới, bảo vệ

đợc TW, bảo toàn đợc lực lợng của

ta Sau hai tháng chiến đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đợc giao, lực lợng của ta đã rút khỏi thành phố trở về nông thôn xây dựng căn

cứ k/c.

ở các đô thị đã thắng lợi, đánh bại hoàn toàn âm mu và kế hoạch của thực dân Pháp nhằm đánh úp cơ

quan đầu não của ta tại Hà Nội, tiêu diệt lực lợng vũ trang của ta ở các thành phố, đã giữ chân địch lại, chặn đứng âm mu đánh nhanh thắng nhanh của Pháp, tạo điều kiện cho cả nớc chuyển vào k/c lâu dài.

Sau những cuộc chiến đấu anh dũng của quân và dân ta ở các đô

thị sang năm 1947 thực dân Pháp

âm mu mở một cuộc tấn công lên Việt Bắc - căn cứ địa CM của ta T tởng chiến lợc của thực dân Pháp trong chiến tranh xâm lợc Đông D-

ơng là "đánh nhanh thắng nhanh"

nhng sau gần một năm chiến tranh lan ra cả nớc Tuy chiếm đợc nhiều vùng của ta trong đó có các vùng quan trọng ở các thành phố và các

đờng GT chiến lợc, thực dân Pháp vẫn không thể nào kết thúc nhanh

đợc chiến tranh Pháp gặp nhiều khó khăn, hao binh tổn tớng, gánh nặng chiến tranh đè lên nớc Pháp

Thực dân Pháp muốn tìm một chiến thắng lớn về quân sự để mau chóng kết thúc chiến tranh vì vậy chúng

đã mở cuộc tấn công quy mô lên Việt Bắc - thủ đô của cuộc k/c.

Mục đích của thực dân Pháp khi

mở chiến dịch Việt Bắc nhằm tiêu diệt quân chủ lực của ta, tiêu diệt cơ quan đầu não của cuộc k/c, phá

tan căn cứ Việt Bắc, buộc Chính phủ ta phải đầu hàng hoặc điều

đình theo những điều kiện của chúng, dùng thắng lợi về quân sự

để thúc đẩy thành lập chính phủ bù nhìn nhanh chóng kết thúc chiến tranh.

Để thực hiện kế hoạch này ngày 7/10/1947, thực dân Pháp đã huy

động 12.000 quân mở cuộc tấn công lên Việt Bắc Một bộ phận quân nhảy dù xuống Bắc Kạn, một binh đoàn bộ binh lên Cao Bằng tạo thành gọng kìm kẹp mặt sau của Việt Bắc (mặt Đông và Bắc)

Tiếp đó ngày 9/10/1947 binh đoàn hỗn hợp bộ binh, lính thuỷ ngợc sông Hồng, sông Lô bao vây phía Tây của Việt Bắc.

Về phía ta, để đối phó với âm mu của địch đồng thời xuất phát từ t t- ởng chiến lợc của ta là đánh lâu dài, quân dân ta đã tích cực tổ chức chiến đấu tại chỗ chống lại cuộc

căn cứ địa k/c, bảo vệ cơ quan đầu não k/c, bảo vệ tính mạng tài sản của nhân dân, tiêu diệt sinh lực

địch Ngày 15/10/1947, Thờng vụ

ở mặt trận đờng số 4 đã diễn ra nhiều trận phục kích đặc biệt là trận đèo Bông Lau vào 30/10/1947

Quân ta đã phá 27 xe, diệt hơn 1

đại đội địch, thu nhiều vũ khí đạn dợc, cắt đờng tiếp tế, cô lập chúng

Cuối cùng chúng phải rút quân khỏi bản Thi, hai gọng kìm đông tây không khép kín lại đợc mà bị bẻ gãy.

ở mặt trận sông Lô - Chiêm Hóa, quân dân ta đã liên tiếp chặn đánh

địch hàng chục trận tiêu biểu là trận Đoan Hùng, Khoan Bộ, Khe Lau, đánh chìm nhiều tàu chiến, ca nô, diệt nhiều địch.

Kết quả là sau 2 tháng chiến đấu, ngày 19/12/1947 đại bộ phận quân Pháp rút khỏi Việt Bắc, đánh dấu thất bại về chiến lợc đầu tiên trong cuộc chiến tranh xâm lợc của chúng ở Đông Dơng Địch không tiêu diệt đợc cơ quan đầu não của

ta, trái lại ta đã thu thắng lợi Cả

hai cánh quân thủy bộ của địch đều

bị bẻ gãy, ta tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu 6000 tên địch, 16 máy bay bị hạ, thu nhiều vũ khí, căn cứ địa Việt Bắc đợc giữ vững, các cơ quan TW đợc an toàn.

Chiến dịch Việt Bắc thắng lợi có ý nghĩa rất to lớn đối với cuộc k/c của

ta Bởi, đây là chiến dịch phản công lớn đầu tiên của ta trong k/c chống thực dân Pháp đã giành thắng lợi, làm nức lòng quân dân ta trong cả

nớc, làm uy tín của Chính phủ k/c, của HCT càng đợc tăng cờng.

Chiến thắng Việt Bắc đã nói lên sự ởng thành vợt bậc của ta khẳng định rằng đờng lối k/c của ta là đúng cũng

tr-nh khả năng của quân dân ta có thể

lớn của địch.

Chiến thắng Việt Bắc còn chứng minh

sự vững chắc của căn cứ địa k/c, là mốc khởi đầu của sự thay đổi trong so sánh lực lợng giữa ta và thực dân Pháp theo chiều hớng có lợi cho cuộc k/c của ta Sau chiến thắng Việt Bắc ta

có thêm điều kiện để xây dựng lực ợng k/c toàn quốc, toàn dân, toàn diện.

l-Chiến thắng Việt Bắc đã giáng một

đòn quyết định vào chiến lợc "đánh nhanh thắng nhanh" của thực dân Pháp buộc chúng phải chuyển sang

đánh lâu dài với ta, đa cuộc k/c của

ta bớc qua một giai đoạn mới.

Đề 6: Quá trình phát triển dân Pháp và can thiệp Mỹ thắng biên giới Thu đông 1950.

Bài làm.

Sau thất bại ở Việt Bắc địch phải xoay sang đánh lâu dài với ta, khác với kế hoạch "đánh nhanh thắng nhanh" giờ đây chúng phải củng

cố bình định bằng chính sách "ba sạch" (Tam quan) là đốt sạch, phá sạch và phá sạch là chủ yếu Chúng phân tán quân ra để chiếm đóng, giữ đất, giành dân thỉnh thoảng lại thọc sâu vào hậu phơng của ta Chúng lập hệ thống đồn bốt nhỏ,

cứ điểm nhỏ dày đặc ở vùng đồng bằng và trung du chiếm đóng từ tuyến ra diện.

Từ giữa 1949 chúng dồn quân ra

đồng bằng Bắc Bộ Để có thể tiến hành chiến tranh lâu dài, chúng tăng cờng chính sách "Dùng ngời Việt trị ngời Việt", "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" Năm 1948 chúng nặn ra chính phủ bù nhìn do Nguyễn Văn Xuân làm thủ tớng Năm 1949 chúng đa Bảo Đại ra làm Quốc trởng để thực thi chủ tr-

ơng trên Chúng đẩy mạnh việc bắt lính, tổ chức ngụy quân tăng cờng trang bị hiện đại và nới rộng quyền hạn cho chính phủ bù nhìn Phát huy thắng lợi của chiến thắng Việt Bắc ta đã phát động và đẩy mạnh chiến tranh du kích để đánh

địch đồng thời đẩy mạnh củng cố xây dựng hậu phơng về mọi mặt tạo thực lực cho ta.

Từ đầu 1948 đến 1949, ta phân tán một bộ phận chủ lực ra thành những đại đội độc lập luồn sâu vào vùng sau lng địch để hỗ trợ cho các

địa phơng, phát động chiến tranh

19

Trang 20

thành tiền phơng của ta ở các

vùng tự do ta tích cực xây dựng về

mọi mặt đặc biệt là xây dựng lực

l-ợng ba thứ quân và xây dựng kinh

tế k/c Đến năm 1949 phong trào du

kích chiến tranh đã có bớc phát

triển mới ở vùng sau lng địch trên

cơ sở đó quân đội ta đã mở nhiều

chiến dịch trên cả 3 chiến trờng diệt

gần 1 vạn tên địch, diệt và bức rút

trên 200 đồn bốt tháp canh, giải

phóng trên 200 đồn bốt tháp canh,

giải phóng trên 4 vạn km2 đất đai

với khoảng 2 vạn dân Việc xây

dựng lực lợng 3 thứ quân đã có bớc

phát triển đáng kể, xuất hiện nhiều

đội du kích nổi tiếng nh đội du kích

đờng 5 Bộ đội địa phơng đã trở

thành chỗ dựa cho dân quân du

kích và phát triển chiến tranh du

kích ở các địa phơng Bộ đội chủ

lực đã trởng thành nhanh chóng

Tháng 8/1949 tại Việt Bắc đại đoàn

chủ lực 308 - đại đoàn quân tiên

phong đợc thành lập đánh dấu bớc

trởng thành của Quân đội nhân

dân Việt Nam Mỗi liên khu trên

chiến trờng Bắc Bộ, Bắc Trung bộ

có từ 2 trung đoàn, riêng Nam Bộ

trong năm 1949 mỗi liên khu đã

xây dựng đợc một tiểu đoàn chủ

lực.

Bớc vào năm 1950 tình hình TG và

Đông Dơng diễn ra theo chiều

h-ớng có lợi cho ta bất lợi cho Pháp:

CMTQ thành công tháng 10/1949

đã tạo điều kiện thuận lợi cho CM

nớc ta quan hệ trực tiếp với các nớc

XHCN Tiếp đó, tháng 1/1950

Trung Quốc, Liên Xô và các nớc

XHCN khác đã lần lợt công nhận

và đặt quan hệ ngoại giao với nớc

ta làm cho uy tín địa vị của ta đ ợc

nâng cao trên trờng quốc tế Cuộc

k/c của nhân dân Lào và CPC lúc

đó đều phát triển mạnh và giành

thêm thắng lợi (năm 1950 ủy ban

dân tộc giải phóng CPC thành lập

và chính phủ k/c Pathét Lào ra

đời) Phong trào đấu tranh của

nhân dân Pháp và nhân dân TG

phản đối chiến tranh ở Đông Dơng

lên mạnh Lúc này Mỹ bắt đầu lao

vào chiến tranh Triều Tiên, hoàn

cảnh nh vậy đã dẫn tới Pháp đứng

trớc tình hình đó ngày càng dựa

vào Mỹ và nhờ Mỹ nhiều Thực dân

Pháp thực hiện kế hoạch quân sự

mới (kế hoạch Rơve) thực hiện âm

mu khóa chặt biên giới Việt Trung

bằng việc tăng cờng hệ thống

phòng ngự trên đờng số 4 để tách

cuộc k/c của ta với hậu phơng các

nớc XHCN Thiết lập hành lang

Đông - Tây (Hải Phòng - Hà Nội -

địa Việt Bắc với các khu 3,4 Chuẩn

bị cho cuộc tấn công Việt Bắc lần thứ 2.

Về phía ta, trên cơ sở những thắng lợi đã thu đợc và tận dụng những

điều kiện thuận lợi trên để phá âm

mu địch nhằm đa cuộc k/c tiến lên giai đoạn cao hơn Ta chủ động mở chiến dịch Biên giới nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, khai thông biên giới để mở rộng đờng liên lạc của

ta với các nớc XHCN, mở rộng và củng cố căn cứ địa k/c Việt Bắc.

Ngày 16/9/1950 các đơn vị quân

đội ta nổ súng mở đầu chiến dịch bằng trận mở đầu đánh vào vị trí

Đông Khê theo lối công kiên đã

giành đợc thắng lợi sau 2 ngày

Mất Đông Khê, Thất Khê bị uy hiếp, Cao Bằng bị cô lập, quân Pháp đợc lệnh rút khỏi Cao Bằng theo đờng số 4 và quân từ Thất Khê lên đón quân Cao Bằng về.

Từ 1/10 đến 8/10/1950 ta liên tục bôn tập bao vây chặn đánh địch ở Cốc Xá đồi 477 và tiêu diệt gọn 2 binh đoàn gồm 7 tiểu đoàn của Lơpagiơ (Thất Khê) và Sác Tông (Cao Bằng) ở phía Thất Khê địch tiếp tục đa quân ứng cứu cho Lơpagiơ và Sáctông cũng bị quân

ta chặn đánh dữ dội và tháo chạy

về Thất Khê Quân địch ở Thất Khê

bị cô lập và uy hiếp buộc phải rút

về Na Sầm Ngày 13/10/1950 quân

địch ở Na Sầm cũng phải rút chạy

về Lạng Sơn Sự thất bại của 2 binh

đoàn Lơpagiơ và Sáctông, sự rút chạt của các vị trí Thất Khê, Na Sầm đã làm cho địch hoang mang

Ngày 17/10/1950 quân địch ở đồng bằng rút chạy, ngày 18/10 quân

địch ở Lạng Sơn rút chạy rồi đến

Đình Lập, Lộc Bình, An Châu

trong khi đó cuộc hành quân của

địch lên Thái Nguyên cũng bị quân

ta chặn đánh.

Kết quả là ta hoàn toàn thắng lợi, cả 3 mục tiêu đề ra ta đều thực hiện

đợc, tiêu diệt và bắt 8300 tên địch, phá huỷ và thu hồi nhiều vũ khí, phơng tiện chiến tranh của địch, khai thông biên giới Việt Trung trên một đoạn dài từ Đình Lập đi Cao Bằng sang Lào Cai, giải phóng 4000 km2 đất đai và 40 vạn dân, căn cứ địa Việt Bắc đợc củng

cố và mở rộng.

Chiến thắng Biên giới 1950 thắng lợi là một mốc quan trọng của CMVN Đây là chiến dịch tiến công lớn đầu tiên của ta trong k/c chống thực dân Pháp giành đợc thắng lợi

cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân ta.

thành về nhiều mặt của quân đội ta

từ đánh du kích sang đánh tập trung quy mô lớn Đây là bớc nhảy vọt về chiến thuật đánh địch (chọn

điểm tấn công, kết hợp đánh đồn diệt viện, kết hợp công kiên với vận

động chiến).

Thắng lợi của chiến dịch Biên giới

có ý nghĩa chiến lợc to lớn đối với toàn bộ cuộc k/c chống Pháp

Chiến thắng Biên giới đã mở đầu giai đoạn liên tục đánh lớn của cuộc k/c, sau chiến dịch Biên giới

ta chủ động mở liên tiếp những cuộc phản công và tiến công liên tiếp giành thắng lợi trên mặt trận quân sự cũng nh các mặt trận khác

Sau chiến dịch Biên giới tình thế chiến tranh giữa ta và Pháp có sự thay đổi căn bản, quân ta liên tiếp giành thế chủ động, đẩy địch ngày càng lùi sâu vào thế bị động đối phó.

Đề 7: Quá trình phát triển của cuộc k/c chống Pháp từ cuối

1950 đến giữa 1953

Bài làm.

Sau thất bại Biên giới 1950 dựa vào viện trợ Mỹ, thực dân Pháp tìm cách vạch ra kế hoạch mới nhằm

ổn định tình hình và giành lại quyền chủ động trên chiến trờng chính là Bắc Bộ Cụ thể là gấp rút quân Âu - Phi nhằm xây dựng một lực lợng cơ động chiến lợc mạnh

đồng thời ra sức phát triển ngụy quân để xây dựng "quân đội quốc gia" bù nhìn.

Xây dựng những tuyến công sự xi măng, cốt sắt (bôngke) thành lập

"vành đai trắng" bao quanh trung

du và đồng bằng Bắc Bộ nhằm ngăn chặn chủ lực của ta, kiểm soát ta đa nhân tài vật lực ra vùng

tự do.

Tiến hành chiến tranh tổng lực, bình định vùng tạm chiếm, vơ vét sức ngời sức của của nhân dân ta

để tăng cờng lực lợng cho chúng.

Đánh phá hậu phơng của ta bằng biệt kích, thổ phỉ, gián điệp kết hợp với oanh tạc bằng phi pháo, chiến tranh tâm lý, chiến tranh kinh tế.

Chúng mở cuộc tiến công ra Hòa Bình nhằm nối lại hành lang Đông

- Tây tiến tới lập "xứ Mờng tự trị"

Nhìn chung đây cũng chỉ là một kế hoạch phòng thủ bị động của địch.

Về phía ta, phát huy quyền chủ

động chiến lợc vừa giành đợc, ta

đẩy mạnh đánh địch ở nhiều nơi,

đẩy mạnh các hoạt động của công cuộc k/c kiến quốc.

Thừa thắng sau chiến dịch Biên giới đặc biệt từ sau khi có Nghị

thứ 2 năm 1951 soi đờng, quân dân

ta đã liên tiếp giành thắng lợi ngày càng lớn trên khắp các chiến trờng

từ Bắc Bộ đến Bình Trị Thiên, Tây Nguyên và Nam Bộ Địch ngày càng lún sâu vào thế bị động khốn

đốn về mọi mặt.

Từ tháng 12/1950 đến tháng 1/1951 ta đã mở chiến dịch Trung

Lại qua Đông Triều đến Uông Bí tiêu diệt 14 vị trí của địch.

Chiến dịch Quang Trung (chiến dịch Hà Nam Ninh) từ tháng 5 đến tháng 6/1951 ta tiến công địch ở Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình Đây là một chiến dịch lớn Lần đầu tiên quân ta tiến công địch ở đồng bằng

đồng thời chiến tranh du kích cũng

đợc phát triển ở đồng bằng và trung du.

Cuối 1951 ta đã chủ động đón

đánh địch ở mặt trận Hòa Bình

Chiến dịch Hoà Bình ta nhanh chóng thu thắng lợi nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa việc đánh địch ở chiến trờng chính với các chiến tr- ờng phụ khắp nơi trong cả nớc.

Tháng 2/1951 địch phải rút chạy khỏi Hoà Bình lại bị bộ đội ta truy kích tiêu diệt thêm một bộ phận nữa Cả 2 mặt trận chính diện và sau lng ta đã tiêu diệt 22.000 tên

địch, bức hàng, bức rút hơn 1000

đồn bốt tháp canh Chiến thắng Hòa Bình thể hiện nghệ thuật chỉ

đạo phối hợp chiến đấu giữa mặt trận chính diện và sau lng địch của

Đảng ta.

Cuối 1952 (tháng 10 đến tháng 12)

Đảng ta quyết định mở chiến dịch Tây Bắc tiến sâu vào một vùng chiến lợc quan trọng nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch giải phóng dân, đất đai Chiến dịch Tây Bắc thắng lợi ta đã tiêu diệt 6000

địch, giải phóng một vùng đất đai 28.500 km2 và 25 vạn dân, miền Tây Bắc của ta đợc giải phóng đã

nối liền với căn cứ địa Việt Bắc ở phía Đông và Thợng Lào ở phía Tây tạo thành thế chiến lợc liên hoàn mới cho ta.

Mùa xuân 1953 phối hợp với quân dân Lào ta đã mở chiến dịch Thợng Lào thu thắng lợi đã tạo điều kiện

đẩy mạnh cuộc k/c của nhân dân Lào anh em.

Nh vậy, từ cuối 1950 đến giữa 1953

là thời kỳ cuộc k/c của ta phát triển

các mặt hoạt động của công cuộc k/c kiến quốc đều thu đợc những thành tựu quan trọng đặc biệt là trong lĩnh vực quân sự.

Lực lợng của ta đã lớn mạnh không ngừng cả về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội Riêng về quân sự thì nét nổi bật là sự hình thành ba thứ quân: lực lợng du kích đã lớn mạnh, những đại đoàn quân chủ lực đã hình thành, hình thức tác chiến cao hơn trớc.

Ta đã giành, giữ vũng và phát triển thế chủ động chiến lợc trên chiến trờng chính là Bắc Bộ Từ việc nắm quyền chủ động chiến dịch từ sau thu đông 1947 đến việc nắm quyền chủ động chiến lợc ở chính Bắc Bộ năm 1950 Hàng loạt chiến thắng

từ thu đông 1950 đến đông xuân

1952 - 1953 đã khẳng định thế chiến lợc vững chắc của ta Địch càng lún sâu vào thế bị động lúng túng.

Ta đã tiêu diệt một bộ phận lớn ngụy quân ngụy quyền, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn Tình hình đó cho phép ta có khả năng chuẩn bị kết thúc chiến tranh.

Đề 8: Quá trình phát triển cuộc k/c chống Pháp và can thiệp Mỹ từ chiến cuộc

đông xuân 53 - 54 cho đến chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.

Bài làm Trong lịch sử giữ nớc của dân tộc

ta có biết bao nhiêu trận đánh đi vào lịch sử nh những chiến công oai hùng nhất, Điện Biên Phủ cũng

là một trong những chiến công nh vậy Chiến dịch Điện Biên Phủ "đã

đợc ghi vào lịch sử dân tộc nh một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một

Đống Đa ở thế kỷ XX và đi vào lịch

sử TG nh một chiến công chói lọi

đột phá thành trì của hệ thống nô

dịch thuộc địa của CNĐQ".

Qua 8 năm k/c lực lợng của ta đã

lớn mạnh một cách toàn diện và liên tiếp giành những thắng lợi ngày càng to lớn trên mặt trận quân sự Vùng giải phóng đợc mở rộng, chính quyền dân chủ nhân dân, mặt trận dân tộc thống nhất và khối liên minh công nông đợc củng

cố Quốc tế ngày càng đồng tình ủng hộ cuộc k/c của ta.

Về phía địch, bị suy yếu và thiệt hại nặng nề (bị giết và bị bắt gần 391.000 tên, vùng chiếm đóng bị thu hẹp, mâu thuẫn cơ bản về quân

sự của địch là giữa tập trung và

sắc, tinh thần địch ngày càng sút kém Khó khăn lớn nhất của địch trên chiến trờng là ngày càng đi vào thế bị động phòng ngự, thiếu hẳn một lực lợng cơ động chiến lợc mạnh để đối phó với các cuộc tiến công mới của ta Về kinh tế tài chính gặp nhiều khó khăn, chiến phí cho chiến tranh Đông Dơng lên cao Nhân dân Pháp đấu tranh chống lại cuộc chiến tranh xâm lợc của Pháp ở Đông Dơng.

Khó khăn về quân sự, tài chính đã

ảnh hởng tới tình hình chính trị của Pháp Nội các nhiều lần sụp

đổ, nội bộ g/c thống trị mâu thuẫn

Trớc sự sa lầy và thất bại của Pháp

đế quốc Mỹ sau khi buộc phải đình chiến ở Triều Tiên tháng 7/1953 đã

ra sức can thiệp sâu vào chiến tranh ở Đông Dơng, ép Pháp phải kéo dài và mở rộng chiến tranh

đồng thời tích cực chuẩn bị thay thế Pháp Cuối cùng ngày 7/5/1953 với

sự thỏa thuận của Mỹ chính phủ Pháp đã cử tớng Nava làm tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở

Đông Dơng Nava đã phác ra một

kế hoạch chiến lợc hy vọng trong

18 tháng giành thắng lợi quyết

định chuyển bại thành thắng.

