Từ các hội nghị này khái niệm tham nhũng là vấn đề được đưa ra bàn thảo nhiều nhất và nó được đưa ra với nhiều quan điểm khác nhau như: “Tham nhũng là sự lợi dụng quyền lực Nhà nước để
Trang 1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2011 - 2015
TÊN ĐỀ TÀI:
VAI TRÒ CỦA LIÊN HỢP QUỐC TRONG VẤN ĐỀ CHỐNG
THAM NHŨNG VÀ THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
Trang 2Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm chỉ dẫn tận tình của Thầy Thạch
Huôn đã tạo điều kiện giúp em có thể hoàn thành tốt nhất Luận văn tốt nghiệp này
Vì kiến thức và thời gian có hạn, thêm vào đó lần đầu tiên tiếp xúc nên Luận văn này không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được sự góp ý của quý Thầy Cô, anh chỉ để luận văn được tốt hơn
Cuối cùng em xin kính chúc quý Thầy, Cô luôn dồi dào sức khỏe, gặt hái được nhiều thành công trong công tác giảng dạy, nghiên cứu
Xin trân trọng kính chào!
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014 Sinh viên thực hiện
Thạch Thị Nguyệt
Trang 3GVHD: Th.S Thạch Huôn SVTH: Thạch Thị Nguyệt
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
Trang 4GVHD: Th.S Thạch Huôn SVTH: Thạch Thị Nguyệt
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
Trang 5GVHD: Th.S Thạch Huôn SVTH: Thạch Thị Nguyệt
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
UNCAC: Công ước chống tham nhũng của Liên Hợp Quốc năm 2003
LHQ: Liên Hợp Quốc
LPCTN: Luật phòng chống tham nhũng năm 2005
LPCTN 2005, sđ, bs 2012: Luật phòng chống tham nhũng 2005, sửa đổi, bổ sung
2012
BLHS 1999, sđ, bs 2009: Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung 2009
Trang 6GVHD: Th.S Thạch Huôn SVTH: Thạch Thị Nguyệt
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu đề tài 2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA LIÊN HỢP QUỐC TRONG VẤN ĐỀ CHỐNG THAM NHŨNG 3
1.1 Sơ lược về Liên hợp quốc 3
1.1.1 Lược sử thành lập Liên Hợp Quốc 3
1.1.2 Mục đích và nguyên tắc của Liên Hợp Quốc 4
1.1.3 Vai trò của Liên Hợp Quốc 6
1.2 Vai trò của Liên Hợp Quốc trong vấn đề chống tham nhũng 7
1.2.1 Cơ sở lý luận về vấn đề chống tham nhũng của Liên Hợp Quốc 7
1.2.1.1 Khái niệm về tham nhũng 7
1.2.1.2 Các yếu tố dẫn đến hành vi tham nhũng 9
1.2.1.3 Hậu quả do tham nhũng gây ra 10
1.2.1.4 Cơ quan phụ trách chống tham nhũng của Liên Hợp Quốc 12
1.2.2 Sự cấp bách của việc thành lập một tổ chức quốc tế chống tham nhũng toàn
cầu 13
1.2.2.1 Nhu cầu hợp tác quốc tế về mức độ nghiêm trọng của chống tham nhũng xuyên quốc gia 13
1.2.2.2 Giải quyết và khắc phục các hậu quả từ sau tham nhũng xảy ra 14
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA LIÊN HỢP QUỐC TRONG VẤN ĐỀ CHỐNG THAM NHŨNG 17
2.1 Công ước chống tham nhũng của Liên Hợp Quốc năm 2003 17
2.1.1 Nguyên nhân tất yếu dẫn đến sự ra đời của công ước 17
2.1.2 Nội dung công ước 18
2.1.2.1 Mục đích công ước 18
2.1.2.2 Các đối tượng tham nhũng 19
2.1.2.3 Các hành vi tham nhũng 19
2.1.2.4 Các hình thức chế tài tham nhũng 22
2.1.2.5 Các biện pháp phòng ngừa 23
2.1.3 Khả năng áp dụng 25
2.1.3.1 Hợp tác quốc tế 25
Trang 7GVHD: Th.S Thạch Huôn SVTH: Thạch Thị Nguyệt
2.1.3.2 Hỗ trợ kỹ thuật và trao đổi thông tin 28
2.1.4 Cơ chế thực thi 28
2.1.4.1 Cách giải quyết tranh chấp liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng công ước 28
2.1.4.5 Hiệu lực của công ước 29
CHƯƠNG 3: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHỐNG THAM NHŨNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 30
3.1 Các quy định của pháp luật Việt Nam trong vấn đề chống tham nhũng 30
3.1.1 Cơ sở lý luận 30
3.1.1.1 Khái niệm tham nhũng 30
3.1.1.2 Các yếu tố tham nhũng ở Việt Nam 31
3.1.1.3 Các hậu quả tham nhũng ở Việt Nam 32
3.1.2 Cơ sở pháp lý 35
3.1.2.1 Đối tượng tham nhũng 35
3.1.2.2 Các hành vi tham nhũng 36
3.1.2.3 Nguyên tắc xử lý tham nhũng 38
3.1.2.4 Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị và người có chức vụ, quyền hạn 38
3.1.2.5 Biện pháp xử lý hành vi tham nhũng 39
3.1.3 Cơ chế thực thi 44
3.1.3.1 Cơ chế phối hợp thực hiện giữa các ban ngành, tổ chức liên quan đến chống tham nhũng 44
3.1.3.2 Cơ chế tố cáo, phát hiện của nhân dân 44
3.1.3.3 Cơ chế thanh tra, kiểm tra, của cơ quan nhà nước 45
3.1.4 Những bất cập của cơ sở lý luận và pháp lý 46
3.1.4.1 Hành vi che giấu, thông đồng lẫn nhau trong cơ quan nhà nước 47
3.1.4.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật vào thực tế còn nhiều bỡ ngỡ, chồng chéo, mâu thuẫn, không đồng bộ 47
3.1.4.3 Cơ chế tố giác hành vi tham nhũng của nhân dân chưa được đảm bảo 49
3.1.5 Biện pháp phòng ngừa 50
3.2 Mối liên hệ giữa Công ước và quy định của Pháp luật Việt Nam 56
3.3 Thực tiễn và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật chống tham nhũng tại Việt Nam 57
3.3.1 Thực tiễn áp dụng 57
Trang 8GVHD: Th.S Thạch Huôn SVTH: Thạch Thị Nguyệt
3.3.1.1 Tình hình chung về thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật Việt Nam về chống tham nhũng 57 3.3.1.2 Một số vướng mắc trong vấn đề giải quyết chống tham nhũng ở Việt Nam 58
3.3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật chống tham nhũng ở Việt Nam 59
3.3.2.1 Tiếp tục sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về chống tham nhũng 59 3.3.2.2 Ban hành hướng dẫn cụ thể trong vấn đề chống tham nhũng 60
KẾT LUẬN 61 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9Trước tình hình đó, ở nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế đã có nhiều giải pháp đưa
ra nhiều chương trình chống tham nhũng kể cả trong khu vực công lẫn khu vực tư nhân nhằm mục đích nhấn mạnh đến việc nghiên cứu các thực trạng, tìm nguyên nhân để đề ra các biện pháp nhằm kiểm soát và hạn chế tình trạng tham nhũng Vì thế, từ đó có nhiều các văn bản chống tham nhũng từ nhiều quốc gia, tổ chức và có một văn bản quốc tế mang tính giá trị cao được nhiều nước trên thế giơi áp dụng để chống tham nhũng đó là Công ước chống tham nhũng của Liên Hợp Quốc năm 2003 (UNCAC) và chính thức có hiệu lực vào tháng 12 năm 2005 Công ước này ra đời, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử cùng nhau hợp tác chống tham nhũng của tất cả các quốc gia lại với nhau Qua đó, cho ta thấy Liên Hợp Quốc (LHQ) đã dành sự quan tâm đặc biệt đến vấn
đề này Những nội dung trong Công ước có nhiều điểm tích cực trong vấn đề chống tham nhũng và đã dành được sự đồng tình của nhiều nước
Hiện nay, nước ta lại đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bên cạnh những thành tựu quan trọng mà chúng ta đã được trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thì tình trạng tham nhũng ở một số bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên là rất lo ngại, đặc biệt là trong mối quan hệ giữa công chức nhà nước với người dân và doanh nghiệp, giữa nhân viên các cơ sở dịch vụ công với khách hàng gây nên nhiều bức xúc trong dư luận xã hội Vì vậy, chống tham nhũng là một nhiệm vụ cấp bách và hết sức quan trọng trong tình hình hiện nay Đảng và Nhà nước ta không chỉ khẳng định quyết tâm chống tham nhũng, mà còn đề ra nhiều biện pháp chống tham nhũng hữu hiệu Trong đó, việc ban hành văn bản pháp luật về chống tham nhũng là việc làm đúng đắn và cần thiết Sau khi luật phòng chống tham nhũng năm
2005 được ban hành thì công tác phòng chống tham nhũng có nhiều điểm tiến bộ và có chuyển biến trong hành động nhưng nó vẫn chưa được rõ nét nên tình hình tham nhũng vẫn xảy ra ngày càng trầm trọng hơn, công tác chống tham nhũng vẫn chưa được cải thiện nhiều Vì thế mục tiêu ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tham nhũng chưa làm được
Trang 10GVHD: Th.S Thạch Huôn 2 SVTH: Thạch Thị Nguyệt
Với những lý do trên, người viết muốn tập trung làm rõ thực trạng tham nhũng hiện nay ở một số nước trên giới trong đó có Việt Nam thông qua UNCAC cùng với các quy định pháp luật của Việt Nam nhằm tìm ra các nguyên nhân, hình thức và những nhân tố làm hạn chế hiệu lực công tác phòng chống tham nhũng, đồng thời góp phần tìm phương hướng và giải pháp hữu hiệu để công tác phòng chống tham nhũng được hiệu quả Đó là
lý do, người viết chọn đề tài: “ Vai trò của Liên Hợp Quốc trong vấn đề chống tham
nhũng và thực tiễn tại Việt Nam” để hoàn thành luận văn tốt nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu đề tài, người viết muốn làm rõ vai trò của Liên Hợp Quốc trong vấn đề chống tham nhũng được quy định trong công ước, thực tiễn áp dụng
và các quy định của pháp luật Việt Nam Qua đó, người viết rút ra những tồn tại, thiếu sót cần được khắc phục Từ đó, đưa ra một số kiến nghị, giải pháp trong việc đẩy lùi nạn tham nhũng cũng như tình hình, các nguyên nhân dẫn đến tham nhũng nhằm ngăn chặn tham nhũng tiếp tục xảy ra
3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu quy định của UNCAC và các quy định của pháp luật Việt Nam trong việc phòng chống tham nhũng và đưa ra một số giải pháp để góp phần công tác chống tham nhũng được hiệu quả
