- Đối với người được giám hộ là người mất năng lực hành vi dân sự: ngoài việc người giám hộ đương nhiên phải có đầy đủ các điều kiện được quy định tại Điều 60 Bộ luật dân sự năm 2005 thì
Trang 1KHOA LUẬT - -
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS TĂNG THANH PHƯƠNG NGUYỄN THỊ THÙY LINH
Bộ môn: Luật Tư Pháp MSSV: 5115900
LỚP: LK1165A2
CẦN THƠ,
THÁNG 11/2014
Trang 2NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
o0o—
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
Lý do chọn đề tài 1
1 Mục đích nghiên cứu đề tài 2
2 Phạm vi nghiên cứu 2
3 Phương pháp nghiên cứu 2
4 Bố cục đề tài 3
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 4
VỀ GIÁM HỘ ĐƯƠNG NHIÊN THEO LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 4
1.1 Khái niệm giám hộ 4
1.2 Phân loại giám hộ 5
1.2.1 Giám hộ đương nhiên 5
1.2.1.1 Khái niệm giám hộ đương nhiên 5
1.2.1.2 Giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên 6
1.2.1.3 Giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự 8
1.2.2 Giám hộ cử 10
1.3 Lịch sử các quy định pháp luật về giám hộ đương nhiên từ năm 1986 cho đến nay 12
1.3.1 Các quy định của pháp luật về giám hộ đương nhiên theo Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 12
1.3.2 Các quy định của pháp luật về giám hộ đương nhiên theo Bộ luật Dân sự năm 1995 12
1.3.3 Các quy định của pháp luật về giám hộ đương nhiên theeo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 17
1.3.4 Các quy định của pháp luật về giám hộ đương nhiên theo Bộ luật Dân sự năm 2005 18
1.3.5 Các quy định về giám hộ đương nhiên theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 20
1.4 Vai trò của chế định giám hộ đương nhiên 21
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ 23
GIÁM HỘ ĐƯƠNG NHIÊN 23
Trang 42.1 Chủ thể của quan hệ giám hộ đương nhiên 23
2.1.1 Người được giám hộ đương nhiên 23
2.1.1.1 Người chưa thành niên 23
2.1.1.2 Người mất năng lực hành vi dân sự 24
2.1.2 Người giám hộ đương nhiên 26
2.1.2.1 Điều kiện để làm người giám hộ đương nhiên 26
2.1.2.2 Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên 27
2.1.2.3 Người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự 29
2.1.3 Người giám sát việc giám hộ đương nhiên 32
2.2 Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ đương nhiên 34
2.2.1 Quyền của người giám hộ đương nhiên 34
2.2.2 Nghĩa vụ của người giám hộ đương nhiên 36
2.2.2.1 Nghĩa vụ của người giám hộ đương nhiên đối với người chưa thành niên 36 2.2.2.2 Nghĩa vụ của người giám hộ đương nhiên đối với người mất năng lực hành vi dân sự 38 2.3 Thay đổi, chấm dứt việc giám hộ đương nhiên 39
2.3.1 Thay đổi người giám hộ đương nhiên 39
2.3.2 Chấm dứt việc giám hộ đương nhiên 41
2.3.3 Hậu quả của chấm dứt việc giám hộ đương nhiên 43
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CHẾ ĐỊNH GIÁM HỘ ĐƯƠNG NHIÊN 44
VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 44
3.1 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về giám hộ đương nhiên 44
3.1.1 Vấn đề giám hộ đương nhiên cho người mất năng lực hành vi dân sự 44
3.1.2 Vấn đề thay người giám hộ 45
3.1.3 Một số bất cập khác 47
3.2 Những kiến nghị hoàn thiện vấn đề giám hộ đương nhiên 47
3.2.1 Hoàn thiện quy định về người giám sát việc giám hộ đương nhiên 48
3.2.2 Bổ sung quy định về quyền và nghĩa vụ của người giám hộ đương nhiên 48 3.2.3 Vấn đề thay đổi giám hộ đương nhiên và giải quyết tranh chấp liên quan đến việc giám hộ đương nhiên 49
Trang 53.2.4 Về quy định điều kiện của cá nhân làm giám hộ đương nhiên 49 3.2.5 Về quy định giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên 50 3.2.6 Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến Pháp luật về giám hộ đương nhiên và nâng cao ý thức chấp hành Pháp luật của nhân dân 50
KẾT LUẬN 52
Trang 61 Lý do chọn đề tài
Giám hộ đương nhiên là chế định quan trọng trong Bộ luật dân sự Việt Nam Bao gồm các chế định về quyền và nghĩa vụ của người giám hộ, giám sát việc giám hộ, thay đổi, chấm dứt giám hộ, Pháp luật Dân sự Việt Nam quy định về chế định giám hộ đương nhiên nhằm mục đích thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự Chế định giám hộ đương nhiên được quy định ở mục 4, Chương III Phần thứ nhất Bộ luật Dân sự năm 2005, các chế định này không ngừng được hoàn thiện từ những quy định trong Bộ luật Dân sự năm
1995 đến các quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005 Tuy nhiên, trong thực tế áp dụng vẫn còn nhiều bất cập do chiều hướng phát triển của xã hội làm thay đổi nhanh chóng và phức tạp của các quan hệ xã hội dân sự, theo đó các quy định về chế định giám hộ đương nhiên khi áp dụng vào thực tiễn gặp khó khăn, trở ngại, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân
Thứ nhất, tại Điều 59 Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định về giám sát việc giám
hộ Tuy nhiên, những quy định tại điều này chưa rõ ràng về điều kiện để làm người giám sát việc giám hộ, quyền và nghĩa vụ của người giám sát việc giám hộ Trong một số trường hợp, nếu người giám sát việc giám hộ có mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ với người giám hộ, điều đó sẽ làm ảnh hưởng đến lợi ích của người được giám hộ Pháp luật cần bổ sung thêm quy định về điều kiện của người giám sát việc giám hộ cũng như có những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của người giám sát việc giám hộ nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được giám hộ
Thứ hai, Điều 65, 66, 67, 68 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về quyền và nghĩa
vụ của người giám hộ đương nhiên nhưng không có quy định ràng buộc trách nhiệm của
họ Tức là khi họ vi phạm các quyền và nghĩa vụ đó họ sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự gì (các quyền và nghĩa vụ ở đây có thể là không chăm sóc người được giám hộ, sử dụng tài sản của người được giám hộ vì mục đích cá nhân) Pháp luật cần phải có quy định thực tế ràng buộc, nhằm nâng cao hơn trách nhiệm của người giám hộ đảm bảo các quyền và lợi ích của người giám hộ, mục đích của việc giám hộ đạt hiệu quả cao hơn
Thứ ba, vấn đề tranh chấp trong giám hộ đương nhiên Thực tế có nhiều trường hợp tranh
chấp liên quan đến giám hộ Tuy nhiên, pháp luật dân sự chưa quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp về vấn đề này Do đó cần phải có một quy định cụ thể để làm căn cứ
Trang 7giải quyết khi có tranh chấp xảy ra (Trong dự thảo sửa đổi bổ sung Bộ luật dân sự năm
2005 kiến nghị tranh chấp liên quan đến giám hộ, giám sát giám hộ do Tòa án giải quyết)
Từ những vấn đề nêu trên, người viết nhận thấy rằng những quy định chi tiết về chế định giám hộ đương nhiên của Bộ luật Dân sự đã phần nào đáp ứng đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn cuộc sống, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn tồn tại một vài bất cập gây khó khăn cho
việc áp dụng vào thực tiễn Vì vậy, người viết đã chọn đề tài: “Giám hộ đương nhiên
theo Luật dân sự Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình
1 Mục đích nghiên cứu đề tài
Dựa trên các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về giám hộ, người viết nghiên cứu về vấn đề giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên và người mất năng lực hành vi dân sự Nghiên cứu thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về vấn đề giám hộ đương nhiên để thấy được những khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn áp dụng cũng như những bất cập của luật Từ đó, người viết thể hiện quan điểm của mình và có những kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật về vấn đề giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự
2 Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài: “Giám hộ đương nhiên theo Luật Dân sự Việt Nam”, người viết tập trung phân tích các quy định của pháp luật về giám hộ đặc biệt là giám hộ đương nhiên ở Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27-12-2005 của Chính phủ
