1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự việt nam

68 783 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 749,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dưới góc độ khoa học luật tố tụng hình sự thì khái niệm tạm giam được hiểu như sau: “Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án áp

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT - -

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

NIÊN KHÓA 2011 - 2015

ĐỀ TÀI:

BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠM GIAM

TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện:

Đoàn Văn Sung

MSSV: 5116016 Lớp Luật Tư pháp 2 – K37

Giáo viên hướng dẫn:

ThS Trần Hồng Ca

Bộ môn Luật Tư pháp

Cần Thơ, tháng 11/2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật này Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý Thầy, Cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện ở Khoa Luật trường Đại học Cần Thơ Đặc biệt,

em xin chân thành cảm ơn Cô Trần Hồng Ca đã tạo điều kiện và tận tình, chu đáo hướng dẫn em hoàn thành luận văn này

Mặc dù đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của Cô Trần Hồng Ca và sự cố gắng của bản thân để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, nhưng do thời gian nghiên cứu có hạn và có phần hạn chế về kiến thức chuyên môn, nên trong trong quá trình nghiên cứu đề tài sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót nhất định Vì vậy, rất mong nhận được ý kiến nhận xét, đóng góp tận tình của Quý Thầy, Cô và các bạn

để người viết cũng cố, bổ sung thêm kiến thức và điều chỉnh đề tài nghiên cứu được hoàn chỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2014

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2014

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Kết cấu đề tài 3

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠM GIAM TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Khái niệm chung về biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam 4

1.1.1 Khái niệm biện pháp ngăn chặn tạm giam 4

1.1.2 Đặc điểm của biện pháp tạm giam 5

1.1.3 So sánh biện pháp tạm giam và hình phạt 7

1.2 Mục đích, ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp tạm giam 9

1.2.1 Tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình điều tra và xử lý tội phạm .10

1.2.2 Đảm bảo trật tự an toàn xã hội .11

1.3 Lược sử phát triển của quy định tạm giam từ năm 1945 đến nay 11

1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960 11

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1988 13

1.3.3 Giai đoạn năm từ năm 1988 đến năm 2003 14

1.3.4 Giai đoạn từ năm 2003 đến nay 16

Trang 6

CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

HIỆN HÀNH VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠM GIAM

2.1 Đối tượng và căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam 18

2.1.1 Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam 18

2.1.2 Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam 19

2.2 Thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam 28

2.2.1 Giai đoạn điều tra 28

2.2.2 Giai đoạn truy tố 29

2.2.3 Giai đoạn xét xử sơ thẩm 29

2.2.4 Giai đoạn xét xử phúc thẩm 30

2.2.5 Giai đoạn Giám đốc thẩm, Tái thẩm 31

2.3 Thời hạn tạm giam 32

2.3.1 Giai đoạn điều tra 32

2.3.2 Giai đoạn truy tố 34

2.3.3 Giai đoạn xét xử sơ thẩm .35

2.3.4 Giai đoạn xét xử phúc thẩm 36

2.3.5 Giai đoạn Giám đốc thẩm, Tái thẩm 37

2.4 Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp tạm giam 37

2.5 Một số quy định khác liên quan đến việc tạm giam 38

2.5.1 Chế độ đối với người bị tạm giam 38

2.5.2 Chế độ chăm nom người thân và bảo quản tài sản của người bị tạm giam .39

CHƯƠNG 3 NHỮNG HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠM GIAM 3.1 Một số hạn chế về biện pháp ngăn chặn tạm giam 41

Trang 7

3.1.1 Căn cứ tạm giam 41

3.1.1.1 Về mặt pháp lý 41

3.1.1.2 Về mặt thực tiễn 44

3.1.2 Thời hạn tạm giam 45

3.1.2.1 Về mặt pháp lý 45

3.1.2.2 Về mặt thực tiễn 46

3.1.3 Thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam 47

3.2 Một số đề xuất hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về biện pháp ngăn chặn tạm giam 48

3.2.1 Căn cứ tạm giam 48

3.2.1.1 Về mặt pháp lý 48

3.2.1.2 Về mặt thực tiễn 51

3.2.2 Thời hạn tạm giam 51

3.2.2.1 Về mặt pháp lý 51

3.2.2.2 Về mặt thực tiễn 52

3.2.3.Thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam 53

KẾT LUẬN 56 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

Mặc dù không ngừng được hoàn thiện dần qua những đợt pháp điển hóa, nhưng thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về biện pháp tạm giam trong thời gian qua cho thấy, vẫn còn có những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật cũng như nhận thức của người tiến hành tố tụng về áp dụng biện pháp này Đó là việc tạm giam bị can, bị cáo một cách tràn lan, tùy tiện không có căn cứ, sử dụng biện pháp tạm giam như là một biện pháp nghiệp vụ điều tra, tạm giam bị can, bị cáo với thời hạn quá dài Những sai sót đó đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, phần nào dẫn đến việc hạn chế mục đích cần đạt được của tố tụng hình sự nói chung và biện pháp tạm giam nói riêng, làm suy giảm niềm tin của người dân đối với tính tôn nghiêm của pháp luật

Đứng trước những thực trạng trên Đảng và Nhà nước đã từng bước thực hiện những chính sách hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm khắc phục những yếu kém trong công tác thực thi pháp luật nói chung cũng như là việc thực hiện các biện pháp tạm giam nói riêng Điển hình là việc ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới Đây là một trong những văn bản quan trọng nhằm vạch ra phương hướng cũng như là

Trang 9

nhiệm vụ trọng phải thực hiện để có thể hoàn thiện hệ thống pháp luật, từng bước năng cao khả năng công tác của các cán bộ tư pháp Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, các cơ quan có thấm quyền đã tập trung xây dựng, hoàn thiện các chế định pháp lý liên quan đến hoạt động tố tụng hình sự, trong đó có chế định tạm giam trong tiến hành tố tụng nhằm đáp ứng yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp

mà chủ yếu là chú trọng đến việc đề cao bảo vệ quyền và lợi ích chính đảng của công dân Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị đã nêu rõ: “Xác định rõ căn cứ tạm giam, hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với một số loại tội phạm, thu hẹp đổi tượng người có thẩm quyền quyết định việc áp dụng các biện pháp tạm giam”

Vì vậy, để tìm hiểu một cách đầy đủ và toàn diện về biện pháp ngăn chặn tạm

giam trong tố tụng hình sự Việt Nam Người viết chọn đề tài “Biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam” để nghiên cứu nhằm tìm ra những

phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật về biện pháp tạm giam trong thực tiễn

2 Mục tiêu nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài “Biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam” người viết mong muốn làm rõ những quy định của pháp luật về biện pháp

ngăn chặn tạm giam trong pháp luật tố tụng hình sự hiện hành Đồng thời, người viết cũng nghiên cứu tình hình áp dụng biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự Thông qua đó tìm ra những ưu điểm và nhược điểm trong quá trình áp dụng biện pháp này

Từ đó, người viết đưa ra những phương hướng, giải pháp nhằm khắc phục những mặt hạn chế này và góp phần nâng cao hiểu quả áp dụng biện pháp tạm giam cũng như bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

3 Phạm vi nghiên cứu

Do có sự hạn chế về tài liệu cũng như thời gian hoàn thành luận văn, nên đề tài

“Biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam” chỉ tập trung

nghiên cứu những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp tạm giam Cụ thể, người viết sẽ nghiên cứu các quy phạm pháp luật của Bộ luật tố tụng hình sự năm

2003 và những quy định pháp luật có liên quan để làm rõ biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự Bên cạnh đó, người viết cũng tìm hiểu việc áp dụng các quy định này trong thực tiễn

Trang 10

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài, người viết dựa trên nền tảng cơ sở

lý luận duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh Mặt khác, người viết còn vận dụng một số phương pháp khác như: phương pháp so sánh, phân tích, đối chiếu, tổng hợp… và đặc biệt là phương pháp phân tích luật viết để tiến hành đánh giá, phân tích những quy định của pháp luật về biện pháp tạm giam

5 Kết cấu đề tài

Luận văn ngoài Lời cảm ơn, Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo

và Mục lục, nội dung chính của đề tài được chia làm 03 chương và trình bày theo trình

tự cơ sở lý luận đến các quy định của pháp luật có liên quan và sau cùng là thực tiễn và hướng hoàn thiện Cụ thể:

Chương 1: Khái quát chung về biện pháp ngăn chặn tạm giam trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Chương này người viết tập trung làm rõ khái niệm và đặc điểm biện pháp ngăn chặn tạm giam, và so sánh với hình phạt Đồng thời, người viết cũng tìm hiểu mục đích, ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với cơ quan tiến hành tố tụng và cộng đồng, xã hội Cuối cùng, trình bày về lược sử phát triển của quy định tạm giam từ năm 1945 cho đến nay