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở khoa học pháp lý và các phương pháp như: nghiên cứu luật viết, so sánh để làm sáng tỏ, nội dung, nguyên nhân, hậu quả của vấn đề chống tham nhũng được quy định trong công ước và quy định của pháp luật Việt Nam, phương pháp tổng hợp thống kê; sử dụng các chương trình tìm kiếm tài liệu…các thông tin sử dụng trong bài viết được thu nhập qua việc áp dụng phương pháp thu thập, chất lọc
dữ liệu có liên quan
5 Kết cấu đề tài
Trong đề tài ngoài phần mở đầu, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo thì đề
tài được bố cục bằng ba chương:
Trang 11GVHD: Th.S Thạch Huôn 3 SVTH: Thạch Thị Nguyệt
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA LIÊN HỢP QUỐC TRONG
VẤN ĐỀ CHỐNG THAM NHŨNG
Tham nhũng là một mối nguy hại của xã hội, đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của
cả chế độ, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển trên nhiều mọi mặt lĩnh vực của xã hội, từ kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, an ninh quốc phòng, y tế… đến nhận thức của người dân Do vậy, LHQ đã cho ra đời một văn bản pháp lý mang tính chống tham nhũng toàn cầu và được nhiều quốc gia công nhận, điều này đã thể hiện rõ vai trò quan trọng của LHQ trong việc liên kết các quốc gia lại với nhau để giải quyết tham nhũng Trong chương này, người viết sẽ nêu khái quát về tổ chức LHQ, đồng thời giới thiệu một số cơ
sở lý luận về vấn đề chống tham nhũng của LHQ Để từ đó, nhận thấy được vai trò của tổ chức này trong việc chống tham nhũng cũng như nhu cầu cần thành lập một tổ chức mang tính chuyên biệt về chống tham nhũng trong hợp tác quốc tế
1.1 Sơ lược về Liên hợp quốc
1.1.1 Lược sử thành lập Liên Hợp Quốc
Quá trình thành lập LHQ là quá trình đấu tranh gay go, quyết liệt giữa những quan điểm khác nhau về xây dựng một tổ chức an ninh chung, nhằm duy trì hòa bình, an ninh quốc tế, và phát triển hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực
Lịch sử đã cho thấy rằng, Liên Xô là một quốc gia có công sức đóng góp to lớn cho
sự hình thành và phát triển của tổ chức này Quá trình thành lập tổ chức này trải qua những giai đoạn như sau:
- Với ý định chuẩn bị cho thời kì hậu chiến của chiến tranh thế giới thứ hai, nhằm loại trừ xảy ra một cuộc chiến tranh thế giới thứ ba và đảm bảo một thế cân bằng mới trong quan hệ quốc tế mới sau chiến tranh, tại Hội nghị Maxcơva giữa các Bộ trưởng ngoại giao của ba quốc gia Liên Xô, Anh, Mỹ đã thông qua Tuyên bố chung về an ninh (sau đó Trung Quốc cũng kí), đã nói đến việc quyết định thành lập một tổ chức quốc tế mới nhằm duy trì hòa bình và an ninh quốc tế Quyết định này, đã được khẳng định lại tại hội nghị cấp cao giữa ba Nguyên thủ quốc gia là: Liên Xô, Anh, Mỹ tại Teheran ngày 01/12/1943
- Tiếp theo đó là đến Hội nghị các chuyên viên tại Dumbarton Oaks – Mỹ từ ngày 21/08 đến 29/08/1944, đại diện của Liên Xô, Mỹ, Anh đã soạn thảo những đề xuất sơ bộ
về việc thành lập tổ chức quốc tế chung nhằm duy trì hòa bình và an ninh quốc tế Nhìn chung, về cơ bản đây là nền móng của Hiến chương sau này, tuy nhiên hội nghị chưa quyết định được một loạt vấn đề như thủ tục bỏ phiếu của Hội đồng Bảo an, quy chế của lãnh thổ quản thác, quy chế của Tòa án quốc tế… những vấn đề còn lại này, đã được giải
Trang 12số lượng thành viên tăng thêm rất nhiều, trong thời điểm hiện nay, LHQ là một tổ chức quốc tế lớn nhất có số lượng thành viên tham gia nhiều nhất1
1.1.2 Mục đích và nguyên tắc của Liên Hợp Quốc
Theo Hiến chương LHQ (1945), các quốc gia sáng lập đã quyết tâm thiết lập LHQ trở thành một tổ chức quốc tế toàn cầu với mục tiêu hàng đầu là đảm bảo một nền hòa bình và một trật tự thế giới bền vững Theo đó thì tại Điều 1 của Hiến chương, LHQ được thành lập gồm có các mục tiêu như sau:
- Mục tiêu hàng đầu là duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, và để đạt được mục đích
đó thì cần phải dùng những biện pháp tập thể có hiệu quả nhằm phòng ngừa và gạt bỏ mọi mối đe dọa hòa bình, trừng trị mọi hành động xâm lược hay phá hoại hòa bình khác, điều chỉnh hoặc giải quyết những vụ tranh chấp, những tình thế có tính chất quốc tế, có thể dẫn đến phá hoại nền hòa bình bằng biện pháp hòa bình theo đúng những nguyên tắc của công
lý và của luật pháp quốc tế Cơ quan phụ trách cho việc duy trì hòa bình, an ninh quốc tế
là Hội đồng Bảo an được quy định tại Điều 24 của Hiến chương LHQ
- Mục tiêu thứ hai là phát triển những mối quan hệ hữu nghị giữa các nước trên cơ
sở tôn trọng nguyên tắc dân tộc bình quyền, dân tộc tự quyết và dùng tất cả những biện pháp thích hợp khác để củng cố nền hòa bình thế giới Bởi nguyên tắc bình đẳng và quyền
tự quyết của các dân tộc được long trọng ghi nhận trong Hiến chương LHQ, tất cả các dân tộc đều có quyền tự do quyết định chế độ chính trị và theo đuổi sự phát triển về kinh tế, xã hội và văn hóa của mình mà không có bất kì sự can thiệp nào từ bên ngoài, nên tất cả các quốc gia có nghĩa vụ phải tôn trọng quyền này, phù hợp với các điều khoản của Hiến chương để cùng nhau phát triển các mối quan hệ hữu nghị ngày càng khăng khít
- Mục tiêu tiếp theo nữa là thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết những vấn đề quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hóa và nhân đạo, trong việc khuyến khích phát triển
và sự tôn trọng nhân quyền cùng những quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam, nữ, ngôn ngữ hay tôn giáo Cơ quan phụ trách mục tiêu này là
1 Kim Oanh Na, Giáo trình luật quốc tế, Khoa Luật – Đại học cần thơ, t.82
Trang 13GVHD: Th.S Thạch Huôn 5 SVTH: Thạch Thị Nguyệt
Hội đồng kinh tế - xã hội (Economic and Social Council - ECOSOC) Nhằm tạo những điều kiện ổn định và những điều kiện đem lại hạnh phúc chung, cần thiết cho quan hệ hòa bình và hữu nghị giữa các nước dựa trên sự tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và tự quyết của các dân tộc, LHQ sẽ khuyến khích:
+ Nâng cao mức sống, đảm bảo cho mọi người đều có công việc ổn định, có những điều kiện tiến bộ và phát triển trong lĩnh vực kinh tế và xã hội
+ Giải quyết những vấn đề quốc tế trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, y tế và những vấn
đề liên quan khác; cả sự hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực văn hóa và giáo dục
+ Tôn trọng và thực hiện quyền con người và quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, tôn giáo, ngôn ngữ
Trách nhiệm thực hiện những chức năng trên trước hết thuộc về Đại hội đồng LHQ Theo Điều 60 Hiến chương LHQ thì Hội đồng kinh tế và xã hội đặt dưới quyền của Đại hội đồng và được Đại hội đồng giao cho trách nhiệm trực tiếp thực hiện các chức năng về kinh tế - xã hội của LHQ Thiết nghĩ các quốc gia nên hợp tác lại với nhau trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ và đối với việc phát triển sự tiến bộ
về văn hóa và giáo dục trên thế giới Sự hợp tác để cùng nhau phát triển kinh tế là tư duy đúng đắn giữa các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển
Để trở thành một trung tâm để phối hợp hành động của các nước nhằm để đạt được những mục đích trên, LHQ cùng với các nước thành viên hành động theo những nguyên tắc được ấn định tại Điều 2 – Hiến chương LHQ được tóm tắt lại như sau:
Thông qua Hiến chương thì LHQ hoạt động theo 5 nguyên tắc cơ bản:
+ Nguyên tắc chủ quyền bình đẳng giữa các quốc gia và quyền dân tộc tự quyết Điều này, không những đã được Hiến chương khẳng định tại Điều 2, khoản 1 và tại Điều
1, khoản 2 mà tại Điều 55 cũng nhắc lại nguyên tắc này mà LHQ phải tuân theo trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội Như vậy, vấn đề độc lập, tự do và quyền tự quyết của các dân tộc được gắn liền với sự nghiệp hòa bình của LHQ, thừa nhận độc lập và quyền tự quyết của các dân tộc là một trong những yếu tố quan trọng nhất của một nền hòa bình lâu dài và an ninh vững chắc trên toàn thế giới
+ Nguyên tắc tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của tất cả các nước được quy định tại khoản 2, Điều 4 Hiến chương Điều này cho ta thấy rằng LHQ đặc biệt lên án các cuộc chiến tranh xâm lược và tuyên bố chiến tranh xâm lược là tội ác quốc tế lớn nhất
+ Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của bất kì quốc gia nào Quy định tại khoản 7, Điều 2 của Hiến chương, lịch sử đã chứng tỏ không ít dẫn chứng rằng: những hành động can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác là những nguồn gốc gây
Trang 14GVHD: Th.S Thạch Huôn 6 SVTH: Thạch Thị Nguyệt
nguy hại nhất cho tình trạng căng thẳng, những cuộc xung đột chiến tranh, phá hoại hòa bình và an ninh thế giới Do đó, Hiến chương LHQ đề cao nguyên tắc này và đồng thời lên án những hành động can thiệp vào công việc nội bộ của các nước
+ Nguyên tắc giải quyết hòa bình các vụ tranh chấp quốc tế quy định tại khoản 3, Điều 2 Hiến chương Biện pháp hòa bình là cơ sở để LHQ giải quyết các tranh chấp quốc
tế, bao gồm: đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án, sử dụng những tổ chức hoặc những hiệp định khu vực, hoặc bằng các biện pháp hòa bình khác tùy theo sự lựa chọn của mình (Điều 33, Hiến chương LHQ)
+ Nguyên tắc chung sống hòa bình và nhất trí giữa các nước lớn Có thể nói, đây là nguyên tắc có ý nghĩa thực tiễn quan trọng bậc nhất đối với đời sống chính trị quốc tế Một mặt, nó phản ánh thực tế tình hình chính trị thế giới, là sự thừa nhận thực tế về pháp
