1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quyền của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực giáo dục theo pháp luật việt nam ở huyện thạnh trị, sóc trăng

65 517 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng cách dựa vào quan điểm mà Gs.Francesco Capotorti đặc phái viên của LHQ đã đưa ra vào năm 1997 nêu ra: “Dân tộc thiểu số là thuật ngữ ám chỉ cho một nhóm người cư trú trên lãnh thổ c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

SÓC TRĂNG

Giảng viên hướng dẫn : Sinh viên thực hiện:

ThS Thạch Huôn Thạch Thanh Tâm

Bộ môn: Luật Thương Mại MSSV: 5116017

Lớp: Luật Tư Pháp 2 K37

Cần Thơ, tháng 12 năm 2014

Trang 2

- -

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2014

Giảng viên hướng dẫn

ThS.Thạch Huôn

Trang 3

- -

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Cần thơ, ngày….tháng….năm 2014

Giảng viên phản biện

Trang 5

Đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Thạch Huôn, Bộ

môn Luật thương mại, Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ Trong suốt quá

trình em thực hiện luận văn này, mặc dù rất bận với công việc giảng dạy nhưng

thầy vẫn dành nhiều thời gian và tâm huyết trong việc hướng dẫn em Chính

thầy đã cung cấp rất nhiều kiến thức và hiểu biết về một lĩnh vực mới khi em

mới bắt đầu bước vào thực hiện luận văn này Trong quá trình thực hiện luận

văn, thầy luôn định hướng, góp ý và sửa chữa những sai sót, từ đó giúp em

không bị lạc lối trong biển kiến thức mênh mông, vô tận, Cho đến ngày hôm

nay, luận văn tốt nghiệp của em đã được hoàn thành, đó cũng là sự nhắc nhở,

đôn đốc, giúp đỡ nhiệt tình của thầy

Em cũng xin gửi lời cám ơn đến gia đình đã tạo điều kiện tốt nhất cho em

theo đuổi ước mơ của mình Đồng thời, em cũng xin cảm ơn đến tất cả quý

thầy cô của trường, đã giảng dạy, giúp đỡ em trong suốt 4 năm học vừa qua

Chính các thầy, cô của trường đã truyền đạt cho em những kiến thức chuyên

môn để em có thể hoàn thành tốt luận văn này, cũng như giúp ích cho công

việc sau này./

Cần Thơ, ngày… Tháng… năm 2014

Sinh viên thực hiện

Thạch Thanh Tâm

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 1

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục đề tài 2

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC 3

1.1 Các khái niệm liên quan đến quyền của người dân tộc thiểu số trong giáo dục .3

1.1.1 Quyền con người và quyền công dân 3

1.1.1.1 Khái niệm quyền con người 3

1.1.1.2 Khái niệm quyền công dân 4

1.1.2 Người dân tộc thiểu số và quyền của người dân tộc thiểu số 5

1.1.2.1 Khái niệm người dân tộc thiểu số 5

1.1.2.2 Khái niệm quyền của người dân tộc thiểu số 6

1.1.3 Khái niệm giáo dục và quyền giáo dục 8

1.1.3.1 Khái niệm giáo dục 8

1.1.3.2 Khái niệm quyền giáo dục của người dân tộc thiểu số 9

1.1.4 Ý nghĩa về quyền và nghĩa vụ của người dân tộc thiểu số trong giáo dục hiện nay 10

1.1.4.1 Ý nghĩa của giáo dục 10

1.1.4.2 Nghĩa vụ của người dân tộc thiểu số trong giáo dục 11

1.2 Những vấn đề đặc trưng về quyền của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực giáo dục 11

1.2.1 Sự khác nhau cơ bản giữa quyền của người dân tộc thiểu số và quyền tự quyết dân tộc 11

1.2.2 Tính chất quyền của người dân tộc thiểu số nói chung và quyền được giáo dục nói riêng 12

1.2.2.1 Tính phổ biến (universal) 12

1.2.2.2 Tính không thể chuyển nhượng (inalienable) 12

1.2.2.3 Tính không thể phân chia (indivisible) 12

1.2.2.4 Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau(interrelated, interdependent) 13

1.2.3 Các chủ thể tham gia vào đảm bảo quyền của người tộc thiểu số trong lĩnh vực giáo dục 13

Trang 7

1.2.3.1 Chủ thể có quyền 13

1.2.3.2 Chủ thể có trách nhiệm 13

1.2.4 Quyền của người dân tộc thiểu số trong pháp luật Việt Nam 14

1.2.4.1 Các nhóm quyền Chính trị và Dân sự 15

1.2.4.2 Quyền kinh tế, văn hóa - xã hội trong pháp luật Việt Nam 15

1.3 Lịch sử phát triển quyền của người dân tộc thiểu số trong nền giáo dục ở Việt Nam 17

1.3.1 Giai đoạn trước năm 1975 17

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1975 đến nay 18

1.4 Tầm quan trọng quyền của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam 19

CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC- THỰC TRẠNG Ở HUYỆN THẠNH TRỊ 21

2.1 Quy định của pháp luật về quyền của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực giáo dục – thực trạng ở huyện thạnh trị 21

2.1.1 Quyền của người dân tộc thiểu số trong văn bản luật 21

2.1.1.1 Trong quy định của Hiến pháp 21

2.1.1.2 Quyền của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực giáo dục được ghi nhận ở luật giáo dục 26

2.1.2 Quyền của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực giáo dục được ghi nhận ở trong văn bản dưới luật 32

2.1.2.1 Nghị định 32

2.1.2.2 Nghị quyết 33

2.1.2.3 Quyết định 112/2005/QĐ-TTg ngày 18 tháng 05 năm 2005 về việc phê duyệt đề án “xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010” 35

2.2 Một số chính sách và chủ trương tiêu biểu 35

2.2.1 Sinh viên người dân tộc thiểu số được hỗ trợ chi phí học tập và miễn giảm học phí 36

2.2.2 Chính sách cử tuyển 37

2.2.3 Chính sách đối với trẻ em tại cơ sở mầm non 38

2.3 Thực trạng quyền giáo dục của người dân tộc thiểu số ở huyện Thạnh Trị 39

2.3.1 Khái quát đặc điểm tình hình huyện thạnh trị 39

2.3.2 Thực trạng về thực hiện quyền giáo dục, đào tạo người DTTS trên địa bàn huyện Thạnh Trị 40

2.4 Một số giải pháp và kiến nghị 46

Trang 8

2.4.1 Giải pháp 46 2.4.2 Kiến nghị 49

KẾT LUẬN 52 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Con người là nhân tố quyết định đối với sự phát triển của xã hội Vì vậy con người phải được giáo dục, trao dồi kiến thức Do đó, quyền được giáo dục là một quyền cơ bản, quan trọng của công dân được Hiến pháp thừa nhận Nhằm đảm bảo quyền giáo dục của công dân Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng học hành và được bình đẳng về cơ hội được giáo dục để trở

thành công dân có ích cho xã hội

Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng sự nghiệp giáo dục và đào tạo nhất là việc phát triển giáo dục đối với người DTTS Nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý, tạo điều kiện cho sự nghiệp giáo dục của người DTTS phát triển hơn nữa Đảng và Nhà nước đã thực hiện nhiều chủ trương, ban hành nhiều chính sách nhằm đảm bảo sự nghiệp giáo dục – đào tạo phát triển một cách vững chắc, có chất lượng

và hiệu quả, đáp ứng nhu cầu tạo nguồn nhân lực cho đất nước, ngăn chặn những hiện tượng tiêu cực trong bảo vệ quyền của người DTTS trong giáo dục, hướng tới xây

dựng một nền giáo dục quốc dân lành mạnh

Trong những năm qua sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ trên địa bàn Huyện Thạnh Trị

đã được các cấp, các ngành và xã hội đặc biệt quan tâm Nhiều Nghị quyết của Đảng xác định được rõ vai trò, vị trí, trách nhiệm của nhà trường và xã hội trong sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ được các cấp chính quyền trên địa bàn huyện hưởng ứng Từ những việc làm trên sẽ góp phần làm cho đời sống của người DTTS trên địa bàn huyện cũng từng bước đổi thay đáng kể Cho nên, việc bảo vệ quyền lợi của người dân tộc thiểu số trong giáo dục là một trong những chức năng rất quan trọng, một

trong những tiêu chí đánh giá mức độ dân chủ của một xã hội

Vấn đề quyền của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực giáo dục ở huyện Thạnh Trị được xem là một vấn đề rất quan trọng trong xã hội hiện nay Một vấn đề cần được quan tâm của Đảng, Nhà nước và toàn thế giới Do đó người viết chọn đề tài

nghiên cứu về “Quyền của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực giáo dục theo

pháp luật Việt Nam - ở huyện Thạnh Trị, Sóc Trăng” để hoàn thành luận văn tốt

nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu

Thông qua đề tài, người viết muốn làm rõ các quy định của pháp luật quốc gia cũng như pháp luật quốc tế và thực tiễn áp dụng pháp luật về vấn đề quyền của người DTTS trong giáo dục ở huyện Thạnh Trị Qua đó, người viết muốn rút ra những mặt còn tồn tại, thiếu sót cần được khắc phục từ đó đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm làm tăng cường công tác đảm bảo Quyền giáo dục cho người DTTS trên địa