Kế hoạch Nava đợc chia làm 2 bớc

Bớc thứ nhất từ thu đông 1953 đến xuân 1954 giữ thế phòng ngự chiến lợc ở miền Bắc, tấn công chiến lợc

để bình định Miền Trung và Miền Nam Đồng thời chúng cố gắng tập trung lực lợng, xây dựng cho đợc một lực lợng cơ động mạnh làm quả đấm thép để thực hiện bớc 2.

Bớc thứ 2 từ thu đông 1954 chuyển sang tấn công chiến lợc miền Bắc nhằm tạo ra một tình hình quân sự, cho phép đa ra một giải pháp chính trị để giải quyết chiến tranh có lợi cho chúng.

Thực hiện kế hoạch đó thực dân Pháp đã tăng thêm 12 tiểu đoàn bộ binh rút từ Pháp, Bắc Phi, Triều Tiên sang đồng thời tăng thêm gần

10 vạn lính ngụy, xin Mỹ tăng gấp rỡi viện trợ quân sự (viện trợ của

Mỹ lúc này chiếm tới 73% chi phí chiến tranh Đông Dơng) Chúng đã

nâng tổng số quân chủ lực lên 84 tiểu đoàn tơng đơng với 480.000 quân trong đó riêng đồng bằng Bắc

Bộ chúng đóng 44 tiểu đoàn (trên 50% số quân cơ động toàn Đông D-

ơng) Chúng hành động theo khẩu

luôn tấn công" mở nhiều cuộc càn quét, tổ chức đánh tập kích ra vùng Lạng Sơn rồi tấn công ra vùng giáp giới Ninh Bình, Thanh Hóa

Tuy nhiên kế hoạch Nava cũng không dễ dàng thực hiện trong khi Pháp gặp những khó khăn nh trên còn ta thì thế và lực vẫn ngày một trởng thành Kế hoạch Nava ra đời trong thế bị động ấy nhất định sẽ thất bại.

Trớc tình hình địch, ta và trên cơ sở

đánh giá đúng đắn lực lợng ta qua các chiến dịch từ 1950 đến 1953

Đảng ta đã thông qua kế hoạch tác chiến Đông xuân 53 - 54 với quyết tâm: giữ vững quyền chủ động

đánh địch trên cả hai mặt trận:

chính diện và sau lng địch Phối hợp hoạt động trên phạm vi cả nớc

và trên toàn Đông Dơng, nắm vững nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch là chính.

Ta tập trung lực lợng mở những cuộc tấn công vào những hớng quan trọng về chiến lợc mà ở đó

địch tơng đối yếu nhng chúng không thể bỏ nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng đất

đai đồng thời buộc địch phải bị

động phân tán lực lợng đối phó với

ta trên những địa điểm xung yếu

mà chúng không thể bỏ Do phải phân tán binh lực mà tạo ra cho ta những điều kiện thuận lợi mới để tiêu diệt thêm từng bộ phận sinh lực của chúng Chủ trơng ấy đã thế hiện phơng châm tích cực chủ động linh hoạt "tiến ăn chắc, đánh ăn chắc", "chắc thắng thì đánh cho kỳ thắng không chắc thắng thì không

đánh".

Quyết tâm chiến lợc của ta là phải

đập tan kế hoạch Nava ngay từ bớc

đầu khi địch tập trung lực lợng lớn

ở đồng bằng Bắc Bộ để uy hiếp vùng tự do của ta Ta đã tập trung lực lợng mạnh bạo tấn công lên Tây Bắc, giải phóng Lai Châu buộc

địch phải bị động vội điều quân lên

Điện Biên Phủ và giữ căn cứ đó bằng bất cứ giá nào Ta bao vây quân địch ở Điện Biên Phủ Điện Biên Phủ trở thành nơi tập trung quân thứ 2 của địch.

Ta phối hợp với quân giải phóng Pathét Lào tấn công vào hớng Trung Lào giải phóng Thà Khẹt uy hiếp SaVănNaKhét và căn cứ Sênô, Nava buộc phải đa thêm lực lợng để

Sênô Sênô trở thành nơi tập trung quân thứ 3 của địch ở Hạ Lào quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với quân đội Pathét Lào men theo dãy Trờng Sơn giải phóng thị xã Atốppơ và cao nguyên Pôlôven sau đó phối hợp với quân giải phóng Cămpuchia giải phóng Vơn Sai nối liền khu du kích Cămpuchia với căn

cứ Hạ Lào.

Khi địch mở chiến dịch átlăng tấn công vào Tuy Hòa (Phú Yên) nhằm

đánh chiếm toàn bộ vùng tự do của ta

ở liên khu 5, giữ vững quyền chủ động

đánh địch Bộ đội chủ lực của ta bất ngờ tấn công lên Bắc Tây Nguyên, ngày 5/2/1954 ta giải phóng thị xã Kon Tum diệt 2000 địch, một vùng rộng lớn 16.000 km2 đất đai với 20 vạn dân đợc giải phóng, uy hiếp Plâycu buộc địch phải bỏ dở cuộc tấn công lên Tuy Hòa và tăng lực lợng cho Plâycu Plâycu trở thành nơi tập trung binh lực thứ 4 của địch.

Để đánh lạc hớng phán đoán của địch các lực lợng Việt - Lào đã mở cuộc tấn công vào Thợng Lào giải phóng lu vực sông Nậm Gu, thừa lúc địch hoang mang, một bộ phận liên quân Việt Lào

đã tiến lên phía Bắc giải phóng Phongxalì mở rộng căn cứ k/c của nhân dân Lào, khu giải phóng Sầm N-

a của bạn nối liền với khu Tây Bắc của ta Lo sợ ta đánh thẳng vào kinh

đô Lào, Nava buộc phải dùng cầu hàng không đa quân từ đồng bằng Bắc Bộ tăng cờng cho Mờng Sài, LuôngPhaBăng trở thành nơi tập trung binh lực thứ 5 của địch Phối hợp chặt chẽ với mặt trận chính diện, phong trào chiến tranh

du kích đã phát triển mạnh ở vùng sau lng địch, đánh phá giao thông kho tàng của địch, làm cho địch phải phân tán thêm lực lợng để chống đỡ.

Nh vậy, địch phải phân tán lực lợng thành 5 nơi để đối phó với ta điều

đó chứng tỏ kế hoạch Nava bớc đầu phá sản Ta từ chỗ chỉ giữ thế chủ

động chiến lợc ở chiến trờng chính giờ đây đã tiến lên giữ thế chủ động chiến lợc trên toàn bộ chiến trờng

Đông Dơng Những thắng lợi đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho ta tiến lên mở trận quyết chiến chiến lợc trận Điện Biên Phủ để giành thắng lợi quyết định.

Sau khi sang Đông Dơng, Nava tập trung mọi cố gắng để thực hiện kế

20

Trang 21

kế hoạch Nava là tổ chức khối chủ

lực tác chiến bằng tăng cờng dồn

quân bắt lính, rút lực lợng chiếm

đóng về tập trung xây dựng binh

lực nhằm thực hiện kế hoạch tác

chiến theo 2 bớc trên Sau khi kế

hoạch Nava bớc đầu bị phá sản (từ

một nơi tập trung quân phải phân

tán thành 5 nơi) Phát hiện lực lợng

chủ lực của ta tiến nhanh lên Tây

Bắc, Nava quyết định co lực lợng về

giữ Điện Biên Phủ và chấp nhận

một cuộc chiến lợc với ta ở đây.

Điện Biên Phủ là một thung lũng

sát biên giới Việt - Lào cách Hà Nội

l-ợc cơ động ở giữa miền Bắc Việt

Nam, Thợng Lào và miền Nam

Trung Quốc Về lâu dài có thể trở

dụng là thu hút chủ lực của ta,

giam chân và tiêu diệt chủ lực của

ta, tạo điều kiện cho chúng bình

định đồng bằng Bắc Bộ, đánh

chiếm liên khu 5 thực hiện bộ phận

chủ yếu của kế hoạch Nava trong

đông xuân 53 - 54.

Nh vậy, Điện Biên Phủ từ chỗ

không nằm trong nội dung kế

hoạch Nava đã trở thành trung tâm

điểm của kế hoạch Nava đợc giới

chủng tinh nhuệ nhất ở Đông

D-ơng Chúng cho xây dựng nơi đây

thành 49 cứ điểm, 2 sân bay, tất cả

các vị trí đều nằm trong công sự và

giao thông hào chìm dới lòng đất

rất kiên cố Tập đoàn cứ điểm chia

làm 3 khu: trung tâm Mờng Thanh,

phân khu Bắc và phân khu Nam

Ngoài ra chúng còn dùng đến 3000

tấn dây thép gai và rất nhiều mìn để

bảo vệ cho tập đoàn cứ điểm Pháp -

Mỹ coi Điện Biên Phủ là một pháo đài

"bất khả xâm phạm", là con nhện

khổng lồ ở miền Tây Bắc, là một cái

tuyên bố giữ căn cứ đó bằng bất cứ giá

nào nếu bộ đội Việt Nam đánh vào thì

Điện Biên Phủ sẵn sàng nghiền nát bộ

đội chủ lực Việt Nam.

Điện Biên Phủ ra đời trong lúc Pháp đang bị động phân tán lực l- ợng để đối phó với các cuộc tiến công của ta vì vậy âm mu chiếm

đóng và xây dựng tập đoàn cứ điểm của thực dân Pháp là hết sức phiêu

lu mạo hiểm và đầy tham vọng.

Muốn đập tan đợc kế hoạch Nava tiến tới chấm dứt chiến tranh phải tiêu diệt Điện Biên Phủ, ngày 6/12/1953 Bộ Chính trị TW Đảng

ta đã họp và nhận định: về phía

địch đây là một tập đoàn cứ điểm mạnh nhng có cái yếu cơ bản là bị cô lập, xa Hà Nội, chỉ tiếp tế, tiếp viện đợc bằng hàng không Về phía ta, quân đội đã trởng thành có thể đánh tập đoàn cứ điểm, hậu phơng của ta thực hiện cải cách ruộng đất, giảm tô, giảm tức tinh thần nhân dân phấn khởi, ta có thể khắc phục đợc những khó khăn về đờng xá, vận tải, tiếp tế.

Trên cơ sở chủ trơng lớn trong

đông xuân 53 - 54 và xuất phát từ tình hình trên theo nguyên tắc chỉ

đạo tác chiến là tiêu diệt sinh lực

địch, đánh chắc thắng Đảng ta quyết định hạ quyết tâm tiêu diệt

địch ở Điện Biên Phủ với mục tiêu:

tiêu diệt toàn bộ địch ở đây, giải phóng vùng Tây Bắc và tạo điều kiện cho lực lợng vũ trang của Lào giải phóng vùng Bắc Lào đồng thời tạo điều kiện tiêu hao tiêu diệt sinh lực địch trên toàn cõi Đông Dơng

Ta đã điều đại bộ phận lực lợng chủ lực lên tham gia chiến dịch: 4

đại đoàn bộ binh và một đại đoàn công pháo thành lập Hội đồng cung cấp mặt trận TW và các cấp

để bảo đảm chi viện cho tiền tuyến với khẩu hiệu "tất cả cho tiền tuyến", tất cả để đánh thành địch ở

Điện Biên Phủ, hàng vạn thanh niên xung phong đã phối hợp với các đơn

vị công binh mở đờng ra tiền tuyến, dân quân ngày đêm chuyển lơng thực

đạn dợc cho bộ đội Nh vậy, Điện Biên Phủ trở thành điểm quyết chiến chiến lợc giữa ta và địch Ta đề ra phơng châm đánh chắc tiến chắc

Kế hoạch tác chiến là tiến hành một loạt trận công kích tiêu diệt mỗi lần một hay một số trung tâm

đề kháng của địch kết hợp quá

trình tiến công tiêu diệt các cứ điểm

vây đi đến triệt hẳn nguồn tiếp tế và cứu viện tạo điều kiện cho quân ta tiến lên tổng công kích tiến lên tiêu diệt toàn bộ quân địch.

Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra trong 3 đợt Đợt 1 từ ngày 13/3 đến 17/3/1954 ta đánh vào cụm cứ điểm Him Lam nằm trên 3 quả đồi cao ở phía Bắc do một tiểu đoàn lê dơng

và một số đơn vị ngụy binh đóng giữ Đại bác và máy bay địch chăng hoả lực để bảo vệ Him Lam nhng pháo ta đã dập tắt đợc hỏa lực địch yểm hộ cho bộ binh tiến lên Sau nửa giờ lá cờ quyết chiến quyết thắng của ta đã phất cao trên cả 3 ngọn cờ Giải quyết xong Him Lam

ta quyết định tiêu diệt địch ở cứ

điểm Độc Lập rồi Bản Kéo Toàn

bộ phân khu phòng thủ phía Bắc của địch bị tiêu diệt, ta đã diệt và bắt sống gần 2000 tên địch Thắng lợi của cuộc tiến công này chứng tỏ phơng châm "đánh chắc tiến chắc"

là hoàn toàn chính xác.

Đợt 2 từ 30/3 đến 26/4 quân ta tấn công vào khu đông Mờng Thanh gồm các cứ điểm E 1 , D1, C1, C2, A1 cửa ngõ của trung tâm địch cho nên ta ra sức đánh, địch cố sức giữ, cuộc chiến đấu ác liệt kéo dài suốt mấy tuần lễ liền, đặc biệt là trên 2 quả đồi A1, C1 ngày đêm sống trong khói lửa bụi cát, thiếu

ăn thiếu nớc, thiếu thuốc men, các chiến sĩ của ta vẫn bền gan chiến

đấu, bám sát trận địa, giành giật với địch từng tấc đất.

Kết quả là ta chiếm đợc toàn bộ vị trí, phát triển trận địa tấn công chia cắt địch, thắt chặt vòng vây, khống chế đi đến triệt đờng tiếp tế của

địch để chuyển sang tổng công kích tiêu diệt địch.

Đợt 3 từ 1/5 đến 7/5/1954 bộ đội ta

đánh các cao điểm còn lại ở phía

Đông và tổng công kích trung tâm Mờng Thanh Đêm 6/5 quân ta

đánh chiếm toàn bộ các ngọn đồi phía đông, là chìa khóa phòng ngự cuối cùng của phân khu trung tâm

Địch bị hất toàn bộ xuống lòng chảo Mờng Thanh Cuộc tổng công kích của ta bắt đầu, những cánh quân của ta từ các phía tới tấp

đánh vào chỉ huy sở của địch

Chiều 7/5/`954 lá cờ quyết chiến quyết thắng của ta phất cao trên nóc hầm tớng Đờcát cùng toàn bộ ban tham mu của địch bị bắt sống,

lũ lợt ra hàng Đêm 7/5/1954 trớc

đòn tấn công của quân ta toàn bộ quân địch trên 2000 tên của phân khu Nam Hồng Cúm rút chạy đến nửa đêm toàn bộ bị bắt sống.

Sau 56 ngày đêm chiến đấu liên tục và mãnh liệt của quân đội ta chiến dịch

Điện Biên Phủ đã hoàn toàn thắng lợi

Cùng thời gian này các chiến trờng trên toàn quốc cũng đẩy mạnh cuộc

đấu tranh nhằm tiêu hao để giam chân, phân tán lực lợng tạo điều kiện cho Điện Biên Phủ giành toàn thắng.

Cuộc tiến công chiến lợc 53 - 54 và chiến dịch lịch sử Điện Biên phủ đã

thắng lợi hoàn toàn, quân dân ta

đã tiêu diệt 112.000 tên địch trên các chiến trờng, thu 19.000 súng các loại, phá 177 máy bay, 81 đại bác, giải phóng nhiều vùng đông dân ở đồng bằng Bắc Bộ, Trung

Bộ, Nam Bộ Riêng mặt trận Điện Biên Phủ ta đã diệt và bắt sống 16.200 tên địch trong đó có một t- ớng (Đờcát), 16 quan năm, 17 tiểu

đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, bắn rơi và phá huỷ 62 máy bay, thu toàn bộ trang bị vũ khí.

Chiến thắng Điện Biên Phủ là đỉnh cao của cuộc tiến công của ta trong

đỉnh cao đông xuân 53 - 54, là thắng lợi to lớn nhất của ta trong 9 năm k/c chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ Nó đánh dấu sự tr- ởng thành vợt bậc của ta về quân

sự tạo nên một chuyển biến lớn lao cho cuộc k/c thắng lợi của ta trong cuộc quyết chiến này đã trực tiếp

mở ra khả năng kết thúc thắng lợi cuộc k/c.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ

đã làm cho kế hoạch Nava - cố gắng cao nhất của Pháp - Mỹ hoàn toàn bị phá sản, giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lợc vào thực dân Pháp tạo cơ sở thực lực để

đi đến ký kết hiệp định Giơnevơ về việc lập lại hòa bình ở Đông Dơng

CNTD cũ của Pháp đã bị sụp đổ ở Việt Nam, đồng thời cũng là thất bại đầu tiên của Mỹ trong âm mu can thiệp vào Đông Dơng.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ

là đỉnh cao của truyền thống anh hùng bất khuất, ý chí quyết tâm

"thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nớc, không chịu làm nô lệ" của truyền thống CN anh hùng CMVN Chiến thắng này

vũ mạnh mẽ phong trào gpdt trên

TG Việt Nam - HCM - Điện Biên Phủ đã trở thành biểu tợng của ý chí CM, của các dân tộc bị áp bức

và toàn thể loài ngời tiến bộ.

Đề 9: Hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa của Hiệp

định Giơnevơ 1954.

Bài làm.

Đồng thời với những thắng lợi trên mặt trận quân sự thì TW Đảng và HCT quyết định mở thêm một mặt trận ngoại giao Lúc này Liên Xô

và các nớc XHCN ngày càng lớn mạnh trở thành trụ cột cho cuộc

đấu tranh vì hoà bình dân chủ, độc lập dân tộc và CNXH thế giới Sau CMTQ thành công năm 1949 đã

nối liền nớc ta với các nớc XHCN

Từ năm 1950 Trung Quốc, Liên Xô

và các nớc XHCN đã chính thức công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với chính phủ ta, ủng hộ giúp

đỡ ta k/c Lúc này yêu cầu tha thiết của nhân dân TG là hòa bình chống chiến tranh.

CNĐQ đã tập trung mũi nhọn vào các phong trào chống đế quốc triệt

để trong đó có Việt Nam, thế lực phản động ở Pháp vẫn còn chiếm u thế trong chính phủ ở Triều Tiên sau khi chiến tranh kết thúc đất n-

ớc còn chia ra làm 2 miền với 2 chế

độ chính trị khác nhau Đế quốc

Mỹ sau khi đình chiến ở Triều Tiên

và muốn quốc tế hóa, mở rộng chiến tranh ở Đông Dơng đã gây lo ngại cho nhân dân yêu chuộng hòa bình.

Bối cảnh quốc tế trên có tác động cả hai mặt đến cuộc k/c của nhân dân ta nói chung, đến cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao nói riêng.

ở trong nớc, nhân dân ta ngay từ khi bắt đầu cuộc k/c Đảng đã dự kiến rằng trong quá trình k/c có thể

và cần phải tiến hành cuộc đàm phán ngoại giao để hỗ trợ cho cuộc tiến công quân sự, chính trị Vì vậy, ngày 26/11/1953 HCT đã trả lời

điểm này: nhân dân Việt Nam kiên quyết k/c đến thắng lợi cuối cùng nếu thực dân Pháp tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lợc nhng nhân dân Việt Nam và chính phủ VNDCCH cũng sẵn sàng đi đến

đình chiến ở Việt Nam bằng thơng lợng hòa hình nếu chính phủ Pháp muốn nh vậy với lập trờng đàm phán là nớc Pháp phải công nhận Việt Nam độc lập thống nhất có chủ quyền.

Nhng lúc đầu khi lực lợng ta còn yếu lập trờng của Pháp là đòi ta nộp vũ khí Đến sau thất bại ở các chiến dịch Hòa Bình, Biên Giới, Tây Bắc Pháp từng bớc thay đổi lập trờng thực dân là muốn thơng l- ợng với ta nhng mà trên thế mạnh

Hiểu rõ bản chất ngoan cố của bọn thực dân đế quốc Đảng ta đã chỉ rõ

đàm phán chỉ có kết quả nếu ta tiêu diệt đợc lực lợng kẻ thù trên đất ta

và ý chí xâm lợc của chúng đã bị đè bẹp.

Từ cuối 1953 cuộc k/c của ta đi vào giai đoạn cuối, ta giành nhiều thắng lợi lớn trên mặt trận quân sự, chính trị nên Đảng ta chủ trơng mở mặt trận đấu tranh ngoại giao Đối với Pháp đến lúc này do bị thất bại nặng trên chiến trờng chúng mới chịu thay đổi thái độ nhng mục tiêu

ơng.

Đến 26/4/1954 giữa lúc quân ta kết thúc đợt tấn công thứ 2 và chuẩn bị

mở đợt tấn công thứ 3 để quyết định

số phận quân viễn chinh Pháp thì

Hội nghị Giơnevơ về Đông Dơng khai mạc.

Ngày 4/5/1954 phái đoàn chính phủ do ông Phạm Văn Đồng làm tr- ởng đoàn bớc vào bàn hội nghị với

t thế là đại biểu cho dân tộc chiến thắng Ngày 8/5/1954 Hội nghị bắt

đầu thảo luận về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dơng.

VNDCCH là đình chỉ chiến sự trên toàn bán đảo Đông Dơng đi đôi với việc giải quyết vấn đề chính trị cho Việt Nam, Lào, Cămpuchia trên cơ

sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của các nớc Đông Dơng.

Cuộc đấu tranh ngoại giao ở Giơnevơ đã diễn ra gay go và phức tạp Ta kiên trì đấu tranh chống âm

mu phá hoại của Pháp - Mỹ và các thế lực phản động TG Ngày 21/7/1954 Hiệp định Giơnevơ đợc

ký kết.

Nội dung cơ bản của Hiệp định Giơnevơ là tóm tắt các văn bản quan trọng đợc ký kết tại hội nghị:

Hiệp định về đình sự ở Việt Nam, tuyên bố cuối cùng của hội nghị và các phụ bản về giới tuyến tạm thời, khu phi quân sự và các vùng đóng quân tạm thời.

Chính phủ Pháp và các nớc tham

dự Hội nghị tuyên bố tôn trọng các quyền cơ bản của nhân dân Việt Nam, Lào, Cămpuchia là chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tuyệt đối không can thiệp vào nội trị của những nớc đó.

Hai bên phải ngừng bắn đồng thời

ở Việt Nam và trên toàn chiến trờng

Đông Dơng tập kết chuyển quân và chuyển giao khu vực.

Quy định quân đội nớc ngoài phải rút khỏi Đông Dơng, cấm đa quân

đội, nhân viên quân sự, vũ khí nớc ngoài vào ba nớc Đông Dơng Các nớc ngoài không đợc đặt căn cứ quân sự ở Đông Dơng Các nớc

Đông Dơng không đợc ra nhập những khối liên minh quân sự và không đợc để các nớc khác dùng lãnh thổ của mình gây lại chiến tranh hoặc phục vụ mục đích quân sự.

Không phân biệt đối xử, không trả

thù những cá nhân hoặc tập thể cũng nh với gia đình của ngời đã

cộng tác với một trong hai bên trong thời gian chiến tranh.