lý sự bình đẳng giữa hai hệ thống xã hội đối lập nhau (nhất là lúc bấy giờ) Mặt khác, nguyên tắc chung sống hòa bình giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau không phải chỉ dừng lại như một tuyên ngôn mà được đảm bảo trong thực tiễn, ở chỗ đó không để LHQ biến thành công cụ của một nhóm nước này hay một nhóm nước khác Đó cũng chính là một kinh nghiệm lịch sử của các nước lớn từ trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai, và kinh nghiệm đó có thể và cần thiết được tiếp tục trong thời kỳ hòa bình2
Các mục tiêu và nguyên tắc hoạt động trên của LHQ mang tính bao quát, phản ánh mối quan tâm toàn diện của các quốc gia Hoạt động của LHQ trong gần 60 năm qua cho thấy trọng tâm chính của LHQ là duy trì hòa bình, an ninh quốc tế và giúp đỡ sự nghiệp phát triển của các quốc gia thành viên
Ngoài hai cơ quan là Hội đồng bảo an, Hội đồng kinh tế - xã hội LHQ còn có các cơ quan quan trọng như: Đại hội đồng, hội đồng quản thác (cơ quan này đã ngừng hoạt động), Tòa án quốc tế, Ban thư ký, và các cơ quan chuyên môn khác như: WTO, WHO, UNESCO, UNICEP, FAO…
1.1.3 Vai trò của Liên Hợp Quốc
Ngoài vai trò chính là duy trì hòa bình và an ninh thế giới thì LHQ đã trở thành một diễn đàn hợp tác quốc tế đa phương, vừa hợp tác vừa đấu tranh nhằm duy trì hòa bình và
an ninh thế giới, nó giữ vai trò quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế và xung đột giữa các quốc gia với nhau
LHQ ra đời góp phần thúc đẩy các mối quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế về mọi mặt lĩnh vực của đời sống xã hội như: kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, giữa các quốc gia thành viên với nhau
2
Nguyễn Quốc Hùng, Nguyễn Hồng Quân, Liên Hợp Quốc và lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, năm 2008, tr.32 -35
Trang 15GVHD: Th.S Thạch Huôn 7 SVTH: Thạch Thị Nguyệt
So với Hội Quốc Liên, LHQ chứng tỏ đầy đủ hơn tính chất toàn cầu, đặc biệt là tính toàn diện: chương trình nghị sự không bó hẹp vào vấn đề duy trì hòa bình, an ninh, mà gồm cả việc thúc đẩy hợp tác vì phát triển kinh tế– xã hội của cộng đồng các dân tộc; bản thân hệ thống LHQ bao gồm hàng loạt các cơ quan, chương trình, quỹ, tổ chức chuyên môn tập trung vào mọi lĩnh vực đời sống của các quốc gia và quan hệ quốc tế ngoài lĩnh vực chính trị - quốc phòng, từ tiền tệ đến nông nghiệp, văn hóa, khoa học kĩ thuật…
Tổ chức LHQ ra đời thực sự có ý nghĩa to lớn trong đời sống chính trị quốc tế trong gần 60 năm qua Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu sự xuất hiện của các hoạt động ngoại giao đa phương hiện đại, một bước ngoặt quyết định trong lịch sử phát triển của nền ngoại giao đa phương nói chung
Tuy nhiên, sự ra đời của LHQ và bản thân Hiến chương LHQ tất nhiên chưa đủ để bảo đảm sự bình đẳng hoàn toàn và triệt để giữa các quốc gia lớn nhỏ Sự đóng góp của LHQ đối với hòa bình an ninh quốc tế trong gần 60 năm qua là rất đáng kể Thực tế cho thấy trong nhiều vấn đề, nhiều sự kiện, LHQ không thể hiện được vai trò của mình hoặc
có thể nói LHQ chưa làm tròn sứ mệnh của mình Các siêu cường vẫn có vai trò to lớn và nhiều khi giữ vai trò quyết định trong quá trình ra quyết định của LHQ, đặc biệt là cơ cấu
và cơ chế hoạt động của Hội đồng bảo an, Hiến chương LHQ và các cơ quan chuyên môn của LHQ3 Việt Nam cũng chính thức gia nhập vào tổ chức này vào ngày 20/07/1977, và trở thành thành viên thứ 149 của LHQ
1.2 Vai trò của Liên Hợp Quốc trong vấn đề chống tham nhũng
1.2.1 Cơ sở lý luận về vấn đề chống tham nhũng của Liên Hợp Quốc
Tham nhũng là một hiện tượng đang xuất hiện ở khắp nơi trên thế giới Nó xảy ra tại những quốc gia và khu vực rất khác biệt nhau về hệ tư tưởng, lịch sử, văn hóa, chế độ chính trị, xã hội…và đã trở thành một vấn đề nhức nhối đối với sự phát triển quốc tế, đồng thời còn gây tác động xấu tới sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của nhiều quốc gia, là một biểu hiện cho sự yếu kém của các thể chế kinh tế, xã hội, chính trị… dẫn tới những hậu quả hết sức nặng nề Vì vậy, để hiểu rõ hơn về vấn đề tham nhũng cũng như những nguyên nhân, hậu quả mà nó mang lại thì ta phải hiểu khái niệm của tham nhũng
1.2.1.1 Khái niệm về tham nhũng
Trước khi Công ước chống tham nhũng của LHQ được thông qua, trên thế giới đã
có nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế lớn bàn về đấu tranh chống tham nhũng như : Hội nghị quốc tế lần thứ I về chống tham nhũng diễn ra tại Washington (Mỹ) năm 1983; Hội nghị
3 Xem: Báo điện tử Chính phủ, VIỆT NAM VÀ LIÊN HỢP QUỐC nguồn:
http://chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/ChiTietVeToChucQuocTe?diplomacyOrgI d=123 [ngày truy cập 7/8/2014]
Trang 16GVHD: Th.S Thạch Huôn 8 SVTH: Thạch Thị Nguyệt
quốc tế bàn về các biện pháp đấu tranh chống tham nhũng tại Bắc Kinh năm 1995 Từ các hội nghị này khái niệm tham nhũng là vấn đề được đưa ra bàn thảo nhiều nhất và nó được
đưa ra với nhiều quan điểm khác nhau như: “Tham nhũng là sự lợi dụng quyền lực Nhà
nước để trục lợi riêng”; hoặc “ Tham nhũng bao hàm trong nội dung của nó kể cả tệ nạn hối lộ (nấp dưới hình thức “thù lao” để quyến rũ người đang mắc nợ) và sự chiếm đoạt bất hợp pháp tài sản công cộng và biến tài sản đó thành của riêng cá nhân.”4
Công ước của LHQ về chống tham nhũng là kết quả của nhiều nỗ lực đàm phán nhưng cũng không đưa ra định nghĩa về tham nhũng, mà chỉ có một số điều khoản mô tả các loại hành vi tham nhũng, đồng thời yêu cầu các quốc gia trong điều kiện thực tế của mình có trách nhiệm nội luật hóa để xử lý nghiêm những hành vi tham nhũng như: hối lộ, tham ô, biển thủ công quỹ hoặc hành vi của công chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, lợi dụng ảnh hưởng để trục lợi…
Công ước của LHQ về chống tham nhũng có tên tiếng Anh là:United Nations Convention Against Corruption
+ Theo tiếng Anh, Corruption có nghĩa là: Sự hư, thối, mục nát, sự đồi bại, tội lỗi,
hư hèn, sự mua chuộc, hối lộ…5
+ Theo tiếng Pháp, la Corruption có nghĩa là: Sự làm hỏng, sự mua chuộc, sự hư hỏng, sự đồi trụy6
Theo giải thích của từ điển tiếng Anh và tiếng Pháp (nêu trên), chúng ta khó có sự hình dung và nhận thức đầy đủ về tham nhũng cũng như bản chất và đặc điểm của hành vi tham nhũng
Theo Rick Stapenhurst và Shahrzad Sedigh định nghĩa, thì tham nhũng được hiểu theo nghĩa đơn giản nhất là sự lạm dụng quyền lực nhằm mục đích để đạt được lợi ích cá nhân của riêng mình hoặc vì lợi ích của một nhóm mà người ta phải trung thành với nó Hiện nay thuật ngữ “tham nhũng” này không những thường được áp dụng nhất cho sự lạm dụng quyền lực công của các chính khách hay công chức nhà nước, mà nó còn được mô tả như một hình mẫu ứng xử mà chúng ta có thể dễ dàng thấy được ở hầu như mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội.7
Theo Ngân hàng Thế giới và Cơ quan minh bạch quốc tế (Transparency International - TI) thì tham nhũng là một hiện tượng toàn cầu và cũng được định nghĩa là
4 GS.TS Nguyễn Xuân Yêm, PGS.TS Nguyễn Hòa Bình, TS Bùi Thanh Mai (chủ biên), phòng chống tham nhũng
ở Việt Nam và thế giới, Nxb CAND, Hà Nội 2007, Tr.20 [ngày truy cập 14/9/2014]
5 Võ Thiết Long,Trần Ngọc Hoàng, Từ điển Anh Việt, Nxb Thanh Niên, 2002, tr.377
6 Lê Thanh Phương và nhóm cộng tác, Từ điển Pháp-Việt, Việt-Pháp, Nxb Văn hóa thông tin, 2007, tr.197 [ngày truy cập 7/8/2014]
7
Rick Stapenhurst và Sahr J Kpundeh, Kiềm chế tham nhũng, hướng tới một mô hình xây dựng trong sạch quốc gia, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, năm 2002, tr.1 [ngày truy cập 7/8/2014]
Trang 17GVHD: Th.S Thạch Huôn 9 SVTH: Thạch Thị Nguyệt
hành vi “lạm dụng quyền lực nhà nước để trục lợi cá nhân” Điều này cho chúng ta thấy rằng tham nhũng từ lâu đã ngấm ngầm bòn rút nền kinh tế một cách trầm trọng Thực tế cho ta thấy, xã hội phát triển ổn định là có sự đóng góp tích cực của nền kinh tế bền vững
và trong sạch không có tiêu cực xảy ra, và ngược lại nếu kinh tế chậm phát triển và không
có một đường lối đúng đắn để khôi phục nó thì sẽ gây ra hậu quả khó lường Đặc biệt là
nó sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống sinh hoạt của người dân, và nguy cơ dẫn đến tình trạng một xã hội nghèo nàn là rất dễ xảy ra, điều này ảnh hưởng không nhỏ tới thể chế chính trị, kinh tế, xã hội của một quốc gia
Như vậy, có khá nhiều khái niệm khác nhau để giải thích hành vi nguy hiểm này, nhưng nhìn chung đều cho chúng ta thấy một cách hiểu về tham nhũng là hiện tượng xã hội tiêu cực được thể hiện bằng những hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi cá nhân hoặc cho người khác dưới bất kỳ hình thức nào, gây thiệt hại cho tài sản của tập thể, của công dân, hoặc gây thiệt hại cho hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước, tổ chức
xã hội và lợi ích hợp pháp của công dân
1.2.1.2 Các yếu tố dẫn đến hành vi tham nhũng