Trang 10

bàn huyện Thạnh Trị trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay

3 Phạm vi nghiên cứu

Trong giới hạn đề tài, người viết tập trung nghiên cứu những vấn đề chung nhất về quyền của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực giáo dục dựa trên những quy định trong Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001, Hiến pháp năm 2013 và quy định của Luật Giáo dục năm 2005, Sửa đổi bổ sung năm 2009, các văn bản dưới luật và một số văn bản pháp luật quốc tế có liên quan nhằm làm rõ mục tiêu nghiên cứu của đề tài Từ đó có thể đưa ra những kiến nghị và định hướng hoàn thiện

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện, nghiên cứu đề tài, người viết đã sử dụng các phương pháp phân tích luật viết, phương pháp phân tích tổng hợp, chứng minh Ngoài ra, người viết còn sử dụng phương pháp thu thập tài liệu, phương pháp so sánh dựa trên tổng hợp số liệu thực tế để thực hiện nội dung của đề tài Đồng thời người viết cũng tham khảo các bình luận và sưu tầm các tài liệu liên quan để làm rõ vấn đề

Trang 11

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU

SỐ TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC

1.1 Các khái niệm liên quan đến quyền của người dân tộc thiểu số trong giáo

dục

1.1.1 Quyền con người và quyền công dân

1.1.1.1 Khái niệm quyền con người

Quyền con người (human rights) là một phạm trù đa diện, do đó có nhiều định nghĩa khác nhau (theo một tài liệu của Liên hợp quốc có đến gần 50 định nghĩa về quyền con người được công bố).1 Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một gốc độ nhất định và chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm được tất cả các thuộc tính của quyền con người

Tính phù hợp của các định nghĩa hiện có về quyền con người phụ thuộc vào sự nhìn nhận chủ quan của mỗi cá nhân, tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế, định nghĩa của văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu Theo định nghĩa này quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người.2Bên cạnh định nghĩa trên, một định nghĩa khác cũng thường được trích dẫn, theo

đó quyền con người là những sự được phép (entilememts) mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội…, Quyền của con người có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người Định nghĩa này mang dấu ấn của học thuyết về các quyền tự nhiên (natural rights) Trên thế giới, cộng đồng quốc tế cũng đều đi tới thống nhất về quyền con người bằng Bản Tuyên ngôn quyền con người năm 1948 rằng quyền con người là quyền bẩm sinh vốn

có, bình đẳng với tất cả mọi người Quyền con người không thể bị tước đoạt hay hạn chế tùy tiện bởi bất cứ ai, nhà nước nào, quyền con người không thể phân chia và hạn chế bất cứ một phần hay toàn bộ các quyền con người nào Quyền con người là những quyền vốn có của con người, không phân biệt quốc tịch, nơi cư trú, giới tính, nguồn gốc quốc gia hay dân tộc, màu da, tôn giáo, ngôn ngữ hay bất kì một thân phận nào khác Mọi người được hưởng các quyền của mình bình đẳng và không có bị phân biệt đối xử Những quyền này có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và không tách rời nhau

Trang 12

Ở Việt Nam, một số định nghĩa về quyền con người do một số chuyên gia, cơ quan nghiên cứu từng nêu ra cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế

Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người Nhưng định nghĩa

mà người viết đồng tình nhất về quyền con người đó là quyền căn bản mà mỗi con người đều có, chỉ đơn thuần họ là những con người Nếu đã là con người thì bất cứ ai,

ở đâu, không kể màu da, giai cấp, địa vị ai cũng phải có những quyền ấy Đó là những quyền được san sẻ một cách phổ quát, đồng đều và thiêng liêng nhất Phổ quát

ở đây là ở đâu cũng có, đồng đều ở đây là ai cũng có và thiêng liêng ở chỗ không ai được chiếm đoạt của người khác

Như vậy, nhìn ở gốc độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ Những chuẩn mực này là kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con người, cho tất cả mọi người Nhờ có những chuẩn mực này mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới bảo vệ được nhân phẩm và có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người Cho dù cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định, một điều rõ ràng là quyền con người là những giá trị cao cả được tôn trọng

và bảo vệ trong mọi xã hội và trong mọi giai đoạn lịch sử.3

1.1.1.2 Khái niệm quyền công dân

Quyền công dân là một khái niệm xuất hiện cùng cách mạng tư sản Cách mạng

tư sản đã đưa con người từ địa vị những thần dân trở thành những công dân (với tư cách là những thần dân bình đẳng trong một nhà nước) và pháp điển hóa các quyền tự nhiên của con người dưới hình thức các quyền công dân Như vậy về bản chất, các quyền công dân chính là những quyền con người được các nhà nước thừa nhận và áp dụng cho công dân mình Nghĩa là, khi đề cập đến quyền công dân là đề cập tới một

bộ phận con người, theo quy định của pháp luật với tư cách là thành viên bình đẳng trong nhà nước, từ đó mà quyền con người được thừa nhận một cách rộng rãi và bình đẳng với ý nghĩa là quyền công dân.4

Quyền công dân không phải là hình thức cuối cùng và toàn diện của quyền con người Với ý nghĩa là một khái niệm gắn liền với nhà nước, thể hiện mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước, được xác định thông qua một chế định pháp luật đó là chế định quốc tịch Quyền công dân là tập hợp những quyền tự nhiên được pháp luật của

Trang 13

một nước ghi nhận và đảm bảo, nhưng chủ yếu dành cho người có quốc tịch nước đó Không ai cũng có thể được hưởng các quyền công dân của một quốc gia nhất định, và không phải hệ thống quyền công dân của mỗi quốc gia đều giống nhau, cũng như đều

tương thích với hệ thống các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người

Theo từ điển Tiếng Việt thì “quyền công dân là quyền của người công dân được thừa nhận, bao gồm quyền tự do dân chủ và quyền về kinh tế - văn hóa, xã hội”.5Quyền công dân là những đặc lợi mà người có quốc tịch của một quốc gia được hưởng do pháp luật của quốc gia quy định.6 So với khái niệm quyền con người, quyền của công dân mang tính xác định hơn, gắn liền với một quốc gia nhất định được pháp

luật mỗi quốc gia quy định

Từ đó có thể đưa ra khái niệm quyền công dân như sau: “quyền công dân là quyền con người gắn liền với một nhà nước nhất định và được nhà nước đó bảo hộ bằng pháp luật của mình đối với người mang quốc tịch của nước mình, thể hiện mối liên hệ pháp lý cơ bản giữa mỗi công dân với nhà nước cụ thể”

Trong mỗi quốc gia, quyền công dân là nội dung cơ bản của quyền con người, là

sự thể hiện quyền con người Không thể quan niệm trù tượng rằng, một cá nhân con người vừa có quyền công dân vừa có quyền con người tách biệt hoàn toàn Thể hiện

quan điểm này Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” Việc ghi nhận và bảo đảm thực hiện

tốt các quyền công dân chính là thực hiện các nội dung quyền con người

1.1.2 Người dân tộc thiểu số và quyền của người dân tộc thiểu số

1.1.2.1 Khái niệm người dân tộc thiểu số

Dân tộc thiểu số là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay Các học giả phương Tây quan niệm rằng, đây là một thuật ngữ chuyên ngành dân tộc học (minority ethnic) dùng để chỉ những dân tộc có dân số ít Trong một số trường hợp, người ta đánh đồng ý nghĩa “dân tộc thiểu số” với “dân tộc lạc hậu”, “dân tộc chậm tiến”, “dân tộc kém phát triển”, “dân tộc chậm phát triển”… Có nhiều nguyên nhân, trong đó có sự chi phối bởi quan điểm chính trị của giai cấp

thống trị trong mỗi quốc gia và trên phương diện nhân chủng học

Trang 14

Đứng trên phương diện nhân chủng học, các nhà nghiên cứu cho rằng dân tộc

thiểu số chia làm 2 thành phần:

+ Dân tộc thiểu số có nguồn gốc lịch sử (minorite historiques) là tập thể tộc

người đã có mặt trên vùng lãnh thổ từ lâu đời mà người ta thường gọi là dân tộc bản

địa (people autochtones)

+ Dân tộc thiểu số di cư (minorite emigrate) là những người nước ngoài đang sang định cư tại một quốc gia có chủ quyền

Đứng trên phương diện chính trị, quốc gia có nhiều khái niệm khác nhau về thuật ngữ “dân tộc thiểu số kéo theo nhiều tranh cãi trên diễn đàn của Liên Hợp Quốc (LHQ) Sau bao năm thảo luận năm 1992 Hội Đồng Liên Hợp Quốc thông qua

