Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai thành phố lớn đi đầu trong việc phát triển rất mạnh các hệ thống trung tâm thương mại, cao ốc văn phòng và các khu vui chơi giải trí hoạt động với chất lượng cao nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường trong quá trình hội nhập.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai thành phố lớn đi đầu trong việc
phát triển rất mạnh các hệ thống trung tâm thương mại, cao ốc văn phòng và cáckhu vui chơi giải trí hoạt động với chất lượng cao nhằm đáp ứng nhu cầu của thịtrường trong quá trình hội nhập Sự phát triển này đã góp phần thúc đẩy nền kinh
tế và tạo ra dự hấp dẫn trong cảnh quan đô thị Hải Phòng là một thành phố lớncủa cả nước đang trên đà phát triển nhanh so với thập kỷ trước nhưng đến naymới chỉ có rất ít các hệ thống tổ hợp nhà cao tầng (Văn phòng, trung tâm thươngmại, siêu thị) được đưa vào hoạt động Với tốc độ phát triển nhanh của nền kinh
tế như hiện nay và đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thếgiới (WTO) thì với tầm cỡ đô thị loại I và là cửa ngõ của khu tam giác kinh tếtrọng điểm phía Bắc: Hà Nội- Hải Phòng-Quảng Ninh, thành phố Hải Phòng rấtcần phát triển các tổ hợp khu cao ốc văn phòng, trung tâm thương mại, các hệthống siêu thị hiện đại nhằm đáp ứng các nhu cầu đầu tư đang tăng cao trong bốicảnh hội nhập
Chính vì lý do trên, nhóm nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu dự án tiền
khả thi của “Trung tâm thương mại Hải Phòng” tại Quận Hồng Bàng thành phốHải Phòng Dựa trên những cuộc khảo sát, điều tra và thu thập thông tin về địađiểm xung quanh dự án, nhóm nghiên cứu đã nhận thấy sự cần thiết phải pháttriển dự án và nhanh chóng đưa dự án đi vào hoạt động để đáp ứng nhu cầu đầu
tư đang tăng cao trong và ngoài nước Những giả định về các phương án trongđầu tư được đề cập dưới đây hoàn toàn phù hợp với các văn bản pháp luật, cácđịnh hướng phát triển trong Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội củathành phố Hải Phòng và thực trạng của khu đất Những phương án này có thể coi
là tối ưu nhất tại thời điểm hiện tại nhằm tối đa hoá lợi ích của dự án trên cácphương diện kinh tế, xã hội và môi trường
Trang 2PHẦN MỘT TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
I Các lợi thế về vị trí địa lý
Hải Phòng là một thành phố ven biển, thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội 102 km về phía Ðông Nam Về ranh giới hành chính, Hải Phòng tiếp giáp với Quảng Ninh ở phía Bắc, Hải Dương ở phía Tây, Thái Bình ở phía Nam và với Biển Đông ở phía Ðông Diện tích tự nhiên toàn thành phố là 1.519km2, gồm 4 quận nội thành, 1 thị xã và 8 huyện, trong đó có 2 huyện đảo Các tuyến đường giao thông quan trọng như đường quốc lộ 5 dài trên 100 km là đường cấp II nối cảng Hải Phòng đi Hà nội và các tỉnh khác, quốc lộ 10 là tuyến đường cấp 3 đồng bằng có chiều dài trên 200 km nối liền các tỉnh: Quảng Ninh - Hải Phòng - Thái bình - Nam Ðịnh - Ninh Bình; đường sắt Hải Phòng
- Hà Nội; đường thuỷ: Hải Phòng có 1.125 km bờ biển và 5 cửa sông lớn đổ
ra biển, trong đó có hơn 30 km là cảng biển Hải Phòng và là một trong những cảng biển quốc tế quan trọng của các tỉnh phía Bắc Ngoài ra Hải Phòng còn có hệ thống sông ngòi tạo ra nhiều tuyến đường sông đi các tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ; đường hàng không: Chủ yếu bay nội địa nối Hải Phòng với thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng - Ðà Nẵng
Vị trí địa lý trên tạo cho thành phố có các lợi thế sau:
Nằm trong vùng năng động nhất của Việt Nam hiện nay (Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ), gần Hà Nội, Quảng Ninh nên có nhiều thuận lợi trong việc liên kết trao đổi, giao lưu hàng hoá, công nghệ, lao động kỹ thuật,v.v , gần các tỉnh đồng bằng sông Hồng nên thuận lợi trong việc cung cấp các sản
Trang 3phẩm công nghiệp, dịch vụ và tiếp nhận các nguồn lương thực, thực phẩm, rau quả từ các tỉnh.