Chương 2: Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về biện pháp ngăn chặn tạm giam

Trọng tâm của chương này là phân tích những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về biện pháp tạm giam Cụ thể, người viết sẽ trình bày về: Đối tượng, căn cứ, thẩm quyền, thời hạn tạm giam áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, thủ tục ra lệnh tạm giam và một số quy định có liên quan Từ đó, làm cơ sở để cho Chương 3 so sánh, đối chiếu giữa l ý luận và thực tiễn để tìm ra hướng hoàn thiện cho vấn đề nghiên cứu

Chương 3: Những hạn chế và hướng hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về biện pháp ngăn chặn tạm giam

Chương này người viết tập trung phân tích những hạn chế, xất phát từ quy định của pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam Sau đó, đưa

ra một số đề xuất góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam

Trang 11

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠM GIAM

TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 Khái niệm chung về biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam

1.1.1 Khái niệm biện pháp ngăn chặn tạm giam

Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự Tuy nhiên, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 vẫn chưa chính thức ghi nhận về mặt pháp lý khái niệm tạm giam Dưới góc độ khoa học luật tố tụng hình

sự thì khái niệm tạm giam được hiểu như sau: “Tạm giam là biện pháp ngăn chặn

trong tố tụng hình sự do cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án áp dụng đối với bị can,

bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hay bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội” 1

Bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam khi căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của người phạm tội và thái độ của họ khi và sau khi thực hiện hành vi phạm tội của bị can, bị cáo, cơ quan có thẩm quyền xét thấy cần thiết phải cách ly những đối tượng này với gia đình và xã hội thì quyết định áp dụng biện pháp tạm giam Trong trường hợp này, bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam nhằm mục đích ngăn chặn hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội của bị can, bị cáo, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử được thuận lợi hoặc đảm bảo thi hành án phạt tù hoặc án tử hình Theo đó bị can, bị cáo sẽ bị tạm giam tại buồng tạm giam của nhà tạm giữ Công an huyện, thành phố thuộc tỉnh hoặc Trại tạm giam theo Quy chế về tạm giữ, tạm giam được ban hành kèm theo Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 7-11-1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2011)

Tạm giam đươc gọi là biện pháp ngăn chặn vì thông qua biện pháp này sẽ tạm thời hạn chế tự do thân thể, tự do đi lại và các quyền tự do cá nhân khác của người bị

áp dụng trong một khoản thời gian nhất định Do đó, khi những chủ thể có thẩm quyền

áp dụng biện pháp tạm giam2

đối với bị can, bị cáo cần tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự trước khi thi hành Cụ thể khoản 3 Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự

Trang 12

năm 2003 quy định: “Những người có thẩm quyền ra lệnh bắt được quy định tại Điều

80 của Bộ luật này có quyền ra lệnh tạm giam Lệnh tạm giam của những người được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn và hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc tạm giam, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn Viện kiểm sát phải hoàn trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra ngay sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn” Bên cạnh đó, việc áp dụng biện pháp tạm giam không chỉ ảnh hưởng đến tự

do cá nhân của bị can, bị cáo, mà còn ảnh hưởng đối với gia đình họ Do vậy, người ra lệnh tạm phải thông báo cho gia đình người bị tạm giam và chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người tạm giam cư trú hoặc làm việc biết

Như vậy, biện pháp tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn, có tính chất nghiêm khắc nhất, được quy định trong pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam, do

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo nhằm đảm bảo ngăn chặn bị can, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội hoặc có hành vi gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án

1.1.2 Đặc điểm của biện pháp tạm giam

Biện pháp tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam vì vậy biện pháp tạm giam cũng mang những đặc điểm chung của biện pháp ngăn chặn như sau:

Một là, biện pháp tạm giam là một dạng biện biện pháp cưỡng chế tố tụng

nghiêm khắc thể hiện ở việc hạn chế quyền của người bị áp dụng Đó có thể là quyền

tự do thân thể, tự do đi lại, tự do cư trú và quyền tài sản… Việc hạn chế quyền con người để kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội, ngăn ngừa người phạm tội phạm tội mới, trốn tránh pháp luật hoặc có hành vi gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét

xử cũng như để đảm bảo thi hành án

Hai là, biện pháp tạm giam được áp dụng khi có những căn cứ pháp luật quy

định Các căn cứ này đảm bảo để biện pháp cưỡng chế được áp dụng ở mức cần và đủ

để đạt được mục đích áp dụng, bảo đảm quyền khác nhau của con người

Không chỉ có các đặc điểm chung của biện pháp ngăn chặn mà biện pháp tạm giam còn có các đặc điểm riêng biệt sau đây:

Trước tiên, tạm giam là biện pháp ngăn chặn có tính nghiêm khắc nhất trong

pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Biện pháp tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn được quy định trong pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam, được chủ thể có

Trang 13

thẩm quyền trong cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng trong trường hợp cần thiết để đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo đảm cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả cao Nếu như bị áp dụng biện pháp này thì bị can, bị cáo sẽ bị hạn chế các quyền tự do đi lại, tự do cư trú Theo đó, khi bị tạm giam, bị can, bị cáo sẽ không được tại ngoại ở bên ngoài và không được sinh hoạt với gia đình và xã hội Trong khi đó nếu bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác như: bảo lĩnh thì bị can, bị cáo sẽ không bị cách ly khỏi gia đình và xã hội, không

bị hạn chế quyền tự do cư trú hay tự do đi lại mà họ chỉ cần chủ thể bảo lĩnh bảo đảm rằng họ sẽ không gây khó khăn cho hoạt động, điều tra, truy tố, xét xử và có mặt khi

có triệu tập của cơ quan tiến hành tố Hay là, khi bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú thì quyền tự do đi lại, tự do cư trú của bị can, bị cáo sẽ bị hạn chế ít hơn do bị can, bị cáo vẫn được sống với gia đình và xã hội trong phạm vi địa phương nơi mình cư trú Bên cạnh đó, các biện pháp bắt người, tạm giữ cũng là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc, nó cũng hạn chế quyền tự do của công dân, nhưng thời hạn hạn chế quyền tự do trong bắt và tạm giữ ngắn hơn nhiều so với tạm giam Trong vòng 24 giờ sau khi bị bắt, Cơ quan điều tra phải lấy lời khai, ra quyết tạm giữ hoặc trả lại tự do cho người bị bắt Thời gian tạm giữ là 3 ngày đêm và tối đa là 9 ngày đêm đối với trường hợp có gia hạn tạm giữ Trong khi đó, thời hạn tạm giam để điểu tra có thể lên đến 12 tháng hoặc 16 tháng Chính vì vậy, biện pháp tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Đồng thời, biện pháp tạm giam còn được áp dụng trong các giai đoạn của quá

trình tố tụng hình sự (từ giai đoạn điều tra vụ án cho đến giai đoạn xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật) Biện pháp tạm giam không chỉ được cơ quan tiến hành

tố tụng áp dụng trong các giai đoạn: điều tra, truy tố, xét xử mà ở các giai đoạn khác như: thi hành án, giám đốc thẩm, tái thẩm thì biện pháp tạm giam vẫn được quy định

và đảm bảo thực hiện Chẳng hạn nhằm đảm bảo sự có mặt của bị cáo trong thời gian chờ thi hành hình phạt tử hình thì Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị cáo Cụ thể, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định:

“Đối với bị cáo bị phạt tử hình thì Hội đồng xét xử quyết định trong bản án việc tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án”3 Hay là, ở giai đoạn giám đốc thẩm khi hội đồng giám đốc thẩm quyết định hủy bản án hoặc quyết định bị kháng nghị để điều tra lại hoặc xét xử lại, nếu thấy việc tiếp tục tạm giam bị cáo là cần thiết, hội đồng giám đốc thẩm có quyền ra lệnh tạm giam cho đến khi Viện kiểm sát hoặc Tòa án thụ

Trang 14

Cuối cùng, biện pháp tạm giam do người có thẩm quyền áp dụng dụng Do là

biện pháp hạn chế quyền công dân (quyền tự do đi lại, tự do cư trú và quyền công dân khác) khi người đó chưa phải là người phạm tội, cho nên thẩm quyền áp dụng các biện pháp tạm giam được giao cho những người ở phạm vi hẹp Nếu như các biện pháp ngăn chặn khác có thể do người tiến hành tố tụng áp dụng hoặc bất kỳ người nào cũng

có quyền, thì thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn chỉ giao cho Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Hội đồng xét xử

