Tuy nhiên để các em họcsinh tiếp cận với khối lượng kiến thức của môn Hoá học thì không phải là đơn giảnđối với một vùng mà phần đa là học sinh nông thôn có điều kiện kinh tế khó khăn.Qu
Trang 1Chương 2: Thực trạng vấn đề mà đề tài nghiên cứu
1 Thực trạng dạy học hóa học ở một số trường THPT
2 Thực trạng thái độ học tập của học sinh THPT
Chương 3: Những giải pháp cụ thể
1 Chuẩn bị về kiến thức
2 Chuẩn bị về kĩ năng
3 Chuẩn bị về thiết bị
4 Phân loại đối tượng
Chương 4 : Kết quả kiểm chứng sáng kiến
Phần 3: KẾT LUẬN
1.Những vấn đề quan trọng mà sáng kiến đã đạt được
2 Hiệu quả thiết thực của sáng kiến:
Theo nghị quyết 4 của BCH TW Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII (1 –
1993) đã khẳng định rằng “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Đại hội đại biểu tòan quốc lần thứ VIII một lần nữa khẳng định: “Cùng với khoa học công nghệ, giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
Trang 2hệ trẻ cho đất nước Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển Chính vì thếtrong những năm gần đây đất nước ta đang đẩy mạnh công cuộc xã hội hóa giáodục Biên soạn lại sách giáo khoa cho các bậc học theo phương pháp tích cực Hoạtđộng của học sinh được yêu cầu cao hơn để giúp người học tích cực, chủ độngtrong việc lĩnh hội kiến thức và vận dựng linh hoạt vào thực tiễn Đổi mới phươngpháp dạy học đòi hỏi người giáo viên phải luôn đổi mới phương pháp dạy học củamình theo hướng tích cực, đồng thời phải luôn tìm tòi, học hỏi, sáng tạo trong quátrình dạy học.
Môn Hoá học được đưa vào trường học từ chương trình lớp 8 tuy nhiên các emhọc sinh đã được tiếp xúc với kiến thức hoá học từ sớm hơn thông qua những mônkhoa học thường thức ở các lớp dưới và đặc biệt các hiện tượng hoá học đã đượccác em tiếp xúc rất nhiều thông qua cuộc sống hàng ngày Tuy nhiên để các em họcsinh tiếp cận với khối lượng kiến thức của môn Hoá học thì không phải là đơn giảnđối với một vùng mà phần đa là học sinh nông thôn có điều kiện kinh tế khó khăn.Qua quá trình dạy học tôi thấy người giáo viên Hoá có vai trò rất quan trọng trọngviệc giúp học sinh làm chủ và lĩnh hội kiến thức, và cần có cần có trách nhiệm đểmỗi học sinh đều tiếp thu được những kiến thức và kĩ năng mà chương trình quiđịnh.Người giáo viên phải phát hiện được những em học khá để đầu tư cho các emkiến thức mở rộng , nâng cao để các em có kiễn thức bước qua các kì thi tốt nghiệp
và Đại học một cách chắc chắn Đồng thời người giáo viên cũng phát hiện ra những
em học sinh yếu kém để từ đó tìm ra được biện pháp giáo dục thích hợp tạo điềukiện cho các em có thể nắm được kiến thức cơ bản của chương trình môn học,tránh gây áp lực ảnh hưởng đến tâm lí các em Giáo viên phải luôn có cái nhìn thiệncảm với tất cả các đối tượng học sinh không nên phân biệt đối xử không công bằngvới các em