Nằm ở vị trí giao lưu rất thuận lợi với tất cả các tỉnh trong nước và quốc tế, từ Hải Phòng có thể rất dễ dàng đến các nơi trong nước và quốc tế bằng đường biển, đường sắt, đường bộ, đường thuỷ và đường hàng không, tạo cho Hải Phòng có thể trở thành địa phương đi đầu trong cả nước trong trao đổi hàng hoá, dịch vụ, tiếp nhận các thành tựu khoa học, kỹ thuật của thế giới, chủ động tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế và khuvực
Nằm gần các nguồn năng lượng (Thuỷ điện Hoà Bình, nhiệt điện Phả Lại, bể than Quảng Ninh và tương lai sẽ có thủy điện Sơn La) nên rất thuận lợi trong phát triển
II Tài nguyên khí hậu
Thành phố Hải Phòng nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa châu Á, chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương nên thời tiết khí hậu tương đối ôn hoà, có hai mùa rõ rệt là mùa đông và mùa hè, nhiệt độ trung bình khoảng 20-300C (cao nhất có khi tới 400C và thấp nhất khoảng 50C) Sự thay đổi nhiệt độ giữa các tháng trong năm khá lớn Chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng nhất (tháng 6 và tháng 7: 290C) và tháng lạnh nhất (tháng 1: 16,10C)
là 12,90C.Lượng mưa trung bình hàng năm thấp (khoảng 1.600-1800mm) vàphân bố rất không đều theo thời gian, tạo thành hai mùa rõ rệt là mùa mưa
và mùa khô
III Tài nguyên đất
Đất Hải Phòng gồm 3 nhóm: đất đồi núi, đất đồng bằng và đất bồi ven biển Hải Phòng nằm trong vùng trầm tích sông nên điều kiện thổ nhưỡng tốt, tạo nên giá trị canh tác cao Thành phố Hải Phòng có 151.919 ha diện
Trang 4tích đất tự nhiên Trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 72.584 ha, chiếm 47,77%; diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 21.681 ha, chiếm 14,27%; diện tích đất chuyên dùng là 20.932 ha, chiếm 13,77%; diện tích đất ở là 6.589
ha, chiếm 4,33%; diện tích đất chưa sử dụng và sông suối đá là 30.133 ha, chiếm 19,83%
IV Tài nguyên khoáng sản
Chủ yếu là đá vôi, tập trung ở Tràng Kênh trữ lượng đạt 185 triệu tấn, puzơlan ở Phát Cổ có trữ lượng lớn 71 triệu tấn Hải Phòng có khả năng pháttriển các ngành công nghiệp sản xuất xi măng với 4-5 triệu tấn/năm; đất đèn
và các sản phẩm hoá chất từ gốc cacbonnat Các mỏ khoáng sản kim loại ở Hải Phòng trữ lượng nhỏ không đạt quy mô công nghiệp
V Tài nguyên du lịch
Hải Phòng tương đối phong phú và đa dạng bao gồm cả biển, đảo, vườn quốc gia, các di tích lịch sử - văn hoá, các lễ hội truyền thống có sức hấp dẫn Ðặc biệt có vườn quốc gia Cát Bà với cảnh quan, các hệ sinh thái rừng, biển hấp dẫn, được đánh giá là một trong những điểm có tiềm năng du lịch vào loại lớn nhất của vùng du lịch Bắc bộ và của cả nước Tài nguyên du lịch tự nhiên có giá trị tập trung chủ yếu ở các dải ven biển Ðồ Sơn và đặc biệt ở đảo Cát Bà có hệ thống rừng trên núi đá vôi, rừng nguyên sinh, rừng ngập mặn, các bãi tắm, các vịnh, và các đảo núi đá trên mặt vịnh tạo nên cảnh quan đa dạng và phong phú Trong chiến lược phát triển vùng du lịch Bắc Bộ, tuyến du lịch Ðồ Sơn - Cát Bà - Hạ Long được hình thành trên cơ
sở khai thác tài nguyên du lịch tự nhiên góp phần tích cực vào sự phát triển
du lịch của Hải Phòng Các di tích tập trung tại các huyện An Hải, Thuỷ Nguyên, Vĩnh Bảo Lễ hội truyền thống mang tính chất lịch sử như hội đền Nghè thờ nữ tướng Lê Chân, hội chùa Vẽ (Hoa Linh Tự), hội đền Gắm, hội