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, người viết nghiên cứu chủ thể của chế định giám hộ đương nhiên là người giám hộ và người được giám hộ (trong đó người được giám hộ bao gồm người mất năng lực hành vì dân sự và người chưa thành niên, người giám hộ là những người thân thích của người được giám hộ), quyền và nghĩa vụ của người giám hộ, người được giám hộ; các trường hợp thay đổi người giám hộ; căn cứ chấm dứt việc giám hộ
3 Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài “Giám hộ đương nhiên theo Luật dân sự Việt Nam”, người
viết chủ yếu dựa vào kiến thức có được trong quá trình học tập, nghiên cứu của bản thân
và dựa vào các nguồn tài liệu như: văn bản pháp luật, giáo trình, tập bài giảng, sách, báo, tạp chí luật học, các thông tin truy cập được trên Internet, Đồng thời, người viết còn kết
Trang 8hợp việc nghiên cứu, phân tích, so sánh, đánh giá những quy định của pháp luật dân sự về vấn đề giám hộ đương nhiên
Trang 9CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ GIÁM HỘ ĐƯƠNG NHIÊN THEO LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm giám hộ
Giám hộ là chế định quan trọng trong Bộ luật dân sự nhằm mục đích để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự Việc giám hộ có nội dung cơ bản là chăm sóc và bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ Do đó, thực chất người giám hộ là người đại diện theo pháp luật cho người được giám hộ trong các mối quan hệ với Nhà nước và trong hầu hết các giao dịch dân sự, trừ một số giao dịch đơn giản, nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người được giám hộ
Ngoài ra, chế định giám hộ điều chỉnh các quan hệ với mục đích nhằm khắc phục tình trạng không tương đồng giữa sự bình đẳng về năng lực pháp luật với không bình đẳng về năng lực hành vi dân sự của những người có năng lực hành vi một phần, những người không có năng lực hành vi, bị mất năng lực hành vi
Khoản 1, Điều 58 Bộ luật Dân sự định nghĩa về giám hộ: “Giám hộ là việc cá nhân,
tổ chức (sau đây gọi là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi chung là người giám hộ)”
Một người có thể làm giám hộ cho nhiều người Trái lại, một người chỉ có thể được một người giám hộ, trừ trường hợp người giám hộ là cha, mẹ hoặc ông, bà theo quy định tại Khoản 2 Điều 61 và Khoản 3 Điều 62 Bộ luật dân sự năm 2005.1
Theo quy định của Bộ luật Dân sự hiện hành thì giám hộ có những đặc điểm sau:
- Thứ nhất, giám hộ là một quan hệ pháp luật dân sự đươc xác lập giữa người giám hộ và người được giám hộ theo đó người giám hộ sẽ đại diện cho người được giám hộ trong các quan hệ với nhà nước và hầu hết các giao dịch dân sự khác
- Thứ hai, Chủ thể của quan hệ giám hộ bao gồm người giám hộ và người được giám hộ Trong đó người giám hộ có thể là cá nhân (thường được xác định theo quan hệ hôn nhân, huyết thống) hoặc tổ chức Người được giám hộ là người chưa thành niên, không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ, tuy còn cha, mẹ, nhưng cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc,…
1 Ở nhiều nước, luật cho phép chỉ định nhiều người giám hộ cho một người Ví dụ như ở Pháp: Bộ luật dân
sự Pháp Khoản 1 Điều 417
Trang 10- Thứ ba, mục đích của việc giám hộ là đảm bảo cho những người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự được chăm sóc, giáo dục, được bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp
1.2 Phân loại giám hộ
1.2.1 Giám hộ đương nhiên
Pháp luật dân sự Việt Nam quy định chế định giám hộ đương nhiên dựa trên quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật dân sự và các nguyên tắc trong Luật hôn nhân và gia đình Thông qua các quy định về giám hộ đương nhiên để bảo đảm người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự được hưởng các quyền và nghĩa vụ dân sự của mình thông qua người giám hộ đương nhiên Từ đó, cũng phát huy được sự đoàn kết giữa các thành viên trong gia đình, truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam, ý chí xây dựng pháp luật của nhà nước
1.2.1.1 Khái niệm giám hộ đương nhiên
Bộ luật Dân sự năm 2005 phân biệt chế định giám hộ thành giám hộ đương nhiên và giám hộ cử Giám hộ cử chỉ được tiến hành khi không có giám hộ đương nhiên
Giám hộ đương nhiên là hình thức giám hộ do pháp luật quy định và mặc nhiên phát sinh khi sự kiện pháp lý diễn ra nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được giám hộ Sự kiện pháp lý ở đây được hiểu như sau:
- Đối với người được giám hộ là người chưa thành niên: một người (người giám hộ đương nhiên) sẽ mặc nhiên trở thành người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên (người được giám hộ đương nhiên) khi người đó có đủ các điều kiện được quy định tại Điều 60 Bộ luật dân sự năm 2005
- Đối với người được giám hộ là người mất năng lực hành vi dân sự: ngoài việc người giám hộ đương nhiên phải có đầy đủ các điều kiện được quy định tại Điều 60
Bộ luật dân sự năm 2005 thì việc giám hộ đương nhiên chỉ phát sinh khi một người (người được giám hộ đương nhiên) bị Tòa án tuyên bố là mất năng lực hành vi dân
sự
Quan hệ giám hộ này được xác định bằng các quy định về người giám hộ, người được giám hộ, quyền và nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ và tài sản của họ Người giám hộ đương nhiên đối với người được giám hộ là những người gần gũi nhất đối với người được giám hộ, được xác định tại Khoản 1 Điều 59 Bộ luật dân sự năm 2005
Trang 11Người giám hộ đương nhiên chỉ có thể là cá nhân Trong trường hợp ngoại lệ có hai người giám hộ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện giám hộ trong thực tế Tuy nhiên, do đặc thù của mối quan hệ giữa ông- bà, cha- mẹ cho nên về phương diện pháp lý,
có thể nói đây không là hai người giám hộ
Việc giám hộ đương nhiên chỉ có giá trị một khi người giám hộ đồng ý nhận nhiệm
vụ giám hộ Luật chỉ quy định điều kiện thủ tục đối với giám hộ cử đối với giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự và người chưa thành niên thì người giám hộ nhất thiết là người thân và rất dễ dàng xác định theo thứ tự, người này không có thì mới tới người kia và không thể có sự thay thế Chẳng hạn, đối với vợ thì chồng là người giám hộ; đối với người chưa có vợ chồng thì cha, mẹ là người giám hộ Bản chất được thiết lập một khi các điều kiện nội dung có đủ, người giám hộ đương nhiên không cần có văn bản, vì vậy người giám hộ đương nhiên cũng không phải đăng ký tư cách giám
hộ của mình
1.2.1.2 Giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên
Giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên là giám hộ được pháp luật chỉ định theo thứ tự ghi nhận tại Điều 61 Bộ luật Dân sự năm 20052 Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên phải đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 60 Bộ luật dân sự năm 2005
Điểm a, khoản 2 Điều 58 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định một trong các trường hợp sau người chưa thành niên3 cần phải có người giám hộ, và được coi là người được giám hộ:
- Người chưa thành niên không còn cả cha lẫn mẹ, không xác định được cha, mẹ;
- Người chưa thành niên còn cha, mẹ nhưng cha và mẹ đều mất năng lực hành
vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ;
- Người chưa thành niên còn cha, mẹ nhưng cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó Trong trường hợp còn cha, mẹ nhưng cha,
hộ thì anh, chị tiếp theo làm người giám hộ
2 Trong trường hợp không có anh ruột, chị ruột hoặc anh, chị ruột không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ; nếu không có ai trong số những người thân thích này đủ điều kiện làm người giám hộ thì bác, chú, cậu, cô, dì là người giám hộ.” 3
Người chưa thành niên được xác định căn cứ vào Điều 18 Bộ luật dân sự năm 2005
Trang 12mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên, thì phải có yêu cầu của cả cha và mẹ Nếu chỉ một trong hai người (vợ hoặc chồng) yêu cầu hoặc cả hai không yêu cầu có người giám hộ cho con chưa thành niên, thì việc giám hộ không đặt ra, bởi vì nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục con cái, đại diện cho con chưa thành niên trong các giao dịch dân sự trước tiên thuộc về cả cha và mẹ, người đã sinh ra người con chưa thành niên đó Nếu người chưa thành niên không còn cha,
