1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

pháp luật về hoạt động bao thanh toán của ngân hàng thương mại

85 473 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau khoảng 10 năm tham gia vào thị trường tài chính Việt Nam, BTT đã cho thấy những ưu thế của mình so với các công cụ tài chính khác, cụ thể là: Thứ nhất, với bên bán hàng hóa, cung ứn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Bộ môn: Luật Thương mại MSSV: 5116028

Lớp: Luật Thương Mại 2

Cần Thơ, tháng 12/2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA LUẬT

……

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

KHÓA 37 (2011-2015)

ĐỀ TÀI:

PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Bộ môn: Luật Thương mại MSSV: 5116028

Lớp: Luật Thương Mại 2

Cần Thơ, tháng 12/2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

*********

Vậy là bốn năm đại học cũng sắp trôi qua, giờ đây khi sắp hoàn thành Luận văn tốt nghiệp ra trường, người viết xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại học Cần thơ cùng tất cả quý Thầy, Cô Khoa Luật đã hết lòng dìu dắt, dạy bảo, để người viết có những kiến thức cơ bản nhất về Luật học cũng như những kỹ năng sống cần thiết làm hành trang bước vào đời

Đặc biệt, người viết xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Cô Lê

Huỳnh Phương Chinh đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ

người viết suốt quá trình nghiên cứu thời gian qua để hoàn thành bài Luận văn tốt nghiệp này

Nhân đây, con xin gửi lời cảm ơn đến Cha, mẹ – những người luôn là chổ dựa vững chắc và tạo mọi điều kiện cho con được học tập đến ngày hôm nay, cùng tất cả người thân, bạn bè đã động viên tinh thần giúp đỡ người viết trong suốt thời gian qua

Mặc dù có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu nhưng do nhiều điều kiện khách quan và kiến thức còn hạn chế nên chắc chắn Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Do vậy, người viết rất mong được sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến của quý Thầy, Cô

Một lần nữa, người viết xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý Thầy, Cô nhiều sức khỏe, luôn thành công trong công việc và cuộc sống

Cần Thơ, ngày… Tháng… năm 2014

Người viết

Lê Trí Thức

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN



………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN



………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục luận văn 2

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển hoạt động bao thanh toán 4

1.1.1 Lịch sử hình thành hoạt động bao thanh toán trên thế giới 4

1.1.2 Quá trình phát triển quy định pháp luật của Việt Nam về hoạt động bao thanh toán 5

1.2 Khái niệm hoạt động bao thanh toán 6

1.2.1 Theo Công ước Unidroit về bao thanh toán quốc tế 1988 (Công ước OTAWA năm 1988) 6

1.2.2 Theo Hiệp hội bao thanh toán quốc tế (FCI) 7

1.2.3 Theo quy định của pháp luật Việt Nam 7

1.3 Phân loại các hoạt động bao thanh toán 11

1.3.1 Phân loại theo phạm vi thực hiện 11

1.3.1.1 Bao thanh toán trong nước 12

1.3.1.2 Bao thanh toán quốc tế 13

1.3.2 Phân loại theo tính chất hoàn trả của các khoản nợ 13

1.3.2.1 Bao thanh toán có quyền truy đòi 13

1.3.2.2 Bao thanh toán không có quyền truy đòi 13

1.3.3 Phân loại theo phương thức bao thanh toán 14

1.3.3.1 Bao thanh toán từng lần 14

1.3.3.2 Bao thanh toán theo hạn mức 15

1.3.3.3 Đồng bao thanh toán 15

1.4 Phân biệt bao thanh toán với một số hình thức cấp tín dụng khác của ngân hàng thương mại 16

Trang 8

1.4.2 Phân biệt bao thanh toán và chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có

giá khác 19

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 22

2.1 Quy định pháp luật về chủ thể của quan hệ bao thanh toán 22

2.1.1 Bên bao thanh toán 22

2.1.1.1 Quy định pháp luật về điều kiện để được thực hiện hoạt động bao thanh toán 22

2.1.1.2 Quyền của bên bao thanh toán 28

2.1.1.3 Nghĩa vụ của bên bao thanh toán 30

2.1.2 Bên được bao thanh toán 31

2.1.2.1 Điều kiện chủ thể của bên được bao thanh toán 31

2.1.2.2 Quyền và nghĩa vụ của bên được bao thanh toán 33

2.1.3 Quyền và nghĩa vụ của bên thứ ba – bên mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ 34 2.2 Quy định pháp luật về đối tượng của hoạt động bao thanh toán 36

2.2.1 Các khoản phải thu được bao thanh toán 36

2.2.2 Các khoản phải trả được bao thanh toán 38

2.3 Nguyên tắc thực hiện hoạt động bao thanh toán của ngân hàng thương mại 39

2.4 Quy định pháp luật về quy trình thực hiện bao thanh toán của ngân hàng thương mại 41

2.4.1 Quy trình thực hiện bao thanh toán trong nước 41

2.4.2 Quy trình thực hiện bao thanh toán quốc tế 45

2.5 Quy định pháp luật về lãi, phí trong hoạt động bao thanh toán của ngân hàng thương mại 48

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN Ở CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN 51

3.1 Thực trạng về hoạt động bao thanh toán ở các ngân hàng thương mại hiện nay 51

3.1.1 Thực trạng chung về doanh thu từ hoạt động bao thanh toán ở các ngân hàng thương mại Việt Nam 51

Trang 9

Nam 52

3.1.3 Một số khó khăn khi thực hiện hoạt động bao thanh toán của ngân hàng thương mại 55

3.1.3.1 Khung pháp lý còn nhiều bất cập 55

3.1.3.2 Những hạn chế từ phía bên bao thanh toán 58

3.1.3.3 Những khó khăn tồn tại từ phía các doanh nghiệp 59

3.2 Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động bao thanh toán tại Việt Nam 60

3.2.1 Hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động bao thanh toán 60

3.2.2 Nâng cao chất lượng hệ thống thông tin tín dụng 62

3.2.3 Nâng cao nhận thức về sự cần thiết phải phát triển hoạt động bao thanh toán 63

3.2.4 Mở rộng các mối quan hệ đại lý và đa dạng hóa sản phẩm bao thanh toán của các ngân hàng thương mại 63

3.2.5 Các ngân hàng thương mại nên thành lập phòng, bộ phận chuyên trách thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán 65

3.2.6 Kiến nghị thành lập Hiệp hội bao thanh toán Việt Nam 65

KẾT LUẬN 67 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 10

LỜI NÓI ĐẦU

……

1 Lý do chọn đề tài

Trong các hoạt động ngân hàng của NHTM, ngoài hai hoạt động chủ yếu và được thực hiện thường xuyên là nhận tiền gửi và cấp tín dụng dưới hình thức cho vay, thì BTT được xem là một hoạt động tương đối mới mẽ nhưng mang lại nhiều lợi ích, tạo nên lợi thế cho NHTM trong bối cảnh thị trường tài chính đầy sức cạnh tranh như hiện nay BTT được chính thức triển khai tại các NHTM vào đầu năm 2005, ngay sau khi

có Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN về ban hành Quy chế hoạt động BTT Sau khoảng 10 năm tham gia vào thị trường tài chính Việt Nam, BTT

đã cho thấy những ưu thế của mình so với các công cụ tài chính khác, cụ thể là: Thứ

nhất, với bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ sẽ giải quyết nhu cầu vốn sớm hơn trong

các hợp đồng bán hàng trả chậm, qua đó giảm tỷ lệ nợ khó đòi và rủi ro không thanh toán từ bên mua hàng, tiết kiệm thời gian, chi phí quản lý sổ sách, từ đó nhanh chóng

tạo lợi thế kinh doanh trên thị trường; thứ hai, với bên mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ

sẽ được tài trợ vốn ứng trước cho việc mua hàng chả chậm, không cần tốn nhiều thời

gian và chi phí cho thủ tục mở L/C trong các hợp đồng nhập khẩu; thứ ba, với đơn vị

BTT, việc thực hiện BTT sẽ góp phần đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, tăng doanh thu,

có điều kiện để thẩm định và mở rộng khách hàng, mở rộng quan hệ đại lý ngoài nước với việc thực hiện hợp đồng BTT quốc tế Tuy nhiên, thực tế sau khoảng thời gian BTT được triển khai hoạt động thì hoạt động này đã bộc lộ nhiều bất cập mà nguyên nhân chủ yếu là do những thiếu sót từ quy định pháp luật, bên cạnh đó là các NHTM còn luôn ưu tiên cho các hoạt động truyền thống mà chưa có sự quan tâm thích đáng cho hình thức cấp tín dụng còn mới này và tâm lý còn e dè sử dụng dịch vụ BTT của các doanh nghiệp

Từ thực tế trên, đòi hỏi cần có một khung pháp luật hoàn chỉnh hơn quy định rõ ràng về hoạt động BTT Có như vậy, các NHTM sẽ yên tâm và vững chắc về mặt pháp

lý hơn trong việc thực hiện các hợp đồng BTT với khách hàng, qua đó không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ BTT Chính điều này sẽ giúp các doanh nghiệp có điều kiện tiếp xúc nhiều và hiểu rõ hơn về những lợi ích mà BTT mang lại Qua đó, tạo điều kiện cho hoạt động BTT ngày càng phát huy thế mạnh trong thị trường tài chính

Trang 11

Xuất phát từ những lý do trên, người viết đã chọn đề tài: “Pháp luật về hoạt động

bao thanh toán của ngân hàng thương mại” làm đề tài nghiên cứu của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở tìm hiểu những quy định của pháp luật về hoạt động BTT của NHTM

để từ đó có thể thấy được những bất cập còn tồn tại khi thực tế triển khai hoạt động này tại Việt Nam Qua đó, đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, khắc phục khó khăn cho NHTM khi thực hiện BTT, tạo điều kiện cho BTT được mở rộng và phát triển trong thị trường tài chính của Việt Nam

3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu trong phạm vi khái niệm về BTT theo thông lệ quốc tế

và khái niệm BTT theo pháp luật Việt Nam hiện hành Người viết tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật điều chỉnh trực tiếp về hoạt động BTT, các văn bản pháp luật có liên quan cho việc giải thích về khái niệm, về điều kiện chủ thể, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ BTT; quy định về đối tượng, nguyên tắc của hoạt động BTT; quy trình thực hiện BTT và các quy định về lãi, phí trong hoạt động BTT