“Tuyên ngôn về quyền của người thuộc nhóm thiểu số về dân tộc hay chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ” (the Declaration on the Rights of Persons Belonging to National or Ethnic, Religious and Linguistic Minorities) Bằng cách dựa vào quan điểm mà Gs.Francesco Capotorti (đặc phái viên của LHQ) đã đưa ra vào năm 1997 nêu ra:

“Dân tộc thiểu số là thuật ngữ ám chỉ cho một nhóm người cư trú trên lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền mà họ là công dân của quốc gia này; duy trì mối quan hệ lâu dài với quốc gia mà họ đang sinh sống; thể hiện bản sắc riêng về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của họ; đủ tư cách đại diện cho nhóm dân tộc của họ, mặc

dù số lượng ít hơn trong quốc gia này hay tại một khu vực của quốc gia này; có mối quan tâm đến vấn đề bảo tồn bản sắc chung của họ, bao gồm cả yếu tố văn hóa,

Ở Việt Nam theo khoản 2 Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP, về công tác dân tộc ghi nhận “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số

trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trên thực tế, khái

niệm “Dân tộc thiểu số” chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan về dân số trong một quốc gia đa dân tộc Việc áp dụng và thừa nhận quyền của người thiểu số cũng làm rõ hơn

phần nào bản chất của quyền con người trong xã hội

1.1.2.2 Khái niệm quyền của người dân tộc thiểu số

Trên thế giới có nhiều khái niệm liên quan đến quyền của người DTTS và được quy định trong nhiều văn kiện khác nhau, quyền của những người thiểu số đã được công nhận từ khi Liên Hợp Quốc được thành lập Qua đó quyền của những người thiểu số được thừa nhận là những chủ thể bình đẳng trong việc thừa hưởng quyền con người như những nhóm, cộng đồng gia đình khác trong nhân loại Bên cạnh đó người DTTS cũng là những chủ thể bình đẳng trong việc thụ hưởng các quyền con người tức là quyền của họ được bảo vệ bằng các cơ chế pháp lý các văn kiện quốc tế liên

7

Xem: Minority Rights: international Standards and Guidance for Implement ation (HR/PUB/10/30)

Trang 15

quan đến lĩnh vực này Mặc dù đã có những văn kiện liên quan đến quyền của người thiểu số như trên, nhưng chúng ta vẫn phải thiết lập và xây dựng các cơ chế văn kiện

về quyền của người dân tộc thiểu số

Trên thực tế có hai loại quan điểm nói đến quyền của người thiểu số:

+ Quan điểm đầu tiên: Vấn đề về quyền của người thiểu số chỉ được xem xét dưới gốc độ là cá nhân (individual rights) Cơ sở lý luận của quan điểm này là hầu hết các văn kiện quốc tế cơ bản nhất có liên quan đến bảo vệ người thiểu số như: Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966, Tuyên ngôn về các quyền của những người thuộc nhóm thiểu số về chủng

tộc, ngôn ngữ hoặc tôn giáo năm 1992

Tất cả đều đề cập đến vấn đề cá nhân, và thường diễn đạt theo một cách là “quyền của những người thuộc nhóm thiểu số về dân tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ” (the rights

of persons belonging to national or ethnic, religious or linguis minorities), chứ không phải đề cập đến quyền của người thiểu số với ý nghĩa là các quyền của nhóm hoặc

các quyền tập thể của người thiểu số

+ Quan điểm thứ hai thì cho rằng, khái niệm người thiểu số không chỉ được xem xét ở gốc độ là cá nhân, mà còn phải được xem xét như là một nhóm, một cộng đồng hoặc cao hơn là một dân tộc, chính vì thế các quyền của người thiểu số cần được xem xét ở dưới hai gốc độ là các quyền của cá nhân và các quyền của nhóm hay các quyền

tập thể của người thiểu số

Theo hai quan điểm trên thì người viết thiên về ủng hộ quan điểm thứ hai vì quan điểm thứ hai mang nhiều yếu tố hợp lý hơn, quan điểm này nói lên sự kết hợp chặt chẽ tất cả các quyền đối với người thiểu số Trên thực tế, chúng ta không thể và không nên chia tách các vấn đề của người thiểu số thành hai khía cạnh riêng biệt được, cho dù là quyền của cá nhân, quyền của nhóm hay quyền của tập thể Nếu chia tách như vậy càng làm cho quyền của những người thiểu số không được đảm bảo một cách tối ưu nhất, bởi lẽ con người muốn tồn tại và phát triển trong xã hội thì cần có một thể thống nhất giữa mặt cá nhân và mặt xã hội Không có một con người riêng lẽ

mà chỉ có con người với nghĩa là người thực hiện quyền của bản thân mình trong xã

hội loài người

Trên thực tế, hầu hết các văn kiện quốc tế liên quan đến DTTS và có nhấn mạnh đến tính chất quyền của cá nhân, nhưng bên cạnh việc xác định được tính chất, quyền của cá nhân các văn kiện còn đồng thời xác định được các cá nhân thuộc nhóm các dân tộc thiểu số có thể hưởng thụ các quyền đó cho riêng mình hoặc với các thành viên khác trong dân tộc mình Bên cạnh đó, các văn kiện trên cũng đã thừa nhận một

số quyền của người thiểu số được thụ hưởng, thực hiện nhưng chúng lại mang tính

Trang 16

chất của nhóm hay tập thể như: quyền được thụ hưởng nền văn hóa, thực hành tôn giáo, được sử dụng tiếng nói, chữ viết riêng…

1.1.3 Khái niệm giáo dục và quyền giáo dục

1.1.3.1 Khái niệm giáo dục

Trong tiếng Anh, từ “giáo dục” được biết đến với từ “education”, đây là một từ gốc Latin được ghép bởi hai từ là “Ex” và “Ducere” – “Ex-Ducere” Có nghĩa là dẫn (“Ducere”) con người vượt ra khỏi (“Ex”) hiện tại của họ để vươn tới những gì hoàn

thiện, tốt lành hơn và hạnh phúc hơn

Theo ông John Dewey (1859 – 1952), nhà triết học, nhà tâm lí học và nhà cải cách giáo dục người Mỹ, ông cho rằng cá nhân con người không bao giờ vượt qua được quy luật của sự chết và cùng với sự chết thì những kiến thức, kinh nghiệm mà

cá nhân mang theo cũng sẽ biến mất Tuy nhiên, tồn tại xã hội lại đòi hỏi phải có những kiến thức, kinh nghiệm của con người phải vượt qua được sự khống chế của sự chết để duy trì tính liên tục của sự sống xã hội Giáo dục là “khả năng” của loài người

để đảm bảo tồn tại xã hội.8 Ngoài ra, ông John Dewey cũng cho rằng, xã hội không chỉ tồn tại nhờ truyền dạy, nhưng còn tồn tại chính trong quá trình truyền dạy ấy Như vậy, theo quan điểm của ông John Dewey, ông cũng đề cập đến việc truyền đạt,

nhưng ông nói rõ hơn về mục tiêu cuối cùng của việc giáo dục, là dạy dỗ

Giáo dục ban đầu được thực hiện một cách đơn giản, trực tiếp ngay trong lao động và trong cuộc sống, ở mọi lúc, mọi nơi Khi xã hội ngày càng phát triển lên, kinh nghiệm xã hội được đúc kết nhiều hơn, yêu cầu của xã hội đối với con người ngày càng cao hơn, các loại hình hoạt động xã hội ngày càng mở rộng hơn thì giáo dục theo phương hướng trực tiếp không còn phù hợp mà đòi hỏi phải có một phương thức giáo dục khác có hiệu quả hơn Giáo dục gián tiếp theo phương thức nhà trường, được thực hiện một cách chuyên biệt ra đời và ngày càng phát triển đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu của xã hội

Do đó, xã hội ngày càng phát triển, giáo dục ngày càng trở nên phức tạp hơn và mang tính chuyên biệt hơn Sự phát triển đó là do yêu cầu tất yếu của xã hội và do những sức mạnh to lớn của giáo dục tạo ra sự phát triển của xã hội Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển về mọi mặt của xã hội thì không ai có thể phủ nhận về nó.9

Từ khi ra đời, giáo dục đã trở thành một yếu tố cơ bản thúc đẩy sự phát triển thông qua việc thực hiện các chức năng xã hội của nó Đó chính là những tác động tích cực của giáo dục đến các mặt hay các quá trình xã hội và tạo ra sự phát triển cho xã hội

Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “giáo dục”:

Trang 17

- Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách dưới ảnh hưởng của tất cả các hoạt động từ bên ngoài, được thực hiện một cách có ý thức của

con người trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội

- Giáo dục còn được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích xác định được

tổ chức một cách khoa học (có kế hoạch, có phương pháp, có hệ thống) của các cơ

quan giáo dục chuyên biệt (nhà trường) nhằm phát triển toàn diện nhân cách

- Ngoài ra, giáo dục còn được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách người được giáo dục chỉ liên quan đến giáo dục đạo đức Sự ra đời và phát triển của giáo dục gắn liền với sự ra đời và phát triển của xã hội Một mặt, giáo dục phục vụ cho sự phát triển xã hội, bởi lẽ, xã hội sẽ không phát triển thêm một bước nào nếu như không có những điều kiện cần thiết cho giáo dục tạo ra Mặt khác, sự phát triển của giáo dục luôn chịu sự quy định của xã hội thông qua những yêu cầu ngày càng cao và những điều kiện ngày càng thuận lợi do sự phát triển xã hội mang lại Chính vì

vậy, trình độ phát triển của giáo dục phản ánh những đặc điểm phát triển của xã hội

Về cơ bản, các giáo trình về giáo dục học ở Việt Nam đều trình bày “Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người” Định nghĩa này nhấn mạnh về sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnh đến yếu tố dạy học, nhưng không đề cập

đến mục đích sâu xa hơn, mục đích cuối cùng của việc đó

Như vậy, có thể kết luận rằng, “giáo dục” là sự hoàn thiện của mỗi cá nhân, đây cũng là mục tiêu sâu xa của giáo dục; người giáo dục, hay có thể gọi là thế hệ trước,

có nghĩa vụ phải dẫn dắt, chỉ hướng, phải truyền tải lại cho thế hệ sau tất cả những gì

có thể để làm cho thế hệ sau trở nên phát triển hơn, hoàn thiện hơn Với ý nghĩa đó, giáo dục đã ra đời từ khi xã hội loài người mới hình thành, do nhu cầu của xã hội và trở thành một yếu tố cơ bản để làm phát triển loài người, phát triển xã hội Giáo dục

là một hoạt động có ý thức của con người nhằm vào mục đích phát triển con người và phát triển xã hội

1.1.3.2 Khái niệm quyền giáo dục của người dân tộc thiểu số

Quyền con người là những giá trị vốn có của con người trong xã hội Được thể hiện qua những quyền cơ bản nhằm để phục vụ cho nhu cầu thiết yếu cho bản thân con người Theo đó những quyền này được thừa nhận và tôn trọng trong xã hội loài người, không một chủ thể, cơ quan nào có thể hạn chế hay chiếm đoạt các quyền ấy. Trong đó có quyền giáo dục của người DTTS, Hiến pháp năm 2013 có quy định

“Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập”.10 Để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp,

Luật giáo dục năm 2005 có ghi nhận Quyền và nghĩa vụ học tập của công dân: “Học

10

Điều 39, Hiến pháp năm 2013

Trang 18

tập là quyền và nghĩa vụ của công dân Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập…, khuyết tật và đối tượng được hưởng chính sách xã hội

trong giáo dục nói chung và của người thiểu số trong giáo dục nói riêng được Nhà nước thừa nhận và đảm bảo thực hiện một cách toàn diện Từ đó có thể đưa ra khái niệm quyền giáo dục của người dân tộc thiểu số “Là quyền lợi của người dân tộc thiểu số được hưởng những quyền liên quan đến giáo dục như: quyền được học tập, được thi cử, được hưởng các ưu đãi của Nhà nước trong học tập…

Mặt khác đây còn là quyền cơ bản, cần thiết vốn có của họ trong cuộc sống, không bị phân biệt hay hạn chế bất kì chủ thể, cơ quan, tổ chức nào, bởi quan tâm đến giáo dục là một trong những vấn đề quan trọng và cấp thiết hiện nay Nó có tầm ảnh hưởng trực tiếp, sâu rộng đến việc phát triển chung đất nước Việc đảm bảo quyền giáo dục đối với người dân tộc thiểu số góp phần bảo vệ quyền lợi chung của những người DTTS thiểu số trong giáo dục cũng như nâng cao quyền con người trong lĩnh vực giáo dục

1.1.4 Ý nghĩa về quyền và nghĩa vụ của người dân tộc thiểu số trong giáo dục hiện nay

1.1.4.1 Ý nghĩa của giáo dục

Quyền của người dân tộc thiểu số trong giáo dục hiện nay có ý nghĩa hết sức quan

trọng đối với tất cả người dân tộc đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam như:

- Làm cho người dân tộc thiểu số tin tưởng rằng Đảng và Nhà nước vẫn luôn quan tâm, giúp đỡ đến họ Từ đó những người DTTS sẽ ý thức được tầm quan trọng, lợi ích của việc học mà quan tâm nhiều hơn đến việc học của con em mình, không ỷ lại

và không ngừng phấn đấu cho sự nghiệp phát triển nền giáo dục của Nước nhà cũng nhằm để đáp ứng lại phần nào niềm tin tưởng của Đảng và Nhà nước đã quan tâm,

chăm lo đến mình

- Khuyến khích, nâng cao chất xám cho nguồn nhân lực trẻ và tạo được nguồn lực cho sự phát triển đất nước trong thời buổi nền công nghiệp hóa – hiện đại hóa hiện nay Vì thế hệ trẻ sau này là những chủ nhân tương lai của đất nước sinh thời Chủ Tịch Hồ Chí Minh có nói “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”.12

Trang 19

- Nâng cao được trình độ, mặt bằng tri thức giữa các dân tộc thiểu số với nhau, giữa các dân tộc thiểu số với dân tộc đa số trong nước cũng như sự phát triển của nền giáo dục nước Việt Nam so với thế giới Trong giai đoạn hiện nay trình độ học vấn người DTTS đã cải thiện rất nhiều so với những năm trước đây Nhưng so với người dân tộc đa số thì người DTTS vẫn chiếm một vị trí rất hạn chế trong sự nghiệp phát triển giáo dục trong nước Cho nên việc nâng cao trình độ giáo dục đối với những người dân tộc thiểu số là vấn đề rất cần thiết và cấp bách hiện nay Việc phát triển trình độ giữa các dân tộc thiểu số cũng góp phần thúc đẩy vào sự phát triển chung của

nền giáo dục Việt Nam trên trường quốc tế

- Bên cạnh thừa nhận quyền của người DTTS trong giáo dục còn thể hiện được sự bình đẳng trong giáo dục, thực hiện thắng lợi trong mọi hoạt động của giáo dục đào tạo để tiến tới mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước và hoàn thiện nhân cách của con người, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc theo Đại hội IX của Đảng “Giáo dục là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa, là điều kiện phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền

vững”

1.1.4.2 Nghĩa vụ của người dân tộc thiểu số trong giáo dục

Ngoài việc Nhà nước đảm bảo thể hiện quyền của mình trong giáo dục người DTTS cần có một số trách nhiệm và một số nghĩa vụ của mình đối với sự phát triển chung của giáo dục như: Cố gắng học tập và không ngừng trao dồi kiến thức bản thân

để phục vụ cho nước nhà, chấp hành những chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục đã đề ra, không bị kích động hay lôi kéo người khác làm những việc ảnh hưởng không tốt đến giáo dục, phải biết giúp đỡ người khác về công tác giáo dục, ra sức tuyên truyền cùng chính quyền để đưa những chủ trương, chính sách của Nhà nước đến được với mọi người dân Không được ỷ lại trước những chính sách của Đảng và nhà nước đã ưu ái, giúp đỡ cho mình Cần phấn đấu hơn nữa để hoàn thiện nhân cách bản thân để trở thành những người có tài để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng bảo vệ tổ quốc cũng như sự phát triển bền vững của giáo dục nói chung cũng

như đối với giáo dục người dân tộc nói riêng

1.2 Những vấn đề đặc trưng về quyền của người dân tộc thiểu số trong lĩnh

Trang 20

với nhau, song chúng hoàn toàn khác nhau về nội dung, nhất là về bản chất và ý

nghĩa chính trị

Khái niệm “dân tộc” trong cụm từ “ quyền dân tộc tự quyết” được dùng để chỉ dân tộc/ quốc gia (nation) “quyền dân tộc tự quyết” là quyền của quốc gia, dân tộc, đây còn là quyền làm chủ của mỗi dân tộc, quyền tự quyết định con đường phát triển

kinh tế, chính trị, xã hội của dân tộc mình Còn quyền của các dân tộc thiểu số

(Ethnic Minority) chính là quyền công dân những quyền cơ bản về văn hóa - xã hội

của một bộ phận dân cư là nhóm người thiểu số về dân tộc trong một quốc gia nào đó