Chính vì vậy bản thân tôi là một giáo viên với kinh nghiệm giảng dạy chưanhiều xong qua quá trình mà tôi được trực tiếp giảng dạy ở trên lớp ,tôi nhận thấyviệc thường xuyên theo dõi ,điều tra, kiểm tra để phân loại học sinh trong lớp ra ba
Trang 3đối tượng (Khá ,trung bình ,yếu kém) là việc làm hết sức cần thiết , tứ đó giáo viên
sẽ có những yêu cầu khác nhau và vận dụng phương pháp giảng dạy khác nhauđối với từng đối tượng học sinh đã được phân loại Đây cũng là lí do giúp tôi chọn
nội dung“ Tác động tích cực tới từng đối tượng học sinh trong giờ dạy Hóa” để
nghiên cứu
2 Những đóng góp của sáng kiến
Với việc sử dụng đề tài “ Tác động tích cực tới từng đối tượng học sinh trong giờ dạy Hóa” tôi muốn các em học sinh
+ Làm quen với công tác nghiên cứu khoa học
+ Phát triển ở các em lòng ham thích hứng thú say sưa hoc hoá
+ Thường xuyên giáo dục các em đức tính kiên trì, tỉ mỉ, cẩn thận chu đáo , khiêmtốn và sẵn sàng giúp đỡ bạn
+ Từ không khí hứng thú học hóa sẽ lôi cuốn học sinh tham gia giải các bài tậpHóa học, có thể trong là các bài toán trong SGK, sách bài tập hay trong các đề thitốt nghiệp THPT, đề thi tuyển sinh Đại học- Cao Đẳng Đồng thời phù hợp với chủtrương dạy học tích hợp hiện nay
Phần 2 NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở khoa học
1 Cơ sở lí luận
Quy luật của quá trình nhận thức từ trực quan sinh động đến tư duy trừutượng Song quá trình nhận thức đạt hiệu quả cao hay không, có bền vững haykhông còn phụ thuộc vào tính tích cực, chủ động sáng tạo của chủ thể
Trang 4- Đặc điểm của lứa tuổi thiếu niên là đang có xu hướng vươn lên làm ngườilớn, muốn tự mình tìm hiểu, khám phá trong quá trình nhận thức Ở lứa tuổi họcsinh THPT có điều kiện thuận lợi cho khả năng tự điều chỉnh hoạt động học tập và
tự sẵn sàng tham gia vào các hoạt động khác nhau Các em có nguyện vọng muốn
có các hình thức học tập mang tính chất “Người lớn” Tuy nhiên nhược điểm củacác em là chưa biết cách thực hiện nguyện vọng của mình, chưa nắm được cáchthức học tập mới cho bộ môn mà mình được tiếp cận từ năm học lớp 8
Vì vậy, cần có sự hướng dẫn, điều hành một cách khoa học và nghệ thuật sưphạm của thầy cô
Trong lí luận về phương pháp dạy học cho thấy, sự thống nhất giữa sự hướngdẫn của thầy và hoạt động học tập của trò có thể thực hiện được bằng cách quántriệt quan điểm hoạt động Dạy học theo phương pháp mới phải làm cho học sinhchủ động suy nghĩ nhiều hơn, thực hành nhiều hơn trong quá trình chiếm lĩnh trithức hóa học
Quan điểm dạy hóa học là phải dạy suy nghĩ, dạy khả năng quan sát thí nghiệm và các hiện tượng trong tự nhiên để từ đó phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa
Tuy nhiên với mỗi đối tượng học sinh khác nhau cần có sự tiếp cận khác nhau để
từ đó hình thành cho học sinh đạt được những qui luật, kĩ năng cần có của bộ môn
Trang 5- Vấn đề vận dụng Hóa học vào thực tiễn nhằm tăng khả năng tư duy của họcsinh sau khi học xong lí thuyết là hết sức khó khăn.
