Những phân tích và nghiên cứu này chủ yếu trong phạm vi các văn bản của WTO như : Hiệp định Marrakesh thành lập Tổ chức Thương mại thế Giới 1994, Bản Ghi nhớ về qui tắc và thủ tục điều c
Trang 1Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS NGUYỄN TỐNG NGỌC NHƯ TRẦN NGỌC DINH
Bộ Môn Luật Thương Mại MSSV: 5117295
Lớp: Luật Thương Mại–Khóa 37
Trang 2LỜI CẢM ƠN
***
Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của Thạc sĩ – Giảng viên Nguyễn Tống Ngọc Như – Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ trong suốt thời gian qua để giúp em hoàn thành tốt bài luận văn
Với sự hiểu biết trong lĩnh vực còn hạn chế, nguồn tài liệu tham khảo vẫn chưa hoàn toàn đầy đủ nên có lẽ luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để bài luận văn cũng như sự hiểu biết về vấn đề của em được hoàn thiện hơn
Sinh viên thực hiện
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
Trang 4NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT WTO: World Trade Organization – Tổ chức Thương Mại Thế Giới
GATT : General Agreement on Tariffs and Trade – Hiệp định chung về thuế quan và
thương mại
ITO : International Trade Organization – Tổ chức thương mại quốc tế
DSU : Dispute Settlement Understanding – Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục giải
quyết tranh chấp
DSB : Dispute Settlement Body – Cơ quan giải quyêt tranh chấp
NAFTA : North America Free Trade Agreement – Hiệp định Thương Mại tự do Bắc
Mỹ
NGOs : Non Governmental Organizations – Các tổ chức phi chính phủ
WB : World Bank – Ngân hàng thế giới
IMF : International Monetary Fund – Quỹ tiền tệ quốc tế
DOC : United States Department of Commerce – Bộ thương mại Hoa Kỳ
LPMO : Livestock Producers Marketing Organization – Tổ chức thị trường chăn nuôi
sản xuất
TRIPS : Agreement on Trade – Related Aspects of Ipr – Hiệp định về các khía cạnh
liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ
ADA : Agreement on Antidumping practices – Hiệp định chống bán phá giá
ATC : Agreement on Texiles and Clothing – Hiệp định vê hàng dệt may
Trang 6MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Mục đích nghiên cứu 1
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4.Phương pháp nghiên cứu 2
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VÀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) 3
1.1 Giới thiệu chung về Tổ Chức Thương Mại Thế Giới 3
1.1.1 Lịch sử hình thành Tổ Chức Thương Mại Thế Giới 3
1.1.2 Mục tiêu và chức năng chủ yếu của WTO 5
1.1.2.1 Mục tiêu hoạt động của Tổ chức thương mại thế giới 5
1.1.2.1 Chức năng hoạt động của Tổ chức thương mại thế giới 6
1.1.3 Thành viên WTO 6
1.1.4 Các nguyên tắc cơ bản của WTO 8
1.1.5 Tổ chức và hoạt động của WTO 10
1.2 Khái quát chung về cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ của WTO .12
1.2.1 Cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO 12
1.2.2 Mục đích và ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp 13
1.2.2.1 Bảo đảm sự an toàn và tính dự báo trước cho hệ thống thương mại đa phương 13
1.2.2.2 Bảo toàn các quyền và nghĩa vụ của các thành viên WTO 14
1.2.2.3 Làm rõ quyền lợi và nghĩa vụ thông qua giải thích 15
1.2.2.4 Giải pháp ưu tiên là “Thỏa thuận” 16
1.2.2.5 Giải quyết tranh chấp nhanh chóng 16
1.2.2.6 Cấm quyết định đơn phương 17
1.2.2.7 Tính chất bắt buộc 18
1.2.3 Phạm vi điều chỉnh của hệ thống giải quyết tranh chấp 18
1.2.4 Đối tượng tham gia vào hệ thống giải quyết tranh chấp 19
1.2.4.1 Các bên tranh chấp và bên thứ ba 19
1.2.4.2 Các đối tượng phi chính phủ 20
1.2.4.3 Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO 20
1.2.5 Nguyên nhân dẫn đến tranh chấp và các căn cứ giải quyết tranh chấp theo WTO 21
Trang 71.2.5.1 Nguyên nhân dẫn đến tranh chấp 21
1.2.5.2 Các căn cứ giải quyết tranh chấp theo WTO 22
CHƯƠNG 2: CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) 24
2.1 Các cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO 24
2.1.1 Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) 24
2.1.2 Cơ quan Phúc thẩm (SAB) 25
2.1.3 Ban hội thẩm (Panel) 26
2.2 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp của cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO 27
2.3 Quy trình và thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO 28
2.2.1 Giai đoạn tham vấn (consultation) 28
2.2.2 Giai đoạn hội thẩm 29
2.2.3 Giai đoạn xét xử của ban hội thẩm 31
2.2.4 Giai đoạn kháng cáo và phúc thẩm 31
2.2.5 Giai đoạn thi hành phán quyết 32
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VỀ VÂN ĐỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO 37
3.1 Những vấn đề còn tồn tại trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO 37
3.2 Ưu điểm và hạn chế của cơ chế giải quyết tranh chấp WTO 45
3.2.1 Ưu điểm của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO 45
3.2.2 Hạn chế của cơ chế giải quyết tranh chấp của wto 48
3.3 Đề xuất hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO 50
KẾT LUẬN 54
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
Cho đến nay, Việt Nam cũng đã tham gia tranh chấp thương mại quốc tế với tư cách khác nhau Chính vì lẽ đó, việc tìm hiểu và nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp giúp Việt Nam có nền tảng vững chắc trong tương lai khi tham gia vào bất cứ quan hệ tranh chấp thương mại quốc tế nào của WTO Mặt khác, nước ta là một nước đang phát triển, mà thực
tế cơ chế giải quyết tranh chấp WTO chưa thực sự dành nhiều ưu đãi cho các nước đang phát triển này nên việc nghiên cứu và đề xuất hướng hoàn thiện lên WTO giúp Việt Nam tránh khỏi những rủi ro nhất định, giành quyền lợi chính đáng mà các nước đang phát triển phải có khi tham gia tranh chấp cùng với một nước mạnh
Chính vì thế, việc tìm hiểu về cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và tìm ra bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam trong quá trình phát triển và hội nhập là rất cần thiết Đó
cũng là lý do mà người viết chọn đề tài “Cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cùa mình
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích cơ bản và cốt lõi của người viết đề tài này là nhằm hướng đến một cái nhìn tổng quan và hiểu biết sâu sắc về quá trình giải quyết tranh chấp của WTO, nhằm giúp các nước thành viên nói chung và Việt Nam nói riêng rút ra được những bài học kinh nghiệm quý giá để biết cách xử lý thông minh nhất có thể khi gặp phải những vấn đề tranh chấp Đặc biệt là khi hiện nay Việt Nam là thành viên của WTO đã và đang đối mặt với những thách thức trong tranh chấp thương mại quốc tế
Việc nghiên cứu nhằm nghiệm ra những phương pháp đúng đắn, cũng như nâng cao kiến thức về lập pháp, nhằm phát huy những ưu điểm và đưa ra giải pháp hoàn thiện của cơ
Trang 9chế giải quyết tranh chấp của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đã thực sự góp phần vào quá trình điều chỉnh pháp lý các hoạt động thương mại thế giới, tạo niềm tin cho các nước khi tham gia vào tự do hóa thương mại
3 Phạm vi nghiên cứu
“Cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ chức Thương Mại Thế Giới-WTO” là một
đề tài khá rộng và cần phải hiểu hết tất cả các ngõ ngách của vấn đề Tuy nhiên, do hạn chế
về thời gian và hiểu biết của một sinh viên nên đề tài chỉ dừng lại ở mức cung cấp một số vấn đề cơ bản về: nguyên tắc giải quyết tranh chấp, thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO Đồng thời nghiên cứu một cách tổng quan về các phương thức giải quyết tranh chấp của WTO Người viết dựa vào những vụ kiện trên thực tế để đưa ra phân tích thực trạng về cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO Đáng kể là vụ giải quyết đầu tiên của Việt Nam tại WTO- các biện pháp chống bán phá giá đối với sản phẩm tôm nước ấm đông lạnh, vụ việc này sẽ được phân tích và nghiên cứu cụ thể hơn ở phần thực trạng Những phân tích và nghiên cứu này chủ yếu trong phạm vi các văn bản của WTO như : Hiệp định Marrakesh thành lập Tổ chức Thương mại thế Giới 1994, Bản Ghi nhớ về qui tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp của WTO (DSU), Hiệp định thành lập Tổ Chức Thương mại thế giới WTO, Hiệp định GATT 1947 và 1994, Hiệp định TRIPS,…và các hiệp định có liên quan của WTO Từ đó đưa ra những hướng phân tích, đánh giá khách quan về những ưu điểm, hạn chế cũng như đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành được đề tài này người viết sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như: phương pháp phân tích luật viết, phương pháp so sánh, thống kê tổng hợp trên cơ sở thu thập tài liệu có liên quan