Việt Nam sẽ thống nhất bằng cuộc tổng tuyển cử tự do trong cả nớc vào tháng 7/1956 dới sự kiểm soát của một ủy ban quốc tế (gồm ấn

Độ, Ba Lan, Canađa).

Trách nhiệm thi hành hiệp định Giơnevơ thuộc về những ngời ký hiệp định và những ngời kế nhiệm sau này.

chuyển giao khu vực ở Việt Nam lấy

vĩ tuyến 17 dọc sông Bến Hải làm giới tuyến quân sự tạm thời chia Việt Nam làm 2 miền: phía Bắc do quân đội Việt Nam đóng và phía Nam do quân đội Pháp đóng tiến tới tổng tuyển cử tự do trong cả nớc trong thời hạn 2 năm ở Lào có một khu tập kết cho lực lợng k/c bao gồm 2 tỉnh Sầm Na và Phongxalì ở Cămpuchia lực lợng k/c không có khu vực tập kết mà phải phục viên tại chỗ.

Thắng lợi của ta trên mặt trận ngoại giao do rất nhiều nguyên nhân Do ta có đờng lối chính trị, đ- ờng lối ngoại giao đúng đắn của

Đảng ta Do quân dân ta đã đoàn kết nhất trí chiến đấu anh dũng suốt 9 năm làm thất bại các âm mu xâm lợc của kẻ thù trực tiếp là thắng lợi của cuộc tiến công chiến lợc 53 - 54, đỉnh cao là chiến thắng

vĩ đại Điện Biên Phủ Do có sự

đoàn kết chiến đấu của 3 dân tộc

Đông Dơng ngày càng chặt chẽ Cuộc đấu tranh của nhân dân ta là chính nghĩa đợc nhân dân TG đặc biệt là nhân dân Liên Xô, Trung Quốc và nhân dân các nớc XHCN khác, nhân dân yêu chuộng hòa bình kể cả nhân dân Pháp đồng tình ủng hộ.

Hiệp định Giơnevơ là văn bản pháp

lý quốc tế ghi nhận quyền dân tộc cơ bản của nhân dân các nớc Đông Dơng đợc các cờng quốc lớn nhất

TG cam kết tôn trọng Đồng thời cũng ghi nhận sự thất bại hoàn toàn của thực dân Pháp trong chiến tranh xâm lợc Cùng với chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ đã kết thúc thắng lợi cuộc k/c trờng kỳ gian khổ kéo dài 9 năm

và lập lại hòa bình ở 3 nớc Đông

D-ơng Nó đã đập tan âm mu kéo dài

và mở rộng chiến tranh của đế quốc

Mỹ và bọn phản động Pháp Miền Bắc nớc ta đợc giải phóng đã tạo ra cho ta một khu vực hoàn chỉnh để xây dựng xã hội mới làm cơ sở để thống nhất nớc nhà Thắng lợi ở Hội nghị Giơnevơ là thắng lợi của sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta trong sự kết hợp giữa

đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao.

Hội nghị Giơnevơ cũng để lại nhiều bài học kinh nghiệm trong cuộc

đấu tranh ngoại giao, đàm phán,

21

Trang 22

sau này.

Cùng với chiến thắng Điện Biên

Phủ, Hiệp định Giơnevơ là một sự

cổ vũ lớn lao đối với nhân dân các

nớc thuộc địa, nửa thuộc địa đang

đấu tranh gpdt làm cho họ thêm tin

tởng vào cuộc đấu tranh giành độc

lập dân tộc cho mình.

Hiệp định Giơnevơ đợc coi là thắng

lợi bớc đầu vì các quyền dân tộc cơ

bản của 3 nớc: Việt Nam, Lào,

Cămpuchia là độc lập chủ quyền,

thống nhất toàn vẹn lãnh thổ nhng

chủ yếu là về mặt pháp lý.

Thắng lợi cha trọn vẹn vì nớc Việt Nam

tạm thời bị chia cắt, miền Bắc hoàn toàn

giải phóng, miền Nam vẫn còn dới ách

đế quốc và tay sai Mỹ và tay sai lại có

âm mu chia cắt lâu dài đất nớc ta.

Nhân dân ta còn phải tiếp tục cuộc

chiến đấu giải phóng miền Nam

bảo vệ miền Bắc, thống nhất nớc

nhà rất gian khổ và kéo dài.

Đề 10: Nguyên nhân thắng

lợi, ý nghĩa lịch sử của

cuộc k/c chống Pháp.

Bài làm.

Sau gần 9 năm k/c gian khổ và anh

dũng quân dân ta đã đánh bại cuộc

chiến tranh xâm lợc của thực dân

Pháp kết thúc quãng đời nô lệ của

dân tộc, thắng lợi này không phải

là ngẫu nhiên mà nó đợc tạo ra và

hun đúc từ truyền thống lịch sử của

dân toọc cũng nh nhiều yếu tố

khác.

Trớc hết cuộc k/c có sự lãnh đạo

đúng đắn của Đảng ta Đảng ta

đứng đầu là HCT ngay từ đầu

chúng ta đã có đờng lối k/c toàn

dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào

sức mình là chính, với chiến lợc

chiến tranh nhân dân, xây dựng lực

lợng 3 thứ quân, có đờng lối kết

hợp 2 nhiệm vụ chống đế quốc và

phong kiến phù hợp vào điều kiện

nớc ta, có chính sách đại đoàn kết

cho cuộc k/c nhân dân ta chuyển từ

yếu sang mạnh tiến lên phản công

địch giành thắng lợi.

Với chính sách đoàn kết dân tộc

đúng đắn Đảng ta đã xây dựng đợc

hệ thống trong cả nớc Mặt trận Liên Việt đợc hình thành và phát triển không chỉ ở nông thôn, vùng

tự do mà còn cả sau lng địch Nhờ vậy, chúng ta đã phá đợc âm mu chia rẽ dân tộc, âm mu "dùng ngời Việt trị ngời Việt", "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh", chia rẽ lơng giáo, chia rẽ Nam Bắc của chúng.

Đảng ta đã xây dựng đợc lực lợng

vũ trang nhân dân 3 thứ quân gan dạ, mu trí, có chiến lợc chiến thuật của chiến tranh nhân dân phong phú sáng tạo, đi từ du kích chiến

đến vận động chiến kết hợp với trận

địa chiến.

Với đờng lối k/c đúng đắn Đảng ta

đã xây dựng đợc một hậu phơng ngày càng thắng lợi vững chắc.

Cuộc k/c chống Pháp thắng lợi là

do toàn Đảng, toàn quân, toàn dân

ta đoàn kết một lòng quyết tâm chiến đấu với tinh thần thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nớc, nhất định không chịu làm nô lệ Với tinh thần ấy quân dân ta

đã vợt qua mọi khó khăn gian khổ, không quản ngại hy sinh, nêu cao chủ nghĩa anh hùng CM và truyền thống yêu nớc.

Đó là thắng lợi của tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân 3 nớc

Đông Dơng Thắng lợi của cuộc k/c chống thực dân Pháp còn là thắng lợi của sự giúp đỡ của nhân dân các nớc XHCN cũng nh sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ toàn TG trong đó có nhân dân Pháp.

Cuộc k/c của nhân dân ta thắng lợi

đã buộc thực dân Pháp phải thừa nhận độc lập chủ quyền thống nhất

và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nớc

Đông Dơng Âm mu kéo dài và mở rộng chiến tranh Đông Dơng của

đế quốc Pháp - Mỹ bị thất bại hoàn toàn.

Thắng lợi của cuộc k/c chống Pháp

đã bảo vệ và phát triển những thành quả của CMT8, giải phóng hoàn toàn miền Bắc chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp trong gần một thế kỷ đồng thời tạo điều kiện để hoàn thành triệt để CM ruộng đất, xóa bỏ vĩnh viễn chế độ bóc lột của g/c địa chủ phong kiến.

Tiếp theo CMT8 cuộc k/c chống Pháp thắng lợi là một đòn giáng mạnh mẽ vào hệ thống thực dân góp phần làm sụp đổ CNTD cũ, cổ

TG trớc hết là các nớc á - Phi đúng

nh HCT đã nói: "lần đầu tiên trong lịch sử một nớc thuộc địa nhỏ yếu

đã đánh thắng một nớc thực dân hùng mạnh Đó là thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực l- ợng hòa bình, dân chủ và XHCN trên TG.

Thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc k/c chống thực dân Pháp đã

làm sáng tỏ một chân lý: trong điều kiện TG ngày nay một dân tộc đất không rộng, ngời không đông nếu quyết tâm chiến đấu vì độc lập tự do

có đờng lối chính trị quân sự đúng

đắn đợc sự ủng hộ quốc tế thì hoàn toàn có khả năng đánh bại mọi thế lực đế quốc hung bạo.

Đề 11: Hậu phơng của cuộc k/c chống Pháp và can thiệp Mỹ (hay những thắng lợi về chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa - giáo dục).

Bài làm.

Vấn đề hậu phơng là vấn đề rất quan trọng, tiền tuyến không thể thắng giặc nếu không có hậu ph-

ơng vững mạnh vì "hậu phơng là nhân tố thờng xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh" (Lênin)

Nhận rõ tầm quan trọng này nên trong quá trình tiến hành k/c Đảng

và Chính phủ ta luôn luôn chú trọng xây dựng hậu phơng vững mạnh.

Về chính trị, tiếp theo việc thành lập Hội Liên Việt (1946) lúc này

Đảng ta ra sức chăm lo củng cố và

mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất dới hai hình thức: Việt Minh

và Liên Việt để tăng cờng khối

đoàn kết toàn dân Vì vậy, ở vùng tạm chiếm mọi ngời dân đều tham gia đánh giặc giữ làng chống bắt phu bắt lính, ở vùng tự do mọi ngời

đều tích cực sản xuất, luyện tập quân sự góp gạo nuôi quân, sẵn sàng chiến đấu.

Chính quyền dân chủ nhân dân không ngừng đợc củng cố và xây dựng theo yêu cầu của k/c kiến quốc Chính phủ đã quyết định chia cả nớc thành 14 khu hành chính, các ủy ban hành chính đợc chuyển thành ủy ban k/c hành chính thực hiện cả hai nhiệm vụ: k/c và kiến quốc Năm 1949 chính phủ quyết

định tổ chức bầu cử Hội đồng nhân

dân và ủy ban k/c hành chính cấp tỉnh, cấp xã Từ đó, bộ máy chính quyền của ta ở các cấp đã đóng góp

to lớn không những để tổ chức lãnh

đạo k/c thắng lợi mà còn làm phá

sản hệ thống chính quyền bù nhìn tay sai của Pháp và lực lợng vũ trang 3 thứ quân đã ra sức thi đua luyện tập lập công.

Từ 1947 - 1950 ta thu đợc nhiều thắng lợi về quân sự và ngoại giao, tình hình trong nớc và TG lại có nhiều biến chuyển mới đòi hỏi phải tăng cờng sự lãnh đạo của Đảng

Trớc mắt phải vạch ra đờng lối

đánh thắng thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đồng thời phải nêu rõ mục

đích, nhiệm vụ, nội dung của cuộc

CM dân tộc dân chủ nhân dân ở

n-ớc ta Đứng trn-ớc yêu cầu ấy Đảng ta

đã họp Đại hội đại biểu toàn quốc lần 2 từ ngày 11 đến 19/2/1951 tại Chiêm Hóa - Tuyên Quang Tham

Tr-tổng kết thắng lợi kinh nghiệm và nêu nhiệm vụ chủ yếu của CMVN lúc này là "tiêu diệt thực dân Pháp,

đánh bại can thiệp Mỹ giành thống nhất độc lập hoàn toàn, bảo vệ hòa bình TG" và những việc cần làm để thực hiện nhiệm vụ đó: đẩy mạnh xây dựng lực lợng vũ trang, phát triển phong trào yêu nớc Báo cáo

"Bàn về CMVN" của Trờng Chinh

đã vạch ra đờng lối cụ thể của CMDTDC nhân dân Việt Nam.

Đại hội 2 là một mốc đánh dấu bớc phát triển mới trong quá trình lãnh

đạo và trởng thành của Đảng ta

Đã nêu cao vai trò của Đảng, của g/c công nhân, làm tăng thêm lòng tin của nhân dân và có tác dụng

đẩy mạnh k/c Nhân dân ta đã

nhận rõ đờng lối k/c và cơng lĩnh

CM DTDC do Đảng đề ra, nhân dân TG hiểu thêm về CMVN Phe XHCN cũng nh phong trào công nhân quốc tế tăng cờng sự giúp đỡ cho ta.

Tháng 3/1951 Mặt trận VM và Liên Việt đã hợp nhất lấy tên là MTLV

đã làm cho khối đoàn kết dân tộc mạnh hơn.

Công tác vận động đồng bào miền núi, đồng bào công giáo, đồng bào

tác vận động ngụy binh đợc Đảng

ta rất coi trọng.

Cùng với mặt trận chính trị thì

Đảng ta cũng chú ý đến mặt trận ngoại giao Đảng ta tăng cờng không ngừng đoàn kết quốc tế, trớc hết là đối với nhân dân lào - Cămpuchia, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên TG, nhân dân các n-

ớc XHCN.

Ngày 14/1/1950 HCT đã thay mặt chính phủ nớc VNDCCH tuyên bố với chính phủ các nớc trên TG:

chính phủ nớc VNDCCH là chính phủ hợp pháp duy nhất của nhân dân Việt Nam Căn cứ trên quyền lợi chung chính phủ VNDCCH sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với tất cả chính phủ nớc nào trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nớc Việt Nam để cùng nhau bảo vệ hòa bình

và xây đắp dân chủ TG Sau lời tuyên bố của HCT, ngày 18/1/1950 chính phủ nớc CHND Trung Hoa quyết định công nhận và đặt quan

hệ ngoại giao với chính phủ ta, ngày 31/1/1950 là chính phủ Liên Xô và trong vòng một tháng sau tất cả các nớc trong phe XHCN đã lần lợt công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với chính phủ ta Điều này đã

nâng cao uy tín của Việt Nam trên trờng quốc tế.

Tháng 3/1951 khối liên minh Việt - Miên - Lào đợc thành lập trên cơ sở

tự nguyện bình đẳng, tơng trợ và tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của nhau Sự kiện này là một đòn đánh mạnh vào âm mu chia rẽ của kẻ

địch, mở ra một triển vọng mới cho nhân dân 3 nớc Đông Dơng trong cuộc k/c chống kẻ thù chung Nó làm cho khối đoàn kết giữa 3 dân tộc đợc tăng lên.

Với đờng lối chính trị ngoại giao

đúng đắn của Đảng ta đứng đầu là HCT cuộc đấu tranh kiên quyết của

ta ở Hội nghị Giơnevơ đã thu đợc thắng lợi Chính phủ Pháp và các nớc tham dự hội nghị đã phải công nhận quyền độc lập cơ bản của 3 n-

ớc Đông Dơng Miền Bắc nớc ta

đ-ợc giải phóng tiến lên xây dựng CNXH trở thành căn cứ địa - hậu phơng vững chắc của CMVN.

Đi đôi với xây dựng và củng cố cơ

sở chính trị ta cũng đẩy mạnh đấu tranh kinh tế với địch và xây dựng kinh tế của ta.

đông 1947 địch phải chuyển sang

đánh lâu dài với ta, chúng ra sức dùng chính sách "dùng ngời Việt trị ngời Việt", "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh", ta đã ra sức đấu tranh kinh tế với địch: chống địch phá hoại cớp bóc, bảo vệ mùa màng, kiểm soát chặt chẽ việc buôn bán hàng hóa giữa vùng tự do và vùng tạm chiếm không để cho chúng dễ dàng thực hiện chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" Cuộc đấu tranh kinh tế với

địch càng về sau càng gay go quyết liệt ở những vùng giáp ranh địch

ra sức đốt phá, cớp bóc, bắn giết trâu bò, bắn giết nhân dân trong lúc sản xuất để triệt nguồn tiếp tế cho bộ đội Để chống lại chúng không sản xuất đợc ban ngày ta chuyển sang sản xuất ban đêm

Nhiều nơi bộ đội về gặt giúp dân, lúa đem về ta phơi khô, quạt sạch che mắt địch ở vùng tự do địch dùng máy bay bắn phá chợ búa, thuyền bè, xe cộ ta cũng chuyển sang hoạt động ban đêm Ta kiểm soát chặt chẽ việc giao lu kinh tế để hút kinh tế vùng địch ra vùng ta và ngăn chặn việc lũng đoạn phá hoại kinh tế ta của địch.

Đi đôi với đấu tranh kinh tế với

địch ta cũng ra sức đẩy mạnh phong trào thi đua sản xuất, xây dựng kinh tế tự cấp tự túc.

Kết quả là về nông nghiệp đến đầu

1949 diện tích trồng trọt đã tăng hơn so với trớc k/c Hàng nghìn mặt

đất đợc khai phá thêm ở Việt Bắc,

Đồng Tháp Mời, lơng thực cho nhân dân ở các vùng địa phơng, cho

bộ đội đánh giặc ở tiền tuyến đợc đảm bảo Tính từ Bắc Trung Bộ trở ra đã

đạt 2.414.830 tấn lơng thực, riêng liên khu 5 đã tự túc đợc lơng thực.

Năm 1952 cuộc vận động sản xuất

và tiết kiệm đã lôi cuốn mọi ngành, mọi giới tham gia Trong nông nghiệp, phong trào tổ đổi công trong nông dân đợc phát triển rộng khắp các vùng tự do và vùng căn

cứ Phong trào thâm canh tăng vụ khai hoang, phát triển trồng lúa hoa màu và các ngành nghề thủ công cũng phát triển ở các vùng tự

do phong trào tăng gia sản xuất trong các cơ quan trờng học, đơn vị

bộ đội, bệnh viện diễn ra sôi nổi nhằm tự túc một phần LTTP và phong trào giúp dân chống hạn trừ

phát triển Các cơ sở công nghiệp quốc phòng nh xởng quân giới, binh công xởng mọc lên ở nhiều nơi trong vùng tự do và chiến khu của ta với quy mô vừa và nhỏ Ta

đã tự sản xuất đợc một số loại vũ khí nh thuốc nổ, mìn, súng cối để cung cấp cho bộ đội Các cơ sở công nghiệp quốc doanh thiết yếu

nh ngành khai thác than cơ khí, kim khí cũng đợc xây dựng và hoạt

động có kết quả.

Thủ công nghiệp cũng phát triển mạnh, ta đã tự túc đợc một phần thuốc men, vải mặc và dụng cụ sản xuất trong nhân dân.

Giữa 1951 chính phủ ban hành Sắc lệnh thành lập mậu dịch quốc doanh với nhiệm vụ đảm bảo cơ

cấu những hàng hóa thiết yếu cho k/c và đời sống, kích thích sản xuất

và giao lu hàng hóa trong và ngoài nớc góp phần đấu tranh có hiệu quả với địch trên lĩnh vực mậu dịch.

Ngành tài chính ngân hàng cũng

đã có cố gắng đáp ứng đợc nhu cầu của cuộc k/c đang phát triển đến giai đoạn cao Năm 1951, chính phủ ban hành Sắc lệnh và thuế nông nghiệp nhằm huy động nguồn đóng góp lớn đồng thời là nguồn thu chính của ngân sách quốc gia Bên cạnh đó chính phủ cũng ban hành thuế công nghiệp, thuế XNK, thuế hàng hóa Tháng 6/1951 Ngân hàng quốc gia Việt Nam

ra đời, phát hành đồng bạc Việt Nam mới.

Bồi dỡng sức dân - bồi dỡng nhân dân thành quân chủ lực của k/c là một vấn đề có tầm chiến lợc đợc

Đảng, chính phủ rất chú trọng

Ngay sau CMT8, chính phủ ra Thông t quyết định giảm tô 25% nh-

ng do điều kiện chiến tranh lúc này nên thông t đó cha đợc thực hiện

đầy đủ.

Năm 1949 chính phủ ra Sắc lệnh giảm tô 25%, Sắc lệnh quy định việc chia lại công điền công thổ, tạm cấp ruộng đất của bọn thực dân Pháp, bọn Việt gian, ruộng đất vắng chủ cho nông dân.

Năm 1950 chính phủ ra Sắc lệnh giảm tức, xóa nợ và hoãn nợ của nông dân vay địa chủ, ban hành quy chế lĩnh canh để bảo vệ quyền lợi của tá điền.

đã mở ĐH chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ 1 ĐH đã chọn đợc 7 anh hùng và hàng chục chiến sĩ thi

đua toàn quốc tiêu biểu cho các ngành công - nông - binh và lao

động trí óc cổ vũ tinh thần lao động sáng tạo của nhân dân.

Cuộc k/c càng tiến triển yêu cầu bồi dỡng sức dân càng lớn Năm 1953

Đảng và Chính phủ đã đề ra chủ

tr-ơng phát động quần chúng triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức và cải cách ruộng đất Chủ trơng này đã

đợc thực hiện ở một số nơi (chiến khu Việt Bắc, liên khu 4).

Từ tháng 4/1953 đến tháng 7/1954

ta đã thực hiện 5 đợt giảm tô và đợt

1 của cải cách ruộng đất ở một số xã thuộc vùng tự do đã đem lại những kết quả to lớn: hàng nghìn tấn thóc, hàng nghìn mẫu ruộng, hàng nghìn con trâu bò đợc đem chia cho nông dân, vì thế nông dân

đợc cải thiện một phần đời sống càng hăng hái sản xuất tích cực

đóng góp sức ngời sức của cho tiền tuyến.

Cùng với chính trị, kinh tế ta cũng

đẩy mạnh phát triển văn hóa - giáo dục Năm 1948 ta mở Hội nghị văn hóa toàn quốc với báo cáo quan trọng của đồng chí Trờng Chinh:

"CN M - L và văn hóa Việt Nam"

đã giúp cho những ngời làm công tác văn nghệ nhận rõ lập trờng quan điểm của mình.

Phong trào bình dân học vụ tiếp tục phát triển, tính đến 1949 ta có khoảng 10 triệu ngời thoát nạn mù chữ, một số tiếp tục theo học bổ túc văn hóa.

Từ 1950 ta bắt đầu tiến hành cải cách giáo dục nhằm xóa bỏ tận gốc những di sản của nền giáo dục cũ, xây dựng nền giáo dục dân chủ nhân dân theo phơng châm là phục

vụ k/c, phục vụ dân sinh và phục vụ sản xuất gắn nhà trờng với đời sống xã hội nhằm đào tạo thanh thiếu niên thành những ngời công dân tốt, lao động tốt, chiến sĩ tốt Một số trờng trung cấp và đại học cũng bắt đầu xây dựng để đào tạo cán bộ chuyên nghiệp phục vụ nhu cầu k/c.

22

Trang 23

tác văn hóa - giáo dục cũng đợc đẩy

mạnh hơn nhiều Nhiều văn nghệ sĩ

đã đi sâu vào đời sống của quần

chúng công - nông - binh để tự rèn

luyện và phục vụ nhu cầu k/c Tính

đến 1952 chỉ riêng ở các liên khu 3,

4, 5, chiến khu Việt Bắc đã có một

triệu học sinh các cấp Đến 1954 số

trờng trung cấp và đại học ngày

càng mở rộng đào tạo nhiều cán bộ

tốt cho đất nớc, phong trào đời

sống mới nh vệ sinh phòng bệnh,

chống mê tín dị đoan ngày càng lan

rộng trong nhân dân.