Chương 2: Thực trạng vấn đề mà đề tài nghiên cứu
1 Thực trạng dạy học hóa học ở một số trường THPT
Môn hoá học trong trường phổ thông là một trong những môn học khó Đã cóhiện tượng một số bộ phận học sinh không muốn học hoá học, ngày càng lạnh nhạtvới giá trị thực tiễn của hoá học Một số lý do chính dẫn tới tình trạng này là: vẫncòn tới 86% giáo viên chưa quan tâm đúng mức đối tượng giáo dục, trong các giờgiảng vẫn chưa lấy học sinh làm trung tâm 74% giáo viên dạy học vẫn mang tínhchất thông báo kiến thức, truyền tải một chiều, 16% giáo viên tóm tắt, khái quát ýchính hay nói y như SGK Là một môn khoa học thực nghiệm nhưng chỉ có 40% sốthí nghiệm được thực hiện so với nhu cầu của các em Trang thiết bị, dụng cụ thínghiệm và hoá chất còn chưa đầy đủ, chỉ đáp ứng được 34% Do vậy, các em chưađược tự làm thí nghiệm mà chủ yếu là quan sát giáo viên thực hành, sau đó, ghichép kết quả và giải thích Điều này dẫn tới giờ thực hành chưa thực sự gây hứngthú đối với học sinh
2 Thực trạng thái độ học tập của học sinh THPT
Trước khi thực hiện đề tài tôi đã tiến hành khảo sát thực tế tại lớp 11A2,11A6,11A7 trường THPT Yên Phong số 2 năm học 2013- 2014 thông qua bài kiểm tra 1tiết đầu năm kết quả đạt được như sau
35%
Trang 611A7 0% 62% 38%
Tiếp tục tôi triển khai phiếu điều tra việc học bộ môn Hóa học của học sinh ở 3 lớptrên Kết quả điều tra như sau:
Ở nhà: 61% học lướt qua, tóm tắt ý chính, 23,3% học chi tiết, tỉ mỉ và hiểu
bài sâu sắc vấn đề, 15,7% đọc sách giáo khoa và trả lời hỏi của giáo viên trước khiđến lớp Ngoài ra chỉ có 21% học sinh làm bài tập về nhà ngay sau khi học xonghay làm trước hôm học vài ngày, số còn lại không chú ý nhiều tới bài tập về nhà.Điều này thể hiện là các em chưa thực sự hứng thú khi học hoá học
Trên lớp: Phương pháp học ở nhà hợp lý, khoa học là rất quan trọng Song,
phương pháp học trên lớp cũng đóng góp một phần rất lớn vào việc tiếp thu kiếnthức của học sinh 64% học sinh khi lên lớp có cách học thụ động giáo viên nói gìthì biết đấy và ghi chép bài đầy đủ Có tới 62% học sinh không đóng góp ý kiếnxây dựng bài trong giờ học Điều này dẫn đến kết quả là: hiểu bài lơ mơ, cái gìcũng không chắc chắn, hay khi đọc lại rất khó hiểu và khó nhớ
Qua khảo sát tôi nhận thấy rằng việc truyền hứng thú cho học sinh để học sinh pháthuy tính tích cực trong việc lĩnh hội kiến thức rất quan trọng Tuy nhiên, với mỗiđối tượng khác nhau cần có một phương pháp tác động khác nhau
Chương 3: Những giải pháp cụ thể
Bản thân tôi là một giáo viên mới ra trường chưa được bao lâu, xong qua thờigian giảng dạy nhiều đối tượng học sinh tôi nhận thấy để thuận lợi cho việc giảngdạy mỗi người giáo viên cần phải phân loại chính xác các đối tượng học sinh, sau
đó điều không thể thiếu được của một người giáo viên đó là khâu chuẩn bị bài chocác đối tượng học sinh do mình đã phân loại trước khi lên lớp Với tôi , tôi chokhâu chuẩn bị là khâu quan trọng nhất vì trong mỗi một lớp với số lượng học sinh
Trang 7tương đối đông , nhận thức của các em lại không đồng đều do đó muốn dạy tốt thìphải chuẩn bị nội dung bài giảng thật kĩ lưỡng , quan tâm đến nhận thức của từngđối tượng học sinh , bình tĩnh tìm hướng giải quyết những bế tắc về phương pháphọc cho các em để các em có thể tìm được phương pháp học có hiệu quả Giáo viêncần phải tạo ra được không khí học tập vui vẻ , gây hứng thú học tập cho các em,
dù là đói tượng học sinh nào thì cũng cần phải đảm bảo cho các em tiếp thu bài học
có hiệu quả Trước khi lên lớp trực tiếp giảng dạy tôi thường chuẩn bị những vấn
đề sau:
1 Chuẩn bị về kiến thức.
Nội dung kiến thức phải đáp ứng được chuẩn kiến thức kĩ năng của chươngtrình, giáo viên phải biết cách thiết kế các hoạt động sao cho phù hợp với trình độcủa học sinh ,không rập khuôn máy móc theo sách hướng dẫn và dựa vào đó tôi chẻnhỏ chế biến phù hợp với học sinh của từng lớp
Nội dung câu hỏi dùng để phát vấn học sinh phải được chuẩn bị kĩ cho từng đốitượng học sinh không nên chọn nôi dung câu hỏi khó hiểu cho học sinh đặc biệtchú ý câu hỏi phát vấn học sinh yếu kém phải chọn câu hỏi đơn giản và dễ hiểu đểcác em có thể trả lời được, tạo cho các em tiếp thu kiến thức nhẹ nhàng hơn
3 Chuẩn bị về thiết bị
Với đặc thù của bộ môn là môn khoa học thực nghiệm do đó một nhiệm vụ
Trang 8bảo thành công hay không phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Chính vì vậy mà đòi hỏingười giáo viên cũng cần phải chuẩn bị thí nghiệm liên quan đến bài giảng thất chuđáo , đảm bảo tính chính xác và khoa học tránh tình trạng sai sót dẫn đến nhữnghiểu lầm cho học sinh giáo viên phải lường sẵn những tình huống có thể xảy ratrong quá trình làm thí nghiệm để từ đó có biện pháp giải quyết thích hợp Cũngcần phải chuẩn bị sẵn thí nghiệm nào do học sinh làm , thí nghiệm nào để giáo viênlàm để việc tiếp thu bài của học sinh có hiệu quả.