+ Chương 2: Cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ chức Thương Mại Thế Giới (WTO)
+ Chương 3: Thực trạng về vấn đề giải quyết tranh chấp của WTO
Trang 10
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VÀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TỔ CHỨC
THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) 1.1 Giới thiệu chung về Tổ Chức Thương Mại Thế Giới
1.1.1 Lịch sử hình thành Tổ Chức Thương Mại Thế Giới
Trong khoảng thời gian khi Chiến tranh Thế giới thứ hai vẫn còn chưa kết thúc, các nước đã nghĩ đến việc thiết lập các chế định chung về kinh tế để hỗ trợ công cuộc tái thiết sau chiến tranh Hội nghị Bretton Wood triệu tập ở bang New Hampshire (Hoa Kỳ) năm
1944 nhằm mục đích này Kết quả của Hội nghị Bretton Wood là sự ra đời của 2 tổ chức tài chính: Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (nay gọi là Ngân hàng Thế giới - WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Song dường như những nổ lực của các nước vẫn chưa đáp ứng được các nhu cầu cấp thiết đặt ra của nền kinh tế thế giới đang trên đà hồi phục và phát triển Nhu cầu cần có một tổ chức có khả năng giúp cho hoạt động thương mại thế giới diễn ra một cách thuận lợi, đơn giản và có hiệu quả hơn ngày càng trở nên cấp thiết
Tháng 12/1945, theo đề nghị của Hoa Kỳ 15 nước đã họp bàn về việc giảm thuế quan
và dỡ bỏ các rào cản trong thương mại
Nhằm nhanh chóng đẩy mạnh tự do hóa thương mại sau chiến tranh thế giới thứ hai
và sửa chữa những sai lầm do các biện pháp bảo hộ được duy trì đầu những năm 30, cuộc thương lượng về thuế giữa các quốc gia lần lượt được tiến hành Vào năm 1946, tại hội nghị Ge-ne-va các nước đã thỏa thuận với nhau hàng loạt các vấn đề có liên quan đến thuế
Vòng đàm phán thương mại Ge-ne-va này cũng có thỏa thuận rằng sự nhượng bộ về thuế đó sẽ được bảo vệ bằng việc chấp thuận và phổ biến rộng rãi các nguyên tắc về thương mại được ghi trong bản dự thảo hiến chương của Tổ chức thương mại quốc tế (ITO) Những quy định này đã tạo ra được một khung pháp lý thương mại quốc tế đa biên và áp dụng rộng rãi từ tháng 1/1948 Mặc dù bản Hiến chương của ITO được chấp thuận tại cuộc họp Liên hợp quốc vào tháng 3/1948, nhưng cơ quan lập pháp của một số quốc gia không thực hiện việc phê chuẩn Năm 1950, Chính phủ Hoa Kỳ đã tuyên bố rằng Hiến chương Ha-va-na không được Quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn, thế là ITO hoàn toàn bị vô hiệu hóa
Tuy vậy, một số các quốc gia vẫn quyết tâm giảm bớt thuế quan và hàng rào bảo hộ
đã cùng nhau họp tại Ge-ne-va Cho đến ngày 23/10/1947, 23 quốc gia đã cùng nhau ký vào
Trang 11một nghị định tạm thời thi hành Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) Nghị định thư này bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/1948.1
Sau hơn 40 năm tồn tại và phát triển, GATT đã góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế thế giới Nhưng cơ chế giải quyết tranh chấp không hiệu quả và người được lợi chủ yếu là Mỹ nên các quốc gia khác đòi phải có một tổ chức thay thế GATT hiệu quả hơn Trong vòng U-ru-goay (vòng đàm phán cuối cùng của GATT) các quốc gia đã đồng thuận thành lập tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào ngày 1/1/1995 có trụ sở đặt tại Ge-ne-va (Thụy Sỹ), với từ viết tắt tiếng anh là “World Trade Organization” - tổ chức quốc tế duy nhất đưa ra những nguyên tắc thương mại giữa các quốc gia trên thế giới.2
Nội dung của GATT được tinh lọc từ nội dung của Bản Công ước thành lập ITO bao gồm các chế định chủ yếu là: Nguyên tắc Tối huệ quốc trong thương mại, luật lệ chi phối các đối sách cho mục tiêu thuế quan, các hạn chế số lượng hàng hoá xuất nhập khẩu, các biện pháp chống phá giá… nhưng không có nội dung nào đề cập đến việc thành lập một Tổ chức Thương mại quốc tế
Chính vì điều đó, đến năm 1994, GATT được thay thế bằng Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch 1994 đồng thời cho ra đời Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) với đầy
đủ chức năng và quyền hạn như mong muốn của Hội đồng Soạn thảo Công ước nhằm thành lập Tổ chức thương mại quốc tế năm 1946
Hiện nay WTO là tổ chức thương mại quốc tế có quy mô toàn cầu với 160 thành viên chính thức tính đến ngày 26/6/2014 và 34 nước là quan sát viên Thêm vào đó, thỏa thuận WTO cũng có quy mô khá đồ sộ với 29 văn bản pháp quy riêng biệt, bao quát từ nông nghiệp đến dệt may, từ dịch vụ đến mua sắm của chính phủ, từ nguồn gốc hàng hóa đến sở hữu trí tuệ.3 WTO là tên viết tắt của 3 chữ Word Trade Organization-tổ chức quốc tế duy nhất đưa ra những nguyên tắc thương mại giữa các quốc gia trên thế giới WTO được thành lập ngày 1/1/1995, kế tục và mở rộng phạm vi điều tiết thương mại quốc tế của tổ chức tiền than GATT-Hiệp định chung về thuế quan thương mại GATT ra đời sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, khi mà trào lưu hình thành hàng loạt cơ chế đa biên điều tiết các hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế đang diễn ra sôi nổi, điển hình là ngân hàng quốc tế tái thiết và phát triển, thường được biết đến như là Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) và Quỹ Tiền Tệ (IMF)
1
Hà Văn Hội, Hội nhập WTO, những tác động đến bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin Việt Nam, Nhà xuất bản
Bưu điện Hà Nội, 2006, Tr.09
2
Lịch sử hình thành WTO, http://www mof.gov.vn/portal/pa ge/portal/mof_vn/137 1620/1371622/ 1371 6
29?pers_id=21056035&item_id=45926025&p_details=1, [ truy cập ngày 29-8-2014]
3
Hà Văn Hội, Hội nhập WTO, những tác động đến bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin Việt Nam, Nhà xuất bản
Bưu điện Hà Nội, 2006, Tr.19
Trang 12ngày nay Ngày 1/9, nhà ngoại giao người Brazil Roberto Azevedo đã chính thức nhậm chức Tổng Giám đốc Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thay ông Pascal Lamy kết thúc nhiệm kỳ ngày 31/8
1.1.2 Mục tiêu và chức năng chủ yếu của WTO
1.1.2.1 Mục tiêu hoạt động của Tổ chức thương mại thế giới
Có thể nói một cách đơn giản, WTO trước tiên là một khuôn khổ thiết chế pháp luật quốc tế, là nơi được tạo lập để chính phủ các nước có thể đến đó để trao đổi, thoả thuận với nhau những vấn đề chung của hoạt động thương mại giữa các quốc gia trên quy mô toàn thế giới
Sau khi kế thừa GATT và hình thành một tổ chức với tên gọi mới, Tổ chức thương mại thế giới WTO vẫn tiếp tục theo đuổi những mục tiêu đã được GATT đặt kế hoạch, cụ thể là:
Tự do hóa thương mại hàng hóa và dịch vụ: Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế
thế giới hiện nay, thương mại quốc tế là yếu tố có tầm quan trọng đặc biệt tác động đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia Các lý thuyết thương mại đã chi rõ mậu dịch tự do là có lợi cho các bên tham gia Do đó, WTO luôn xác định tự do hóa thương mại là mục tiêu hàng đầu phải nỗ lực thực hiện Nội dung cốt lõi của mục tiêu này là thông qua đàm phán, cắt giảm từng bước hàng rào thuế quan và phi thuế quan để tiến tới xóa bỏ hoàn toàn, mở đường cho thương mại phát triển
Không phân biệt đối xử: Thông qua chế độ đãi ngộ tối huệ quốc và đối xử quốc gia,
có thể thấy mục tiêu rõ nhất của WTO là cấm phân biệt đối xử giữa các thành viên, giữa hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước Chẳng hạn, theo Điều 1 về đãi ngộ tối huệ quốc, các thành viên phải đối xử với sản phẩm của các thành viên khác không kém hơn sự đối xử bất cứ quốc gia nào khác Biểu hiện rõ ràng trong mục tiêu này chính là vấn đề cắt giảm thuế quan Thế nhưng WTO vẫn cho phép phân biệt đối xử bằng cách chấp nhận một cách mềm dẻo các thỏa thuận riêng và ngoại lệ
Thiết lập và tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của thương mại quốc tế:
Nhằm đảm bảo sự chắc chắn và khả năng tham khảo ý kiến trong giải quyết tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên để hạn chế thiệt hại, đảm bảo tôn trọng các điều ước Trên cơ sở đó, WTO lập ra một hệ thống pháp lý chung làm căn cứ để mỗi thành viên hoạch định và khuyến khích các nước này ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới
Trang 13Ngoài ra WTO còn có mục tiêu là nâng cao mức sống, tạo công ăn, việc làm cho người dân các nước thành viên, đảm bảo các quyền và tiêu chuẩn lao động tối thiểu được tôn
trọng, là trung tâm để giải quyết các bất đồng, các tranh chấp phát sinh trong quá trình hoạt
động thương mại, kinh doanh quốc tế, thực hiện chức năng của trung tâm dàn xếp, thương lượng và thoả thuận các chính sách, quy định, quy tắc, luật chơi của thương mại, kinh doanh toàn cầu
1.1.2.1 Chức năng hoạt động của Tổ chức thương mại thế giới
Theo như Hiệp định Marrakesh về thành lập WTO, tổ chức này có năm chức năng cơ bản như sau:
Thống nhất quản lý việc thực hiện các hiệp định và thỏa thuận thương mại đa phương
và nhiều bên; giám sát, tạo thuận lợi, kể cả trợ giúp kỹ thuật cho các nước thành viên thực hiện nghĩa vụ thương mại quốc tế của họ
Là khuôn khổ thể chế để tiến hành các vòng đàm phán thương mại đa phương trong khuôn khổ WTO, theo quyết định của Hội nghị Bộ trưởng WTO
Là cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan đến việc thực hiện
và giải thích Hiệp định WTO và các hiệp định thương mại đa phương
Là cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại của các nước thành viên, bảo đảm thực hiện mục tiêu thúc đẩy tự do hóa thương mại và tuân thủ các quy định của WTO, Hiệp định thành lập WTO đã quy định một cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại áp dụng chung đối với tất cả thành viên
Thực hiện việc hợp tác với các tổ chức kinh tế quốc tế khác như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) trong việc hoạch định những chính sách và dự báo về
xu hướng phát triển tương lai của nền kinh tế toàn cầu
1.1.3 Thành viên WTO
Tính đến thời điểm ngày 26/6/2014 WTO có 160 thành viên Ngay từ khi thành lập (1995), WTO đã có 130 thành viên (nước và vùng lãnh thổ) Từ đó đến nay, WTO đã kết nạp thêm 30 thành viên, đưa tổng số thành viên lên 160 thành viên Có trụ sở chính ở Geneva Thụy Sỹ Điều XI Hiệp định thành lập WTO quy định vấn đề tư cách thành viên sáng lập WTO của những nước tham gia GATT và Cộng đồng Châu Âu và quy chế thành viên của các nước chậm phát triển nhất (LDCs) Tuy vậy, trong thực tiễn hoạt động của WTO, công việc của WTO được thực hiện bởi các đại diện của các nước thành viên mà hoạt động hàng ngày chủ yếu giải quyết các vấn đề công nghiệp và thương mại Các chính sách thương mại và vị thế thương thuyết lại được quyết định tại thủ đô của các nước thành viên
Trang 14với ý kiến tư vấn chủ yếu là của các doanh nghiệp khác nhau, các nhóm lợi ích kinh tế khác nhau và của người tiêu dùng Tuy vậy, một số vấn đề thương mại phức tạp nhất trong thực tiễn WTO chỉ có thể giải quyết được khi có sự dàn xếp đàm phán ổn thoả giữa bốn nước thành viên lớn nhất của WTO là Hoa kỳ, EU, Nhật bản và Canađa Bốn nước này thường có tên gọi là “Tứ trụ triều đình thương mại toàn cầu” hoặc Bộ tứ (“Quadrilaterals”/“Quad”) Phần lớn các nước đều có đại diện ngoại giao - thương mại tại Geneva (nơi đặt trụ sở của WTO), có nước có cả đại sứ đa biên tại WTO Các quan chức này làm việc nhiều với nhau
và với quan chức của Tổ chức WTO tại trụ sở WTO Đại diện Chính phủ hoặc chuyên viên các nước thành viên thường được phái đến trụ sở WTO để tham gia thương lượng, trao đổi ý kiến và giải trình quan điểm, chính sách nước mình về các vấn đề cụ thể liên quan đến hoạt động và cam kết ở WTO Do quá trình liên kết kinh tế - hải quan khu vực và toàn cầu nên đã xuất hiện trường hợp một số nước chỉ cử một đại diện chung cho nhóm nước mình tham gia tại WTO Chẳng hạn, EU có 15 (nay là 28) nước thành viên nhưng thường tham gia với tư cách là một đại diện chung (EC) cho quyền lợi của toàn EU tại hầu hết các cuộc họp của WTO ASEAN, NAFTA, SELA (Mỹ la tinh)…cũng thường tham gia với tư cách như vậy khi bàn đến các vấn đề liên quan tại WTO Một liên kết kinh tế được biết đến trong vòng đàm phán Uruguay có nhiều lợi ích tương đồng hơn là liên kết kinh tế khu vực, “Nhóm Cairns” đến nay bao gồm 18 nước ở các châu lục khác nhau mạnh về xuất khẩu nông sản, cũng đã cử đại diện cho tiếng nói chung của họ về tự do hoá thương mại nông sản.4
Bên cạnh đó, điều XII Hiệp định thành lập WTO quy định các vấn đề liên quan đến việc gia nhập WTO Theo quy định tại điều này, bất cứ quốc gia nào hoặc bất cứ lãnh thổ hải quan riêng biệt nào có quyền độc lập đầy đủ trong quan hệ ngoại thương và các vấn đề khác theo quy định của các hiệp định của WTO đều có thể trở thành thành viên gia nhập của WTO, theo các điều kiện thoả thuận giữa nước đó với WTO Tuy vậy, việc gia nhập đó phải được ít nhất là 2/3 tổng số thành viên WTO biểu quyết đồng ý tại Hội nghị Bộ trưởng hoặc Phiên họp Đại hội đồng WTO, sau khi đã trải qua các thủ tục gia nhập theo quy định của WTO Tất cả các nước có thể gia nhập WTO sau khi đàm phán thành công về việc gia nhập
tổ chức này trên cơ sở bảo đảm cân bằng giữa các quyền và nghĩa vụ thành viên liên quan Các thành viên mới gia nhập của WTO được hưởng những ưu đãi do các nước thành viên khác dành cho, được hưởng sự an toàn từ các quy tắc thương mại mang lại Đổi lại, các nước thành viên mới gia nhập này phải cam kết mở cửa thị trường và chấp thuận các quy tắc và
4
Bộ ngoại giao,Lịch sử ra đời, mục tiêu, nguyên tắc pháp lý, cơ cấu tổ chức và các hiệp định cơ bản của WTO, Nhà
xuất bản Hà nội-2006, tr.109
Trang 15nhượng bộ nhất định theo kết quả của các cuộc đàm phán đã được tiến hành để trở thành thành viên.5
1.1.4 Các nguyên tắc cơ bản của WTO
Các Hiệp định của WTO rất dài và phức tạp vì đó là những văn bản pháp lý quy định rất nhiều lĩnh vực hoạt động như: nông nghiệp, hàng dệt may, hoạt động ngân hàng, viễn thông, thị trường công, tiêu chuẩn công nghiệp, tính an toàn của sản phẩm, qui định liên quan đến an toàn vệ sinh thực phẩm, sở hữu trí tuệ, và còn rất nhiều lĩnh vực khác … Tuy nhiên, có một số nguyên tắc đơn giản và cơ bản làm kim chỉ nam của tất cả các lĩnh vực này
và trở thành nền tảng của hệ thống thương mại đa biên, bao gồm 5 nguyên tắc cơ bản sau:6
Nguyên tắc không phân biệt đối xử: gồm nguyên tắc tối huệ quốc và đối xử quốc gia
Theo điều khoản về “đãi ngộ tối huệ quốc” mỗi nước thành viên sẽ dành sự ưu đãi của mình đối với sản phẩm của các thành viên khác, không có nước nào dành lợi thế thương mại đặc biệt cho bất kỳ một nước nào khác hay phân biệt đối xử chống lại nước đó Tất cả đều trên cơ sở bình đẳng và chia sẻ lợi ích về mậu dịch trong mọi lĩnh vực Một loại hình chống phân biệt đối xử khác là “đối xử quốc gia” Loại hình này đòi hỏi khi hàng hóa thâm nhập vào một thị trường thì nó phải được đối xử không kém ưu đãi so với hàng hóa tương tự sản xuất trong nước Ngoài ra WTO còn đưa ra các điều khoản không phân biệt đối xử khác bao gồm các hiệp định, các quy tắc về xuất xứ, kiểm nghiệm hàng hóa trước khi giao hàng,
về biện pháp đầu tư liên quan về thương mại và về áp dụng các tiêu chuẩn vệ sinh và kiểm dịch
Có một số ngoại lệ trong nguyên tắc này như: các nước có thể thiết lập một hiệp định thương mại tự do áp dụng với những hàng hóa giao dịch trong một nhóm quốc gia, phân biệt với hàng bên ngoài nhóm
Thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán
Ðể thực thi được mục tiêu tự do hoá thương mại và đầu tư, mở cửa thị trường, thúc đẩy trao đổi, giao lưu, buôn bán hàng hoá, việc tất nhiên là phải cắt giảm thuế nhập khẩu, loại bỏ các hàng rào phi thuế quan (cấm, hạn chế, hạn ngạch, giấy phép )
5
Lịch sử ra đời, mục tiêu, nguyên tắc pháp lý của tổ chức thương mại thế giới http://www Mofahcm gov
.vn/vi/mofa/nr091019080134/nr091019085342/nr091019085619/nr091029021808/ns091029022045,[ truy cập ngày 08-2014]
31-6
Theo World Trade Organization, Những nguyên tắc cơ bản của WTO, báo điện tử Vnexpress,
http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/vi-mo/nhung-nguyen-tac-co-ban-cua-wto-2748492.html , [ngày truy cập
20-06-2014]
Trang 16Trên thực tế, lịch sử của GATT và sau này là WTO đã cho thấy đó chính là lịch sử của quá trình đàm phán cắt giảm thuế quan, rồi bao trùm cả đàm phán dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan, rồi dần dần mở rộng sang đàm phán cả những lĩnh vực mới như thương mại dịch vụ,
sở hữu trí tuệ
Dễ dự đoán nhờ cam kết, ràng buộc, ổn định và minh bạch:
Mục tiêu của nguyên tắc này là các nước thành viên có nghĩa vụ đảm bảo tính ổn định
và có thể dự báo trước được về các cơ chế, chính sách, quy định thương mại của mình nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, kinh doanh nước ngoài có thể hiểu, nắm bắt được
lộ trình thay đổi chính sách, nội dung các cam kết về thuế, phi thuế của nước chủ nhà để từ
đó doanh nghiệp có thể dễ dàng hoạch định kế hoạch kinh doanh, đầu tư của mình mà không
bị đột ngột thay đổi chính sách làm tổn hại tới kế hoạch kinh doanh của họ Ðây là nguyên
tắc quan trọng của WTO
Tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng hơn:
Ðể thực hiện được nguyên tắc này, WTO quy định trường hợp nào là cạnh tranh bình đẳng, trường hợp nào là không bình đẳng từ đó được phép hay không được phép áp dụng các biện pháp như trả đũa, tự vệ, chống bán phá giá
Trên thực tế, WTO tập trung vào thúc đẩy mục tiêu tự do hoá thương mại song trong rất nhiều trường hợp, WTO cũng cho phép duy trì những quy định về bảo hộ Do vậy, WTO đưa ra nguyên tắc này nhằm hạn chế tác động tiêu cực của các biện pháp cạnh tranh không bình đẳng như bán phá giá, trợ cấp hoặc các biện pháp bảo hộ khác
Dành cho các thành viên đang phát triển một số ưu đãi
Một số nước thành viên của WTO cũng có hỗ trợ tài chính cho các nước kém phát triển nhất.Các nước kém phát triển nhất được WTO quan tâm nhiều hơn Tất cả các hiệp định của WTO đều thừa nhận phải linh hoạt tối đa đối với các nước kém phát triển nhất Các nước thành viên phát triển hơn phải nỗ lực hơn nữa để giảm bớt các rào cản thương mại đối với các nước này Tại Hội nghị Singapo năm 1996, các bộ trưởng đã nhất trí về “Kế hoạch hành động vì các nước kém phát triển nhất” Bản Kế hoạch này đã nhấn mạnh đến hỗ trợ kỹ thuật cho các nước kém phát triển nhất nhằm giúp các nước này tham gia nhiều hơn vào hệ thống thương mại đa biên và tạo điều kiện cho hàng hoá các nước kém phát triển nhất được tiếp cận dễ dàng hơn với thị trường các nước Một năm sau, vào tháng 10-1997, Ngân hàng Thế giới, Trung tâm Thương mại quốc tế, Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển, Quỹ Tiền tệ quốc tế, WTO và Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc đã đưa ra một “Khuôn khổ thống nhất” về trợ giúp kỹ thuật cho các nước kém phát triển nhất Năm
Trang 172002, WTO thông qua chương trình dành cho các nước kém phát triển nhất có những điểm chính sau: nâng cao khả năng tiếp cận thị trường; tăng cường trợ giúp kỹ thuật; hỗ trợ các tổ chức đang nỗ lực giúp đa dạng hoá nền kinh tế của các nước kém phát triển nhất; hỗ trợ để các nước kém phát triển nhất có thể theo đuổi các chương trình đàm phán của WTO và đẩy nhanh tiến trình gia nhập WTO của những nước đang tiến hành đàm phán gia nhập
WTO đã đưa ra nguyên tắc này nhằm khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế ở các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi bằng cách dành cho những nước này những điều kiện đối xử đặc biệt và khác biệt để đảm bảo sự tham gia sâu rộng hơn của các nước này vào hệ thống thương mại đa biên
Các ưu đãi này được thể hiện thông qua việc cho phép các nước này một số quyền và không phải thực hiện một số quyền cũng như một số nghĩa vụ hoặc cho phép các nước này một thời gian linh động hơn trong việc thực hiện các hiệp định của WTO, cụ thể là thời gian quá độ thực hiện dài hơn để các nước này điều chỉnh chính sách của mình
1.1.5 Tổ chức và hoạt động của WTO
WTO được tổ chức và hoạt động bởi chính phủ của các nước thành viên Tất cả các quyết định quan trọng đều được xây dựng và thông qua bởi các Bộ trưởng (ít nhất họp một lần trong 2 năm) hoặc các quan chức các nước (họp thường xuyên ở Geneva) chủ yếu trên
cơ sở nguyên tắc đồng thuận (consensus) Cơ cấu tổ chức của WTO bao gồm các cơ quan chủ yếu sau:7
7
The wto, ”Understanding the wto”, Geneva 2008 pp.101-108
Trang 18Cả ba cơ quan này đều bao gồm các đại diện của tất cả các thành viên, báo cáo hoạt động cho Hội nghị Bộ trưởng
c) Các Hội đồng theo từng lĩnh vực thương mại lớn và các cơ quan khác
Đây là các cơ quan thuộc cấp độ thứ ba của WTO, sau Hội nghị Bộ trưởng và Đại hội đồng
Các Hội đồng theo từng lĩnh vực thương mại lớn và các cơ quan khác được tổ chức như sau:
Có ba Hội đồng lớn trực thuộc Đại hội đồng, mỗi Hội đồng chịu trách nhiệm về một
lĩnh vực thương mại lớn: Hội đồng thương mại hàng hoá (Hội đồng hàng hoá), Hội đồng thương mại dịch vụ (Hội đồng dịch vụ), Hội đồng các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hội đồng TRIPS) Các hội đồng này chịu trách nhiệm giám sát sự vận hành của các hiệp định đã ký kết của WTO theo từng lĩnh vực được phân công Các hội đồng cũng bao gồm đại diện của tất cả các thành viên WTO và cũng có các cơ quan bổ trợ
Các Cơ quan trực thuộc Đại hội đồng được gọi là các “Uỷ ban”, bao gồm đại diện
của tất cả các thành viên của WTO Thẩm quyền hoạt động của các cơ quan này hẹp hơn, phải báo cáo công tác ra trước Đại hội đồng Các uỷ ban này chủ yếu phụ trách các vấn đề sau: thương mại và môi trường; thương mại và phát triển; các thoả thuận thương mại khu vực; về cán cân hạn chế và cấm thanh toán; các vấn đề ngân sách, tài chính và hành chính Bên cạnh các uỷ ban này là các nhóm công tác về thương mại, nợ và tài chính; thương mại
và chuyển giao công nghệ; quan hệ giữa thương mại và đầu tư; thương mại và chính sách cạnh tranh và các Ban công tác về việc kết nạp thành viên mới Tại Hội nghị ở Singapo tháng 12-1996, các Bộ trưởng đã quyết định thành lập các nhóm công tác mới để theo dõi những vấn đề sau đây: chính sách đầu tư và chính sách cạnh tranh, minh bạch trong mua sắm chính phủ và thúc đẩy trao đổi
Các cơ quan trực thuộc khác phụ trách các lĩnh vực thuộc các hiệp định tuỳ nghi nhiều bên như hiệp định mua sắm chính phủ, mua bán máy bay dân dụng và uỷ ban về hiệp định công nghệ thông tin và có nhiệm vụ thường xuyên báo cáo với Đại hội đồng hoặc Hội
đồng hàng hoá về các hoạt động của mình
Có uỷ ban đàm phán thương mại trong phạm vi Chương trình Doha phát triển, phải báo cáo công tác ra trước Đại hội đồng
d) Các đơn vị cơ sở
Các đơn vị cơ sở là các cơ quan thuộc cấp độ thứ tư của WTO Mỗi Hội đồng cấp cao đều có các cơ quan bổ trợ Hội đồng hàng hoá có 11 uỷ ban phụ trách từng vấn đề khác
Trang 19nhau (nông nghiệp, tiếp cận thị trường, trợ cấp, các biện pháp chống bán phá giá ) Các uỷ ban này cũng bao gồm đại diện của tất cả các nước thành viên WTO Hội đồng hàng hoá cũng là cơ quan giám sát về dệt may, một cơ quan có Chủ tịch và 10 thành viên thực hiện các chức năng của mình trên danh nghĩa cá nhân, cũng là cơ quan giám sát các nhóm công tác thông báo (qua đó chính phủ các nước thông báo cho WTO về các chính sách hoặc biện pháp hiện hành hoặc mới đưa ra) và có Ban công tác về các doanh nghiệp thương mại nhà nước
Các cơ quan bổ trợ của Hội đồng dịch vụ có Uỷ ban về các vấn đề thương mại dịch
vụ tài chính và các cam kết đặc biệt Hội đồng dịch vụ còn có Ban công tác về pháp luật quốc gia về lĩnh vực này, Ban công tác về các quy tắc của GATT
Ở cấp độ Đại hội đồng, Cơ quan Giải quyết tranh chấp cũng có hai cơ quan bổ trợ, đó
là “ các Ban hội thẩm” (Panels ) phụ trách giải quyết các tranh chấp, bao gồm các chuyên gia có nhiệm vụ đưa ra các báo cáo về giải quyết các tranh chấp do các nước thành viên trình
và Cơ quan phúc thẩm (AB) chịu trách nhiệm xem xét theo thủ tục phúc thẩm các tranh chấp
do Ban hội thẩm giải quyết nhưng không được các bên tranh chấp chấp thuận
Ngoài ra, WTO còn có các cuộc gặp cấp trưởng các phái đoàn đại diện và các nhóm phái đoàn Rất hiếm khi các quyết định được đưa ra trong những cuộc họp chính thức của các cơ quan nói trên của WTO, và càng hiếm hơn nữa trong các cuộc họp của các hội đồng cấp cao Do các quyết định được thông qua theo nguyên tắc đồng thuận không có sự biểu quyết, nên việc tham khảo ý kiến không chính thức ở WTO đóng một vai trò quyết định trong việc đưa ra bất cứ giải pháp nào quyết định nào của Tổ chức quốc tế với nhiều thành phần đa dạng như WTO Bên cạnh đó, WTO còn có những cuộc họp không chính thức, ví dụ như các cuộc họp của trưởng các phái đoàn, ở đó lại một lần nữa, tất cả các thành viên của WTO lại có mặt
1.2 Khái quát chung về cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ của WTO