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết đã sử dụng các phương pháp như: phương pháp phân tích luật viết để phân tích, nhìn nhận, đánh giá vấn đề theo khía cạnh pháp luật; phương pháp so sánh giữa hoạt động BTT với các hình thức cấp tín dụng khác; phương pháp phân tích số liệu thống kê và để tạo sự dễ dàng cho người đọc, người viết còn sử dụng các phương pháp tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, đối chiếu

để phân tích, chứng minh, giải thích vấn đề Tùy vào từng trường hợp cụ thể mà áp dụng phương pháp phù hợp để hiểu rõ từng vấn đề trong luận văn

Trang 12

Chương 2: Quy định pháp luật về hoạt động bao thanh toán của ngân hàng thương mại Nội dung chương này, người viết trình bày những quy định pháp luật

điều chỉnh về điều kiện chủ thể, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ BTT, đối tượng, nguyên tắc của hoạt động BTT, quy trình thực hiện BTT cũng như các quy định về lãi và phí trong hợp đồng BTT giữa các bên

Chương 3: Thực trạng hoạt động bao thanh toán ở các ngân hàng thương mại và một số định hướng hoàn thiện Đây là chương mà người viết sẽ trình bày về

thực trạng hoạt động BTT của NHTM, những khó khăn mà NHTM gặp phải khi thực hiện BTT, trong đó có một phần đến từ bất cập từ những quy định pháp luật hiện hành Qua đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, khắc phục khó khăn và góp phần đưa BTT phát triển tại các NHTM của Việt Nam

Trang 13

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Ở chương này, người viết tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản của hoạt động BTT để từ đó làm cơ sở cho việc tiếp tục tìm hiểu ở các chương sau Bao gồm các vấn đề về lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động BTT, khái niệm và giới thiệu một số hình thức BTT thông qua việc phân loại các hoạt động BTT Trên cơ sở

đó, người viết cũng trình bày việc phân biệt BTT với một số loại hình cấp tín dụng khác để làm rõ hơn bản chất của hoạt động này

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển hoạt động bao thanh toán

1.1.1 Lịch sử hình thành hoạt động bao thanh toán trên thế giới

Sự phát triển đầu tiên của BTT được ghi nhận tại Mỹ từ thể kỷ XVIII Thời gian này, bông, da và gỗ được sản xuất tại Mỹ và đưa về châu Âu Nếu các thương nhân của Mỹ muốn sử dụng dịch vụ ngân hàng hiện đại của thế kỷ này, họ phải đệ trình hồ

sơ đến ngân hàng và chờ ngân hàng thu được tiền từ người mua ở châu Âu trước khi trả tiền cho họ Quá trình này rất mất thời gian và không hữu ích đối với các bên liên quan Vì vậy, các chủ ngân hàng ở châu Âu đã ứng trước cho những thương nhân Mỹ dựa trên các khoản phải trả của khách hàng và ngân hàng sẽ đứng ra thu hộ các khoản thu này Điều này giúp các thương nhân Mỹ tiếp tục thu mua hàng hóa mà không phải chịu gánh nặng từ việc chờ tiền thanh toán từ các khách hàng ở châu Âu Nước Mỹ cũng là nơi phát minh ra rất nhiều công cụ tài chính, từ thế kỷ 19, các hoạt động BTT

đã diễn ra khá sôi động trong ngành dệt may.1

Tuy nhiên, hoạt động BTT chỉ trở thành một loại hình dịch vụ tài chính phổ biến

ở nhiều quốc gia kể từ những năm 1960 và cũng trong khoảng thời gian này, Hiệp hội BTT quốc tế (Factor Chain International_FCI) đã được thành lập (1968) Đồng thời với quá trình này, nhiều nổ lực nhằm tập hợp và thống nhất các nguyên tắc, tập quán, luật lệ chung cho hoạt động BTT đã được thực hiện Công ước UNIDROIT về BTT quốc tế năm 1988 (hay còn gọi là Công ước Ottawa năm 1988), Luật mẫu của Uncitral

về chuyển nhượng các khoản phải thu, các quy định chung của Hiệp hội BTT quốc tế

1

Đặng Thị Nhàn, Cẩm nang về nghiệp vụ BTT factoring và forfaiting trong tài trợ thương mại quốc tế, NXB

Thống kê, năm 2007, trang 16-17

Trang 14

ngày càng có ảnh hưởng sâu rộng đến mọi khía cạnh pháp lý của quan hệ BTT Với sự phát triển của mình, BTT được xem như là một giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và trở thành một nghiệp vụ mang lại hiệu quả kinh doanh cao trong các ngân hàng tại nhiều quốc gia trên thế giới

1.1.2 Quá trình phát triển quy định pháp luật của Việt Nam về hoạt động bao thanh toán

Ở Việt Nam, nghiệp vụ BTT bắt đầu xuất hiện từ năm 1990 nhưng chưa có điều

kiện phát triển Hoạt động BTT đã từng được các TCTD thực hiện nhưng chủ yếu dưới

hình thức của một hợp đồng tín dụng do pháp luật ngân hàng chưa có quy định cụ thể

về hoạt động này, trong khi lại bắt buộc cho vay trên cơ sở có bảo đảm bằng tài sản Điều đó khiến các TCTD còn dè dặt với loại hình này Để tạo khung pháp lý cho hoạt động BTT nhằm đa dạng hóa các hình thức cấp tín dụng, tuân thủ cam kết của Việt Nam về hoạt động BTT trong Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ, đặc biệt sau khi có Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các TCTD năm 2004, cho phép TCTD được tự quyết định cho vay hay cấp tín dụng nói chung trên cơ sở có bảo đảm hay không có bảo đảm bằng tài sản Tháng 9/2004, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ký ban hành Quyết định số 1096/2004QĐ-NHNN về Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng (sau đây gọi tắt là Quy chế hoạt động BTT) Quyết định này có ý nghĩa như là một bước mở đường cho sự phát triển của nghiệp vụ BTT tại Việt Nam.2

Vào thời điểm cuối năm 2004, đầu năm 2005 diễn ra rất nhiều cuộc hội thảo, báo cáo và quảng bá về dịch vụ này như hội thảo về BTT do ngân hàng FENB của Mỹ tổ chức vào ngày 23/9/2004 nhằm giới thiệu và vận động tham gia cung cấp dịch vụ của một số ngân hàng TMCP (Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB), Ngân hàng TMCP

Á Châu (ACB), Ngân hàng TMCP Kỹ thương (Techcombank)…) Hội thảo về BTT tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 07/3/2005 với sự tham dự của đại diện các NHTM tại Việt Nam và các đại diện của Hiệp hội BTT quốc tế.3

Mặc dù vậy, BTT vẫn chưa được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp trong hoạt động phát triển kinh doanh của mình mà một trong những nguyên nhân là sự thiếu sót từ những quy định của pháp luật Với tình hình trên, cùng với sự phát triển của các giao dịch kinh tế và xu

2

http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/02/08/93525/

3 http://bantinsom.com/bts1524/Bao-thanh-toan-factoring-mot-hinh-thuc-tin-dung-moi-tai-Viet-Nam.html

Trang 15

hướng đa dạng hóa công cụ tài chính diễn ra trong thời gian qua mà vì thế, Quyết định 30/2008/QĐ-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế hoạt động BTT (ban hành kèm theo Quyết định 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004 của NHNN) được ban hành Quyết định này như là một bước tiến mới từ quy định pháp luật nhằm tạo điều kiện cho BTT có thể khẳng định vị thế của mình là một công cụ tài chính đắc lực của nền kinh tế Sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động BTT đòi hỏi cần có một văn bản pháp lý cao hơn điều chỉnh hoạt động này, để cụ thể hóa điều đó thì khái niệm BTT được chính thức ghi nhận tại Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (có hiệu lực ngày 01/01/2011) Từ những bước tiến mới của quy định pháp luật về hoạt động BTT, có thể thấy tương lai phát triển nghiệp vụ này, đặc biệt đối với các NHTM, là không hề nhỏ bởi nhu cầu ngày càng lớn của khách hàng, sự cần thiết đa dạng hóa các loại hình dịch vụ của NHTM và cũng như Việt Nam được đánh giá là một thị trường tiềm năng

để phát triển BTT

1.2 Khái niệm hoạt động bao thanh toán

Thuật ngữ BTT thường được mô tả là việc chuyển nhượng các khoản phải thu thương mại của người bán cho tổ chức BTT Nhưng với lịch sử lâu đời nên định nghĩa

Theo Công ước này thì đơn vị BTT chỉ tài trợ cho nhà cung ứng (bên bán hàng) bằng cách mua lại các khoản nợ ngắn hạn dựa trên hợp đồng BTT, theo đó bên bán hàng hóa sẽ chuyển giao cho bên BTT các khoản phải thu phát sinh từ các hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa bên bán và bên mua (con nợ), trừ các hợp đồng nhằm

4 Công ước được soạn thảo bởi Ủy ban Luật thống nhất quốc tế và hiện có khoảng hơn 70 nước tham gia

Trang 16

mục đích tiêu dùng cho cá nhân, hộ gia đình và đơn vị BTT có được quyền thu nợ tiền hàng từ người mua một cách hợp pháp Theo đó, quan hệ giữa đơn vị BTT và người mua hàng trở thành quan hệ giữa chủ nợ và con nợ Bên mua hàng phải được thông báo chính thức bằng văn bản về việc khoản phải thu đã được BTT

1.2.2 Theo Hiệp hội bao thanh toán quốc tế (FCI)

Theo Hiệp hội BTT quốc tế, BTT là một loại hình dịch vụ tài chính trọn gói bao gồm sự kết hợp giữa tài trợ vốn hoạt động, bảo hiểm rủi ro tín dụng, theo dõi các khoản phải thu và dịch vụ thu hộ Đó là một sự thỏa thuận giữa nhà cung cấp dịch vụ BTT với người cung ứng hàng hóa dịch vụ hay còn gọi là người bán hàng trong quan

hệ mua bán hàng hóa Theo như thỏa thuận, đơn vị BTT sẽ mua lại các khoản phải thu của người bán (thường là không truy đòi) dựa trên khả năng trả nợ của người mua trong quan hệ mua bán hàng hóa hay còn gọi là con nợ trong quan hệ tín dụng Xét về nội dung thì đây có thể xem là hoạt động mua bán quyền đòi nợ Như vậy nếu là trường hợp áp dụng điều kiện có truy đòi thì nó trở thành tài trợ tín dụng.5

Tuy có những điểm khác nhau về định nghĩa BTT giữa Công ước Unidroit 1988

và Hiệp hội BTT quốc tế nhưng chúng cũng có điểm thống nhất rằng: BTT là một hình thức cung cấp cho người bán ba yếu tố dịch vụ rất quan trọng: tài trợ vốn lưu động, thu

nợ tiền thanh toán từ người mua hàng và đảm bảo rủi ro không thanh toán Theo đó, người bán chuyển nhượng các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho tổ chức BTT Khi thực hiện hai dịch vụ đầu tiên thì quan hệ giữa người BTT và người được BTT là quan hệ tài trợ cho vay và nếu người BTT cam kết gánh chịu rủi ro do không thu được nợ thì mối quan hệ này là mua bán nợ

1.2.3 Theo quy định của pháp luật Việt Nam

Pháp luật Việt Nam ghi nhận BTT với tư cách là một nghiệp vụ tài chính lần đầu tiên tại Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004 của Thống đốc NHNN ban hành Quy chế hoạt động BTT Theo Điều 2 của Quy chế nói trên thì BTT được

định nghĩa chính thức như sau: “Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của tổ

chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh

từ việc mua, bán hàng hoá đã được bên bán hàng và bên mua hàng thoả thuận trong hợp đồng mua, bán hàng.”