- Có thể nói, nghèo đói là gốc rễ, là nguyên nhân hàng đầu đã nuôi dưỡng cho tham nhũng phát triển nó tạo ra những động cơ tiêu cực ở các quan chức nhà nước, kể cả các doanh nhân và hộ gia đình Trong thực tế tham nhũng trong cơ quan nhà nước thường cao hơn so các khu vực tư nhân, đó là bởi vì đồng lương của những vị này thường khá thấp so với khu vực kinh tế tư nhân và đôi khi nó lại là thu nhập mang tính không ổn định, thường xuyên, đồng thời họ lại phải đối mặt với nhiều nguy cơ đau ốm, tai nạn, lẫn
cả thất nghiệp nên động cơ vòi vĩnh tiền bạc đối với những vị này là khá phổ biến
+ Đối với doanh nhân, động cơ theo đuổi lợi nhuận thông qua tham nhũng là rất cao bởi vì họ luôn khan hiếm vốn, người lao động có kĩ năng thấp, nhu cầu hàng hóa tiêu dùng thấp và kèm theo các điều kiện khác đã làm giảm cơ hội bước tiến trên thị trường + Đối với hộ gia đình thì động cơ chi tiền hối lộ là rất lớn vì hàng hóa và dịch vụ thường hay khan hiếm (thuốc men) và các nhu cầu thiết yếu khác không được thỏa mãn
Từ đó, nó làm suy yếu các cơ chế thúc đẩy tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của chính phủ Nó khiến cho mọi người luôn tập trung lo vào các cuộc mưu sinh nên họ
có ít thời gian và sức lực để theo dõi tính minh bạch của chính phủ Vì vậy, các cấp độ phát triển thấp làm giảm chất lượng giáo dục và trình độ dân trí và kéo theo đó là sự hạn chế khả năng của công dân trong việc theo dõi hoạt động của các quan chức chính phủ Trong chính phủ, các cấp độ phát triển thấp cũng làm giảm nguồn lực dành để thực thi và duy trì các cơ chế theo dõi và giám sát
- Cơ chế làm việc không phù hợp với việc tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của chính phủ cũng tạo điều kiện để tham nhũng gia tăng Sự thiếu minh bạch, cùng
Trang 18GVHD: Th.S Thạch Huôn 10 SVTH: Thạch Thị Nguyệt
với cơ chế giám sát không phù hợp, thực thi pháp luật yếu kém và hệ thống bầu cử thiếu hiệu quả cũng làm giảm cơ hội phát hiện tham nhũng và thúc đẩy cách tính toán chi phí hiệu quả có lợi cho tham nhũng
- Trong một khung thể chế có khả năng giải trình yếu kém, dịch vụ dân sự thiếu chuyên nghiệp sẽ tạo điều kiện thuận lợi để tham nhũng phát triển Hiện tượng lạm dụng chức quyền, ô dù, quan hệ quen biết đã hướng người lao động tới việc trao đổi các ưu đãi
cá nhân nhằm thỏa mãn mong muốn của giới chủ hơn là hướng tới tăng cường tính hiệu quả và sự trả lương công bằng cho công việc của họ
- Sự tham gia quá sâu của cơ quan nhà nước vào nền kinh tế cũng tạo điều kiện cho tham nhũng phát triển Việc này sẽ trực tiếp tạo ra hàng loạt các chính sách có một khoảng cách giả tạo giữa cung và cầu, hoặc cho phép các quan chức tự làm theo ý muốn của mình cũng là nguồn gốc gây ra tham nhũng
- Sự tập trung hóa quyền lực kinh tế trong tay các tổ chức độc quyền tại một số nước đang phát triển và đang trong quá trình chuyển đổi– là những chủ thể sẽ gây ảnh hưởng chính trị đối với chính phủ nhằm mục đích phục vụ cho lợi ích của cá nhân là nguyên nhân gây ra nguồn tham nhũng nghiêm trọng Hiện tượng này đặc biệt đúng tại các nước có nguồn lực tự nhiên dồi dào, nơi mà các nhà độc quyền tư nhân ví dụ như về dầu mỏ và khí đốt có thể nắm trong tay quyền lực kinh tế và chính trị, dẫn tới các hình thức tham nhũng khác nhau như: trốn thuế, mở tài khoản hải ngoại, mua giấy phép, mua phiếu bầu và tìm mọi cách hạn chế cạnh tranh, hạn chế các nhà cung cấp khác gia nhập thị trường Cách thức để giải quyết loại tham nhũng này là xóa bỏ độc quyền, dỡ bỏ các rào cản thị trường và khuyến khích cạnh tranh.8
Nhìn chung các nguyên nhân dẫn đến các hành vi tham nhũng vừa đề cập ở trên là điều xuất phát từ nhu cầu cuộc sống của người dân, từ viên chức, công chức hay cán bộ trong cơ quan nhà nước thì họ luôn mong muốn có một cơ chế đãi ngộ phù hợp để trang trải cuộc sống nên vấn đề cải cách tiền lương luôn là rất cần thiết Ngoài ra, hệ thống thể chế nhà nước cần phải trong sạch và tăng cường tính minh bạch để công tác phòng chống tham nhũng hoạt động một cách hiệu quả để góp phần đẩy lùi nạn tham nhũng, xử lý nghiêm khắc các hành vi phạm tội Có các giải pháp phù hợp để tạo thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đồng thời nâng cao mức sống của người dân
1.2.1.3 Hậu quả do tham nhũng gây ra
Hiện nay, tham nhũng đã len lõi vào từng quốc gia trên thế giới, dù nước đó theo chế độ nào, thì tham nhũng vẫn tồn tại và sẽ bị nó kiềm hãm sự phát triển, sự sống còn,
8
Rick Stapenhurst, Niall Jonhston và Riccardo Pelizzo, Vai trò của Nghị viện trong hạn chế tham nhũng, tr 17, tr.18, tr.19 [ngày truy cập 07/08/2014]
Trang 19GVHD: Th.S Thạch Huôn 11 SVTH: Thạch Thị Nguyệt
đến nền văn minh của một quốc gia và dân tộc Tham nhũng gây lãng phí lớn về nguồn tài nguyên kinh tế, làm lung lay cơ sở ổn định chính trị của một đất nước, phá hoại trực tiếp đến việc thực thi pháp luật, cản trở sự phát triển kinh tế, đầu độc không khí xã hội
- Tham nhũng có tác động rất tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng kinh tế thông qua nhiều kênh như: Các chính sách sai lầm, cùng với các tiến trình không được dự báo và chi tiêu công bị bóp méo đều làm tổn hại đến phát triển kinh tế vĩ mô, ảnh hưởng tiêu cực đến quyền sở hữu tài sản, giảm cạnh tranh, phân bổ nguồn lực không hiệu quả, làm cho
cơ sở hạ tầng bị xuống cấp và làm giảm chi tiêu cho giáo dục
- Trong hoạt động kinh doanh, tham nhũng đòi hỏi mất nhiều thời gian cho công việc quản lý vì phải đàm phán nhiều hơn với các quan chức nhà nước Kết quả là nó sẽ phá hoại đầu tư và buộc các doanh nghiệp phải tham gia vào nền kinh tế phi chính thức Khi việc tìm kiếm quan hệ mang lại nhiều lợi ích hơn so với hoạt động sản xuất thì việc phân bổ tài năng trong nền kinh tế sẽ không mang lại hiệu quả
- Ngoài ra, tham nhũng còn gây ra các bất lợi cho những người nghèo, đặc biệt đây
là nhóm đối tượng sẽ phải gánh chịu các hậu quả nặng nề mà tham nhũng mang lại nhiều nhất cụ thể: các rào cản hành chính và quyền sở hữu tài sản bị suy yếu sẽ gây khó khăn cho người nghèo trong công cuộc thoát khỏi đói nghèo nhờ vào hoạt động kinh doanh quy mô nhỏ
+ Nó còn ngăn cấm người nghèo được trang bị các công cụ để thoát nghèo Tại những nơi pháp luật yếu kém, họ không thể nhờ cậy vào hệ thống các cơ quan tư pháp để bảo vệ quyền lợi khi có sự việc phát sinh mà bản thân họ không thể giải quyết được Nếu
họ muốn được các cơ quan này giải quyết thì phải cam kết lâu dài với một hoạt động kinh
tế mang lại một lợi ích cho họ Đặc biệt, họ không thể đối phó được với các quan chức nhà nước sai phạm khi mà tiền bạc và quyền lực là những yếu tố có thể gây ảnh hưởng tới các quyết định tư pháp
+ Các hoạt động bóp méo về kinh tế, chính trị, xã hội ngày càng làm gia tăng sự bất bình đẳng trong xã hội và làm giảm thu nhập của những người nghèo
- Tham nhũng còn hủy hoại các hoạt động cung cấp dịch vụ công như: chăm sóc sức khỏe y tế, giáo dục đều là những dịch vụ rất cần thiết và quan trọng đối với cuộc sống của người nghèo Kéo theo đó, là với các mức thu nhập của chính phủ thấp cộng với sự phân tán chi tiêu cho các hoạt động khác như giáo dục quốc phòng, sự rò rỉ vốn cũng như
rò rỉ các nguồn cung trong hệ thống giáo dục và chăm sóc y tế đã góp phần làm giảm giá trị của các dịch vụ công cộng Tại những nơi mà quan chức đòi hỏi hối lộ để cung cấp các dịch vụ, thì những người nghèo thậm chí sẽ không được tiếp cận ngay cả với các dịch vụ
có chất lượng thấp
Trang 20GVHD: Th.S Thạch Huôn 12 SVTH: Thạch Thị Nguyệt
- Tham nhũng còn tham gia hủy hoại các nỗ lực bảo vệ môi trường vì nó đã làm vô hiệu hóa các khoản tiền, các chính sách, hoặc các điều luật về thực hiện bảo vệ môi trường Trong chính trị, tham nhũng làm xói mòn tính hợp pháp của những người đứng đầu thể chế và dẫn đến sự bất mãn của quần chúng đối với chế độ
- Ngoài ra, tham nhũng còn tạo điều kiện thuận lợi cho buôn lậu, rửa tiền và các tội phạm có tổ chức phát triển Tham nhũng không chỉ góp phần làm suy yếu nền kinh tế chính trị, làm tăng sự bất bình đẳng, hủy hoại môi trường, tăng tính bất hợp pháp của các thủ lĩnh chính trị, tăng hoạt động các tội phạm có tổ chức và còn làm tăng tính phân cực trong xã hội, trong các trường hợp cực đoan, tham nhũng còn có thể làm nổ ra bạo động chính trị và xã hội9
1.2.1.4 Cơ quan phụ trách chống tham nhũng của Liên Hợp Quốc
Cơ quan phụ trách chống tham nhũng của Liên Hợp Quốc là Văn phòng về Ma túy
và Tội phạm của LHQ (United Nations Office on Drugs and Crime - UNODC) Cơ quan này hoạt động theo chức năng và nhiệm vụ bao gồm: các Chương trình toàn cầu phòng, chống ma túy (sản xuất, buôn bán các tội phạm liên quan đến ma túy), chống tội phạm có
tổ chức và xuyên quốc gia, chống buôn bán người, chống khủng bố, chống rửa tiền, và đặc biệt là còn có chức năng chống tham nhũng.10
Theo Điều 6 của UNCAC thì cơ quan phòng, chống tham nhũng là những cơ quan được thành lập bởi quốc gia thành viên đó, cơ quan này được thành lập phải phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước mình và phải có trách nhiệm phòng ngừa tham
nhũng bằng các biện pháp như:
- Thi hành các chính sách nói tại Điều 511, và khi thích hợp, giám sát và phối hợp việc thi hành những chính sách đó
- Nâng cao và phổ biến kiến thức về phòng ngừa tham nhũng