Những sự kiện chính trị, kinh tế,

văn hóa - giáo dục trên đã thổi một

luồng không khí phấn khởi mới cho

toàn Đảng toàn dân, đã làm cho

thanh thế chính trị càng thêm vững

chắc.

Những thắng lợi về mặt kinh tế đã

cải thiện đời sống của quân và dân

trong k/c đảm bảo nhu cầu kinh tế

để k/c lâu dài Trong đó, chính sách

về ruộng đất đã thiết thực bồi dỡng

sức dân nhất là nông nghiệp, củng

cố tăng cờng hậu phơng, tăng cờng

các nhân tố thắng lợi của cuộc k/c,

dung, ý nghĩa của đại hội

đại biểu toàn quốc lần 2

nhiều biến chuyển mới đòi hỏi phải

tăng cờng sự lãnh đạo của Đảng

Trớc mắt phải vạch ra đờng lối

đánh thắng thực dân Pháp và can

thiệp Mỹ đồng thời phải nêu rõ mục

CM dân tộc dân chủ nhân dân ở

n-ớc ta Đứng trn-ớc yêu cầu ấy Đảng ta

đã họp Đại hội đại biểu toàn quốc lần 2 từ ngày 11 đến 19/2/1951 tại Chiêm Hóa - Tuyên Quang Tham

Tr-tổng kết thắng lợi kinh nghiệm và nêu nhiệm vụ chủ yếu của CMVN lúc này là "tiêu diệt thực dân Pháp,

đánh bại can thiệp Mỹ giành thống nhất độc lập hoàn toàn, bảo vệ hòa bình TG" và những việc cần làm để thực hiện nhiệm vụ đó: đẩy mạnh xây dựng lực lợng vũ trang, phát triển phong trào yêu nớc Báo cáo

"Bàn về CMVN" của Trờng Chinh

đã vạch ra đờng lối cụ thể của CMDTDC nhân dân Việt Nam.

Về đối tợng chủ yếu của CMVN,

Đại hội chỉ ra là chủ nghĩa đế quốc, thế lực phong kiến, kẻ thù cụ thể trớc mắt của CMVN là chủ nghĩa đế quốc xâm lợc Pháp, can thiệp Mỹ và bọn bù nhìn Việt gian bán nớc.

Nhiệm vụ cơ bản của CMVN là tiêu diệt bọn đế quốc xâm lợc, đánh đổ

bù nhìn Việt gian bán nớc, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập và thống nhất Xóa bỏ những di tích phong kiến, cả nớc phong kiến làm cho "ngời cày có ruộng", phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây mầm mống cho sự nghiệp XHCN ở Việt Nam Nhiệm vụ chống phong kiến phải làm đồng thời với nhiệm vụ chống đế quốc nhng phải làm có kế hoạch, từng bớc để bồi dỡng lực l- ợng CM vừa giữ vững đợc khối

đoàn kết toàn dân.

Về lực lợng CMVN bao gồm g/c công nhân, nông dân, tiểu t sản, t sản dân tộc, 4 g/c đó hợp thành nhân dân và nòng cốt là công nhân

và nông dân Ngoài ra còn có các nhân sĩ, thân sĩ yêu nớc đứng vào mặt trận dân tộc thống nhất, tích cực tham gia k/c Trong đó, động lực của CM là công nhân, nông

g/c lãnh đạo CM.

Đồng thời báo cáo cũng vạch ra những chính sách cơ bản về chính sách xây dựng, củng cố chính quyền, mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất, phát triển kinh tế tài chính nhằm đẩy mạnh cuộc k/c về mọi mặt.

Đại hội quyết định đa Đảng ra hoạt

động công khai lấy tên là Đảng Lao

động Việt Nam nhằm tăng cờng vai trò lãnh đạo của Đảng Đối với Lào

và Cămpuchia xây dựng ở mỗi nớc một Đảng riêng phù hợp với điều kiện cụ thể để lãnh đạo CM từng n-

ớc đi đến thắng lợi.

Đại hội đã thông qua tuyên ngôn, chính cơng và điều lệ mới Quyết

định xuất bản báo "Nhân dân" là cơ quan ngôn luận của Đảng.

Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành

TW gồm 19 ủy viên chính thức và

10 ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị gồm

có 7 ủy viên do HCM làm chủ tịch và ờng Chinh làm tổng bí th.

Tr-Đại hội 2 là một mốc đánh dấu bớc phát triển mới trong quá trình lãnh

đạo và trởng thành của Đảng ta

Đã nêu cao vai trò của Đảng, của g/c công nhân, làm tăng thêm lòng tin của nhân dân và có tác dụng

đẩy mạnh k/c Nhân dân ta đã

nhận rõ đờng lối k/c và cơng lĩnh

CM DTDC do Đảng đề ra, nhân dân TG hiểu thêm về CMVN Phe XHCN cũng nh phong trào công nhân quốc tế tăng cờng sự giúp đỡ cho ta.

Giai đoạn 1954 - 1975

Đề 1: Tình hình Việt Nam sau Hiệp định Giơnevơ và nhiệm vụ

CM trong thời kỳ mới.

Bài làm.

Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dơng đợc ký kết, cuộc chiến tranh xâm lợc Việt Nam - Lào - CPC của thực dân Pháp và can thiệp Mĩ đợc chấm dứt Hòa bình đợc lập lại ở

Đông Dơng nhng đất nớc ta tạm thời bị chia làm 2 miền với hai chế

Do đặc điểm trên Đảng và Chính phủ đã đề ra cho CM mỗi miền những nhiệm vụ chiến lợc phù hợp với đặc điểm và yêu cầu CM từng miền Đó là MB bớc vào thời kỳ quá

độ tiến lên XHCN Nhiệm vụ chiến lợc của CMMB là tiến hành cải tạo

và xây dựng CNXH để làm cho MB vững mạnh, trở thành căn cứ địa

CM của cả nớc và hậu phơng của cuộc k/c chống Mỹ cứu nớc.

MN do vẫn còn dới ách thống trị của đế quốc Mĩ và tay sai, Đảng chủ trơng tiếp tục cuộc CM DTDC

mà mở đầu là thời kỳ ta đấu tranh

đòi Mĩ - Diệm thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ 1954 về Việt Nam Trong quá trình diễn biến cuộc CMDTDC phát triển thành cuộc chiến tranh nhân dân, chiến tranh gpdt chống cuộc chiến tranh xâm lợc thực dân mới của Mĩ nhằm giải phóng MN, bảo vệ MB phối hợp với cuộc chiến đấu của nhân dân 2 nớc Lào và CPC.

Hai miền đồng thời thực hiện những nhiệm vụ, mục tiêu chung của CM cả nớc là đánh Mĩ và tay sai của chúng giải phóng MN, bảo

vệ MB hoàn thành CM DTDC trong cả nớc, thống nhất cả nớc, tạo điều kiện để cả nớc đi lên CNXH - đó là nhiệm vụ thiêng liêng của cả nớc - nhiệm vụ chống Mĩ cứu nớc, CM nớc ta còn nhằm góp phần bảo vệ hòa bình ở ĐNA và TG.

Trong việc thực hiện những nhiệm

vụ mục tiêu chung của cả nớc, CM mỗi miền có nhiệm vụ, vị trí và vai trò khác nhau: MB là hậu phơng nên CM có vai trò quyết định nhất

đối với sự phát triển của toàn bộ

CM cả nớc và sự nghiệp thống nhất

đất nớc MN là tiền tuyến nên CM

có vai trò quyết định trực tiếp trong việc đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mĩ và tay sai, giải phóng hoàn toàn MN thống nhất đất nớc.

Nh vậy, giữa 2 miền có mối quan hệ gắn bó, phối hợp với nhau tác động qua lại và thúc đẩy lẫn nhau, tạo

điều kiện cho nhau phát triển Vì

đó là mối quan hệ giữa hậu phơng với tiền tuyến, thắng lợi CM mỗi miền đồng thời là thắng lợi chung

nớc của dân tộc.

Đề 2: Trình bày thành tựu của Miền Bắc từ 1954 - 1965

Bài làm.

Sau ngày hòa bình lập lại (21/7/1954) dới sự lãnh đạo của

Đảng, Chính phủ và HCT nhân dân MB (từ vĩ tuyến 17 trở ra) đã

tiến hành 3 kế hoạch kinh tế - xã

hội trong 10 năm (1954 - 1965)

Thắng lợi của cuộc xây dựng đất

n-ớc ấy đã làm cho bộ mặt của MB thay đổi hẳn: dần khôi phục kinh tế

MB và góp phần chi viện cho tiền tuyến MN.

Thực tế là sau khi chiến tranh kết thúc, nền kinh tế MB vốn rất lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nên

ở trong tình trạng tiêu điều: ruộng

đất bị bỏ hoang, dân c tha thớt, xóm làng xơ xác, nhân công, trâu

bò, nông cụ thiếu một cách nghiêm trọng, kỹ thuật canh tác lạc hậu,

đời sống nhân dân thấp kém Một

số nhà máy xí nghiệp bị địch phá

hoại trớc khi rút không hoạt động

đợc nữa hay chỉ hoạt động cầm chừng, nạn thất nghiệp tràn lan ở các vùng tự do, CN - nông nghiệp

có phát triển nhng quy mô nhỏ bé,

kỹ thuật yếu Chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến vẫn còn phổ biến, nạn thiếu đói đe dọa nghiêm trọng Tình hình trên đặt

ra nhiệm vụ đầu tiên là phải khôi phục kinh tế hàn gắn vết thơng chiến tranh

và hoàn thành cải cách ruộng đất nhằm mở đờng cho sản xuất phát triển.

Cải cách ruộng đất lúc bấy giờ đợc coi là nhiệm vụ trung tâm vì có cải cách thắng lợi mới tạo điều kiện khôi phục tốt, nhanh chóng nâng cao đời sống của nhân dân và nhằm tạo điều kiện đa MB tiến lên CNXH Trong 2 năm 1955 - 1956 ta

đã tiến hành 5 đợt cải cách ruộng

đất trên khắp MB và thu đợc những thắng lợi to lớn.

Về mặt kinh tế ta đã tịch thu 81 vạn

ha ruộng đất, 10 vạn con trâu bò, gần 2 triệu nông cụ chia cho trên 9 triệu nông dân lao động.

Về xã hội, cải cách ruộng đất đã

đánh đổ đợc g/c địa chủ phong kiến, uy thế về kinh tế - chính trị của g/c địa chủ đã bị đập tan Chế

chủ phong kiến bị vĩnh viễn xóa bỏ thực hiện đợc khẩu hiệu "ngời cày

có ruộng" là ớc mơ nghìn đời của ngời nông dân Việt Nam Ngời nông dân đã thực sự trở thành ngời chủ ở nông thôn Mặt khác, về mặt chính trị: các tổ chức Đảng, chính quyền và quần chúng đợc củng cố.

Mặc dù trong quá trình cải cách ruộng đất ta mắc một số sai lầm "tả

khuynh" nhng nhờ chủ trơng biện pháp sửa sai tích cực của Đảng, chính phủ nên ý nghĩa thắng lợi của nó vẫn hết sức to lớn.

Việc cải cách ruộng đất này đã làm cho khối công - nông đợc tăng cờng,

bộ mặt nông thôn biến đổi sau cải cách, đã thay đổi hẳn góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ khôi phục kinh tế.

Khôi phục kinh tế là một quy luật

đối với bất cứ nớc nào sau khi ra khỏi chiến tranh nhất là chiến tranh lại diễn ra trên đất nớc mình

Dới sự lãnh đạo của Đảng chúng ta

đã thực hiện thắng lợi kế hoạch 3 năm khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thơng chiến tranh.

Về mặt nông nghiệp, ta đã nhanh chóng khôi phục đợc ruộng đất hoang, sửa chữa các hệ thống nông giang và đê điều Nhiều đập nớc

Về công nghiệp, g/c công nhân đã

phát huy vai trò tiên phong của mình, nhanh chóng khôi phục, mở rộng hầu hết các cơ sở công nghiệp, nhà máy xí nghiệp quan trọng nh: than Hồng Gai, ximăng Hải Phòng, dệt Nam Định, điện Hà Nội xây dựng thêm gần 50 nhà máy mới Đến cuối 1957 ta đã có 97

xí nghiệp tơng đối lớn do Nhà nớc quản lý Tổng sản lợng công nghiệp và thủ công nghiệp đã đạt mức trớc chiến tranh.

Đồng thời, ta cũng đã khôi phục đợc hầu hết các tuyến đờng kể cả đờng sắt,

đờng bộ, đờng thủy: 700 km đờng sắt, sửa chữa và làm mới hàng nghìn km

đờng ô tô, xây dựng và mở rộng nhiều bến cảng: Hải Phòng, Hòn Gai, Cẩm

dân dụng đợc khai thông.

Các ngành thủ CN, tiểu công nghiệp và thơng nghiệp cũng đợc phục hồi Nền thơng nghiệp XHCN bắt đầu phát triển Cuối 1957 thành phần kinh tế quốc doanh đã

chiếm 58% giá trị sản lợng công nghiệp và tiểu công nghiệp.

Cũng trong thời kỳ này Đảng, Nhà

n-ớc còn đề ra nhiều chủ trơng biện pháp để xây dựng, củng cố chính quyền, xây dựng quân đội nhân dân theo hớng chính quy hiện đại nhằm tăng cờng phòng thủ đất nớc, phát triển văn hóa - giáo dục, mở rộng quan hệ ngoại giao Đại hội mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc đã họp vào tháng 9/1955 tại Hà Nội đã quyết

định thành lập "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam" Tuyên ngôn và cơng lĩnh của mặt trận thể hiện tinh thần đại

đoàn kết toàn dân để hoàn thành sự nghiệp xây dựng một nớc Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ

và giàu mạnh.

Nhìn chung kinh tế đã đợc khôi phục ngang mức trớc chiến tranh, chế độ ngời bóc lột ngời ở nông thôn không còn, thành phần kinh tế quốc doanh đợc củng cố và lớn mạnh

Thắng lợi của kế hoạch này đã tạo điều kiện cho việc thực hiện kế hoạch 3 năm tiếp theo.

Qua 3 năm khôi phục kinh tế ta thu thắng lợi to lớn nhng nền kinh tế

MB căn bản vẫn là kinh tế nông nghiệp lạc hậu, kinh tế cá thể còn phổ biến, công nghiệp còn nhỏ bé, thành phần kinh tế t bản t doanh mới chỉ đợc hạn chế bớc đầu Trớc tình hình đó Đảng ta đã đề ra ph-

ơng hớng đa MB tiến lên CM XHCN, vạch ra kế hoạch 3 năm cải tạo và bớc đầu phát triển kinh tế - văn hóa quốc dân.

Trong nông nghiệp thực hiện vận

động hợp tác xã theo nguyên tắc tự nguyện cùng có lợi và quản lý dân chủ, từng bớc đa nông dân vào làm

ăn tập thể Cuối 1960 công cuộc hợp tác hóa đã căn bản hoàn thành với 58% số hộ nông dân vào hợp tác xã (trong đó có hơn 11% số hộ vào hợp tác xã bậc cao với trên 68% S canh tác), một số nông trờng quốc doanh mới đợc xây dựng thêm.

Trong công nghiệp, đối với t sản dân tộc Đảng và Nhà nớc chủ trơng cải tạo họ bằng biện pháp hòa

đa họ vào làm ăn tập thể dới hình thức công t hợp doanh Cuối 1960, công cuộc cải tạo này cũng đã căn bản hoàn thành 97% số hộ t sản đã vào công t hợp doanh, việc cải tạo t sản có ý nghĩa rất lớn vì nó nhằm xóa bỏ g/c bóc lột cuối cùng ở MB nớc ta Những nhà t sản và con cái của họ đều đợc cải tạo thành ngời lao động Cũng cuối 1960, đã có 87,9% số hộ thợ thủ công và 45% ngời buôn bán nhỏ vào hợp tác xã, phần lớn tiểu thơng đã đợc chuyển sang sản xuất Thắng lợi này đã mở

đờng cho công thơng nghiệp XHCN phát triển, kinh tế quốc doanh đợc

đặc biệt quan trọng Cuối 1960 ta

đã có 172 xí nghiệp quốc doanh do

TW quản lý và 500 cơ sở CN quốc doanh địa phơng.

Mặc dù trong cải tạo có hạn chế đó

là đồng nhất cải tạo với xoá bỏ các thành phần kinh tế xã hội, xóa bỏ t hữu, chủ quan nóng vội, vi phạm nguyên tắc tự nguyện Song kết quả của công cuộc cải tạo XHCN đã có

ý nghĩa tích cực nhất định góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển trong điều kiện chiến tranh sau này, hợp tác xã đã bảo đảm những

điều kiện vật chất tinh thần, chính trị cho bộ phận tham gia chiến đấu, bảo đảm chiến đấu, củng cố hậu phơng chiến tranh nhân dân Cơ cấu kinh tế xã hội của Miền Bắc

đã thay đổi cơ bản, đời sống của nhân dân đợc cải thiện So với 1957 thì tiền lơng thực tế của công nhân viên chức tăng 33% Mức thu nhập bình quân của nông dân tăng 14,5%, văn hóa giáo dục đợc phát triển Cuối 1960 chúng ta đã căn bản xoá xong nạn mù chữ cho những ngời dới 50 tuổi, hệ thống giáo dục phổ thông đợc hoàn chỉnh với số học sinh tăng 80% so với

1957 MB có 9 trờng đại học, cơ sở y

tế năm 1960 tăng 11 lần so với

1955 Chính quyền dân chủ nhân dân đợc tăng cờng làm nhiệm vụ chuyển chính vô sản Chúng ta có

đủ điều kiện để tiến hành một kế hoạch kinh tế dài hạn - kế hoạch 5 năm lần 1 Thành tựu trên đợc phản ánh trong Hiến pháp XHCN

đầu tiên của nớc ta công bố vào ngày 1/1/1960 Hiến pháp đã khẳng

định ý chí nguyện vọng của nhân dân Việt Nam đa MB đi lên CNXH

và đấu tranh thống nhất nớc nhà.

23

Trang 24

ngày từ 5/9 đến 12/9, Đại hội đại

biểu toàn quốc lần thứ 3 họp tại thủ

đô Hà Nội Đây là đại hội "xây

dựng CNXH ở MN và đấu tranh

hòa bình thống nhất nớc nhà" Đại

hội đã đề ra đờng lối CM cho cả

n-ớc và cho mỗi miền Miền Bắc là

thuộc chiến lợc CM XHCN, MN

thuộc chiến lợc CM DTDC Song cả

hai miền đều nhằm một mục tiêu

chung là hoàn thành CM DTDCND

trong cả nớc Để hoàn thành mục

tiêu đó, CM mỗi miền có một vị trí,

vai trò riêng song MB có vị trí quyết

định nhất đối với sự nghiệp thống

nhất nớc nhà.

Đại hội đã thông qua kế hoạch 5

năm lần thứ nhất (1961 - 1965)

nhằm "thực hiện một bớc công

nghiệp hóa XHCN đồng thời hoàn

thành cải tạo XHCN" (Văn kiện Đại

hội 3).

Thực hiện kế hoạch 5 năm lần 1 do

Đại hội 3 đề ra, MB bớc vào thời kỳ

lấy xây dựng CNXH làm trung tâm,

phơng hớng nhiệm vụ cơ bản của

kế hoạch 5 năm là ra sức phát triển

công nghiệp và nông nghiệp, đẩy

mạnh cải tạo XHCN đối với nông

nghiệp, thủ công nghiệp, thơng

nghiệp, củng cố tăng cờng thành

phần kinh tế quốc doanh, cải thiện

một bớc đời sống văn hóa, vật chất

cổ vũ to lớn toàn Đảng toàn dân ta,

trong tất cả các ngành các giới đều

dấy lên phong trào thi đua yêu nớc

sôi nổi, phấn đấu đạt và vợt các lá

cờ đầu Trong nông nghiệp có

phong trào "Đại Phong", công

nghiệp có phong trào "Duyên

Hải", thủ công nghiệp là phong

trào "Thành Công", quân đội có

phong trào "ba nhất", giáo dục có

phong trào "hai tốt", phong trào

chung là đạt danh hiệu "tổ đội lao

động XHCN".

Kết quả là ta đã phát triển sản xuất

và xây dựng những cơ sở vật chất

kỹ thuật bớc đầu cho nền kinh tế

quốc dân Trong nông nghiệp ta đã

xây dựng các nông trờng quốc

doanh, trại thí nghiệm nghiên cứu

Trong công nghiệp, ta đã xây dựng nhiều công trình công nghiệp quan trọng và phát triển công nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng, hình thành một mạng lới công nghiệp

địa phơng Năm 1961 ta có 1015 xí nghiệp trong đó có 217 xí nghiệp

do TW quản lý còn lại là địa phơng quản lý (798) Nhiều ngành CN mới

và khu công nghiệp mới ra đời: khu gang thép Thái Nguyên, nhiệt điện Uông Bí, thủy điện Thác Bà Giá

trị tổng sản lợng công nghiệp phát triển bình quân hàng năm là 13%

trong 5 năm từ 1961 - 1965 CN quốc doanh chiếm tỉ trọng 93,1%

trong tổng giá trị sản lợng công nghiệp toàn MB Giữ vai trò chủ

đạo trong nền kinh tế quốc dân CN nhẹ cùng với thủ công nghiệp đã

giải quyết đợc 80% hàng tiêu dùng cho nhân dân.

Thơng nghiệp quốc doanh cũng

đ-ợc Nhà nớc u tiên phát triển nên đã

chiếm lĩnh đợc thị trờng góp phần vào phát triển kinh tế, củng cố quan hệ sản xuất mới, ổn định đời sống nhân dân Các mạng lới đờng

bộ, đờng sắt, đờng thủy đợc củng cố

và xây dựng phục vụ đắc lực cho giao lu kinh tế và củng cố quốc phòng.

Văn hóa - giáo dục cũng phát triển mạnh, năm 1964 - 1965 số học sinh phổ thông đã tăng từ 1.899.000 lên 2.676.000, sinh viên đại học tăng từ 16.700 lên 27.000 Mạng lới y tế mở rộng: 70% số huyện có bệnh viện, 90% số xã đồng bằng và 78% số xã

miền núi có trạm y tế Việc xây dựng con ngời mới XHCN đợc hết sức chú trọng.

Về mặt chính trị, quân đội nhân dân Việt Nam đợc xây dựng một b-

ớc thành quân đội chính quy và bớc

đầu trang bị hiện đại đủ sức bảo

đảm vững chắc MB và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của cuộc chiến

đấu giải phóng MN, lực lợng dân quân tự vệ cũng đợc quan tâm, chính phủ ban hành luật nghĩa vụ quân sự, chính quyền đợc tăng c- ờng củng cố Tháng 10/1962 Quốc hội đã thông qua Luật tổ chức Hội

đồng nhân dân và ủy ban hành chính các cấp, Đảng - Chính phủ

hợp tác với các nớc XHCN Đồng thời

MB cũng ra sức làm nghĩa vụ hậu

ph-ơng chi viện cho MN.