1.2.1 Cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO
Đối với một tổ chức lớn mạnh như WTO để quản lý tốt các mối quan hệ của các thành viên thì trước hết cần phải có một hệ thống văn bản điều chỉnh chặt chẽ bằng một cơ chế pháp lý phù hợp và chi tiết để giải quyết tranh chấp xảy ra trong mối quan hệ thương mại của các nước thành viên, đó là: Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp (DSU) - phụ lục 2 Hiệp định Marrakesh thành lập WTO.8 Hiệp định này
8
Giới thiệu cơ chế giải quyết tranh chấp, www.trungtamwto.vn/wto/gioi-thieu-co-che-giai-quyet-tranh-chap dieu-chinh-hoat-dong-giai-quyet-tranh-chap-trong,[ truy cập 19/09/2014]
Trang 20/van-ban-được lập tại Marrakesh ngày 15/4/1994 thành một bản duy nhất bằng tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha, mỗi bản có giá trị như nhau
Ngoài ra, cơ chế này còn có một số qui định riêng biệt trong các văn bản khác (được DSU viện dẫn đến) như:
Điều XXII và XXIII GATT 1947 (Điều 3.1 DSU)
Điều 64 TRIPS và Bản ghi nhớ về Quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp (DSU)
Các qui tắc và thủ tục chuyên biệt hoặc bổ sung về giải quyết tranh chấp tại các Hiệp định trong khuôn khổ WTO (Ví dụ: Điều 11.2 Hiệp định về các Biện pháp Kiểm dịch Thực vật; Điều 17.4 đến 17.7 GATT 1994…)
“Quyết định về các Thủ tục giải quyết tranh chấp đặc biệt” của GATT 1994: bao gồm các qui tắc áp dụng cho việc giải quyết các tranh chấp giữa một nước kém phát triển và một nước phát triển (Điều 3.12 DSU) và các thủ tục đặc biệt áp dụng cho tranh chấp có một bên
là nước kém phát triển nhất (Điều 2.4 DSU)
Cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO này là bắt buộc đối với tất cả các quốc gia thành viên theo đó mỗi thành viên có khiếu nại, tranh chấp với thành viên khác buộc phải đưa tranh chấp ra giải quyết bằng cơ chế này Quốc gia thành viên bị khiếu nại không có cơ hội lựa chọn nào khác là chấp nhận tham gia giải quyết tranh chấp theo các thủ tục của cơ chế này Đây chính là điểm tạo nên sự khác biệt cũng như hiệu quả hoạt động của cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO so với các cơ chế giải quyết các tranh chấp quốc tế đang tồn tại (thẩm quyền giải quyết của các cơ chế truyền thống không có tính bắt buộc mà phụ thuộc vào sự chấp thuận của các quốc gia liên quan)
1.2.2 Mục đích và ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp
1.2.2.1 Bảo đảm sự an toàn và tính dự báo trước cho hệ thống thương mại đa phương
Mục tiêu trọng tâm của hệ thống giải quyết tranh chấp WTO là bảo đảm sự an toàn và tính dự báo trước của hệ thống thương mại đa phương Mặc dù thương mại quốc tế được hiểu trong WTO như là dòng hàng hóa và dịch vụ lưu chuyển giữa các nước thành viên, nhưng nói chung, các chính phủ không trực tiếp tiến hành các hoạt động thương mại này mà
do các đối tác kinh tế tư nhân tiến hành Các đối tác tham gia thị trường này cần sự ổn định
Trang 21và tính dự báo trước trong các luật lệ, quy định, nguyên tắc điều chỉnh hoạt động thương mại của họ, đặc biệt là khi họ thực hiện thương mại trên cơ sở các giao dịch dài hạn.9
Vì thế, mục tiêu của DSU là bảo đảm có một hệ thống hoạt động trên cơ sở quy định pháp luật, tin cậy, hiệu quả và nhanh chóng để giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc
áp dụng các điều khoản của Hiệp định WTO Thông qua việc tăng cường nguyên tắc pháp quyền, hệ thống giải quyết tranh chấp làm cho hệ thống thương mại trở nên an toàn hơn và
có khả năng dự đoán trước Khi một thành viên cho là có sự không tuân thủ Hiệp định WTO thì hệ thống giải quyết tranh chấp sẽ đưa ra cách giải quyết tương đối nhanh chóng đối với vấn đề đó bằng một quyết định độc lập buộc phải thi hành ngay, và nếu thành viên thua kiện không chịu thi hành thì có thể sẽ bị trừng phạt thương mại tương xứng với hành vi vi phạm của quốc gia thua kiện
1.2.2.2 Bảo toàn các quyền và nghĩa vụ của các thành viên WTO
Khi một tranh chấp phát sinh khi một Thành viên WTO thông qua một biện pháp chính sách thương mại mà một hay nhiều thành viên khác coi là không phù hợp với nghĩa vụ theo Hiệp định WTO Trong trường hợp đó, bất kỳ thành viên nào cảm thấy bị thiệt hại thì đều được phép viện dẫn đến các điều khoản và thủ tục của hệ thống giải quyết tranh chấp để chính thức phản đối lại biện pháp đó Nếu các bên tranh chấp không thể đạt được một hoà giải thì bên khiếu kiện được bảo đảm giải quyết bằng một quy trình dựa trên nguyên tắc mà theo đó tính đúng đắn của đơn kiện sẽ được xem xét bởi một cơ quan độc lập (Ban hội thẩm hoặc Cơ quan Phúc thẩm) Nếu bên khiếu kiện thắng kiện thì kết quả mong muốn là có được việc bên bị kiện rút bỏ biện pháp bị coi là không phù hợp với Hiệp định WTO Bồi thường
và các biện pháp trả đũa chỉ là các biện pháp thứ yếu và có tính tạm thời đối với một sự vi phạm Hiệp định WTO.10
Hệ thống này cũng quan trọng đối với cả bên bị khiếu kiện để họ tự bảo vệ mình nếu
họ không đồng ý với lời cáo buộc của bên khiếu kiện Như vậy, hệ thống giải quyết tranh chấp cho phép có một cơ chế giải quyết tranh chấp mà nhờ đó các thành viên WTO có thể bảo đảm rằng các quyền của họ theo Hiệp định WTO được thực hiện Trong trường hợp này,
hệ thống giải quyết tranh chấp đóng vai trò bảo vệ quyền và nghĩa vụ của thành viên theo Hiệp định WTO Các quyết định của các cơ quan liên quan nhằm mục tiêu phản ánh và thực thi một cách đúng đắn các quyền và nghĩa vụ như được quy định tại Hiệp định WTO
Tổng cục trưởng Ngô Quý Việt, Sách cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và các tranh chấp về hàng rào kỹ thuật
trong thương mại, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, 2007 [trang 6-8]
Trang 221.2.2.3 Làm rõ quyền lợi và nghĩa vụ thông qua giải thích
Các điều khoản pháp lý thường được viết ra theo ngôn ngữ chung để có thể áp dụng chung và bao trùm một số lượng lớn các trường hợp, tình huống cụ thể Do đó, việc một số tình tiết nào đó có gây ra vi phạm quy định pháp luật được hàm chứa trong một điều khoản
cụ thể nào đó hay không là một câu hỏi mà không dễ gì có được câu trả lời Trong phần lớn các trường hợp, câu trả lời chỉ có thể được tìm thấy sau khi giải thích được các nội dung của quy định liên quan Thêm vào đó, các quy định pháp lý trong các hiệp định quốc tế thường thiếu sự rõ ràng bởi câu chữ của chúng là kết quả của sự thỏa hiệp sau các vòng đàm phán đa phương Tuy nhiên, DSU chỉ ra một cách rõ ràng rằng hệ thống giải quyết tranh chấp có mục tiêu làm rõ các quy định của Hiệp định WTO “phù hợp với những quy tắc về tập quán trong giải thích công pháp quốc tế”
Như vậy, DSU đã công nhận sự cần thiết phải làm rõ các quy định của WTO và yêu cầu bắt buộc rằng việc làm rõ này phải theo đúng quy tắc có tính tập quán về giải thích Thêm vào đó, điều 17.6 của DSU đã ngầm công nhận rằng các Ban hội thẩm được phép phát triển các giải thích pháp lý Do đó, “thẩm quyền duy nhất” theo Điều IX:2 của Hiệp định
WTO phải được hiểu là khả năng thông qua những giải thích “chính thức”, có hiệu lực chung đối với tất cả các thành viên WTO Điều này khác với các giải thích của các Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm là chỉ áp dụng cho các bên tranh chấp và cho một tranh chấp
cụ thể
Về phương pháp giải thích, DSU dẫn chiếu đến các “quy tắc về tập quán trong giải thích công pháp quốc tế (Điều 3.2 của DSU) Tuy nhiên, các quy tắc của pháp luật tập quán quốc tế thường không được viết thành văn bản, nhưng đã có một số công ước quốc tế pháp điển hóa một số quy tắc của pháp luật tập quán về giải thích điều ước quốc tế Đáng chú ý là các điều 31 (Quy định chung về giải thích); điều 32 (Phương tiện bổ sung cho giải thích) và điều 33 (Giải thích điều ước được chứng thực bằng hai hay nhiều ngôn ngữ) của Công ước Viên về Luật của điều ước hàm chứa nhiều quy tắc có tính tập quán về giải thích công pháp quốc tế
Do vậy, việc giải thích điều ước Hiệp định WTO cần được giải thích phù hợp với nghĩa thông thường của từ ngữ trong quy định liên quan, được cân nhắc trong bối cảnh của chúng và theo mục đích và đối tượng của hiệp định Nghĩa thông thường của một thuật ngữ trong một quy định cần được làm rõ trên cơ sở lời văn đơn thuần Những định nghĩa của thuật ngữ của này trong từ điển có thể sử dụng để trợ giúp cho mục tiêu đó “Bối cảnh” là nói đến các kết luận có thể được đưa ra trên các cơ sở, chẳng hạn như cấu trúc, nội dung hoặc thuật ngữ ở các điều khoản khác cùng trong hiệp định, đặc biệt là những điều khoản có