5 Nguyễn Minh Kiều, Nghiệp vụ ngân hàng, NXB Thống kê, năm 2006, trang 262-263

Trang 17

Từ quy định trên, có thể thấy hoạt động BTT ở Việt Nam có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất, BTT là một hình thức cấp tín dụng ngắn hạn của TCTD Khi thực hiện

quan hệ BTT, TCTD ứng trước cho khách hàng của mình một khoản tiền nhất định theo như thỏa thuận và được hoàn trả bằng khoản phải thu trong hợp đồng mua bán hàng hóa mà khách hàng này đã xác lập trước đó với một chủ thể khác Khoản tiền

ứng trước này sẽ thấp hơn giá trị thực tế của các khoản phải thu Như thế, “nguyên tắc hoàn trả” có thể được đảm bảo Thông thường chỉ những khoản phải thu có thời hạn

không quá 180 ngày mới được chấp nhận BTT.6

Từ đặc điểm này có thể thấy, so với

Công ước Ottawa năm 1988, hoạt động BTT ở Việt Nam bắt buộc phải gắn với chức năng tài trợ tín dụng, các nghiệp vụ quản lý sổ sách, quản lý thu nợ không được coi là một chức năng độc lập trong BTT, đơn vị thực hiện BTT cũng chỉ có thể là TCTD và phải tuân thủ các điều kiện, thủ tục và các hạn chế để bảo đảm an toàn được quy định trong Luật các TCTD Tuy nhiên, phải thấy rằng khái niệm BTT theo quy định trên và

việc quy định “Bên mua hàng: là tổ chức được nhận hàng hoá từ bên bán hàng và có

nghĩa vụ thanh toán các khoản phải thu quy định tại hợp đồng mua, bán hàng” 7 là

chưa đủ, chỉ dừng lại đối với khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hóa, không đề cập đến khoản phải thu phát sinh từ việc cung ứng dịch vụ trên cơ sở hợp đồng giao kết giữa bên cung ứng và bên mua Pháp luật các quốc gia có hoạt động BTT phát triển cũng như Điều 2 Công ước của Liên hợp quốc về chuyển nhượng khoản phải thu năm 2001 đều không có sự phân biệt này Khoản 2 Điều 1 Công ước Ottawa về BTT quốc tế năm 1988 tuy chỉ đề cập đến khoản phải thu phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa nhưng khoản 3 Điều này lại đề cập khái niệm “hàng hóa” và

“mua bán hàng hóa” ở đây bao gồm cả dịch vụ và cung ứng dịch vụ Bên cạnh đó, Quy chế BTT không đề cập đến “khoản phải thu trong tương lai”, tức là khoản phải thu sẽ hình thành khi ngườibán chuyển giao hàng hoá, dịch vụ cho người mua theo hợp đồng

đã giao kết Ngoài ra, quy trình hoạt động bao thanh toán theo Điều 13 của Quy chế này cho thấy đơn vị bao thanh toán chỉ có thể chuyển tiền ứng trước cho bên bán hàng sau khi khoản phải thu theo hợp đồng mua bán hàng hóa đã tồn tại Điều này sẽ hạn

6 Khoản 5 Điều 19 Quy chế hoạt động BTT của các TCTD ban hành kèm theo Quyết định số NHNN ngày 06/9/2004 được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN ngày 16/10/2008 của Thống đốc NHNN

1096/2004/QĐ-7

Khoản 6 Điều 4 Quy chế hoạt động BTT của các TCTD ban hành kèm theo Quyết định số NHNN ngày 06/9/2004

Trang 18

1096/2004/QĐ-chế hoạt động bao thanh toán ở Việt Nam bởi vì theo thông lệ, hoạt động bao thanh toán bao gồm việc mua lại các khoản phải thu đang tồn tại hay khoản phải thu trong tương lai miễn là khoản phải thu này có thể xác định,8

và đơn vị bao thanh toán có thể chuyển tiền cho bên bán vào bất cứ lúc nào sau khi hợp đồng bao thanh toán được giao kết căn cứ vào quy định cụ thể của hợp đồng này

Thứ hai, hoạt động BTT dựa trên quan hệ về mua bán quyền tài sản là quyền

đòi nợ Đây là dấu hiệu để phân biệt hoạt động BTT với các hình thức cấp tín dụng khác Do quyền đòi nợ là một loại tài sản được xác định từ một giao dịch thương mại

cụ thể nên khi thực hiện hoạt động BTT, tổ chức BTT phải tiến hành phân tích toàn diện và trực tiếp các giao dịch làm phát sinh các khoản phải thu, tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của cả bên bán và bên mua hàng Bên bán hàng phải chuyển giao toàn bộ chứng từ và các giấy tờ khác liên quan đến giao dịch mua, bán để xác lập

và chuyển quyền đòi nợ cho bên BTT. 9

Tuy có sự khác biệt so với khái niệm BTT của các nước nhưng sự ra đời của Quyết định số 1096/2004QĐ-NHNN bước đầu đã tạo động lực thúc đẩy các TCTD triển khai và phát triển dịch vụ BTT Và để phù hợp hơn với quan niệm về BTT quốc

tế, ngày 16 tháng 10 năm 2008, NHNN đã ban hành Quyết định số 30/2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế hoạt động BTT của các TCTD ban hành theo Quyết định số 1096/2004QĐ-NHNN Theo quyết định này thì khái niệm BTT được hiểu là: Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ đã được bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và bên mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ thoả thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa, cung

ứng dịch vụ Quyết định trên cho thấy hoạt động BTT đã được mở rộng hơn, bao gồm

cả Mua bán hàng hóa và Cung ứng dịch vụ

Đến khi Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 có hiệu lực thì cũng có một nội dung đề cập đến hoạt động BTT, theo đó:“Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa,

Trang 19

cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ” 10 Rõ ràng,

quy định trên cho thấy, hoạt động BTT đã có những thay đổi cơ bản và thể hiện ở một

số vấn đề sau:

Thứ nhất, BTT không còn chỉ dừng lại là hình thức cấp tín dụng của các TCTD

dành riêng cho bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (sau đây gọi tắt là bên bán) mà nó còn là một hình thức cấp tín dụng cho bên mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ (sau đây gọi tắt là bên mua) Trước đây, các TCTD chỉ ứng trước cho bên bán một khoản tiền nhất định để đổi lấy quyền đòi nợ từ bên mua Qua đó, giúp bên bán có được nguồn vốn kịp thời để tiếp tục hoạt động sản xuất, kinh doanh mà không phải đối mặt với việc chậm trễ thanh toán của bên mua Với quy định trên thì bên mua cũng có thể được các TCTD cấp cho mình một khoản tài chính nhất định để kịp thời giải quyết các khoản nợ sắp đến hạn từ bên bán Với việc quy định cho các TCTD có thể cấp tín dụng đồng thời cho bên bán lẫn bên mua như vậy, nó giúp các TCTD có thể tìm kiếm nhiều hơn

từ những nguồn lợi từ hình thức cấp tín dụng này

Thứ hai, một điểm tương đối mới từ quy định trên là thuật ngữ “có bảo lưu quyền

truy đòi” được đưa vào khái niệm BTT tại Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 Điều

mà các quy định trước đó, cụ thể là khái niệm BTT tại Quy chế hoạt động BTT không

đề cập đến, tuy nhiên nó vẫn được nhắc đến tại Điều 11 của Quy chế trên Theo đó,

“quyền truy đòi” được hiểu là quyền đòi lại số tiền đã ứng trước khi bên có nghĩa vụ không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ11 Cũng giống như các nghiệp vụ ngân hàng khác, hoạt động BTT của các TCTD luôn tiềm ẩn những rủi ro, nhất là khi khách hàng trì hoãn hoặc mất khả năng thanh toán nên việc nhắc đến vấn đề có bảo lưu quyền truy đòi tại khái niệm BTT của Luật các tổ chức tín dụng 2010 là rất cần thiết Điều đó nhắc nhở các TCTD khi tiến hành BTT cần phải cẩn trọng hơn trong việc thẩm định khách hàng để có nên ký hợp đồng BTT với khách hàng hay không, cũng như là nên hay không nên áp dụng biện pháp “có bảo lưu quyền truy đòi” Có được quyền truy đòi đồng thời cũng giúp cho các TCTD được an tâm hơn khi thực hiện hoạt động BTT

vì sẽ được đảm bảo khả năng thu hồi nợ khi khách hàng không có khả năng chi trả các khoản nợ, góp phần bảo đảm an toàn cho hệ thống các TCTD

Trang 20

Thứ ba, với việc cấp tín dụng cho bên bán lẫn bên mua đồng nghĩa với việc

TCTD cũng sẽ mua lại “các khoản phải thu” và “các khoản phải trả” phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ giữa bên bán và bên mua Theo đó, các khoản phải thu – một loại tài sản của doanh nghiệp, là khoản tiền bên bán phải thu từ bên mua theo hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ12

Tương tự vậy, các khoản phải trả là tài sản nợ của doanh nghiệp, được tính dựa trên các khoản nợ, các giao dịch chưa thanh toán hoặc bất cứ nghĩa vụ tiền tệ liên quan trực tiếp đến hợp đồng Việc TCTD mua lại các khoản phải thu là mua lại “quyền đòi nợ” từ người bán với giá trị thấp hơn giá trị thực tế của hợp đồng Còn việc mua lại các khoản phải trả, theo người viết thì TCTD sẽ thay mặt bên mua trả trước cho bên bán khoản nợ mà bên mua mắc phải theo hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dựa trên uy tín của bên mua và lợi nhuận mà TCTD sẽ nhận được Sau đó sẽ được bên mua trả lại vốn, có thể lẫn lãi tùy theo thỏa thuận giữa hai bên (hoạt động này tương đối giống với hoạt động bảo lãnh ngân hàng của TCTD, còn đối với bên mua nó giống như hoạt động vay tín dụng)

Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng tất cả đều cho thấy bản chất của hoạt động BTT là sự chuyển nhượng quyền đòi nợ Khoản nợ từ bên mua (con nợ) sẽ được chuyển từ bên bán (chủ nợ cũ) sang đơn vị BTT (chủ nợ mới) sau một hợp đồng khác Hoạt động này không làm ảnh hưởng đến nội dung giao dịch thương mại của bên bán và bên mua, ngoại trừ quyền đòi nợ và tiếp nhận sự thanh toán được chuyển sang cho tổ chức mua nợ

1.3 Phân loại các hoạt động bao thanh toán

Hoạt động BTT hiện nay tương đối đa dạng về hình thức và chúng được phân loại theo nhiều cách khác nhau Theo quy định của pháp luật Việt Nam cũng như thực

tế tồn tại của hoạt động này, BTT được phân loại thành từng nhóm dựa trên một số tiêu chí nhất định như sau:

1.3.1 Phân loại theo phạm vi thực hiện

Căn cứ vào phạm vi thực hiện, BTT được chia thành hai loại: BTT trong nước và BTT quốc tế

12 Khoản 10 Điều 4 Quy chế hoạt động BTT của các TCTD ban hành kèm theo Quyết định số NHNN ngày 06/9/2004 được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN ngày 16/10/2008 của Thống đốc NHNN

Trang 21

1096/2004/QĐ-1.3.1.1 Bao thanh toán trong nước

BTT trong nước (hay còn gọi là BTT nội địa) là việc BTT dựa trên hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, trong đó bên bán và bên mua là người cư trú theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.13 Đây là hình thức tài trợ tín dụng thường dành cho các doanh nghiệp trong nước, trong đó đơn vị BTT, là các TCTD, sẽ đứng ra mua lại các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán để trở thành chủ nợ trực tiếp đứng ra đòi nợ người mua hàng, đồng thời cung cấp dịch vụ quản lý sổ sách của khách hàng Hình thức BTT này sẽ dựa trên cơ sở là hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ giữa bên bán và bên mua Theo đó, hợp đồng này được hiểu là thỏa thuận bằng văn bản giữa bên bán và bên mua về việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo quy định của pháp luật, trong đó bên mua chưa đến hạn phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán14 Với hình thức BTT nội địa, hoạt động BTT chỉ diễn ra giới hạn trong biên giới

một quốc gia cho nên cả bên bán lẫn bên mua ở đây đều phải “là người cư trú theo

quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối” Theo đó, “người cư trú” là tổ chức, cá

nhân thuộc các đối tượng: TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập, hoạt động tại Việt Nam theo quy định của Luật các TCTD; tổ chức kinh tế không phải

là TCTD được thành lập, hoạt động kinh doanh tại Việt Nam; cơ quan nhà nước, đơn

vị lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện của Việt Nam hoạt động tại Việt Nam; văn phòng đại diện tại nước ngoài của các

tổ chức trên; cơ quan đại diện về ngoại giao, về lãnh sự, về tổ chức quốc tế của Việt Nam ở nước ngoài;…15, có thể thấy đối tượng được tham gia vào hoạt động này tương đối đa dạng

Loại hình hoạt động BTT này được thực hiện khá thuận lợi vì nó chỉ diễn ra trong một quốc gia Do đó, các đơn vị BTT có thể thường xuyên theo dõi và kiểm tra khách hàng cũng như các khoản phải thu một cách dễ dàng

Trang 22

1.3.1.2 Bao thanh toán quốc tế

BTT quốc tế (hay BTT xuất – nhập khẩu) là việc BTT dựa trên hợp đồng xuất –

nhập khẩu Nhắc đến hợp đồng xuất – nhập khẩu thì đó là hình thức mua bán hàng hóa

có yếu tố nước ngoài nên có thể suy ra hoạt động BTT trên sẽ liên quan đến hai hay nhiều quốc gia khác nhau dẫn đến việc xuất hiện cả hai đơn vị BTT là đơn vị BTT xuất khẩu và đơn vị BTT nhập khẩu Theo đó, đơn vị BTT xuất khẩu là tổ chức sẽ tiến hành BTT cho bên bán là bên xuất khẩu trong hợp đồng xuất – nhập khẩu, còn đơn vị BTT nhập khẩu là đơn vị được phép hoạt động BTT tham gia vào quy trình BTT xuất – nhập khẩu16

Nói ngắn gọn, đây là nghiệp vụ mà đơn vị BTT cung cấp cho nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu ở hai quốc gia khác nhau có hoạt động mua bán vượt qua biên giới của một quốc gia Với hình thức này thì có sự tham gia của hệ thống hai tổ chức BTT, một đơn vị tại nước nhà xuất khẩu và một tại nước nhà nhập khẩu

1.3.2 Phân loại theo tính chất hoàn trả của các khoản nợ

Căn cứ vào tiêu chí tính chất hoàn trả của các khoản nợ, BTT được chia thành: BTT có quyền truy đòi và BTT không có quyền truy đòi

1.3.2.1 Bao thanh toán có quyền truy đòi

Theo Điểm a Khoản 1 Điều 11 Quy chế hoạt động BTT của các TCTD ban hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định 30/2008/QĐ-NHNN thì BTT có quyền truy đòi được hiểu là loại hình BTT mà đơn vị BTT có quyền đòi lại số tiền đã ứng trước cho bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ khi bên mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán các khoản phải thu Theo hình thức này, đơn vị BTT sẽ cấp cho bên bán một khoản tiền theo hợp đồng BTT đồng thời sẽ là quyền đòi lại số tiền đó khi bên mua không còn khả năng thanh toán Vì vậy, giúp cho đơn vị BTT giảm thiểu rủi ro khi không thu hồi được nợ, đồng thời rủi ro đó sẽ được chuyển trở lại cho bên bán đúng với bản chất của một hợp đồng mua bán thông thường

1.3.2.2 Bao thanh toán không có quyền truy đòi

Một loại hình BTT khác mang lại nhiều rủi ro hơn cho đơn vị BTT là BTT không

có quyền truy đòi Quy định tại Điểm b khoản 1 Điều 11 Quy chế hoạt động BTT của

16

Khoản 3,4,5 Điều 4 Quy chế hoạt động BTT của các TCTD ban hành kèm theo Quyết định số NHNN ngày 06/9/2004 được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN ngày 16/10/2008

Trang 23

1096/2004/QĐ-các TCTD ban hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định 30/2008/QĐ-NHNN cho thấy, BTT không có quyền truy đòi là hình thức BTT mà đơn vị BTT sẽ chịu toàn bộ rủi ro khi bên mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khoản phải thu Đơn vị BTT chỉ có quyền đòi lại số tiền đã ứng trước cho bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trong trường hợp bên mua từ chối thanh toán khoản phải thu do bên bán giao hàng hóa, cung cấp dịch vụ không đúng như thỏa thuận tại hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ hoặc vì một lý do khác không liên quan đến khả năng thanh toán của bên mua

Hình thức BTT này đòi hỏi các đơn vị BTT khi triển khai thực hiện cần thẩm định kỹ càng các thông tin về khách hàng của mình, hoặc là dựa trên độ tin cậy về mối quan hệ tín dụng sẵn có giữa hai bên Do những rủi ro mà BTT không có quyền truy đòi có thể gặp phải, cùng với việc bỏ ra nhiều hơn chi phí để thẩm định, đánh giá khách hàng nên các TCTD thường áp dụng mức phí và lãi suất khi thực hiện phương thức này cao hơn so với BTT có quyền truy đòi

1.3.3 Phân loại theo phương thức bao thanh toán

Có nhiều cách thức để thực hiện hoạt động BTT nhưng theo pháp luật Việt Nam,

cụ thể là tại Điều 12 Quy chế hoạt động BTT của các TCTD ban hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định 30/2008/QĐ-NHNN, thì có 3 phương thức BTT như sau:

1.3.3.1 Bao thanh toán từng lần

BTT từng lần là phương thức BTT mà đơn vị BTT và bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thực hiện các thủ tục cần thiết và ký hợp đồng BTT đối với các khoản phải thu của bên bán (theo Khoản 1 Điều 12 của Quy chế BTT nêu trên) Theo phương thức này, với mỗi lần phát sinh các khoản phải thu thì giữa bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và đơn vị BTT sẽ thực hiện các thủ tục và ký hợp đồng BTT, dĩ nhiên việc cấp tín dụng sẽ không vượt quá giá trị của các khoản phải thu đó Phương thức này thường áp dụng cho khách hàng trong hợp đồng mua bán hàng hóa sử dụng hình thức giao hàng từng lần, nó giúp bên bán nhanh chóng thu lại nguồn vốn, giảm thiểu rủi ro thu hồi nợ thay vì phải đợi cho đến lần giao hàng cuối cùng mới nhận được tiền còn đơn vị BTT cũng sẽ không phải cùng lúc cấp một khoản tín dụng lớn cho bên bán Tuy

Trang 24

nhiên, khi sử dụng phương thức này, các bên trong hợp đồng BTT sẽ tốn nhiều chi phí

và thời gian do phải làm thủ tục nhiều lần

1.3.3.2 Bao thanh toán theo hạn mức

BTT theo hạn mức là phương thức BTT mà đơn vị BTT và bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thỏa thuận và xác định một hạn mức BTT duy trì trong một khoảng thời gian nhất định (theo Khoản 2 Điều 12 của Quy chế BTT nêu trên) Trong BTT theo hạn mức thì đơn vị BTT và bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ sẽ thỏa thuận

một hạn mức BTT Theo đó, hạn mức BTT được hiểu là “tổng số dư tối đa của các

khoản phải thu được bao thanh toán trong một khoản thời gian nhất định” 17 và hạn mức này được duy trì trong thời gian đã thỏa thuận Trong thời gian đó, nghiệp vụ BTT được tự động thực hiện mà không cần thiết phải ký kết các hợp đồng BTT theo từng thương vụ Thực chất, đơn vị BTT đã quản lý toàn diện các khoản phải thu của khách hàng Nhìn chung, so với phương thức BTT từng lần thì khi sử dụng phương thức BTT theo hạn mức, các bên sẽ tiết kiệm hơn thời gian và chi phí do không phải làm thủ tục BTT nhiều lần Tuy nhiên, phương thức này phần nào làm giảm tính chủ động của các bên trong việc thỏa thuận hạn mức cấp tín dụng trong mỗi lần phát sinh khoản phải thu