mẹ hoặc cha còn sống nhưng không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con, thì người
mẹ phải thực hiện nghĩa vụ này, và ngược lại Một trong những ví dụ cả hai cha mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục là họ phải thi hành án phạt tù dài hạn, hoặc đi công tác nước ngoài không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên,…4
Cụ thể, căn cứ vào quy định tại Điều 61 Bộ luật dân sự năm 2005, thì việc giám hộ được thực hiện theo cơ chế đương nhiên, mang tính bắt buộc đối với những người thân thích nhất của người chưa thành niên Nếu người chưa thành niên có anh, chị đã thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có điều kiện cần thiết đảm bảo cho việc giám
hộ (có đủ điều kiện quy định tại Điều 60 Bộ luật dân sự 2005), thì anh, chị cả là người giám hộ đương nhiên; nếu anh, chị cả không đủ điều kiện để làm người giám hộ, thì anh, chị tiếp theo là người giám hộ đương nhiên; nếu không có anh, chị hoặc anh, chị không có
đủ điều kiện thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ
Không có ai trong số những người thân thích này có đủ điều kiện làm người giám hộ thì bác, chú, cậu, cô, dì là người giám hộ Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại có đủ điều kiện là người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên khi cháu không còn cả cha
và mẹ hoặc còn cha mẹ nhưng cha mẹ không đủ điều kiện và cháu không còn anh ruột, chị ruột hoặc anh ruột, chị ruột không đủ điều kiện làm người giám hộ Nếu những người thân thích này không có điều kiện làm người giám hộ thì áp dụng chế định giám hộ cử theo Điều 63 Bộ luật dân sự năm 2005
Trong trường hợp Tòa án ra quyết định hủy quyết định tuyên bố cha, mẹ bị mất năng lực hành vi dân sự do không còn mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác dẫn tới không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, hủy quyết định tuyên bố bị hạn chế năng lực hành vi do không còn nghiện ma túy hoặc các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản, thì việc giám hộ chấm dứt Cha, mẹ sẽ là người thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình đối với con chưa thành niên
4
Bộ tư pháp Viện khoa học pháp lý, Bình luận Khoa học Bộ luật dân sự năm 2005, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2013
Trang 131.2.1.3 Giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự
Giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự được quy định tại Điều 62 Bộ luật dân sự năm 2005 Theo đó, người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự được xác định gồm có 3 trường hợp như sau:
- Trong trường hợp vợ mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ
- Trong trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì con cả là người giám hộ, nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo làm người giám hộ
- Trong trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ
Trường hợp thứ nhất, theo Khoản 1, Điều 62 Bộ luật dân sự năm 2005 thì vợ hoặc
chồng mất năng lực hành vi dân sự thì người còn lại là người giám hộ đương nhiên cho
vợ hoặc chồng mất năng lực hành vi dân sự đó nếu có đủ các điều kiện quy định tại Điều
60 Bộ luật dân sự năm 2005 Trong trường hợp vợ hoặc chồng không có đủ các điều kiện
để làm người giám hộ đương nhiên thì người thân thích cử một người trong số họ làm giám hộ, nếu không có ai trong số người thân thích có đủ điều kiện làm người giám hộ, thì họ có thể cử người khác làm giám hộ Khi người thân thích không cử được người giám
hộ, thì Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm cùng các tổ chức xã hội tại cơ
sở cử người giám hộ hoặc đề nghị một tổ chức đảm nhận việc giám hộ (Điều 63 Bộ luật dân sự năm 2005)
Trường hợp thứ hai, giám hộ đương nhiên theo khoản 2 Điều 62 Bộ luật dân sự năm
2005 Cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, hoặc một người bị mất năng lực hành
vi dân sự còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cũng đặt ra vấn đề giám hộ đương nhiên đối với họ Trong trường hợp này thì người con cả đã thành niên và
có đủ các điều kiện quy định tại Điều 60 Bộ luật dân sự năm 2005 sẽ trở thành người giám hộ đương nhiên của cha và mẹ Nếu người con cả không có đủ các điều kiện giám
hộ thì người con tiếp theo đã thành niên, không thuộc trường hợp quy định tại Điều 22, Điều 23 Bộ luật dân sự năm 2005 và có đủ các điều kiện của người giám hộ phải là người giám hộ đương nhiên của cha và mẹ
Trang 14Trong luật dân sự Việt Nam con của cha và mẹ sẽ là người giám hộ đương nhiên của cha, mẹ mất năng lực hành vi dân sự, luật không có quy định phân biệt con đẻ hay con nuôi, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc ngoài thời kỳ hôn nhân của cha và mẹ Trường hợp không có người giám hộ đương nhiên (cha, mẹ mất năng lực hành vi dân sự không có con, hoặc có con nhưng con đã chết), thì áp dụng việc giám hộ cử theo Điều 63 Bộ luật dân sự năm 2005 Để tránh tình trạng này, Luật hôn nhân và gia đình
năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010 có quy định cụ thể như sau: “Cháu có đủ điều kiện làm người giám hộ thì phải giám hộ cho ông bà nội, ông bà ngoại nếu ông bà không có con phụng dưỡng” (Khoản 2 Điều 84) Quy định này dựa trên cơ sở Điều 47, Điều 49
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010 về quyền và nghĩa vụ của cháu đối với ông bà và giữa các thành viên trong gia đinh theo đó con cháu có nghĩa
vụ chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ông bà ngoại Quy định trên thể hiện được truyền
thống tốt đẹp của dân tộc ta, đó là truyền thống “uống nước nhớ nguồn”
Trường hợp thứ ba, giám hộ đương nhiên theo Khoản 3 Điều 62 Bộ luật dân sự năm
2005 Quy định này được chia ra làm hai trường hợp: việc giám hộ đương nhiên cho người đủ 18 tuổi nhưng mất năng lực hành vi dân sự và chưa có vợ, chồng, con hoặc có
vợ, chồng, con nhưng đều không đủ điều kiện làm người giám hộ đương nhiên Hai trường hợp này luật dân sự Việt Nam quy định phải có tuyên bố mất năng lực hành vi dân
sự của Tòa án đối với người đủ 18 tuổi kể trên và cha mẹ sẽ là người giám hộ đương nhiên cho họ
Trước đây, Bộ luật dân sự năm 1995 quy định người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không nhận thức được hành vi của mình phải có người giám hộ mà không cần có quyết định của Tòa án tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự Bộ luật dân
sự năm 2005 hiện hành quy định chặt chẽ hơn, chỉ những người bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự mới được coi là người được giám hộ (Điều 22 Bộ luật dân sự năm 2005) Nhưng người mất năng lực hành vi dân sự là người được giám hộ không phụ thuộc vào độ tuổi, họ có thể là người đã thành niên
Giao dịch dân sự do người mất năng lực hành vi dân sự xác lập và thực hiện sẽ không có giá trị pháp lý, họ phải có người giám hộ đại diện để thực hiện các giao dịch này Vì vậy, việc quy định Tòa án ra quyết định một người bị mất năng lực hành vi dân sự
để căn cứ vào đó xác định người giám hộ cho họ là rất có ý nghĩa Bởi trong thực tiễn, có nhiều trường hợp một người bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình được người thân thích của mình nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục Nhưng những người thân thích của người bị mắc bệnh tâm thần hoặc
Trang 15mắc các bệnh khác mà không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình không yêu cầu Tòa án ra quyết định họ bị mất năng lực hành vi dân sự Điều đó có nghĩa về mặt pháp lý thì những người này vẫn có năng lực hành vi dân sự nhưng thực tế bản thân họ không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình Vậy, nếu những người này tham gia xác lập các giao dịch dân sự thì giao dịch của họ có bị coi là trái pháp luật và nếu có phát sinh thiệt hại thì sẽ giải quyết như thế nào để bảo vệ quyền lợi của người có quyền Pháp luật cần có quy định cụ thể để hướng dẫn áp dụng quy định này