Mặc dù khi thực hiện kế hoạch còn hạn chế do t tởng giáo điều chủ quan nóng vội, đề phơng châm mục tiêu, các chỉ tiêu kinh tế là quá cao

so với khả năng thực tế, đặt vấn đề

-u tiên phát triển công nghiệp nặng, hiện đại hóa nền kinh tế trong khi cha có những tiền đề cần thiết

Song các thành tựu trên đã củng cố

MB về mọi mặt để đủ sức đánh bại các cuộc chiến tranh phá hoại và hết lòng chi viện cho tiền tuyến lớn

MN, góp phần quyết định vào thắng lợi của sự nghiệp chống Mĩ của nhân dân ta trong những năm tới.

Nh vậy, từ 1954 - 1965 MB đã có những biến đổi sâu sắc MB bớc

đầu đã xây dựng đợc một số cơ sở vật chất XHCN tạo nên những thay

đổi lớn về kinh tế - thành phần kinh

tế công hữu và sở hữu tập thể về t liệu sản xuất đã chiếm u thế và giữ

vai trò quyết định trong nền kinh tế quốc dân.

Về chính trị, chính quyền đợc xây dựng vững mạnh, nhân dân đoàn kết và tin tởng vào sự lãnh đạo của

Đảng đồng thời Quân đội nhân dân Việt Nam ngày càng có bớc trởng thành nhanh chóng.

Về mặt xã hội chế độ ngời bóc lột ngời và các g/c bóc lột bị xóa bỏ, g/c nông dân đã đợc tổ chức lại theo hình thức tập thể, tầng lớp trí thức XHCN, g/c công nhân cũng phát triển Do sức lao động đợc giải phóng, quan hệ sản xuất XHCN đ-

ợc phát triển nên kinh tế phát triển,

đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân đợc cải thiện rõ rệt, vai trò làm chủ của nhân dân lao động

đợc nâng cao hơn Điều đó thể hiện tính u việt của chế độ mới - chế độ XHCN.

Văn hóa - giáo dục, y tế phát triển trên nhiều mặt, đội ngũ cán bộ KHKT đợc

đào tạo ngày càng nhiều, con ngời mới XHCN là sản phẩm tất yếu của 3 cuộc CM đem lại với những đức tính tốt đẹp, tự nhiên của họ cũng hình thành thể hiện ở t tởng, tình cảm, khả

năng hiểu biết và quan hệ giữa họ với nhau Vì vậy, tại Hội nghị chính trị

đặc biệt tháng 3/1963, HCT đã nói:

"Trong 10 năm qua, MB nớc ta đã

tiến những bớc dài cha từng thấy

ngời đều đổi mới".

Tuy nhiên, mô hình XHCN đợc xây dựng ở MB trong 10 năm đó chỉ phát huy đợc tác dụng trong thời chiến nh "chính sách cộng sản thời chiến" mà Lênin đã áp dụng ở nớc Nga những năm 1917 - 1921 Mô

hình đó sẽ kìm hãm sự phát triển trong thời bình ở Nga sau khi có hòa bình, Lên nin đã chuyển sang chính sách kinh tế mới Còn ở Việt Nam sau 1975 đã không chuyển

đổi kịp thời nên rơi vào khủng hoảng cùng với sự khủng hoảng của phong trào cộng sản và CNXH trên phạm vi TG Đại hội VI của

đáng đối với lịch sử Việt Nam

Đúng nh Bác Hồ nhận định MB đã

"tiến những bớc dài cha từng thấy" Những thành tựu đạt đợc của nhân đân đã làm cho MB "đổi thịt thay da" và làm hậu phơng vững chắc cho MN đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lợc tàn bạo của đế quốc Mĩ trong 10 năm (1965

- 1975) tiếp theo đó.

Đề 3: Hoàn cảnh nội dung,

ý nghĩa của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 3.

Bài làm.

Lúc này trên TG hệ thống XHCN ngày càng lớn mạnh, phong trào gpdt lên cao ở khắp á - Phi - Mĩ Latinh, phong trào đấu tranh vì

hòa bình dân chủ và tiến bộ xã hội phát triển mạnh ở các nớc t bản

CNĐQ do Mĩ đứng đầu đã, đang ra sức thực hiện âm mu ngăn chặn

ảnh hởng của CNXH Mĩ trở thành tên "sen đầm" quốc tế chĩa mũi nhọn vào nơi nào có phong trào

CM và phong trào chống đế quốc triệt để.

ở trong nớc, sau Hiệp định Giơnevơ đất nớc bị chia làm 2 miền: MN vẫn dới ách thống trị của

Mĩ và tay sai Chúng tìm mọi cách

để chống phá CM nhng phong trào

CM của nhân dân MN vẫn phát triển, đồng khởi đã nổ ra và thắng lợi ở MB đã hoàn thành nhiều kế

phục kinh tế, cải tạo XHCN) Tuy vậy, nền kinh tế MB phổ biến vẫn

là sản xuất nhỏ Nhiệm vụ của MB lúc này là phải tiến lên CHXN làm hậu thuẫn cho CMMN Từ một

Đảng lãnh đạo nhân dân cả nớc tiến hành một nhiệm vụ chiến lợc là

CM DTDCND Lúc này Đảng phải

đồng thời lãnh đạo nhân dân 2 miền Nam - Bắc thực hiện 2 nhiệm

vụ chiến lợc khác nhau Hoàn cảnh

đó đòi hỏi Đảng phải đại hội để củng cố lại tổ chức, sắp xếp lực l- ợng và đề ra đờng lối cụ thể cho

CM mỗi miền và CM cả nớc.

Đại hội tiến hành họp từ ngày 5

đến 12/9/1960 tại Hà Nội tham gia

có 525 đại biểu chính thức, 51 đại biểu dự khuyết thay mặt cho hơn 50 vạn đảng viên trong cả nớc, có 17

đoàn đại biểu quốc tế Đại hội đã

nghe và thảo luận "Báo cáo chính trị", báo cáo sửa đổi điều lệ Đảng thông qua Nghị quyết về đờng lối nhiệm vụ của Đảng trong giai đoạn mới.

Đại hội đã bầu ra BCH TW khóa mới: HCM đợc bầu lại làm Chủ tịch

Đảng và Lê Duẩn là bí th thứ nhất BCH TW Đảng.

Đại hội đã xác định nhiệm vụ chung của CM nớc ta trong giai

đoạn mới là tăng cờng đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ

vững hòa bình, đẩy mạnh CM XHCN ở MB, đẩy mạnh CM DTDCND ở MN thực hiện thống nhất nớc nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ xây dựng một nớc Việt Nam hòa bình thống nhất độc lập dân chủ và giàu mạnh thiết thục góp phần tăng cờng phe XHCN và bảo vệ hòa bình ĐNA, TG.

Đồng thời, tại Đại hội cũng vạch rõ nhiệm vụ CM cụ thể của mỗi miền

và mối quan hệ CM giữa 2 miền

Điều đó thể hiện cuộc CM XHCN ở

MB có nhiệm vụ quyết định nhất

đối với toàn bộ CMVN, đối với sự nghiệp thống nhất nớc nhà Còn

CM DTDCND ở MN có tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng MN của đế quốc

Mĩ và bè lũ tay sai CM hai miền có quan hệ gắn bó mật thiết và tác

động lẫn nhau nhằm vào mục tiêu chung là hoàn thành CM DTDCND trong cả nớc thực hiện thống nhất nớc nhà và đều nhằm giải quyết mâu

Mĩ xâm lợc và bè lũ tay sai của chúng.

Đối với CM XHCN ở MB thì xuất phát từ tình hình và đặc điểm chung của MB bớc vào thời kỳ quá

độ trong đó đặc điểm lớn nhất là từ một nền sản xuất nhỏ, kinh tế nông nghiệp lạc hậu bỏ qua giai đoạn phát triển t bản, Đại hội đã đề ra:

CM XHCN ở MB nớc ta là một quá

trình phát triển của 3 cuộc CM:

CM quan hệ sản xuất, CM khoa học kỹ thuật và CM t tởng văn hóa trong đó CM kỹ thuật là then chốt.

Về đờng lối kinh tế, ĐH xác định nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ là công nghiệp hóa XHCN nhằm biến MB từ một bớc nông nghiệp lạc hậu thành một nớc XHCN có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, văn hóa - kỹ thuật tiên tiến làm cơ sở vững chắc cho sự phát triển, thống nhất nớc nhà.

Đại hội đã thông qua phơng hớng nhiệm vụ kế hoạch 5 năm lần 1 (1961 - 1965) nhằm thực hiện một bớc công nghiệp hóa XHCN, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH Đồng thời tiếp tục hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN.

Thắng lợi của ĐH 3 có ý nghĩa to lớn để xây dựng, củng cố MB đấu tranh giải phóng hoàn toàn MN tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc Những Nghị quyết của ĐH

Đảng lao động Việt Nam lần thứ 3

đã soi sáng những vấn đề chủ yếu của CMVN ở cả 2 miền Nam - Bắc

Hớng dẫn và thúc đẩy nhân dân 2 miền hăng hái đấu tranh giành thắng lợi trong sự nghiệp CM XHCN ở MB và CM DTDCND ở MN.

Đề 4: Trình bày thành tựu của MB từ 1965 - 1975.

Bài làm.

Sau 10 năm đầu (1954 - 1965) xây dựng XHCN ở MB trong thời kỳ hòa bình, MB đã đạt đợc những thành tựu to lớn Nhng từ năm

1965 CMMB đã phải chuyển sang một thời kỳ mới Đây là thời kỳ MB kết hợp một cách sinh động nhất 2 nhiệm vụ chiến lợc là giơng cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH

để tiếp tục xây dựng CNXH trong hoàn cảnh có chiến tranh (1965 - 1975).

Sau 1954 lợi dụng sự suy yếu của Pháp, Mĩ đã chiếm MNVN Năm

tiến nhng phong trào "Đồng khởi"

của đồng bào MN đã nổ ra Tiếp đó

từ 1961 - 1964 Mĩ liên tiếp thất bại trong việc thực hiện "chiến tranh

đặc biệt" ở MN và kế hoạch tung biệt kích ra phá hoại MB Mĩ biết rằng sở dĩ phong trào CM ở MN phát triển đợc là do có sự giúp đỡ của MB XHCN, MB làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nớc nhà nh Nghị quyết ĐH

Đảng lần thứ 3 đã nêu Hơn nữa, tình hình TG lúc này cũng có nhiều phức tạp Mĩ đánh phá MB nhằm ngăn chặn sự chi viện của MB cho

MN Đây là mục tiêu số một Tiếp

đến là phá hoại tiềm lực kinh tế, quốc phòng của MB để làm lung lay quyết tâm của nhân dân Việt Nam, buộc ta phải nhận những

điều kiện của chúng Đồng thời Mĩ muốn củng cố tinh thần của bọn ngụy quyền, ngụy quân ở MN đang sụp đổ Đó là những nguyên nhân khiến Mĩ gây chiến tranh phá hoại

ở MB.

Trớc âm mu mới của địch từ ngày

25 đến 27/3/1965 Hội nghị TW

Đảng lần thứ 11 mở rộng đã họp, tiếp đó là tháng 12/1965 Hội nghị lần thứ 12 đã phân tích tình hình

và đề ra chủ trơng đối phó với địch trong tình hình mới Các hội nghị này đã nhận định tình hình, so sánh tơng quan lực lợng giữa ta và

địch đồng thời đề ra chủ trơng phát

động một cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính, chuyển hớng phát triển kinh tế, tiếp tục xây dựng CNXH trong hoàn cảnh có chiến tranh xâm lợc trong bất kỳ hoàn cảnh nào nhằm bảo vệ MB, giải phóng MN hoàn thành cuộc CMDTDCND trong cả nớc, tiến tới thực hiện hòa bình thống nhất nớc nhà.

Tại kỳ họp thứ 2 của Quốc hội nớc VNDCCH tháng 4/1965 kỳ họp thứ

3 HCT đã tuyên bố: "lúc này chống

Mĩ cứu nớc là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi ngời Việt Nam yêu nớc".

Ngày 5/8/1964 Mĩ đã dựng lên sự kiện vịnh Bắc Bộ, chúng cho máy bay ném bom khiêu khích, bắn phá

một số nơi ở MB nh cửa sông Gianh, Vinh, Bến Thuỷ Ngày 7/2/1965 lấy cớ trả đũa quân giải phóng MN tiến công doanh trại

ném bom bắn phá thị xã Đồng Hới,

đảo Cồn Cỏ chính thức gây ra cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất.

Mĩ đã huy động một lực lợng không quân và hải quân rất lớn gồm hàng ngàn máy bay tối tân thuộc 50 loại khác nhau với các loại vũ khí hiện

đại chúng tập trung đánh phá vào các mục tiêu quân sự, đầu mối giao thông, nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ, khu đông dân thậm chí cả trờng học, nhà trẻ Trung bình mỗi ngày

có 300 lần chiếc máy bay của Mĩ đi gây tội ác với 1600 tấn bom đạn trút xuống các làng mạc phố xá Thời gian này MB vừa phải trực tiếp đơng đầu với đế quốc Mĩ vừa phải làm tròn nhiệm vụ của hậu ph-

ơng lớn đối với tiền tuyến lớn MN

và nhiệm vụ quốc tế đối với CM Lào

- CPC Dới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân MB đã không quản ngại

hy sinh gian khổ khó khăn thực hiện chuyển hớng kinh tế: đẩy mạnh phát triển nông nghiệp chú trọng phát triển công nghiệp địa phơng và tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và phát triển kinh tế theo vùng chiến lợc quốc phòng, đáp ứng yêu cầu cả nớc có chiến tranh,

đẩy mạnh công tác phòng không sơ tán, phân tán Phát động cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của địch, kiên quyết

đập tan âm mu đánh phá và phong toả MB của chúng.

Trên mặt trận chiến đấu quân dân

MB đã bắn rơi 3234 máy bay hiện

đại của Mĩ trong đó có 6 B52, 3 F111, tiêu diệt và bắt sống hàng nghìn giặc lái, bắn cháy và làm bị thơng 143 tàu chiến Tháng 3/1968 tổng thống Mĩ Johnson phải tuyên

bố ném bom hạn chế MB từ vĩ tuyến

20 trở ra Ngày 1/11/1968 Mĩ phải tuyên bố chấm dứt hoàn toàn không điều kiện việc ném bom MB Thực hiện chủ trơng của Đảng tiếp tục xây dựng XHCN trong hoàn cảnh có chiến tranh MB đã dấy lên phong trào thi đua: "toàn dân

đánh máy bay địch, đánh toàn diện", "nhằm thẳng quân thù mà bắn" trong quân đội, phong trào

"chắc tay súng chắc tay búa" trong công nhân , "chắc tay súng vững tay cày" trong nông dân, "ba sẵn sàng" của thanh niên, "ba đảm

đang" của phụ nữ, phong trào "hai tốt" trong các trờng học Từ các

24

Trang 25

những thành tựu trong nông

nghiệp, CM kỹ thuật, sử dụng

giống mới nhờ vậy năng suất tăng,

và tiếp tục sản xuất Mạng lới CM

địa phơng nhất là mạng lới cơ khí

đợc phát triển rộng rãi, đảm bảo

nhu cầu đời sống và sản xuất cho

triển những đờng giao thông chiến

lợc, đờng liên tỉnh, liên huyện với

việc cải tạo ruộng đồng Nhờ vậy

mà hệ thống đờng GT chiến lợc

cũng nh đờng giao thông nông

thôn đã tăng gấp đôi Các phơng

tiện giao thông cũng tăng lên rất

nhiều, vừa phục vụ cho chiến tranh

vừa phục vụ cho giao lu kinh tế Kỹ

thuật xây dựng cầu đờng phát triển

vạn cán bộ, vừa phục vụ trực tiếo

cho công cuộc sản xuất chiến đầu

vừa phục vụ cho công cuộc xây

dựng đất nớc sau này Năm học

nghĩa vụ của một hậu phơng lớn

Đờng vận tải chiến lợc Bắc - Nam

mang tên Bác trên bộ dọc Trờng

càng mở rộng dài hàng nghìn km nối liền hậu phơng với tiền tuyến

Trong 4 năm từ 1965 đến 1968 hơn 300.000 chiến sĩ quân đội, cán bộ các ngành đợc bổ sung cho các chiến trờng MN và xây dựng vùng giải phóng, sức ngời sức của của

MB chuyển vào Nam trong 4 năm tăng gấp 10 lần so với trớc.

Sau khi quân ta ở MN bắt đầu cuộc tấn công chiến lợc năm 1972 Mĩ cho không quân và hải quân đánh phá một số nơi thuộc khu IV cũ và ngày 16/4/1972 Nicxơn tuyên bố chính thức cuộc chiến tranh phá

hoại lần thứ 2 chống MB.

Cuộc chiến tranh phá hoại lần 2 đã

vợt xa cuộc chiến tranh phá hoại lần 1 cả về quy mô, tốc độ và cờng

độ đánh phá nhất là chúng đã sử dụng một cách phổ biến, tạp trung các loại máy bay hiện đại nhất.

Đặc biệt trong 12 ngày đêm cuối

1972 Mĩ đã sử dụng trên 700 lần chiếc máy bay B52, gần 4000 lần chiếc máy bay chiến thuật chiến

đấu, rải xuống Hải Phòng, Hà Nội

và một số nơi khác 10 bạn tấn bom (riêng Hà Nội 4 vạn tấn) với sức công phá tơng đơng 5 quả bom nguyên tử mà Mĩ đã ném xuống Nhật năm 1945 Vì vậy đã gây cho nhân dân ta nhiều tổn thất nặng nề.

Mục tiêu của đợt tập kích 12 ngày

đêm nhằm tàn phá một số khu vực dân c nhất là ở Hà Nội, Hải Phòng hòng gây hoang mang trong nhân dân ta, làm áp lực buộc ta phải hạ thấp một số điều khoản trong hiệp

định (do ta đa ra và Mĩ đã chấp nhận) Phá hoại tiềm lực kinh tế và quốc phòng, ngăn chặn nguồn tiếp

tế của hậu phơng cho tiền tuyến, phá kế hoạch đánh lớn của ta sau này ở chiến trờng MN Chúng muốn gây tổn thất lớn về ngời và của làm cho ta mất nhiều thời gian khắc phục hậu quả do đó không đủ sức tiếp tục cuộc k/c ở MN Điều đó

sẽ tạo điều kiện cho ngụy quân, ngụy quyền có thời gian tơng đối

ổn định, tăng cờng lực lợng tạo thế mạnh cho một giải pháp chính trị sau này Đồng thời, răn đe các nớc

đang đấu tranh chống CNĐQ.

Trên mặt trận chiến đấu nhờ đợc chuẩn bị trớc với t thế luôn luôn sẵn sàng chiến đấu quân dân ta ở

MB đã kịp thời chống trả địch ngay

đầu của cuộc chiến đấu quân dân

MB đã bắn rơi 651 máy bay, bắn cháy bắn hỏng 80 tàu chiến của

địch.

Đầu tháng 11/1972 lực lợng phòng không MB đã đợc lệnh gấp rút tăng cờng chuẩn bị đối phó với bớc phiêu lu quân sự cao nhất của địch

Ngay từ trận đầu quân dân Mb trực tiếp là quân dân Hà Nội, Hải Phòng đã giáng trả địch những đòn

đích đáng đặc biệt là làm thất bại hoàn toàn cuộc tập kích chiến lợc của địch lập nên trận Điện Biên Phủ trên không vĩ đại Trong 12 ngày đêm chiến đấu 81 máy bay hiện đại bị hạ trong đó có 34 chiếc B52 và 5 F111 bị bắn rơi, 44 giặc lái bị bắt sống Riêng Hà Nội bắn rơi 30 máy bay trong đó có 23 B52

và 2 F111 Trận Điện Biên Phủ trên không đã đập tan ý đồ của Mĩ muốn dùng sức mạnh giành thắng lợi quân sự quyết định trên chiến tr- ờng để có thắng lợi trên bàn đàm phán Cuối cùng, ngày 30/12/1972

Mĩ phải tuyên bố ngừng mọi hoạt

động chống phá MB từ vĩ tuyến 20 trở

ra vào ngày 15/1/1973 ngừng mọi hoạt động quân sự ở MB.

Kết quả chung trong cuộc chiến

đấu chống chiến tranh phá hoại lần 2 (từ 6/4/1972 đến 15/1/1973)

MB đã bắn rơi 735 máy bay, bắn cháy, bắn hỏng 125 tàu chiến, diệt

và bắt sống hàng trăm giặc lái

Thắng lợi của ta đã buộc Mĩ- ngụy phải ký hiệp định Pari về việc chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở

MB Việt Nam.

Trên mặt trận sản xuất, xây dựng CNXH ta cũng đạt đợc những thành tựu đáng kể Từ 1969 đến tháng 3/1972 ta chuyển hớng kinh

tế từ chiến tranh sang hoà bình thực hiện khôi phục và phát triển kinh tế, chuẩn bị sẵn sàng chiến

đấu khi địch phá hoại trở lại Từ tháng 4/1972 đến hết 1972 ta lại chuyển hớng kinh tế từ hoà bình sang chiến tranh tiếp tục xây dựng CNXH Thực hiện chủ trơng của

Đảng, chính phủ và di chúc thiêng liêng của Bác từ cuối 1969 nhân dân ta hởng ứng 3 cuộc vận động chính trị lớn của Đảng (lao động sản xuất, phát huy dân chủ, tăng c- ờng quyền làm chủ của quần chúng) ra sức thi đua học tập công tác lao động, khôi phục phát triển

đạt đợc các thành tựu lớn Trong nông nghiệp, bớc đầu hình thành việc phân vùng và quy vùng sản xuất, đa chăn nuôi thành ngành chính và tiếp tục cuộc CMKT nh thâm canh tăng vụ, phát triển giống lúa mới Công nghiệp địa phơng phát triển đã góp phần thúc đẩy nông nghiệp tiến nhanh hơn Sản l- ợng lơng thực 1970 đã tăng hơn 60 vạn tấn so với 1968, năm 1971 tuy

bị lụt song sản lợng lơng thực vẫn tăng hơn 1968 gần 30 vạn tấn, nhiều hợp tác xã đạt 5 tấn thóc/ha gieo trồng.

Trong công nghiệp phần lớn các nhà máy xí nghiệp bị đánh phá đã

trị sản lợng công nghiệp năm 1971 tăng 142% so với 1968.

GTVT mặc dù bị đánh phá nặng nề cũng đợc khẩn trơng khôi phục đặc biệt là các tuyến đờng giao thông chiến lợc.

Văn hóa - giáo dục cũng nhanh chóng khôi phục phát triển, đời sống nhân dân đợc ổn định, các cơ

quan Nhà nớc, nhân dân rời nơi sơ

tán về thành phố.

