1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

chống khủng bố theo pháp luật quốc tế và việt nam

67 510 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 1 Luật Chống khủng bố của Thổ Nhĩ Kỳ năm 2010 quy định: “Khủng bố là bất cứ hành vi tội phạm nào được thực hiện bởi một hoặc nhiều người thuộc một tổ chức với mục đích: làm thay đổi

Trang 1

KHOA LUẬT - -

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

KHÓA 2011 - 2015

ĐỀ TÀI:

CHỐNG KHỦNG BỐ THEO PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện:

Thạch Kim Long

MSSV: 5115992 Lớp Luật Tư pháp 2 – K37

Giáo viên hướng dẫn:

ThS Nguyễn Tống Ngọc Như

Bộ môn Luật Thương Mại

Cần Thơ, 12/2014

Trang 2

- -

Để hoàn thành Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật này Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý Thầy, Cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện ở Khoa Luật trường Đại học Cần Thơ Đặc biệt,

em xin chân thành cảm ơn Cô Nguyễn Tống Ngọc Như đã tạo điều kiện và tận tình, chu đáo hướng dẫn em hoàn thành luận văn này

Mặc dù đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của Cô Nguyễn Tống Ngọc Như và

sự cố gắng của bản thân để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, nhưng do thời gian nghiên cứu có hạn và có phần hạn chế về kiến thức chuyên môn, nên trong trong quá trình nghiên cứu đề tài sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót nhất định Vì vậy, rất mong nhận được ý kiến nhận xét, đóng góp tận tình của Quý Thầy, Cô và các bạn để người viết cũng cố, bổ sung thêm kiến thức và điều chỉnh đề tài nghiên cứu được hoàn chỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

- -

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2014

Trang 4

- -

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2014

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu .1

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu luận văn 2

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỦNG BỐ VÀ CHỐNG KHỦNG BỐ 3

1.1 Khái niệm khủng bố 3

1.1.1 Quan điểm của các nhà nghiên cứu 3

1.1.2 Định nghĩa khủng bố theo pháp luật một số quốc gia 4

1.1.2.1 Khái niệm khủng bố 4

1.1.2.2 Khái niệm phần tử khủng bố, tổ chức khủng bố và tài trợ khủng bố 5

1.1.3 Định nghĩa khủng bố theo một số công ước quốc tế về chống khủng bố 8 1.2 Lịch sử phát triển và nguyên nhân dẫn đến khủng bố 10

1.2.1 Lịch sử phát triển của chủ nghĩa khủng bố 10

1.2.2 Nguyên nhân dẫn đến chủ nghĩa khủng bố 12

1.3 Một số đăc điểm của khủng bố 14

1.4 Sự phát triển của pháp luật quốc tế về đấu tranh chống khủng bố 18

1.4.1 Khái niệm pháp luật quốc tế về đấu tranh chống khủng bố 18

1.4.2 Nguồn của pháp luật quốc tế về chống khủng bố 19

1.4.3 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật quốc tế về đấu tranh chống khủng bố 21

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHỐNG KHỦNG BỐ 24

2.1 Các nguyên tắc cơ bản 24

2.1.1 Các nguyên tắc chung 24

2.1.1.1 Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia 24

2.1.1.2 Nguyên tắc cấm đe dọa dùng vũ lực hay dùng vũ lực 25

2.1.1.3 Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế 26

2.1.1.4 Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau 26

2.1.1.5 Nguyên tắc tận tâm thực hiện nghĩa vụ theo luật quốc tế 27

2.1.1.6 Nguyên tắc dân tộc tự quyết 28

2.1.1.7 Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác 29

Trang 6

2.1.2 Các nguyên tắc đặc thù 30

2.1.2.1 Pháp luật chông khủng bố và các biện pháp chống khủng bố không được phép xâm phạm hay hạn chế quyền con người cơ bản 30

2.1.2.2 Mọi hành vi khủng bố quốc tế cần phải được ngăn chặn và trừng trị không được viện dẫn lý do chính trị để từ chối hợp tác chống khủng bố 31

2.2 Phạm vi áp dụng của các công ước 32

2.3 Xác định quyền tái phán quốc gia theo quy định tại các công ước 39

2.4 Nghĩa vụ của các quốc gia trong đấu tranh phòng, chống tội khủng bố theo quy định tại các điều ước 43

2.4.1 Nghĩa vụ lập pháp 43

2.4.2 Nghĩa vụ hợp tác giữa các quốc gia 44

2.4.2.1 Hợp tác ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm 44

2.4.2.2 Tương trợ tư pháp hình sự 45

2.5 Những hạn và hoàn thiện pháp luật quốc tế về chống khủng bố 48

2.6 Việt Nam thực thi pháp luật quốc tế về chống khủng bố 50

2.6.1 Thực hiện pháp luật quốc tế về chống khủng bố tại Việt Nam 50

2.6.1.1 Các điều ước quốc tế trong khuôn khổ Liên hiệp quốc mà Việt Nam đã tham gia 50

2.6.1.2 Nội luật hóa các điều ước quốc tế về phòng, chống khủng bố 51

2.6.2 Thực trạng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật phòng, chống khủng ở Việt Nam hiện nay 54

2.6.2.1 Tăng cường ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế về phòng chống khủng bố 54

2.6.2.2 Sửa đổi, bổ sung, khắc phục những bất cập, bất hợp lý trong Bộ luật hình sự hiện hành về tội khủng bố và các tội liên quan 54

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm qua, đặc biệt là sau vụ khủng bố 11/9/2001 tại Mỹ, tình hình khủng bố quốc tế và khu vực diễn biến rất phức tạp, lan rộng ra khắp các châu lục, đe dọa nghiêm trọng hòa bình, ổn định và gây hậu quả nặng nề cho nhiều quốc gia trên thế giới Theo thống kê chưa đầy đủ, chỉ tính từ năm 2001 đến tháng 9/2012, trên thế giới đã xảy ra 5.774 vụ khủng bố, làm 48.173 người thiệt mạng, 86.045 người bị thương và gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng khác1

Đứng trước thách thức của hoạt động khủng bố, Liên hợp quốc đã có những nỗ lực quan trọng trong việc xây dựng khung pháp lý quốc tế về chống khủng bố để thu hút và tăng cường sự hợp tác giữa các quốc gia trong khuôn khổ đa phương cùng đấu tranh ngăn chặn các hoạt động này

Mặc dù đến nay, cộng đồng quốc tế đã xây dựng được 14 Công ước và Nghị định thư quốc tế cũng như nhiều Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc liên quan đến chống khủng bố quốc tế Tuy nhiên, khái niệm khủng bố, hợp tác chống khủng bố; phạm vi hợp tác chống khủng bố; các nguyên tắc hợp tác chống khủng bố; nghĩa vụ của các chủ thể luật quốc tế trong hợp tác chống khủng bố hiện nay chưa được quy định đầy đủ và có hệ thống trong luật quốc tế Việc pháp luật quốc tế chưa quy định rõ ràng các vấn đề pháp lý trên đã và đang ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả hợp tác đấu tranh chống khủng bố của các chủ thể luật quốc tế

Xuất phát từ những lý do trên, người viết đã chọn đề tài “Chống khủng bố theo

pháp luật quốc tế và Việt Nam”, để nghiên cứu làm rõ các quy định quốc tế về hợp

tác chống khủng bố có ý nghĩa lý và thực tiễn góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác thực thi pháp luật quốc tế về chống khủng bố; góp phần thúc đẩy chính sách pháp luật

về chống khủng bố và hợp tác chống khủng bố ở Việt Nam

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài “Chống khủng bố theo pháp luật quốc tế và Việt Nam”;

người viết mong muốn tìm hiểu quan điểm của một số nhà nghiên cứu, các nước trên thế giới và định nghĩa khủng bố theo một số công ước quốc tế về chống khủng bố qua

đó cho thấy sự thiếu thống nhất của cộng đồng quốc tế trong việc đưa ra một định nghĩa chung về khủng bố Trước tiên, người viết tìm hiểu nguyên nhân, đặc điểm, lịch

sử phát triển của khủng bố và pháp luật quốc tế về chống khủng bố để làm rõ nguyên

1

Chính phủ, Tờ trình về Dự án Luật Phòng, chống khủng bố, Hà Nội, 4/9/2012

Trang 8

nhân dẫn đến việc cộng đồng quốc tế chưa đưa ra được định nghĩa chung thống nhất

về khủng bố

Sau đó, người viết sẽ đi vào phân tích các Công ước quốc tế về chống khủng bố

để tìm ra những điểm bất cập và nêu ra định hướng để hoàn thiện Thông qua việc nghiên cứu pháp luật quốc tế, người viết sẽ liên hệ với thực tiễn pháp luật Việt Nam qua đó đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn pháp luật Việt Nam

3 Phạm vi nghiên cứu

Theo giới hạn của đề tài “Chống khủng bố theo pháp luật quốc tế và Việt

Nam”, người viết sẽ tập trung nghiên cứu về chống khủng bố quốc tế với nguồn chủ

yếu là điều ước quốc tế trong khuôn khổ Liên hiệp quốc về chống khủng bố, pháp luật hình sự Việt Nam về chống khủng bố

Nhằm làm rõ vấn đề mà mình đang nghiên cứu, người viết cũng nghiên cứu người viết các nguyên nhân làm phát sinh khủng bố cũng như các vấn đề chính trị - xã hội nhưng không đi vào nghiên cứu sâu

4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành tốt việc nghiên cứu đề tài, người viết sử dụng một số phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích luật viết, phương pháp liệt kê, phương pháp so sánh, đối chiếu, kết hợp lý luận với thực tiễn để góp phần làm rõ đề tài

5 Kết cấu luận văn

Luận văn gồm 3 phần: Lời mở đầu, phần nội dung và phần kết luận

Phần nội dung gồm có 2 chương:

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỦNG BỐ VÀ CHỐNG KHỦNG BỐ Chương 2: PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHỐNG KHỦNG BỐ

Trang 9

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỦNG BỐ VÀ CHỐNG KHỦNG BỐ 1.1 Khái niệm khủng bố

1.1.1 Quan điểm của các nhà nghiên cứu

Từ trước đến nay, người ta thường nói nhiều đến từ “khủng bố” nhưng chưa có

một định nghĩa nào được chấp nhận rộng rãi Theo Viện Từ điển học và Bách khoa thư

Việt Nam khủng bố được định nghĩa như sau: “hành động hung bạo lực của cá nhân,

tổ chức, nhà nước hoặc liên minh nhà nước để đe dọa, cưỡng bức đối phương khiến họ

vì khiếp sợ mà phải chịu khuất phục” Từ điển Tiếng Việt định nghĩa khủng bố là:

“Dùng các biện pháp tàn bạo làm cho khiếp sợ để hòng khuất phục” Từ điển

Wedste’s Collegiate Dictionary cũng có định nghĩa tương tự như Từ điển Tiếng Việt,

đó là: “Việc sử dụng các biện pháp gây khiếp đảm để cai trị hoặc chống lại cai trị”

Các định nghĩa về khủng bố này thường rất đơn giản, thông dụng, tuy nhiên phạm vi những hành vi bị coi là khủng bố quá rộng, bao gồm các hành vi xâm lược, diệt chủng, tội ác chiến tranh, các hành vi bạo lực nói chung2

Định nghĩa khủng bố được các nhà nghiên cứu luật học đưa ra có phần cụ thể

hơn khi đặc nó dưới dạng một loại tội phạm nguy hiểm Trong cuốn sách “Inside terrorism”, Bruce Hoffman cho rằng: “Khủng bố về cơ bản là hành động có chủ ý, chuẩn bị sử dụng hoặc sử dụng bạo lực để đạt được mục đích của mình Ông đã dựa vào các tiêu chí sau để phân biệt khủng bố với các tội phạm khác: Bạo lực hoặc đe dọa sử dụng bạo lực; Mục tiêu và động cơ chính trị; Được dàn dựng để đạt được những tác động tâm lý sâu rộng không chỉ đối với các nạn nhân trực tiếp của các vụ tấn công” Cùng chung quan điểm với Hoffman, tác giả Trần Quang Tiệp cho rằng:

“Khủng bố là hành vi có sử dụng hoặc đe dọa sử dụng bạo lực, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người dân nhằm nhầm mục đích gây hoảng loạn trong cộng đồng dân cư, do cá nhân hoặc tổ chức thực hiện, trái với pháp luật quốc tế và pháp luật hình sự của các nước trên thế giới”3

Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khủng bố được các nhà nghiên cứu đưa ra, trong đó có những định nghĩa trái ngược nhau và chưa có định nghĩa nào hoàn toàn được chấp nhận Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng có sự thống nhất ở một số nội

dung Thứ nhất, đều định nghĩa khủng bố là nguy cơ đe dọa hòa bình và an ninh toàn

cầu, dù nguyên nhân của hiện tượng này là gì đi chăng nữa cũng không thể biện minh;

Trang 10

Thứ hai, đấu tranh chống khủng bố bằng pháp luật, bằng cảnh sát chứ không phải

chiến tranh

Người viết đồng tình với tác giả - T.S Trần Quang Tiệp, khi cho rằng “khủng bố

là hành vi phạm tội trái với pháp luật quốc tế và pháp luật hình sự các nước trên thế giới”, người viết không đồng tình với tác giả ở điểm, khi tác giả cho rằng “khủng bố là hành vi sử dụng bạo lực hoặc đe dọa sử dụng bạo lực” vì hiện nay hành vi khủng bố

có thể là “phi bạo lực” (khủng bố mạng), đối tượng mà hành vi khủng bố tác động đến theo tác giả chỉ là “người dân” trong khi đó đối tượng của hành vi khủng bố không chỉ

là “người dân” mà là “cá nhân, tập thể, cơ quan”

1.1.2 Định nghĩa khủng bố theo pháp luật một số quốc gia

1.1.2.1 Khái niệm khủng bố

Hiện nay, khái niệm khủng bố là vấn đề gây tranh cãi giữa các quốc gia trên thế giới Có thể nói sự không thống nhất giữa các quốc gia về khái niệm khủng bố là nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại của cộng đồng quốc tế trong việc xây dựng một Công ước chung về chống khủng bố Tuy vậy, Luật Phòng, chống khủng bố của hầu hết các nước đã ghi nhận khái niệm khủng bố với biểu hiện khách quan về mặt hành vi tương đối giống nhau

Luật Chống khủng bố của hầu hết các nước điều quy định theo hướng liệt kê hành vi, đây cũng là điều dễ hiểu khi mà cộng động quốc tế chưa đưa ra được định nghĩa chung về vấn đề này Luật Chống khủng bố của một số quốc gia đưa ra được khái niệm chung về khủng bố như Nga, Hồng Kông ( Trung quốc),…

Luật Phòng, chống khủng bố của Liên bang Nga năm 2006 quy định: “Khủng bố

là việc cưỡng bức tư tưởng và hoạt động liên quan đến việc dân chúng hoảng loạn và những hình thức bạo lực vi phạm pháp luật khác tác động đến việc đưa ra những quyết định của cơ quan chính quyền nhà nước, cơ quan tự quản địa phương hay tổ chức quốc tế”4 Điều 202 Bộ luật Hình sự của Liên bang Nga quy định: “Khủng bố tức

là thực hiện việc phá hoại, tiêu hủy, bắn bằng vũ khí nóng hoặc các hành vi khác gây nguy hiểm cho tính mạng con người, gây thiệt hại đáng kể về tài sản hoặc gây những hậu quả khác nguy hiểm cho xã hội nếu những hành động đó được thực hiện nhằm mục đích vi phạm an toàn công cộng, làm cho nhân dân hoảng sợ hoặc gây ảnh hưởng đối với cơ quan chính quyền để các cơ quan đó đưa ra những quyết định cũng như đe dọa thực hiện các hành động nói trên nhằm những mục đích này”5

Trang 11

Điều 1 Luật Chống khủng bố của Thổ Nhĩ Kỳ năm 2010 quy định: “Khủng bố là bất cứ hành vi tội phạm nào được thực hiện bởi một hoặc nhiều người thuộc một tổ chức với mục đích: làm thay đổi hệ thống pháp luật, chính trị của quốc gia được ghi nhận trong Hiến pháp; tác động lên xã hội, truyền thống văn hóa, hệ thống kinh tế làm ảnh hưởng đến sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia, an toàn công cộng hoặc sức khỏe con người”6

Tại Hoa Kỳ, Đạo luật Patriot năm 2001 đã dẫn chiếu (có sửa đổi) khái niệm khủng bố quy định tại Bộ luật Liên bang Cụ thể Đạo luật Patriot đưa ra hai 2 khái

niệm là “khủng bố nội địa” (“Definition of domestic terrorism”- Điều 802) và “khủng

bố Liên bang” (“Definition of federal crime of terrorism” – Điều 808) Trong đó, khái

niệm khủng bố nội địa được dẫn chiếu từ Điều 2331 Mục 18 Bộ Luật Liên bang, cụ

thể: “khủng bố nội địa là các hành vi xảy ra trên lãnh thổ và thuộc thẩm quyền tài phán của Hoa Kỳ vi phạm pháp luật hình sự liên bang hoặc bất kì bang nào khác nhằm: (i) Hăm dọa hoặc ép buộc (Coerce) dân thường; (ii) Làm ảnh đến chính sách của Chính phủ bằng cách đe dọa hoặc cưỡng ép; (iii) Thông qua việc hủy diệt hàng loạt, ám sát, bắt cóc làm ảnh hưởng đến quyết dịnh của Chính phủ”7

1.1.2.2 Khái niệm phần tử khủng bố, tổ chức khủng bố và tài trợ khủng bố

Đây là những khái niệm mà không phải trong Luật Phòng, chống khủng bố của quốc gia nào cũng ghi nhận Những khái niệm này được phái sinh từ chính khái niệm khủng bố

Phần tử khủng bố: Pháp lệnh về các biện pháp chống khủng bố của Hồng Kông

(Trung Quốc) (còn gọi là Chương 575) là sự tiếp tục thực hiện một bước Nghị quyết

1373 ngày 28 tháng 9 năm 2001 của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc về quyết định các biện pháp ngăn chặn khủng bố đưa ra quy định chung về phần tử khủng bố như

sau: “Phần tử khủng bố là những người đưa ra hoặc có ý định đưa ra các hành vi khủng bố, tham gia hoặc hỗ trợ gây ra hành vi khủng bố”, còn chỉ rõ phần tử khủng

bố đó là: “Người mà Liên hiệp quốc chỉ định có liên quan đến phần tử khủng bố thì quan chức hành chính có thể chỉ đích danh họ tên hoặc tên người này trong thông báo được niêm yết công bố; quan chức hành chính có thể đề nghị lên tóa án, yêu cầu được

ra mệnh lệnh chỉ rõ trong giấy đề nghị này là phần tử khủng bố hoặc người liên quan đến phần tử khủng bố”8

Trang 12

Luật ngăn chặn tài trợ cho hoạt động khủng bố năm 2002 của Singapore gồm 7 chương, 39 điều được có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29/1/2003 quy định tương tự

như Hồng Kông (Trung Quốc) khi cho rằng: “Phần tử khủng bố là bất kì cá nhân nào tiến hành, hoặc cố gắng tiến hành bất cứ hành động nào; hoặc tham gia vào hoặc hỗ trợ cho bất kì hành động khủng bố nào và bao gồm bất kì cá nhân nào được định nghĩa là phần tử khủng bố theo Đạo luật Liên hiệp quốc 2001 (Đạo luật 44 năm 2001)”9 Với định nghĩa này thì những người thực hiện hành vi hỗ trợ khủng bố bị coi

là phần tử khủng bố

Tổ chức khủng bố: Theo Luật Chống khủng bố của Ấn Độ ban hành năm 2002

nhằm nhằm ngăn chặn và đối phó với các hoạt động khủng bố, các vấn đề liên quan đến khủng bố gồm 7 chương 64 điều Tổ chức khủng bố được quy định tại chương III

như sau: “Tổ chức khủng bố là tổ chức có liên quan hoặc tham gia vào hoạt động khủng bố”10

Luật ngăn chặn tài trợ cho hoạt động khủng bố Singapore quy định: “Tổ chức khủng bố là bất kì thể nhân nào do bất kì phần tử hoặc nhóm khủng bố nào kiểm soát

và bao gồm một tập hợp những thể nhân đó”11

Như vậy, trong khi định nghĩa của Ấn Độ được xây dựng trên sự tham gia hay liên quan đến hoạt động của một tổ chức khủng bố thì định nghĩa của Singapore lại xuất phát từ từ chính con người kiểm soát tổ chức Hiện nay, phần lớn các quốc gia định nghĩa khủng bố theo hướng xem xét đến hoạt động khủng bố của tổ chức đó chứ không phải con người kiểm soát tổ chức đó

Ở Liên bang Nga, danh sách các tổ chức khủng bố được lập định kì một cách thống nhất toàn Liên bang và tổ chức quốc tế bị Tòa án Liên bang Nga coi là tổ chức khủng bố để thuận tiện cho việc đấu tránh phòng ngừa

Ở Hoa Kỳ- một trong những quốc gia chịu thiệt hại nặng nề nhất của hành vi khủng bố cũng đưa ra bản danh sách dài các tổ chức bị coi là tổ chức khủng bố, trong

đó có những tổ chức khết tiếng như Abu Sayyaf, Al-Qaida, Real IRA…

Việc các tổ chức bị coi là tổ chức khủng bố ở quốc gia này lại không được coi là

tổ chức khủng bố ở quốc gia khác cũng không có gì là khó hiểu, khi mà định nghĩa tổ chức khủng bố là phái sinh từ định nghĩa khủng bố Vì vậy, chỉ khi nào cộng đồng

Trang 13

quốc tế xây dựng được định nghĩa chung về khủng bố thì các định nghĩa phái sinh như

tổ chức khủng bố mới có sự thống nhất

Tài trợ khủng bố: Đây là khái niệm phổ biến trong Luật Phòng, chống khủng bố

của các quốc gia trên thế giới Điều này xuất phát từ sự liên hệ mật thiết hoạt động hỗ trợ khủng bố và hành động khủng bố Nếu không có nguồn tài chính thì các hoạt động khủng bố không thể diễn ra, vì vậy việc kiểm soát, ngăn chặn tài trợ khủng bố là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để phòng, chống khủng bố

Đối với hoạt động tài trợ khủng bố, Luật Phòng,chống khủng bố các quốc gia

quy định theo 2 hướng Hướng thứ nhất, quy định tài trợ khủng bố là một trong những hành vi khủng bố Điển hình cho hướng này có Liên bang Nga, quy định: “Hành vi khủng bố là hoạt động bao gồm: Tổ chức, lập kế hoạc, huấn luyện, tài trợ và thực hiện hành vi khủng bố;…”12 Hướng thứ hai, quy định tách riêng để phân biệt tài trợ

khủng bố và khủng bố Đi theo hướng này có rất nhiều quốc gia, ví dụ như Luật ngặn

chặn tài trợ cho hoạt động khủng bố Singapore quy định: “Phạm tội tài trợ cho khủng

bố là việc cung cấp hoặc quyên góp cho hoạt động khủng bố; cung cấp tài sản hoặc dịch vụ cho các mục đích khủng bố; sử dụng hoặc tàn trữ tài sản cho các mục đích khủng bố; giao dịch các tài sản liên quan đến khủng bố”13