1.2.2 Giám hộ cử
Pháp luật dân sự Việt Nam quy định chế định giám hộ cử tại Điều 63 Bộ luật dân sự
năm 2005: “Trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên theo quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Bộ luật này thì Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ hoặc đề nghị một tổ chức đảm nhận việc giám hộ” Luật không
có quy định gì về thể thức cử người giám hộ: có thể chỉ cần một trong những người thân thích đề ra sáng kiến, người được cử theo sáng kiến đó đồng ý là được
Việc cử người giám hộ được tiến hành trong hai trường hợp sau:
- Không có người giám hộ đương nhiên theo quy định tại Điều 61 Bộ luật dân sự năm 2005
- Không có người giám hộ đương nhiên theo quy định tại Điều 62 Bộ luật dân sự năm 2005
Nếu không có người giám hộ đương nhiên thì cá nhân có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật có thể được cử để giám hộ cho người được giám hộ Ngoài ra, khi không cử được người giám hộ thì Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm đề nghị một tổ chức đảm nhận việc giám hộ Ngoài trường hợp người thân thích không cử được người giám hộ, còn có trường hợp người cần được giám
hộ không có người thân thích, trường hợp này cũng được tiến hành cử người giám hộ theo quy định tại Điều 63 Bộ luật dân sự năm 2005 Theo đó, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người được giám hộ cư trú có trách nhiệm giám sát việc thực hiên giám hộ
Khác với quy định tại Bộ luật dân sự năm 1995, Bộ luật dân sự năm 2005 đã quy
định rõ những ai được coi là người thân thích của người được giám hộ: “Người thân thích của người được giám hộ là vợ, chồng, cha, mẹ, con của người được giám hộ; nếu không
có ai trong số những người này thì người thân thích của người được giám hộ là ông, bà, anh ruột, chị ruột, em ruột của người được giám hộ; nếu không có ai trong số những
Trang 16người này thì người thân thích của người được giám hộ là bác, chú, cậu, cô, dì của người được giám hộ” (Khoản 1 Điều 59 Bộ luật dân sự năm 2005) Những người thân thích của
người được giám hộ phải thực hiện việc giám hộ đương nhiên cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (theo quy định tại khoản 2 Điều 58, Điều 61, Điều 62
Bộ luật dân sự năm 2005) Những người thân thích này nếu có điều kiện là người giám hộ thì chỉ được thỏa thuận cử ra một người trong số họ là người giám hộ đương nhiên của người được giám hộ (trừ trường hợp giám hộ đương nhiên là cha mẹ, ông bà nội, ông bà ngoại), chứ không thể cử người khác là người giám hộ như quy định tại Điều 72 Bộ luật dân sự năm 1995
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi, bổ sung năm 2010 còn quy định trường hợp con riêng giám hộ cho bố dượng, mẹ kế theo Điều 63 Bộ luật dân sự năm
2005: “Trong trường hợp bố dượng, mẹ kế không có người giám hộ theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật dân sự thì con riêng đang sống chung với bố dượng, mẹ kế làm người giám hộ, nếu có đủ điều kiện làm người giám hộ” (Điều 82 Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000 sửa đổi, bổ sung năm 2010)
Việc cử người giám hộ phải được lập thành văn bản (theo quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP và Nghị định số 06/2012/NĐ-CP được gọi là Giấy cử giám hộ) Văn bản cử người giám hộ bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
- Lý do cử người giám hộ
- Tình trạng tài sản của người được giám hộ
- Quyền, nghĩa vụ cụ thể của người giám hộ
Pháp luật dân sự quy định chế định giám hộ cử cho hai trường hợp tại Điều 61 và Điều 62 Bộ luật dân sự năm 2005 là phù hợp và rất cần thiết Những quy định này bảo đảm cho người được giám hộ có người chăm sóc và bảo vê được quyền, lợi ích hợp pháp của họ Tuy nhiên, việc cử người giám hộ phải tôn trọng ý chí của người được cử làm người giám hộ, không nên bắt buộc một người phải là người giám hộ cho người khác khi
mà họ không muốn thực hiện công việc này.5 Vì vậy, Khoản 2 Điều 64 Bộ luật dân sự
năm 2005 có quy định: “Việc cử người giám hộ phải được sự đồng ý của người được cử làm người giám hộ” Trong điều kiện giám hộ là một việc được thực hiện nhằm mục đích
bảo vệ lợi ích của người khác nên sự đồng ý, tự nguyện của người giám hộ là cần thiết cho việc bảo đảm chất lượng và tạo thuận lợi cho việc giám hộ
5
Theo TS.Nguyễn Ngọc Điện thì ngay cả trong trường hợp giám hộ đương nhiên, thì việc giám hộ chỉ có
giá trị một khi người giám hộ đồng ý nhận nhiệm vụ giám hộ Xem Nguyễn Ngọc Điện, Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2010
Trang 171.3 Lịch sử các quy định pháp luật về giám hộ đương nhiên từ năm 1986 cho đến
đỡ đầu thì cơ quan, tổ chức nào đứng ra thực hiện nhiệm vụ này trên thực tế việc thực hiện các quy định này gặp nhiều khó khăn
Đến khi Bộ luật dân sự năm 1995 được thông qua đã quy định khá đầy đủ về việc chăm sóc và bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ Bộ luật dân sự đã làm rõ khái niệm cũng như các đổi tượng được giám hộ, nghĩa vụ của người được giám
hộ và của người giám hộ
Với chế định giám hộ trong Bộ luật dân sự, thì các quy định về chế định đỡ đầu trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 không còn phù hợp và mâu thuẫn với các quy định của Bộ luật dân sự Ví dụ: điều kiện về độ tuổi của người giám hộ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 là từ đủ 21 tuổi trở lên6, còn theo quy định của Bộ luật dân sự năm 1995 là từ đủ 18 tuổi trở lên7 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 không
có khái niệm đỡ đầu Việc đỡ đầu được thực hiện trong trường hợp cần bảo đảm việc chăm nom, giáo dục và bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên mà cha, mẹ đã chết hoặc tuy cha mẹ sống nhưng không có điều kiện để thực hiện trách nhiệm đó (Điều 46 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986)
Như vậy, đối tượng được đỡ đầu (giám hộ đương nhiên) trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 hẹp hơn quy định của Bộ luật dân sự năm 1995 Đồng thời các quyền và nghĩa vụ của người giám hộ còn sơ sài, chưa đáp ứng được yêu cầu của đời sống
1.3.2 Các quy định của pháp luật về giám hộ đương nhiên theo Bộ luật Dân sự năm 1995
Trang 18Để bảo vệ quyền và lợi ích của người chưa thành niên và người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình Bộ luật dân sự năm 1995 có những quy định về giám hộ đương nhiên Cụ thể là các quy định tại: Điều 69 về điều kiện của cá nhân làm người giám hộ; Điều 70 về người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên; Điều 71 về người giám hộ đương nhiên của người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình; Điều 75 về nghĩa vụ của người giám hộ đối với người dưới 15 tuổi;…)
Theo Bộ luật dân sự năm 1995 thì giám hộ là công việc nhằm chăm sóc, giáo dục, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người được giám hộ Thực chất người giám hộ là người đại diện theo pháp luật cho người được giám hộ trong các mối quan hệ với Nhà nước và trong hầu hết các giao dịch, trừ một số giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ Bộ luật dân sự năm 1995 phân biệt chế định giám hộ thành giám
hộ đương nhiên và giám hộ cử Giám hộ cử được tiến hành trong trường hợp không có giám hộ đương nhiên
Chủ thể của quan hệ giám hộ đương nhiên gồm người giám hộ và người được giám
hộ Người được giám hộ đương nhiên là người chưa thành niên và người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình Người giám hộ đương nhiên có thể là cá nhân hoặc tổ chức Không phải bất kỳ ai cũng có thể trở thành người giám hộ đương nhiên Để trở thành người giám hộ đương nhiên, ca nhân phải
có đủ các điều kiện quy định tại Điều 69 Bộ luật dân sự năm 1995 Cụ thể:
“Người có đủ các điều kiện sau đây có thể làm người giám hộ:
1 Đủ mười tám tuổi trở lên;