1.1.3 So sánh biện pháp tạm giam và hình phạt

 Khái niệm và đặc điểm của hình phạt

Trong lịch sử lập pháp hình sự của nước ta từ trước tới nay, khái niệm hình phạt lần đầu tiên được quy định tại Điều 26 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung

năm 2009): “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm

tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội; Hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự và do Tòa án quyết định” Từ khái niệm trên, có thể rút ra

những đặc điểm của hình phạt như sau:

Thứ nhất, hình phạt là biện pháp cưỡng chế Nhà nước nghiêm khắc nhất Hình

phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế Nhà nước Hình phạt được Nhà nước sử dụng như công cụ hữu hiệu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm để bảo vệ lợi ích của nhà nước, của xã hội và các lợi ích hợp pháp của công dân Tính nghiêm khắc của hình phạt thể hiện ở chỗ người bị kết án

có thể bị tước bỏ hoặc bị hạn chế quyền tự do, quyền tài sản, về chính trị thậm chí cả quyền sống Bên cạnh đó, hình phạt cũng để lại hậu quả pháp lí là án tích cho người bị kết án trong thời gian nhất định theo quy định của pháp luật

Thứ hai, hình phạt được luật hình sự quy định và do tòa án áp dụng Trong Bộ

luật hình sự Việt Nam, hình phạt được quy định cả ở Phần chung và Phần các tội phạm Phần chung quy định khái niệm, mục đích, các loại hình phạt, căn cứ quyết định hình phạt và miễn hình phạt, giảm thời hạn chấp hình hình phạt chính và hình phạt bổ sung Phần các tội phạm quy định các loại và mức hình phạt cho từng loại tội phạm cụ thể Bên cạnh đó, hình phạt là biện pháp cưỡng chế do Tòa án nhân danh nhà nước quyết định áp dụng đối với người phạm tội và chỉ có Tòa án mới có quyền này ngoài

ra không một cơ quan Nhà nước nào có quyền quyết định hình phạt Hình phạt được Tòa án tuyên đối với người phạm tội, thể hiện sự lên án của Nhà nước đối với họ và hành vi do họ gây ra

Trang 15

Thứ ba, hình phạt chỉ có thể áp dụng đối với người có hành vi phạm tội Một

trong những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam là trách nhiệm hình sự chỉ

có thể đặt ra đối với cá nhân người phạm tội Do đó, hình phạt chỉ có thể áp dụng đối với người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm Dựa trên nguyên tắc này có thể khẳng định hình phạt không thể được áp dụng đối với các thành viên trong gia đình cũng như những người thân khác của người phạm tội, thậm chí cả trong trường hợp người phạm tội trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật

 So sánh tạm giam và hình phạt

Biện pháp tạm giam và hình phạt đều là một trong những biện pháp cưỡng chế được Nhà nước quy định và bảo bảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước Do đó, tạm giam và hình phạt có những đặc điểm chung như sau

Một là, việc áp dụng biện pháp tạm giam và hình phạt không phụ thuộc vào ý

chí của đối tượng bị áp dụng Xuất phát từ quan hệ pháp luật tố tụng hình sự và quan

hệ pháp luật hình sự là mối quan hệ giữa Nhà nước (đại diện cho Nhà nước là Cơ quan tiến hành tố tụng) và cá nhân, đây là quan hệ gần như một chiều Do đó, trong quá trình áp dụng cơ quan có thẩm quyền chỉ căn cứ vào quy định của pháp luật, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội Vì vậy, đối tượng bị áp dụng phải nghiêm chỉnh chấp hành nếu không sẽ bị cưỡng chế bằng quyền lực Nhà nước

Hai là, việc áp dụng biện pháp tạm giam và hình phạt đều ảnh hưởng trực tiếp

đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam

và hình phạt đều bị cách ly khỏi gia đình và xã hội đồng thời bị hạn chế quyền tự do đi lại, tự do cư trú và các quyền tự do khác được Hiến pháp quy định

Biện pháp tạm giam và hình phạt là hai biện pháp cưỡng chế khác nhau nên nó cũng có những điểm khác biệt nhất định

Thứ nhất, điểm khác biệt nhất của hai biện pháp cưỡng chế này là mục đích của

việc áp dụng biện pháp tạm giam và hình phạt Đối với hình phạt, hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội,

có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới Trong khi đó, mục đích của việc áp dụng biện pháp tạm giam

là để kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành

án hình sự cũng như đảm bảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình

Trang 16

Thứ hai, biện pháp tạm giam và hình phạt không chỉ khác nhau ở mục đích áp

dụng mà còn thể hiện ở mặt chủ thể có thẩm quyền áp dụng Tạm giam là biện pháp cưỡng chế trong pháp luật tố tụng hình sự và được chủ thể có thẩm quyền của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng tùy theo giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Còn đối với hình phạt, hình phạt là biện pháp cưỡng c hế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong pháp luật Hình sự và chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền áp dụng ngoài ra không một cơ quan nao được quyết định Hình phạt Sự quy định như trên cho thấy chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam là rộ ng hơn

so với chủ thể có thẩm quyền áp dụng hình phạt

Thứ ba, đối tượng bị áp dụng của biện pháp tạm giam và hình phạt là khác

nhau Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam chỉ có thể là bị can, bị cáo và người bị kết án ngoài các đối tượng này không ai có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam, mọi hành vi áp dụng không đúng đối tượng đều bị coi là vi phạm pháp luật Tuy nhiên, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước và chỉ được áp dụng đối với người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm Điều 9 Bộ

luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: “không ai bị coi là có tội và phải chịu hình

phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”

1.2 Mục đích, ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp tạm giam

Quyền bất khả xâm phạm của con người là một trong những quyền cơ bản của

công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 : "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.”5 Tuy vậy, để thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm nhằm bảo vệ

an ninh Quốc gia, giữ gìn trật tự và an toàn xã hội thì việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp tạm giam nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng Vì khi

áp dụng biện pháp này không những nâng cao năng lực quản lý Nhà nước, củng cố và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa mà còn góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội sẽ xảy ra hoặc đang xảy ra, bên cạnh đó vẫn đảm bảo sự dân chủ, tôn trọng các quyền cơ bản của công dân được hiến pháp quy định Cụ thể, thông qua việc áp dụng biện pháp tạm giam mang lại ý nghĩa thiết thực như sau:

5

Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013

Trang 17

1.2.1 Tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình điều tra và xử lý tội phạm

Giải quyết vụ án hình sự để kịp thời tìm ra người phạm tội, đưa ra xét xử kịp thời là một tất yếu khách quan, là sự bắt buộc nhưng trên con đường tìm ra sự thật của

vụ án thì các chủ thể tố tụng thường gặp nhiều khó khăn, nhất là những khó khăn khách quan Trong đó phải kể đến sự thiếu thiện chí, sự bất hợp tác của một số người tham gia tố tụng, đặc biệt là chủ thể của tội phạm Khắc phục những khó khăn trên là

sự cần thiết và có hiệu quả của biện pháp ngăn chặn nói chung, biện pháp tạm giam nói riêng Quy định và áp dụng biện pháp tạm giam trước hết nhằm đáp ứng mục tiêu kịp thời ngăn chặn tội phạm Cụ thể tại Điều 79 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy

định như sau: “Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị

cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần đảm bảo thi hành án, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi thẩm quyền của mình hoặc người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật này có thể

áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn sau đây: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm

đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị dể bảo đảm” Thực tiễn tố

tụng hình sự cho thấy, thông thường sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì chủ thể của tội phạm luôn tìm cách cản trở việc xác minh sự thật vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng bằng các cách khác nhau như bỏ trốn, tạo hiện trường giả, bằng chứng giả hoặc

đe dọa người làm chứng, người bị hại, thực hiện tội phạm mới Vì vậy, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp tạm giam nói riêng không những nhằm ngăn chặn kịp thời các tội phạm có thể xảy ra ngay từ đầu hoặc không cho tội phạm tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội của mình mà còn khắc phục việc bị can, bị cáo trốn tránh, gây khó khăn cho việc xử lí người phạm tội thông qua đó hỗ trợ rất nhiều cho các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, giúp cho các hoạt động này được tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả cao

Trong tất cả các biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật tố tụng hình

sự năm 2003 thì biện pháp tạm giam có tính chất nghiêm khắc nhất và được chủ thể có thẩm quyền áp dụng trong các giai đoạn khác nhau của quá trình tố tụng Do đó ngoài mục đích chung là ngăn chặn kịp thời tội phạm và hạn chế việc bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc gây khó khăn cho quá trình tố tụng thì việc áp dụng biện pháp tạm giam ở mỗi giai đoạn nhất định lại mang một mục đích khác nhau nhằm đảm bảo thực hiện có hiệu quả chức năng của cơ quan tố tụng Chẳng hạn, ở giai đoạn điều tra khi Cơ quan điều tra áp dụng biện pháp tạm giam thì bị can tạm thời bị cách ly khỏi gia đình, xã hội, hạn chế quyền tự do đi lại, tự do cư trú và khi đó bị can sẽ bị tạm giam tại trại tạm giam trong một khoản thời gian nhất định để cơ quan chức năng dễ dàng quản lý, theo dõi nhằm đảm bảo cho Cơ quan điều tra có thể tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ từ