1.3.3.3 Đồng bao thanh toán

Đồng BTT là hai hay nhiều đơn vị BTT cùng thực hiện hoạt động BTT cho một hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, trong đó một đơn vị BTT làm đầu mối thực hiện việc tổ chức đồng BTT (theo Khoản 3 Điều 12 của Quy chế BTT nêu trên) Điểm khác biệt của phương thức này so với hai phương thức nêu trên là có sự xuất hiện của ít nhất hai đơn vị BTT cùng thực hiện BTT cho một hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Tuy nhiên, về trình tự và thủ tục để ký kết hợp đồng BTT giữa các bên vẫn không phức tạp lắm do chỉ có một đơn vị BTT làm đầu mối đứng ra tổ chức thực hiện BTT Rõ ràng, phương thức này cho thấy khả năng đảm bảo hơn về vốn cho bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ khi mà có nhiều đơn vị BTT lại chỉ BTT cho một khoản phải thu Đồng thời giúp các đơn vị BTT đa dạng hóa khách hàng của mình hơn khi mà gánh nặng cấp tín dụng cho từng khách hàng được san sẽ cho nhiều đơn vị BTT khác

17

Khoản 11 Điều 4 Quy chế hoạt động BTT của các TCTD ban hành kèm theo Quyết định số NHNN ngày 06/9/2004 được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN ngày 16/10/2008

Trang 25

1096/2004/QĐ-Nhìn chung, mỗi phương thức BTT đều có những ưu điểm và hạn chế của riêng mình, tuy nhiên nó góp phần làm đa dạng hóa các loại hình BTT, tạo ra nhiều sự lựa chọn hơn cho các bên khi tiến hành BTT nhằm chọn ra phương thức nào sẽ phù hợp hơn và đem lại nhiều lợi ích cho mình nhất Đồng thời, các loại hình BTT trên sẽ bổ sung vào danh mục các sản phẩm dịch vụ mang lại hiệu quả kinh doanh cao của các NHTM – một tổ chức hoạt động mà lợi nhuận là tiêu chí được đặt lên hàng đầu

1.4 Phân biệt bao thanh toán với một số hình thức cấp tín dụng khác của ngân hàng thương mại

1.4.1 Phân biệt bao thanh toán và bảo lãnh ngân hàng

Bảo lãnh được hiểu đơn giản là hành vi của một chủ thể tự nguyện cam kết bảo đảm bằng uy tín hoặc tài sản của mình cho nghĩa vụ của người khác.Trong thực tiễn đời sống, giao dịch bảo lãnh có thể được thực hiện bởi một tổ chức, cá nhân vì nhu cầu dân sự, song cũng có thể được thực hiện một cách thường xuyên, chuyên nghiệp bởi những tổ chức kinh doanh như các ngân hàng, như một hành vi thương mại Hoạt động mang tính chất chuyên nghiệp như vậy của một ngân hàng được gọi là bảo lãnh ngân hàng Vậy dưới góc độ pháp lý, bảo lãnh ngân hàng được quan niệm như thế nào? Khoản 18 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã định nghĩa bảo lãnh

ngân hàng “là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận

bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận.”

Như vậy, các bên liên quan trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng của NHTM là:

- Bên bảo lãnh: NHTM thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh

- Bên được bảo lãnh: tổ chức, cá nhân là người cư trú và tổ chức là người không

cư trú được NHTM bảo lãnh

- Bên nhận bảo lãnh: tổ chức, cá nhân là người cư trú hoặc người không cư trú có quyền thụ hưởng bảo lãnh do NHTM phát hành.18

18

Khoản 2,3,4 Điều 3 Thông tư số 28/2012/TT-NHNN ngày 03 tháng 10 năm 2012 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Quy định về bảo lãnh ngân hàng

Trang 26

-

(1) (2)

(3)

Sơ đồ 1.1: Quan hệ giữa các bên trong quy trình bảo lãnh

(1): Hợp đồng cấp bảo lãnh (ký kết giữa NHTM với khách hàng được bảo lãnh) (2): Hợp đồng bảo lãnh (ký kết giữa NHTM với bên nhận bảo lãnh)

(3): Nghĩa vụ tài sản cần được bảo đảm (phát sinh giữa khách hàng được bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh)

Một loại hình bảo lãnh ngân hàng rất gần với hình thức BTT đó là bảo lãnh thanh toán Theo Khoản 1 Điều 13 Thông tư số 28/2012/TT-NHNN ngày 03 tháng 10 năm

2012 của NHNN Việt Nam Quy định về bảo lãnh ngân hàng thì “Bảo lãnh thanh toán

là cam kết của bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của mình khi đến hạn.” Qua định nghĩa trên có thể thấy giữa hình thức này và BTT có nhiều nét tương đồng, cụ thể:

- Đều là những hình thức cấp tín dụng, một nghiệp vụ của các NHTM được thực hiện bằng kỹ thuật chuyên môn nghiệp vụ nhằm đảm bảo sự an toàn cho các đồng vốn mình bỏ ra khi chấp nhận đóng vai trò người sẽ trả các khoản nợ tài chính của khách hàng

- Đều gắn liền với một giao dịch cụ thể giữa hai chủ thể: người bán – người thụ hưởng và người mua – người có nghĩa vụ thanh toán

- Đều là những công cụ mang tính chất tài trợ Nhu cầu về vốn đối với hoạt động kinh tế là một vấn đề cấp thiết, đặc biệt là trong hợp đồng có giá trị lớn, thời gian kéo dài thì khả năng về vốn càng trở nên bức thiết Khi đó, sự xuất hiện của BTT và bảo lãnh ngân hàng mà cụ thể là bảo lãnh thanh toán là một sự hỗ trợ rất lớn

- Khi BTT được thực hiện dưới dạng mua lại các khoản phải trả, người mua phải nhận nợ và hoàn trả lại số tiền mà đơn vị BTT đã thực hiện chi trả thay cho mình,

Bên bảo lãnh (NHTM)

Bên được bảo lãnh Bên nhận bảo lãnh

Trang 27

giống như bảo lãnh thanh toán khi thực hiện nghĩa vụ thay cho khách hàng và được khách hàng hoàn trả theo thỏa thuận

Cả hai hoạt động BTT và bảo lãnh thanh toán đều có cùng bản chất là cung cấp cho khách hàng một khoản tín dụng nhất định Song, với những đặc trưng riêng của mình BTT và bảo lãnh thanh toán vẫn có những điểm khác biệt cơ bản:

Thứ nhất, điểm khác nhau dể nhận thấy ở hai nghiệp vụ này là thời điểm cấp tín

dụng Nghiệp vụ BTT cấp tín dụng cho khách hàng khi các khoản nợ vẫn chưa đến hạn thanh toán, còn đối với bảo lãnh thanh toán, NHTM sẽ thực hiện việc trả thay cho khách hàng khi các khoản nợ đã đến hạn thanh toán mà người mua không có khả năng chi trả

Thứ hai, BTT và bảo lãnh thanh toán còn khác nhau về chủ thể được cấp tín

dụng Đối tượng của bảo lãnh thanh toán là người mua, người có nghĩa vụ trả tiền trong giao dịch thương mại còn đối tượng của BTT được quy định trong Luật các tổ

chức tín dụng 2010 là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng

Thứ ba, mức tài trợ của hai hình thức cấp tín dụng này cũng có điểm khác nhau

Đơn vị BTT khi mua lại các khoản nợ thì thường với mức giá thấp hơn giá trị của khoản nợ đó Lợi nhuận phát sinh từ lãi suất theo thời gian còn lại của khoản tài trợ và phí BTT Ngược lại, với bảo lãnh thanh toán, khi thực hiện chi trả cho bên có quyền, NHTM thông thường phải chấp nhận số tiền là toàn bộ giá trị hợp đồng và được hưởng phí bảo lãnh

Thứ tư, sự khác biệt giữa BTT và bảo lãnh thanh toán còn thể hiện ở quan hệ hợp

đồng khi thực hiện nghĩa vụ Mặc dù ở hai hình thức cấp tín dụng trên đều tồn tại ít nhất ba chủ thể: NHTM, bên bán (bên có quyền), bên mua (bên có nghĩa vụ thanh toán) nhưng về quan hệ hợp đồng thì có sự khác nhau Trong bảo lãnh thanh toán thường tồn tại hai mối quan hệ bảo lãnh là hợp đồng cấp bảo lãnh và hợp đồng bảo lãnh như đã trình bày ở phần trên Còn đối với BTT, chỉ tồn tại hợp đồng BTT giữa NHTM (bên tài trợ) và bên bán hoặc bên mua (bên được tài trợ) Bên được tài trợ tiếp

đó chỉ việc thực hiện thông báo cho bên còn lại trong hợp đồng thương mại mà không cần phải ký thêm một hợp đồng nào khác

Thứ năm, về khả năng bảo hiểm đối với rủi ro, NHTM mặc nhiên có quyền truy

đòi người mua, bên có nghĩa vụ thanh toán các khoản phải trả cho người bán khi thực

Trang 28

hiện bảo lãnh thanh toán Còn đối với hoạt động BTT, NHTM có thể truy đòi hoặc không, tùy thuộc vào đây là hợp đồng BTT có quyền truy đòi hay miễn truy đòi

Trên đây là một số điểm để phân biệt BTT và bảo lãnh ngân hàng, vốn là hai hình thức có nhiều điểm giống nhau Có thể thấy, khi thực hiện cấp tín dụng cho người mua bằng cách mua lại các khoản phải trả thì lúc này, BTT càng có điểm tương đồng với bảo lãnh ngân hàng hơn Và khác nhau rõ nhất có thể thấy là bảo lãnh ngân hàng mang tính chất như một “lời hứa” thanh toán, còn BTT là một hợp đồng thanh toán thực tế ngay sau khi ký kết

1.4.2 Phân biệt bao thanh toán và chiết khấu công cụ chuyển nhƣợng, giấy

tờ có giá khác

Trong đời sống kinh tế, nhiều chủ thể được pháp luật cho phép phát hành các giấy tờ có giá để huy động vốn Ví dụ: công ty cổ phần được phép phát hành cổ phiếu, trái phiếu; NHTM có thể phát hành chứng chỉ tiền gửi… Theo Khoản 8 Điều 6 Luật