2 Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
3 Có điều kiện cần thiết bảo đảm thực hiên việc giám hộ.”
Trong Bộ luật dân sự năm 1995, vấn đề giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên được quy định tại Điều 70 của bộ luật này:
- Trong trường hợp anh, chị, em ruột không có thỏa thuận khác, thì anh cả hoặc chị cả đã thành niên có đủ điều kiện phải là người giám hộ của em chưa thành niên; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ, thì người tiếp theo
đã thành niên có đủ điều kiện phải là người giám hộ;
- Trong trường hợp không có anh, chị, em ruột hoặc anh, chị, em ruột không có
đủ điều kiện làm người giám hộ, thì ông, bà nội, ông, bà ngoại có đủ điều kiện phải
là người giám hộ
Trang 19Quy định ở Khoản 1 Điều 70 có thể phân tích như sau:
- Thứ nhất là anh, chị, em ruột có thể chọn ra một người làm giám hộ cho em chưa thành niên
- Thứ hai là việc giám hộ đương nhiên mang tính bắt buộc đối với những người thân thích nhất của người chưa thành niên Nếu anh, chị cả có đủ điều kiện làm người giám hộ thì đương nhiên anh, chị cả đó phải là người giám hộ cho em chưa thành niên của mình Trường hợp anh, chị cả không có đủ điều kiện thì anh, chị kế tiếp có đủ điều kiện sẽ là người giám hộ đương nhiên cho em chưa thành niên
Nếu không có ai là người giám hộ theo quy định tại Khoản 1 Điều 70 thì ông, bà nội, ông, bà ngoại có đủ điều kiện là người giám hộ phải là người giám hộ đương nhiên cho cháu chưa thành niên (Khoản 2 Điều 70) Trong trường hợp ông, bà nội, ông, bà ngoại đều còn sống, thì họ phải thỏa thuận chọn ra một bên là người giám hộ đương nhiên trên cơ sở cân nhắc điều kiện thực tế của mình
Tương tự, khái niệm giám hộ đương nhiên của người bị bệnh tâm thầm hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình cũng được hiểu giống như khái niệm giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên Chế định này được quy định khá cụ thể tại Điều 71 Bộ luật dân sự năm 1995, cụ thể:
- Trong trường hợp vợ bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, thì chồng có đủ điều kiện phải là người giám hộ; nếu chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, thì vợ có đủ điều kiện phải là người giám hộ;
- Trong trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, thì người con
cả đã thành niên có đủ điều kiện phải là người giám hộ, nếu người con cả không có
đủ điều kiện làm người giám hộ, thì người con tiếp theo đã thành niên có đủ điều kiện phải là người giám hộ
- Trong trường hợp người thành niên bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác
mà không thể nhạn thức, làm chủ được hành vi của mình và chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ, thì cha,
mẹ có đủ điều kiện phải là người giám hộ.”
Tiếp theo là những quy định về quyền và nghĩa vụ của người giám hộ đương nhiên đối với người được giám hộ Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ trong từng trường hợp khác nhau là khác nhau nhưng đều với mục đích chung nhất là bảo
vệ quyền và lợi ích cho người được giám hộ Căn cứ vào đó Bộ luật dân sự năm 1995 chia
Trang 20ra thành: nghĩa vụ của người giám hộ đối với người dưới mười lăm tuổi (Điều 75); nghĩa
vụ của người giám hộ đối với người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi (Điều 76); nghĩa vụ của người giám hộ đối với người bị mất bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình (Điều 77) Cụ thể:
- Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người dưới mười lăm tuổi8: người giám
hộ có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm lo việc học tập và giáo dục để người chưa thành niên phát triển đầy đủ về thể chất, trí tuệ, đạo đức và trở thành công dân có ích cho
xã hội Người giám hộ có nghĩa vụ đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự vì lợi ích của người đó Nếu người được giám hộ có tài sản riêng thì người giám hộ phải quản lý tài sản đó như tài sản của chính mình Khi quyền và lợi ích của người được giám hộ bị xâm phạm thì người giám hộ có quyền thực hiện các biện pháp mà pháp luật cho phép để bảo vệ các quyền và lợi ích đó của người được giám hộ
- Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi9
: người giám hộ có nghĩa vụ quản lý tài sản của người được giám hộ
và đại diện người được giám hộ xác lập các giao dịch dân sự Tuy nhiên, đối với người được giám hộ đã tham gia lao động sản xuất và có thu nhập hợp pháp đủ để thực hiện nghĩa vụ của mình thì người được giám hộ có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần có sự đồng ý của người giám hộ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
- Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người bị mất bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình10: bảo đảm
8
Điều 75 Bộ luật dân sự năm 1995 về nghĩa vụ của người giám hộ đối vói người dưới mười lăm tuổi
“Người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi có các nghĩa vụ sau đây:
1 Chăm sóc, giáo dục người được giám hộ;
2 Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định người dưới mười lăm tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự;
3 Quản lý tài sản của người được giám hộ;
4 Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.”
9
Điều 76 Bộ luật dân sự năm 1995 về nghĩa vụ của người giám hộ đối với người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi
“Người giám hộ của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có các nghĩa vụ sau đây:
1 Quản lý tài sản của người được giám hộ;
2 Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự;
3 Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.”
10
Điều 78 Bộ luật dân sự năm 1995 về nghĩa vụ của người giám hộ đối với người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình
Trang 21việc điều trị bệnh của người được giám hộ là nghĩa vụ quan trọng của người giám
hộ Bên cạnh đó, người giám hộ còn có nghĩa vụ đại diện xác lập các giao dịch dân
sự hợp pháp vì quyền và lợi ích của người được giám hộ, quản lý tài sản, bảo vệ quyền và lợi ích của người được giám hộ
Song song với các quy định về nghĩa vụ, thì Bộ luật dân sự năm 1995 cũng có các quy định về quyền của người giám hộ đối với người được giám hộ (Điều 78 Bộ luật dân
sự năm 1995):
- Trường hợp người được giám hộ có tài sản thì người giám hộ không những
có nghĩa vụ quản lý mà còn có quyền sử dụng tài sản đó vào mục đích chăm sóc, chi cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ
- Trong quá trình quản lý tài sản của người được giám hộ, người giám hộ chỉ được phép thanh toán từ tài sản của người được giám hộ cho những việc cần thiết
- Đại diện cho người được giám hộ xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự vì quyền và lợi ích của người được giám hộ Quyền và nghĩa vụ trong trường hợp này gắn liền với nhau
Việc giám hộ không thể tồn tại vĩnh viễn, khi xuất hiện các căn cứ do pháp luật quy định (Điều 80, Điều 82 Bộ luật dân sự năm 1995) thì việc giám hộ có thể được thay đôi, chấm dứt
Người giám hộ được thay đổi trong các trường hợp sau đây (Điều 80):
- Cá nhân là người giám hộ không có đủ điều kiện quy định tại Điều 69 của Bộ luật này;
- Người giám hộ chết, bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất năng lực hành vi dân sự;
- Có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc người giám hộ đã
vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ giám hộ;
- Người giám hộ đề nghị thay đổi và có người khác có đủ điều kiện nhận làm giám hộ
Việc giám hộ chấm dứt trong các trường hợp sau đây (Điều 82):
“Người giám hộ của người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình có các nghĩa vụ sau đây:
1 Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ;
2 Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự;
3 Quản lý tài sản của người được giám hộ;
4 Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.”