Hiện nay, hầu hết các quốc gia đều ghi nhận tội khủng bố trong pháp luật hình

sự Một số quốc gia thậm chí còn có đạo luật riêng nhưng quan điểm của các quốc gia

về vấn đề này cũng không thống nhất Tuy vậy, qua nghiên cứu pháp luật của các

quốc gia cho thấy cũng có một số điểm chung như sau: Thứ nhất, đều định nghĩa

khủng bố từ dấu hiệu hành vi bên cạnh các dấu hiệu khác có liên quan Đây là điều dễ hiểu xuất phát từ quan điểm chung coi khủng bố là một tội phạm nguy hiểm cần được loại bỏ khỏi cuộc sống xã hội- mà việc định nghĩa một tội phạm bao giờ cũng phải lấy dấu hiệu hành vi làm trung tâm Hành vi của khủng bố theo quy định của pháp luật

hầu hết các nước trên thế giới là hành vi bạo lực, đe dọa sử dụng bạo lực Thứ hai, về đối tượng tác động của loại hành vi này là con người hoặc tài sản Thứ ba, các hành vi

khủng bố bao giờ cũng gắn liền với mục đích chính trị, tôn giáo, đươc thực hiện ép buộc Chính phủ hoặc bộ phận dân chúng phải hành động hoặc không hành động theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi đó

Trang 14

1.1.3 Định nghĩa khủng bố theo một số công ước quốc tế về chống khủng bố Hiện nay, trong khuôn khổ Liên hợp quốc và các tổ chức thành viên có 14 điều ước đa phương (công ước, nghị định thư) về chống khủng bố được thông qua Công ước chung về chống khủng bố quốc tế mặc dù được xây dựng từ năm 1996 đến nay vẫn còn nằm dưới dạng dự thảo vì nhiều ý kiến bất đồng xung quanh vấn đề định nghĩa khủng bố

Ở cấp độ khu vực cũng đã có 9 điều ước được ký kết Ngoài ra còn có nhiều hiệp định quốc tế song phương và các nghị quyết của Đại hội đồng, Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc về các biện pháp đấu tranh chống khủng bố Mặc dù, hệ thống văn bản vi phạm pháp luật quốc tế về chống khủng bố tương đối lớn, tuy nhiên chưa có văn bản nào định nghĩa rõ ràng, toàn diện về khủng bố Trong bối cảnh quốc tế hiện nay thì việc đưa ra định nghĩa chung về khủng bố là cấp thiết có như vậy mới nâng cao được hiệu quả hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm này

Có thể nói, định nghĩa khủng bố đầu tiên xuất hiện tại một điều ước quốc tế đa phương là định nghĩa được nêu trong Công ước về ngăn chặn và chừng trị khủng bố năm 1937 (còn gọi là Công ước Giơnevơ 1937) Theo Công ước Giơnevơ 1937:

“Khủng bố là việc thực hiện các hành vi phá hoại, hành vi gây nguy hiểm cho nhiều người, việc vận chuyển, chuyển giao, cố ý sử dụng các giấy tờ, tài liệu giả mạo, các hành vi ám sát nguyên thủ quốc gia và các lãnh đạo của quốc gia khác…”14 Tuy nhiên, do không đủ số lượng thư phê chuẩn nên Công ước đã không phát sinh hiệu lực

Trong các công ước quốc tế đa phương trong khuôn khổ Liên hiệp quốc hiện nay chỉ có Công ước năm 1999 về trừng trị việc tài trợ khủng bố là đưa ra định nghĩa chung về khủng bố, các công ước còn lại chỉ đưa ra định nghĩa các tội phạm cụ thể thuộc phạm vi điều chỉnh của công ước

Theo Công ước này thì khủng bố là bất kỳ hành vi cấu thành tội phạm được quy

định tại các công ước về chống khủng bố quy định tại Phụ lục hoặc “Bất kỳ hành vi nào khác với ý định giết hại hoặc làm tổn thương nghiêm trọng đến thân thể thường dân, hoặc bất kỳ người nào khác không tham gia vào chiến sự trong bối cảnh xung đột vũ trang, nếu mục đích của hành vi này về bản chất hoặc bối cảnh xảy ra là nhằm hâm dọa dân chúng hay ép buộc một chính phủ hoặc một tổ chức quốc tế phải thực hiện hoặc không thực hiện bất kỳ hành vi nào” ( Điều 2)

13 công ước về chống khủng bố còn lại chỉ đưa ra định nghĩa về từng hành vi phạm tội cụ thể thuộc phạm vi điều chỉnh của công ước Điều 2 Công uớc năm 1997

14

Nguyễn Thị Thuận, Luật hình sự quốc tế, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, tr, 70

Trang 15

về trừng trị việc khủng bố bằng bom, quy định khủng bố bằng bom là việc: “Ném, đặt làm nổ hoặc kích nổ một các bất hợp pháp và cố ý một thiết bị gây nổ hoặc gây chết người khác tai, vào, hoặc chống lại một địa điểm công cộng, một trang thiết bị của Nhà nước hoặc chính phủ, một hệ thống giao thông công cộng hoặc cơ sở hạ tầng”

Theo Công ước về ngăn chặn các hành vi khủng bố hạt nhân năm 2005 quy định:

“Một người bị coi là phạm tội khủng bố hạt nhân nếu người đó, một cách có chủ định

và bằng con đường bất hợp pháp sở hữu nguyên liệu phóng xạ, chế tạo hay sở hữu thiết bị hạt nhân với mục đích gây thương vong lớn hay nhầm phá hoại cơ sở hạ tầng hay môi trường để ép buộc thể nhân hay pháp nhân, tổ chức quốc gia hay quốc gia phải thực hiện hay không thực hiện hành động nào đó”(Điều 2 công ước) Các hành vi

này bị ngăn chặn và trừng trị không cần kèm theo mục đích gì là dấu hiệu định tội, tuy nhiên có một số công ước quy định tính mục đích là một trong những tình tiết làm tăng thêm tính chất nghiêm trọng của hành vi, Điều 5 Công ước trừng trị việc khủng

bố bằng bom năm 1997 nhấn mạnh việc ngăn chặn “các hành vi phạm tội có ý đồ hoặc tính toán nhằm gây ra hoảng loạn trong công chúng nói chung, hoặc trong một nhóm người cụ thể, dù trong hoàn cảnh nào đều không thể biện minh bằng suy xét có tính chất chính trị, triết học, tư tưởng, chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo hoặc tính chất tương tự nào khác và sẽ bị trừng trị bằng các hình phạt phù hợp với tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội đó”

Các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc về các biện pháp phòng chống khủng bố cũng không đưa ra định nghĩa nào về vấn đề này Đặc biệt, Nghị quyết số 1373 ngày 28/9/2001 làm cơ sở cho sự ra đời Ủy ban chống khủng bố thuộc

Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc mặc dù kêu gọi “các quốc gia hợp tác khẩn thiết nhằm phòng và trấn áp các hành động khủng bố, thông qua sự tăng cường hợp tác và thực hiện đầy đủ các công ước quốc tế liên quan đến chủ nghĩa khủng bố”15

Các điều ước quốc tế khu vực hầu hết cũng không đưa ra được định nghĩa khủng

bố Các điều ước này trong phạm vi hợp tác đấu tranh chống khủng bố điều dẫn ra những hành vi được quy định tại 13 công ước quốc tế đa phương Công ước chung

ASEAN về chống khủng bố, quy định tại Điều 2: “Trong Công ước này, “tội phạm”

là bất kỳ hành vi phạm tội nào thuộc phạm vi điều chỉnh và được định nghĩa trong bất

kỳ điều ước nào được liệt kê dưới đây:

1 Công ước về các tội phạm và một số hành vi khác thực hiện trên tàu bay, 1963;

2 Công ước về trừng trị việc chiếm giữ bất hợp pháp tàu bay, 1970;

15 Lời kêu gọi của Hội đồng bảo an, Nghị quyết số 1373 ngày 28/9/2001

Trang 16

3 Công ước về trừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng không dân dụng, 1971;

4 Công ước về ngăn ngừa và trừng trị các tội phạm chống lại những người được bảo hộ quốc tế, bao gồm viên chức ngoại giao, 1973;

5 Công ước về chống bắt cóc con tin, 1979;

6 Công ước về bảo vệ an toàn vật liệu hạt nhân, 1979;

7 Nghị định thư về trừng trị các hành vi bạo lực bất hợp pháp tại các cảng hàng không phục vụ hàng không dân dụng quốc tế, 1988;

8 Công ước về trừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng hải, 1988;

9 Nghị dịnh thư về trừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn của các công trình cố định trên thềm lục địa, 1988;

10 Công ước về đánh dấu vật liệu nổ dẻo để nhận biết, 1991;

11 Công ước về trừng trị khủng bố bằng bom 1997;

12 Công ước quốc tế về trừng trị việc tài trợ khủng bố, 1999;

13 Công ước chống khủng bố hạt nhân, 2005”

Như vậy, cũng giống như các nhà nghiên cứu, pháp luật của các quốc gia cũng

có những khác biệt nhất định khi định nghĩa về khủng bố trong khi cộng đồng quốc tế chưa xây dựng được một định nghĩa chung về tội phạm này Các công ước quốc tế hiện nay chỉ đưa ra định nghĩa về một số hành vi mà việc thực hiện các hành vi đó được xem là biểu hiện của khủng bố quốc tế Việc xây dựng Công ước quốc tế chung

về khủng bố trong đó có đưa ra định nghĩa toàn diện về vấn đề này đang được tiến hành, tuy nhiên gặp rất nhiều khó khăn vì bất đồng ý kiến giữa các bên Qua việc nghiên cứu các quan điểm hiện nay trên thế giới về khủng bố, người viết cho rằng cần thống nhất nhìn nhận khủng bố như một tội phạm với các đặc điểm sau: (1) Là hành vi bạo lực hoặc phi bạo lực (2) Chủ thể là tổ chức hoặc cá nhân (3) Khách thể là các mục tiêu dân sự; (4) Mục đích của hành vi là mục đích chính trị

1.2 Lịch sử phát triển và nguyên nhân dẫn đến khủng bố

1.2.1 Lịch sử phát triển của chủ nghĩa khủng bố

Chủ nghĩa khủng bố là tên gọi chung của những hành vi nhằm đạt được những mục đích nhất định, như dùng các thủ đoạn cực đoan, ám sát, bắt cóc, cướp máy bay, gây nổ, và tiến hành phá hoại, báo thù, lừa bịp, tống tiền,…

Chủ nghĩa khủng bố đã xuất hiện từ khá sớm, gắn liền với quá trình phát triển của lịch sử chính trị, xã hội loài người Các nhà nghiên cứu trên thế giới cho rằng

thuật ngữ này được biết đến từ thế kỉ đầu sau Công nguyên “khi giáo phái Do Thái

Trang 17

Zealots-Sicarri tiến hành các hoạt động ám sát, bắt cóc, đầu độc quy mô lớn để gây lo

sợ trong dân chúng nhằm kích động quần chúng nổi dậy lật đổ ách thống trị của Người La Mã”16, “Trung Quốc cổ đại có Kinh Kha mưu sát vua Tần”17

Thời kỳ đại cách mạng Pháp cuối thế kỉ XVIII, “giai cấp bị áp bức chịu sự bóc lột lâu dài, sống dưới đáy xã hội đã áp dụng hành động cực đoan để lật đổ giai cấp thống trị, từ đó dẫn đến một vòng tuần hoàn ác tính, máu trả máu, lấy khủng bố để trả thù khủng bố, khiến cho xã hội rơi vào thời kỳ sợ hãi không dám lên tiếng”18 trong bối cảnh

đó, “khủng bố có nghĩa là một công cụ cầm quyền, được nhà nước cách mạng tiến bộ sử dụng và mang hàm ý tích cực”19