Trang 18

lời khai của bị can vào bất cư khi nào nếu thấy cần thiết mà không phải mất thời gian triệu tập nhiều lần; còn ở giai đoạn thi hành án việc tạm giam bị cáo sau khi tuyên án nhằm đảm bảo cho việc thi hành án sau khi bản án có hiệu lực được thuận lợi Do đó, việc áp dụng biện pháp tạm giam sẽ đảm bảo được sự có mặt của bị can, bị cao từ đó

hỗ trợ rất nhiều cho cơ quan tiến hành tố tụng trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử

và thi hành án giúp cho quá trình giải quyết vụ án được nhanh chóng, đạt hiệu quả cao

1.2.2 Đảm bảo trật tự an toàn xã hội

Bản chất của tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, mỗi tội phạm khi xuất hiện đều có thể gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại các quan hệ xã hội được pháp luật

tố tụng hình sự bảo vệ đồng thời trực tiếp hoặc gián tiếp xâm hại đến an ninh Quốc gia, sự ổn định, bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa, đến tính mạng, sức khỏe, danh

dự, nhân phẩm và tài sản của công dân cũng như các quy tắc của cuộc sống xã hộ vì vậy cần phải việc cách ly các đối tượng này khỏi cộng đồng, xã hội là việc cần thiết và việc cách ly họ sẽ không cho họ có điều kiện tiếp tục gây nguy hại cho lợi ích của cá nhân và cộng đồng được pháp luật bảo vệ Do đó, biện pháp tạm giam không chỉ tạo điều kiện thuẩn lợi để Cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình mà thông qua việc cách ly hành vi nguy hiểm cho xã hội còn góp phần đảm bảo được lợi ích của Nhà nước cũng như lợi ích của cộng đồng

1.3 Lƣợc sử phát triển của quy định tạm giam từ năm 1945 đến nay

1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960

Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra trang sử mới trong lịch sử phát triển của dân tộc, lập ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước, Nhà nước ta đã ban hành những văn bản quy phạm pháp luật quan trọng điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh Trong đó, các văn bản về tố tụng hình

sự được ban hành để đảm bảo cho việc xử lý tội phạm được nhạy bén, kịp thời Các văn bản đó gồm: Sắc lệnh ngày 13/9/1945 quy định về việc thành lập tòa án quân sự

và được bổ sung bằng Sắc lệnh số 21 ngày 14/02/1946 Trong đó có quy định: “Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử các tội phạm phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”, Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 quy định về các tổ chức các tòa án và các ngạch thẩm phán trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Tại Điều 38 của Sắc lệnh này có quy định về việc thành lập tòa án thường với sự tham gia giải quyết của phụ thẩm bên cạnh Chánh án và hại Hội thẩm, Sắc lệnh 85 ngày 22/5/1950

Sắ lệnh cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và các văn bản có liê quan khác Tuy nhiên, trong các Sắc lệnh vừa nêu lại chưa có quy định về biện pháp tạm giam khi giải quyết vụ án hình sự

Trang 19

Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta kết thúc thắng lợi, miền Bắc hoàn toàn giải phóng nhưng miền Nam vẫn bị đặt dưới sự thống trị cuả đế quốc Mỹ và chính quyền bù nhìn Sài Gòn Vì vậy, những sắc lệnh trước năm

1954 không còn thích hợp để đáp ứng nhu cầu chính trị và xã hội trong giai đoạn mới, thiếu những điều kiện cần thiết phục vụ cho quá trình giải quyết vụ án hình sự làm cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và hoạt động bảo vệ các lợi ích của Nhà nước, lợi ích của cá nhân cũng như trừng trị tội phạm gặp nhiều khó khăn Trước những yêu cầu thực tiễn trên và phù hợp với giai đoạn mới của đất nước, Quốc hội đã thông qua Luật số 103-SL/L005 ngày 20-5-1957 về bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm về nhà ở, đồ vật, thư tín của công dân

Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp tố tụng hình sự biện pháp tạm giam được quy định tại Chương 3 – Việc tạm giữ, tạm giam, tạm tha của Luật này Theo đó, Cơ quan tư pháp, Công an tỉnh hoặc thành phố trở lên hoặc Tòa án binh có thẩm quyền hỏi cung can phạm và xem xét để đưa ra một trong ba quyết định là tha hẳn, tạm tha hoặc tạm giam Trong trường hợp cần tạm giam đối với can phạm thì Lệnh tạm giam can phạm phải được cơ quan tư pháp từ cấp tỉnh hoặc thành phố trở lên hoặc toà án binh ký Khi xét thấy việc tạm giam không cần thiết cho cuộc điều tra nữa, hoặc việc tạm tha không gây nguy hiểm gì cho trật tự chung, thì cơ quan tư pháp ho ặc tòa án binh nào đã ra lệnh tạm giam có thể tự mình, hoặc căn cứ vào đơn xin của can phạm,

ra lệnh tạm tha Bên cạnh đó, chính sách nhân đạo của Nhà nước ta đối với phụ nữ có thai, người đang nuôi con nhỏ, người già yếu, người bị bệnh nặng phạm tội được thể hiện tại Điều 8 Luật này là: đối với những can phạm già yếu, có bệnh nặng, hoặc phụ

nữ có thai nghén, hoặc phụ nữ đang thời kỳ cho con bú, thì có thể cho tạm tha, và nếu cần sẽ giám thị tại chỗ ở Luật số 103-SL/L005 chưa quy định rõ chủ thể có thẩm quyền phê chuẩn lệnh tạm giam hoặc gia hạn tạm giam trong cơ quan tư pháp và tòa

án binh cũng như các thủ tục khi áp dụng biện pháp tạm giam Tiếp đến, để quyết các khó khăn này Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nghị định số 301-TTg ngày 10/7/1957 quy định chi tiết Luật số 103-SL/L005 ngày 20/5/1957 về bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở đồ vật, thư tín của nhân dân đã quy định

cụ thể hơn về việc thực hiện biện pháp này Lệnh tạm giam hoặc gia hạn tạm giam phải do một trong số cán bộ thuộc Tòa án nhân dân hoặc Tòa án binh ký tùy thuộc vào

vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nào Đồng thời, “Lệnh phải ghi rõ lý do

việc tạm giam, ngày hết hạn tạm giam hoặc hết thời hạn gia hạn tạm giam và phải giao một bản sao cho can phạm Ngoài ra, khi ra lệnh tạm giam, hoặc gia hạn tạm giam một người phạm pháp, cơ quan Tư pháp phải báo tin cho thân nhân người ấy biết lý do việc tạm giam và cơ quan đã ra lệnh tạm giam, trừ trường hợp việc báo tin

Trang 20

đó có thể làm trở ngại cho công tác điều tra trinh sát, hoặc trường hợp không có cách nào báo tin được”6

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1988

Trong giai đoạn này Quốc hội đã thông qua Luật tổ chức Tòa án nhân dân và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, sau đó trên cơ sở Hiến pháp năm 1980 Luật tổ chức Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 đã được ban hành

Hệ thống Tòa án nhân dân từ trung ương đến địa phương được quy định cụ thể và chặt chẽ, gồm có Tòa án nhân tối cao, Tòa án nhân dân địa phương và Tòa án quân sự Đối với Viện kiểm sát nhân dân bao gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân địa phương Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam, giữ và cải tạo Văn bản quy phạm pháp luật quy định biện pháp tạm giam đáng chú ý trong giai đoạn này là Sắc luật số 02-SL/76 ngày 15/3/1976 của Hội đồng Chánh phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam quy định việc bắt, giam, khám người, khám nhà ở, khám đồ vật

So với Luật số 103-SL/L005 thì Sắc luật số 02-SL/76 đã thu hẹp thẩm quyền phê chuẩn lệnh tạm giam Lệnh tạm giam bắt buộc phải có sự phê chuẩn của Viện

kiểm sát nếu không phải là lệnh viết của cơ quan này “Sau khi bắt hoặc nhận người bị

bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc trường hợp khẩn cấp, cơ quan an ninh hoặc Viện kiểm sát nhân dân phải xét hỏi ngay Trong hạn 3 ngày kể từ khi bắt hoặc nhận người bị bắt, các cơ quan này phải xét, quyết định trả lại tự do, tha hẳn, tạm tha