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 thì giấy tờ có giá là “bằng chứng xác nhận

nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác” Theo đó, kể từ

khi xác lập quyền sở hữu đối với giấy tờ có giá, chủ sở hữu cần phải chờ đến hạn thanh toán mới thu hồi được lượng tiền đã bỏ ra Tuy nhiên, có một giải pháp khác có thể nhanh chóng thu hồi đó là chuyển nhượng quyền sở hữu giấy tờ có giá cho chủ thể khác trước hạn thanh toán Nếu bên mua giấy tờ có giá là TCTD, cụ thể là NHTM thì được gọi là cấp tín dụng bằng hình thức chiết khấu giấy tờ có giá Chiết khấu theo

Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 là “việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu

quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán” 19

Theo đó, ta thấy được những khác biệt cơ bản giữa chiết khấu giấy tờ có giá và BTT như sau:

19 Khoản 19 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010

Trang 29

- Về đối tượng: Chiết khấu có đối tượng là hối phiếu, séc, tín phiếu, trái

phiếu,…20 Trong khi đó, đối tượng của BTT là các hóa đơn chứng tỏ quan hệ thương mại giữa người bán và người mua

- Về khách hàng: Người được BTT là một trong hai chủ thể trong quan hệ thương

mại Còn đối với chiết khấu, người được chiết khấu có thể là người bán, cũng có thể là

người thụ hưởng (người thứ ba)

- Về quyền truy đòi: Đối với chiết khấu thực hiện dưới phương thức mua có bảo

lưu quyền truy đòi, quyền truy đòi từ khách hàng là hiển nhiên khi NHTM không nhận được đầy đủ số tiền được thanh toán từ người có trách nhiệm thanh toán giấy tờ có giá Còn đối với BTT, việc truy đòi còn phải phụ thuộc vào hợp đồng ký kết giữa đơn vị

BTT và khách hàng là có quyền truy đòi hay miễn truy đòi

- Về kỹ thuật nghiệp vụ: Chiết khấu là một hình thức tài trợ thông qua việc mua

lại quyền thụ hưởng phát sinh từ giấy tờ có giá NHTM khi chiết khấu có quyền thụ hưởng khi hối phiếu đến hạn và nghĩa vụ truy đòi khi người thụ lệnh từ chối hoặc không thanh toán Trong khi đó, NHTM khi thực hiện BTT còn phải thực hiện thêm nhiều chức năng như: chức năng tài trợ (cấp tín dụng); theo dõi, nắm giữ các chứng từ,

hóa đơn và quản lý việc thu nợ; đảm nhận rủi ro thương mại của người mua hàng

Các hình thức cấp tín dụng trên tuy có sự khác nhau nhưng một mặt đã cho thấy những ưu điểm riêng của mình với tư cách là một nghiệp vụ của NHTM Mặt khác, phân biệt BTT và các hình thức khác cho thấy những điểm nổi trội của BTT và biết được vì sao BTT trở thành một nghiệp vụ ngày càng được sử dụng phổ biến tại các NHTM

Tóm lại, hoạt động BTT là hoạt động khá phổ biến trên thế giới và cũng dần phát triển trong thị trường tài chính, ngân hàng tại Việt Nam Tuy hiện nay, hoạt động BTT vẫn chưa được đề cập nhiều trong các văn bản quy phạm pháp luật nhưng với những lợi ích thiết thực mà nó mang lại thì các NHTM với tư cách là TCTD hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ nhằm mục tiêu lợi nhuận đã trở thành chủ thể tiên phong đưa hoạt động này phát triển Theo đó, BTT là một hình thức cấp tín dụng của NHTM thông qua việc mua lại các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả chưa đến hạn thanh toán

20 Điều 6 Thông tư số 04/2013/TT-NHNN ngày 01 tháng 3 năm 2013 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Quy định về hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng

Trang 30

của khách hàng trong hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Dựa trên sự chênh lệch giữa giá trị hợp đồng BTT và giá trị thực tế của các khoản phải thu mang lại lãi và phí sẽ là nguồn lợi không nhỏ góp phần vào hiệu quả kinh doanh của NHTM Với sự đa dạng về hình thức, BTT giúp các doanh nghiệp hình dung về một công cụ tài chính có khả năng mang đến nguồn tài trợ lớn, đồng thời lựa chọn những hình thức phục vụ hữu ích cho hoạt động kinh doanh của mình phù hợp với xu thế hiện đại

Trang 31

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG BAO THANH

TOÁN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể điều chỉnh quan hệ phát sinh trong hoạt động BTT Đến thời điểm hiện tại, văn bản quy định cụ thể nhất về hoạt động BTT là Quy chế hoạt động BTT (ban hành theo Quyết định 1096/2004/QĐ-NHNN), được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định 30/2008/QĐ-NHNN Theo đó, BTT được hiểu là hình thức cấp tín dụng cho bên bán thông qua việc mua lại các khoản phải thu Tuy nhiên, Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 đề cập đến BTT là hình thức cấp tín dụng cho cả bên bán và bên mua thông qua việc mua lại các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả Kể từ lúc luật này có hiệu lực thi hành, vẫn chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể hơn về hoạt động BTT cũng như là chưa ban hành văn bản thay thế Quy chế hoạt động BTT (đã được sửa đổi, bổ sung), trong đó quy định về phương thức cấp tín dụng cho bên mua thông qua việc mua lại các khoản phải trả Điều đó cho thấy, việc điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa các bên tham gia hoạt động BTT vẫn dựa vào Quy chế BTT đã có Vì thế, tại chương này, người viết chỉ trình bày những quy định pháp luật dựa trên Quy chế hoạt động BTT đã ban hành (có sửa đổi, bổ sung theo Quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN) và quan điểm cá nhân đối với việc thực hiện BTT

có đối tượng là các khoản phải trả (được đề cập đến trong khái niêm BTT của Luật các

Tổ chức tín dụng năm 2010) theo hướng mà người viết cho là hợp lý nhất

2.1 Quy định pháp luật về chủ thể của quan hệ bao thanh toán

2.1.1 Bên bao thanh toán

2.1.1.1 Quy định pháp luật về điều kiện để được thực hiện hoạt động bao

thanh toán

Bên BTT được hiểu là các TCTD được NHNN chấp thuận cho thực hiện hoạt động BTT Cụ thể, các TCTD có thể thực hiện nghiệp vụ BTT được quy định tại Khoản 2 Điều 1 Quy chế hoạt động BTT được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN (sau đây gọi là Quy chế hoạt động BTT có sửa đổi, bổ sung) bao gồm:

a TCTD thành lập và hoạt động theo Luật các Tổ chức tín dụng:

Trang 32

- Ngân hàng thương mại nhà nước;

- Ngân hàng thương mại cổ phần;

- Ngân hàng liên doanh;

- Ngân hàng 100% vốn nước ngoài;

- Công ty tài chính;

- Công ty cho thuê tài chính

b Ngân hàng nước ngoài được mở chi nhánh tại Việt Nam theo Luật Tổ chức tín dụng

Quy định trên cho thấy, BTT là một loại hình hoạt động đặc thù của các TCTD, điều này có nét khác biệt so với một số quốc gia trên thế giới Từ khái niệm BTT theo

Công ước Ottawa 1988 hay theo Hiệp hội BTT quốc tế có thể thấy, “do không bị hạn

chế bởi quan niệm BTT là hình thức cấp tín dụng nên hình thức pháp lý của bên BTT rất đa dạng Thực tế, bên BTT có thể được tổ chức như là một bộ phận trong ngân hàng hoặc doanh nghiệp độc lập chỉ hoạt động trong lĩnh vực BTT hoặc cho phép các

tổ chức tài chính có thể kết hợp hoạt động BTT với các sản phẩm tài chính khác như cho thuê tài chính” 21 Vậy, tại sao pháp luật Việt Nam lại quy định BTT là một hình

thức “cấp tín dụng” hay một nghiệp vụ chỉ được thực hiện bởi các TCTD mà không phải là một tổ chức nào khác? Điều đó, theo người viết, có thể được lý giải từ những nguyên nhân sau:

Thứ nhất, BTT được xem là một hình thức tài trợ thương mại Hình thức này đòi

hỏi bên tài trợ cần nguồn tài chính đủ lớn để mua lại khoản phải thu hay chi trả cho các khoản phải trả (thông thường khoảng 70-90% giá trị), dĩ nhiên các khoản này phải có giá trị đủ lớn vì lãi và phí cho hoạt động này thường khá cao Các khoản đã bỏ ra này chỉ có thể được thu hồi khi đến hạn thanh toán của hợp đồng Vì thế, trong một khoảng thời gian nhất định, bên tài trợ sẽ tạm thời mất đi một khoản tài chính tương đối lớn và nếu không có một năng lực tài chính ổn định và khả năng huy động vốn để tiếp tục hoạt động như các TCTD thì BTT sẽ gây ra tình trạng thiếu hụt vốn và đẩy các đơn vị BTT không phải là TCTD rơi vào tình trạng khó khăn

Thứ hai, hoạt động BTT ẩn chứa nhiều rủi ro Rủi ro dễ xảy ra nhất khi tiến hành

BTT là khi bên mua rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán Khi đó, nếu áp dụng

21

Võ Đình Toàn, Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân,

năm 2005, tr 235, 236

Trang 33

hình thức BTT miễn truy đòi cho bên bán thì đơn vị BTT sẽ là người gánh chịu các khoản nợ khó đòi Nếu BTT được thực hiện bởi các TCTD thường thì các khoản nợ trên sẽ được các TCTD yêu cầu cần có biện pháp bảo đảm (như cầm cố, thế chấp tài sản hay bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba…) và khi đến hạn mà bên mua không có khả năng thanh toán thì TCTD có thể yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm

Thứ ba, hoạt động BTT luôn gắn với chức năng theo dõi sổ sách, hóa đơn chứng

từ để nắm bắt được khả năng chi trả của khách hàng Điều này được xem là một trở ngại lớn đối với đơn vị BTT không phải là các TCTD, vì trong kinh doanh không tổ chức kinh tế thông thường nào muốn một doanh nghiệp khác hay cả đối tác làm ăn nắm bắt được nội bộ hoạt động kinh doanh của mình, đặc biệt khi đó là doanh nghiệp hoạt động trong cùng lĩnh vực kinh doanh Nhưng khi chức năng này do các TCTD thực hiện thì khách hàng sẽ yên tâm hơn vì mọi thông tin sẽ được giữ bí mật