Các cơ quan này sẽ được chính quốc gia của mình đảm bảo sự độc lập cần thiết trên
cơ sở phù hợp với nguyên tắc cơ bản của nước mình nhằm giúp nó có thể thực hiện được chức năng của mình một cách có hiệu quả như việc cung cấp các phương tiện vật chất, đội ngũ cán bộ chuyên trách cần thiết cũng như việc đào tạo đội ngũ này mà không phải chịu sự ảnh hưởng trái pháp luật nào
Điều 36 UNCAC thì nêu rõ ràng cụ thể về việc thành lập một hoặc một số cơ quan chuyên trách hoặc đội ngũ cán bộ đấu tranh chống tham nhũng thông qua việc thực thi
Trang 21GVHD: Th.S Thạch Huôn 13 SVTH: Thạch Thị Nguyệt
pháp luật, và đội ngũ cán bộ này sẽ được đào tạo và được cung cấp các phương tiện vật chất thích hợp để thực hiện nhiệm vụ theo các nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật quốc gia thành viên
Ví dụ: Ở Việt Nam thì có thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng Ở Hồng Công (Trung Quốc) thì thành lập Ủy ban độc lập chống tham nhũng (ICAC) năm 1974 Tiếp đến là Singapo, đất nước có ít tham nhũng nhất trên thế giới, điển hình là Cục điều tra tham nhũng (CPIB)12
1.2.2 Sự cấp bách của việc thành lập một tổ chức quốc tế chống tham nhũng toàn cầu
1.2.2.1 Nhu cầu hợp tác quốc tế về mức độ nghiêm trọng của chống tham nhũng
xuyên quốc gia
Hiện nay, tham nhũng không còn chỉ dừng lại ở biên giới của một quốc gia mà ngược lại nó đã trở thành vấn đề toàn cầu và có nhiều điểm chung giữa các nước khác nhau trên thế giới Vì vậy, vấn đề hợp tác xuyên quốc gia để đẩy lùi ngăn chặn tình trạng này xảy ra là một việc làm hết sức cần thiết Trong đó, đấu tranh chống tham nhũng đòi hỏi phải giải quyết tận gốc những nguyên nhân đã gây ra nó, đặc biệt là tham nhũng đã lan ra trên diện rộng thì công tác đấu tranh tham nhũng thông qua các hoạt động thanh tra
và cưỡng chế cho từng trường hợp thì vẫn chưa đủ mạnh để khống chế tham nhũng Thực hiện sự hợp tác quốc tế đa phương hoặc song phương giữa các quốc gia với nhau để góp phần ngăn chặn tham nhũng là rất cần thiết Việc làm này nhằm tăng cường tính cạnh tranh trong nền kinh tế, các minh bạch chính trị, tăng cường sự tham gia của xã hội dân sự vào các quá trình hoạch định, thực thi và theo dõi việc thực thi chính sách, khuyến khích các sáng kiến cải thiện năng lực Các cải cách này tập trung vào mối quan
hệ giữa nhà nước, xã hội dân sự, hệ thống chính trị và hành chính công Đó là tất cả những công việc cần phải làm để thực hiện chiến lược toàn diện nhằm đấu tranh chống tham nhũng có hiệu quả
Công việc hợp tác chống tham nhũng giữa các quốc gia thông qua việc liên kết các nghị viện lại với nhau, thiết nghĩ rằng đó là việc làm cần thiết và mang tính ưu việt sự đại diện và hợp tác nghị viện ở cấp khu vực hoặc trên toàn cầu có thể hỗ trợ cho những
nỗ lực chống tham nhũng của các nhà lập pháp Tổ chức các nghị viện chống tham nhũng toàn cầu (GOPAC) và mạng lưới nghị viện trong Ngân hàng thế giới (PNoWB) đã chứng
tỏ cho điều đó là đúng
Từ những hậu quả nghiêm trọng mà tham nhũng mang lại nên việc mở rộng hợp tác quốc tế chống tham nhũng là cần thiết Theo ước tính của OECD mỗi năm trên thế
12
Rick Stapenhurst, Sahr J Kpundeh, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, năm 2002, tr 65, tr 68, tr 81, tr.83
Trang 22GVHD: Th.S Thạch Huôn 14 SVTH: Thạch Thị Nguyệt
giới có khoảng 80 tỷ đô la Mỹ được trao tay nhờ vào tham nhũng, khiến nó trở thành một vấn đề có tính cạnh tranh toàn cầu cũng như là một vấn đề nội bộ, đặc biệt là trong xu thế toàn cầu hóa như ngày nay
Do đó, các công ước quốc tế cũng tăng cường cam kết chống tham nhũng Việc kí kết các công ước chống tham nhũng khu vực và quốc tế đã tạo áp lực kép buộc phải tiến hành cải cách và bộc lộ các bước tiến trong đấu tranh chống tham nhũng Việc theo dõi các bước tiến này là một đòi hỏi trong phần lớn các công ước Công ước quốc tế lớn nhất trong vấn đề này là UNCAC, Công ước về chống hối lộ của các quan chức nhà nước nước ngoài của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), Hiệp ước chống tham nhũng của Tổ chức nhà nước Châu Âu liên Mỹ, Hiệp ước về ngăn chặn và đấu tranh chống tham nhũng của Liên minh Châu Phi và sáng kiến chống tham nhũng cho khu vực Châu Á Thái Bình Dương của Ngân hàng phát triển Châu Á và OECD.13
1.2.2.2 Giải quyết và khắc phục các hậu quả từ sau tham nhũng xảy ra
- Tăng cường năng lực thể chế tư pháp là phương thức chính để kiềm chế tham nhũng vì các quan chức cưỡng chế thi hành luật thường do các nhóm quyền lực giật dây, điều đó có nghĩa là các quan chức này, không có khả năng cưỡng chế thi hành luật mà chỉ hành động vì lợi ích của các nhóm quyền lực cụ thể
Như vậy, nhờ xây dựng năng lực và thực hiện việc giám sát, không chỉ tư pháp độc
lập mà bộ máy lập pháp cũng có thể đảm bảo sao cho quyền hành pháp không bị lạm dụng và đưa ra hình phạt nếu nó bị lạm dụng Bên hành pháp cũng có thể thực hiện theo dõi giám sát thông qua các cơ quan hoặc thể chế như Văn phòng thanh tra hay các cơ quan chống tham nhũng
- Một loạt các cải cách chống tham nhũng nữa là tập trung vào quản lý nội bộ các nguồn lực nhà nước nhằm giảm động cơ và cơ hội thực hiện hành vi tham nhũng
+ Các cải cách này bao gồm: xây dựng chính quyền dựa trên người tài, thực hiện chế độ lương bổng phù hợp trong hành chính công, tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý tài khóa, tái cơ cấu phân phối dịch vụ và phân cấp các chức năng quản lý nhà nước
+ Quản lý tài chính công khai và trong sạch đó có thể là: báo cáo chi tiết và đúng hạn các hoạt động tài chính, ngân sách nhất quán, cấm vượt chi tiêu ngân sách, minh bạch trong sử dụng chi tiêu công, thủ tục chi tiêu minh bạch và cạnh tranh
- Việc thu ngân sách cần phải công khai, thủ tục hải quan và xuất khẩu phải được cải cách để hướng tới giảm và đơn giản hóa các sắc thuế và hạn chế thương mại, đồng
13 Rick Stapenhurst, Niall Jonhston và Riccardo Pelizzo, Vai trò của Nghị viện trong hạn chế tham nhũng, tr 9, tr.50 [ngày truy cập 07/08/2014]
Trang 23GVHD: Th.S Thạch Huôn 15 SVTH: Thạch Thị Nguyệt
thời phải chuyên nghiệp hóa hoạt động thuế và hải quan Việc nới lỏng kiểm soát và mở rộng các thị trường, khởi xướng cải cách thuế và cải thiện quản lý chi tiêu công cộng, cũng góp phần quan trọng trong phòng chống tham nhũng
- Việc cải cách tiền lương trong khu vực nhà nước và tư nhân có thể giảm bớt tham nhũng Tuy nhiên, thay vào đó là cần có các cải cách toàn diện, ví dụ như tăng cường trách nhiệm giải trình đi kèm với cải cách tiền lương14 Việc đảm bảo được một mức tiền lương thỏa đáng, đủ sống cho công chức để họ không tìm cách kiếm thêm thu nhập bằng các khoản hối lộ hay cưỡng đoạt Việc này, cũng giúp được cho các cơ quan nhà nước thu hút được nguồn nhân lực có chất lượng ở mức tối đa và hạn chế được tham nhũng
Ngoài các giải pháp chống tham nhũng ở trên thì việc giải quyết các vấn đề sau khi tham nhũng đã xảy ra bằng cách cưỡng chế nó là một trong những cách thức kém hiệu quả nhất để giảm vấn đề này Tuy nhiên, việc phê chuẩn và cưỡng chế thực thi các bộ luật có thể có hiệu ứng răng đe mạnh mẽ, và là những yếu tố bổ sung cần thiết cho những
ra được những hình thức xử phạt mà chi phí của nó vượt quá lợi ích của tham nhũng
Để góp phần ngăn chặn và khắc phục tham nhũng một cách hiệu quả thì việc thành lập một tổ chức có nhiệm vụ điều tra hay xử phạt tham nhũng đòi hỏi sự đầu tư đầy đủ các phương tiện – cả con người và tài chính để tổ chức này hoàn thành được sứ mệnh của mình Cùng với đó là sự cam kết của những đại biểu quốc hội cao cấp được bầu chọn và của những quan chức công cộng khác là rất quan trọng, như kinh nghiệm của Bôlivia, Hồng Công và Singapo đã chứng tỏ điều đó Nếu những người cai trị một xã hội mà thiếu
ý chí chính trị trong việc tránh tham nhũng và tạo ra biến đổi, thì những cải cách đó thực
sự khó lòng thực hiện được và chắc chắn không thể duy trì.15
Tóm lại: Tham nhũng là một vấn đề rất nhạy cảm đối với xã hội hiện nay, nó là
một trong một loạt các vấn đề của sự phát triển, cản trở sự tăng trưởng kinh tế, gây bất ổn chính trị, phân hóa giàu nghèo trong xã hội…liên hệ mật thiết đến đời sống của nhân dân nên việc kiểm soát và ngăn chặn tham nhũng xảy ra là công việc rất cấp bách đòi hỏi phải
có một quá trình lâu dài cùng những chiến lược đúng đắn và đặc biệt phải có được sự tin tưởng và ủng hộ của nhân dân, những chương trình chống tham nhũng quá tham vọng và
14
Rick Stapenhurst, Niall Jonhston và Riccardo Pelizzo,Vai trò của Nghị viện trong hạn chế tham nhũng, tr.19, 23
15 Rick Stapenhurst, Sahr J Kpundeh, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, năm 2002, tr 7, tr.8, tr.9
Trang 24GVHD: Th.S Thạch Huôn 16 SVTH: Thạch Thị Nguyệt
luôn thay đổi một sớm một chiều thì công tác phòng chống tham nhũng sẽ không thành công
Trang 25ra Để tìm hiểu rõ nội dung Công ước phòng chống tham nhũng người viết sẽ tập trung phân tích những quy định trên ở chương này
2.1 Công ƣớc chống tham nhũng của Liên Hợp Quốc năm 2003
2.1.1 Nguyên nhân tất yếu dẫn đến sự ra đời của công ước