Nói tóm lại quyền tự quyết dân tộc có ý nghĩa bao hàm rộng hơn quyền người dân tộc thiểu số, quyền tự quyết dân tộc là những quyền chung nhất, cơ bản nhất Còn quyền của người dân tộc thiểu số là một số quyền mà người dân tộc thiểu số được thụ

hưởng từ những quyền chung ấy

1.2.2 Tính chất quyền của người dân tộc thiểu số nói chung và quyền được giáo dục nói riêng

1.2.2.1 Tính phổ biến (universal)

Quyền của dân tộc thiểu số là những gì bẩm sinh, vốn có của họ và được áp dụng bình đẳng cho tất cả các dân tộc, không có sự phân biệt đối xử vì bất kỳ lý do gì Chẳng hạn như về chủng tộc, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, khả năng phát triển, trình độ học vấn, V.v… giữa các dân tộc Liên quan đến tính chất này, cũng cần lưu ý

là bản chất của sự bình đẳng về quyền con người ở đây không có nghĩa là cào bằng mức độ thụ hưởng giữa các quyền, mà là bình đẳng về tư cách của chủ thể quyền về

con người

1.2.2.2 Tính không thể chuyển nhượng (inalienable)

Tính chất này thể hiện quyền của người dân tộc thiểu số không thể bị tước bỏ hay hạn chế quyền một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước Và luôn được sự quan tâm và tôn trọng nhưng trừ một số trường hợp đặc biệt, chẳng hạn như khi một người phạm một tội ác thì có thể bị tước quyền

tự do.13

1.2.2.3 Tính không thể phân chia (indivisible)

Thể hiện ở chỗ các quyền con người, trong đó có các quyền của dân tộc thiểu số

có tầm quan trọng, quyền của DTTS được hưởng thì không có một dân tộc khác nào chiếm đoạt được Tính không thể phân chia ở đây có nghĩa là Các quyền của người DTTS mà họ được hưởng thì không có một chủ thể nào khác chiếm đoạt hay chia rẽ

quyền của họ được cả

13

United Nations, Human Rights, A Basic Handbook for UN Staff, tr.3 và Freequently asked questions on a human rights-based approach to development cooperation, sđd, tr.8

Trang 21

Tuy nhiên, liên quan đến tính không thể phân chia quyền của người thiểu số, cần chú ý là trong thực tế, tùy những bối cảnh cụ thể và với những đối tượng cụ thể, có thể ưu tiên thực hiện một số quyền con người nhất định (ví dụ, trong bối cảnh dịch bệnh đe dọa, quyền được ưu tiên thực hiện là quyền được chăm sóc y tế hoặc ở phạm

vi rộng hơn là một số điều ước quốc tế về một số quyền ưu tiên cần được bảo đảm đối với phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người thiểu số như: các Công ước về xóa bỏ tất

cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) và Công ước về quyền trẻ

em (CRC) đã đặt ra một số quyền ưu tiên cần được bảo đảm với phụ nữ, trẻ em) Cho nên tính chất này rất cần đối với quyền của người DTTS vì họ được hưởng các quyền

đã quy định và không bao giờ bị phân chia

1.2.2.4 Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau(interrelated, interdependent)

Thể hiện ở chỗ việc bảo đảm các quyền của người DTTS, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau Các quyền mà người DTTS được hưởng sẽ phụ thuộc lẫn nhau, đảm bảo cho họ để họ thực hiện một cách nghiêm túc và không bị vi phạm Từ đó phát triển toàn vẹn quyền của mình để thực hiện trong cuộc sống và hoạt động giáo dục để góp phần nâng cao ý thức và khả năng hiểu biết của mình trong hoạt động giáo dục

1.2.3 Các chủ thể tham gia vào đảm bảo quyền của người tộc thiểu số trong lĩnh vực giáo dục

1.2.3.1 Chủ thể có quyền

Nói đến quyền được giáo dục của người dân tộc thiểu số thì chủ thể quyền ở đây không ai khác hơn là các cá nhân, các thành viên của các dân tộc thiểu số Vì quyền của người dân tộc thiểu số là một trong những quyền đặc trưng riêng nên chủ thể quyền ở đây chỉ có thể giới hạn là người dân tộc thiểu số trong cộng đồng mà họ sinh sống Ngoài những chủ thể quyền là cá nhân, còn có thể là một chủ thể quyền khác là một nhóm người, tập thể dân tộc thiểu số nào đó, họ cùng nhau thực hiện quyền của mình thông qua các hoạt động cụ thể của từng cá nhân

1.2.3.2 Chủ thể có trách nhiệm

+ Nhà nước

Đây là nhóm chủ thể giữ vai trò chủ đạo trong việc đưa vấn đề quyền của người

dân tộc thiểu số vào trong thực tiễn bằng cách thông qua các hoạt động của bộ máy Nhà nước Như ban hành các văn bản pháp luật hoặc đưa ra những quy định hay những tiền lệ về những quyền của dân tộc thiểu số nói chung và quyền của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực giáo dục nói riêng Nhà nước hiện thực hóa các vấn đề lý luận về quyền của người dân tộc thiểu số vào trong cuộc sống Bên cạnh đó, Nhà nước còn ban hành ra những chính sách, các biện pháp thực hiện, xây dựng những

Trang 22

chương trình hành động để tạo điều kiện thuận lợi trong việc thực hiện quyền của

người dân tộc thiểu số

+ Các tổ chức liên chính phủ, phi chính phủ có liên quan

Đây là chủ thể đóng góp rất lớn cho sự phát triển về quyền của người dân tộc thiểu số Các tổ chức này từ khi xuất hiện lần đầu tiên trên thế giới, trải qua quá trình lịch sử tồn tại và phát triển cho thấy họ đã khẳng định tầm ảnh hưởng của mình đối với đại đa số người dân trên khắp thế giới, có tác động tích cực vào chính sách pháp luật của từng quốc gia

Với tầm ảnh hưởng của mình, các tổ chức này góp phần rất quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển các quyền của người dân tộc thiểu số ở mọi nơi Những tổ chức Liên chính phủ thường có hoạt động liên quan đến chính trị của mỗi quốc gia Có tác động tích cực vào pháp luật của mỗi quốc gia nói chung và đối với những quyền của dân tộc thiểu số nói riêng Tuy nhiên các tổ chức phi chính phủ lại quy định hoạt động vì các mục tiêu chính trị, được thành lập vì mục tiêu nhất định, thường mang tính chất hỗ trợ vì sự phát triển của cộng đồng, bảo vệ con người nên được chào đón nồng nhiệt hầu hết ở các quốc gia, vì lẽ đó nên đây cũng là chủ thể rất quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển quyền của người dân tộc thiểu số trên thế giới

+ Các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quốc gia là thành viên của các công ước

về quyền dân tộc thiểu số

Đây chính là những chủ thể có liên quan trực tiếp đến vấn đề bảo vệ và phát triển quyền của người dân tộc thiểu số Các chủ thể này đóng vai trò là người thực hiện việc bảo vệ và phát triển quyền Đó có thể là những cơ quan có quyền lực Nhà nước trong việc thực hiện những chính sách, công tác có liên quan đến người dân tộc thiểu

số Các cá nhân là những chủ thể hằng ngày, hằng giờ và luôn là nhân tố quyết định trong việc bảo vệ, phát triển các quyền của người dân tộc thiểu số Các cơ quan, tổ chức, quốc gia đều thực hiện các quyền của mình thông qua các cá nhân Cá nhân ở đây có thể bất kì ai, cũng có thể là giữa những người thiểu số với nhau Cá nhân - nghĩa là tất cả mọi người đang tồn tại, đều là những chủ thể trực tiếp thực hiện các quyền này.14

1.2.4 Quyền của người dân tộc thiểu số trong pháp luật Việt Nam

Hiện nay, ở nước ta vấn đề liên quan đến quyền con người thể hiện ở khá nhiều lĩnh vực Trong Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” (Điều 50) Với việc Hiến Pháp quy định những quyền

14

Lê Thị Ngọc Yến, Luận văn tốt nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ, 2011, tr 20

Trang 23

mà công dân có được như thế Những người DTTS họ cũng có được những quyền ấy

đó là quyền về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa – xã hội được mọi người tôn trọng

2013 để cụ thể các quy định của Hiến pháp ở các luật Bầu cử đại biểu quốc hội năm

2001, Luật Bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân năm 2004…

sự bình đẳng trong việc thụ hưởng quyền giữa tất cả mọi người với nhau không phân biệt nam, nữ, tầng lớp, giai cấp, độ tuổi đều được hưởng các quyền bình đẳng trước tòa án và quyền được xét xử công bằng.…, Ngoài ra nhóm quyền này còn bảo vệ mọi người trước những sự xâm phạm từ những yếu tố bên ngoài tác động đến bản thân con người như quyền bất khả xâm phạm về danh dự, tính mạng, thân thể…

1.2.4.2 Quyền kinh tế, văn hóa - xã hội trong pháp luật Việt Nam

 Nhóm Quyền về lĩnh vực kinh tế

Đây là một trong những nhóm quyền cũng khá là quan trọng đối với người DTTS Quyền về các lĩnh vực kinh tế của người dân được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các quy định trong pháp luật (Hiến pháp) và các văn bản luật (luật Dân sự năm 2005)…, Ở nhóm quyền này người DTTS có quyền tự do hoạt động kinh tế để phát triển cuộc sống và đáp ứng được các nhu cầu về vật chất, tinh thần cho bản thân, gia đình và xã hội Trong nhóm quyền này những người DTTS có quyền tự do trong hoạt