Cuối thế kỉ XIX, các nước tư bản chủ yếu trên thế giới thực hiện chính sách thực dân trên toàn cầu, đã gieo mầm cho hạt giống hận thù dân tộc và đối kháng ở khu vực là nguyên nhân dẫn đến khủng bố ngày càng phát triển mạnh

Thập kỉ 60 của thế kỉ XX, phong trào giải phóng dân tộc nổi lên mạnh mẽ, nhiều nước thuộc địa thông qua đấu tranh vũ trang đã giành được độc lập Trong quá trình đó,

một số tổ chức và phần tử vũ trang “đã đi vào con đường chủ nghĩa khủng bố”20, nhằm dùng thủ đoạn vũ trang để giành lợi ích cho tập đoàn nhỏ và theo đuổi mục đích cá nhân Tại một số quốc gia và khu vực có nhiều mâu thuẫn rất phức tạp đang xen, tổ chức vũ trang mang tính chất khủng bố nảy sinh từ đó Những tổ chức vũ trang đó thường tập kích quan chức và dân thường, nhằm lấy đó đạt được mục tiêu của dân tộc Các tổ chức vũ trang của quân Cộng hòa Bắc Ailen từng tiến hành hoạt động khủng bố gần 30 năm nhằm tách Bắc Ailen khỏi nước Anh, hậu quả là làm gần 3000 người chết và 30000 người bị thương hay Tổ chức những con

hổ giải phóng Tamin, trong 15 năm đánh nhau với quân Chính phủ, họ luôn triển khai hoạt động khủng bố đã làm cho hơn 50000 người chết với mục đích xây dựng quốc gia Tamin21

Sự phát triển của chủ nghĩa khủng bố sau chiến tranh lạnh ngày càng mạnh mẽ đã cất lên hồi chuông cảnh báo cho cộng đồng quốc tế Những vụ khủng bố gây hậu quả nghiêm trọng và

có ảnh hưởng lớn có thể liệt kê như: ngày 21/5/1991, Thủ tướng Ấn Độ, Rajiv Gandhi chết sau

vụ áp sát bằng bom khi diễn thuyết tranh cử tại bang Tamin Ngày 20/3/1995, giáo phái Aum Shinrikyo đã khủng bố bằng khí độc sarin vào hệ thống tàu điện ngầm ở Tokyo làm cho 16 người chết và hơn 6.300 người bị ảnh hưởng22

Vương Dật Châu, An ninh quốc tế trong thời đại toàn cầu, Nxb Chính trị quốc gia năm 2004, tr 459

19 Hoàng Xuân Hải, Vài nét về chủ nghĩa khủng bố ở Đông Nam Á, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế số 9-2007, tr 72

Thanh niên online, Nỗi ám ảnh mang tên AUM Shinrykio, Văn Khoa,

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120103/noi-am-anh-mang-ten-aum-shinrikyo.aspx , [ Truy cập ngày 15/9/2014]

Trang 18

Ngày 19/4/1995, Văn phòng Cục điều tra Liên bang Mỹ ở bang Oklahoma bị đánh bom làm 169 người chết và hơn 675 người bị thương,…

Bước sang thế kỉ XXI, chủ nghĩa khủng bố phát rất nhanh, mạnh mẽ Các vụ khủng bố gây rúng động thế giới có thể kể đến như: vụ khủng bố ngày 11/9/2011 được coi là vụ khủng bố đẫm máu nhất lịch sử thế giới, 19 tên khủng bố đã cướp thành công

4 máy bay, lần lượt tấn công vào Tòa trung tâm Thương Mại thế giới (New York), Lầu Năm Góc (Washington D.C) khiến khoảng 3000 đến từ hơn 90 quốc gia khác nhau thiệt mạng23 Ngày 12/10/2002, tổ chức khủng bố Jemaah Islamiya có liên hệ mật thiết với tổ chức khủng bố Al-Quada đã thực hiện vụ đánh bom khủng bố làm 202 người chết Ngày 19/4/2013, xảy ra vụ đánh bom khủng bố tại cuộc đua Marathon Boston 2013 làm chết 3 người và 282 người bị thương Ngày 28/10/ 2013, xảy ra vụ khủng bố ở quảng trường Thiên An Môn (Trung Quốc) làm 5 người chết và bị thương

40 người24 hay gần đây nhất có vụ khủng bố bằng mã tấu tại nhà Côn Minh, tỉnh Vân Nam, tây Trung Quốc làm chết 29 người và 130 người bị thương

Như vậy, từ một tội phạm quốc gia, khủng bố hiện nay là tội pháp có tính quốc tế- nguy cơ đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế

1.2.2 Nguyên nhân dẫn đến chủ nghĩa khủng bố

Khi bàn đến nguyên nhân dẫn đến chủ nghĩa khủng bố phát triển có nhiều ý kiến không thống nhất Tuy nhiên qua sự hình thành và phát triển của khủng bố, có thể nêu một số nguyên nhân cơ bản sau đây:

Nguyên nhân kinh tế-xã hội: Nghèo đói, bất bình đẳng, phân biệt đối xử và bị gạt

ra ngoài lề của quá trình phát triển kinh tế, xã hội là nguyên nhân gốc rễ sâu xa làm cho khủng bố phát sinh và có điều kiện phát triển Tất cả những khu vực có nhóm khủng bố và hoạt động khủng bố điều có đặc điểm chung là cơ sở hạ tầng thấp kém, tình trạng đói nghèo, thất nghiệp tràn lan, trình độ phát triển trên lệch so với các vùng miền khác trên cả nước kiến người dân bất bình, chán nản, thất vọng, cảm thấy mình

bị phân biệt đối xử, bỏ rơi, gạt ra ngoài rìa của quá trình phát triển chung Khi sự bất công đó kéo dài không được giải quyết tất yếu dẫn đến những hình thức phản kháng bằng bạo lực, nhất là khi bị các phần tử cực đoan lợi dụng kích động và lôi kéo

Nguyên nhân do mâu thuẫn dân tộc: Mâu thuẫn dân tộc trong thời kì chiến tranh

lạnh bị áp chế và ngăn chặn, Cùng với sự kết thúc của chiến tranh lạnh, mâu thuẫn dân tộc ngày càng bị đẩy lên cao và trở thành chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, lấy lợi ích dân tộc

Trang 19

http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/ba-làm mục tiêu cao nhất http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/ba-làm cho xã hội bị phân hóa một cách sâu sắc hơn Nó không chỉ

có ảnh hưởng sâu sắc đến kinh tế, chính trị của thế giới, mà còn là mối đe dọa đến ổn định của an ninh thế giới Các vụ xung đột dân tộc có thể kể ra như: xung đột Ả rập- Israel ở Trung Đông, vấn đề dân tộc Kurd ở vùng Vịnh, xung đột vũ trang ở Balkan,

vũ trang chống chính quyền Tamin ở Sri Lanca đều là vấn đề lịch sử để lại, do trong thời gian dài không được giải quyết, hậu quả dẫn đến mâu thuẫn dân tộc ngày càng trở nên sâu sắc và và trở thành nguyên nhân châm ngòi cho sự bùng nổ của đa số các sự kiện khủng bố25

Nguyên nhân tôn giáo: Khi nói về tôn giáo C Mác đã từng nói: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là linh thần của những điều kiện xã hội không có tinh thần, Tôn giáo là phuốc phiện của nhân dân”26 Điều đó cho thấy sức mạnh của tôn giáo và trong những điều kiện nhất định, tôn giáo có thể trở thành nguyên nhân hàng đầu dẫn đến khủng

bố Sự khác nhau của các tôn giáo lớn phổ biến trên thế giới đã nới rộng sự khác biệt bối cảnh văn hóa ở các khu vực khác nhau trên thế giới Sau chiến tranh lạnh, một số thế lực tôn giáo do chia rẽ phe phái, không chỉ đẩy mâu thuẫn văn hóa và ý thức hệ của nội bộ giáo phái của họ đến cực đoan mà còn là mầm móng sinh ra khủng bố, đe dọa đến cục diện an ninh thế giới Chủ nghĩa Hồi giáo chính thống có nguồn gốc từ Ai cập là một thế lực tôn giáo nỗi bật sau chiến tranh lạnh Tôn chỉ của nó là việc bảo vệ tính thuần khiết của chủ nghĩa Hồi giáo

Sự phát triển của các giáo phái kiểu mới cũng là nguyên nhân dẫn đến sự phát triễn của khủng bố: Môi trường và trạng thái tâm lý hòa bình không chỉ khiến cho các

tôn giáo truyền thống trên thế giới nhanh chóng tăng lên về số lượng tín đồ mà còn

mở rộng khu vực ảnh hưởng, mà còn tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo trước kia

bị đè nén có cơ hội khôi phục và phát triển, trong đó có không ít các tổ chức tôn giáo mang tính cực đoan Theo thống kê, thế giới có khoảng 26 tổ chức tôn giáo mang tính cực đoan27

Nguyên nhân do việc tranh giành ảnh hưởng của các nước lớn và chính sách cường quyền của các nước phương Tây: Thời kì chiến tranh lạnh, các nước phương

Tây như Mỹ, vì để tranh giành lợi ích ở các nước đang phát triển châu Á, châu Phi, họ

đã bồi dưỡng các nước chống lại Liên Xô, ra sức ủng hộ cho các tổ chức chống chính phủ, tạo điều kiện cho khủng bố phát triển

Trang 20

Từ cuối thập kỉ 30 thế kỉ XX tới nay, một số lãnh đạo của chủ nghĩa Islam chính thống lợi dụng các nước phương Tây làm lá chắn và ra sức thu gom vốn và thông tin tình báo một cách tiện lợi Thập kỉ 70 của thế kỉ XX, sau khi Liên Xô đưa quân vào Afghanistan, để ngăn chặn và tấn công Liên Xô, Mỹ đã chiêu mộ hơn 300 tên phần tử

cực đoan theo chủ nghỉa Islam chính thống thuộc tổ chức “Hiến thân vì Thánh chiến”

từ các nơi trên thế giới để Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) huấn luyện kỹ thuật chống Liên Xô cho bọn chúng

Những phần tử cực đoan này, sau khi trở về đã ra sức truyền bá các tư tưởng Hồi giáo cực đoan, đặc biệt là tư tưởng chống Mỹ, chống phương Tây28 Sau chiến tranh lạnh kết thúc, Mỹ trở thành siêu cường số 1 thế giới Chính sách cường quyền, ngạo mạn, nước lớn của Mỹ, sự thiên vị của Mỹ đối với Israel trong vấn đề Trung Đông, việc duy trì quân Mỹ ở một số nước Hồi giáo thân Mỹ sau chiến tranh vùng Vịnh 1991…đã dẫn đến sự đối đầu giữa Mỹ và thế giới Hồi giáo, đặc biệt là Hồi giáo cực đoan phát triển mạnh Các nghị quyết của Liên hiệp quốc điều cho rằng Israel xâm chiếm bờ Tây sông Giooc-đan, dãy Gaza và miền Đông Jerusalem là bất hợp pháp và yêu cầu Israel rút quân khỏi vùng này, nhưng luôn bị Mỹ đứng về phía Israel để phủ quyết Đồng thời Mỹ còn tăng cường viện trợ cho nước này29

Việc những người Hồi giáo Palestine bị mất đất, bị quân Israel chiếm đóng tàn sát hằng ngày được đưa lên các phương tiện thông tin tin đại chúng làm cho người Hồi giáo trên thế giới hết sức bất bình Các phần tử Hồi giáo cực đoan lợi dụng thái độ này nhằm để tiến hành và kích động các hoạt động bạo lực, khủng bố nhằm vào người Mỹ

và các lợi ích của Mỹ và phương Tây Mukhlas, một thủ lĩnh quân sự cấp cao của nhóm Jemaah Islamiyah, kẻ bị buộc tội đánh bom khủng bố ở Bali tháng 12/2002, khi

lý giải động cơ hành động của mình trước tòa đã nói là: “để chống lại sự giã mang của quân đội Mỹ và đồng minh…để trả thù cho sự đau khổ của những người đàn ông, đàn

bà và trẻ em yếu đuối, vô tội bị giết bởi hàng ngàn tấn bom ném xuống Afghanistan trong tháng nhịn ăn Ramaddan… để thực hiện nghĩa vụ cuộc thánh chiến toàn cầu chống lại người Do thái và người Thiên chúa giáo trên thế giới…vì tình đoàn kết giữa những người Hồi giáo không giới hạn về biên giới địa lý…”30