Trang 23trước và sau quy định cần giải thích “Đối tượng và mục đích” là nói đến mục đích rõ ràng hay ngụ ý của quy định liên quan hay cả hiệp định nói chung
Trên thực tế, Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm dường như dựa nhiều vào nghĩa thông thường và bối cảnh hơn là vào đối tượng và mục đích của các điều khoản cần giải thích Lịch sử đàm phán hiệp định chỉ là một công cụ thứ cấp bổ sung cho việc giải thích, công cụ này chỉ được sử dụng để khẳng định sự giải thích theo nghĩa thông thường, bối cảnh, đối tượng và mục đích hoặc nếu như kết quả giải thích có thể hiểu theo nhiều cách, mơ
hồ, rõ ràng là vô lý hoặc không hợp lý Một trong những hệ luận của các nguyên tắc giải thích là ý nghĩa và hiệu lực phải được đưa ra đối với tất cả các thuật ngữ của một hiệp định thay vì làm cho toàn bộ các phần của một hiệp định trở nên thừa và vô dụng.11
1.2.2.4 Giải pháp ưu tiên là “Thỏa thuận”
Mặc dù hệ thống giải quyết tranh chấp được sử dụng để bảo toàn các quyền của các thành viên bị xâm phạm và để làm rõ phạm vi các quyền và nghĩa vụ mà những quyền và nghĩa vụ này đã dần đạt được ở mức cao hơn về tính an toàn và dự báo trước, nhưng mục tiêu hàng đầu của hệ thống này không phải là để đưa ra các phán quyết hay để phát triển án
lệ Giống như các hệ thống pháp luật khác, nó ưu tiên giải quyết tranh chấp với mong muốn thông qua giải pháp được các bên tự dàn xếp, thỏa thuận và phù hợp với Hiệp định WTO Việc xét xử chỉ được sử dụng khi các bên không thể đưa ra được giải pháp này Với tư cách
là giai đoạn đầu tiên của mỗi tranh chấp, DSU yêu cầu các bên tham vấn chính thức đưa ra một khuôn khổ mà theo đó các bên tranh chấp phải ít nhất là cố gắng đàm phán để đạt được hòa giải Ngay cả khi vụ kiện đến giai đoạn xét xử, các bên vẫn có thể tự dàn xếp với nhau
và luôn được khuyến khích nỗ lực theo hướng này.12
1.2.2.5 Giải quyết tranh chấp nhanh chóng
Các cuộc tranh chấp trong WTO thường rất phức tạp cả về tình tiết và pháp lý Các bên thường đưa ra một số lượng đáng kể các số liệu và tài liệu liên quan đến biện pháp đang tranh chấp và họ cũng đưa ra những lý lẽ pháp lý rất cụ thể Các bên cần thời gian để chuẩn
bị những lý lẽ về thực tế và về pháp lý để trả lời cho những lập luận mà bên đối lập đưa ra Ban hội thẩm và/hoặc Cơ quan phúc thẩm được bổ nhiệm để giải quyết vấn đề sẽ cần phải xem xét tất cả các bằng chứng và lý lẽ, có thể phải nghe chuyên gia và đưa ra lập luận chi
11
Tổng cục trưởng Ngô Quý Việt, Sách cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và các tranh chấp về hàng rào kỹ thuật
trong thương mại, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, 2007 [trang 9]
12
Tổng cục trưởng Ngô Quý Việt, Sách cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và các tranh chấp về hàng rào kỹ thuật
trong thương mại, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, 2007 [trang 11]
Trang 24tiết để giúp đưa ra kết luận Nếu tính đến tất cả các khía cạnh này, hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO hoạt động tương đối nhanh và, trong mọi trường hợp, nhanh hơn nhiều so với các hệ thống tòa án của nước thành viên hoặc hệ thống tài phán quốc tế khác
Tuy nhiên, DSU nhấn mạnh rằng giải quyết tranh chấp nhanh chóng là rất quan trọng nếu WTO muốn hoạt động hiệu quả và sự cân bằng các quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên được duy trì DSU đưa ra các thủ tục tương đối cụ thể và thời gian tương ứng phải tuân thủ trong giải quyết tranh chấp Thủ tục cụ thể được đưa ra nhằm mục tiêu đạt hiệu quả, bao gồm cả quyền của bên khiếu kiện được đi tiếp theo các bước tố tụng với đơn khiếu kiện ngay cả khi không có sự đồng ý của bên bị khiếu kiện Nếu vụ kiện được xét xử thì nó có thể cần không quá 12 tháng để Ban hội thẩm đưa ra phán quyết và không quá 15 tháng trong trường hợp vụ kiện được phúc thẩm
1.2.2.6 Cấm quyết định đơn phương
Các thành viên WTO đã đồng ý sử dụng hệ thống đa phương để giải quyết các tranh chấp thương mại trong WTO của họ thay vì sử dụng đến hành động đơn phương Điều này
có nghĩa là tuân thủ các thủ tục đã được thống nhất và tôn trọng các phán quyết khi được đưa ra và không được đơn phương áp dụng pháp luật Nếu một thành viên khiếu kiện thành viên khác là đã vi phạm các quy tắc WTO và hành động một cách đơn phương là áp dụng biện pháp đối kháng thì có nghĩa thành viên đó cũng vi phạm nghĩa vụ Thành viên đó có thể lập luận rằng mình đã hành động đúng luật vì sự vi phạm của họ được lý giải với tư cách là biện pháp đối kháng với sự vi phạm trước đó của thành viên khác Tuy nhiên, nếu thành viên
bị khiếu kiện không đồng ý rằng biện pháp của họ là vi phạm nghĩa vụ của WTO thì họ cũng
sẽ không chấp nhận lý lẽ về biện pháp đối kháng mà thành viên khiếu kiện đưa ra Do vậy, thành viên bị khiếu kiện có thể cho rằng biện pháp đối kháng đó là bất hợp pháp và họ có lý
do chính đáng để áp dụng một biện pháp đối kháng để chống lại Bên khiếu kiện ban đầu dựa trên quan điểm pháp lý của mình có thể sẽ lại không đồng ý và tiếp tục đưa ra một biện pháp đối kháng khác Sự việc có thể gia tăng căng thẳng ngoài tầm kiểm soát và nếu như không có một bên rút lui thì nguy cơ hạn chế thương mại giữa các bên sẽ ngày càng leo thang và điều này có thể dẫn đến “chiến tranh thương mại”
Để ngăn chặn mâu thuẫn gia tăng như vậy, DSU yêu cầu bắt buộc sử dụng hệ thống
đa phương để giải quyết tranh chấp mà các thành viên WTO phải sử dụng khi họ muốn một thành viên khác sửa sai trong khuôn khổ Hiệp định WTO Điều này áp dụng đối với trường hợp một thành viên tin tưởng rằng thành viên khác đã vi phạm Hiệp định WTO, hoặc làm
Trang 25triệt tiêu, hoặc suy giảm các lợi ích theo các hiệp định WTO, hoặc làm cản trở việc đạt mục tiêu của một trong số các hiệp định.13
Trong các trường hợp như vậy, một thành viên không thể hành động dựa trên các quyết định đơn phương khi xảy ra một trong các tình huống trên mà chỉ có thể hành động sau khi đã sử dụng việc giải quyết tranh chấp theo các thủ tục và quy tắc của DSU Nếu thành viên khiếu nại được hành động gì thì họ đều chỉ có thể dựa trên các kết luận của Ban hội thẩm được thông qua hoặc báo cáo của Cơ quan phúc thẩm hoặc phán quyết của trọng tài
đã được thông qua Thành viên liên quan cũng phải tuân thủ các thủ tục được đề ra trong DSU đối với việc xác định về thời gian thực hiện và áp dụng các biện pháp trả đũa chỉ trên
cơ sở được phép của DSB
1.2.2.7 Tính chất bắt buộc
Một mục tiêu khá quan trọng của hệ thống giải quyết tranh chấp là có tính bắt buộc Tất cả các thành viên WTO đều phải tuân thủ nó bởi họ đã ký và phê chuẩn Hiệp định WTO như là cả gói cam kết chung mà DSU là một phần trong đó
Đối với tất cả các tranh chấp phát sinh trong khuôn khổ Hiệp định WTO DSU buộc tất cả các thành viên WTO phải tuân thủ hệ thống giải quyết tranh chấp Chính vì thế, không giống các hệ thống giải quyết tranh chấp quốc tế khác, các bên tranh chấp không cần thiết phải có một tuyên bố riêng hay thỏa thuận riêng về việc chấp nhận quyền tài phán của hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO Kết quả là từng thành viên WTO được bảo đảm quyền tiếp cận hệ thống giải quyết tranh chấp và không thành viên bị kiện nào có thể trốn tránh được quyền tài phán này Tuy vậy, việc chấp thuận quyền tài phán của hệ thống giải quyết tranh chấp đã được hàm chứa trong việc thành viên gia nhập vào WTO.14
1.2.3 Phạm vi điều chỉnh của hệ thống giải quyết tranh chấp
Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO áp dụng đối với tất cả các tranh chấp được đưa ra trong khuôn khổ các hiệp định của WTO được liệt kê trong Phụ lục I của DSU
Trong DSU, những hiệp định này được nhắc tới như là “các hiệp định điều chỉnh”, bản thân DSU và Hiệp định WTO (liên quan đến các điều I - XVI) cũng nằm trong số các
Trang 26hiệp định điều chỉnh Trong nhiều vụ kiện được đưa ra hệ thống giải quyết tranh chấp, bên khiếu kiện viện dẫn các điều khoản thuộc nhiều hiệp định điều chỉnh khác nhau
Những hiệp định được điều chỉnh cũng bao gồm các hiệp định được gọi là các hiệp định thương mại nhiều bên, nằm trong Phụ lục 4 của Hiệp định WTO (Phụ lục I của DSU) Các hiệp định này được gọi là “nhiều bên” để phân biệt với “đa phương” bởi không phải tất