Trang 24

động kinh tế như mọi người, có quyền kinh doanh đối với những ngành, nghề mà pháp luật không cấm Bên cạnh đó họ được Nhà nước thừa nhận quyền được sở hữu những tài sản hợp pháp của bản thân và những lợi ích có được trong kinh tế được ghi

nhận trong Hiến pháp năm 2013 (Điều 32) và cụ thể hóa bởi luật Dân sự, Kinh tế…,

 Nhóm quyền về văn hóa – xã hội

Nhóm quyền về văn hóa

Văn hóa là những sản phẩm tồn tại và gắn bó cùng với đời sống tinh thần con người Phản ánh đúng cuộc sống thực tế của người dân Đó là những giá trị mang tính lịch sử đã ăn sâu vào trong nhận thức của từng cá nhân, từng dân tộc Đối với người DTTS văn hóa càng có một ý nghĩa hết sức quan trọng không thể nào thiếu trong cuộc sống Họ quan niệm rằng văn hóa như là một món ăn tinh thần mà mỗi người ai cũng có, ai cũng có quyền được thể hiện Nhà nước quy định sự bình đẳng trong việc hưởng thụ và tiếp cận quyền văn hóa được thừa nhận trong Hiến pháp năm 2013 Điều

41 “Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa” và pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo năm

2004

Ngoài ra Chính phủ cũng ban hành chính sách bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa truyền thống dân tộc, nhất là của dân tộc thiểu số trong đó có bảo tồn tiếng nói và chữ viết Đến nay Việt Nam đã xây dựng được một nền văn hóa tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc và thống nhất trong sự đa dạng của 54 dân tộc anh em trên lãnh thổ Việt Nam

Nhóm quyền về xã hội

Nhóm quyền về xã hội có một ý nghĩa quan trọng đối với người DTTS Hiện nay, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi để người DTTS có thể thực hiện những nhóm quyền liên quan trong lĩnh vực xã hội, bằng cách thừa nhận các nhóm quyền này trong quy định của Hiến pháp năm 2013 quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34), quyền chăm sóc bảo vệ sức khỏe (Điều 38), quyền và nghĩa vụ lao động (Điều 35), quyền và nghĩa vụ học tập (Điều 39), tất cả các quyền đó được cụ thể trong các luật Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004; Luật Lao động năm 2012; Luật Giáo dục năm 2005…., Trong đó quyền giáo dục đối với người DTTS giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển của nước nhà “phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”.15 Đảng và nhà nước luôn coi trọng sự nghiệp phát triển giáo dục, đào tạo Ngay từ những ngày đầu chính quyền mới thành lập, tháng 9 năm 1945, Chủ

15

Điều 9, Luật giáo dục năm 2005

Trang 25

tịch Hồ Chí Minh đã đề ra một trong ba nhiệm vụ then chốt trong đó có “diệt giặt dốt”

Từ đó đến nay giáo dục thường xuyên được chú trọng, quan tâm và phát triển Từ khi Đảng và Nhà nước coi trọng việc giáo dục, công tác giáo dục ở vùng dân tộc thiểu

số cũng được quan tâm nhiều hơn trước, trong việc nâng cao trình độ dân trí của người DTTS qua đó nhằm cân bằng mặt bằng kiến thức chung của người dân, đào tạo được nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài trong dân tộc thiểu số Đồng thời thông qua

đó giáo dục cho họ có ý thức sống và làm việc phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật, góp phần giữ gìn thuần phong mỹ tục, xây dựng gia đình văn hóa, có tinh thần yêu nước…

Tại Điều 10 Luật Giáo dục năm 2005 quy định: “Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam, nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế, đều bình đẳng về cơ hội học tập” Nhà nước thực hiện công bằng xã hội

trong giáo dục bằng cách ban hành ra những chính sách ưu tiên để tạo điều kiện để cho con em người dân tộc thiểu số thực hiện quyền học tập của mình

Điều 7 Luật Giáo dục năm 2005 quy định: “Ngôn ngữ dùng trong nhà trường và

cơ sở giáo dục khác; dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số; dạy ngoại ngữ Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác Căn cứ vào mục tiêu giáo dục và yêu cầu cụ thể về nội dung giáo dục, Thủ tướng Chính phủ quy định việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong nhà trường

và cơ sở giáo dục khác Nhà nước tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giúp cho học sinh người dân tộc thiểu số dễ dàng tiếp thu kiến thức khi học tập trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác Việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số được thực hiện theo quy định của Chính phủ” Luật Giáo dục năm 2005

quy định rất cụ thể về quyền được học tập của các bậc học cho mọi người dân sống trên lãnh thổ nước Việt Nam tại Chương II, Mục 1,2,3,4,5, Luật Giáo dục năm 2005”

1.3 Lịch sử phát triển quyền của người dân tộc thiểu số trong nền giáo dục ở

Việt Nam

1.3.1 Giai đoạn trước năm 1975

Trong giai đoạn này nước ta bị chia tách thành hai miền: miền Nam và miền Bắc Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và đi lên xây dựng nhà nước chủ nghĩa xã hội Miền Nam còn phải chịu dưới sự thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai Mục tiêu trước mắt của Đảng là tiếp tục thực hiện cuộc đấu tranh để giải phóng miền Nam để đi đến thống nhất đất nước được thực hiện bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau, trong điều kiện pháp lý có nhiều thuận lợi cho nước ta Tại Hiệp định Giơnevơ năm

Trang 26

1973 và tình hình căng thẳng của cục diện thế giới, bằng cuộc chiến tranh lạnh diễn

ra rất căng thẳng và gay gắt đang đe dọa đến hòa bình, an ninh thế giới diễn ra giữa

hai phe

Ở miền Bắc sau khi quân đội pháp rút đi, nhân dân lo tập trung vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, đảm bảo đời sống, củng cố, xây dựng miền Bắc trở thành hậu phương chiến lược cho cả nước, làm cơ sở cho cuộc đấu tranh trước mắt Cùng với đó miền Bắc cũng đang phải đối mặt với những khó khăn chồng chất do hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại Trước những tình hình đó Đảng chỉ đưa ra những chính sách nhằm khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh, quan tâm đến

đời sống của nhân dân để đảm bảo cuộc sống

Cũng chính vì thế trong giai đoạn này Đảng chưa đưa ra chính sách phát triển cụ thể dành cho người dân tộc thiểu số trong giáo dục mà chỉ đưa ra những chính sách liên quan đến sự phát triển chung của giáo dục (nhấn mạnh đến giáo dục đại chúng, nhất là xóa nạn mù chữ của chính sách ngu dân của thực dân Pháp, cũng như giáo dục hướng nghiệp và chuyên nghiệp) Những Chính sách và hệ thống tổ chức giáo dục này tiếp tục được áp dụng cho cả nước sau khi hai miền Bắc Nam thống nhất năm

1975

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1975 đến nay

Đây là giai đoạn đất nước đã được giải phóng Nam – Bắc sum họp một nhà Đất nước được sống trong cảnh hòa bình, trước tình hình đất nước có nhiều chuyển biến quan trọng như thế Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương và phương hướng liên quan đến hoạt động giáo dục trong nước và hợp tác quốc tế

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của ĐCSVN (1986) với công cuộc đổi mới đất nước nền kinh tế Việt Nam có nhiều hướng phục hồi và phát triển hơn trước

Từ đó việc chú trọng đến giáo dục cũng được Đảng và Nhà nước quan tâm nhiều hơn nhất là quan tâm đến việc tạo điều kiện cho mọi người được tiếp cận với giáo dục, trong đó quan tâm đến sự phát triển giáo dục của người DTTS bằng việc Nhà nước thể hiện rõ các chính sách đó trong các văn bản luật (Hiến Pháp, luật), các văn bản

dưới luật (Nghị định, thông tư…,)

Trải qua hơn 25 năm, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã đạt được một số thành tựu có ý nghĩa quan trọng to lớn, trong lịch sử giáo dục Cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội, lĩnh vực giáo dục cũng không ngừng phát triển mạnh

mẽ trên ba phương diện: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Việc đầu tư cho giáo dục, đào tạo ngày càng tăng, trang thiết bị trường học được tăng cường trang bị khang trang hơn, quy mô đào tạo không ngừng được mở rộng về cả số lượng và chất lượng trên khắp cả nước, trình độ dân trí ngày ngày được nâng cao Số