6

Điều 6 Nghị định 301-TTg ngày 10/ 7/1957 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật số L005 ngày 20/5/1957 bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tíncủa nhân dân

Trang 21

103/SL-hoặc giải người bị bắt lên cấp trên, nếu là vụ án thuộc thẩm quyền của cấp trên; Nếu xét cần phải tạm giam thì việc tạm giam phải có lệnh viết của Viện kiểm sát nhân dân

từ cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trở lên, hoặc lệnh viết của cơ quan an ninh cấp tương đương, đã được sự phê chuẩn trước của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, nếu là vụ án hình sự, hoặc của Ủy ban nhân dân cách mạng cùng cấp, nếu là trường hợp tập trung cải tạo”7 Việc quy định sự bắt buộc phải có phê chuẩn của Viện kiểm sát là một trong những điểm mới, tiến bộ về mặt kỹ thuật lập pháp tố tụng hình

sự của nước ta trong lĩnh vực bảo đảm quyền tự do thân thể của con người

Đồng thời, Sắc luật số 02-SL/76 vẫn giữ nguyên quy định về thời hạn tạm giam của Luật số 103-SL/L005 Cụ thể tại Điều 5 Sắc luật 02-Sl/76 quy định: “Thời gian tạm giam không được quá: 2 tháng đối với các vụ thường phạm mà pháp luật quy định hình phạt từ 5 năm tù trở xuống; 4 tháng đối với các vụ phạm đến an ninh chánh trị và các vụ thường phạm mà pháp luật quy định hình phạt trên 5 năm tù” Ngoài ra, trong trường hợp hết thời hạn tạm giam nhưng nếu xét thật cần thiết cho cuộc điều tra thì cơ quan ra lệnh tạm giam có thể gia hạn một hoặc hai lần nữa Đối với những vụ án phức tạp, cần phải điều tra lâu hơn, thì phải được sự chuẩn y của cơ quan Tư pháp Trung ương

Như vậy, giai đoạn từ năm 1960 đến trước khi Bộ luật tố tụng hình sự năm

1988 có hiệu lực thi hành là giai đoạn miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội và tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước Cùng với quá trình đó, mặc dù có nhiều khó khăn nhưng Nhà nước vẫn kịp thời ban hành các văn bản quy phạm pháp luật tố tụng hình sự nói chung

và biện pháp tạm giam nói riêng vẫn được phát triển theo hướng dân chủ và ngày càng hoàn thiện Biện pháp tạm giam được quy định cụ thể về thẩm quyền, thời hạn tạm giam, nhất là việc quy định bắt buộc có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát đã đ ảm bảo tính dân chủ trong pháp luật tố tụng hình sự nước ta Tuy nhiên, những quy định về biện pháp tạm giam trong giai đoạn này vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định Chẳng hạn, vẫn chưa có quy định cụ thể về đối tượng bị áp dụng, căn cứ để gia hạn tạm giam và thời gian tạm giam khi gia hạn,…

1.3.3 Giai đoạn năm từ năm 1988 đến năm 2003

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI của Đảng, Đất nước đã tiến hành cuộc đổi mới toàn diện, sâu sắc và triệt để, xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, từng bước hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,… Trước

7

Điều 5 Sắc luật số 02-SL/76 của Hội đồng Chánh phủ Cách mạng lâ m thời Cộng hòa miền Na m Việt Na m quy định việc bắt, giam, khám người, khám nhà ở, khám đồ vật

Trang 22

tình đó ngày 28/6/1988 tại kì họp thứ ba, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII đã thông qua Bộ luật tố tụng hình sự Ngày 01/01/1989 là thời điểm Bộ luật này có hiệu lực thi hành Đây là bước tiến lớn trong lịch sử tố tụng hình

sự Việt nam nói chung và biện pháp tạm giam nói riêng ở nước ta Từ đây, trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự được thống nhất trong một văn bản quy phạm pháp luật nhất định Từ khi có hiệu lực thi hành, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đã qua ba lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989, năm 1992 và năm

2000 Các lần sửa đổi bổ sung này nhằm làm cho Bộ luật tố tụng hình sự ngày càng hoàn thiện và phù hợp với tình kinh tế - xã hội của Đất nước Cụ thể Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 gồm 32 Chương và 286 Điều trong đó Biện pháp tạm giam được quy định tại Điều 70, 71, 72 và 73 của Chương 5 – Những biện pháp ngăn chặn Theo

đó, có nhiều điểm mới và tiến bộ được quy định được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 để khắc phục những hạn chế của văn bản quy phạm pháp luật tố tụng hình sự thời kỳ trước

Đầu tiên, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 quy định tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam chỉ có thể là bị can, bị cáo Những nguời không phải bị can, bị cáo thì không bị áp dụng biện pháp tạm giam Cụ thể Khoản 1 Điều 70 Bộ luật này quy định:

“Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng; Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội” Cũng theo quy định này thì bị can, bị cáo sẽ được chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nếu như

bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang thời kỳ nuôi con dưới mười hai tháng, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng, trừ trường hợp đặc biệt

Tiếp theo, khác với các quy định thời kỳ trước Bộ luật tố tụng hình sự năm

1988 quy định trước khi thi hành biện pháp tạm giam thì chủ thể có thẩm quyền ra lệnh phải gửi cho Viện kiểm sát phê chuẩn, tức là khi chủ thể có thẩm quyền muốn áp dụng biện pháp tạm giam thì phải thông qua sự chấp thuận của Viện kiểm sát Do đó hạn chế việc chủ thể có thẩm quyền đã áp dụng biện pháp tạm giam nhưng sau đó Viện kiểm sát lại không phê chuẩn

Cuối cùng, lần đầu pháp luật tố tụng hình sự quy định về chế độ tạm giữ, tạm

giam Theo đó, "chế độ tạm giữ, tạm giam khác với chế độ đối với người đang chấp

hành hình phạt tù; Nơi tạm giữ, tạm giam, chế độ sinh hoạt, nhận quà, liên hệ với gia

Trang 23

đình được thực hiện theo quy định của Chính phủ” 8

Sau đó, Quy chế về tạm giữ, tạm

giam được ban hành kèm theo Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 7-11-1998 Quy định trên cho thấy Nhà nước rất quan tâm, tôn trọng quyền lợi ích, hợp pháp của công dân bởi lẽ người bị tạm giam vẫn được coi là chưa có tội vì thế việc quản lý họ phải được thực hiện khác với người đang chấp hành hình phạt tù và phù hợp với Công ước

quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày 16-12-1996: “Mọi người đều có quyền

hưởng tự do và an ninh cá nhân Không ai bị bắt hoặc tạm giữ vô cớ Không một ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp có lý do và phải theo đúng những thủ tục mà luật pháp đã quy định”

1.3.4 Giai đoạn từ năm 2003 đến nay

Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 với ba lần sửa đổi, bổ sung đã là căn cứ pháp

lý quan trọng nhất quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự góp phần giúp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời moị hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội…Tuy nhiên, trong công cuộc đổi mới toàn diện của Đất nước trên tất cả mọi lĩnh vực trong đó có cải cách tư pháp, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đã không còn phù hợp và bộc lộ những hạn chế nhất định Để đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới cũng như phù hợp với pháp luật quốc tế ngày 26/11/2003, Quốc hội khóa XI tại kì họp thứ tư đã thông qua Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004 Bộ luật tố tụng hình sự năm

2003 có 8 phần 37 chương và 346 điều luật

Trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 của nước ta, tạm giam được quy định

cụ thể hơn so với quy định tương ứng trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1998 tại

Khoản 2 Điều 88 quy định: “Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi

con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú

rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ những trường hợp sau đây: Bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã; Bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử; Bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia” Điều này cho thấy rằng, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã

cụ thể hóa những trường hợp áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo là phụ

nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng Thông quá đó thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà

8

Điều 72 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988

Trang 24

nước ta đối với những đối trượng này Tuy nhiên, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 vẫn chưa chính thức ghi nhận về mặ pháp lý khái niệm tạm giam, khái niệm người già yếu, người bị bệnh nặng Bên cạnh đó, Bộ luật này cũng đã giới hạn thời gian để Viện kiểm sát trả lời đề nghị xét phê chuẩn lệnh tạm giam của Thủ trưởng, phó thủ trưởng

cơ quan điều tra là 3 ngày kể từ khi nhận được lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn

Tóm lại, thông qua việc nghiên cứu về khái niêm, mục đích, ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp tạm giam và lược sử hình thành và phát triển của quy định tạm giam cho thấy rằng: biện pháp tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Đối tượng bị tạm giam sẽ bị cách lý khỏi gia đình,

xã hội và sẽ bị hạn chế quyền tự do đi lại, tự do thân thể, các quyền khác Tuy nhiên, tạm giam không phải là hình phạt bởi lẽ biện pháp tạm giam chỉ nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm, không cho người phạm tội có điều kiện tiếp tục phạm tội hoặc có hành

vi gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng Bên cạnh đó, việc áp dụng biện pháp tạm giam giúp cho quá trình điều tra, giải quyết vụ án nhanh chóng và đạt hiệu quả cao Hơn thế nũa, việc cách ly các đối tượng có hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội

ra khỏi cộng đồng còn góp phần bảo vệ quyền lợi ích của Nhà nước nói chung và công dân nói riêng Vì vậy, Biện pháp này đã được quy định từ rất sớm, ngay từ khi nước ta giành thắng lợi từ tay thực dân Pháp thì biện pháp tạm giam đã được quy định

Trang 25

CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

HIỆN HÀNH VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠM GIAM

2.1 Đối tượng và căn cứ áp dụng biện pháp t ạm giam

2.1.1 Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam

Việc áp dụng biện pháp tạm giam luôn ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của công dân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ chính vì lẽ đó chỉ những đối tượng được pháp luật tố tụng hình sự quy định mới có thể bị áp dụng biện pháp này Các đối tượng này bao gồm: bị can, bị cáo Ngoài ra, trong một số trường hợp thì biện pháp tạm giam cũng được áp dụng đối với người bị kết án

Theo quy định khoản 1 Điều 88 Bộ luật hình sự năm 2003 thì đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam có thể là bị can, bị cáo Bị can là người đã bị khởi tố về hình

sự9

còn bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử10 Như vậy, nếu một người chưa bị khởi tố về hình sự với tư cách bị can hoặc một người chưa bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử với tư cách bị cáo thì không thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn này

Bên cạnh bị can, bị cáo thì người bị kết án cũng là đối tượng có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam Người bị kết án có thể bị tạm giam trong một số trường hợp sau:

Một là, trong giai đoạn thi hành án nếu như người bị kết án bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy mà cơ quan đã ra quyết định truy nã không thể đến nhận ngay người bị bắt thì cơ quan này phải ra ngay lệnh tạm giam và gửi lệnh tạm giam kèm theo quyết định truy nã cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn

Hai là, Điều 57 Luật thi hành án hình sự năm 2010 có quy định: “Chế độ quản

lý giam giữ, ăn, ở, mặc, sinh hoạt, gửi và nhận thư, nhận đồ vật, tiền mặt, gặp thân nhân, chăm sóc y tế đối với người bị kết án tử hình trong thời gian chờ thi hành án thực hiện theo quy định của pháp luật về tạm giam”11 Qua đó cho thấy, để đảm bảo

sự có mặt của người bị kết án khi thi hành hình phạt tử hình thì trong thời gian chờ thi hành hình phạt người bị kết án tử hình sẽ bị tạm giam tại trại tạm giam giam Điển hình như trong vụ án “xác không đầu” thì Nguyễn Đức Nghĩa đã bị Hội đồng xét xử Tòa án phúc thẩm Hà Nội tuyên y án tử hình Chỉ 4 ngày sau phán quyết của tòa phúc thẩm, Nghĩa làm đơn ân xá gửi lên Chủ tịch nước Tuy nhiên, với những tội lỗi gây ra,

Trang 26

Chủ tịch nước ký văn bản bác đơn xin ân xá của tử tù Nguyễn Đức Nghĩa Do chưa có thuốc độc để thi hành án tử hình nên trong thời gian này tử tù Nguyễn Đức Nghĩa đã được tạm giam tại trại tạm giam số 1 Đến ngày 22/7/2014, tại trại tạm giam số 1 (Công an Hà Nội), Hội đồng thi hành án đã thi hành án tử hình với tử tù Nguyễn Đức Nghĩa bằng hình thức tiêm thuốc độc12 Việc cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam đối với đối tượng Nguyễn Đức Nghĩa là việc làm cần thiết bởi vì quá trình thi hành án là giai đoạn quan trọng của tố tụng hình sự nhằm thực hiện các bản

án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Thi hành các bản án hoặc quyết định của Tòa

án có liên quan trực tiếp đến người bị kết án Sự có mặt của người bị kết án k hi bản án được thi hành là rất cần thiết đặc biệt là đối với người bị tòa án quyết định áp dụng hình phạt tử hình Nếu người bị kết án trốn tránh và có hành vi gây khó khăn thì việc thi hành án sẽ không đạt kết quả Như vậy, việc tạm giam trong giai đoạn này đối với người bị kết án tử hình hành nhằm đảm bảo sự có mặt của người bị kết án từ đó tạo điều kện cho việc thi hành án được thuận lợi và đạt hiệu quả cao

2.1.2 Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam

Để hạn chế việc Cơ quan tố tụng lạm dụng biện pháp tạm giam cũng như bảo

vệ quyền và lợi ích của công dân Vì vậy, không thể có sự tùy tiện khi quyết định áp dụng biện pháp tạm giam, muốn áp dụng biện pháp này phải dựa vào pháp luật, tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định chỉ có thể tạm giam đối với bị can, bị cáo, người bị kết án khi có các căn cứ như sau:

Căn cứ thứ nhất, bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất

nghiêm trọng

Khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định: “Tội rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; còn tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chỉ quy định bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì có thể bị tạm giam mà không quy định thêm các căn cứ khác Điều này cho thấy rằng biện pháp này có thể được áp dụng trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà không cần chứng minh khả

12

Báo Vne xpress, Thi hành án tử hình với Nguyễn Đức Nghĩa, Việt Dũng, luat/thi-hanh-an-tu-hinh-voi-nguyen-duc-nghia-3021275.html [Truy cập ngày 01-10-2014]

Trang 27

http://vnexpress.net/tin-tuc/phap-năng trốn tránh, gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án cũng như khả năng tiếp tục phạm tội của họ Chẳng hạn như trường hợp tạm giam đối với Ông Đỗ Tất Ngọc, nguyên Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) như sau: Cơ quan điều tra đã khởi tố, bắt tạm giam đối với ông Phạm Ngọc Ngoạn (58 tuổi, trú tại phố Hàng Bài, Hà Nội), nguyên thành viên Hội đồng thành viên Agribank; nguyên Giám đốc, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty In – Thương mại và Dịch vụ Agribank (nay là công ty TNHH một thành viên dịch vụ Agribank, về hành vi trên Sai phạm của ông Ngoạn được xác định đã gây thiệt hại cho Nhà nước hơn 90 tỉ đồng thông qua việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại Khu công nghiệp Quang Minh, huyện Mê Linh, Hà Nội, để xây dựng nhà máy in ngân hàng vi phạm Luật Đất đai năm 200313 Qua tình huống trên cho thấy rằng Cơ quan điều tra chỉ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp tạm giam dựa trên tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà ông Phạm Ngọc Ngoạn đã gây ra mà không cần xác định khả năng trốn tránh hoặc có hành vi gây khó khăn cho quá trình điều tra, giải quyết vụ án của bị can này

Như vậy, việc quyết định tạm giam bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng trong thực tiễn sẽ do cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền tuỳ nghi áp dụng vì ngoài căn cứ loại tội phạm thì luật không quy định thêm căn cứ khác

Căn cứ thứ hai, bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng

mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó

có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội

Tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng được quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 Cụ thể theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật này thì: tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù Như vậy đối với bị can, bị cáo phạm tội gây nguy hại không lớn hoặc lớn cho xã hội, mà Bộ luật hình sự hiện hành quy định hình phạt tù trên hai năm, thì mới là điều kiện cần để xem xét quyết định áp dụng tạm giam, còn những truờng hợp bị can, bị cáo phạm tội mà Bộ luật hình

sự hiện hành quy định hình phạt tù đến hai năm, thì không thể bị áp dụng biện pháp này

13

Báo Tuổi trẻ, Bắt tạm giam nguyên Chủ tịch HĐQT Agribank , Minh Quang,

http://tuoitre.vn/tin/phap-luat/20140920/bat-ta m-gia m-nguyen-chu-tich-hdqt-agribank/648373.ht ml [Truy cập ngày 20-9-2014]