cả các thành viên WTO đều ký kết chúng Tuy nhiên, việc áp dụng DSU đối với các hiệp định thương mại nhiều bên này phụ thuộc vào việc thông qua quyết định của các bên trong mỗi hiệp định về các điều kiện áp dụng DSU đối với từng hiệp định, bao gồm bất kỳ quy tắc hay thủ tục bổ sung đặc biệt nào.15
Đối với tất cả các hiệp định điều chỉnh, DSU cho phép có một hệ thống giải quyết tranh chấp thống nhất và chặt chẽ cho việc áp dụng chung Nó cũng kết thúc “GATT theo món” trước đó khi mà các hiệp định khác nhau thì không chỉ có số lượng các chữ ký khác nhau mà còn có các nguyên tắc giải quyết tranh chấp riêng biệt nhau nhưng trừ một số trường hợp ngoại lệ, DSU được áp dụng thống nhất đối với các tranh chấp trong khuôn khổ tất cả các hiệp định của WTO
1.2.4 Đối tượng tham gia vào hệ thống giải quyết tranh chấp
1.2.4.1 Các bên tranh chấp và bên thứ ba
Các bên tham gia vào hệ thống giải quyết tranh chấp là các quốc gia thành viên WTO
và tham gia với tư cách là các bên tranh chấp hoặc bên thứ ba Ban Thư ký WTO, các nước quan sát viên của WTO, các tổ chức quốc tế khác và các chính quyền địa phương và khu vực không được phép khởi kiện thủ tục giải quyết tranh chấp trong WTO
DSU gọi thành viên đưa ra tranh chấp là bên khởi kiện hoặc bên khiếu kiện, do vậy đối tượng còn lại có thể dùng là bên bị khiếu kiện hoặc bên bị kiện Không có thuật ngữ nào cho cụm từ “bên được đề nghị tham vấn” hay “bên được yêu cầu tham vấn”
Ngoài các bên trong tranh chấp,các chủ thể sau đây cũng có thể tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp: Tổng giám đốc; Ban thư ký; Trọng tài viên; các chuyên gia (cung cấp thông tin, tư vấn cho Ban hội thẩm) và các nhóm công tác chuyên biệt (nhóm giám sát hàng dệt may theo Hiệp định ATC, nhóm chuyên gia thường trực theo Hiệp định CSM, nhóm chuyên gia rà soát theo điều 13 DSU và điều 11.2 theo Hiệp định SPS…
15
Đối tượng tham gia vào hệ thống giải quyết tranh chấp, www.trungtamwto.vn giai-quyet-tranh-chap-trong, [ngày truy cập 22/10/2014]
Trang 27/doi-tuong-tham-gia-vao-he-thong-1.2.4.2 Các đối tượng phi chính phủ
Chỉ các chính phủ thành viên WTO mới có thể đưa tranh chấp nên các cá nhân hoặc công ty tư nhân không trực tiếp tiếp cận với hệ thống giải quyết tranh chấp, ngay cả khi họ chính là những người bị tác động tiêu cực trực tiếp (với tư cách là nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu) bởi các biện pháp bị cho là đã vi phạm Hiệp định WTO Điều này cũng áp dụng cho các tổ chức phi chính phủ khác có sự quan tâm chung tới vấn đề được xử lý trong hệ thống giải quyết tranh chấp (các tổ chức phi chính phủ thường được nhắc đến như các NGOs) và
họ cũng không thể khởi kiện theo các thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO.16
Tuy nhiên, có một ngoại lệ là các tổ chức này có thể gây ảnh hưởng hoặc thậm chí gây áp lực lên chính phủ của một thành viên WTO liên quan đến việc đưa ra tranh chấp Trên thực tế, nhiều thành viên WTO đã chính thức thông qua luật pháp trong nước mà theo
đó các bên tư nhân có thể đệ đơn lên chính phủ của họ đề nghị đưa tranh chấp ra WTO
1.2.4.3 Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO
Một đối tượng bắt buộc phải có trong giải quyết các vụ tranh chấp trong WTO là cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) của WTO có 2 cấp gồm Ban hội thẩm (Panel) và Cơ quan phúc thẩm (Appellate Body) DSB không trực tiếp tham gia vào quá trình xét xử tranh chấp
mà chỉ là nơi đưa ra quyết định chính trị trong giải quyết tranh chấp tại WTO Ban hội thẩm
và Cơ quan phúc thẩm giữ vai trò là các thiết chế pháp lý để đánh giá các khía cạnh pháp lý của vụ tranh chấp.17
Ban hội thẩm
Ban hội thẩm là một cơ chế adhoc, được DSB quyết định thành lập đối với từng nhiệm
vụ tranh chấp cụ thể và chấm dứt tồn tại sau khi đã thực hiện xong nhiệm vụ Nhiệm vụ của Ban hội thẩm là soạn thảo báo cáo để trình lên DSB xem xét thông qua Trong dự thảo báo cáo, Ban hội thẩm phải đưa ra các đánh giá khách quan về những vấn đề tranh chấp giữa các bên, gồm cả việc đánh giá khách quan các khía cạnh pháp lý của vụ tranh chấp, về khả năng
áp dụng và phù hợp với các hiệp định có liên quan và bất kỳ ý kiến nào khác nhằm giúp cho DSB trong việc đưa ra các khuyến nghị và quyết định Thành phần của một Ban hội thẩm thường bao gồm từ 3 đến 5 thành viên là những chuyên gia có năng lực và trình độ được lựa chọn từ danh sách các chuyên gia về WTO do ban Thư ký của WTO quản lý và cập nhật
Cơ quan giải quyết tranh chấp DSB
Cơ quan giải quyết tranh chấp wto,
http://legal.moit.gov.vn/default.aspx?page=news&do=detail&category_id=9&news_id=608 , [truy cập ngày 25/10/1014]
Trang 28DSB không phải là cơ quan độc lập nằm ngoài cơ cấu tổ chức chung của WTO mà thực chất cơ quan này chính là đại hội đồng của WTO, căn cứ vào khoản 3 Điều IV của Hiệp định thành lập WTO quy định: “Khi cần thiết Đại Hội đồng sẽ được triệu tập để đảm nhận phần trách nhiệm của Cơ quan Giải quyết tranh chấp được quy định tại Thoả thuận về các quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp” DSB bao gồm đại diện của tất cả các thành viên của WTO DSB có quyền thành lập Ban hội thẩm, thông qua các báo cáo của Ban hội thẩm
và của Cơ quan phúc thẩm, giám sát việc thi hành các quyết định, khuyến nghị giải quyết tranh chấp, cho phép đình chỉ thực hiện các nghĩa vụ và nhượng bộ hay trả đũa khi thành viên không tuân thủ phán quyết (Khoản 1 Điều 2 DSU) Tuy nhiên, DSB chỉ là cơ quan thông qua quyết định chứ không trực tiếp thực hiện việc xem xét giải quyết tranh chấp.18
Cơ quan Phúc thẩm
Cơ quan phúc thẩm cũng do DBS thành lập, nhưng khác với Ban hội thẩm, Cơ quan Phúc thẩm là một cơ quan thường trực Cơ quan Phúc thẩm gồm 07 thành viên là những người có kinh nghiệm, uy tín về pháp luật, thương mại quốc tế và không đại diện cho lợi ích của bất kỳ chính phủ nào Các thành viên của Cơ quan Phúc thẩm do DSB chỉ định với nhiệm kỳ 04 năm và có thể được gia hạn thêm một lần Thành viên của Cơ quan Phúc thẩm làm việc theo chế độ luân phiên, mỗi vụ việc sẽ do 3 thành viên tham gia xem xét Cơ quan phúc thẩm chỉ xem xét những vấn đề pháp lý và việc giải thích luật được đề cập trong báo cáo của Ban hội thẩm Sau khi xem xét, Cơ quan phúc thẩm có toàn quyền giữ nguyên, sửa đổi hay huỷ bỏ các kết luận pháp lý của Ban hội thẩm
1.2.5 Nguyên nhân dẫn đến tranh chấp và các căn cứ giải quyết tranh chấp theo WTO
1.2.5.1 Nguyên nhân dẫn đến tranh chấp
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tranh chấp trong quan hệ quốc tế của WTO, có thể
nói tranh chấp tồn tại như một thứ tất yếu trong các mối quan hệ kinh tế quốc tế cho dù hệ thống pháp luật hoàn chỉnh đến đâu đi chăng nữa Nhất là trong thời đại môi trường kinh doanh phức tạp như hiện nay thì nguy cơ xảy ra tranh chấp là không thể tránh khỏi, nó xuất hiện bởi nhiều lý do khác nhau, cả nguyên nhân chủ quan lẫn nguyên nhân khách quan.19Trong thực tế, trong quan hệ thương mại quốc tế đã xảy ra nhiều trường hợp làm phát sinh
tranh chấp, có thể tìm hiểu một số nguyên nhân dẫn đến tranh chấp sau:
Trang 29Pháp luật dù hoàn chỉnh đến đâu thì vẫn có khe hở pháp luật vì thế không thể bao quát hết tất cả các quan hệ có thể xảy ra.20
Một số nguyên nhân cụ thể như : do đã nhận tiền cọc trước nhưng không giao hàng vì một lý do nào đó hay vì mục đích lợi nhuận chẳng hạn Sau khi đã nhận tiền cọc của bên mua, bên bán hàng đã không giao hàng cho bên mua mà chiếm đoạt hoặc sử dụng số tiền đó vào mục đích khác, đến khi hết thời hạn thực hiện hợp đồng vẫn không tìm được hàng để giao cho bên mua
Do sự am hiểu về pháp luật còn hạn chế của các doanh nghiệp dẫn đến tình trạng không thể thực hiện tốt hợp đồng và vi phạm hợp đồng
Do sự khác nhau giữa các hệ thống pháp luật khác nhau dẫn đến sự không đồng nhất
về quan điểm pháp luật trong hợp đồng hoặc sau khi đã ký hợp đồng
Mặc khác, với xu hướng phát triển kinh tế hiện nay, một quan hệ quốc tế không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi riêng tư của công ty mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của lao động của công ty, thậm chí là ảnh hưởng nguồn thu ngân sách nhà nước hoặc đơn giản là vì chữ tính của doanh nghiệp mang tầm vóc quốc gia Chính vì vậy, tất cả các quốc gia đều có xu hướng bảo vệ, bảo hộ lợi ích của doanh nghiệp của quốc gia mang màu cờ sắc áo của chính mình