Trang 27

lượng học sinh không ngừng được tăng lên, trong đó số học sinh trung cấp chuyên

nghiệp, và sinh viên đại học tăng 10%/ năm Việc đổi mới trong giáo dục, đào tạo

đang được tích cực triển khai ở mọi cấp học Nhiều trường dân lập, công lập, tư thục bậc đại học, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề, phổ thông và mầm non được thành

lập và hoạt động ban đầu có hiệu quả Về thành tựu phát triển, giáo dục, đào tạo

Tại đại hội XI của Đảng nhận định “Đổi mới trong giáo dục đạt được một số kết quả bước đầu” Chi ngân sách quốc gia hiện hành dành cho giáo dục tăng trưởng đều đặn từ 7,7% năm 1992 đến năm 2003 là 15,7% và đến năm 2010 chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo chiếm hơn 20% tổng chi ngân sách của cả nước, nhiều luật

lệ và định chế giới hạn vai trò của khu vực tư trong giáo dục đã được bãi bỏ hay làm lỏng lẽo bớt Chính phủ đã ban hành một số sắc lệnh và nghị quyết nhằm khuyến khích vai trò tư nhân trong giáo dục như các trường bán công, dân lập, và các trường liên doanh với nước ngoài hay 100% đầu tư nước ngoài Giáo dục tư rất phổ biến tại các trường mầm non, các trường chuyên nghiệp và công nghệ, và càng ngày càng gia

tăng trong lĩnh vực đại học

Bên cạnh đó việc huy động vốn từ các nguồn lực xã hội để hỗ trợ cho vùng kinh

tế khó khăn, vùng dân tộc thiểu số được quan tâm nhiều hơn Qua những việc làm như trên, giáo dục, đào tạo ngày càng chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong sự phát triển bền vững của Đảng và Nhà nước Quy mô giáo dục ngày càng tiếp tục được phát triển Đến năm 2010, sự ổn định chính trị và những thành quả phát triển kinh tế -

xã hội của đất nước đã cải thiện, đời sống của nhân dân, tạo điều kiện cho giáo dục,

đào tạo phát triển

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quan tâm của Quốc hội, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và chính quyền các cấp, sự quản lí của Bộ (Bộ giáo dục và Đào tạo), đặc biệt là sự quan tâm, tham gia đóng góp của các đoàn thể, tổ chức chính trị, chính trị

xã hội, tổ chức xã hội trong và ngoài nước, xã hội nghề nghiệp, cùng với lòng yêu nước, yêu nghề, ý thức trách nhiệm, sự nổ lực của đội ngũ nhà giáo và quyết tâm đổi mới của ngành giáo dục đã làm phát huy mạnh mẽ truyền thống hiếu học của dân tộc

để đi đến gặt hái được nhiều thành quả to lớn trong giáo dục, góp phần nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển được nền kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng, chính trị của đất nước

1.4 Tầm quan trọng quyền của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực giáo dục

Trang 28

hội Đặc biệt hơn là trong thời đại của nền khoa học, công nghệ hiện nay đòi hỏi phải đào tạo được nhiều nguồn nhân tài để phục vụ vào công cuộc phát triển nhất là đối với nước Việt Nam ta muốn phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa trước tiên cần quan tâm nhiều đến giáo dục nhất là phát triển giáo dục đối với

người dân tộc thiểu số

Tuy nhiên, Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo và là một trong những nước đông dân trên thế giới Hiện nay cả nước có tổng cộng khoảng 54 dân tộc anh em cùng chung sống trong cảnh hòa bình, thân thiện, giúp đỡ nhau trên khắp cả nước Trong đó dân số của người DTTS chiếm khoảng 11 triệu người chiếm 14,3% dân số cả nước đây là một bộ phận người đông đảo góp phần cho sự phát triển chung của nước nhà, phần lớn các dân tộc thiểu số có dân số không đồng đều, có những dân tộc thiểu số có dân số rất đông (Thái, Tày, Hoa ), bên cạnh đó lại có những dân tộc thiểu số có dân số rất ít và có thể không còn nữa trong thời gian tới (Brâu, Rơ-măm, Ơ-đu)

Với một nền dân số ít ỏi như vậy nên vấn đề giáo dục đối với người DTTS còn thấp là do chính sách trong giáo dục của nhà nước chưa quan tâm đầy đủ, đầu tư chưa thỏa đáng cho sự nghiệp giáo dục ở vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Cho nên, trên thực tế sự chênh lệch về trình độ giữa các dân tộc thiểu số vẫn còn khá lớn, công tác phát triển giáo dục ở những vùng dân tộc khó khăn vẫn chưa đáp ứng được

yêu cầu, tỷ lệ mù chữ, tái mù chữ trong đồng bào còn khá cao

Mặc khác, là do người DTTS chưa ý thức được rõ tầm quan trọng của việc học, nhiều đồng bào các dân tộc thiểu số luôn đặt ra những câu hỏi “học để làm gì?”, “tại sao phải học?” Vì những câu hỏi này dẫn đến những gia đình do dự khi đưa ra quyết định là có nên cho con em mình đi học hay không

Chính vì đại đa số đồng bào các dân tộc thiểu số là chưa nhận thức thấy được lợi ích của việc học tập, nên họ chưa quan tâm đến việc cho con em mình đi học và cũng chưa ý thức được những quyền mà mình có được trong đó có quyền được giáo dục, được học tập Do vậy, nhiều văn bản luật, văn bản dưới luật được Nhà nước ban hành

ra để bảo vệ quyền con người trong giáo dục trong đó có quyền được giáo dục của người DTTS Đây còn là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận quyền của

người DTTS trong giáo dục Bên cạnh đó, Đảng và nhà nước không ngừng quan tâm

đến các dân tộc thiểu số bằng việc đưa ra những chính sách, chương trình hỗ trợ con

em đồng bào dân tộc trong sự nghiệp giáo dục nhằm tạo điều kiện cho người DTTS nâng cao trình độ học vấn và phát huy tốt hơn quyền của mình trong giáo dục

Trang 29

CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC- THỰC TRẠNG

Ở HUYỆN THẠNH TRỊ

2.1 Quy định của pháp luật về quyền của người dân tộc thiểu số trong lĩnh

vực giáo dục – thực trạng ở huyện thạnh trị

2.1.1 Quyền của người dân tộc thiểu số trong văn bản luật

 Quyền của người dân tộc thiểu số trong Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi,

bổ sung năm 2001

Hiến pháp vừa khẳng định quyền của đồng bào người dân tộc thiểu số vừa quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ

dân tộc Đây cũng là yếu tố tạo điều kiện cho các dân tộc thực hiện, phát huy quyền

bình đẳng của mình qua các quy định của pháp luật và sự hỗ trợ về chính sách cụ thể của Nhà nước Quyền bình đẳng của người dân tộc thiểu số trên mọi phương diện

luôn được khẳng định trong Hiến pháp qua các thời kỳ

Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 nêu rõ: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng

Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 cũng ghi nhận quyền bình đẳng

của con người như sau: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân biệt nào Mọi người đều có quyền được bảo vệ một cách bình đẳng chống lại bất kỳ sự phân biệt đối xử nào vi phạm bản Tuyên ngôn này, và chống lại bất kỳ sự kích động phân biệt đối xử nào như vậy.” 17

Bản Tuyên ngôn thế giới và Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung 2001 của nước CHXHCNVN cũng nói lên sự bình đẳng của con người trước pháp luật và tất nhiên là con người phải được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng giữa tất cả mọi người với

Trang 30

nhau, không có một sự phân biệt hay bất kì sự kỳ thị nào Bên cạnh đó con người có quyền chống lại sự bất bình đẳng, kì thị, phân biệt đối xử, những hành vi xâm phạm quyền tự do của con người Thông qua đó ta thấy được quyền bình đẳng của con người là rất quan trọng và rất cần thiết đối với mọi người, đặc biệt, là đối với những người DTTS

Hiến pháp cũng quy định cho người DTTS các quyền công dân khác như: quyền bầu cử, quyền tự do ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND các cấp, quyền tự do tôn giáo của đồng bào người dân tộc cũng như trách nhiệm của nhà nước về phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế cho đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi Như vậy, Hiến pháp vừa khẳng định quyền của đồng bào người dân tộc vừa quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc thực hiện các chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc; Nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị chia rẽ dân tộc Đây cũng là những yếu tố tạo điều kiện cho các dân tộc thực hiện, phát huy quyền bình đẳng của mình thông qua quy định của pháp luật và sự hỗ trợ về đường lối, chính sách, chủ trương cụ thể của Đảng, Nhà nước

Trên cơ sở những quy định của Hiến pháp, quyền bình đẳng của người dân tộc thiểu số được thực hiện trên mọi phương diện và ngày càng tiếp tục được khẳng định phát triển trong thực tế Đặc biệt là về giáo dục, y tế, văn hóa - xã hội, mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế, đều bình đẳng trước pháp luật về cơ hội học tập Nhà nước tạo điều kiện để người DTTS được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình nhằm giữ gìn

và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, được hưởng các chính sách ưu tiên đặc biệt nhằm tăng cơ hội tiếp cận về giáo dục cho con em người dân tộc thiểu số