Trong những năm gần đây, cùng với xu thế toàn cầu hóa tham nhũng ngày càng lan rộng và trở thành vấn đề nhức nhối, đe dọa đến tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới Quan chức tham nhũng ở quốc gia này thường chọn quốc gia khác để che giấu tài sản hoặc lẩn tránh sự trừng phạt của pháp luật khi bị phát hiện Vì vậy, việc hình thành một khuôn khổ pháp lý quốc tế cho sự hợp tác giữa các quốc gia trên phạm vi quốc tế để ngăn chặn các hành vi tham nhũng và những tác hại của các hành vi này là một yêu cầu cấp thiết của cả cộng đồng quốc tế Trong bối cảnh đó, ngày 04/12/2001, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua nghị quyết số 55/61 thành lập Ủy ban lâm thời về đàm phán soạn thảo Công ước về chống tham nhũng Công ước được Liên Hợp Quốc thông qua ngày 10/01/2003 tại trụ sở Liên Hợp Quốc ở New York (Mỹ).16
Từ tháng 2/2002 đến tháng 10/2003, Ủy ban soạn thảo Công ước đã họp 7 phiên với sự tham dự của trên 100 quốc gia và gần 30 tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ để thảo luận và xây dựng dự thảo Công ước Tại nghị quyết số 57/169 ngày 18/12/2002, Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc đã chấp nhận đề nghị của Chính phủ Mê-hi-cô về việc đăng cai Hội nghị chính trị cao cấp về kí kết Công ước tại Thành phố Mêrida từ ngày 9/12 đến ngày 11/12/2003, sau đó là kí tại trụ sở New York đến ngày 9/12/2005 Hội nghị có 126 nước tham gia, trong đó, nước chủ nhà Mê-hi-cô tham gia cấp nguyên thủ quốc gia, đại đa
số các nước cử đoàn do cấp bộ trưởng hoặc thứ trưởng làm trưởng đoàn Tham dự Hội nghị với tư cách quan sát viên gồm đại diện các cơ quan chuyên môn của Liên Hợp Quốc,
90 tổ chức quốc tế, tổ chức khu vực và tổ chức phi chính phủ17 Đến ngày 14/12/2005, Công ước có hiệu lực thi hành Tính đến ngày 20/6/2010, Công ước có 143 nước là thành viên tham gia kí kết Việt Nam cũng chính thức kí gia nhập Công ước này vào ngày 10/12/2003 và có bảo lưu kèm theo văn kiện phê chuẩn, đến ngày 18/9/2009 Công ước này có hiệu lực thi hành với Việt Nam Theo thông tin của Liên Hợp quốc, UNCAC là một trong 19 điều ước quốc tế trực tiếp về các vấn đề hình sự (Penal Matters) được đăng
16 Hoàng Phước Hiệp, Đặc san tuyên truyền pháp luật, số 09/2010, năm 2010, tr.1, [ngày truy cập 19/8/2014]
17 http://ttt.binhdinh.gov.vn/newsdetail.php?newsid=358&id=80 [ngày truy cập 19/8/2014]
Trang 26GVHD: Th.S Thạch Huôn 18 SVTH: Thạch Thị Nguyệt
ký lưu chiểu tại Liên Hợp quốc Việc này cho thấy, Công ước là một văn bản pháp lý quốc
tế quan trọng được nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế quan tâm, tạo cơ sở cho việc hợp tác có hiệu quả trong phòng ngừa và chống tham nhũng
2.1.2 Nội dung công ước
Cấu trúc chung của Công ước gồm có: Lời nói đầu, 8 chương, 71 Điều, cụ thể: Chương 1: Những quy định chung;
Chương 2: Các biện pháp phòng ngừa;
Chương 3: Hình sự hóa và thực thi pháp luật;
Chương 4: Hợp tác quốc tế;
Chương 5: Thu hồi tài sản;
Chương 6: Hỗ trợ kĩ thuật - trao đổi thông tin;
Chương 7: Các cơ chế thi hành Công ước;
Chương 8: Các điều khoản cuối cùng
2.1.2.1 Mục đích Công ước
Lời nói đầu ghi nhận tính chất nguy hiểm, mức độ nghiêm trọng và những hậu quả tiêu cực do tham nhũng gây ra đối với sự ổn định chính trị, an ninh xã hội, xói mòn thể chế các giá trị dân chủ, đạo đức, công lý và gây tổn hại đến sự phát triển bền vững và chế
độ của các quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế Vì vậy, các quốc gia cần phải quyết tâm phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng bằng hệ thống các biện pháp toàn diện, đa dạng và hữu hiệu
Đồng thời, các quốc gia thành viên tham gia Công ước cần phải tăng cường hợp tác quốc tế về phòng và chống tham nhũng thông qua hợp tác, điều tra, truy tố, trao đổi thông tin, thu hồi tài sản, trợ giúp kĩ thuật, gồm cả hỗ trợ tăng cường năng lực thể chế nhằm ngăn ngừa và kiểm soát tham nhũng là yêu cầu cấp thiết Ngoài ra, Công ước còn thừa nhận các nguyên tắc về việc bảo đảm đúng các thủ tục trong các hoạt động tố tụng hình
sự, dân sự, hoặc hành chính liên quan đến việc phán quyết các quyền tài sản, đồng thời cũng ghi nhận các nguyên tắc quản lý đúng đắn công vụ như về tài sản công, công bằng, trách nhiệm và sự bình đẳng trước pháp luật cũng như sự cần thiết phải bảo đảm sự liêm chính và khuyến khích việc xây dựng văn hóa chống tham nhũng
Tại Điều 1 của Công ước có tuyên bố về mục đích rằng: “Mục đích chung nhất của Công ước là hình thành một khuôn khổ pháp lý toàn cầu tạo điều kiện cho sự hợp tác quốc
tế và trợ giúp kĩ thuật, kể cả việc thu hồi tài sản giữa các quốc gia trong hoạt động phòng, chống tham nhũng thông qua việc tăng cường hệ thống các biện pháp phòng và chống hữu hiệu Hơn nữa tuyên bố còn nhấn mạnh mục đích sự liêm chính trong chế độ làm việc và quản lý đúng đắn công vụ cùng với tài sản công” Điều này, cho ta thấy các mục đích của
Trang 27GVHD: Th.S Thạch Huôn 19 SVTH: Thạch Thị Nguyệt
Công ước luôn nhấn mạnh và thúc đẩy sự hợp tác quốc tế về chống tham nhũng cùng với các biện pháp hữu hiệu, đồng thời quy định trách nhiệm trong việc quản lý tài sản của nhà nước một cách đúng đắn, liêm chính
2.1.2.2 Các đối tượng tham nhũng
Theo quy định tại Điều 2 của Công ước thì các đối tượng sau đây dễ phát sinh tham nhũng, đó là:
Công chức: là bất kỳ người nào giữ chức vụ về lập pháp, hành pháp hoặc tư pháp của một Quốc gia thành viên do được bầu hay bổ nhiệm, làm việc không thời hạn hoặc có thời hạn, được trả lương hay không được trả lương, bất kể cấp bậc của người đó Hoặc là bất kì người nào thực hiện chức năng nhà nước, kể cả cho cơ quan hay doanh nghiệp nhà nước, hoặc cung cấp một dịch vụ công, theo quy định trong pháp luật quốc gia của quốc gia thành viên và được áp dụng trong lĩnh vực pháp luật liên quan của quốc gia thành viên
đó, và bất kỳ người nào được định nghĩa là “công chức” trong pháp luật quốc gia Tuy nhiên, đối với một số biện pháp cụ thể được quy định trong Chương II của Công ước này thì “công chức” có nghĩa là bất kì người nào thực hiện chức năng nhà nước hay cung cấp một dịch vụ công như được định nghĩa trong pháp luật quốc gia của quốc gia thành viên
và được áp dụng trong lĩnh vực pháp luật liên quan của quốc gia thành viên đó
Công chức nước ngoài: có nghĩa là bất kì người nào giữ một chức vụ về lập pháp, hành pháp, hành chính hay tư pháp của một quốc gia nước ngoài, bất kể do bầu hay được
bổ nhiệm; và bất kì người nào thực hiện một chức năng nhà nước cho một quốc gia nước ngoài, kể cả cho cơ quan hay doanh nghiệp nhà nước
Công chức của tổ chức quốc tế công: có nghĩa là công chức dân sự quốc tế hoặc bất
kì người nào khác được một tổ chức quốc tế như vậy ủy quyền hoạt động nhân danh tổ chức đó
Tóm lại, công chức, công chức nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế công là những người có vị trí việc làm nhất định trong cơ quan nhà nước, thông qua việc bầu hay
bổ nhiệm, có hưởng lương hay không hưởng lương mà được Công ước quy định là tùy theo pháp luật quốc gia mà nước đó họ định nghĩa là các loại nhóm công chức
2.1.2.3 Các hành vi tham nhũng
Các hành vi tham nhũng sau đây được Công ước đặt nghĩa vụ cho các quốc gia thành viên phải hình sự hóa từ Điều 15 đến Điều 25 và sẽ được quốc gia thành viên áp dụng các biện pháp lập pháp và biện pháp cần thiết để quy định thành tội phạm như sau:
- Hành vi hối lộ công chức quốc gia, công chức nước ngoài hoặc công chức của tổ chức quốc tế công, và hành vi lợi dụng ảnh hưởng để trục lợi khi thực hiện một cách cố ý
là các hành vi sau đây:
Trang 28GVHD: Th.S Thạch Huôn 20 SVTH: Thạch Thị Nguyệt
+ Hứa hẹn, chào mời hay cho, trực tiếp hay gián tiếp, công chức, công chức nước ngoài hoặc công chức của tổ chức quốc tế công một lợi ích không chính đáng cho bản thân công chức ấy hay cho một người hoặc người hay tổ chức khác, để công chức đó làm hoặc không làm một việc trong quá trình thi hành công vụ, nhằm có được hoặc duy trì công việc kinh doanh hay lợi thế không chính đáng khác liên quan đến hoạt động kinh doanh quốc tế
+ Hành vi đòi hoặc chấp nhận một cách trực tiếp hay gián tiếp của công chức một lợi ích không chính đáng cho bản thân họ hay cho người hay cho tổ chức khác, để công chức đó làm hoặc không làm một việc trong quá trình thi hành công vụ
- Hành vi lợi dụng ảnh hưởng để trục lợi là hành vi lợi dụng sự ảnh hưởng của mình để công chức nhằm làm một việc có lợi ích hoặc làm bất kì lợi ích không chính đáng cho chính bản thân người đó hay người khác thông qua các biểu hiện như hứa hẹn, chào mời hay cho một cách trực tiếp hay gián tiếp từ một cơ quan hành chính hay cơ quan công quyền của quốc gia thành viên
- Hành vi tham ô, biển thủ chiếm đoạt tài sản của công thành của riêng mình hoặc cho người khác hay tổ chức từ công quỹ, tư quỹ hoặc chứng khoán hay bất cứ những thứ
có giá trị mà công chức này được giao quản lý ở địa vị mình đang nắm giữ
- Lạm dụng chức năng là hành vi phạm tội khi được thực hiện một cách cố ý Đó là hành vi vi phạm pháp luật, hành động hoặc không hành động, của một công chức lạm dụng chức năng hay vị trí của mình, khi thi hành công vụ nhằm mục đích đạt được một lợi ích không chính đáng cho bản thân, cho người hay tổ chức khác