1.3 Một số đăc điểm của khủng bố

Do cộng đồng quốc tế chưa đưa ra được định nghĩa chung về khủng bố nên việc đưa ra các đặc điểm đặc trưng của khủng bố cũng có sự khác nhau Các nhà nghiên cứu trên thế giới trên thế giới về vấn đề khủng bố có được tiếng nói chung khi nói về

Trang 21

đặc điểm của khủng bố ở những đặc trưng như sau: chủ thể thực hiện hành vi khủng

bố, mục tiêu của khủng bố, các loại hình của khủng bố, thiếu tính hợp pháp

Chủ thể thực hiện hành vi khủng bố: Hiện nay, có một số quan điểm cho rằng

chủ thể thực hiện hành vi khủng bố có thể là quốc gia- nhà nước khủng bố Một trong những người theo quan điểm này là GS La Cương- Đại học Vân Nam (Trung Quốc)

cho rằng: “Quốc gia có thể trở thành chủ thể của tội phạm khủng bố quốc tế, chỉ có điều phương thức mà quốc gia gánh trách nhiệm khác với phương thức cá nhân gánh trách nhiệm hình sự mà thôi”31 Tác giả Bruce Hoffman cho rằng chủ thể thực hiện

hành vi khủng bố là: “Do một tổ chức với mạng lưới thống nhất điều khiển, tiến hành Đây là nhóm phi quốc gia hoặc thực thể phi quốc gia”32

Dưới giác độ luật quốc tế thì cần phân biệt giữa hành vi vi phạm pháp luật quốc

tế của chủ thể luật quốc tế với hành vi vi phạm là tội phạm có tính chất quốc tế, Tội phạm có tính chất quốc tế là tội phạm hính sự do cá nhân thực hiện xâm phạm tới trật

tự pháp lí quốc tế và quốc gia có tính nguy hiểm trên phạm vi quốc tế mà tội khủng bố nằm trong nhóm này Các hành vi xâm phạm pháp luật quốc tế của quốc gia sẽ được giải quyết theo chế định trách nhiệm pháp lí quốc tế bao gồm hai loại tội ác quốc tế và các vi phạm pháp lý thông thường khác

Chính vì thế, chủ thể của tội phạm khủng bố theo quan điểm phổ biến hiện nay là các tổ chức hoặc cá nhân

Mục đích của khủng bố: Dấu hiệu mục đích cũng được cho là một trong những

đặc điểm đặc trưng của khủng bố được nhắc đến trong quan điểm của các nhà nguyên cứu khi nguyên cứu về vần đề khủng bố và pháp và pháp luật hình sự hầu hết của các quốc gia trên thế giới Có nhà nghiên cứu nêu khi nguyên cứu vế vấn đề khủng bố đã

đề cập trực tiếp đến mục đích của khủng bố là: “Mục đích và động cơ chính trị”33 như Bruce Hoffman hay không trực tiếp đề cập đến đến mục đích chính trị như tác giả

Trần Quang Tiệp Tác giả cho rằng mục đích của khủng bố là “Gây hoảng loạn trong nhân dân” bằng cách sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực gây thiệt hại nghiêm

trọng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người dân

Mục đích của khủng bố cũng được nêu trong định nghĩa về khủng bố của các quốc gia Luật Phòng, chống khủng bố của Liên bang Nga năm 2006 quy định: “

Khủng bố là việc cưỡng bức tư tưởng và hoạt động liên quan đến việc dân chúng

Trang 22

hoảng loạn và những hình thức bạo lực vi phạm pháp luật khác tác động đến việc đưa

ra những quyết định của cơ quan chính quyền nhà nước, cơ quan tự quản địa phương hay tổ chức quốc tế”34 Theo đinh nghĩa nêu trên thì mục đích của khủng bố là mục đích chính trị Trong một số công ước quốc tế về chống khủng bố thì mục đích chính trị cũng cũng được nhắc đến, ví dụ Công ước quốc tế về trừng trị tài trợ khủng bố năm

1999 quy định tại khoản 1 Điều 2 mục đích của các hành vi khác được coi là khủng bố (ngoài các hành vi được đề cập trong công ước về chống khủng bố liệt kê tại phụ lục)

là: “nhằm hâm dọa dân chúng hay ép buộc một Chính phủ hoặc một tổ chức quốc tế phải thực hiện hoặc không thực hiện bất kỳ hành vi nào” Như vậy, mục địch chính trị

là dấu hiệu cơ bản và quan trọng của tội phạm khủng bố

Mục tiêu của khủng bố: Ban đầu, mục tiêu tấn tấn công của khủng bố mang tính chất

ngẫu nhiên nhằm mục đạt được mục đích chính trị Sau sự kiện khủng bố ngày 11/9 ở Mỹ,

có thể thấy tấn công khủng bố đã mở rộng trên phạm vi toàn cầu, nhiều nhiều hình thức khác nhau và chủ yếu vào các mục tiêu kinh tế và dân sự, nhằm tạo tác động tiêu cực to lớn lên chính trị, kinh tế, xã hội ở mọi cấp độ như đã chứng kiến ở Bali, Jakarta và Madrid Nguy cơ khủng bố hiện nay đến từ trên không, trên biển, trên đường sắt, đường bộ, trên mạng, các mục tiêu kinh tế, dân sự như các nhà máy điện nguyên tử, các khu du lịch, các sân vận động, tàu bè đi lại trên biển, các dàn khoan dầu,

Mỹ trở thành mục tiêu chủ yếu của hoạt động khủng bố do chính sách cường quyền, chủ nghĩa nước lớn và luôn can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác, thích dùng biện pháp cấm vận, nên đã gây ra tâm lý phản đối trong nhân dân nhiều nước Vì vậy, trên một mức độ nhất định, Mỹ trở thành đối tượng trọng điểm tấn công của những phần tử khủng bố Osama bin Laden người bị Mỹ truy nã gắt gao nhất khi còn sống đã viết trong Điều 1 của quy định đạo Islam được tuyên bố khi thành lập Mặt trận thánh chiến

ngày 23/2/1998 rằng: “Chúng ta kêu gọi tất cả đạo Hồi, những cả những giáo đồ thành kính phục tùng mệnh lệnh của chúa; bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu cũng phải giết

và tước đoạt người Mỹ”35

Các loại hình khủng bố: Do không thống thống nhất được định nghĩa thế nào là

khủng bố nên tùy cách tiếp cận, quan niệm mà có cách phân loại các loại hình khủng

Trang 23

thành hai loại xét theo góc độ phạm vi, quy mô và tính chất hoạt động của chúng: khủng bố trong nước và khủng bố quốc tế 36

Có nhà nghiên cứu phân loại theo cách mà bọn khủng bố sử dụng bạo lực: Khủng bố bằng phương pháp truyền thống (đặt bom, đánh bom tự sát, bắt cóc, ám sát,…); khủng bố hạt nhân (dùng vũ khí hạt nhân); khủng bố hóa học (dùng vũ khí hóa học); khủng bố sinh học (dùng các vi khuẩn gây bệnh chết người); khủng bố tin học- khủng bố mạng (phá hủy hoặc làm tê liệt hệ thống máy tính)37

Người viết sẽ dựa vào quan điểm về phân loại các loại hình khủng bố thứ hai để làm rõ tính nguy hiểm của mỗi loại hình khủng bố

Khủng bố bằng phương pháp truyền thống (đặc bom, đánh bom tự sát, bắt cóc,

ám sát, ) là loại hình khủng bố được các phần tử khủng bố sử dụng phổ biến

Nhưng cùng với sự phát triển tranh chống của khoa học-công nghệ, các phần tử khủng bố có xu hướng chuyển sang sử dụng các loại hình khủng bố khác có tính gây thiệt hại lớn hơn như: khủng bố hạt nhân (vũ dụng vũ khí hạt nhân), các tổ chức khủng

bố ra sức chiếm đoạt vật liệu hạt nhân, tìm mua vật liệu hạt nhân ở những thị trường chợ đen từ một số nước vô trách nhiệm38 và cùng với đó là ra sức bắt cóc, mua chuộc các nhà khoa học am hiểu về vật liệu hạt nhân để phụ vụ cho ý đồ sở hữu vũ khí hạt nhận của chúng Các mục tiêu như nhà máy điện hạt nhân, các Viện nghiên cứu hạt nhân trở thành mục tiêu tấn công của các phần tử khủng bố Lường trước được hậu quả của việc khủng bố sử dụng vũ khí hạt nhân để khủng bố, cộng dộng quốc tế đã xây dựng Công ước về ngăn ngừa hành vi khủng bố hạt nhân năm 2005 Điều 2 Công ước về ngăn ngừa hành vi khủng bố hạt

nhân quy đinh: “một người bị coi là phạm tội khủng bố hạt nhân nếu người đó, một cách có chủ định và con đường bất hợp pháp sở hữu nguyên liệu phóng xạ, chế tạo hay sở hữu thiết

bị hạt nhân với mục đích gây thương vong lớn hay nhằm phá hoại cơ sở hạ tầng hay môi trường; sử dụng nguyên liệu hay thiết bị phóng xạ, sử dụng hoặc phá hoại cơ sở hật nhân để tạo sự rò rỉ chất phóng xạ gây thương vong lớn, nhầm phá hoại cơ sở hạ tầng hay môi trường để ép buộc thể nhân, tổ chức quốc gia hay quốc gia phải thực hiện hoặc không thực hiện hành động nào đó”

Khủng bố hóa học (sử dụng vũ khí hóa học), là loại hình khủng bố sử dụng các loại khí động để tấn công khủng bố Các phần tử khủng bố đã dùng khí độc Salin để tấn công khủng bố vào hệ thống tàu điện ngầm ở Toky ở ngày 19/4/1995 làm cho 16 người chết và 6.300 bị ảnh hưởng

36

Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây(2001), sđd, tr 162-163

37

Vụ Luật pháp và điều ước quốc tế, Bộ Ngoại giao, Một số khía cạnh pháp lý về vấn đề chống khủng bố quốc tế

hiện nay, Đề tài nghiên cứu cấp cơ sở, 2005, trang 13-19

38

Vương Dật Châu An ninh quốc tế trong thời đại toàn cầu, Nxb Chính trị quốc gia năm 2004, tr 475

Trang 24

Khủng bố sinh học (sử dụng vũ khí sinh học), là loại hình khủng bố mà các phần tử khủng bố ưa thích sử dụng vì chi phí sản xuất thấp và tránh được sự theo dõi nhất là Mỹ Nghiên cứu cho thấy một chiếc máy bay trong đêm sáng trời không có gió trên bầu trời Washington (Mỹ) rãi 100 kg bào tử bệnh than dưới dạng sương mù có thể sát hại từ 1 đến 3 triệu người, con số này gấp 3000 lần số thương vong do một lượng khí độc Sarin gây ra39 Đăc biệt, loại hình khủng bố tin học- khủng bố mạng là loại hình khủng bố sinh sau đẻ muộn, tuy không gây tổn thất về người như các loại hình khủng bố khác nhưng khủng bố tin học- khủng bố mạng lại gây thiệt hại về vật chất vô cùng lớn bằng cách tạo và phổ biến vi rút mang tính phá hoại xâm nhập vào hệ thống máy tính toàn cầu, lấy cắp thông tin quan trọng