Trang 22- Người được giám hộ đã có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
- Có quyết định của Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự đối với người được giám hộ;
1995 và Luật hôn nhân và gia đình để tránh trùng lập, mâu thuẫn Đồng thời quy định một
số vấn đề về giám hộ giữa các thành viên trong gia đình Cụ thể:
Thứ nhất, điều 79 về áp dụng pháp luật về giám hộ trong quan hệ gia đình Điều này
đã xác định phạm vi điều chỉnh của các quy định về giám hộ là trong quan hệ hôn nhân và gia đình Bộ luật dân sự điều chỉnh tất cả những vấn đề liên quan đến giám hộ nói chung, không phân biệt mối quan hệ giữa người giám hộ và người được giám hộ
Thứ hai, điều 80 quy định về cha mẹ giám hộ cho con Quy định này đã làm rõ hơn trách nhiệm của cha, mẹ khi cùng thực hiện việc giám hộ cho con đã thành niên bị mất năng lực hành vi dấn sự, cha và mẹ đều phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người giám hộ đối với con Quyền và nghĩa vụ này dà được quy định tại điều 77, 78 Bộ luật dân
sự năm 1995
Thứ ba, điều 81 quy định về cha mẹ cử người giám hộ cho con Pháp luật không đặt
ra vấn đề giám hộ cho con chưa thành niên còn cha, mẹ và cha, mẹ đủ điều kiện chăm sóc, giáo dục vì đây là nghĩa vụ đương nhiên thuộc bản chất của quan hệ giữa cha, mẹ và con Nghĩa vụ của cha, mẹ là yêu thương, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con Cha mẹ khi không có đủ điều kiện cần thiết để thực hiện việc giám hộ có thể cử người giám hộ cho con chưa thành niên, con đã thành niên bị mất năng lực hành vi dân sự theo thủ tục quy định tại Điều 74 Bộ luật dân sự năm 1995 Thứ tư, điều 82 quy định về con riêng giám hộ cho bố dượng, mẹ kế Đây là một quy định mới chưa được Bộ luật dân sự năm 1995 quy định cụ thể Xuất phát từ quan hệ nuôi dưỡng, bố dượng, mẹ kế và con riêng chung sống chung trong gia đình cũng có những tình cảm nhất định Bố dượng, mẹ kế có nghĩa vụ và quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc con riêng cùng sống chung với mình Con riêng có nghĩa vụ và quyền nuôi dưỡng,
Trang 23chăm sóc bố dượng, mẹ kế cùng sống chung với mình (Điều 38 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000)
Thứ năm, điều 83 quy định về giám hộ giữa anh, chị em Đây cũng là quy định mới của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 chỉ quy định “ nghĩa vụ đùm bọc lẫn nhau của anh, chị, em trong trường hợp không còn cha mẹ” (Điều 27) Quy định của Luật năm 1986 còn mang tính nguyên tắc chung, chưa thể hiện trách nhiệm pháp lý của anh, chị, em đối với nhau trong một số trường hợp họ cần được giám hộ Điều 83, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định về giám hộ giữa anh, chị, em trong gia đình Theo đó, nếu anh, chị, em ruột cần được giám hộ thì anh, chị em
đã thành niên có năng lực hành vi dân sự thỏa thuận cử một người trong số họ có đủ điều kiện làm người giám hộ
Thứ sáu, Điều 84 quy định về giám hộ giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu Trong trường hợp cháu cần được giám hộ mà ông bà nội, ông bà ngoại có đủ điều kiện làm người giám hộ thì những người này thỏa thuận cử một bên làm người giám hộ Ngược lại, cháu có đủ điều kiện làm người giám hộ thì phải giám hộ cho ông bà nội, ông bà ngoại, nếu ông bà không có con phụng dưỡng
1.3.4 Các quy định của pháp luật về giám hộ đương nhiên theo Bộ luật Dân sự năm 2005
Tương tự Bộ luật dân sự năm 1995, Bộ luật dân sự năm 2005 cũng có các quy định
về chế định giám hộ đương nhiên nhăm bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự Bên cạnh đó, để khắc phục những hạn chế của Bộ luật dân sự năm 1995, chế định giám hộ đương nhiên trong Bộ luật dân sự năm
2005 đã có những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với điều kiện xã hội, bối cảnh của đất nước
Thứ nhất là quy định về điều kiện của cá nhân làm người giám hộ Điều 69 Bộ luật
dân sự năm 1995 có ba khoản quy định về điều kiện của cá nhân làm người giám hộ Tuy nhiên, khoản 2 quy định về điều kiện cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ đã bao hàm điều kiện tại khoản 1: cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên Do đó, ngoài hai điều kiện của người giám hộ đã được quy định trong Bộ luật dân sự năm 1995, Bộ luật dân sự năm
2005 có quy định thêm một điều kiện về nhân thân của người giám hộ: “Có tư cách đạo đưc tốt; không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác” (Khoản 2, Điều 60 Bộ luật dân sự năm
2005)
Trang 24Thứ hai là quy định về người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên (Điều 61) Các quy định về người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên ở Bộ luật
dân sự năm 2005 nhìn chung tương tự như quy định tại Bộ luật dân sự năm 1995 Tuy nhiên, tại Khoản 2 Điều 61 Bộ luật dân sự năm 2005 còn quy định bổ sung trong trường hợp không có anh, chị ruột, hoặc có anh, chị ruột nhưng anh, chị ruột không đủ điều kiện
là người giám hộ cho em chưa thành niên, ông bà nôi, ông bà ngoại đều đã mất hoặc ông
bà nội, ông bà ngoại còn sống nhưng đã quá già yếu, không đủ điều kiện là người giám hộ cho cháu chưa thành niên, thì những người thân thích là bác, chú, cậu, cô, dì sẽ là người giám hộ cho cháu chưa thành niên
Thứ ba là quy định về người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự (Điều 62) Chế định này đã từng được quy định tại Điều 71 Bộ luật dân sự năm
1995 nhưng với quy định là người giám hộ đương nhiên của người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình Bởi lẽ trước đây, Bộ luật dân sự năm 1995 quy định một người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình không cần phải có quyết định của Tòa án tuyên bố rằng người đó mất năng lực hành vi dân sự nhưng vẫn phải có người giám hộ đương nhiên cho họ Bộ luật dân sự năm 2005 đã quy định chặt chẽ hơn, chỉ những người bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự mới được coi là người được giám hộ
Thứ tư là quy định về quyền và nghĩa vụ của người giám hộ đương nhiên (Điều 65, Điều 66, Điều 67) Các quy định về nghĩa vụ của người giám hộ đương nhiên đối với
người được giám hộ trong Bộ luật dân sự năm 2005 tương tự như Bộ luật dân sự năm
1995 Các nghĩa vụ của người giám hộ tùy từng trường hợp khác nhau là khác nhau, nhưng đều cùng chung một mục đích là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được giám hộ, đại diện cho họ xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự, quản lý tài sản của họ Quyền của người giám hộ được quy định tại Điều 68 Bộ luật dân sự: người giám hộ có quyền sử dụng tài sản, định đoạt tài sản của người được giám hộ cho những hoạt động cần thiết thường ngày của người được giám hộ, được thanh toán các chi phí cần thiết cho việc quản lý tài sản; dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường thiệt hại do các hành
vi của người được giám hộ gây ra
Thứ năm là quy định về thay đổi người giám hộ Chế định này được quy định tại
Điều 70 Bộ luật dân sự năm 2005, trong đó các trường hợp được thay đổi người giám hộ được quy định giống như Bộ luật dân sự năm 1995 Tuy nhiên, có một điểm khác biệt giữa hai Bộ luật này Đó là: trước đây, Bộ luật dân sự năm 1995 quy định việc thay đổi
Trang 25người giám hộ khi người giám hộ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ giám hộ trên cơ sở quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trong khi đó Bộ luật dân sự năm 2005 chỉ quy định người giám hộ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ là căn cứ để thay đổi người giám hộ