- Làm giàu bất hợp pháp có nghĩa là tài sản của một công chức tăng đáng kể so với thu nhập hợp pháp của công chức mà công chức này không giải thích được một cách hợp
lý về lý do tăng đáng kể như vậy, đây là hành vi được thực hiện một cách cố ý
- Hối lộ trong khu vực tư là một hành vi được thực hiện một cách cố ý trong hoạt động kinh tế, tài chính hoặc thương mại: Đây là hành vi vi phạm nhiệm vụ của người điều hành hay đang làm việc ở bất kì cương vị nào cho tổ chức thuộc khu vực tư vì lợi ích của chính người đó hay của người hoặc tổ chức khác bằng cách làm hoặc không làm một việc
gì thông qua các hành vi hứa hẹn, chào mời hay cho một lợi ích không chính đáng bằng cách trực tiếp hay gián tiếp
- Biển thủ trong khu vực tư là hành vi người điều hành hay làm việc ở bất kì cương
vị nào, cho tổ chức thuộc khu vực tư biển thủ tài sản, quỹ tư hoặc chứng khoán hoặc bất kì thứ gì khác có giá trị mà người này được giao quản lý do vị trí của mình, hành vi này được thực hiện một cách cố ý trong quá trình hoạt động kinh tế, tài chính hoặc thương mại
Trang 29GVHD: Th.S Thạch Huôn 21 SVTH: Thạch Thị Nguyệt
- Tẩy rửa tài sản do pham tội mà có18 là hành vi được thực hiện một cách cố ý, khi được các quốc gia thành viên áp dụng các biện pháp lập pháp và các biện pháp cần thiết phù hợp với nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước mình quy định là tội phạm như sau:
+ Chuyển đổi hay chuyển nhượng tài sản, dù đã biết đó là tài sản do phạm tội mà
có, nhằm che dấu hoặc ngụy trang nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản đó hoặc nhằm giúp
đỡ bất kì ai có liên quan đến việc thực hiện tội phạm gốc để lẩn tránh trách nhiệm pháp lý đối với hành vi của người này;
+ Che dấu hoặc ngụy trang bản chất thực sự, nguồn gốc, địa điểm, sự chuyển nhượng, sự vận chuyển hoặc sở hữu hoặc các quyền liên quan đến tài sản, dù đã biết tài sản đó do phạm tội mà có;
+ Phụ thuộc vào các khái niệm căn bản của hệ thống pháp luật quốc gia mình; + Nhận, sở hữu hoặc sử dụng tài sản, mà tại thời điểm đã nhận biết rằng tài sản đó
do phạm tội mà có
+ Tham gia, phối hợp hoặc có âm mưu thực hiện hành vi, cố gắng thực hiện hành
vi hay giúp sức, xúi bẩy, tạo điều kiện thuận lợi và bày mưu để thực hiện bất kì tội phạm nào quy định tại Điều này
- Che dấu là hành vi tiếp tục chiếm giữ tài sản dù biết rằng tài sản đó có được là từ thực hiện bất kì tội phạm nào được quy định theo Công ước và nếu hành vi đó được thực hiện một cách cố ý sau khi tội phạm nói trên được thực hiện dù người thực hiện hành vi không tham gia vào tội phạm đó
- Tội cản trở hoạt động tư pháp là hành vi dùng vũ lực, đe dọa hoặc hăm dọa hay hứa hẹn, chào mời hay cho một lợi ích không chính đáng để có lời khai gian dối hoặc để can thiệp vào việc khai báo hay việc đưa ra chứng cứ trong thủ tục tố tụng liên quan đến việc phạm các tội được quy định theo Công ước khi được thực hiện một cách cố ý
- Hành vi dùng vũ lực, đe dọa hoặc hăm dọa cản trở việc thi hành công vụ của viên chức tư pháp hay viên chức thực thi pháp luật liên quan đến việc thực hiện tội phạm được quy định theo Công ước Không quy định nào trong khoản này gây phương hại đến quyền của các quốc gia thành viên ban hành các quy định bảo vệ công chức thuộc lĩnh vực khác
Tóm lại, tất cả các hành vi tham nhũng trên đều mang tính chiếm đoạt tài sản công bằng nhiều hình thức, thủ đoạn nhằm gây khó khăn cho công tác phòng chống tham nhũng của các quốc gia Vì vậy, việc đưa ra các biện pháp chế tài các hành vi tham nhũng ở trên
là thật sự cần thiết và đúng đắn
18 Điều 23, khoản 1, Công ước chống tham nhũng của Liên Hợp Quốc năm 2003
Trang 30+ Cố gắng đảm bảo các quyền thực thi pháp luật một cách độc lập theo quy định của pháp luật nước mình liên quan đến việc truy tố người thực hiện tội phạm được quy định theo Công ước đều được thực hiện để tối đa hóa hiệu quả của các biện pháp thực thi pháp luật xử lý các tội phạm đó và tôn trọng đúng mức sự cần thiết phải ngăn chặn nó
+ Căn cứ vào pháp luật quốc gia và tôn trọng đúng mức quyền bào chữa, mỗi quốc gia thành viên sẽ có các biện pháp thích hợp để đảm bảo các điều kiện đặt ra đối với những quyết định miễn việc tạm giam trong thời gian chờ xét xử hoặc kháng án phải tính đến yêu cầu đảm bảo sự có mặt của bị cáo trong quá trình tố tụng hình sự sau đó
+ Mỗi quốc gia thành viên cần phải tính đến mức độ nghiêm trọng của tội phạm có liên quan khi cân nhắc thực hiện của việc tha trước thời hạn hay ân xá người bị kết án về tội phạm này Trong phạm vi cho phép bởi các nguyên tắc căn bản của hệ thống pháp luật quốc gia, mỗi quốc gia thành viên sẽ xem xét việc thiết lập các thủ tục mà thông qua đó một công chức bị buộc tội có hành vi phạm tội được quy định theo Công ước này có thể, khi thích hợp bị cách chức, đình chỉ hoặc điều động công tác bởi cơ quan có thẩm quyền, song, cần tôn trọng nguyên tắc suy đoán vô tội
+ Trường hợp được phép, căn cứ vào mức độ nghiêm trọng và phạm vi cho phép bởi các nguyên tắc căn bản của hệ thống pháp luật quốc gia, mỗi quốc gia thành viên sẽ xem xét thiết lập các quy trình để tước bỏ, theo lệnh của tòa án hoặc theo bất kì cách thức thích hợp nào khác, trong thời hạn do pháp luật quốc gia quy định, quyền của người bị kết
án về các tội phạm quy định trong Công ước được giữ một chức vụ công và giữ một chức
vụ trong một doanh nghiệp Nhà nước sở hữu toàn bộ hay một phần Không quy định nào trong Công ước này ảnh hưởng đến nguyên tắc là việc quy định tội phạm được quy định theo Công ước này và các quy định về bào chữa hay các nguyên tắc pháp lý khác về tính
19 Điều 30, Công ước chống tham nhũng của Liên Hợp Quốc năm 2003
Trang 31- Bồi thường thiệt hại cũng có thể được xem là hình thức chế tài tham nhũng, tùy theo nguyên tắc pháp luật của mỗi quốc gia, mà các tổ chức hoặc những người chịu thiệt hại do hành vi tham nhũng gây ra có quyền được khởi kiện tổ chức hoặc người có trách nhiệm đối với những thiệt hại này để đòi bồi thường.21
Sau khi phát hiện tham nhũng xảy ra thì việc thu hồi lại mọi tài sản, phương tiện, công cụ có được hoặc liên quan tới tham nhũng là biện pháp luôn được triển khai nhanh chóng nhằm mục đích phục vụ cho công tác điều tra tham nhũng được thuận lợi Tại chương V của Công ước quy định việc hoàn trả tài sản là mục đích và nguyên tắc cơ bản của Công ước Vì vậy, đối với vấn đề này, các quốc gia thành viên cần phải dành cho nhau
sự hợp tác và trợ giúp tối đa Trên cơ sở đó Công ước quy định các biện pháp toàn diện nhằm tăng cường hiệu quả thu hồi tài sản có được do hành vi tham nhũng
2.1.2.5 Các biện pháp phòng ngừa
Phòng ngừa đóng vai trò thiết yếu trong đấu tranh chống tham nhũng, giúp ngăn ngừa hành vi, tăng cường khả năng phát hiện và khắc phục hậu quả tham nhũng Vì vậy, các biện pháp phòng ngừa tham nhũng đã được Công ước quy định ở chương II, mà các quốc gia thành viên cần xây dựng, thực hiện hoặc duy trì các chính sách chống tham nhũng hiệu quả và đồng bộ Biện pháp được ghi nhận trong Công ước mang tính phòng chống tham nhũng cao đó là: biện pháp công khai, minh bạch tài sản
- Minh bạch trong việc mua sắm, quản lý tài chính của nhà nước22, kể cả sổ sách kế toán, chứng từ, báo cáo tài chính hoặc các tài liệu khác liên quan đến thu, chi công, và phòng ngừa việc giả tạo những tài liệu này Việc thực hiện tốt công tác đảm bảo minh bạch trong mua sắm và quản lý tài chính công sẽ góp phần ngăn ngừa tham nhũng hiệu quả Ngoài việc đảm bảo sự minh bạch tài sản thì vấn đề báo cáo công khai minh bạch trong quản lý hành chính cũng rất cần thiết Công khai cả về tổ chức, quá trình thực hiện
và ra quyết định hành chính
20 Điều 31, Công ước chống tham nhũng của Liên Hợp Quốc năm 2003
21
Điều 35, Công ước chống tham nhũng Liên Hợp Quốc, năm 2003
22 Điều 9, khoản 3 Công ước chống tham nhũng Liên Hợp Quốc, năm 2003
Trang 32GVHD: Th.S Thạch Huôn 24 SVTH: Thạch Thị Nguyệt
- Hoạt động truy tố, xét xử tham nhũng là một biện pháp chống tham nhũng hiệu quả Tuy nhiên, đây cũng là lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng nhất Do đó, vấn đề tăng cường tính liêm khiết cho cán bộ tòa án thông qua bộ quy tắc ứng xử và phòng ngừa tham nhũng đến với những đối tượng này rất quan trọng Vì vậy, Điều 11, Công ước ghi nhận tầm quan trọng của việc đảm bảo tính độc lập trong hoạt động xét xử của Tòa án Trên cơ
sở phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc gia mà các quốc gia thành viên
áp dụng Những biện pháp có tác dụng tương tự cũng cần được xem xét áp dụng đối với cán bộ của cơ quan công tố
- Liên quan đến khu vực tư23 cần phải: tăng cường các tiêu chuẩn kế toán và kiểm toán trong khu vực tư Đồng thời, áp dụng các biện pháp chế tài dân sự, hành chính hoặc hình sự một cách có hiệu quả nhằm răn đe đối với những hành vi không tuân thủ biện pháp này
+ Việc này có tác dụng nhằm phòng ngừa và phát hiện hành vi tham nhũng, có tác dụng đảm bảo cho các doanh nghiệp tư nhân tuân thủ đầy đủ quy trình về kiểm toán, các báo cáo tài chính, các tài khoản và chứng nhận