Người DTTS được hưởng các quyền ưu tiên về chăm sóc sức khỏe, y tế, an sinh

xã hội… Các dân tộc được phát triển hoài hòa trong một nền văn hóa đa dân tộc, đa tôn giáo, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc đều được trân trọng, giữ gìn và phát triển Đồng bào người dân tộc ai cũng có quyền tham gia vào các hoạt động văn hóa dân tộc mình, của cộng đồng, xã hội và được hưởng các chính sách về phát triển văn hóa Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, được hưởng các chính sách ưu đãi về tự tạo việc làm, lập nghiệp

Quyền của đồng bào người dân tộc thiểu số từng bước được củng cố, trên nhiều phương diện, tạo điều kiện cho người dân tộc thiểu số có cơ hội phát triển về mọi mặt Khẳng định tính nhất quán trong những chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước qua các thời kì là bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau để cùng phát triển

và đoàn kết, gắn bó với nhau hơn, tin tưởng vào đường lối đổi mới, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

Trang 31

 Trong Hiến pháp năm 2013

Ngày 28/11/2013, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ VI đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 Đây là một sự kiện chính trị - pháp lý đặc biệt quan trọng, đánh dấu một bước tiến mới trong lịch sử lập hiến của nước ta Với 11 chương, 120 điều (giảm 1 chương và 27 điều so với Hiến pháp năm

1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001) có nhiều điểm mới cả về nội dung và kỹ thuật lập hiến; bố cục hợp lý, chặt chẽ và khoa học, bảo đảm các quy định của Hiến pháp đúng tầm là đạo luật cơ bản, có hiệu lực pháp lý cao nhất, có tính ổn định lâu dài

Kế thừa Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi bổ sung năm 2001, Hiến pháp năm

2013 tiếp tục xem trọng và nêu cao quyền con người trong xã hội và coi con người luôn giữa vai trò chủ đạo trong tinh thần xây dựng bản Hiến pháp mới, trong đó có việc khẳng định quyền của người DTTS trong lĩnh vực giáo dục

Hiến pháp năm 1992 quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ở Chương 5, nhưng đến Hiến pháp sửa đổi đã đưa chế định này lên sau chương Chế độ chính trị, đặt ở Chương 2, thể hiện tầm quan trọng của chương về quyền con người Đồng thời, tên chương cũng đã có sự thay đổi, cụ thể: Ở Hiến pháp năm 1992 là Chương “Quyền và nghĩa vụ cơ bản công dân”, đến Hiến pháp sửa đổi Chương này

có tên gọi là “Quyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản công dân” Qua đó để khẳng định rằng, quyền con người là quyền tự nhiên, sinh ra đã có sẵn được Nhà nước thừa nhận, tôn trọng và cam kết bảo đảm, bảo vệ quyền con người đúng như tinh thần những công ước quốc tế mà Việt Nam là Quốc gia thành viên

Về lĩnh vực dân tộc, công tác dân tộc

Tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành đường lối chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã và đang từng bước được hiện thực hóa trong quá trình cách mạng Chính vì thế, cùng với quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, các dân tộc ở Việt Nam cũng được giải phóng, quyền bình đẳng giữa các dân tộc được khẳng định; đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế của các dân tộc thiểu số từng bước được nâng cao, an ninh, chính trị và toàn vẹn lãnh thổ được bảo đảm vững chắc

Trong các bản Hiến pháp trước đây và Hiến pháp năm 2013 hiện nay của nước CHXHCNVN, đều khẳng định các dân tộc thiểu số có quyền bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau để cùng tiến bộ Tinh thần được nhấn mạnh và làm rõ hơn trong

Hiến pháp năm 2013 đó là: “Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt Các dân tộc có quyền dùng

Trang 32

tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước.”.18

Nghị định 05 năm 2011/NĐ-CP Về công tác dân tộc có ghi nhận: Nguyên tắc cơ

bản của các dân tộc đó là “Thực hiện chính sách dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển; Đảm bảo và thực hiện chính sách phát triển toàn diện, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số; Đảm bảo việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết, bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc Các dân tộc có trách nhiệm tôn trọng phong tục, tập quán của nhau, góp phần xây dựng

Lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa – xã hội

+ Về quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ của đồng bào dân tộc thiểu số

được quy định cụ thể ở Hiến pháp năm 2013:“Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp.”20 đây là cơ sở pháp lý để xây dựng bộ tiêu chí xác định và xác định lại thành phần dân tộc, trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và cũng là điểm mới của Hiến pháp năm 2013 so với Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 Thông qua quy định mới này của Hiến pháp năm 2013 giúp cho mọi người thể hiện được những quyền cơ bản, những mong muốn chính đáng của bản thân họ như quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp mà các bản Hiến pháp trước đây

chưa ghi nhận

+ Về lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe cho đồng bào DTTS, vùng có điều kiện

kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được khẳng định trong Hiến pháp: “Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn”.21

Hiến pháp năm 2013 về lĩnh vực y tế ngoài thành phần là Nhà nước đầu tư vào lĩnh vực y tế ra còn có thêm thành phần xã hội đầu tư vào phát triển y tế Nhà nước luôn quan tâm đến việc tạo điều kiện cho mọi người được tiếp cận với dịch vụ y tế Việc có ghi nhận thêm các thành phần xã hội đầu tư vào triển trong lĩnh vực y tế sẽ

góp phần mở rộng quy mô, cũng như đảm bảo điều kiện tốt nhất trong lĩnh vực y tế

Ngày đăng: 03/10/2015, 15:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
21. Quyết định 112/2005/QĐ-TTg ngày 18/5/2005 về việc phê duyệt đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010
1. Dewey, John (1916/1944). Democracy and Education. The Free Press.Tr.1-4. ISBN 0-684-83631-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Democracy and Education
Tác giả: John Dewey
Nhà XB: The Free Press
Năm: 1944
4. United Nation: Human Rights: Question and Answers, Geneva, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Human Rights: Question and Answers
Tác giả: United Nation
Nhà XB: Geneva
Năm: 1994
8. Phạm Viết Vượng (2000), Giáo dục học, nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học
Tác giả: Phạm Viết Vượng
Nhà XB: nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2000
9. Trần Ngọc Đường : Bàn về quyền con người và quyền công dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, Tr 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quyền con người và quyền công dân
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
10. Lê Thị Ngọc Yến, Luận văn tốt nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ, 2011, tr20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn tốt nghiệp
Tác giả: Lê Thị Ngọc Yến
Nhà XB: Trường Đại học Cần Thơ
Năm: 2011
11. Trần Quang Tiệp, Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, HàNội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
17. Nghị định 82/2010/NĐ-CP và Thông tư 50/2011 Hướng dẫn Nghị định 82/2010 quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên Khác
18. Nghị định 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc Khác
19. Nghị định 74/2014 sửa đổi nghị định 49/2010 NĐ-CP ngày 14/05/2010 quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm 2010-2011 đến năm học 2014-2015 Khác
20. Nghị quyết số 05 - NQ/T.Ư nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh người dân tộc thiểu số giai đoạn 2008 – 2015 Khác
22. Quyết định 85/2010/QĐ/TTg Ban hành một số chính sách hỗ trợ học sinh bán trú và trường phổ thông dân tộc bán trú Khác
23. Quyết định số 2123/QĐ-TTg ngày 22/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển giáo dục đối với các dân tộc ít người giai đoạn 2010-2015 Khác
24. Quyết định số 66/2013/QĐ-TTg ngày 11/11/2013 quy định về chính sách hỗ trợ chi phí học tập đối với sinh viên là người dân tộc thiểu số học tại các cơ sở giáo dục đại học Khác
25. Quyết định số 226/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020 Khác
26. Thông tư liên tịch số 109/2009/TTLT/BTC-BGDĐT của bộ Giáo dục và Đào tạo-Bộ Tài chính: Hướng dẫn một số chế độ tài chính đối với các trường phổ thông dân tộc nội trú và các trường dự bị đại học dân tộc. Danh mục sách, báo, tạp chí Khác
2. Minority Rights: international Standards and Guidance for Implement. ation (HR/PUB/10/30) Khác
5. Về vấn đề này, xem điều 2.8 Chương II, Tuy nhiên lưu ý là thẩm quyền tài phán chung cũng là vấn đề liên quan đến một số ngành luật khác, cụ thể như luật hình sự quốc tế và luật nhân đạo quốc Khác
6. Vấn đề đề này, xem Sieghart Paul,The International Law of Human Rights, OUP, Oxford, 1992, tr.11-12 Khác
7. Hoàng Diên: Nhiều chính sách ưu đãi đối với giáo dục mầm non, báo điện tử Dân trí, 2011, http://dân trí.com.vn/giáo-dục-khuyến-học/nhieu-chinh-sach-uu-dai-doi-voi-giao-duc-mam-non-533606.htm, [Ngày truy cập 12-5-2014] Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w