Trang 5đền Phú Xá, hội hát Ðúm ở Thuỷ Nguyên Các lễ hội dân gian có hội Chọi trâu ở Ðồ Sơn, hội Ghép đôi ở Cẩm Khê, hội làng Phục Lễ ở Thuỷ Nguyên, hội Pháo đất ở Vĩnh Bảo
PHẦN HAI
XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI QUẬN HỒNG BÀNG ĐẾN NĂM 2020
1 Qui hoạch phát triển các ngành kinh tế
1.1 Quy hoạch phát triển ngành Thương mại - dịch vụ - Du lịch
* Quy hoạch phát triển ngành Thương mại – dịch vụ – du lịch
- Về thương mại
Xây dựng Hồng Bàng thành trung tâm thị trường hàng hoá bán buôn
và bán lẻ nhiều mặt hàng quan trọng theo hướng văn minh, hiện đại và lịch
sự Phấn đấu sau năm 2010, thương mại Hồng Bàng có những bước tiến đáng kể trong các lĩnh vực phân phối hàng hoá, xuất nhập khẩu; đến năm
2020, trở thành trung tâm thương mại lớn, đầu mối hoạt động thương mại quan trọng của khu vực và quốc tế
Thiết lập một hệ thống thương mại có trật tự, tăng cường quản lý thị trường, hạn chế và xoá bỏ các hành vi gian lận thương mại, nạn làm hàng giả, hàng kém chất lượng
Xây dựng các trung tâm thương mại hiện đại, hệ thống siêu thị, cửa hàng tự chọn văn minh, củng cố hệ thống chợ, xoá bỏ dần các chợ tạm, chợ cóc, triệt để xoá bỏ kinh doanh lấn chiếm vỉa hè, lòng đường, hình thành thóiquen mua sắm ở các cửa hàng lớn và siêu thị tập trung
Trang 6Tăng cường các hoạt động xuất nhập khẩu, mở rộng giao lưu kinh tế, hội nhập với các nền kinh tế khu vực và trên thế giới, chú trọng phát triển thương mại điện tử
- Dịch vụ
Chú trọng phát triển dịch vụ chất lượng cao, dịch vụ mới mang sắc thái riêng của Hải Phòng Đồng thời củng cố và nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh doanh các dịch vụ truyền thống, thông thường Xây dựng và hiện đại hoá các trung tâm tài chính ngân hàng, phát triển hệ thống văn phòng, nhà cho thuê chất lượng cao Cổ phần và lành mạnh hoá hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh, các tổ chức tín dụng Đa dạng hoá các loại hình bảohiểm phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân
Nâng cao chất lượng của các dịch vụ tư vấn, dịch thuật, môi giới, in ấn, truyền tin, vận tải hàng hoá Tạo điều kiện thuận lợi cho việc thành lập, hoạt động của các văn phòng đại diện của các công ty nước ngoài và các tổ chức quốc tế
Chú trọng phát triển các loại hình dịch vụ khác như: tư vấn pháp luật, khoa học, khám chữa bệnh, xúc tiến thương mại và quảng cáo
- Du lịch
Tập trung đầu tư khai thác thế mạnh của quận trung tâm trong phát triển du lịch như bến tàu du lịch, các cơ sở lữ hành Đa dạng hoá các loại hình du lịch như du lịch lễ hội, du lịch văn hoá, du lịch kinh doanh, đáp ứng nhu cầu lưu trú của khách từ 3- 5 ngày, với các điều kiện tốt về ăn, ở, đi lại, hướng dẫn tham quan
Kết hợp phát triển du lịch với tôn tạo và bảo tồn các di tích danh thắng, xây dựng các khu vui chơi giải trí ở các khu vực còn điều kiện mặt bằng
Trang 7* Quy hoạch phát triển trung tâm thương mại
Trung tâm thương mại là loại hình tổ chức kinh doanh thương mại đa chức năng (thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ và dịch vụ thương mại) do một hoặc nhiều chủ thể thực hiện, bao gồm: tổ hợp các cửa hàng, siêu thị, khách sạn, nhà hàng, trụ sở công ty, chi nhánh, văn phòng đại diện, phòng họp hội thảo… Các hình thức kinh doanh thương mại theo hướng vănminh hiện đại phát triển mạnh đã và đang tạo nên một diện mạo mới cho hoạt động dịch vụ thương mại của Quận