Từ những sự chuẩn bị kĩ ở trên khi bắt đầu bước vào lớp tôi đã nhận thấy các emhọc sinh lớp tôi trực tiếp giảng dạy rất hứng thú say sưa học tập, không còn cảmgiác thấy sợ môn hoá học nữa Đến nay tôi nhận thấy các em đã có sự khác biệt rõhơn so với ban đầu
4 Phân loại đối tượng
Đầu năm khi nhận giảng dạy tôi đều khảo sát chất lượng thực sự của học sinh thôngqua kết quả năm học trước và bài kiểm tra đầu năm Từ đó phân loại đối tượng có biện pháp cụ thể với từng đối tượng học sinh
* BiÖn ph¸p thùc hiÖn
4.1 Đối với học sinh kém không nắm được kĩ năng cơ bản
Từng bước ta làm như sau:
Trước hết tìm ra nguyên nhân học hoá kém ở các em và phân biệt:
+Những em học kém hoá vì có ít năng lực
+Vì gia đình khó khăn không có điều kiện đi học
+Vì có vướng mắc bởi tư tưởng
+Hoặc quá ham thích một hoạt động khác không học bài ở nhà và đếnlớp cũng không chú ý đến môn Hoá
Thông qua tìm hiểu nguyên nhân tôi đã đưa ra những biện pháp giáo dục các em
cụ thể như sau:
Tìm ra mọi cách để xây dựng cho các em lòng tự tin ở khả năng của mình từ
đó cố gắng học tập tiến tới hứng thú học tập.
Trang 9+Kiểm tra bằng nhiều hình thức hình thức với những nội dung đơngiản và dễ trả lời để kịp thời biểu dương sự tiến bộ nhỏ của các em để có nhữngbiểu dương khích kệ kịp thời , từ đó tạo ra một tâm lí thoải mái cho các em học tiếpthu kiến thức mới.
+ Làm nhiều bài tập dạng áp dụng để luyện tập kĩ năng giải bài tập chocác em
+Trong giờ giảng chọn thí nghiệm minh hoạ đơn giản để hướng dẫn các
em học sinh yếu kém tiến hành thí nghiệm , qua thí nghiệm có thể giúp các em tiếpthu kiến thức dễ dàng hơn
Biện pháp cơ bản là giúp các em suy nghĩ , phương pháp học tập, tạo cho các
+Hạn chế cho học sinh yếu , kém làm thêm các bài tập ngoài cùng cảlớp vì như vậy các em làm việc quá nhiều
+Đồng thời cũng cần phải quan tâm đến thái độ của các em khi tiếpcận với các nội dung câu hỏi và bài tập
4.2 Cùng với việc quan tâm giúp đỡ học sinh yếu kém cần phát hiện những em
có năng lực về môn hoá là vô cùng quan trọng.
+Phát triển ở các em lòng ham thích hứng thú say sưa hoc hoá
+Thường xuyên giáo dục các em đức tính kiên trì , tỉ mỉ , cẩn thận chu đáo ,khiêm tốn và sẵn sàng giúp đỡ bạn
+Các em này đặc biệt thích giải những bài hoá khó , các bài hoá đòi hỏi cósáng tạo , nhưng lại hay coi nhẹ việc học lí thuyết , coi nhẹ những bài hoá
Trang 10cơ bản,thông thường trong sách giáo khoa Chính vì vậy một số em không nắmchắc kiến thức cơ bản hoặc không có kĩ năng thành thạo về tính toán.