MB tích cực chi viện cho MN vợt qua cuộc bao vây phong tỏa gắt gao, toàn diện và ác liệt nhất của kẻ thù MB vẫn bảo đảm tốt nhất việc tiếp nhận hàng viện trợ bên ngoài vào và chi viện tốt nhất cho MN, chiến trờng Lào - CPC Khối lợng vật chất chuyển từ Bắc vào Nam ngày càng tăng Từ 1969 đến 1971 tăng 1,6 lần so với 3 năm trớc , năm

1972 tăng 1,7 lần so với 1971, năm

1972 MB đã động viên trên 22 vạn thanh niên bổ sung cho lực lợng vũ trang và đa vào chiến trờng MN, Lào, CPC Sự chi viện to lớn của

MB đã góp phần quyết định cùng nhân dân MN đánh thắng chiến lợc

"Việt Nam hóa chiến tranh" của

địch.

Sau khi Hiệp định Pari đợc ký kết

từ 1973 đến đầu 1975 MB thực hiện kế hoạch 2 năm chuyển hớng kinh tế từ chiến tranh sang hòa bình nhằm khôi phục và phát triển kinh tế, chi viện đầy đủ nhất cho

phóng hoàn toàn đất nớc Trong những năm từ 1973 - 1975 MB đạt

đợc rất nhiều thành tựu.

Về công nghiệp, giá trị tổng sản ợng công nghiệp và thủ công nghiệp năm 1974 tăng 15% so với

l-1975 Nhìn chung, sản xuất nông nghiệp và công nghiệp đến cuối

1974 trên một số mặt quan trọng đã

đạt và vợt mức năm 1964 và năm

1971 là 2 năm đạt mức cao nhất trong 20 năm xây dựng CNXH ở MB.

Trong lĩnh vực GTVT cuối tháng 6/1973 MB căn bản hoàn thành tháo gỡ thủy lôi, bom mìn trên biển, trên sông bảo đảm việc đi lại bình thờng, một số bến cảng, tuyến đờng

đợc sửa chữa, một số cầu quan trọng đợc khởi công xây dựng

Văn hóa - giáo dục, y tế cũng nhanh chóng khôi phục và phát triển Nhìn chung sau 2 năm 1973 -

1974 về cơ bản MB đã khôi phục xong các cơ sở kinh tế, hệ thống thủy nông, mạng lới GT, công trình văn hóa - giáo dục, kinh tế có bớc phát triển.

Về việc chi viện cho tiền tuyến MN trong 2 năm 1973 - 1974, MB đã đa

20 vạn bộ đội, hàng vạn thanh niên xung phong, cán bộ chuyên môn kỹ thuật vào Nam, CPC, Lào Đầu năm 1975 ta đã đa ào Nam 57.000

bộ đội và hàng chục vạn tấn vật chất, vũ khí, đạn dợc, xăng dầu, thuốc men, lơng thực Đến 1975 tuyến đờng vận tải Bắc - Nam đợc nâng cấp dài 16.000 km và hệ thống đờng ống dẫn dầu dài 5000

km để phục vụ đa ngời và hàng vào chiến trờng thuận tiện, nhanh chóng, an toàn Sự chi viện về ngời

và của của MB cho MN thời kỳ này ngoài yêu cầu phục vụ chiến đấu để tiến tới cuộc tông tiến công nổi dậy xuân 1975 đồng thời còn nhằm xây dựng vùng giải phóng MN, chuẩn

bị tiếp quản vùng giải phóng sau khi chiến tranh kết thúc.

Tóm lại, từ 1954 - 1975 trong công cuộc CM XHCN và xây dựng

thành tựu to lớn MB cơ bản đã xóa

bỏ đợc chế độ ngời bóc lột ngời, bớc

đầu xác lập đợc một hình thái kinh

tế xã hội mới với một Nhà nớc chuyên chính vô sản đợc củng cố, cùng với hệ t tởng văn hóa xã hội mới đã đem lại những thay đổi sâu sắc trên tất cả mọi lĩnh vực MB đã

vừa sản xuất vừa chiến đấu đánh bại 2 lần chiến tranh phá hoại của

đế quốc Mĩ, bảo đảm chi viện cho tiền tuyến MN xứng đáng là hậu phơng lớn đối với tiền tuyến lớn.

Những thành tựu trong sản xuất và chiến đấu của nhân dân MB chứng

tỏ tinh thần CM tiến công của toàn

Đảng và toàn dân ta Dám đánh và

đánh thắng đế quốc Mĩ, tiếp tục xây dựng CNXH trong hoàn cảnh có chiến tranh Đây là một sáng tạo, một quyết tâm lớn của Đảng và nhân dân ta.

Việc tổ chức vừa sản xuất vừa chiến

đấu thể hiện rằng Đảng ta tin vào năng lực tiềm tàng của quần chúng, lòng yêu nớc nồng nàn, lòng tin vào Đảng vào chế độ mới của nhân dân ta Đồng thời cuộc chiến đấu của nhân dân MB đã

nêu rõ mối quan hệ giữa chiến tranh và CMVN Nếu trớc kia là vừa k/c vừa kiến quốc thì lúc này là vừa k/c vừa xây dựng CNXH, làm

nh vậy ta vừa tạo đợc nguồn sức mạnh phục vụ k/c vừa chuẩn bị tiềm năng xây dựng đất nớc về sau.

Thời kỳ này còn để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho hiện nay khi cả nớc

đi lên CNXH.

Nếu chiến tranh là một sự thử thách lớn đối với một chế độ xã hội thì việc MB ra khỏi chiến tranh với

t thế của ngời chiến thắng chứng tỏ tính u việt của chế độ CNXH ở MB

so với chế độ TBCN, chế độ thực dân kiểu mới của Mĩ - ngụy ở MN.

ơng, kết thúc thắng lợi sự nghiệp k/c chống thực dân Pháp Lúc này CMVN có hai nhiệm vụ khác nhau:

chiến tranh, khôi phục kinh tế tiến dần lên CNXH còn MN tiếp tục đẩy mạnh của CM DTDC tiến tới thực hiện hòa bình thống nhất đất nớc

Mở đầu cho những thắng lợi của nhân dân MN đó là việc nhân dân

MN đánh bại chiến lợc "chiến tranh đơn phơng" của Mĩ - ngụy.

Tuy mục tiêu chiến lợc của cuộc CMMN so với cuộc k/c chống Pháp trớc đây vẫn không thay đổi nhng

về kẻ thù cụ thể và hoàn cảnh lịch

sử thì đã khác trớc nhiều Đối tợng

CM nớc ta lần này là đế quốc Mỹ - một tên đế quốc đầu sỏ có tiềm lực kinh tế và quốc phòng rất lớn, đang

ôm mộng làm bá chủ toàn cầu

Từ sau CTTG2, phong trào ngày càng lớn mạnh cùng tấn công vào CNĐQ Vùng ĐNA nói chung, Việt Nam nói riêng là nơi nóng bỏng khiến cho bọn đế quốc phải tập trung lực lợng chống phá để cứu

"ngôi nhà thuộc địa" của chúng

đang có nguy cơ bốc cháy ở vùng này.

Sau Hiệp định Giơnevơ, lợi dụng lúc Pháp suy yếu Mỹ đã hất cẳng Pháp độc chiếm MN nớc ta bằng CNTD mới - Mĩ đã biến nơi đây thành một căn cứ quân sự khổng lồ

hy vọng dập tắt phong trào CM ở Việt Nam và làm bàn đạp tấn công phe XHCN, ngăn chặn làn sóng cộng sản ở miền Đông Nam á.

Nhân dân MN đã phát huy truyền thống tốt đẹp của một dân tộc anh hùng nhất là trong cuộc k/c chống Pháp trớc đây nhân dân MN vẫn kiên quyết giơng cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH để chống CNTD mới của Mĩ, căn cứ địa và sự chi viện hậu phơng lớn Miền Bắc XHCN là những yếu tố quyết định giành thắng lợi của sự nghiệp k/c chống Mỹ cứu nớc của nhân dân

MN và nhân dân cả nớc Cuộc đấu tranh này là chính nghĩa nên đợc

sự đồng tình ủng hộ to lớn của nhân dân TG Vì những lẽ đó mà đế quốc Mỹ đã quyết tâm xâm lợc MN

đánh phá MB.

Điều kiện và hoàn cảnh đó làm cho cuộc đụng đầu lịch sử giữa nhân dân ta và đế quốc Mỹ (tiêu biểu cho hai thế lực CM nhất và phản CM nhất của thời đại) xảy ra là một tất yếu lịch sử làm cho tính chất của cuộc đấu tranh trở nên gay go phức tạp, quyết liệt và lâu dài.

đế quốc Mĩ đã rắp tâm phá hoại kế hoạch Côlin - Mĩ đã mu toan áp

đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới ở

MN nớc ta bằng những biện pháp

cổ truyền.

Về chính trị, chúng dựng lên ở MN chế độ độc tài phát xít Ngô Đình Diệm, xây dựng ngụy quân do Mĩ huấn luyện, trang bị, chỉ huy làm công cụ phá hoại hiệp thơng tổng tuyển cử hòng chia cắt lâu dài đất nớc ta Chúng dùng những nhãn hiệu độc lập giả hiệu, dùng hệ thống cố vấn Mĩ và viện trợ kinh tế

- quân sự để thực hiện mu đồ ấy.

Về kinh tế, chúng đa lối sống Mĩ vào MN để đầu độc nhân dân ta nhất là các tầng lớp thanh thiếu niên Chúng còn đa ra những luận thuyết lừa bịp nh "cần lao nhân vị", "đồng tiến xã hội" Mĩ - Diệm

đã thi hành những chính sách rất phản động nh "đả thực bài phong", mở những chiến dịch "tố cộng, diệt cộng", dùng luật 10 - 59

lê máy chém khắp nơi nhằm tiêu diệt lực lợng CM và trả thù những ngời k/c cũ, khủng bố tinh thần của nhân dân Chúng thực hiện chơng trình "cải cách điền địa" nhằm cớp lại ruộng đất của nhân dân mà CM

đã chia thời k/c chống Pháp, củng

cố thế lực của g/c địa chủ Chúng lập ra các khu dinh điền, khu trù mật vừa là tổ chức kinh tế để bóc lột ngời dân vừa là tổ chức chính trị - quân sự để kìm kẹp khống chế nông dân.

Những chính sách và sự khủng bố dã man ấy đã làm cho hàng chục vạn ngời yêu nớc bị giết, bị tra tấn,

tù đày, đời sống của nhân dân vô cùng cơ cực, cả MN biến thành một nhà tù khổng lồ vì lợi ích của bọn

Mỹ - Diệm Nhân dân MN không còn con đờng nào khác là phải vùng dậy đấu tranh.

Lúc này Đảng ta chủ trơng giữ gìn lực lợng chỉ dùng đấu tranh chính trị hợp pháp đòi địch phải thi hành Hiệp định Giơnevơ vì vậy cuộc đấu tranh của nhân dân MN mở đầu cũng bằng một phong trào đấu tranh chính trị có tính chất quần chúng rộng lớn, lôi cuốn hàng triệu ngời thuộc nhiều g/c, tầng lớp xã hội tham gia với nhiều hình thức

đấu tranh phong phú nh hội thảo, báo chí, mít tinh, biểu tình, bãi công, bãi thị Tiêu biểu là các sự

25

Trang 26

Gay go nhất, quyết liệt nhất là các

cuộc đấu tranh chống các chính sách

"tố cộng, diệt cộng" của địch.

Kết quả là nhân dân MN đã làm thất

bại hoàn toàn chính sách "tố cộng

diệt cộng" của địch, CMMN tuy bị tổn

thất rất nặng nề nhng tinh thần của

Việt Nam Xã hội MN xuất hiện hai

mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa

toàn thể nhân dân MN với đế quốc

Mĩ xâm lợc và tay sai, mâu thuẫn

giữa nhân dân với địa chủ phong

kiến Trong đó mâu thuẫn chủ yếu

giữa nhân dân MN với đế quốc Mĩ

MN phải vùng lên đấu tranh một

mất một còn với Mĩ - Diệm.

CMMN tuy gặp phải tổn thất khá

nặng nề do sự đàn áp điên cuồng

của Mĩ - Diệm song vẫn kiên cờng

đấu tranh và giành đợc thắng lợi

quan trọng: giữ vững đợc tinh thần

và u thế chính trị của quần chúng,

tập hợp đợc lực lợng vũ trang sơ

khai và tiến hành ở quy mô nhỏ, lẻ

tẻ: diệt ác ôn, vũ trang tuyên truyền.

khởi nghĩa dành chính quyền về tay

nhân dân bằng con đờng dựa vào

lực lợng chính trị của quần chúng là

chủ yếu kết hợp với lực lợng vũ trang

Diệm.

Đợc Nghị quyết 15 của TW Đảng soi sáng phong trào khởi nghĩa của quần chúng MN đã lần lợt nổ ra ở một số địa phơng nh Bắc ái (Ninh Thuận) vào tháng 2/1959, Trà Bồng (Quảng Ngãi) vào tháng 8/1959 và lan rộng ra khắp MN thành cao trào "Đồng khởi" vĩ đại

mà tiêu biểu là cuộc nổi dậy của nhân dân Bến Tre.

Ngày 17/1/1960 dới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Bến Tre nhân dân các xã Định Thuỷ, Phớc Hiệp, Bình Chánh thuộc huyện Mỏ Cày với gậy gộc giáo mác, súng tự tạo đã nổi dậy đánh đồn bốt, diệt ác ôn giải tán chính quyền địch, giành lấy quyền làm chủ thôn xã Cuộc nổi dậy lan ra toàn huyện Mỏ Cày rồi cả tỉnh Bến Tre Chỉ trong vòng một tuần lễ nông dân 47 xã đồng loạt vùng lên đập tan bộ máy kìm kẹp của địch, nhân dân các thôn xã

đợc giải phóng mở Đại hội nhân dân, lập tòa án xét xử bọn tay sai

nợ máu, tịch thu ruộng đất của bọn

địa chủ cờng hào chia cho dân cày nghèo Các UBND tự quản, lực l- ợng vũ trang nhân dân MN đợc hình thành phát triển Phong trào

"Đồng khởi" nh nớc vỡ bờ lan nhanh ra khắp các tỉnh ở Nam Bộ, Tây Nguyên và một số vùng miền Trung Trung Bộ.

Kết quả là hệ thống kìm kẹp của

địch ở thôn xã bị phá vỡ từng mảng lớn Đến cuối 1960 tại các tỉnh Nam Bộ CM đã làm chủ hơn 600 trong tổng số 1298 xã, 116 xã làm chủ hoàn toàn Các tỉnh đồng bằng ven biển Trung Bộ có 904 thôn, Tây Nguyên có 3200 thôn.

Ngày 20/12/1960 Mặt trận dân tộc giải phóng MNVN - ngời đại diện chân chính cho nhân dân MN đã

ra đời, tiếp đó là ủy ban mặt trận tỉnh, huyện ở MN lần lợt đợc thành lập, mặt trận chủ trơng là đoàn kết toàn dân, thành lập chính quyền liên minh dân chủ rộng rãi ở MN thực hiện độc lập dân tộc, hòa bình tiến tới thống nhất toàn quốc làm mốc phát triển mới của CMMN.

Cuộc "Đồng khởi" đã giáng một

đòn nặng nề vào chính sách thực dân mới của đế quốc Mĩ ở MN, làm phá sản hoàn toàn chiến lợc

"CTĐP" của Mĩ, phá vỡ từng mảng

hệ thống chính quyền địch ở nông

quyền địch đã chấm dứt chuyển sang thời kỳ khủng hoảng triền miên.

"Đồng khởi" thắng lợi đánh dấu

b-ớc phát triển nhảy vọt của CMMN, chuyển CM từ thế giữ gìn lực lợng sang thế tiến công liên tục bằng cả

đờng lối CM bạo lực là hết sức sáng suốt, kịp thời phù hợp với yêu cầu lịch sử và nguyện vọng của quần chúng.

"Đồng khởi" là thắng lợi có ý nghĩa chiến lợc đầu tiên của CMMN tạo tiền đề hết sức quan trọng cho sự phát triển của CM trong những giai đoạn tiếp theo, trong thế tiến công liên tục và ngày càng mở rộng Đồng thời đây cũng

là thất bại có ý nghĩa chiến lợc đầu tiên của kẻ địch, buộc địch phải chuyển sang chiến lợc "CTĐB".

Đề 6: Nhân dân MN đánh bại "CTĐB" của Mỹ.

Chiến lợc "CTĐP" của Aixehao

đ-ợc thực thi ở miền Nam đã bị phá

sản.

Để cứu vãn tình thế giữa năm 1961

đế quốc Mĩ bị động chuyển sang chiến lợc "CTĐB", một hình thức chiến tranh thực dân kiểu mới Nội dung của "CTĐB" là dùng quân ngụy dới sự chỉ huy và trang bị của

Mĩ để đàn áp CMMN thực chất là dùng "ngời Việt trị ngời Việt" - chỗ dựa cơ bản của chiến lợc "CTĐB"

là ngụy quân, ngụy quyền và ấp chiến lợc.

Để tiến hành "CTĐB" Mĩ đã đề ra nhiều kế hoạch: Stalây - Taylo, Johnson - Macnamara, Jonhson

Với kế hoạch đầu tiên mang tên Stalây - Taylo Mĩ - ngụy nhằm bình

định MN trong vòng 18 tháng bằng một loạt các biện pháp.

Chúng cho tăng cờng lực lợng và khả năng cơ động của quân ngụy trong các cuộc hành quân tiêu diệt lực lợng vũ trang giải phóng

Chúng tăng quân số ngụy từ

vào năm 1964, đa thêm nhiều vũ khí trang bị chiến tranh hiện đại sang MNVN Đặc biệt năm 1964 chúng đa 26.000 cố vấn Mĩ và lập

Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (MACV) thay cho Đoàn cố vấn viện trợ quân

sự thành lập vào năm 1950 (MAAG).

Chúng cho áp dụng chiến thuật mới "trực thăng vận, thiết xa vận", dồn dân lập ấp chiến lợc đợc coi là quốc sách, là xơng sống của

"CTĐB", Mỹ - ngụy định dồn 10 triệu nông dân vào 16.000 ấp chiến lợc thực chất là các trại tập trung trá hình bằng những thủ đoạn c- ỡng bức tàn bạo nhằm biến MN thành một trại tập trung khổng lồ

để "tát nớc bắt cá", bóc lột, đàn áp nhân dân ta Bên cạnh đó chúng còn tiến hành các hoạt động phá

hoại Miền Bắc, phong tỏa vùng biển nhằm ngăn chặn sự chi viện của Miền Bắc cho MN.

Tháng 1/1961 TW Cục MNVN đã

đợc thành lập thay cho xứ ủy Nam

Bộ cũ Tiếp sau sự ta đời của Mặt trận dân tộc giải phóng MNVN ngày 15/2/1961 các lực lợng vũ trang CM thống nhất lại thành quân giải phóng MNVN.

Dới ngọn cờ đoàn kết cứu nớc của MTGPMNVN do Đảng lãnh đạo, quân dân MN tiếp tục giữ vững và phát triển thế tiến công CM tiến hành cuộc chiến tranh chống Mỹ

và tay sai Kết hợp hai lực lợng chính trị, vũ trang tiến công địch trên cả 3 mũi: chính trị, quân sự, binh vận, đánh địch trên cả 3 vùng chiến lợc là nông thôn, rừng núi,

đồng bằng và đô thị Quân dân ta

đã giành nhiều thắng lợi: phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng diễn ra sôi sục khắp nông thôn, thành thị, lôi cuốn hàng chục triệu ngời tham gia Trên mặt trận chống phá bình định cuộc đấu tranh giữa ta và địch diễn ra dai dẳng Với quyết tâm "một tấc không đi, một li không rời" nhân dân MN đã kiên quyết bám đất giữ

làng phá thế kìm kẹp của địch

Cuối 1962 trên nửa tổng số ấp với gần 70% nông dân toàn MN vẫn do

CM kiểm soát Trong năm 1964 đến

đầu 1965 từng mảng "ấp chiến ợc" do địch lập nên bị phá vỡ, nhiều ấp trở thành làng chiến đấu

l-Năm 1963 có 7512 ấp với 9 triệu

với 5,5 triệu dân, vùng giải phóng đợc

mở rộng.

Phong trào đấu tranh ở đô thị ngày càng mở rộng nhiều cuộc tập kích của biệt động thành phố làm cho

địch bị tổn thất nặng nề và ảnh ởng chính trị to lớn Ngày 5/8/1963 hai vạn tăng ni phật tử Huế biểu tình phản đối chính quyền ngụy cấm treo cờ Phật và một làn sóng ủng hộ phật tử Huế lan rộng Hòa thợng Thích Quảng Đức đã tự thiêu

h-để phản đối Diệm Tháng 6/1963 70 vạn quần chúng Sài Gòn đã xuống đ- ờng biểu tình chống Diệm.

Về quân sự, năm 1962 quân giải phóng cùng với nhân dân đã đánh bại nhiều cuộc càn quét lớn của

địch vào chiến khu D, U Minh, Tây Ninh Tháng 1/1963 quân dân

MN đã giành đợc thắng lợi vang dội ở ấp Bắc (Mỹ Tho) với số quân

ít hơn địch 10 lần, quân giải phóng cùng với nhân dân đã đập tan cuộc càn quét của trên 2000 quân ngụy

có cố vấn Mĩ chỉ huy Chiến thắng

ấp Bắc có ý nghĩa quan trọng đánh bại các biện pháp "trực thăng vận, thiết xa vận" mở đầu cho cuộc khủng hoảng về chiến thuật và thế

đi xuống của chúng Chiến thắng này cũng chứng minh quân và dân

MN hoàn toàn có khả năng đánh bại "CTĐB" của Mĩ - ngụy, dấy lên phong trào thi đua với ấp Bắc giết giặc lập công.

Cuộc đấu tranh của quân dân MN

đã làm cho kế hoạch Stalây - Taylo

bị phá sản Ngày 1/11/1963 Mĩ phải

tổ chức đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm, tháng 3/1964 chúng cho thực hiện kế hoạch Johnson - Macnamara nhằm tăng cờng chiến tranh xâm lợc MNVN Sau chiến thắng ấp Bắc quân giải phóng nhanh chóng trởng thành tiến lên

đánh lớn Cuối 1964 ta thắng lợi ở Bình Giã (Bà Rịa) loại khỏi vòng chiến đấu 1700 tên địch bắt gần

300 tên, thu nhiều phơng tiện chiến tranh Tiếp theo Bình Giã là các chiến thắng An Lão (Bình Định),

Ba Gia (Quảng Ngãi), Đồng Xoài (Biên Hòa) cùng với cuộc nổi dậy của nhân dân MN kế hoạch Johnson - Macnamara bị đập nát,

Mĩ - ngụy bị đẩy vào thế vô cùng nguy khốn Ngụy quân, ngụy quyền

đứng trớc nguy cơ sụp đổ hoàn toàn chỉ trong vòng 2 năm Từ cuối

13 lần đảo chính, nội các bù nhìn liên tiếp đổ Đầu 1965 Mĩ phải đa ra

kế hoạch Johnson bổ sung nhng cũng không cứu vãn đợc tình thế.

Quân dân MN đã đánh bại chiến

l-ợc "CTĐB" của Mĩ - ngụy Đây là thất bại có ý nghĩa chiến lợc lần 2 của địch và cũng là thắng lợi có ý nghĩa chiến lợc lần 2 của quân dân

MN, làm địch phải thay đổi chiến

l-ợc chiến tranh chuyển sang

"CTCB".