để phục vụ cho hoạt động khủng bố Sự ra đời của loại hình khủng bố tin học- khủng bố

mạng đã làm thay đổi định nghĩa về khủng bố trước đó: “Khủng bố là hành vi của cá nhân hay tập thể, sử dụng các thủ đoạn bạo lực hay bạo lực tấn công và đe dọa cá nhân, tập thể

cơ quan, giết hại bừa bãi cả thường dân vô tội để đạt được mục đích chính trị, kinh tế

xã hội nào đó”40

1.4 Sự phát triển của pháp luật quốc tế về đấu tranh chống khủng bố

1.4.1 Khái niệm pháp luật quốc tế về đấu tranh chống khủng bố

Pháp luật quốc tế về chống khủng bố hình thành và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa khủng bố Hiện nay, khi khủng bố đã trở thành thách thức

to lớn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới thì pháp luật quốc tế đã và đang tiếp tục phát triển hoàn thiện nhằm đấu tranh có hiệu quả chống lại loại tội phạm này

Theo Giáo trình Luật quốc tế của Trường Đại học Luật Hà Nội, luật quốc tế là : “hệ thống các nguyên tắc và quy phạm pháp luật được các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận tạo dựng nên, trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng nhằm điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa các quốc gia và các chủ thể đó trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”41 Luật quốc tế được chia thành nhiều lĩnh vực khác nhau như Luật biển, Luật kinh tế quốc tế, Luật hình sự quốc tế,… Theo cách phân chia này thì pháp luật quốc tế về chống khủng bố là một bộ phận của Luật hình sự quốc tế Luật hình sự quốc tế được định

nghĩa là “tổng thể các nguyên tắc, các quy phạm pháp lý quốc tế điều chỉnh các vấn đề pháp lý trong hoạt động hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm của cộng đồng quốc tế”42 Luật hình sự quốc tế là công cụ pháp lý mà cộng đồng quốc tế xây dựng nhằm mục đích ngăn ngừa, trừng trị cũng như tăng cường sự hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm trong đó có tội khủng bố

Trang 25

Pháp luật quốc tế về chống khủng bố là một bộ phận của Luật hình sự quốc tế, bao gồm tổng thể các nguyên tắc, quy phạm pháp lý điều chỉnh các vấn đề phát sinh trong hoạt động hợp tác đấu tranh chống khủng bố của các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế Các quy phạm của pháp luật quốc tế về đấu tranh chống khủng

bố hiện nay còn chưa hoàn chỉnh và chưa được pháp điển hóa nên còn nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau

Hoạt động hợp tác đấu tranh chống khủng bố bao gồm hoạt động tương trợ tư pháp trong việc truy tìm kẻ tội phạm lẩn trốn trên lãnh thổ nước ngoài, dẫn độ tội phạm cho quốc gia có liên quan hay tiếp nhận các thông tin, tài liệu cần thiết về vụ việc phạm tội Ngoài ra, khuôn khổ hợp tác giữa các quốc gia còn mở rộng trong việc trao đổi thông tin, nghiên cứu, giúp đỡ kinh nghiệm thực tiễn các vấn đề về khủng bố

và các biện pháp đấu tranh chống lại tội phạm này Trong thời điểm hiện nay, việc nghiên cứu để đưa ra được định nghĩa chung về khủng bố trong khuôn khổ công ước

đa phương thuộc Liên hiệp quốc là vấn đề bức thiết

1.4.2 Nguồn của pháp luật quốc tế về chống khủng bố

Là bộ phận của Luật hình sự quốc tế, pháp luật quốc tế về chống khủng bố có các loại nguồn giống như nguồn của Luật quốc tế Nguồn của pháp luật quốc tế về chống khủng bố trước tiên và chủ yếu là các điều ước quốc tế song phương và đa phương, kế đến là tập quán quốc tế Bên cạnh đó, còn có các nguyên tắc pháp luật chung và phương tiện bổ trợ nguồn quan trọng như: các nghị quyết của tổ chức quốc tế có hiệu lực pháp luật, các phán quyết của toà án, các học thuyết của các học giả danh tiếng về hình sự quốc tế, các nghị quyết có tính khuyến nghị liên quan đến các vấn đề chống khủng bố Cụ thể:

- 14 công ước thuộc khuôn khổ Liên hiệp quốc về đấu tranh chống khủng bố: Công ước về các tội phạm và một số hành vi khác thực hiện trên tàu bay 1963 (gọi tắt

là Công ước Tokyo 1963); Công ước trừng trị việc chiếm giữ bất hợp pháp tàu bay năm 1970 (gọi tắt là Công ước Lahay 1970); Công ước về trừng trị hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng không dân dụng năm 1971 (gọi tắt là Công ước Montrean 1971); Công ước về ngăn ngừa và trừng trị các tội phạm chống lại những người được hưởng bảo hộ quốc tế, bao gồm viên chức ngoại giao năm 1973 (gọi tắt là Công ước New York 1973); Công ước về chống bắt cóc con tin năm 1979 (gọi tắt là Công ước New York 1979); Công ước về bảo vệ an toàn vật liệu hạt nhân 1979 (sửa đổi năm 2005); Nghị định thư về trừng trị các hành vi bạo lực bất hợp pháp tại các cảng hàng không phục vụ hàng không dân dụng quốc tế 1988 (bổ sung Công ước Montrean 1971); Công ước về trừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hành trình hàng hải 1988 (gọi tắt là Công ước Rome 1988); Nghị định thư về những hành vi bất

Trang 26

hợp pháp chống lại an toàn của những công trình cố định trên thềm lục địa 1988 (bổ sung Công ước Rome 1988); Công ước về đánh dấu vật liệu nổ dẻo để nhận biết 1991; Công ước về trừng trị khủng bố bằng bom 1997; Công ước về trừng trị việc tài trợ khủng bố 1999; Công ước năm 2005 về ngăn ngừa, trừng trị những hành vi khủng bố bằng hạt nhân; Công ước về ngăn chặn các hành vi bất hợp pháp liên quan đến hàng không dân dụng quốc tế năm 2010 (gọi tắc là Công ước Bắc Kinh 2010)43

- 8 điều ước quốc tế khu vực: Công ước của Tổ chức các quốc gia châu Mỹ (OAS) về chống khủng bố năm 1971; Công ước của Cộng đồng châu Âu năm 1977; Công ước của Liên đoàn các quốc gia Ả Rập ngày 22/4/1988; Hiệp định hợp tác chống khủng bố của cộng đồng các quốc gia độc lập; Công ước của Tổ chức hội nghị Hồi giáo về chống khủng bố quốc tế; Công ước của Tổ chức thống nhất châu Phi về phòng ngừa và chống khủng bố Mới đây nhất các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã thông qua Hiệp ước chung về chống khủng bố tại Cebu (Philippines) ngày 13/1/2007 Ngoài

ra, còn rất nhiều các điều ước quốc tế song phương

- Các tập quán quốc tế là nguồn quan trọng của luật hình sự quốc tế nói chung cũng như pháp luật quốc tế về đấu tranh chống khủng bố nói riêng Những tập quán quốc tế quan trọng cần phải kể đến là: tập quán aut dedere aut punire (hoặc dẫn độ hoặc xét xử); non bis in idem (không ai phải gánh chịu trách nhiệm hình sự 2 lần đối với một hành vi phạm tội); nullum crimen sine lege (không có tội phạm nếu không có luật); nulla poena sine lege (không có hình phạt nếu không có luật)44…

- Bên cạnh các điều ước và tập quán quốc tế, có ngày càng nhiều các nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ, đặc biệt là Liên hiệp quốc liên quan đến vấn đề đấu tranh chống khủng bố Đáng chú ý là: Nghị quyết số 1267 ngày 15/10/1999 của Liên hợp quốc; Nghị quyết số 1373 được Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc thông qua tại phiên họp thứ 4385 ngày 28/9/2001; Nghị quyết số 1390 được Hội đồng Bảo an thông qua ngày 16/1/2002 tại phiên họp thứ 4452; Nghị quyết số 4155 năm 2003 được Hội đồng Bảo an thông qua ngày 17/01/2003 tại phiên họp thứ 4686…

Như vậy, pháp luật quốc tế về chống khủng bố hiện nay mới chỉ là tập hợp các nguyên tắc, quy phạm rất đa dạng, nhiều cấp bậc điều chỉnh các vấn đề phát sinh trong hoạt động hợp tác đấu tranh chống khủng bố của các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế và đang trong quá trình hoàn thiện Tuy nhiên, pháp luật quốc tế về chống khủng bố hiện nay đã và đang tạo ra khung khổ pháp lý vững chắc cho các hoạt động chống khủng bố trên phạm vi toàn thế giới

Trang 27

1.4.3 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật quốc tế về đấu tranh chống khủng bố

Lịch sử của pháp luật quốc tế về đấu tranh chống khủng bố hình thành và phát triển gắn liền với tiến trình phát triển của khủng bố trên phạm vi toàn thế giới Bắt đầu

từ những tập quán về dẫn độ tội phạm hình thành trong quan hệ giữa các quốc gia về tương trợ tư pháp, dần dần những nỗ lực quốc tế nhằm pháp điển hóa pháp luật quốc

tế về chống khủng bố đã được tiến hành trên quy mô đa phương và toàn cầu

Nguyên nhân dẫn đến Hội quốc Liên (tiền thân của Liên hiệp quốc) soạn thảo Công ước về đấu tranh chồng khủng bố đầu tiên của tiên của cộng đồng quốc là sau sự kiện Vua Nam Tư Adekxandro I và Bộ trưởng pháp Lui Bartu bị sát hại ở Marseille ngày 10/9/1934 Ngày 10/13/1934, Hội nghị Quốc Hội quốc liên đã thông qua một văn kiện quan trọng về chống khủng bố Trong đó, quy định rằng các quốc gia có trách nhiệm không được khuyến khích và không được cam chịu để bọn khủng bố hoạt động trên lãnh thổ của quốc gia mình, dưới bất kì hình thứ nào và với bất kì mục đích nào, đặc biệt là mục đích chính trị Mỗi quốc gia, không được vì bất cứ lý do gì mà xem nhẹ việc ngăn ngừa, trấn áp và trừng trị các hành vi khủng bố Vì các mục đích nói trên, các quốc cần tạo mọi điều kiện để quốc Chính phủ đấu tranh chống khủng bố45

Hội nghị Hội quốc liên đã ghi nhận rằng, trong luật quốc tế hiện đại chưa có đầy đủ các quy phạm pháp lý quốc tế Do đó, đang còn thiếu cở sở pháp lý cần thiết cho sự hợp tác giữa các quốc gia trong lĩnh vực chống loại tội phạm nguy hiểm này Dự thảo Công ước về phòng ngừa và trừng trị các hành vi khủng bố đã được Đại Hội Đồng Hội quốc liên thông qua ngày 16/3/1937

Liên hiệp quốc, sau khi thành năm 1945, đã tiếp tục kế thừa và phát huy vai trò của mình trong công cuộc chống khủng bố quốc tế Đặc biệt là vụ việc đầy bi thảm xảy ra vào tháng 2/1972 tại Munich Bọn khủng bố đã bắt giữ các vận động viên của đội tuyển Israel Sau vụ việc đó, cộng đồng quốc tế nhận thấy đã đến lúc phải hợp tác với nhau thành sức mạnh của cả cộng đồng nhằm đối phó với khủng bố

Tháng 12/1972, Liên hiệp quốc đã thông qua Nghị quyết 3034 về cấm khủng bố dưới mọi hình thức Trên cơ sở của Nghị quyết này, Liên hiệp quốc đã thành lập Ủy ban đặc biệt về chống khủng bố quốc tế, với sự tham gia của đại diện 34 quốc gia, nhằm mục đích kêu gọi các quốc gia thành viên Liên hiệp quốc tham gia chống khủng

bố phù hợp với quyền và nghĩa vụ là thành viên Liên hiệp quốc

45

Lê Văn Bính, Vai trò của Liên hiệp quốc trong dấu tranh chống khủng bố, Tạp chí Luật học số 25/2009 tr 247