+ Điều đó trong giáo dục tôi luôn suy nghĩ tìm tòi để học sinh khai thác đượcnhững khía cạnh khác nhau của bài toán đơn giản Học thật chắc kiến thứcsách giáo khoa , làm đầy đủ những bài tập sách giáo khoa trước khi làm bàitập hoá khó
+ Khuyến khích các em thực hành hoá học để có thể nẵm vững kiến thức hơn +Tôi thường sưu tầm các dạng bài tập, phân loại từ dễ đến khó sau đó yêucầu các em về nhà làm , phần nào quá khó thì đánh dấu lại để hỏi bạn hoặc đưa đếntrường gặp trực tiếp tôi để trao đổi.Tôi đặc biệt chú ý đến những bài tập có liệnquan đến những nội dung các đề thi không quá khó mà vừa sức các em
4 3 Khi dạy tôi thường chú ý các điểm sau:
+ Phát huy cao độ tính tư duy tích cực , độc lập của học sinh
+ Đây là vấn đề quan trọng một mặt vì nó thực hiện mục tiêu của nhàtrường là đào tạo người lao động sáng tạo làm chủ đất nước Mặt khác vì thời đạihiện nay đòi hỏi con người phải luôn học , tự bồi dưỡng kiến thức của mình để khỏilạc hậu với cuộc sống Vì vậy phải:
“Dạy thế nào cho người học trò có khả năng độc lập suy nghĩ giúp cho trí thông minh của họ phát triển chứ không phải giúp cho họ có trí nhớ Phải có trí nhớ nhưng chủ yếu là giúp họ phát triển trí thông minh sáng tạo”
Lời trích Phạm Văn Đồng - XBGD Hà Nội.
+Dạy và học là hai mặt của một quá trình thống nhất , mà cái quantrọng là cái đích của học sinh Việc dạy của thầy nhằm hướng dẫn , điều khiển thúcđẩy việc học của trò đạt kết quả tốt Và đó là :Tiêu chuẩn đánh giá phương phápdạy của thầy
Tôi nghĩ rằng quá trình dạy rất phong phú , rất phức tạp đòi hỏi người thầyphải vận dụng linh hoạt rất nhiều phương pháp dạy khác nhau sao cho phù hợp với
Trang 11đối tượng học sinh mà mình trực tiếp giảng dạy, không nhất thiết phải gò bó vàomột sự phân loại nào, một phương pháp cụ thể nào
Trong các giờ lên lớp tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp :
+ Phương pháp đàm thoại
+ Phương pháp tập dượt nghiên cứu
+ Phương pháp làm việc với sách
+ Kiểm tra kết quả học tập của học sinh
+ Phương pháp dạy học chương trình hoá
+Phương pháp thí nghiệm trực quan nghiên cứu hoặc chứng minh +Phương pháp dạy học nêu vấn đề
và một số phương pháp dạy học khác.Ngoài ra sự khôi hài trong cách sử dụngcác phương pháp dạy học đôi khi cũng cần thiết và hiệu quả
Qua quá trình dạy tôi thấy rằng môn hoá có khả năng to lớn nhằm phát triển trítuệ của các học sinh qua việc rèn luyện các thao tác tư duy , các phẩm chất trí tuệ +Tôi luôn rèn cho học sinh tư duy độc lập sáng tạo , thường xuyênhướng dẫn học sinh tập dượt nghiên cứu
Trong khi tập luyện học sinh áp dụng thành thạo một qui tắc nào đó tôi luôn chú ýlựa chọn một số thí dụ , bài tập có cách giải riêng đơn giản hơn là áp dụng qui tắctổng quát đã học
4 5 Ví dụ:
Ví dụ 1: Khi dạy bài : Phản ứng trao đổi ion trong dung dịch chất điện li
Giáo viên cần chuẩn bị như sau:
a- Nội dung kiến thức
-Ôn lại kiến thức về sự điện li bằng cáhc cho học sinh viết một số phương trìnhđiện li của một số chất có liên quan đến bài học
-Bản chất của phản ứng trao đổi ion trong dung dịch chất điện li thông qua cácphương trình cụ thể
Trang 12-Từ đó học sinh có thể hiểu điều kiện để xảy ra phản ứng trao đổi ion trong dungdịch chất điện li.