1.2.5.2 Các căn cứ giải quyết tranh chấp theo WTO
Tổ chức thương mại thế giới qua thời gian dài hoạt động đã giải quyết rất nhiều vụ tranh chấp và đã thực sự trở thành một cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả và đáng tin cậy
Để làm được điều này, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO phải giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng và chính xác dựa vào các căn cứ làm cơ sở để giải quyết vấn đề như phạm
vi điều chỉnh, chủ thể, nội dung và đối tượng tranh chấp Cụ thể dựa vào các căn cứ như sau:
Phạm vi điều chỉnh của WTO: khi gia nhập WTO đồng nghĩa với việc các nước thành viên phải tuân thủ những quy định ràng buộc mà WTO đặt ra, và WTO cũng chỉ có quyền giải quyết những tranh chấp trong phạm vi Hiệp định thành lập WTO và hiệp định các thỏa thuận khác của WTO Tóm lại phạm vi tranh chấp là các vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của các hiệp định đa phương, hiệp định nhiều bên ký kết trong khuôn khồ WTO.21 Bởi vì thế, phạm vi tranh chấp bao gồm các vấn đề thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ,
Trang 30quyền sở hữu trí tuệ, đầu tư nước ngoài, các nguyên tắc của hệ thống thương mại đa phương,…
Chủ thể : chủ thể tranh chấp phải là các quốc gia thành viên Sở dĩ chủ thể tranh chấp phải là các quốc gia thành viên của WTO vì quốc gia không phải là thành viên của WTO sẽ không phải thực hiện những quy định ràng buộc của WTO Còn đối với các quốc gia thành viên chính thức thì phải tuân theo những quy định của WTO trong đó có cả quy định về sự phán xét về các hành vi thương mại của quốc gia thành viên cũng như thừa nhận hiệu lực của các phán quyết đó Vì thế WTO chỉ có thể giải quyết các tranh chấp trong khuôn khổ của mình quản lý, nghĩa là giữa các nước thành viên với nhau, chứ không phải giữa một nước nước thành viên và một nước không phải là thành viên
Nội dung tranh chấp: WTO là tổ chức thương mại quốc tế bao gồm các thành viên là các quốc gia độc lập có chủ quyền, cùng nhau đàm phán, nhất trí thành lập thông qua việc ký kết các Hiệp định của WTO Các Hiệp định này quy định về quyền và nghĩa vụ và ràng buộc tránh nhiệm thực hiện của các quốc gia thành viên
Đối tượng tranh chấp: là những hành vi thương mại ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế nào
đó của một quốc gia, thông qua hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến hoạt động thương mại của một quốc gia, bằng nhiều nguyên nhân khác nhau như đã nêu ở trên, các hành vi này gây thiệt hại hoặc có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến nước thành viên khác và bị các quốc gia này khiếu nại lên WTO để giải quyết tranh chấp
Trang 31CHƯƠNG 2
CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI
(WTO) 2.1 Các cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO
Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ và nhanh chóng của các quan hệ kinh tế-thương mại quốc tế, cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ của tổ chức thương mại quốc tế cũng đã được thiết lập với mục đích lớn nhất là đảm bảo việc thực hiện đầy đủ nghiêm túc các qui định trong các Hiệp định của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới, ngăn chặn các biện pháp thương mại vi phạm các Hiệp định, góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu lớn của WTO Để quản lý tốt nhất các quan hệ ấy tất yếu phải cần có các cơ quan đứng ra tổ chức, giám sát hoạt động và điều hành quản lý Các chủ thể đó bao gồm: cơ quan giải quyết tranh chấp (Dispute Settlement Body-DSB); Tổng giám đốc và Ban thư ký WTO; Ban Hội Thẩm;
cơ quan phúc thẩm; trọng tài; Các chuyên gia và một số tổ chức chuyên môn
2.1.1 Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB)
DSB không phải là cơ quan độc lập nằm ngoài cơ cấu tổ chức chung của WTO mà thực chất cơ quan này chính là đại hội đồng của WTO, căn cứ vào khoản 3 Điều IV của Hiệp định thành lập WTO quy định: “Khi cần thiết Đại Hội đồng sẽ được triệu tập để đảm nhận phần trách nhiệm của Cơ quan Giải quyết tranh chấp được quy định tại Thoả thuận về các quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp” DSB bao gồm đại diện của tất cả các thành viên của WTO DSB có quyền thành lập Ban hội thẩm, thông qua các báo cáo của Ban hội thẩm
và của Cơ quan phúc thẩm, giám sát việc thi hành các quyết định, khuyến nghị giải quyết tranh chấp, cho phép đình chỉ thực hiện các nghĩa vụ và nhượng bộ hay trả đũa khi thành viên không tuân thủ phán quyết (Khoản 1 Điều 2 DSU) Tuy nhiên, DSB chỉ là cơ quan thông qua quyết định chứ không trực tiếp thực hiện việc xem xét giải quyết tranh chấp.22DSB họp khi cần thiết, nhằm tuân thủ thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 2 DSU Thông thường, DSB có một cuộc họp thường kỳ mỗi tháng Khi một Thành viên đề nghị họp, Tổng giám đốc WTO sẽ tổ chức thêm các cuộc họp đặc biệt Nhân viên Ban thư ký WTO hỗ trợ về mặt hành chính cho DSB (khoản 1 Điều 27 DSU) Việc ra quyết định trong DSB cũng tuân thủ các nguyên tắc chung về giải quyết tranh chấp nêu trên Quy định này được thể hiện tại các khoản 1 Điều 2, khoản 4 Điều 2, khoản 1 Điều 6, khoản 4 Điều 16, khoản 14 Điều 17, Khoản 6 Điều 22 của DSU Nội dung của các điều khoản trên đề cập tới các nguyên tắc đồng thuận, đồng thuận nghịch, được các bên chấp nhận…Các quyết định
22
Cơ quan giải quyết tranh chấp của wto, http://www.wto.org.>the wto [truy cập ngày 20.10.2014]
Trang 32của DSB được thông qua theo nguyên tắc đồng thuận phủ quyết Đây là một nguyên tắc mới theo đó một quyết định chỉ không được thông qua khi tất cả thành viên DSB bỏ phiếu không thông qua Điều này đồng nghĩa với việc các quyết định của DSB hầu như được thông qua tự động vì khó có thể tưởng tượng một quyết định có thể bị bỏ phiếu chống bởi tất cả các thành viên DSB Nguyên tắc này khắc phục được nhược điểm cơ bản của cơ chế giải quyết tranh chấp trong GATT 1947 nơi áp dụng nguyên tắc đồng thuận truyền thống - mọi quyết định chỉ được thông qua khi tất cả các thành viên bỏ phiếu thông qua (mỗi thành viên đều có quyền phủ quyết quyết định) – một rào cản trong việc thông qua các quyết định của cơ quan giải quyết tranh chấp
2.1.2 Cơ quan Phúc thẩm (SAB)
Cơ quan Phúc thẩm được thành lập vào năm 1995 theo Điều 17 của Bản Ghi nhớ về các Quy tắc và Thủ tục Giải quyết tranh chấp ( DSU ) Cơ quan phúc thẩm có thể giữ nguyên, sữa đổi hoặc đảo ngược những phát hiện và kết luận pháp lý của một bảng điều khiển, và cơ quan phúc thẩm Reports, một khi được thông qua bởi cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB), phải được chấp nhận bởi các bên tranh chấp Cơ quan Phúc thẩm có trụ sở tại Geneva, Thụy Sĩ
Giai đoạn xét xử phúc thẩm là giai đoạn thứ hai và cuối cùng trong hệ thống giải quyết tranh chấp mang tính xét xử theo DSU Không giống như Ban hội thẩm được thành lập theo từng vụ tranh chấp cụ thể sau khi có yêu cầu của bất kỳ bên tranh chấp và chấm dứt tồn tại sau khi tranh chấp đã được giải quyết, Cơ quan phúc thẩm được thành lập và duy trì hoạt động với tính chất là một cơ quan thường trực của DSB Nếu một bên tranh chấp gửi đơn kháng cáo đối với báo cáo của Ban hội thẩm thì Cơ quan phúc thẩm sẽ xem xét lại các vấn đề pháp lý bị kháng cáo và có thể giữ nguyên, sửa đổi hoặc quyết định ngược lại các ý kiến của Ban hội thẩm (khoản 13 Điều 17 DSU)
Cơ quan phúc thẩm gồm 7 người và mỗi vụ việc sẽ do 3 người xét xử (Ban phúc thẩm) (Điều 17 DSU) DSB thành lập Cơ quan phúc thẩm từ năm 1995 và đã chỉ định 7 Thành viên đầu tiên của Cơ quan phúc thẩm Việc chỉ định này dựa trên cơ sở đồng thuận (khoản 4 Điều 2 DSU), nhiệm kỳ 4 năm và mỗi người có thể được tái bổ nhiệm một lần (Điều 17 DSU) Nhiệm kỳ của 3 trong số 7 người được bổ nhiệm ngay sau khi Hiệp định WTO có hiệu lực sẽ hết hạn sau 2 năm Người được bổ nhiệm thay thế một người mà nhiệm
kỳ chưa hết có thể giữ vị trí đó trong thời gian nhiệm kỳ còn lại của người tiền nhiệm Như vậy, trung bình cứ 2 năm thì thay đổi một số Thành viên của Cơ quan phúc thẩm Việc quy định như vậy nhằm đảm bảo cho Cơ quan phúc thẩm luôn có sự luân phiên thay đổi giữa Thành viên cũ và Thành viên mới, duy trì được hoạt động bình thường của Cơ quan phúc