+ Nhằm mục đích phòng ngừa tham nhũng, phù hợp với pháp luật nước mình về sổ sách, chứng từ, công khai báo cáo tài chính và tiêu chuẩn kế toán, kiểm toán, mỗi Quốc gia thành viên tiến hành các biện pháp cần thiết để cấm những hành vi sau đây: Lập tài khoản ngoài sổ sách, tiến hành giao dịch ngoài sổ sách hoặc giao dịch không được xác minh thỏa đáng, lập chứng từ khống, đưa vào sổ sách những khoản nợ mà xác định sai đối tượng nợ, dùng giấy tờ, chứng từ giả và cố tình hủy tài liệu sổ sách trước thời hạn do pháp luật quy định Phòng chống tham nhũng là công việc lâu dài, vì vậy, việc phòng ngừa trong khu vực tư cũng rất là cần thiết
- Việc thúc đẩy sự tham gia của xã hội24 như sự chủ động của các cá nhân, tổ chức ngoài khu vực công, xã hội dân sự, các tổ chức phi chính phủ, tổ chức cộng đồng, cơ quan truyền thông, báo chí, trường đại học vào công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng một cách toàn diện là việc làm rất cần thiết và đúng đắn, vì sự tham gia chủ động, tích cực của xã hội sẽ mang lại nhiều tích cực thực tế trong công tác chống tham nhũng
- Chống rửa tiền25 là một biện pháp phòng ngừa, phát hiện, khắc phục hậu quả tham nhũng một cách hữu hiệu Theo Công ước trong phạm vi thẩm quyền của mình mỗi quốc gia thành viên cần phải thiết lập một cơ chế giám sát và điều tiết toàn diện trong nước đối với các ngân hàng, các định chế tài chính phi ngân hàng, kể cả các cá nhân hay pháp nhân cung cấp dịch vụ chính thức hoặc không chính thức về chuyển tiền hoặc vật có
23 Điều 12, Công ước chống tham nhũng Liên Hợp Quốc, năm 2003
24
Điều 13, Công ước chống tham nhũng Liên Hợp Quốc, năm 2003
25 Điều 14, Công ước chống tham nhũng Liên Hợp Quốc, năm 2003
Trang 33GVHD: Th.S Thạch Huôn 25 SVTH: Thạch Thị Nguyệt
giá trị, và khi thích hợp, cả những cơ quan khác đặc biệt dễ liên quan đến rửa tiền, nhằm ngăn chặn, phát hiện mọi hình thức rửa tiền; cơ chế điều tiết và giám sát này phải nhấn mạnh đến các yêu cầu về xác định khách hàng và cả người sở hữu hưởng lợi khi thích hợp, lưu giữ hồ sơ và báo cáo về các giao dịch đáng ngờ
+ Đồng thời, xem xét thành lập một đơn vị tình báo tài chính để hoạt động như một trung tâm quốc gia để thu nhập, phân tích và phổ biến thông tin về hoạt động rửa tiền tiềm tàng và cần áp dụng các biện pháp khả thi nhằm kiểm soát, phát hiện việc di chuyển tiền mặt và tài sản qua biên giới quốc gia, nhưng không được gây trở ngại đối với các dòng vốn hợp pháp, có thể bao gồm việc yêu cầu báo cáo về việc chuyển qua biên giới những lượng tiền mặt lớn và vật có giá trị, tăng cường hợp tác nhằm đấu tranh chống rửa tiền
+ Ngoài ra, việc thiết lập cơ chế quản lý, giám sát theo cấp tổ chức khu vực, liên khu vực và hợp tác đa phương là một sáng kiến chống rửa tiền hiệu quả Vì vậy, việc thúc đẩy hợp tác song phương, tiểu khu vực, khu vực và toàn cầu giữa các cơ quan tư pháp, thực thi pháp luật và giám sát tài chính nhằm đấu tranh chống rửa tiền cũng đều là vấn đề hết sức cấp thiết hiện nay
2.1.3 Khả năng áp dụng
Từ khi được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua, UNCAC đã nhận được sự đồng tình của nhiều quốc gia, các tổ chức khu vực, phi chính phủ cùng kí kết Điều này thể hiện khả năng áp dụng của Công ước được thực hiện rộng rãi trên quốc tế Hiệu quả này được thể hiện qua nhu cầu hợp tác chống tham nhũng giữa các nước với nhau cùng với các biện pháp hỗ trợ kĩ thuật và trao đổi thông tin đã cho ta thấy tầm quan trọng của nhu cầu hợp tác chống tham nhũng giữa các quốc gia với nhau luôn là cần thiết
- Hợp tác quốc tế trong việc dẫn độ26 tội phạm là các tội phạm tham nhũng, kể cả trong trường hợp phạm vi đó không bị trừng phạt theo pháp luật quốc gia.Phạm vi dẫn độ nói trên được coi là một nội dung của các Hiệp định dẫn độ hiện hành giữa các quốc gia thành viên đã được kí kết với nhau
26 Điều 44, Công ước chống tham nhũng Liên Hợp Quốc, năm 2003
Trang 34GVHD: Th.S Thạch Huôn 26 SVTH: Thạch Thị Nguyệt
+ Việc dẫn độ phải dựa trên hiệp định dẫn độ, trong trường hợp không có hiệp định thì các bên có thể coi Công ước là căn cứ pháp lý quốc tế cho việc dẫn độ Tại thời điểm phê chuẩn, công nhận, thông qua hoặc gia nhập Công ước, các quốc gia thành viên phải thông báo cho Tổng Thư ký LHQ về việc có chấp nhận Công ước làm căn cứ pháp lý cho việc dẫn độ hay không Nếu các quốc gia thành viên không chấp nhận, Công ước khuyến nghị các bên ký Hiệp định dẫn độ để thực hiện điều khoản về dẫn độ của Công ước
+ Không điều khoản nào trong Công ước này được hiểu là bắt buộc dẫn độ nếu quốc gia thành viên được yêu cầu dẫn độ có cơ sở đầy đủ để tin rằng yêu cầu dẫn độ đó nhằm mục đích truy tố hay trừng phạt một người vì lý do giới tính, chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, nguồn gốc sắc tộc hay quan điểm chính trị của người đó hoặc việc đáp ứng yêu cầu dẫu có thể gây tổn hại đến tình thế của người đó vì lý do nào nói trên
+ Các quốc gia thành viên không được từ chối yêu cầu dẫn độ chỉ dựa trên lý do duy nhất là tội phạm đó cũng được coi là có liên quan đến các vấn đề tài chính Trước khi
từ chối dẫn độ, các quốc gia thành viên được yêu cầu khi thích hợp sẽ thảo luận với quốc gia thành viên yêu cầu để tạo điều kiện cho quốc gia này được trình bày quan điểm của mình và cung cấp thông tin về việc buộc tội đó Đồng thời, Công ước khuyến khích các quốc gia thành viên ký kết các hiệp định song phương, đa phương về dẫn độ hoặc tăng cường hiệu quả hoạt động dẫn độ
- Chuyển giao người bị kết án cũng là Điều được ghi nhận trong Công ước trong vấn đề hợp tác quốc tế Theo Điều này thì các quốc gia thành viên sẽ xem xét khả năng chuyển giao cho nhau vụ án hình sự nhằm truy tố một tội phạm được quy định theo Công ước này, nếu việc chuyển giao đó được coi là có lợi cho việc thi hành công lý, đặc biệt là trong các trường hợp liên quan đến quyền tài phán của nhiều nước, việc này nhằm mục đích làm cho việc truy tố được tập trung
- Tương trợ pháp lý27 là việc các quốc gia thành viên sẽ dành cho nhau sự hỗ trợ pháp lý tối đa liên quan đến điều tra, truy tố và xét xử những loại tội phạm được quy định trong Công ước
Tương trợ pháp lý được thực hiện ở mức độ cao nhất có thể theo các luật, điều ước, hiệp định và thỏa thuận tương ứng của quốc gia thành viên được yêu cầu liên quan tới việc điều tra, truy tố và xét xử đối với các loại tội phạm mà một pháp nhân có thể phải chịu trách nhiệm ở quốc gia thành viên yêu cầu theo Điều 26 của Công ước Các khoản từ 9 đến 29 của Điều 46 này áp dụng đối với các yêu cầu được lập căn cứ theo điều này nếu giữa các quốc gia hữu quan không có điều ước về tương trợ pháp lý Nếu giữa các quốc gia có điều ước về tương trợ pháp lý thì các quy định tương ứng của điều ước đó sẽ được
27 Điều 46, Công ước chống tham nhũng Liên Hợp Quốc, năm 2003
Trang 35Ngoài lý do trên thì tương trợ pháp lý có thể bị từ chối bởi các lý do sau: nếu đơn yêu cầu được lập không đúng quy định trong Công ước hoặc việc chấp nhận yêu cầu trợ giúp pháp lý của đơn yêu cầu này là trái với hệ thống pháp luật của quốc gia được yêu cầu; nếu quốc gia được yêu cầu nhận thấy việc thực hiện yêu cầu có khả năng xâm hại đến chủ quyền, an ninh, trật tự công cộng hoặc các lợi ích thiết yếu khác; nếu các cơ quan của quốc gia được yêu cầu bị pháp luật quốc gia ngăn cấm thực hiện việc được yêu cầu đối với bất cứ tội phạm tương tự nào, bởi tội phạm đó đã là đối tượng của việc điều tra, truy tố
và xét xử trong phạm vi quyền hạn của chính các cơ quan này
Tóm lại, tương trợ pháp lý là việc làm rất cần thiết trong việc điều tra, truy tố và xét xử các loại tội phạm liên quan đến tham nhũng Vì vậy, Công ước luôn khuyến khích các quốc gia mở rộng hợp tác song phương, đa phương, thông qua đó kí kết các hiệp định hoặc thỏa thuận nhằm phục vụ cho công tác trợ giúp pháp lý đảm bảo được hiệu lực thực
tế cho các quy định trên hoặc nhằm củng cố các quy định đó
Đặc biệt, các quốc gia thành viên cần tăng cường hợp tác thực thi pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh chống tham nhũng Theo đó, các quốc gia phải áp dụng các biện pháp hiệu quả nhằm: tăng cường khả năng kiểm soát đối tượng tình nghi, tài sản, công cụ, phương tiện liên quan đến tội phạm tham nhũng; nâng cao khả năng trao đổi thông tin về hành vi tham nhũng; tạo điều kiện thuận lợi cho việc phối hợp có hiệu quả giữa các cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia; phối hợp thực hiện các biện pháp hành chính và các biện pháp khác nhằm sớm nhận dạng tham nhũng Các hiệp định quốc tế về vấn đề này được khuyến khích ký kết Để chống tham nhũng có hiệu quả, Công ước khuyến nghị các quốc gia thành viên áp dụng các biện pháp nhằm cho phép các cơ quan chức năng sử dụng các kỹ thuật điều tra đặc biệt, chẳng hạn như giám sát điện tử và hình thức giám sát khác, hoạt động chìm
Việc ký kết các Hiệp định làm cơ sở cho việc sử dụng kỹ thuật điều tra đặc biệt khi hợp tác ở cấp độ được Công ước khuyến khích Trong trường hợp chưa có Hiệp định hoặc thoả thuận, việc áp dụng kỹ thuật điều tra đặc biệt được đưa ra theo từng vụ việc, thuộc quyền tự quyết của quốc gia Các quyết định về việc áp dụng biện pháp vận chuyển có
28 Khoản 7, Điều 56, Công ước chống tham nhũng của Liên Hợp Quốc