b-Rèn kĩ năng
- Tiếp tục rèn kĩ năng viết phương trình điện li
- Rèn kĩ năng viết phương trình ion thu gon của phản ứng trao đổi ion trong dungdịch chất điện li
- Vận dụng kiến thức về phản ứng trao đổi ion trong dung dịch chất điện li để giảibài tập về dung dịch điện li
- Kĩ năng sử dụng bảng tính tan
c-Thiết bị thí nghiệm
chuẩn bị dụng cụ và hoá chất đầy đủ cho 4 nhóm học sinh : giá thí nghiệm
Khi đã chuẩn bị đày đủ giáo viên mới thiết kế thành một bài dạy hoàn chỉnh để đảmbảo cho tiết lên lớp được logic thu hút được sự chú ý của các đối tượng học sinh
Cụ thể tôi tiến hành hướng dẫn học sinh học bài đó như sau
*Tiến hành hướng dẫn học sinh
Hoạt động 1: giáo viên tiến hành ôn tập củng cố kiến thức cũ có liên quan đến nội
dung bài học
Viết phương trình điện li của các chất sau đây
a Na 2SO4, HCl, NaOH, Na2CO3,
b- CH3COONa, FeCl3, BaCl2, Ba(OH)2, H2SO4, H2O, H2S., CH3COOH
Yêu cầu tất cả học sinh đều làm vào giấy nháp sau đó yêu cầu 2học sinh theo như
đã chọn sẵn lên trình bày trên bảng
Viết phương trình điện li
Trang 13-Na2CO3 > 2Na+ + CO32- Ba(OH)2 > Ba2+ + 2OH
Hoạt động 2: dẫn dắt vào bài
-khi trôn các dung dịch :
Na2SO4 với dung dịch BaCl2
-trộn dung dịch HCl với CH3COONa
-trộn dung dịch Na2CO3 với dung dịch HCl sẽ có nhựng hiện tượng gì xảy ra? bảnchất của những hiện tượng đó là gì? hãy cùng nghiện cứu nội dung bài “Phản ứngtrao đổi ion trong dung dịch chất điện li”
gv: hướng dẫn học sinh nghiên cứu nội dung I-Điều kiện để xảy ra phản ứng traođổi ion trong dung dịch chất điện li
Hoạt động 3:Phản ứng tạo thành chất kết tủa
GV: hướng dẫn các nhóm học sinh làm
thí nghiệm1: trộn dung dịch Na2SO4 với
dung dịch BaCl2
gv: -hướng dẫn học sinh nhận xét hiện
tượng(cho đối tượng học sinh yếu nhận
xét)
-yêu cầu học sinh khá giải thích bản
chất của phản ứng và viết phương trình
hs: làm thí nghiệm theo sự hướng dẫncủa giáo viên
-nhỏ từ từ dung dịch Na2SO4 vào ốngnghiệm đựng dung dịch BaCl2
hs: có kết tủa trắng xuất hiện
hs: giải thích
Na2SO4 + BaCl2 > 2NaCl +BaSO4(1)
Trang 14phản ứng
GV: Bổsung
(1) là phương trình phân tử
(2) là phương trình ion
(3) là phương trình ion thu gọn
Gv: từ (3) muốn thu được kết tủa BaSO4
chúng ta có thể trộn những dung dịch
nào với nhau?cho các ví dụ ?(gv: hướng
dẫn học sinh sử dụng bảng tính tan)
GV: yêu cầu học sinh trunh bình và yếu
tìm ví dụ trước, hs khá bổ sung thêm
Gv: hướng dẫn học sinh kết luận về
bản chất của phản ứng(3)
Gv: ngoài ví dụ tạo ra BaSO4 dựa vào
bảng tính tan hãy cho biết một số phản
ứng trao đổi ion tạo ra chất kết tủa?(có
thể cho cả 3 đối tượng học sinh trả lời)
gv: yêu cầu học sinh về nhà viết phương
trình ion và phương trình ion thu gọn
của phản ứng a, b,c viết phương trình
phân tử của (d),( e),(g)
2Na+ + SO42- + Ba2+ +2Cl- >2Na+
+2Cl- + BaSO4(2)
Ba2+ +SO42- > BaSO4(3)
Hs: thảo luận và suy luận
để tạo ra kết tủa BaSO4 có thể trộn cácdung dịch chứa ion Ba2+ với dung dịchchứa ion SO42-