Trang 28

Đồng thời, để có thể xem xét quyết định áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm mà Bộ luật hình sự hiện hành quy định mức hình phạt tù trên hai năm theo đúng quy định pháp luật thì cần đáp ứng điều kiện đủ đó là có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội Tuy nhiên, căn cứ cho rằng bị can, bị cáo

có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội lại không được quy định cụ thể trong luật Do đó, để có cơ sở nhận định bị can, bị cáo sẽ trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội, phải nghiên cứu một cách toàn diện những vấn đề có liên quan đến nhân thân bị can, bị cáo, thái độ của họ sau khi thực hiện tội phạm hoặc những vi phạm nghĩa vụ của bị can, bị cáo khi được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khắc hơn Qua thực tiện đấu tranh phòng chống tội phạm đã đúc kết được những căn cứ chủ yếu cần phải dựa vào

đó để xem xét như sau:

* Căn cứ cho rằng bị can, bị cáo có thể trốn

Căn cứ cho rằng bị can, bị cáo có thể trốn không được quy định trong luật Tuy vậy, thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử đã rút ra những dấu hiệu sau: bị can, bị cáo đang tìm cách bán nhà hoặc tài sản có giá trị; bị can, bị cáo không có nơi cư trú rõ ràng; bị can, bị cáo không có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng mà không

có lý do chính đáng; bị can, bị cáo đã bỏ việc làm, v.v14 Khi vận dụng các căn cứ để xét bị can, bị cáo có thể trốn cần lưu ý là không phải khi nào cũng có thể làm rõ được tất cả các nội dung trên mà tùy thuộc vào từng trường hợp cụ t hể và phải biết căn cứ vào nội dung nào là chủ yếu Chẳng hạn như ngày 5-8, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Phù Mỹ (Bình Định) cho biết đã bắt tạm giam các đối tượng Phan Việt Trương (SN 1993, trú thôn An Bão, xã Mỹ Lộc), Lương Bá Cuộc (SN 1993, tr ú thôn Tân Lộc, xã Mỹ Lộc), Nguyễn Thành Thuận, trú thôn Vạn Phú, xã Mỹ Lộc) và Lê Mã Lương (SN 1994, trú thôn 4, xã Mỹ Thắng) về tội cố ý gây thương tích và cố ý làm hư hỏng tài sản15 Trong trường hợp này việc tạm giam đối với các đối tượng trên là phù hợp với quy định của pháp luật bỡi lẽ trong quá trình điều tra, các đối tượng cố tình trốn tránh không chấp hành giấy triệu tập của Công an huyện gây khó khăn cho công tác điều tra Như vậy, để xem xét, quyết định áp dụng biện pháp tạm giam trong trường hợp này không nhất thiết phải làm rõ tất cả các nội dung trên, có thể chỉ một nội dung cũng đã đủ để nhận định là đối tượng sẽ trốn

Gia La i Online, Bình Định: Bắt tạm giam nhóm đối tượng cố ý gây thương tích và gây thiệt hại về tài sản , Văn

Tố, http://baogialai.co m.vn/channel/1602/201408/binh-dinh-bat-tam-gia tich-va-gay-thiet-hai-ve-tai-san-2330163/ [Truy cập ngày 22-9-2014]

Trang 29

m-nhom-doi-tuong-co-y-gay-thuong-* Căn cứ cho rằng bị can, bị cáo cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử

Để quá trình giải quyết vụ án hình sự được nhanh chóng, thuận lợi thì rất cần sự hợp tác của bị can, bị cáo Nếu như bị can, bị cáo có hành vi gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thì việc tìm ra sự thật của vụ án sẽ gặp nhiều khó khăn Trái lại, nếu như quản lý giám sát được bị can, bị cáo cũng như đảm bảo sự có mặt của

bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử Vì thế căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử được quy định là một trong những căn cứ để

áp dụng biện pháp tạm giam

Cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử có thể được hiểu là trường hợp “gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử” nhưng ở mức độ cao hơn mang tính đối phó lại việc tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử Cản trở việc điều tra, truy tố, xét

xử được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như bị can, bị cáo chuẩn bị tiêu hủy vật chứng, che giấu, xóa các dấu vết của tội phạm; bị can bị cáo mua chuộc, đe dọa người làm chứng để họ khai báo sai sự thật; bị can, bị cáo mua chộc người giám định

để họ ra kết luận giám định gian dối; bị can, bị cáo đe dọa người bị hại để họ không dám cung cấp tài liệu cho cơ quan tiến hành tố tụng; bị can, bị cáo bàn bạc, thông đồng với các bị can, bị cáo khác trong vụ án khai gian dối, đánh lừa cơ quan tiến hành tố tụng v.v.16 Như vậy việc xác định bị can, bị cáo cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử phải dựa trên những căn cứ khách quan và phải xuất phát từ yêu cầu của việc điều tra, truy tố, xét xử chứ không phải sự suy đoán chủ quan tùy tiện

* Căn cứ cho rằng bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội

Đối với bị can, bị cáo có biểu hiện tiếp tục phạm tội thì việc áp dụng biện pháp tạm giam để cách ly họ với xã hội hoặc hạn chế các điều kiện để họ không thể tiếp tục phạm tội là rất cần thiết Vì vậy, Bộ luật tố tụng hình sự quy định khi có căn cứ chứng

tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội là căn cứ để áp dụng biện pháp tạm giam Việc nhận định bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội phải dựa vào nhiều tình tiết và xem xét đánh giá một cách tổng hợp Những tình tiết đó thường là: bị can, bị cáo phạm tội chuyên nghiệp, có tổ chức, là phần tử lưu manh, côn đồ, có nhiều tiền án, tiền sự, phạm tội nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy hiểm; bị can, bị cáo đã có những hành vi x ảo quyệt, hung hãn như đe dọa người tố cáo, đe dọa trả thù người bị hại, và có thể thực hiện đe dọa đó; bị can, bị cáo đã thực hiện hành vi tiềm kiếm, sửa soạn công cụ phương tiện

16

Trần Quang Tiệp, Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự , Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2011, tr.132

Trang 30

hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm; bị can, bị cáo đã có hành vi kích động, xúi giục người khác phạm tội v.v.17

Căn cứ thứ ba, người bị bắt theo quyết định truy nã

Đối tượng đang bị truy nã có thể đã bị khởi tố về hình sự, đã có tư cách tố tụng

là bị can, bị cáo hay người bị kết án về hình sự chưa thi hành hoặc đang thi hành án mà

bỏ trốn, cụ thể như sau: “Bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu; Người bị

kết án trục xuất, người chấp hành án phạt trục xuất bỏ trốn; Người bị kết án phạt tù

bỏ trốn; Người bị kết án tử hình bỏ trốn; Người đang chấp hành án phạt tù, người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được hoãn chấp hành án bỏ trốn ” 18

Theo quy định tại Điều 83 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì sau khi nhận được thông báo kèm theo danh bản, chỉ bản, ảnh người bị bắt từ Cơ quan điề u tra đã bắt hoặc tiếp nhận người bị truy nã, nếu cơ quan đã ra quyết định truy nã xác định đúng là người đang bị truy nã thì phải đến nhận ngay người bị bắt Tuy nhiên, trường hợp không thể đến nhận ngay người bị bắt thì cơ quan đã ra quyết định truy nã có thẩm quyền bắt để tạm giam phải ra ngay lệnh tạm giam và gửi lệnh tạm giam kèm theo quyết định truy nã cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn Điều này cho thấy rằng, pháp luật tố tụng hình sự chỉ quy định có thể tạm giam đối tượng bị truy nã trong khi chờ cơ quan đã ra lệnh truy nã tiếp nhận người bị bắt mà không quy định gì thêm cho nên có thể hiểu việc tạm giam đối với người bị truy nã không phụ thuộc vào loại tội phạm mà họ đã thực hiện tức là có thể tạm giam tạm giam người bị truy nã cho dù

họ phạm bất cứ loại tội gì kể cả trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình

sự quy định hình phạt tù dưới hai năm

 Các trường hợp không bị áp dụng biện pháp tạm giam

Thông thường, bị can, bị cáo khi có đầy đủ các căn cứ tạm giam thì họ sẽ bị áp dụng biện pháp tạm giam Tuy nhiên, với tinh nhân đạo sâu sắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa nói chung và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng thì Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định một số đối tượng trên thực tế có đầy đủ các căn cứ để tạm giam nhưng họ không bị áp dụng biện pháp tạm giam Đó là những đối tượng: phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng

Việc không áp dụng biện pháp tạm giam đối với phụ nữ có thai trước hết và cơ bản là vì đứa trẻ Đối với phụ nữ có thai, một chủ thể đang được hình thành và sẽ trở