Trang 28

Năm 1994, Liên hiệp quốc một lần nữa đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến khủng bố bằng việc thông qua Tuyên bố nhằm xóa bỏ khủng bố quốc tế Tuyên bố kêu gọi cá quốc gia không tổ chức, hỗ trợ hay tham gia vào các hoạt động khủng bố Tuyên bố đã nhấn mạnh rằng, các quốc gia là thành viên Liên hiệp quốc cần khẳng định tầm quan trọng của Tuyên bố này và đảm bảo hợp tác có hiệu quả giữa các quốc gia thành viên Liên hiệp quốc trong đấu tranh chống khủng bố, nhằm ngăn chặn kịp thời và có hiệu quả mọi hành động liên quan đến khủng bố bất kì ai tham gia vào hoạt khủng bố, kể cả việc cung cấp tài chính, kế hoạch hóa các hành vi khủng bố hoặc là xúi giục thực hiện khủng bố, đều bị đưa ra xét xử Các quốc cần khẳng định việc thực các cam kết của mình phù hợp với các định chế của Hiến chương Liên hiệp quốc, với các nguyên tắc cơ bản và các quy phạm được công nhận chung của luật quốc tế, bao gồm cả chuẩn mực của quốc tế về quyền con người Các quốc gia cần hỗ trợ nhau trong việc phòng ngừa, ngăn chặn và tiêu diệt khủng bố

Năm 1996, trong văn bản bổ sung cho Tuyên bố nói trên đã ghi nhận thành lập

Ủy ban đặc biệt về chống khủng bố Tại kỳ họp lần thứ 51 ngày 16/1/1997, Nghị quyết đặc biệt bổ sung cho Tuyên bố trên đã được thông qua Trong đó, kêu gọi các quốc gia thành viên Liên hiệp quốc cần ký kết các điều ước quốc tế song phương và

đa phương, các thỏa thuận quốc tế, phát triển sự hợp tác giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật về thủ tục tư pháp nhằm tăng cường điều tra và thu thập chứng cứ, cũng như nhằm mục đích phát hiện, phòng ngừa và trừng trị các hành vi khủng bố

Sau hàng loạt vụ khủng bố vào tháng 8 vá tháng 9 năm 1999 ở Matxcơva, ở Buinac, ở Volga-Đôn, Tổng thư ký Liên hiệp quốc K.Annan đã tuyên bố rằng, Liên hiệp quốc cần nổ lực hơn nữa trong đấu tranh chống khủng bố Đó là chủ đề chính đã được thảo luận tại Hội nghị lần thứ 56 Đại Hội Đồng Liên hiệp quốc và tại Hội nghị Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc

Ngày 19/10/1999, Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc đã thông qua Nghị quyết đặc biệt buộc tội vô điều kiện với tất cả các hành vi, các hình thức hoạt động khủng bố mà có thể

đe dọa đến hòa bình và an ninh quốc tế Không chấp nhận bất cứ lời biện hộ nào, kể cả nguyên nhân và hình thức, cũng như khủng bố xảy ra ở đâu và do ai thực hiện

Sự hàng loạt các sự kiện ngày 11/9/2001 ở nước Mỹ, vụ khủng bố ở Bali (Indonesia) ngày 12/10/2002, Matxcơva ngày 23/10/200, ở Bogota (Colombia) ngày 7/2/2002, ở Madrit (Tây Ban Nha) ngày 11/3/2003 và các sự kiện gần đây đã chứng minh đã chứng minh với thế giới rằng vấn đề đối phó với khủng bố hiện nay đã trở nên khó khăn hơn đối với cộng đồng quốc tế Đặc biệt là sự kiện 11/9/2001 đã trở thành bước ngoặt, làm cho cuộc chiến chống khủng bố trở nên kiên quyết hơn và

quyết liệt hơn, ngày mà nhiều nhà phân tích cho rằng đó là ngày bắt đầu của “Thế

Trang 29

chiến thứ ba”, ngày 12/9/2001 một ngày sau sự kiện 11/9/2001, Hội đồng Bảo an

Liên hiệp quốc đã thông qua Nghị quyết số 1368, kêu gọi cộng đồng quốc tế hãy cố gắng hơn nữa việc phòng ngừa và trấn áp khủng bố, cần đẩy mạnh sự phối hợp giữa các quốc gia trong việc ban hành pháp luật phù hợp với cá Công ước và Nghị quyết của Liên hiệp quốc và của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc

Theo sáng kiến và Dự thảo Công ước về đấu tranh chống các khủng bố hạt nhân của Liên Bang Nga, Liên hiệp quốc đã thông qua dự thảo Công ước này tại kỳ họp lần thứ 60 của Đại Hội Đồng Liên hiệp quốc Công ước về đấu tranh chống các hành vi khủng bố hạt nhân năm 2005 đã củng cố thêm cơ sở pháp lý để cộng đồng quốc tế đấu tranh chống khủng bố và

đã nhận được sự ủng hộ và tham gia ký kết của nhiều nước trên thế giới

Hội nghị quốc tế về an ninh hàng không được tổ từ ngày 30/8 đến 10/9/2010 chức tại Bắc Kinh (Trung Quốc) Công ước về ngăn chặn các hành vi bất hợp pháp liên quan đến hàng không dân dụng quốc tế được thông qua vào ngày 10/9/2010

Như vậy, nếu tính từ năm 1963 đến nay, với sự tham gia của nhiều tổ chức phi chính phủ, Liên hiệp quốc đã thông qua 14 Công ước và Nghị định thư về đấu tranh chống khủng bố và biểu hiện của khủng bố Các văn bản đó bao gồm:

1 Công ước về các tội phạm và một số hành vi khác thực hiện trên tàu bay, 1963;

2 Công ước về trừng trị việc chiếm giữ bất hợp pháp tàu bay, 1970;

3 Công ước về trừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng không dân dụng, 1971;

4 Công ước về ngăn ngừa và trừng trị các tội phạm chống lại những người được bảo

hộ quốc tế, bao gồm viên chức ngoại giao, 1973;

5 Công ước về chống bắt cóc con tin, 1979;

6 Công ước về bảo vệ an toàn vật liệu hạt nhân, 1979;

7 Nghị định thư về trừng trị các hành vi bạo lực bất hợp pháp tại các cảng hàng không phục vụ hàng không dân dụng quốc tế, 1988;

8 Công ước về trừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng hải, 1988;

9 Nghị dịnh thư về trừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn của các công trình cố định trên thềm lục địa, 1988;

10 Công ước về đánh dấu vật liệu nổ dẻo để nhận biết, 1991;

11 Công ước về trừng trị khủng bố bằng bom 1997;

12 Công ước quốc tế về trừng trị việc tài trợ khủng bố, 1999;

13 Công ước chống khủng bố hạt nhân, 2005;

14 Công ước hàng không dân dụng mới, 2010

Trang 30

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

VỀ CHỐNG KHỦNG BỐ 2.1 Các nguyên tắc cơ bản

Nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế về đấu tranh chống khủng bố là những

tư tưởng chính trị, pháp lý mang tính chỉ đạo, bao trùm có giá trị bắt buộc chung được ghi nhận ở các điều ước quốc tế và tập quán quốc tế làm cơ sở cho các hoạt động hợp tác đấu tranh chống khủng bố

Pháp luật quốc tế về chống khủng bố là một bộ phận của pháp luật quốc tế nên các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế hiện nay cũng chính là các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh hoạt động hợp tác đấu tranh chống khủng bố Tuy nhiên, pháp luật quốc tế về chống khủng bố cũng có những đặc thù riêng nên cũng có những nguyên tắc đặc thù điều chỉnh Chính vì vậy có thể phân chia nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế về đấu tranh chống khủng bố làm 2 nhóm đó là nhóm các nguyên tắc chung và nhóm các nguyên tắc đặc thù

2.1.1 Các nguyên tắc chung

2.1.1.1 Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia

Chủ quyền là thuộc tính chính trị- pháp lý không thể tách rời của quốc gia Trong

đó có quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế, quyền độc lập của quốc gia thể hiện qua quyền tự quyết mọi vấn đề về đối nội và đối ngoại của quốc gia không chịu sự áp đặt của quốc gia khác, trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của mọi quốc gia trong cộng đồng quốc tế Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 của Hiến chương Liên hiệp

quốc “Tổ chức Liên hiệp quốc dựa trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia thành viên”

Trong lĩnh vực chống khủng bố quốc tế, nguyên tắc này yêu cầu các quốc gia khi tiến hành các hoạt động chống khủng bố, các quan hệ hợp tác trong việc chống khủng bố…phải tôn trọng chủ quyền và toàn lãnh thổ của nhau, tôn trọng sự lựa chọn các biện pháp chống khủng bố, bình đẳng tham gia các quan hệ hợp tác chống khủng bố, tham gia hoặc không tham gia các điều ước quốc tế về chống khủng bố, các quốc gia

có quyền bảo lưu đối với khoản mà điều ước quốc tế về chống khủng bố cho phép bảo lưu và bỏ các điều khoản bảo lưu khi quốc nhận thấy cần thiết hoặc khi quốc gia đã đáp ứng được các điều khoản mà trước đó mình bảo lưu, bình đẳng chủ quyền còn được thể hiện thông qua việc quốc gia kiểm tra, giám sát các hoạt động chống khủng

bố của các tổ chức mà mình là thành viên trong suốt quá trình tham gia phù hợp với

quyền và nghĩa vụ của một quốc gia thành viên

Trang 31

Nguyên tắc này đã được các quốc gia thống nhất trong từng quy định tất cả các điều ước quốc tế về chống khủng bố Ví dụ: Trong Công ước quốc tế về bắt cóc con

tin năm 1979 nêu ở lời nói đầu như sau: “khẳng định lại quyền đình đẳng và tự quyết của cá dân tộc như đã thừa nhận trong Hiến chương Liên hiệp quốc và tuyên bố về các nguyên tắc của Luật pháp quốc tế về hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia theo Hiến chương Liên hiệp quốc, cũng như các nghị quyết của khác của Đại Hội đồng”; tại Điều 20 của Công ước về trừng trị tài trợ cho khủng bố năm 1999 quy định: “Các quốc gia hành viên sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của Công ước này theo phương thức phù hợp với nguyên tắc bình đẳng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác”;…

2.1.1.2 Nguyên tắc cấm đe dọa dùng vũ lực hay dùng vũ lực

Quá trình dân chủ hóa đời sống hóa đời sống quốc tế tất yếu dẫn đến đến sự hạn chế dùng vũ lực hay đe dọa dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế giữa các chủ thể luật

quốc tế với nhau Khoản 4 Điều 2 Hiến chương Liên hiệp quốc quy định: “Tất cả các nước thành viên Liên hiệp quốc trong quan hệ quốc tế không được đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hay độc lập chính trị của bất kì quốc gia nào, hoặc nhầm những mục đích khác không phù hợp với mục đích của Liên hiệp quốc” Nguyên tắc trên được cụ thể trong Tuyên bố về những nguyên tắc của luật quốc

tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia thành viên phù hợp với

Hiến chương Liên hiệp quốc (do Đại hội đồng thông qua năm 1970) như sau: “Tất cả các quốc gia thành viên có nghĩa vụ từ bỏ việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế chống lại toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào, hoặc bằng bất kỳ cách thức nào không phù hợp với những mục đích của Hiến chương Liên hiệp quốc Việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng sẽ là quy phạm pháp luật quốc tế và không bao giờ được sử dụng như là các biện pháp giả quyết tranh chấp các quốc đề quốc tế” Trong quá trình hợp tác quốc tế chống khủng bố thì việc nảy

sinh mâu thuẫn, tranh chấp giữa các quốc gia là điều khó tránh khỏi vì mỗi quốc gia ngoài lợi ích chung còn có lợi ích riêng, và việc quốc gia đăt lợi ích riêng lên lợi ích chung là điều dễ hiểu Trong pháp luật quốc tế về chống khủng bố tuy không có quy định cụ thể nào yêu cầu các quốc gia không được sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng

vũ lực nhưng nguyên tắc này được quán triệt xuyên suốt trong tất cả các quy định

thông qua các biện pháp giải quyết tranh chấp khi có mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh

Trang 32

2.1.1.3 Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế

Sự hình thành và phát sinh của của nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế gắn liền với nguyên tắc cấm dùng vũ lực hay de dọa sử dụng vũ lực trong quan

hệ quốc tế Theo quy định tại khoản 3 Điều 2 của Hiến chương Liên hiệp quốc đã ghi nhận hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế là nguyên tắc bắt buộc chung đối với

tất cà các thành viên của cộng động quốc tế “Hội viên Liên hiệp quốc giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ bằng phương pháp hòa bình, làm thế nào khỏi nguy hại đến hòa bình và an ninh quốc tế cũng như đến công lý” Điều 33 của Hiến chương Liên

hiệp quốc quy định cụ thể các biện pháp hòa bình mà các quốc gia thành viên có thể

lựa chọn để giải quyết tranh chấp “các bên tham gia tranh chấp quốc tế trước tiên phải

cố gắng giải quyết tranh chấp bằng biện pháp như: đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án, thông qua các cơ quan hay tổ chức khu vực hoặc bằng những biện pháp hòa bình khác do các bên lựa chọn”

Trong quan hệ quốc tế về hợp tác chống khủng bố thì tranh chấp luôn là khả năng tiềm ẩn, phát sinh trong quá trình hợp tác chống khủng bố như giải thích, áp dụng các điều ước sẽ làm giảm đi tính hiệu quả của quan hệ hợp tác chống khủng bố, các tranh chấp nếu không được giải quyết bằng nguyên tắc hòa bình trong thời gian dài thì tất yếu sẽ dẫn đến việc các quốc gia tìm đến phương thức dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng

vũ lực để giải quyết, khi đó quan hệ quốc tế nói chung cũng như quan hệ hợp tác chống khủng bố nói riêng sẽ không duy trì được tính hòa bình, ổn định, hợp tác cùng

phát triển

Trong khuôn khổ Liên hiệp quốc, nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp được quy định trong hầu hết các Công ước, Nghị định thư về chống khủng bố Ví dụ: Công ước về các tội phạm và một số hành vi khác thực hiện trên tàu bay năm 1963

quy định: “Bất kỳ tranh chấp về việc giải thích hoặc áp dụng Công ước này giữa hai quốc gia hoặc nhiều quốc gia ký kết, nếu không giải quyết được thông qua thương lượng, thì theo yêu cầu một trong các bên tranh chấp sẽ được giải quyết tại trọng tài Nếu trong vòng sáu tháng kể từ ngày yêu cầu giải quyết bằng trọng tài mà các bên không thỏa thuận được về tổ chức của trọng tài, thì bất kỳ bên nào trong các bên tranh chấp đó có thể yêu cầu đưa tranh chấp lên Tòa án quốc tế phù hợp với quy chế Tòa án”, các Công ước khác cũng có quy định về giải quyết tranh chấp tương tự

2.1.1.4 Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau

Xuất hiện trong thời kì cách mạng tư sản, nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của chính phủ, của dân tộc khác được ghi nhận trong Hiến pháp một số nước tư bản trong thời kì đó Khi Liên hiệp quốc ra đời, đã mở rộng và cụ thể nguyên

Trang 33

tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau tại khoản 7 Điều 2 của Hiến

chương Liên Hiệp quốc “Tổ chức Liên hiệp quốc không có quyền can thiệp vào công việc thực chất thuộc thẩm quyền nội bộ của bất kì quốc gia nào”

Chống khủng bố quốc tế nói riêng cũng như chống khủng bố nói phần lớn vẫn thuộc công việc nội bộ của các quốc gia Các quốc gia tự vạch ra đường lối, chính sách

về khủng bố của mình, tự quyết định tham gia hay không không gia vào các điều ước quốc tế về chống khủng bố, tự quyết định việc ban hành hay không ban hành, thực hiện hay không thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề này, tự tiến hành điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm khủng bố thuộc quyền tài phán của mình, tự quyết định dẫn độ hay không dẫn độ nghi phạm khủng bố, tự quyết định về việc hợp tác chống khủng bố Khi thực hiện các công việc này cũng như công việc nội

bộ khác, quốc gia phải dựa trên cơ sở quyền lợi của mình, cũng như cộng đồng quốc tế cũng như các điều ước quốc tế mà mình đã tham gia, đặc biệt là nguyên tắc quốc gia

có nghĩa vụ hợp tác với nhau

2.1.1.5 Nguyên tắc tận tâm thực hiện nghĩa vụ theo luật quốc tế

Nguyên tắc tận tâm thực hiện nghĩa vụ theo luật pháp quốc tế được ghi nhận

trong lời mở đầu của Hiến chương Liên hiệp quốc: “tạo điều kiện để đảm bảo công lý

và sự tôn trọng các nghĩa vụ phát sinh từ điều ước quốc tế và các nguồn khác của luật quốc tế” hay tại khoản 2 Điều 2 Hiến chương Liên hiệp quốc thì “tất cả các thành viên Liên hiệp quốc thiện chí thực hiện các nghĩa vụ do Hiến chương đặt ra”

Nguyên tắc tận tâm thực hiện nghĩa vụ theo luật quốc tế cũng được ghi nhận trong Tuyên bố về những nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia thành viên phù hợp với Hiến chương Liên hiệp quốc (do Đại

hội đồng thông qua năm 1970) “Mọi quốc gia có nghĩa vụ thực hiện với sự thiện chí các nghĩa vụ của mình phù hợp với Hiến chương Liên hiệp quốc Mỗi quốc gia có nghĩa vụ thực hiện với sự thiện chí những nghĩa vụ của mình theo những nguyên tắc

và quy phạm được luật quốc tế thừa nhận chung Mỗi quốc gia có nghĩa vụ thực hiện với sự thiện chí những nghĩa vụ của mình trong những thỏa thuận có hiệu lực theo những nguyên tắc và quy phạm được luật quốc tế thừa nhận chung Khi mà nghĩa vụ phát sinh từ các điều ước quốc tế mâu thuẫn với những nghĩa vụ của các thành viên Liên hiệp quốc theo Hiến chương Liên hiệp quốc thì những nghĩa vụ theo Hiến chương

sẽ có ưu thế hơn”.Công ước Viên về luật điều ước quốc tế năm 1969 là văn bản có

hiệu lực pháp lý cao nhất điều chỉnh việc ký kết, gia nhập điều ước quốc tế quy định:

“mỗi điều ước quốc tế hiện hành đều rang buộc các bên tham gia và điều được các bên thực hiện một cách có thiện chí”

Ngày đăng: 03/10/2015, 15:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Công ước về ngăn ngừa và trừng trị các tội phạm chống lại những người được hưởng bảo hộ quốc tế, bao gồm viên chức ngoại giao 1973 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước về ngăn ngừa và trừng trị các tội phạm chống lại những người được hưởng bảo hộ quốc tế, bao gồm viên chức ngoại giao
Năm: 1973
7. Công ước quốc tế về chống bắt cóc con tin 1979 8. Công ước bảo vệ an toàn vật liệu hạt nhân 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước quốc tế về chống bắt cóc con tin
Năm: 1979
12. Công ước quốc tế về trừng trị việc tài trợ cho khủng bố 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước quốc tế về trừng trị việc tài trợ cho khủng bố
Năm: 1999
1. C. Mác- Anghen, “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Heghen- Lời nói đầu”, Mác- Anghen, Tuyển tập, Tập I, Nxb. Sự thật 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Heghen- Lời nói đầu”
Nhà XB: Nxb. Sự thật 1980
2. Dương Văn Quảng, Tính chất đan xen trong quan hệ quốc tế, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế số 73/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính chất đan xen trong quan hệ quốc tế
3. Đoàn Văn Thắng, An ninh quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế số 58/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An ninh quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa
4. Hoàng Xuân Hải, Vài nét về chủ nghĩa khủng bố ở Đông Nam Á, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế số 9/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về chủ nghĩa khủng bố ở Đông Nam Á
5. La Cương, Vấn dề tranh luận gây gắt trong tiến trình chống khủng bố quốc tế, Tạp chí Luật học, số 10/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn dề tranh luận gây gắt trong tiến trình chống khủng bố quốc tế
7. Lê Văn Bính, Vai trò của Liên hiệp quốc trong dấu tranh chống khủng bố, Tạp chí Luật học số 25/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Liên hiệp quốc trong dấu tranh chống khủng bố
8. Nguyễn Thị Thuận, Luật hình sự quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hình sự quốc tế
Tác giả: Nguyễn Thị Thuận
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2007
9. Nguyễn Linh Giang, Cuộc chiến chống khủng bố và các vấn đề về quyền con người, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 9/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc chiến chống khủng bố và các vấn đề về quyền con người
Tác giả: Nguyễn Linh Giang
Nhà XB: Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Năm: 2011
10. Ngô Hữu Phước, Luật quốc tế, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật quốc tế
Tác giả: Ngô Hữu Phước
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2013
11. Phạm Thị Thu Hương, Vài nét về quyền tài phán phổ quát của quốc gia, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 5/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về quyền tài phán phổ quát của quốc gia
12. Trần Quang Tiệp, “ Một số vấn đề về khủng bố quốc tế dưới góc độ pháp luật hình sự”, Tạp chí Tòa án số 10/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Một số vấn đề về khủng bố quốc tế dưới góc độ pháp luật hình sự”
13. Vương Dật Châu, An ninh quốc tế trong thời đại toàn cầu, Nxb. Chính trị quốc gia năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An ninh quốc tế trong thời đại toàn cầu
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia năm 2004
14. Vũ Lê Thái Hoàng, Ngăn chặn khủng bố trên biển ở khu vực Đông Nam Á: thách thức và triển vọng, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế số 57/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngăn chặn khủng bố trên biển ở khu vực Đông Nam Á: thách thức và triển vọng
Tác giả: Vũ Lê Thái Hoàng
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu quốc tế
Năm: 2004
15. Vũ Ngọc Dương, Các quan niệm về “khủng bố” hiện nay trên thế giới, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 3/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quan niệm về “khủng bố” hiện nay trên thế giới
Tác giả: Vũ Ngọc Dương
Nhà XB: Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Năm: 2011
16. Vũ Ngọc Dương, Về một số khái niệm cơ bản trong pháp luật Phòng, chống khủng bố, Tạp chí Nhà nước và pháp Luật số 5/2013. Trang thông tin điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một số khái niệm cơ bản trong pháp luật Phòng, chống khủng bố
1. Bộ Ngoại giao Việt Nam, Việt nam ủng hộ vai trò của LHQ về chống khủng bố, http://www.mofa.gov.vn/vi/nr040807104143/nr040807105001/ns070518083635/view,[Truy cập ngày 10/10/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt nam ủng hộ vai trò của LHQ về chống khủng bố
Tác giả: Bộ Ngoại giao Việt Nam
2. Thanh niên online, Nỗi ám ảnh mang tên AUM Shinrykio, Văn Khoa, http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120103/noi-am-anh-mang-ten-aum-shinrikyo.aspx, [ Truy cập ngày 15/9/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nỗi ám ảnh mang tên AUM Shinrykio
Tác giả: Văn Khoa
Nhà XB: Thanh niên online

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w