Như đã trình bày, để được thực hiện BTT thì TCTD phải được sự chấp thuận của NHNN Về bản chất pháp lý, BTT là một nghiệp vụ kinh doanh có điều kiện Các điều kiện mà tổ chức BTT cần phải đáp ứng được bao gồm:

Trước tiên, điều kiện về thị trường được thể hiện bởi việc xác định là TCTD phải

“Có nhu cầu hoạt động bao thanh toán” 22

Nhu cầu trên xuất phát từ nhu cầu thị

trường trên địa bàn mà TCTD hoạt động và thể hiện bằng việc nộp Hồ sơ đề nghị NHNN chấp thuận hoạt động BTT Nhu cầu thị trường ở đây là việc các doanh nghiệp muốn mở rộng hoạt động kinh doanh bằng việc bán hàng trả chậm nhưng muốn luân chuyển dòng vốn của mình một cách nhanh chóng, đặc biệt với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu thì nhu cầu này càng trở nên cấp thiết hơn Nhu cầu này còn đến từ phía bên mua hàng từ hợp đồng bán hàng trả chậm của các doanh nghiệp khi muốn nhanh chóng thanh toán tiền hàng cho bên bán Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu đó, các TCTD thể hiện nguyện vọng của mình trong việc cấp tín dụng cho các đối tượng trên dưới hình thức BTT

Thứ hai, điều kiện về hiệu quả tín dụng, một điều kiện khác mà các TCTD cần

đáp ứng để được hoạt động BTT là “Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ tại thời điểm cuối

từng tháng của ba tháng gần nhất dưới 5%; không vi phạm các quy định về các tỷ lệ

22

Điểm a Khoản 1 Điều 7 Quy chế hoạt động BTT của các TCTD ban hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004

Trang 34

bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng” 23 Theo Khoản 6 Điều 2 Quyết định số

493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN về Ban hành Quy định

về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng (được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số

18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 của Thống đốc NHNN) thì “nợ xấu” là “các

khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 quy định tại Điều 6 hoặc Điều 7 Quy định này”

Theo đó, việc xác định nợ xấu dựa trên hai yếu tố là: nợ quá hạn trên 90 ngày và khả năng trả nợ của khách hàng Cụ thể, nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) gồm các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; nhóm 4 (nợ nghi ngờ) gồm các khoản nợ quá hạn từ

181 ngày đến 360 ngày; nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) gồm các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày 24

So với Quy chế BTT trước đây thì việc thay thế cụm từ “nợ quá hạn” bằng “nợ xấu” thì điều kiện về tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ đã được thu hẹp lại, vì tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ đánh giá chất lượng tín dụng của TCTD Điều đó phần nào giúp các TCTD dễ thực hiện quy định này hơn khi tiến hành BTT, mặc khác đây cũng được xem là mối lo ngại của các TCTD Nếu tỷ lệ nợ xấu càng lớn thì đồng nghĩa với việc khả năng thu hồi nợ càng thấp dẫn đến không đủ vốn để thực hiện các hoạt động ngân hàng khác, có thể gây khủng hoảng về vốn cho các TCTD và chất lượng tín dụng

sẽ ngày càng thấp Nên việc thực hiện BTT sẽ hiệu quả hơn khi TCTD duy trì khoản

nợ xấu thấp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng

Bên cạnh đó, các TCTD phải tuân thủ các quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn

trong hoạt động ngân hàng, bao gồm: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu; giới hạn tín dụng, tỷ

lệ khả năng chi trả; giới hạn góp vốn, mua cổ phần; tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động 25 Hoạt động ngân hàng luôn chứa đựng nhiều rủi ro, khi mà các TCTD huy

23 Điểm b Khoản 1 Điều 7 Quy chế hoạt động BTT của các TCTD ban hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004 được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN ngày 16/10/2008

24

Xem Khoản 3 Điều 1 Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 của Thống đốc NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 4 năm 2005 của Thống đốc NHNN

Xem Khoản 6 Điều 7 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 4 năm 2005 của Thống đốc NHNN

25 Khoản 1 Điều 1 Thông tư số 19/2010/TT-NHNN ngày 27/9/2010 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư

số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 của Thống đốc NHNN Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng

Trang 35

động vốn từ hoạt động nhận tiền gửi thì kèm theo gánh nặng là khả năng thanh toán tiền gửi cho khách hàng hay khi TCTD tiến hành cấp tín dụng (cho vay) thì vấn đề nợ khó đòi, nợ xấu là không tránh khỏi Vì thế, để đảm bảo khả năng thanh toán nợ và đảm bảo sự an toàn trong hoạt động của các TCTD, pháp luật Việt Nam đã có những

quy định chặt chẽ: về khía cạnh bảo đảm cho hoạt động BTT, tổ chức BTT và khách

hàng có thể thỏa thuận áp dụng các biện pháp bảo đảm gồm: ký quỹ, cầm cố, thế chấp tài sản, bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba và các biện pháp khác theo quy định của pháp luật;26

về giới hạn hoạt động, tổ chức BTT phải duy trì “tổng số dư bao thanh

toán cho một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có” và “tổng số dư bao thanh toán không được vượt quá vốn tự có của đơn vị bao thanh toán” 27 Ngoài ra,

trong trường hợp nhu cầu BTT của khách hàng vượt quá tỷ lệ nêu trên thì các đơn vị

BTT được thực hiện BTT dưới hình thức đồng BTT

Thứ ba, điều kiện về tuân thủ pháp luật thể hiện ở việc các TCTD “không thuộc

đối tượng đang bị xem xét xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng hoặc đã bị xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng nhưng

đã khắc phục được hành vi vi phạm” 28

Khi các TCTD bị xem xét xử lý vi phạm hành

chính thì một hoặc một số hoạt động tín dụng sẽ bị hạn chế hoặc nếu đã bị xử lý vi phạm hành chính thì khi đó uy tín của TCTD sẽ giảm đi và không có cơ sở để đảm bảo rằng các TCTD sẽ không tiếp tục vi phạm nếu được tiến hành BTT

Đối với hoạt động BTT xuất – nhập khẩu thì ngoài những điều kiện nêu trên "tổ

chức tín dụng xin hoạt động bao thanh toán xuất – nhập khẩu phải là tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối” 29

Theo Pháp lệnh số 06/2013/PL-UBTVQH13 Pháp

lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ngoại hối năm 2005 thì đối tượng được hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối gồm: TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các tổ chức khác được kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối trong và ngoài

Trang 36

1096/2004/QĐ-nước 30 Các tổ chức này muốn cung ứng dịch vụ ngoại hối thì phải được cấp giấy phép hoạt động ngoại hối và đáp ứng một số điều kiện do pháp luật quy định31 Theo

đó NHNN là cơ quan có thẩm quyền cấp, sửa đổi, gia hạn, thu hồi giấy phép hoạt động ngoại hối của TCTD

Một điểm mới đến từ Quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN ngày 16/10/2008 so với Quy chế hoạt động BTT là việc bổ sung thêm một loại hình TCTD có thể hoạt động

BTT là Công ty cho thuê tài chính Đây là “loại hình TCTD phi ngân hàng được thực

hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng”, “Công ty cho thuê tài chính là loại hình công ty tài chính có hoạt động chính là cho thuê tài chính” 32 Theo đó, cho thuê tài

chính là hoạt động cấp tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được nhận chuyển quyền sở hữu tài sản cho thuê hoặc tiếp tục thuê theo thỏa thuận của hai bên33 Với khả năng huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau cho thấy công ty cho thuê tài chính có

đủ năng lực tài chính ổn định để thực hiện BTT Điều đó được thể hiện tại Khoản 7 Điều 112 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 với quy định cho công ty cho thuê tài

chính được “Thực hiện hình thức cấp tín dụng khác khi được Ngân hàng Nhà nước

chấp thuận” Khi đó, Công ty cho thuê tài chính ngoài việc đáp ứng đầy đủ các điều

kiện để được thực hiện BTT quy định chung cho các TCTD thì “chỉ được thực hiện

hoạt động bao thanh toán khi có mức vốn điều lệ tương đương với mức vốn pháp định quy định đối với Công ty tài chính” 34 Trong đó, mức vốn pháp định áp dụng đến năm

2011 quy định đối với Công ty tài chính là 500 tỷ đồng35 Thay vì chỉ cần mức vốn pháp định là 150 tỷ đồng cho các hoạt động ngân hàng khác thì Công ty cho thuê tài chính nếu muốn thực hiện BTT phải cần ít nhất có được vốn điều lệ là 500 tỷ đồng Quy định trên rõ ràng nhằm đảm bảo một năng lực tài chính cần thiết đủ để cấp tín dụng hay tự gánh chịu rủi ro khi tiến hành BTT Tuy nhiên, hoạt động BTT của Công

ty cho thuê tài chính còn bị giới hạn bởi đối tượng được thực hiện BTT, cụ thể là “chỉ

30

Điều 36 Pháp lệnh Ngoại hối của Ủy ban Thường vụ Quốc hội năm 2005 được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh

số 06/2013PL-UBTVQH13 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối

31 Xem Thông tư số 03/2008/TT-NHNN ngày 11/4/2008 hướng dẫn về hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của Tổ chức tín dụng

32

Khoản 4 Điều 4 Luật cáctổ chức tín dụng năm 2010

33 Khoản 1 Điều 113 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010

34 Khoản 3 Điều 7 Quy chế hoạt động BTT của các TCTD ban hành kèm theo Quyết định số NHNN ngày 06/9/2004 được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN ngày 16/10/2008

1096/2004/QĐ-35

Xem Nghị định số 10/2011/NĐ-CP ngày 26 tháng 01 năm 2011 của Chính phủ Về ban hành Danh mục Mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng

Trang 37

được thực hiện bao thanh toán đối với khách hàng là bên thuê của Công ty cho thuê tài chính” 36

Có thể thấy, về mặt pháp lý, BTT là một nghiệp vụ kinh doanh có điều kiện: điều kiện về thị trường, điều kiện hiệu quả tín dụng hay các quy định về tỷ lệ đảm bảo an toàn hoặc thêm điều kiện về ngoại hối trong hoạt động BTT xuất – nhập khẩu mà không phải bất kỳ TCTD nào cũng có thể thực hiện được Theo đó, NHTM với tư cách

là loại hình TCTD có thể thực hiện được tất cả các hoạt động ngân hàng nhằm mục tiêu lợi nhuận khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu trên và được sự chấp thuận của NHNN thì hiển nhiên sẽ trở thành bên BTT trong hoạt động BTT