Trang 31

thành công dân trong tương lai Dù người mẹ có phạm tội nghiêm trọng đến đâu thì công dân tương lai đang nằm trong bụng mẹ kia cũng không hề hay biết Khi mang thai, nhu cầu dinh dưỡng cần tăng cường nhiều hơn so với lúc bình thường nhằm đảm bảo các dưỡng chất quan trọng cho cả mẹ và em bé phát triển tốt Nếu như tạm giam đối với phụ nữ đang mang thai thì người mẹ không được ăn đủ chất sẽ ảnh hưởng đến

sự phát triển của bào thai, trẻ sinh ra sẽ nhẹ cân, thường hay ốm đau do sức đề kháng yếu Trong trường hợp người phụ nữ đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, nếu tạm giam họ thì sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến đứa trẻ Bởi vì khi còn nhỏ, đứa trẻ có xu hướng cần sự chăm sóc về dinh dưỡng và mọi mặt của đời sống từ người mẹ Từ những lý lẽ trên, pháp luật tố tụng hình sự đã loại trừ khă năng áp dụng biện pháp tạm giam đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi Tuy

nhiên, pháp luật tố tụng hình sự hiện tại chưa có một văn bản nào hướng dẫn “con” ở

đây là con đẻ hay con nuôi Vì vậy, trong trường hợp này có thể tham khảo quy định tại điểm b tiểu mục 7.1 Mục 7 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của

Bộ luật hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt (sửa đổi, bổ sung năm 2010) thì “con” trong trường hợp này được hiểu bao gồm con đẻ và con nuôi

Theo quy định Luật người cao tuổi năm 2009 không sử dụng thuật ngữ người già yếu thay vào đó thuật ngữ người cao tuổi đã được sử dụng và khái niệm người cao

tuổi được quy định như sau:“Người cao tuổi được quy định trong Luật này là công

dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên”19 Như vậy, có thể hiểu người già yếu là người từ

60 tuổi trở lên mà thường xuyên ốm đau Do sự lão hóa của các cơ quan trong cơ thể

và khả năng miễn dịch của cơ thể bị suy giảm, người cao tuổi thường rất dễ mắc các bệnh như cảm cúm, viêm phổi,… Người cao tuổi do có sự thay đổi đáng kể về mặt sinh lý nên khi mắc bệnh sự đáp ứng của cơ thể không còn mạnh mẽ nên những biểu hiện của bệnh thường không rõ ràng nên dễ đưa đến bệnh nặng hơn người trẻ Vì vậy, cần quan tâm, chăm sóc và quan sát kỹ để sớm phát hiện ra những thay đổi ở các cụ nhằm kịp thời săn sóc và chữa trị Xuất phát từ những nguyên nhân đó, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định không tạm giam đối với người già yếu

Khái niệm người bị bệnh nặng có thể hiểu theo tinh thần điểm a tiểu mục 7.1 Mục 7 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt (sửa đổi, bổ sung năm 2010) và Mục 2 Thông tư liên tịch số 02/2006/TTLT-

19

Điều 2 Luật người cao tuổi nă m 2009

Trang 32

BCA-BQP-BYT-TANDTC-VKSNDTC ngày 18/5/2006 hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người đang

chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng như sau: “người bị bệnh nặng là người có kết

luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên và nếu tiếp tục tạm giam họ sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ” Điển hình như: ung thư giai đoạn cuối, xơ gan cổ chướng, lao nặng độ

4 kháng thuốc, bại liệt, suy tim độ 3 trở lên, suy thận độ 4 trở lên, HIV chuyển giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội và có tiên lượng xấu

Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang thời kì nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng để có thể được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác (bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú và đặt tiền hoặc tài sản có giá trị

để bảo bảm) thay thế cho biện pháp tạm giam thì phải có thêm một điều kiện khác đó

là có nơi cư trú rõ ràng Trong trường hợp không có nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú, có nhiều nơi cư trú, nơi cư trú quá xa nơi tiến hành điều tra hoặc trong trường hợp đặc biệt thì vẫn phải áp dụng biện pháp tạm giam Theo Luật cư trú năm

2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2013), “cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm

thuộc xã, phường, thị trấn dưới hình hình thường trú hoặc tạm trú Còn nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú”20 Việc quy các đối tượng trên phải có nơi cư trú rõ ràng bởi vì khi áp dụng biện pháp ngăn chặn khác như: bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi

cư trú, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm thì họ không bị cách ly khỏi cộng đồng mà vẫn được tại ngoại, sinh hoạt cùng với gia đình và xã hội Do đó, quy định bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang thời kì nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi,

là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng là cần thiết nhằm đảm bảo cho việc quản lý các đối tượng này được thuận lợi

Ngược lại, nếu như bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang thời kì nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng thuộc các trường hợp theo quy định của pháp luật thì vẫn có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam, cụ thể:

Một là, bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã Để đảm bảo cho quá

trình giải quyết vụ án được chính xác, xử lý nghiêm minh, nhanh chóng và có hiệu quả thì không chỉ cần có sự nổ lực làm việc của Cơ quan tiến hành tố tụng mà cần phải có thêm sự hợp tác của người thực hiện tội phạm Chính vì lẽ đó, mặc dù pháp luật tố tụng hình sự đã có chính sách nhân đạo đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng,

20

Điều 12 Luật cư trú 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2013)

Trang 33

nhưng nếu họ có hành vi trốn tránh pháp luật thì họ vẫn bị áp dụn g biện pháp tạm giam như là việc tất yếu, sự lựa chọn bắt buộc

Hai là, bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục

phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử Tương

tự như hành vi bỏ trốn thì hành vi cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét

xử cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình xác minh sự thật vụ án Bên cạnh đó, trong thời gian được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khắc hơn biện pháp tạm giam mà bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng có hành vi gây nguy hại cho lợi ích của cộng đồng, xã hội thì cần thiết phải cách ly họ với xã hội để họ không có điều kiện tiếp tục phạm tội

Ba là, bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho

rằng nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia Việc giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xâm phạm an ninh quốc gia là những hoạt động gây nguy hại đến sự ổn định, vững mạnh về chính trị, kinh tế, xã hội và chủ quyền của quốc gia Vì vậy, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

đã quy định tất cả các bị can, bị c áo (kể cả phụ nữ có thai hoặc đang thời kì nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng) sẽ bị áp dụng biện pháp tạm giam nếu họ phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia

Như vậy, quy định này đã tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị an, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 cũng có quy định đối với những trường hợp được hưởng chính sách nhân đạo nhưng chưa rõ ràng và cụ thể Theo đó, đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang thời kỳ nuôi con dưới mười hai tháng, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng, trừ trường hợp đặc biệt thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác Tuy nhiên, pháp luật tố tụng hình sự trong thời kỳ đó lại chưa có văn bản hướng dẫn thế nào là trường hợp “đặc biệt” So với Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã cụ thể hóa những trường hợp

áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư tr ú

rõ ràng

Trang 34

 Căn cứ tạm giam đối với người chưa thành niên phạm tội

Theo quy định tại điều 68 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), người chưa thành niên là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi Ở độ tuổi này, người chưa thành niên chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng như về tâm sinh lý, hạn chế về trình độ nhận thức cũng như kinh nghiệm sống, dễ bị kích động, lôi kéo vào những hành động vi phạm pháp luật Chính vì vậy, pháp luật tố tụng hình sự đã thể hiện sự quan tâm đúng mức của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đối với nhóm đối tượng này thông qua việc quy định căn cứ tạm giam đối với người chưa thành niên bao giờ cũng yêu cầu cao hơn người thành niên, cụ thể người chưa thành niên chỉ có thể bị

áp dụng biện pháp tạm giam trong những trường hợp sau:

Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi Theo quy định của Bộ luật hình

sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi được xem là năng lực trách nhiệm hình sự còn hạn chế và chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự trong những trường hợp nhất định (tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng)21 Vì vậy, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chỉ đặt ra khả năng

áp dụng biện pháp tạm giam đối người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự tức là khi họ phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Điều này đồng nghĩa với việc, không thể tạm giam người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nếu như họ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự Như vậy, để quyết định áp dụng biện pháp tạm giam đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không chỉ xem xét các căn cứ được quy định tại Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và loại tội phạm mà họ đã thực hiện mà còn phải xem xét điều kiện về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của họ

Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi Người từ đủ 16 tuổi trở lên được xem là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ và phải chịu trách nhiệm hình sự

về mọi tội phạm22

Tuy nhiên, do chính sách nhân đạo trong pháp luật tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên đòi hỏi Cơ quan tiến hành tố tụng phải hạn chế thấp nhất việc áp dụng biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự nói chung và biện pháp ngăn chặn tạm giam nói riêng Cho nên chỉ có thể tạm giam người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu như họ phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và xét thấy việc để họ tại ngoại sẽ ảnh hưởng xấu đến việc giải quyết vụ án sau này

Ngày đăng: 03/10/2015, 15:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w