Tiếp tục củng cố, hoàn thiện các trung tâm thương mại hiện có, nâng cao khả năng phục vụ và hiệu quả kinh doanh, đặc biệt là chú trọng phát triển theo hướng đa chức năng của các trung tâm này
Các trung tâm thương mại này chủ yếu hướng vào phục vụ hoạt động thương mại dịch vụ trong nước Đồng thời, xây dựng các trung tâm thương mại lớn theo hướng tăng cường chức năng dịch vụ kinh tế quốc tế Cụ thể là xây dựng một số trung tâm thương mại lớn đa chức năng bao gồm: Văn phòng cho thuê; Trung tâm thông tin thương mại; Trung tâm hội chợ và triểnlãm; Khách sạn và căn hộ cho thuê; Trung tâm giao dịch và buôn bán hàng hoá; Cửa hàng và siêu thị; Trung tâm dịch vụ giải trí…
1.2 Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp
* Mục tiêu và quan điểm phát triển
Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có lựa chọn theo hướng đầu tư chiều sâu, đột phá vào những ngành hàng, sản phẩm sử dụng công nghệ hiện đại, sử dụng ít mặt bằng và không gây ô nhiễm; duy trì và phát triển các ngành công nghiệp cảng sông, biển và sản xuất các sản phẩm truyền thống Khuyến khích phát triển công nghiệp ngoài quốc doanh phù hợp với tiềm năng, môi trường và điều kiện sẵn có của địa phương
Trang 8Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp và xây dựng của Quận phải phù hợp với yêu cầu phát triển chung của toàn ngành công nghiệp trên địa bàn thành phố và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của Hải Phòng
Phát triển công nghiệp trên địa bàn Quận phải nằm trong chiến lược phát triển công nghiệp của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, phát huy tốt vai trò cầu nối của Hải Phòng với các trung tâm công nghiệp lớn như Hà Nội, Quảng Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh Phát huy cao độ tiềm năng, lợi thế của Hồng Bàng về vị trí địa lý, giao thông, và nguồn nhân lực; phát triển công nghiệp hướng vào xuất khẩu, phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế của Thành phố và cả nước
Xây dựng quy hoạch phát triển công nghiệp Hồng Bàng trên cơ sở giữ nguyên và cải tạo hiện trạng, không mở rộng và bố trí thêm diện tích cho phát triển công nghiệp Kiên quyết di dời các cơ sở công nghiệp đang gây ô nhiễm ra khỏi địa bàn khu d©n c Điều này cũng phù hợp với xu thế phát triển của một quận trung tâm thành phố
Khuyến khích các cơ sở sản xuất công nghiệp hoạt động tập trung trong các khu công nghiệp Có cơ chế bắt buộc các doanh nghiệp công nghiệp hiện đang hoạt động đổi mới công nghệ, giảm thiểu ô nhiễm, tạo điềukiện cho các ngành dịch vụ phát triển
Phát triển công nghiệp theo hướng tập trung đầu tư theo chiều sâu vàquy mô lớn, tránh nhỏ lẻ, phân tán gây cản trở cho quá trình xây dựng văn minh thương mại và văn minh đô thị
* Phương hướng phát triển ngành công nghiệp.
Phát triển có chọn lọc một số ngành công nghiệp mũi nhọn Ưu tiên chọn lựa một số ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ và chất xám
Trang 9cao, sử dụng ít mặt bằng và hướng vào xuất khẩu Không bố trí mặt bằng cho các cơ sở công nghiệp mới không thuộc danh mục các ngành công nghiệp sạch Bên cạnh việc duy trì qui mô và nâng cao chất lượng sản phẩm mũi nhọn là sắt, thép, cần tạo điều kiện chuyển hướng ưu tiên phát triển các ngành: công nghiệp phần mềm, giải pháp kinh doanh, điện tử và công nghệ cao phục vụ phát triển kinh tế Thành phố và vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc.
Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng, đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh cao trên cơ sở tập trung đầu tư chiều sâu, chuyển dịch cơ cấu theo hướng ưu tiên cho sản phẩm có công nghệ hiện đại, nhằm nâng cao sức cạnh tranh trênthị trường, bảo đảm chủ động hội nhập với khu vực và quốc tế
Từng bước điều chỉnh cơ cấu công nghiệp theo hướng giảm dần tỷ trọng công nghiệp cơ bản (hoá chất, cơ khí), công nghiệp tiêu dùng thông thường (may mặc, đồ uống), tăng tỷ trọng các ngành nghề công nghiệp mới,
có hàm lượng công nghệ cao
Phát triển công nghiệp ngoài quốc doanh phù hợp với tiềm năng và điều kiện sẵn có của Quận, có cơ chế khuyến khích các tổ chức, cá nhân pháttriển sản xuất lâu dài trong các khu công nghiệp đã quy hoạch, không gây ô nhiễm môi trường, tạo việc làm cho người lao động; tạo môi trường đầu tư thuận lợi hơn cho các thành phần kinh tế trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh Khuyến khích đổi mới thiết bị, công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm
Duy trì và phát triển bền vững một số nghề truyền thống Chú trọng phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các HTX và các hộ
cá thể theo hướng kết hợp giữa sản xuất và du lịch làng nghề
Trang 10Trên địa bàn nhiều khu đô thị mới đang hình thành Quá trình đô thị hóa đang diễn ra nhanh, nhiều đơn vị đang chuyển đến việc phát triển sản xuất CN - TTCN trên địa bàn cần theo hướng chuyên môn hoá theo hướng:+ Phát triển cảng sông, cảng biển hiện đại để phát huy thế mạnh vị trí địa lý đặc thù của quận từ đó thúc đẩy các ngành công nghiệp sửa chữa, đóng mới các tàu vận chuyển, tàu du lịch đường song và các ngành công nghiệp liên quan.
+ Ưu tiên các dự án đầu tư chiều sâu, có công nghệ hiện đại cho ra đời các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, quá trình sản xuất ít ảnh hưởng môi trường đến đầu tư phát triển sản xuất
+ Hướng hoạt động sản xuất của các hộ, các doanh nghiệp có đủ điều kiện trên địa bàn vào sản xuất trong các khu, cụm công nghiệp
2 Quy hoạch sử dụng đất
a Căn cứ xây dựng qui hoạch.
Việc bố trí qui mô và cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn Quận Hồng Bàng dựa trên những căn cứ chính sau đây:
- Nhu cầu sử dụng đất cho các ngành, các lĩnh vực nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng đô thị hiện đại, văn minh cho chính Hồng Bàng và đặt trong tổng thể của thành phố hải phòng cũng như vùng phụ cận
- Hồng Bàng là quận trung tâm thành phố, tuy vậy trên địa bàn quận hiện có
3 phường xa trung tâm, có diện tích khá rộng, vì vậy Hồng Bàng được xác định là địa bàn quan trọng để dãn dân từ khu vực phố cổ của thành phố cũng như dãn các cơ sở công nghiệp từ nhiều quận cũng như một số phường trung tâm ra
- Trên địa bàn quận Hồng Bàng có 3 phường vốn là các xã nông nghiệp, có
hệ thống ao hồ và đất tự nhiên chưa sử dụng, vì vậy, xác định trong quá
Trang 11trình đô thị hoá, xác định quận là nơi bổ sung diện tích cây xanh cho các
quận nội thành, là nơi giảm tải về nhu cầu giải trí tại các công viên cây xanh
và giải trí cho các quận nội thành cũ
- Hồng Bàng có các đầu mối giao thông kể cả đương bộ, đường sông và
đường sắt Phải bảo đảm tính đồng bộ của các phương tiện giao thông với
các cơ sở giao thông tĩnh
- Diện tích sử dụng đất trên địa bàn Hồng Bàng được xây dựng trên cơ sở
phương án rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch sử dụng đất của thành phốHải Phòng được ủy ban nhân dân thành phố xây dựng tháng 10/2006 cũng
như phương án sử dụng đất cho phát triển cơ sở hạ tầng trên địa bàn quận
b Qui hoạch sử dụng đất đến năm 2020.
Dự kiến cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn Quận đến năm 2020 như sau
Bảng 4: Qui hoạch sử dụng đất quận Hồng Bàng đến năm 2020
(ha)
Năm 2010(ha)
Năm 2020(ha)
nông nghiêp
381,51 399,23 496,782.2.4 Đất có mục đích công cộng 257,11 287,84,76 409,13