Thắng lợi này làm thất bại âm mu của đế quốc Mĩ định dùng MNVN làm thí nghiệm cho một loại chiến tranh mới để đàn áp CMTG.

Thắng lợi này một lần nữa chứng minh đờng lối CMVN ở nớc ta là hoàn toàn chuẩn xác, sức mạnh quật khởi của quần chúng MN là vô địch.

Thắng lợi này đã mở rộng phát triển toàn diện chiến lợc tiến công của CMVN, là cơ sở tạo cho CMMN tiến lên đập tan kế hoạch chiến tranh mới của đế quốc Mĩ.

Sự phá sản của chiến lợc "CTĐB"

là một thất bại nặng nề của Mĩ trong âm mu dùng miền Nam Việt Nam làm nơi thí điểm một loại hình chiến tranh mới - dùng ngời địa ph-

ơng cộng với vũ khí, đô la và các phơng tiện kĩ thuật của Mĩ do cố vấn Mĩ trực tiếo chỉ huy hòng dập tắt phong trào nổi dậy của nhân dân và "cuộc chiến tranh đặc biệt

mà chúng đang thí nghiệp ở miền Nam Việt Nam đã thất bại thì

chúng cũng sẽ thất bại ở bất kì nơi nào khác".

Đề 7: Nhân dân MN đánh bại "CTCB" của Mĩ từ

1965 - 1968.

Bài làm.

Hoảng hốt trớc sự thất bại của chiến lợc "CTCB" chính quyền Johnson quyết định chuyển sang

"CTCB" đồng thời liều lĩnh gây ra chiến tranh phá hoại MB.

"CTCB" là hình thức cao của chiến tranh thực dân kiểu mới, là một trong ba hình thức chiến tranh (đặc biệt, cục bộ, tổng lực) Mĩ chủ trơng dựa vào 2 lực lợng: quân Mĩ

ch hầu và quân ngụy trong đó quân

Mĩ đợc xem là quan trọng và không ngừng tăng lên cả về số lợng lẫn trang bị Để thực hiện "CTCB"

quân Mĩ và ch hầu đã ồ ạt đổ bộ vào MN Hè 1965 có 82.000 tên thì

Mĩ và 20.000 quân ch hầu Cuối

1967 lên tới 48 vạn quân Mĩ và 57.000 quân ch hầu Mĩ muốn tạo

ra một bớc chuyển mạnh mẽ để trong một thời gian ngắn chặn đợc

sự tan rã và sụp đổ của ngụy quân, ngụy quyền tiếp đó tiến công tiêu diệt lực lợng CM dập tắt phong trào

đấu tranh của nhân dân ta Qua đó

Mĩ muốn chứng tỏ với TG sức mạnh và khả năng hùng hậu của mình, đe dọa phong trào gpdt trên TG.

Để thực hiện âm mu của mình Mĩ

đã tiến hành chiến lợc hai gọng kìm là "tìm diệt" và "bình định",

mở các cuộc hành quân mang tên

"ánh sáng sao" vào căn cứ quân giải phóng ở Vạn Tờng rồi liên tiếp

mở hai cuộc phản công mùa khô

1965 - 1966, 1966 - 1967 bằng những cuộc hành quân lớn, chúng

hy vọng tiêu diệt lực lợng ta, xé nát vùng căn cứ k/c và xoay chuyển tình thế trong một thời gian ngắn sẽ dành đợc thắng lợi.

Ngày 5/8/1964 Mĩ dựng lên sự kiện vịnh Bắc Bộ, tiếp đó 7/2/1965 viện

cớ trả đũa quân giải phóng chúng

đã tiến công sân bay Plâycu, Mĩ liên tục leo thang đánh phá MB ý

đồ của chúng là ngăn chặn sự chi viện to lớn của MB, phá hoại công cuộc xây dựng ở MB và làm lung lay quyết tâm chống Mĩ cứu nớc buộc ta phải kết thúc chiến tranh theo điều kiện của Mĩ.

Quân Mĩ ồ ạt kéo vào MN trong khi thế trận của ta đã sẵn sàng dới ánh sáng của các Nghị quyết 11, Nghị quyết 12 của BCH TW Đảng, đáp ứng lời kêu gọi thiêng liêng của HCT Nhân dân cả nớc đã nêu cao

ý chí kiên cờng chống Mĩ cứu nớc với tinh thần "không có gì quý hơn

độc lập tự do" Miền Bắc là hậu

ph-ơng lớn của tiền tuyến lớn MN Một phong trào chống Mĩ cứu nớc sôi nổi trong toàn quốc.

Thắng 5/1965 một đại đội quân giải phóng cùng các chiến sĩ đặc

ông đã tiến công tiêu diệt gọn một

đại đội lính ngụy đánh bộ Mĩ ở Núi Thành thuộc TamKỳ - Quảng Nam

Đây là đòn cảnh cáo đầu tiên của quân và dân ta với quân xâm lợc.

Tháng 8/1965 quân dân ta đã thu thắng lợi to lớn ở Vạn Tờng (Bình Sơn - Quảng Ngãi) loại khỏi vòng chiến đấu 900 địch, diệt 22 xe tăng,

toàn Chiến thắng này có một ý nghĩa to lớn bởi đây là lần đầu tiên quân giải phóng đợc sự hỗ trợ của nhân dân và lực lợng vũ trang địa phơng đã giáp trận với quân chủ lực Mĩ có hải quân, lục quân, không quân và đã đánh thắng chúng Điều đó chứng tỏ nhân dân

mở cuộc phản công chiến lợc lần thứ nhất kéo dài 4 tháng với 450 cuộc hành quân trong đó có 5 cuộc hành quân "tìm diệt" then chốt nhằm vào hai hớng chiến lợc chính: đồng bằng khu V và miền

Đông Nam Bộ Mục tiêu là đánh bại chủ lực quân giải phóng thực hiện bẻ gãy xơng sống Việt cộng giành lại thế chủ động trên chiến tr- ờng Quân dân ta với thế trận chiến tranh nhân dân đánh địch ở khắp mọi nơi và đã dành đợc thắng lợi to lớn trên toàn MN Ta đã loại khỏi vòng chiến đầu 43.000 Mĩ và 3500 quân ch hầu phá huỷ 1430 máy bay.

Tiếp đó mùa khô 66 - 67 lực lợng

địch tăng lên 980.000 quân (có 440.000 Mĩ và ch hầu) Mĩ đã mở cuộc hành quân chiến lợc lần thứ 2 với 895 cuộc hành quân Trong đó

có 3 cuộc hành quân then chốt nhằm vào miền Đông Nam Bộ (cuộc hành quân Attơnborơ đánh vào chiến khu Dơng Minh Châu tháng 11/1966, Xeđaphôn đánh vào Trảng Bàng, Bến Súc, Củ Chi từ ngày 8 đến 26/1/1967, Gianxơn City đánh vào chiến khu Dơng Minh Châu từ tháng 2 đến tháng 4/1967) trong đó lớn nhất là cuộc hành quân Gianxơn City nhằm tiêu diệt quân chủ lực và cơ quan đầu não của ta tạo bớc ngoặt trong chiến tranh.

Cùng với những cuộc tiến công

địch trên chiến trờng Trị Thiên, ờng 9 quân dân ta đã mở hàng loạt trận phản công đánh bại các cuộc hành quân của chúng Ba cuộc hành quân lớn của địch bị đánh tan, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 151.000 tên địch trong đó có 68.200

đ-26

Trang 27

1231 máy bay và nhiều phơng tiện chiến

tranh.

Với chiến thắng 2 mùa khô gọng

kìm "tìm diệt" bị bẻ gãy hoàn toàn

chúng buộc phải lui vào thế phòng

ngự.

Phong trào đấu tranh chính trị

cũng diễn ra sôi nổi ở hầu khắp

Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn phong trào

đấu tranh của học sinh - sinh viên

với khẩu hiệu đòi lật đổ chính phủ

bù nhìn tay sai của Mĩ, đòi Mĩ cút

thuật đã mở ra một thời cơ thuận

lợi cho phép quân dân MN thực

hiện một quyết tâm chiến lợc rất táo

bạo đúng lúc, đa cuộc chiến tranh

CM sang một thời kỳ mới Hội nghị

Bộ Chính trị tháng 12/1967 và Hội

nghị BCH TW lần thứ 14 (1968)

quyết định chuyển chiến tranh

CMMN sang một thời kỳ mới - thời

kỳ giành thắng lợi quyết định Con

đờng để đi tới thắng lợi quyết định

là tổng công kích, tổng khởi nghĩa.

Thực hiện chủ trơng của TW Đảng

vào đêm giao thừa tết Mậu Thân

1968 là lúc địch có nhiều sơ hở và

chủ quan nhất cùng một lúc quân

ta đã tiến công vào hầu hết các

thành phố, thị xã, cơ quan đầu não

của địch, cuộc tổng tiến công kéo

dài đến cuối tháng 9/1968 trải qua

hàng trăm thị trấn quận lị toàn

MN trong đó mạnh nhất là ở Sài

động kịp thời, làm cho mục tiêu của cuộc tổng tiến công và nổi dậy không đạt đợc đầy đủ nhng sự kiện này vẫn có ý nghĩa to lớn giáng một

đòn quyết định vào chiến lợc

"CTCB" của Mĩ, làm lung lay quyết tâm xâm lợc của chúng và buộc chúng phải xuống thang chiến tranh Chúng đột ngột phải

từ bỏ chiến lợc "tìm diệt" để thay thế bằng chiến lợc bị động "quét"

và "giữ" Chiến thắng này đã mở

ra bớc ngoặt của cuộc k/c chống Mĩ cứu nớc.

Trên Miền Bắc quân dân ta đã hạ trên 3000 máy bay hiện đại tối tân của Mĩ, diệt và bắt sống hàng nghìn giặc lái, hạ uy thế của không lực Hoa Kỳ.

Thắng lợi của quân dân 2 miền Nam Bắc đã buộc Mĩ phải lùi bớc

Tháng 3/1968 Mĩ phải xuống thang chiến tranh tuyên bố ném bom hạn chế rồi đi đến ngừng ném bom không điều kiện của nớc VNDCCH

và phải ngồi đàm phán với ta ở Hội nghị Pari.

Đây là thắng lợi có ý nghĩa chiến

l-ợc lần thứ 3 của quân dân ta, là bớc nhảy vọt lần thứ 2 của CMMN

đồng thời cũng là thất bại có ý nghĩa chiến lợc lần 3 của Mĩ và bè

lũ tay sai góp phần quan trọng làm phá sản chiến lợc toàn cầu "phản ứng linh hoạt" của đế quốc Mĩ.

Chiến tranh cục bộ của Mĩ đã bị thất bại, thế mới của ta ngày càng

mở rộng Ta mở mặt trận ngoại giao để phối hợp cùng với mặt trận

đấu tranh quân sự đánh địch

CMMN đã tiến lên một bớc vững chắc buộc địch một lần nữa phải thay đổi chiến lợc chiến tranh dùng chiến lợc "Việt Nam hóa chiến tranh" tiếp tục xâm lợc MNVN.

Đề 8: Nhân dân ta đánh bại chiến lợc "Việt Nam

hóa chiến tranh" của Mĩ từ

1969 - 1973.

Bài làm.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, mở đầu bằng cuộc tập kích chiến lợc tết Mậu Thân là đòn bất ngờ góp phần quyết định chiều hớng của cuộc chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dơng, làm phá sản chiến lợc "chiến tranh cục bộ" của

sự là "răn đe thực tế" thay cho chiến lợc "phản ứng linh hoạt" đã

Với chiến lợc này, một mặt Mĩ buộc phải rút quân ra khỏi MNVN Mặt khác, Mĩ vẫn duy trì ách thống trị của mình ở miền Nam mà không có

Mĩ Mĩ định dùng quân ngụy thay quân Mĩ để tiếp tục kéo dài và đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lợc

MN Tăng cờng và mở rộng chiến tranh xâm lợc ở CPC và Lào Thực chất là tăng cờng chính sách "lấy ngời Việt đánh ngời Việt", dùng

"ngời Đông Dơng đánh ngời Đông Dơng" Với công thức "chủ lực ngụy cộng với hỏa lực Mĩ" Chúng muốn thay đổi màu da trên xác chết, giảm xơng máu của lính Mĩ trên chiến trờng để vừa đạt đợc mục

đích xâm lợc vừa không bị nhân dân Mĩ phản đối và xoa dịu đợc d luận TG Dọn đờng cho Nicxơn năm 1972 có thể vào nhà Trắng lần thứ 2, đợc đúc tợng vàng to bằng ngời vào dịp kỉ niệm 200 năm ngày thành lập nớc Mĩ.

Thực hiện "Việt Nam hóa chiến tranh", Mĩ tiến hành các biện pháp: tăng cờng viện trợ quân sự, tăng cờng số lợng và trang bị cho quân đội tay sai để chúng tự đứng vững và có thể tự gánh vác lấy chiến tranh (trong 4 năm từ 1969

đến 1972, Mĩ tăng quân ngụy từ 70 vạn lên 110 vạn, phòng vệ dân sự từ

150 vạn lên 200 vạn) Tăng viện trợ kinh tế để giúp quân ngụy thực

chiếm đất giành dân với CM, củng

cố ngụy quyền các cấp, tăng cờng

đầu t vốn, kỹ thuật để ổn định và gia tăng kinh tế MN vừa để lừa bịp, vừa để bóc lột và giảm gánh nặng cho Mĩ Tìm mọi cách chặt đứt nguồn tiếp tế chi viện cho CMMN nớc ta Phản kích ra ngoài Việt Nam, mở rộng chiến tranh sang Lào và CPC Tìm mọi cách lợi dụng

sự mâu thuẫn trong các nớc XHCN

để cô lập và gây sức ép với cuộc k/c của nhân dân ta.

Có thể nói "Việt Nam hóa chiến tranh" là một chiến lợc rất quy mô, toàn diện, thâm độc và xảo quyệt

Vừa thể hiện bản chất ngoan cố của đế quốc Mĩ đồng thời cũng thể hiện bản chất tham lam của Nicxơn, nhng nó ra đời trong thế thua nên ngay từ đầu đã mang mầm thất bại.

Trớc âm mu cực kỳ ngoan cố của đế quốc Mĩ, nhân dân cả nớc ta phải tiếp tục cuộc k/c cho đến thắng lợi hoàn toàn Đáp lời kêu gọi ngày 20/7/1970 của HCT, quân dân cả n-

ớc ta triệu ngời nh một đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng CM, không sợ

hy sinh gian khổ, kiên trì đẩy mạnh cuộc k/c quyết chiến quyết thắng

đánh cho quân Mĩ phải rút hết sạch, đánh cho ngụy quân, ngụy quyền phải sụp đổ hết Giải phóng

MN, bảo vệ MB tiến tới hòa bình thống nhất nớc nhà.

Những thắng lợi chính trị đầu tiên

đã mở đầu cho thời kỳ chống "Việt Nam hóa chiến tranh" Đó là Đại hội đại biểu quốc dân MN họp từ ngày 6 đến 8/6/1969 và chính phủ

CM lâm thời cộng hòa MNVN đã

ra đời, Chủ tịch là kiến trúc s Huỳnh Tấn Phát Hội đồng cố vấn bên cạnh chính phủ Chủ tịch là luật s Nguyễn Hữu Thọ Sự kiện này đánh dấu bớc hoàn chỉnh hệ thống chính quyền CM vừa ra đời

Chính phủ CM đã đợc 23 nớc công nhận trong đó có 21 nớc, đặt quan

hệ ngoại giao làm cho uy tín của chính trị của chính phủ CM đợc nâng cao trên trờng Quốc tế.

Tháng 3/1970, Mĩ giật dây bọn tay sai làm cuộc đảo chính quân sự xóa bỏ nền trung lập ở CPC chuẩn

bị cho bớc phiêu lu quân sự mới

Ngày 24 đến 25/4/1970, Hội nghị cấp cao 3 nớc Đông Dơng đã họp khẳng định quyết tâm đoàn kết

xâm lợc Sự kiện này đã đánh dấu bớc phát triển mới của tình đoàn kết chiến đấu giữa 3 nớc Đông D-

ơng Đối với Mĩ đây là thất bại nặng nề trong âm mu "dùng ngời

Cùng năm 1970 ta đã đập tan cuộc hành quân của địch lấn chiếm cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng giải phóng một vùng rộng lớn ở Nam Lào.

Năm 1971, ta đã đập tan cuộc hành quân Lam Sơn 719 chiếm giữ đờng

9 Nam lào của 4,5 vạn quân địch hòng cắt đôi chiến trờng Đông D-

ơng, chặn đứng tuyến đờng vận tải chiến lợc của ta, hành lang chiến l-

ợc của CM Đông Dơng đợc giữ

vững Chiến thắng này chứng tỏ ngụy quân không đủ sức đơng đầu với quân giải phóng Công thức

"chủ lực ngụy cộng với hỏa lực Mĩ" đã tỏ ra vô hiệu quả.

Trên mặt trận chống bình định cuộc đấu tranh diễn ra gay go quyết liệt nhng phong trào của ta ngày càng phát triển, vùng kiểm soát của địch ngày càng thu hẹp, vùng giải phóng ngày càng mở rộng Năm 1971, CM đã giành đợc quyền làm chủ thêm 3600 ấp chiến lợc với 3 triệu dân Chính quyền

CM đã cấp cho nông dân 1,6 triệu

ha ruộng đất Trong vùng giải phóng các hoạt động sản xuất thủ công nghiệp, nông nghiệp, văn hóa

- giáo dục đợc đẩy mạnh.

Tại các đô thị, phong trào đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân tiếp tục diễn ra sôi nổi

Đặc biệt là phong trào của thanh niên, học sinh - sinh viên với khẩu hiểu "chống Mĩ - Thiệu", đi sâu vào quần chúng, "Nghe đồng bào tôi nói, nói cho đồng bào tôi nghe"

Đến 1971, trên toàn MN, kế hoạch

"Việt Nam hóa chiến tranh" của

Mĩ - ngụy đã bị đẩy lùi một bớc quan trọng Những thắng lợi trên làm cho CM MN có điều kiện và thời cơ thuận lợi cho một cuộc tiến công chiến lợc mới.

thị của Bộ Chính trị và kế hoạch của Quân ủy TW tháng 3/1972, ta mở cuộc tiến công chiến lợc trên khắp chiến tr- ờng MN, giáng một đòn quyết định vào số phận của chơng trình "Việt Nam hóa" Đây là cuộc tiến công có quy mô rộng lớn, cờng độ mạnh chỉ trong một thời gian ngắn ta đã chọc thủng 3 vòng tuyến mạnh nhất của

địch: Quảng Trị, Tây Nguyên, ĐNB

Quân và dân ta đã giành đợc những thắng lợi: sau gần 3 tháng chiến đấu,

ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 20 vạn quân ngụy, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn với hơn 1 triệu dân.

Sau đòn mở đầu bất ngờ của ta, quân ngụy phản công lại với sự yểm trợ tối đa của hỏa lực, không quân và hải quân Mĩ Đặc biệt là ở Mặt trận Quảng Trị quân dân ta đã

chiến đấu anh dũng 81 ngày đêm (từ 28/6 đến 16/9/1972) để bảo vệ thị xã và thành cổ Quảng Trị

Thắng lợi của tiến công chiến lợc

1972 đã mở ra một bớc ngoặt cho cuộc k/c chống Mĩ cứu nớc Đánh một đòn nặng nề vào quân ngụy (công cụ chủ yếu) và quốc sách bình định (xơng sống) của chiến l-

ợc "Việt Nam hóa chiến tranh"

Thế bố trí của địch trên chiến trờng

tr-Tháng 10/1972, chính quyền Nicxơn phải nối lại cuộc nói chuyện ở Pari mà chúng đã ngang ngợc phá hoại (từ tháng 3/1972)

Nhng Mĩ vẫn ngoan cố đeo đuổi lập trờng "thơng lợng trên thế mạnh" sau khi đánh lừa d luận trong nớc và TG trong cái gọi là

"thiện chí giải quyết hòa bình vấn

đề Việt Nam" Nicxơn đột ngột mở cuộc tập kích chiến lợc 12 ngày

không quân trên MB với các loại máy bay hiện đại nhất Kết quả là

Mĩ vẫn bị thất bại Quân dân MB

đã giáng trả quyết liệt Điện Biên Phủ trên không Đã làm cho các pháo

đài bay, chiến lợc siêu đẳng của Hoa

Miền Bắc đợc hòa bình đi vào khôi phục kinh tế, tăng cờng tiềm lực của hậu phơng và chi viện mạnh

mẽ cho MN - tiền tuyến lớn cả về ngời và của.

Sau Hiệp định so sánh lực lợng thay đổi có lợi cho CMVN, tạo thời cơ lớn cho công cuộc giải phóng hoàn toàn đất nớc Đồng thời tạo

điều kiện thuận lợi cho CM Lào và CPC giải phóng hoàn toàn đất nớc.

Sau khi hung hãn leo tới nấc thang tột đỉnh tàn bạo và dã man nhất nh-

ng lại thất bại đau đớn thảm hại nhất và bị TG lên án mạnh mẽ nhất Chính quyền Nicxơn buộc phải kí Hiệp định Pari theo điều kiện của ta năm 1973 (21/7/1873) chấm dựt sự thống trị của đế quốc

Mĩ trên đất Việt Nam Vậy là lời căn dặn của Bác đối với nhân dân

ta đó là "đánh cho Mĩ cút, đánh cho ngụy nhào" giờ đây đã sắp thành hiện thực Quân dân cả nớc tiếp tục cuộc đấu tranh của mình và làm nên một mùa xuân đại thắng thống nhất đất nớc, non sông thu

về một mối.

Đề 9: Hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa của Hiệp

định Pari.

Bài làm.

Từ năm 1965 cùng với hành động tăng cờng chiến tranh xâm lợc Việt Nam Dới hình thức chiến tranh cục bộ, Mĩ cũng nói nhiều đến th-

ơng lợng hòa bình Nhng chỉ là luận điệu ngoại giao lừa bịp, thủ đoạn chính trị nhằm phối hợp hoạt động quân sự của chúng.

nghĩa chiến lợc trong 2 mùa khô 65

- 66, 66 -67, ta chủ trơng cần mở thêm mặt trận tiến công ngoại giao Nhằm tố cáo tội ác của bọn xâm lợc

Mĩ, vạch trần luận điệu hòa bình, bịp bợm của chúng Và nêu tính chất chính nghĩa, lập trờng đúng

đắn của ta Để tranh thủ rộng rãi

sự đồng tình ủng hộ của d luận quốc tế Mục tiêu trớc mắt của ta trong đấu tranh ngoại giao là đòi

Mĩ chấm dứt không điều kiện các cuộc ném bom phá hoại Coi đó là

điều kiện tiên quyết đi tới cuộc

th-ơng lợng ở bàn hội nghị Sau đòn bất ngờ mạnh mẽ của tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân -

1968, Johnson phải tuyên bố ném bom hạn chế và bắt đầu nói đến th-

ơng lợng với Việt Nam.

Ngày 13/5/1968 phiên họp đầu tiên

đợc bắt đầu, phái đoàn Mĩ do Hariman đứng đầu, phái đoàn VNDCCH do Bộ trởng ngoại giao Xuân Thủy đứng đầu.