2.1.1.2 Quyền của bên bao thanh toán

Dưới góc độ pháp lý, các quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan

hệ BTT được thể hiện và thực hiện dựa trên hợp đồng BTT được các bên giao kết phù hợp với quy định pháp luật Theo Quy chế hoạt động BTT đã sửa đổi, bổ sung và quy

định tại Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì Hợp đồng BTT có thể hiểu là sự thỏa

thuận bằng văn bản giữa TCTD được phép BTT với khách hàng, theo đó, TCTD mua lại các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ phù hợp với các quy định của pháp luật Nội dung thỏa thuận

trong hợp đồng BTT là sự phản ánh ý chí thống nhất của các bên dựa trên nguyên tắc

tự do, tự nguyện, bình đẳng, thiện chí và trung thực Đây là hợp đồng mang đặc điểm của loại hợp đồng song vụ vì các bên đều có nghĩa vụ với nhau và có sự tương ứng giữa quyền và nghĩa vụ Về hình thức, sự thỏa thuận trong hợp đồng BTT bắt buộc phải được thể hiện bằng văn bản Về nội dung, hợp đồng BTT chứa đựng một số điều khoản chủ yếu như: về chủ thể của hợp đồng, điều khoản về quyền và nghĩa vụ của các bên, điều khoản về nội dung của cấp tín dụng BTT, điều khoản về thủ tục chuyển giao các khoản phải thu hay các khoản phải trả Trong đó, điều khoản về quyền và nghĩa vụ của các bên là không thể thiếu và là cơ sở để các bên thực hiện hợp đồng

Trong quan hệ BTT, đơn vị BTT sẽ thực hiện hai nhóm công việc chính là: cấp tín dụng ứng trước cho khách hàng và thu nợ từ người mua hay các khoản đã tài trợ Theo đó, pháp luật quy định đơn vị thực hiện BTT có các quyền cụ thể sau đây:37

36 Điểm 2.2 Khoản 2 Điều 1 Quy chế hoạt động BTT của các TCTD ban hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004 được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN ngày 16/10/2008

Trang 38

Thứ nhất, tổ chức BTT có quyền đánh giá và lựa chọn khách hàng thông qua các

khoản phải thu hay khoản phải trả để BTT khi được yêu cầu khách hàng cung cấp các

thông tin và tài liệu liên quan đến khoản phải thu hay khoản phải trả, khả năng tài chính và tình hình hoạt động của bên bán hàng hay bên mua hàng trong hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Theo đó, “khoản phải thu” là khoản tiền mà bên

bán hàng phải thu từ bên mua hàng, tương ứng thì “khoản phải trả” là khoản tiền mà bên mua hàng phải thanh toán cho bên bán hàng theo hợp đồng mua bán hàng hóa,

cung ứng dịch vụ Hợp đồng trên là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa bên bán hàng và

bên mua hàng về việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo quy định của pháp luật, trong đó bên mua hàng chưa đến hạn phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán 38 Khả

năng tài chính và tình hình hoạt động của khách hàng thể hiện thông qua các bản báo cáo tài chính, báo cáo về tình hình sản xuất kinh doanh, các khoản vay ngân hàng hay các hợp đồng đã và đang thực hiện… Quyền này giúp các TCTD biết được giá trị thực của các khoản phải thu hay khoản phải trả nhằm tạo cơ sở cho việc TCTD quyết định

có khả năng BTT cho khách hàng hay không Việc nắm bắt các thông tin của khách hàng cũng là căn cứ xác định khả năng thu nợ từ các khoản đã tài trợ

Thứ hai, do tính chất của hoạt động BTT là tài trợ cho khách hàng phát sinh từ

các khoản nợ chưa đến hạn nên khi cấp tín dụng cho khách hàng, đơn vị BTT có

quyền được yêu cầu khách hàng chuyển giao toàn bộ bản kê kèm bản gốc hoặc bản

sao có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền về hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; chứng từ mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; quyền, lợi ích và các giấy

tờ liên quan đến khoản phải thu hay khoản phải trả được BTT Các chứng từ mua bán

hàng hóa, cung ứng dịch vụ là các chứng từ liên quan đến việc giao và nhận hàng, cung ứng và sử dụng dịch vụ; yêu cầu thanh toán của bên bán đối với bên mua trên cơ

sở hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Điều đó tạo cơ sở chứng minh cho việc thu hồi các khoản tín dụng đã tài trợ khi đến hạn thanh toán

Thứ ba, khi ký hợp đồng BTT cho bên bán hàng với các khoản phải thu thì quyền

đòi nợ sẽ được chuyển nhượng cho đơn vị BTT và bên mua hàng sẽ được thông báo về

điều này Khi đó, đơn vị BTT có quyền đòi nợ đối với bên mua hàng theo giá trị khoản

Trang 39

1096/2004/QĐ-phải thu được BTT và được hưởng các quyền và lợi ích khác mà người bán được hưởng theo quy định tại hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Quyền đòi nợ

này xuất phát từ các hóa đơn, chứng từ khách hàng đã chuyển cho đơn vị BTT Tương

tự, với hợp đồng BTT cho bên mua với các khoản phải trả thì đơn vị BTT cũng có quyền đòi lại khoản tín dụng đã tài trợ khi đến thời hạn do hai bên thỏa thuận

Thứ tư, pháp luật hiện hành cho phép đơn vị BTT được chuyển quyền đòi nợ, trừ trường hợp các bên trong hợp đồng BTT có thỏa thuận không được chuyển giao quyền đòi nợ Quy định này xuất phát từ thỏa thuận từ trước của các bên về việc chuyển giao

quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng Tuy nhiên, pháp luật không quy định cụ thể về đối tượng được chuyển giao quyền đòi nợ trong trường hợp này Nếu quyền đòi nợ được đơn vị BTT chuyển giao cho TCTD khác thì đó có thể xuất phát từ nhu cầu hợp tác trong hoạt động ngân hàng giữa các TCTD với nhau khi một bên cần sớm thu lại khoản tín dụng đã bỏ ra và bên kia cần mở rộng khách hàng của mình

Những quyền nêu trên giúp các NHTM khi tiến hành BTT có thể đánh giá khách hàng của mình một cách chính xác, khách quan hơn, từ đó đi đến ký kết hợp đồng BTT và hưởng những lợi ích mà hoạt động này mang lại, đồng thời đảm bảo khả năng thu hồi nợ khi đến hạn thanh toán

2.1.1.3 Nghĩa vụ của bên bao thanh toán

Bên cạnh những quyền lợi có được như trên, khi thực hiện hoạt động BTT, đơn vị BTT phải thực hiện các nghĩa vụ của mình trong hợp đồng BTT,39 đó là:

Thứ nhất, nghĩa vụ cơ bản của đơn vị BTT là cấp tín dụng cho khách hàng Với

hợp đồng BTT có đối tượng là các khoản phải thu thì đơn vị BTT có nghĩa vụ thanh

toán cho bên bán hàng theo giá mua khoản phải thu đã được thỏa thuận trong hợp đồng BTT Về BTT với khách hàng là bên mua hàng, đơn vị BTT có thể căn cứ vào

các hóa đơn, chứng từ để biết trị giá khoản phải trả cần được BTT, từ đó sẽ cấp tín dụng cho khách hàng

Thứ hai, trước đây theo Quy chế hoạt động BTT được sửa đổi, bổ sung quy định

bên BTT chịu toàn bộ rủi ro khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa

vụ thanh toán khoản phải thu trong trường hợp thực hiện BTT không có quyền truy đòi Như đã trình bày, với hình thức BTT này mọi rủi ro sẽ thuộc về bên BTT, họ chỉ

39

Khoản 2 Điều 23 Quy chế hoạt động BTT của các TCTD ban hành kèm theo Quyết định số NHNN ngày 06/9/2004 được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN ngày 16/10/2008

Trang 40

1096/2004/QĐ-có quyền đòi lại số tiền đã ứng trước cho bên bán hàng khi bên mua hàng không thanh toán khoản phải thu do bên bán giao hàng, cung cấp dịch vụ không đúng như thỏa thuận Vì thế, các tổ chức thực hiện BTT cần cân nhắc trong việc lựa chọn loại hình BTT Tuy nhiên, khi Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 có hiệu lực lại quy định các

TCTD chỉ được BTT dưới hình thức “có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu

hoặc các khoản phải trả” Khi đó, nghĩa vụ chịu rủi ro về khả năng thanh toán của bên

BTT không còn nữa mà nó thuộc về bên bán hàng Điều này đảm bảo an toàn cho nghiệp vụ BTT của các TCTD, vì thực chất khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho bên mua hàng thì bên bán phải chịu mọi nghĩa vụ phát sinh kể cả việc thu hồi nợ, đơn

vị BTT chỉ đóng vai trò cấp tín dụng ngắn hạn, giải quyết nhu cầu vốn kịp thời cho bên bán hàng chứ không có lý do gì buộc họ phải chịu rủi ro khi bên mua hàng không

có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán

Thứ ba, thực hiện đúng và đầy đủ các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng BTT Hợp đồng BTT được giao kết theo nguyên tắc bình đẳng thỏa thuận, do đó các

bên phải có thiện chí thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết

Việc thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ nêu trên giúp NHTM tạo lòng tin nơi khách hàng, nâng cao uy tín và chất lượng của dịch vụ, điều đó sẽ ngày càng mở rộng nguồn khách hàng khi NHTM tiến hành nghiệp vụ BTT

2.1.2 Bên đƣợc bao thanh toán

Đến thời điểm hiện tại, ngoài việc đề cập đến khái niệm BTT trong Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì vẫn chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể hoạt động BTT cho bên mua hàng với đối tượng là khoản phải trả Nên phần này, người viết chỉ trình bày quy định pháp luật về bên được BTT là bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ có

các khoản phải thu được BTT

2.1.2.1 Điều kiện chủ thể của bên đƣợc bao thanh toán

Bên được BTT – bên bán hàng, với tư cách là bên được cấp tín dụng của các

TCTD nói chung, NHTM nói riêng là “các tổ chức kinh tế Việt Nam và nước ngoài

bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và được thụ hưởng các khoản phải thu phát sinh từ việc bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo thỏa thuận giữa bên bán hàng và bên mua

Ngày đăng: 03/10/2015, 15:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.2: Quy trình thực hiện bao thanh toán trong nước (Hệ thống - pháp luật về hoạt động bao thanh toán của ngân hàng thương mại
Sơ đồ 1.2 Quy trình thực hiện bao thanh toán trong nước (Hệ thống (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w