Thứ sáu là quy định về chấm dứt giám hộ Các trường hợp chấm dứt việc giám hộ
được quy định tại Điều 72 Bộ luật dân sự năm 2005 Tương tự như quy định của Bộ luật dân sự năm 1995, việc giám hộ sẽ chấm dứt trong các trường hợp sau: người được giám
hộ đã có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; người được giám hộ chết; cha, mẹ của người được giám hộ đã có đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình; người được giám hộ được nhận làm con nuôi Hậu quả của việc chấm dứt giám hộ được xác định theo Điều 73, Bộ luật dân sự năm 2005
1.3.5 Các quy định về giám hộ đương nhiên theo Luật hôn nhân và gia đình năm
2014
Kế thừa, phát huy những quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và năm
2000, Luât hôn nhân và gia đình năm 2014 ra đời Bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung các quy định cũ, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng có những quy định mới về chế định giám hộ đương nhiên giữa các thành viên trong gia đình Cụ thể là những chế định liên quan đến thay đổi người giám hộ đương nhiên khi vợ, chồng ly hôn; bổ sung chế định giám hộ giữa chú, bác, cậu, cô, dì với cháu, giữa con rể, con dâu với cha mẹ vợ, cha mẹ chồng
Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn được quy định tại Điều 50 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở điều 85 Luật 2000 Theo đó,
bổ sung quy định mới sau: “Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình
do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ”
Về quyền và nghĩa vụ của con được quy định tại Điều 70 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Theo đó, bổ sung những nội dung sau: được cha mẹ thương yêu, tôn trọng, thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp về nhân thân và tài sản theo quy định của pháp luật; được học tập và giáo dục; được phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức Con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có
Trang 26khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì có quyền sống chung với cha
mẹ, được cha mẹ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc Con chưa thành niên tham gia công việc gia đình phù hợp với lứa tuổi và không trái với quy định của pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Về quyền, nghĩa vụ của con dâu, con rể, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng quy định tại Điều
80 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và đây là điều luật mới, với quy định như sau:
“Trong trường hợp con dâu, con rể sống chung với cha mẹ chồng, cha mẹ vợ thì giữa các bên có các quyền, nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau theo quy định tại các điều 69, 70, 71 và 72 của luật này.”
Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột được quy định tại
Điều 114 và đây là điều luật mới, với quy định như sau: “Cô, dì, chú, cậu, bác ruột không sống chung với cháu ruột có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để
tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng theo quy định của luật này.”
Cháu đã thành niên không sống chung với cô, dì, chú, cậu, bác ruột có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cô, dì, chú, cậu, bác ruột trong trường hợp người cần được cấp dưỡng không
có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng theo quy định của luật này
1.4 Vai trò của chế định giám hộ đương nhiên
Giám hộ đương nhiên là chế định quan trọng trong pháp luật dân sự Việt Nam cả về mặt pháp lý và xã hội:
Về mặt pháp lý: Chế định giám hộ đương nhiên góp phần đảm bảo được lợi ích của một số đối tượng nhất định cần được giám hộ cụ thể là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự và những người có quyền và lợi ích liên quan Thông qua chế định này người được giám hộ có thể thực hiện hóa các quyền mà pháp luật quy định cho mình Đồng thời chế định này còn bảo đảm sự bình đẳng giữa các công dân trong xã hội trong việc được hưởng các quyền do luật định và thực thi các quyền đó trên thực tế Mặt khác chế định giám hộ đã tạo ra cở sở pháp lý cho việc nâng cao trách nhiệm của người giám hộ đối với người được giám hộ thông qua việc quy định các chế định về quyền và nghĩa của người được giám hộ Ví dụ như: thông qua quy định về quyền và nghĩa vụ của người giám hộ (Điều 65, 66, 67, 68, 69 Bộ luật dân sự năm 2005) đã đảm bảo được người được giám hộ được chăm sóc, bảo vệ và các quyền tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của của họ không bị xâm phạm Luật cũng dự trù được các trường hợp nhằm hạn chế sự lạm
Trang 27quyền của người giám hộ cũng như xung đột giữa quyền và lợi ích của người giám hộ với người được giám hộ (cấm các giao dịch giữa người giám hộ và người được giám hộ, cấm người giám hộ dung tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác,…
Về mặt xã hội: chế định giám hộ đương nhiên có các quy định về nghĩa vụ giám hộ giữa các thành viên trong gia đình với nhau Vì vậy đã góp phần phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, tinh thần tương thân tương ái, tình cảm tốt đẹp giữa các thành viên trong gia đình, trong cộng đồng, Bên cạnh đó, thông qua những quy định về giám hộ đương nhiên đã thể hiện được sự quan tâm, trách nhiệm của nhà nước đối với người chưa thành niên và người mất năng lực hành vi dân sự Ví dụ: quy định về giám hộ giữa bố dượng, mẹ kế và con riêng (Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000), giám hộ giữa anh, chị, em trong gia đình (Điều 61 Bộ luật dân sự năm 2005) đã cho ta thấy được ý chí của nhà làm luật muốn gắn bó hơn nữa tình cảm giữa những người cùng sống chung trong một gia đình, thể hiện tinh thần tương thân tương ái, yêu thương đùm bọc giữa các thành viên trong gia đinh
Trang 28CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
GIÁM HỘ ĐƯƠNG NHIÊN 2.1 Chủ thể của quan hệ giám hộ đương nhiên
2.1.1 Người được giám hộ đương nhiên11
2.1.1.1 Người chưa thành niên
Khái niệm người chưa thành niên được quy định tại Điều 18 Bộ luật dân sự năm
2005: “Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên” Cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi đã phát triển đến mức
độ hoàn chỉnh về trí tuệ, thể chất Y học, tâm lý học, sinh lý học và các ngành khoa học
có liên quan đã chứng minh thông thường con người đạt được sự phát triển này khi đã thành niên, đủ 18 tuổi Người dưới 18 tuổi chưa đạt được sự phát triển hoàn chỉnh này nên chưa được coi là người thành niên Theo đó người chưa thành niên phải được đại diện hoặc giám hộ trong các giao dịch dân sự
Việc xác định một là người đã thành niên hay là người chưa thành niên căn cứ vào
độ tuổi của người đó Vì vậy việc xác định độ tuổi của người đó là vấn đề quan trọng cần phải chính xác Ví dụ một người sinh vào ngày 10-10-1980 thì ngày 10-10-1998 người này được coi là người đủ 18 tuổi tức là người đã thành niên
Tùy từng độ tuổi mà người chưa thành niên có quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự khác nhau, nghĩa là họ có năng lực hành vi dân sự khác nhau Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể tự mình xác lập các giao dịch phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi, các giao dịch khác chỉ có thể được xác lập và thực hiện với sự đồng ý của người giám hộ (Điều 20 Bộ luật dân sự năm 2005), riêng người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, nếu có tài sản riềng đủ để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ, thì có thể tự mình xác lập các giao dịch, trừ những giao dịch mà luật đòi hỏi có sự đồng ý của người giám hộ, ví dụ, lập di chúc để định đoạt tài sản sau khi chết (Điều 646 Bộ luật dân sự năm 2005) hoặc định đoạt tài sản có giá trị lớn, dùng tài sản để đầu tư kinh doanh (điều 46 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000) Điểm a Khoản 2 Điều 58 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định một trong các trường hợp sau người chưa thành niên cần phải có người giám hộ đương nhiên, và được coi là người được giám hộ:
Trang 29- Người chưa thành niên không còn cả cha lẫn mẹ, không xác định được cha,
mẹ
- Người chưa thành niên còn cha, mẹ nhưng cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ
- Người chưa thành niên còn cha, mẹ nhưng cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó
2.1.1.2 Người mất năng lực hành vi dân sự
Theo Khoản 2 Điều 58 và Khoản 3 Bộ luật dân sự năm 2005, người mất năng lực hành vi dân sự phải có người giám hộ Như vậy, khác với Bộ luật dân sự năm 1995, Bộ luật dân sự năm 2005 quy định việc giám hộ như là hệ quả của tình trạng mất năng lực hành vi, chứ không phải là một yếu tố của tình trạng đó12
Khái niệm “mất” thông thường được hiểu là đang tồn tại, đang có một hiện tượng, một sự vật nhưng sau đó không còn hiện tượng, sự vật đó nữa Năng lực hành vi dân sự của cá nhân cũng là thuộc tính nhân thân của cá nhân và đầy đủ khi cá nhân đến tuổi thành niên Thông thường, năng lực hành vi của cá nhân chấm dứt cùng với sự chấm dứt của năng lực pháp luật của cá nhân đó (chết hoặc Tòa án tuyên bố là đã chết) Tuy nhiên, người thành niên có thể bị tuyên bố mất năng lực hành vi khi có những điều kiện, với những trình tự, thủ tục nhất định Theo đó, tình trạng mất năng lực hành vi, được định
nghĩa tại khoản 1 điều 22 Bộ luật dân sự năm 2005: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định” Có thể từ điều luật đó rút ra
hai nhóm điều kiện: liên quan đến tình trạng thể chất, gọi là điều kiện cần, và liên quan đến tình trạng pháp lý, gọi là điều kiện đủ
- Điều kiện cần (tình trạng thể chất)13: Người được giám hộ tiềm năng phải ở trong tình trạng không thể nhận thức được hành vi của mình, nghĩa là không hiểu mình làm gì và vì mục đích gì, nói chung là vô tri Tình trạng ấy không nhất thiết diễn ra thường xuyên mà chỉ cần với độ dày đặc đến mức nào đó khiến cho đương
12
Theo điểm b khoản 2 Điều 67 Bộ luật dân sự năm 1995, người mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không nhận thức hoặc làm chủ được hành vi của mình thì cần được giám hộ Điều đó có nghĩa là việc giám hộ được thiết lập một khi có người rơi vào tình trạng không nhận thức hoặc làm chủ được hành
vi của mình, chứ không đợi có quyết định của Tòa án tuyên bố người đó mất năng lực hành vi Nói cách khác, giám hộ có trước, còn mất năng lực hành vi đến sau
13
Nguyễn Ngọc Điện, Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010
Trang 30sự không thể có được cuộc sống bình thường như mọ người Nguyên nhân của tình trạng trên là do bệnh tâm thần hay bệnh khác Bệnh tâm thần thì đã rõ Còn các bệnh khác là một khác niệm rất rộng Luật không xây dựng các tiêu chí nào khác, ngoài tiêu chí “không nhận thức, làm chủ được hành vi”, như là hậu quả của bệnh Trong hầu như tất cả trường hợp, đó là các bệnh đặc trưng bằng sự tác động tiêu cực vào sự phát triển và khả năng vận hành bình thường của não, khiến cho quá trình nhận thức không thể diễn ra suôn sẻ
- Điều kiện đủ (tình trạng pháp lý)14: Thực ra, chỉ riêng việc xác nhận tình trạng bệnh tật của đương sự chưa đủ để đặt đương sự dưới chế độ giám hộ Cần có một người nào đó có quyền và lợi ích liên quan yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên
bố đương sự mất năng lực hành vi Theo khoản 1 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi là một loại yêu cầu dân
sự, bởi vậy quyết định của Tòa án đáp ứng yêu cầu ấy có hiệu lực thi hành ngay Theo khoản 2 Điều 33 và khoản 2 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, Tòa án
có thẩm quyền xét xử là Tòa án cấp huyện nơi cư trú của người bị tuyên bố mất năng lực hành vi
Trước khi có quyết định của Toàn án tuyên bố một người bị mất năng lực hành vi dân sự, người đó vẫn có năng lực hành vi dân sự Tuy nhiên, đối với giao dịch dân sự do người đó xác lập, trước tiên người đại diện của người đó yêu cầu Tòa án tuyên bố người
đó mất năng lực hành vi dân sự rồi sau đó mới tuyên bố giao dịch do người đó xác lập vô hiệu theo quy định tại Điều 130 Bộ luật dân sự năm 2005 Trước đây, Bộ luật dân sự năm
1995 quy định người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không nhận thức được hành vi của mình phải có người giám hộ mà không cần có quyết định của Tòa án tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự, việc xác định người đó có mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không nhận thức được hành vi của mình hay không chỉ dựa trên kết quả giám định của cơ quan có thẩm quyền, khi đó, vấn đề giám hộ đã được đặt ra đối với người mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức được hành
vi của mình
Người bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự đã được chạy chữa khỏi bệnh thì trở lại có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo yêu cầu của chính người đó, hoặc của người có quyền lợi ích liên quan được Tòa án chấp nhận theo thủ tục được pháp luật tố tụng dân sự quy định
14
Nguyễn Ngọc Điện, Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010
Trang 312.1.2 Người giám hộ đương nhiên
2.1.2.1 Điều kiện để làm người giám hộ đương nhiên
Không phải bất kì ai cũng có thể trở thành người giám hộ đương nhiên Nhằm bảo
vệ quyền và lợi ich của người chưa thành niên và người mất năng lực hành vi dân sự, người giám hộ đương nhiên phải đáp ứng đủ những điều kiện được quy định tại Điều 60
Bộ luật dân sự năm 2005:
“Cá nhân có có đủ các điều kiện sau đây có thể làm người giám hộ:
1 Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
2 Có tư cách đạo đức tốt; không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình
sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác;
3 Có điều kiện cần thiết bảo đảm thực hiện việc giám hộ.”
Trước đây, Bộ luật dân sự năm 1995 chỉ quy định hai điều kiện để cá nhân có thể làm người giám hộ Đó là:
- Cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Điều 69 Bộ luật dân sự năm 1995 quy định về điều kiện của cá nhân làm người giám hộ chia làm ba khoản Nhưng trong đó quy định của khoản 1 là cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên đã bao nằm trong quy định tại khoản 2 về điều kiện cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự đầy
đủ
- Có điều kiện cần thiết bảo đảm thực hiện việc giám hộ Tuy nhiên Bộ luật dân sự năm 1995 chưa có quy định cụ thể các điều kiện cần thiết đó là những điều kiện gì
Tiếp tục xây dựng dựa trên cơ sở các quy định tại Điều 69 Bộ luật dân sự năm 1995,
Bộ luật dân sự năm 2005 có thêm một điều kiện về nhân thân của cá nhân làm người giám
hộ Người giám hộ phải là người có tư cách đạo đức tốt, không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác Bởi người giám hộ là người trực tiếp chăm sóc, giáo dục, đại diện,…cho người được giám
hộ, nếu người giám hộ có nhân thân không tốt, không có đạo đức tốt thì quyền và lợi ích của người được giám hộ, các quan hệ tài sản liên quan đến người được giám hộ sẽ theo đó
sẽ bị ảnh hưởng Vì vậy, người giám hộ có nhân thân, đạo đức tốt có ảnh hưởng rất lớn