Sau nhiều phiên họp trong năm

1968 vẫn cha giải quyết đợc vấn đề gì cơ bản nhng đã mở đầu cho một thời kỳ ta tiến công trực diện địch về ngoại giao trên bàn hội nghị.

Đến sau sự kiện Johnson tuyên bố ngừng tất cả các cuộc ném bom bắn phá MB (1/1/1968) ta và Mĩ đấu tranh xoay quanh vấn đề chủ yếu

về hình thức, thành phần hội nghị

và đi đến thống nhất hình thức bàn tròn 4 bên (VNDCCH, Mặt trận giải phóng MNVN sau là chính phủ lâm thời CH MNVN, Hoa Kỳ và VNCH tức là chính quyền ngụy) Hội nghị 4 bên về Việt Nam chính thức họp phiên đầu tiên vào ngày 25/1/1969 Từ phiên họp đầu tiên 13/5/1968 đến khi Hiệp định đợc ký kết 21/7/1973 Tổng cộng tất cả 202 phiên họp công khai và 24 cuộc tiếp xúc riêng kéo dài 4 năm 9 tháng Lập trờng 4 bên thực chất là 2 bên rất xa nhau mâu thuẫn với nhau khiến cho cuộc chiến tranh diễngời

ra gay gắt, nhiều lúc bị gián đoạn Trong các phiên họp, Việt Nam tập trung vào 2 vấn đề mấu chốt nhất

là đòi Mĩ rút hết quân viễn chinh và chủ hầu, đòi họ tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản, quyền tự quyết của nhân dân MN.

Mĩ trớc sau nêu quan điểm có đi có lại càng rút quân Thực tế họ đã đặt ngang hàng kẻ đi xâm lợc và ngời

27

Trang 28

vững lập trờng của ta Song từ 1968

dùng thủ đoạn lùi bớc trong thơng

lợng và xuống thang chiến tranh

Hiệp định do Mĩ đa ra và hạ thấp

các điều khoản trong Hiệp định

của ta đa ra mà Mĩ đã chấp nhận

Nicxơn âm mu giành thắng lợi

quân sự quyết định Chúng đã

dùng B52 tập kích ra Hà Nội, Hải

Phòng với thắng lợi của quân dân

ta ở cả 2 miền Trực tiếp là cuộc

tiến công chiến lợc 1972 ở Việt

Nam và chiến thắng cuộc chiến

tranh phá hoại bằng không quân

của Mĩ lập lên trận Điện Biên Phủ

trên không ở Hà Nội, hải Phòng

trong 12 ngày đêm cuối năm 1972

Cuối cùng ngày 23/1/1973 Hiệp

định Pari đợc kí tắt giữa đại diện

chính phủ VNDCCH và Hoa Kỳ

Ngày 21/7/1973 Hiệp định Pari

chính thức đợc kí kết giữa bộ trởng

ngoại giao tham gia hội nghị.

Ngày 2/3/1973, Hiệp định Pari về

chấm dứt chiến tranh lập lại hòa

bình ở Việt Nam đợc hội nghị quốc

tế của 12 nớc họp xác nhận về mặt

pháp lý quốc tế.

Hiệp định xác định Hoa Kỳ và các

nớc cam kết tôn trọng độc lập chủ

quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh

thổ của Việt Nam.

Hoa Kỳ phải rút hết quân viễn

chinh và quân ch hầu, phá hết các

căn cứ quân sự Mĩ, cam kết không

tiếp tục dính líu quân sự và can

thiệp vào công việc nội bộ của

Do quân và dân 2 miền Nam - Bắc

đã đoàn kết nhất trí chiến đấu anh dũng kiên cờng suốt 18 năm, làm thất bại các âm mu chiến lợc của kẻ thù Trong đó, trực tiếp là thắng lợi của cuộc tiến công chiến lợc năm

1972 ở MN, và chiến thắng chiến tranh phá hoại của Mĩ trong 12 ngày đêm, lập lên một trận Điện Biên Phủ trên không của nhân dân Miền Bắc.

Do có sự đoàn kết chiến đấu của 3 dân tộc Việt Nam - Lào - CPC ngày càng chặtchẽ Cuộc đấu tranh của nhân dân ta là chính nghĩa đợc nhân dân các nớc XHCN và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên TG

đồng tình ủng hộ.

Tuy cha đạt đợc mục tiêu đánh cho ngụy nhào nhng đã buộc đợc Mĩ cút là một thắng lợi lịch sử quan trọng tạo thời cơ thuận lợi để cho nhân dân ta tiến lên đánh cho ngụy nhào.

Hiệp định Pari là kết quả của 18 năm kiên cờng bất khuất của dân tộc Việt Nam Mĩ buộc phải thừa nhận các quyền cơ bản của nhân dân ta, là cơ sở pháp lý để nhân dân ta tiếp tục đấu tranh tiến lên giành những thắng lợi mới.

Miền Bắc đợc hòa bình đi vào khôi phục kinh tế, tăng cờng tiềm lực của hậu phơng và chi viện mạnh

mẽ cho MN - tiền tuyến lớn cả về ngời và của.

Sau Hiệp định so sánh lực lợng thay đổi có lợi cho CMVN, tạo thời cơ lớn cho công cuộc giải phóng hoàn toàn đất nớc Đồng thời tạo

điều kiện thuận lợi cho CM Lào và CPC giải phóng hoàn toàn đất nớc.

Đề 10: Trình bày cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975.

Bài làm.

Do thất bại trên chiến trờng Việt Nam và Đông Dơng, Mĩ buộc phải lùi bớc trong chiến tranh, đi đến kí Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973) và hai tháng sau (ngày 29/3/1973) phải rút hết quân về n-

ớc Nhng vì muốn giữ "danh dự, uy tín" và vì quyền lợi Mĩ vẫn cha chịu

từ bỏ Việt Nam.

chính quyền Giêrơn Pho đã ra sức tăng cờng viện trợ vũ khí tiền bạc cho bọn tay sai Nguyễn Văn Thiệu

và giữ lại 2 vạn cố vấn quân sự đội lốt dân sự, lập lại Bộ Chỉ huy quân

sự trá hình Mỹ - Thiệu sử dụng cao

độ bộ máy quân sự và Cảnh sát để

đối phó với phong trào đấu tranh của quân dân ta, ồ ạt đa quân đi càn quét, đánh phá, lấn chiếm vùng giải phóng Kêu gào tái chiếm lãnh thổ, giết hại đồng bào và bóp nghẹt các quyền tự do dân chủ của nhân dân Đồng thời, chúng phát xít hóa chính quyền Thiệu, dùng mọi thủ

đoạn tuyên truyền gây chiến tranh tâm lý, reo rắc t tởng hoài nghi và khả năng thống nhất đất nớc Mỹ - Thiệu ngang nhiên phá hoại Hiệp

định Pari, coi Hiệp định đã rơi vào

điểm chết Mu đồ của Mỹ vẫn là muốn tiếp tục kéo dài chiến tranh xâm lợc ở MN nớc ta, dới hình thức một cuộc chiến tranh thực dân mới.

Trớc âm mu của Mỹ, Đảng ta đã đề

ra nhiệm vụ chính trị của toàn

Đảng, toàn dân ta lúc này là phải tiếp tục đa sự nghiệp CM tiến lên

Hoàn thành cuộc CM DTDC nhân dân tiến tới hoà bình, thống nhất

đất nớc Trong cuộc đấu tranh chống bình định những tháng đầu lấn chiếm của địch, quân dân ta đạt

đợc một số kết quả, song do đánh giá cha hết âm mu của địch nên ta

đã mất một số địa bàn quan trọng

Vì vậy tháng 7/1973, Hội nghị TW lần thứ 21 của Đảng đã họp và nhấn mạnh: bằng bất cứ tình huống nào cũng phải sử dụng con

đờng CM bạo lực, nắm vững chiến lợc tiến công trên cả 3 mặt trận:

quân sự, chính trị, ngoại giao Do

đó, trải qua 2 năm chiến đấu (1973

- 1974) quân dân ta đã giành đợc nhiều thắng lợi trên cả 3 mặt trận, giáng những đòn chí mạng vào ý chí xâm lợc của Mỹ, làm cho bè lũ tay sai bị suy yếu nhất là về tinh thần chính trị.

Thế và lực giữa ta và địch ngày càng có sự thay đổi theo hớng có lợi cho ta Thời cơ để giải phóng hoàn toàn MN đang nhanh chóng chín muồi Để đón thời cơ, khối chủ lực của ta từ đơn vị s đoàn hợp thành quân đoàn Cuối 1974, ta mở đợt hoạt động quân sự Đông - xuân vào hớng Nam Bộ, trung tâm là

ĐBSCL và miền Đông Nam Bộ, đã

Long vào tháng 1/1975, giải phóng

đờng 14, thị xã và toàn tỉnh Phớc Long Tiêu diệt và bắt sống nhiều sinh lực địch Sau chiến thắng Ph-

ớc Long, quân ngụy phản công mạnh, âm mu đa quân để chiếm lại vùng mới giải phóng nhng không

có kết quả Mỹ phản ứng yếu ớt, chủ yếu là dùng áp lực từ xa và đe dọa.

Chiến thắng Phớc Long chứng tỏ quân chủ lực ngụy đã đến lúc không còn khả năng giải toả với quy mô lớn để chiếm lại vùng căn

cứ thị xã quan trọng mà ta đã

chiếm trên địa bàn rừng núi và giáp ranh Chiến thắng này đã chứng minh một bớc thụt lùi mới của đế quốc Mỹ trong ý đồ và khả năng can thiệp vào MNVN Mặt khác, chiến thắng Phớc Long chứng minh khả năng mới của quân dân

ta có thể giành thắng lợi lớn trong một thời gian ngắn với nhịp độ nhanh.

Giữa lúc so sánh lực lợng thay đổi ngày càng có lợi cho CM từ 30/9

đến 7/10/1974, Hội nghị Bộ Chính trị đã họp, tiếp đó là Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng họp từ ngày 8/12/1974 đến 8/1/1975, đề ra kế hoạch chiến lợc giải phóng MN trong 2 năm Chúng ta đang đứng trớc thời cơ chiến lợc lớn Cha bao giờ ta có điều kiện đầy đủ về quân

sự và chính trị, có thời cơ chiến lợc

to lớn nh hiện nay để hoàn thành

CM DTDC nhân dân ở MN, để tiến tới hòa bình, thống nhất Tổ quốc

Bộ Chính trị hạ quyết tâm động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân cả hai miền

Đẩy mạnh chiến tranh quân sự chính trị kết hợp với ngoại giao để làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lợng Năm 1975, tranh thủ thời cơ bất ngờ tiến công

địch trên quy mô lớn, rộng khắp tạo

điều kiện đến 1976 tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa giải phóng hoàn toàn MN, đánh đổ ngụy quyền, giành chính quyền về tay nhân dân Mặt khác, Hội nghị

Bộ chính trị nhấn mạnh cả năm

1975 là thời cơ và chỉ rõ nếu thời cơ

đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì giải phóng MN vào năm 1975

Bộ Chính trị cũng nhấn mạnh sự cần thiết tranh thủ thời cơ thực hiện Tổng công kích tổng khởi

đỡ thiệt hại về ngời và của cho nhân dân Phải giữ gìn tốt cơ sở kinh tế, công trình văn hóa.

Hội nghị Bộ chính trị của Đảng cuối 1974 đầu 1975 có ý nghĩa lịch

sử trọng đại, hội nghị đã phân tích

đánh giá chính xác sự phát triển của tình hình, đề ra phơng hớng chiến lợc đúng đắn, thể hiện quyết tâm chiến lợc cao để giải phóng hoàn toàn MN khi thời cơ đến Và sau Hội nghị, cả nớc đã đẩy mạnh tiến hành chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975.

Mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975 ta chọn Tây Nguyên

là vị trí tấn công đầu tiên của chiến dịch Sở dĩ ta chọn Tây Nguyên bởi

đây là vị trí quan trọng nhng lực ợng địch mỏng và sơ hở

l-Thực hiện kế hoạch đầu tháng 3/1975 ta tấn công địch nhiều nơi ở Tây Nguyên, ta đánh nghi binh ở Plâycu - Kon Tum Đồng thời, ta tập trung lực lợng chủ lực mạnh với binh khí, kỹ thuật hiện đại mở chiến dịch quy mô lớn Với chiến thuật "mũi dao nhọn thọc sâu"

trận then chốt mở màn vào Buôn

Mê Thuật ngày 10/3/1975 và giành thắng lợi nhanh chóng Hơn 1000 tên địch bị bắt sống trong đó có đại tá tỉnh trởng Đắc Lắc: Nguyễn Trọng Luật, Đại tá s đoàn trởng 23 ngụy Vũ Thế Quang và viên đại diện lãnh sự Mỹ là Paulơxtơruharich Ngày 12/3 quân

địch tập trung lực lợng mở cuộc phản công tái chiếm Buôn Mê Thuật nhng không đợc.

Sau đòn đau ở Buôn Mê Thuật hệ thống phòng thủ của địch ở Tây Nguyên rung chuyển, quân địch mất tinh thần, hàng ngũ chúng rối loạn Sáng ngày 14/3, Nguyễn Văn Thiệu lệnh cho quân ngụy rút khỏi Tây Nguyên Quân địch rút khỏi đó

về giữ vùng Duyên hải Trung Bộ để tập trung lực lợng tái chiếm Buôn

Mê Thuật Quân ta truy kích địch,

đến ngày 24/3, toàn bộ quân địch ở

đây rút chạy bị quân ta chặn đánh

Tây Nguyên rộng lớn với 60 vạn dân hoàn toàn đợc giải phóng.

Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi

đã chuyển cuộc k/c chống Mỹ sang giai đoạn mới từ tiến công chiến lợc phát triển thành Tổng tiến công chiến lợc trên toàn MN.

lại hết sức thuận lợi ngay khi chiến dịch Tây Nguyên đang tiếp diễn, để kịp thời kế hoạch giải phóng Sài Gòn và toàn MN, Bộ chính trị đã

quyết định mở chiến dịch Huế - Đà Nẵng (từ ngày 21/3 đến 29/3/1975)

Phối hợp với Tây Nguyên, quân dân ta ở Quảng Trị đã đẩy mạnh tiến công và nổi dậy, ngày 19/3 toàn bộ tỉnh Quảng Trị đợc giải phóng Địch lo sợ bỏ chạy về giữ

Huế và Đà Nẵng Phát hiện địch co cụm ở Huế, ngày 21/3 quân ta đã

thọc sâu vào căn cứ địch chặn các

đờng rút chạy, hình thành các thế bao vây trong thành phố Trung t- ớng Ngô Quang Trởng có trong tay

3 s đoàn chủ lực và 2 s đoàn dự bị với những đơn vị thiện chiến nhng vẫn không giữ nổi cố đô Huế 10 giờ 30' ngày 25/3 quân ta tiến vào giải phóng Cố đô Huế và toàn tỉnh Thừa Thiên.

Trong cùng thời gian, quân ta tiến vào giải phóng thị xã Tam Kỳ (24/3), Quảng Ngãi (25/3), Chu Lai (26/3) tạo thêm một hớng uy hiếp

Đà Nẵng từ phía Nam.

Đà Nẵng thành phố lớn thứ 2 ở

MN, một căn cứ quân sự liên hợp lớn nhất của quân ngụy rơi vào thế

bị cô lập Quân ta từ 3 phía Bắc - Tây - Nam tiến vào thành phố Hơn

10 vạn địch bị dồn ứ về đây trở nên hỗn loạn, mất hết tinh thần chiến

đấu Sáng ngày 29/3 quân ta từ các hớng tiến thẳng vào thành phố, đến

3 giờ chiều chiếm hẳn đợc thành phố.

Trong cùng thời gian với chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Huế - Đà Nẵng, từ đầu tháng 3 đến cuối tháng 4/1975, các tỉnh còn lại của Miền Trung, phía Nam Tây Nguyên

và một số tỉnh ở Nam Bộ có sự hỗ trợ của lực lợng vũ trang địa phơng

và quân chủ lực, nhân dân đã nổi dậy đánh địch giành quyền làm chủ Các đảo miền Trung cũng lần lợt đợc giải phóng Từ ngày 14 đến 29/4/1975, các đảo thuộc quần đảo Trờng Sa do quân ngụy Sài Gòn chiếm giữ đợc hoàn toàn giải phóng.

Sau một tháng tiến công và nổi dậy quân dân ta đã giành toàn thắng trong chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch Huế - Đà Nẵng giải phóng hơn một nửa đất đai và một nửa số dân toàn MN Lực lợng vũ

chóng Lúc này tơng quan lực lợng

ta - địch chênh lệch hẳn (7/13 s

đoàn của địch đã bị tiêu diệt, tan rã Trong khi đó, lực lợng chủ lực của ta là 15 s đoàn chủ lực) Sự chuẩn bị của hậu phơng MB, của các vùng căn cứ, vùng mới giải phóng rất khẩn trơng đầy đủ tới tận mặt trận Tinh thần của quân dân

ta đang lên cao trong lúc tinh thần ngụy xuống dốc nhanh chóng

Nhất là khi sự giúp đỡ của Mỹ trở nên yếu ớt, không hiệu quả Do

dự, thiếu kiên quyết lúc này là có tội với Tổ quốc, với CM, với những

sự hy sinh cao cả của đồng bào,

l-Chiến dịch giải phóng Sài Gòn đã

đợc Bộ Chính trị quyết định mang tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh, cả

nớc ra quân với tinh thần: đi nhanh

đến, đánh nhanh thắng Với t tởng chỉ đạo là thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu từ ngày 26/4 đến 30/4 thì kết thúc.

Với chiến thuật bao vây chia cắt

địch ở vòng ngoài diệt chúng còn

đại bộ phận quân giải phóng tiến vào Sài Gòn Ngày 9/4, quân ta tấn công Xuân Lộc - một căn cứ phòng thủ trọng yếu của địch bảo vệ Sài Gòn từ phía Đông Tại đây, diễn ra những trận chiến đấu ác liệt, ngày 16/4 quân ta phá vỡ tuyến phòng thủ của địch ở Phan Rang, ngày 21/4 toàn bộ quân địch ở Xuân Lộc tháo chạy.

Tuyến phòng thủ Phan Rang - Xuân Lộc bị chọc thủng và việc thủ

đô Phnômpênh đợc giải phóng làm cho nội bộ Mỹ - ngụy càng thêm hoàng loạn Ngày 18/4 Tổng thống

Mỹ ra lệnh di tản hết ngời Mỹ, 21/4 Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức tổng thống Quân ta nhanh chóng áp sát Sài Gòn hình thành thế bao vây Ngày 26/4, 5 cánh quân của ta từ các hớng đợc lệnh v-

ợt qua tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch tiến vào Sài Gòn Ngày 28/4, ta đánh sân bay Tân Sơn Nhất Đến đêm 28 rạng ngày 29/4 tất cả các cánh quân của ta đồng

thành phố đánh chiếm các cơ quan

đầu não của địch: Bộ Tổng tham

m-u ngụy, Dinh độc lập, Biệt khm-u thủ

đô, Tổng nha Cảnh sát 9 giờ 30' ngày 30/4, Dơng Văn Minh kêu gọi ngừng bắn để điều đình giao chính quyền nhằm cứu quân đội ngụy khỏi sụp đổ Song quân ta đã tiến thẳng vào dinh Độc Lập bắt sống toàn bộ ngụy quyền TW Dơng Văn Minh tuyên bố đầu hàng không

điều kiện Đúng 11 giờ 30' ngày 30/4 lá cờ CM tung bay trên tòa nhà Phủ Tổng thống ngụy báo hiệu

sự toàn thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử Thừa thắng sau giải phóng Sài Gòn, lực lợng vũ trang và nhân dân các tỉnh còn lại nhất tề đứng dậy tấn công Đến 2/9/1975 Miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, tiêu biểu là 3 chiến dịch lớn đã thắng lợi hoàn toàn Ta đã tiêu diệt và làm tan rã trên 1 triệu quân ngụy và toàn bộ lực lợng dân

vệ Tiêu diệt hoàn toàn 4 quân khu của địch, phá huỷ và thu hồi toàn

bộ các phơng tiện chiến tranh của chúng, cả bộ máy ngụy quyền của

địch bị phá bỏ từ TW đến cơ sở Các

đảng phái phản động cũng bị đập tan.

CM, đờng lối chiến tranh nhân dân

và nghệ thuật sáng tạo quân sự độc lập Nhờ thực hiện theo đờng lối đó chúng ta đã kết hợp đợc sức mạnh chiến đấu của tiền tuyến lớn với tiềm lực của hậu phơng lớn đã

28

Ngày đăng: 03/10/2015, 21:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thành từ hàng chục thế kỷ tr- - Ôn thi đại học môn lịch sử (tài liệu chuẩn) 2011
Hình th ành từ hàng chục thế kỷ tr- (Trang 1)
Hình ấy QTCS đã gửi th cho những - Ôn thi đại học môn lịch sử (tài liệu chuẩn) 2011
nh ấy QTCS đã gửi th cho những (Trang 7)
Hình thức đấu tranh rất quyết liệt   bởi cao trào CM 30 - 31 diễn ra sôi   nổi với nhiều hình thức đấu tranh   phong  phú,  quyết liệt nh  mít tinh,  biểu   tình,   thị   uy,   bãi   công.. - Ôn thi đại học môn lịch sử (tài liệu chuẩn) 2011
Hình th ức đấu tranh rất quyết liệt bởi cao trào CM 30 - 31 diễn ra sôi nổi với nhiều hình thức đấu tranh phong phú, quyết liệt nh mít tinh, biểu tình, thị uy, bãi công (Trang 9)
Hình thành và phát triển. Cùng với - Ôn thi đại học môn lịch sử (tài liệu chuẩn) 2011
Hình th ành và phát triển. Cùng với (Trang 12)
Hình   bang  giao  Việt  -  Pháp  càng - Ôn thi đại học môn lịch sử (tài liệu chuẩn) 2011
nh bang giao Việt - Pháp càng (Trang 19)
Hình đó  sẽ kìm hãm sự phát  triển   trong  thời bình.  ở  Nga sau khi có  hòa bình, Lên nin đã chuyển sang   chính sách kinh tế mới - Ôn thi đại học môn lịch sử (tài liệu chuẩn) 2011
nh đó sẽ kìm hãm sự phát triển trong thời bình. ở Nga sau khi có hòa bình, Lên nin đã chuyển sang chính sách kinh tế mới (Trang 24)
Hình của CNXH và cơ chế của nó - Ôn thi đại học môn lịch sử (tài liệu chuẩn) 2011
Hình c ủa CNXH và cơ chế của nó (Trang 34)
Thợng Hải với Mĩ năm 1972, hình - Ôn thi đại học môn lịch sử (tài liệu chuẩn) 2011
h ợng Hải với Mĩ năm 1972, hình (Trang 36)
Hình   thức   nào   hoặc   phơng   cách - Ôn thi đại học môn lịch sử (tài liệu chuẩn) 2011
nh thức nào hoặc phơng cách (Trang 39)
Hình đất nớc bị chia cắt, sự bất hòa - Ôn thi đại học môn lịch sử (tài liệu chuẩn) 2011
nh đất nớc bị chia cắt, sự bất hòa (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w