Ví Dụ:
a-BaCl2 + H2SO4 > BaSO4 + 2HClb-Ba(NO3)2 +K2SO4 > BaSO4 + 2KNO3
c-BaBr2 + MgSO4 > BaSO4 + MgBr2
hs: kết luậnbản chất của (3) là sự traođổi các ion để tạo ra kết tủa nhằm làgiảm số ion trong dung dịch
Hs: sử dụng bảng tính tan đế lấy ví dụ
Ag+ + Cl- > AgCl(d)
Ba2+ + CO32_ > BaCO3(e)
Mg2+ +2OH- > Mg(OH)2(g)
Trang 15gv: hướng dẫn học sinh chuyển sang hoạt động tiếp theo
Hoạt động 4: Tìm hiểu phản ứng tạo thành chất điện li yếu
a-Phản ứng tạo thành nước
gv: hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm
theo ví dụ sau;
-cho từ từ dung dịch HCl vào dung dịch
NaOH có chứa vài giọt dụng dịch
phenolphtalein
Gv: yêu cầu học sinh quan sát hiện
tượng , giải thích và viết phương trình
phản ứng
Gv: gợi ý học sinh giải thích dựa vào
phương trình ion
a- Phản ứng tạo thành nướchs; tiến hành thí nghiệm-Nhỏ từ từ dung dịch phenolphtalein vàodung dịch NaOH O,1M-
-> dung dịch có màu hồng-Rót từ từ dung dịch HCl 0,1M vào dungdịch trên cho đến khi dung dịch bị mấtmàu
-các ion OH- làm đổi màuphenolphtalein
thành màu hông
-khi cho dung dịch HCl vào , các ion H+
trong dung dịch HCl sẽ phản ứng vớicác ion OH- trong dung dịch NaOH tạothành H2O
Trang 16gv: bổ sung
Phản ứng giữa dung dịch axit và hiđroxit
có tính bazơ rất dễ xảy ra vì tạo thành
GV: yêu cầu một hs yếu và một hs khá
lên viết sau đó yêu cầu nhận xét và kết
luận về bản chất của phản ứng
b-Phản ứng tạo thành axit yếu
gv: hướng dẫn học làm thí nghiệm theo
sgk và viết phương trình phản ứng, giải
thích
-Phương trình ion:
H+ +OH- > H2OKhi màu của dung dịch trong suốt cónghĩa là lượng ion OH- đã phản ứng hếtvới ion H+
b-Phản ứng tạo thành axit yếuhs: làm thí nghiệm
Nhỏ dung dịch HCl vào ống nghiệmđựng dung dịch CH3COONa
-> phản ứng tạo thành CH3COOHPhương trình cụ thể như sau:
HCl + CH3COONa > CH3COOH +NaCl(1)
H+ + CH3COO- > CH3COOH(2)
*Nhận xét: trong dung dịch các ion
CH3COO- và ion H+ đã kết hợp vớinhau tạo thành chất điện li yếu
Trang 17CH3COOH làm giảm nồng độ các iontrong dung dịch
gv: dẫn học sinh chuyển sang nghiên cứu nội dung tiếp theo
Hoạt động 5: Phản ứng tạo thành chất khí
Gv: Có hiện tượng gì xảy ra khi cho dung dịch HCl và dung dich Na2CO3?
HS:phản ứng xảy ra và có bọt khí thoát ra ngoài
Gv : yêu cầu hs (yếu) lên viết phương trình phân tử
hs: Na2CO3 + 2HCl > 2NaCl + CO2 + H2O
Gv : yêu cầu hs (tb) lên viết phương trình ion và ion thu gọn của phản ứng
2 Na+ + CO32- + 2H+ +2Cl- > 2Na+ + 2Cl- + CO2 + H2O
CO32- + 2H+ > CO2 +H2O
GV: qua phản ứng trên em có nhận xét gì về bản chất của phản ứng?
Hs: bản chất của phản ứng là sự két hợp của cation H+ và anion CO32_ tạo thànhsản phẩm là khí CO2 và H2O
Gv: theo em ngoài ví dụ trên còn có trường hợp nào phản ứng tạo chất khí?
: dẫn dắt học sinh đến phần kết luận nội dung bài học
Gv: Nêu thí nghiệm yeu cầu học sinh tiến hành
Cho từ từ dung dịch KCl vào dung dịch HCl yêu cầu học sinh dự đoán hiện