Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các qui định pháp luật về hoạt động thương mại biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, Lào, Campuchia bao gồm: trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới, xuấ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT - -
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NIÊN KHÓA 2011 - 2015
Đề tài:
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI BIÊN GIỚI
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Bộ môn Luật Thương mại MSSV: 5115990
Lớp: Luật Thương mại K37
Cần Thơ, tháng 10/2014
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
Trang 3
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
Trang 4
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU i
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI BIÊN GIỚI 3
1.1 Khái niệm về hoạt động thương mại biên giới .3
1.1.1 Khái niệm về biên giới .3
1.1.2 Khái niệm về hoạt động thương mại biên giới 4
1.1.2.1 Khái niệm về hoạt động thương mại .4
1.1.2.2 Khái niệm về hoạt động thương mại biên giới .4
1.1.3 Các khái niệm liên quan đến hoạt động thương mại biên giới .5
1.2 Đặc điểm của hoạt động thương mại biên giới 5
1.3 Các hình thức của hoạt động thương mại biên giới .8
1.4 Lịch sử hoạt động thương mại với các nước láng giềng .9
1.4.1 Lịch sử hoạt động thương mại biên giới với Trung quốc .9
1.4.2 Lịch sử hoạt động thương mại biên giới với Lào .11
1.4.3 Lịch sử hoạt động thương mại biên giới với Campuchia 11
1.5 Tính tất yếu và ý nghĩa của việc phát triển thương mại biên giới 12
1.5.1 Tính tất yếu của việc phát triển thương mại biên giới 12
1.5.2 Ý nghĩa của việc phát triển thương mại biên giới 13
1.5.2.1 Ý nghĩa của thương mại biên giới đối với chính trị xã hội, an ninh – quốc phòng .13
1.5.2.2 Ý nghĩa đối với nền kinh tế nói chung và thương nhân nói riêng 13
1.6 Hệ thống các qui định về thương mại biên giới của việt Nam .14
1.6.1 Điều ước quốc tế. 15
Trang 51.6.2 Luật quốc gia 15
CHƯƠNG 2 : QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI BIÊN GIỚI 17
2.1 Chủ thể của hoạt động thương mại biên giới .17
2.1.1 Chủ thể được mua bán, trao đổi hàng hóa qua biên giới 18
2.1.2 Chủ thể được hoạt động kinh doanh tại chợ biên giới, chợ của khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu .18
2.1.3 Chủ thể được xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới 19
2.2 Địa điểm, thủ tục diễn ra hoạt động thương mại biên giới 20
2.2.1 Địa điểm, thủ tục mua bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới 20
2.2.1.1 Địa điểm mua bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới 20
2.2.1.2 Thủ tục hải quan đối với mua bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới .21
2.2.2 Địa điểm, thủ tục kinh doanh tại chợ biên giới, chợ của khẩu, chợ trong khu kinh tế của khẩu 22
2.2.2.1 Địa điểm kinh doanh tại chợ 22
2.2.2.2 Thủ tục kinh doanh tại chợ biên giới, chợ của khẩu, chợ trong khu kinh tế của khẩu 22
2.2.3 Địa điểm, thủ tục hải quan đối với xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa qua biên giới .23
2.2.3.1 Địa điểm đối với xuất khẩu hàng hóa qua biên giới 23
2.2.3.2 Thủ tục hải quan đối với xuất khẩu hàng hóa qua biên giới 24
2.3 Hàng hóa, chính sách thuế và đồng thanh toán trong hoạt động thương mại biên giới .25
2.3.1 Hàng hóa trong hoạt động thương mại biên giới .25
2.3.2 Chính sách thuế trong hoạt động thương mại biên giới 27
2.3.3 Đồng thanh toán trong hoạt động thương mại biên giới 28
2.4 Xuất nhập cảnh người và phương tiện liên quan đến hoạt động thương mại biên giới .28
2.4.1 Người và phương tiện Việt Nam. 29
Trang 62.4.2 Người và phương tiện của các nước có chung đường biên giới 30
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI BIÊN GIỚI 32
3.1 Thực trạng hoạt động thương mại biên giới .32
3.1.1 Các thành tựu đạt được trong hoạt động thương mại biên giới .32
3.1.2 Các mặt yếu kém trong hoạt động thương mại biên giới 36
3.1.2.1 Về phía nhà nước .36
3.1.2.2 Về phía các chủ thể tham gia hoạt động thương mại biên giới 38
3.2 Một số kinh nghiệm về thương mại biên giới của một số nước .39
3.2.1 Kinh nghiệm của Thái Lan 39
3.2.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc 40
3.2.3 Kinh nghiệm của một số nước ở khu vực Tây Âu và Bắc Mỹ .41
3.3 Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động thương mại biên giới từ phía nhà nước. 42
3.3.1 Tăng cường hợp tác khu vực 42
3.3.2 Hoàn thiện và phát triển đồng bộ cơ chế chính sách đối với hoạt động mậu dịch biên giới 43
3.3.3 Tăng cường quản lý Nhà nước đối với hoạt động thương mại qua biên giới .44
3.4.4 Tăng cường công tác đấu tranh chống buôn lậu và gian lận thương mại 45
3.3.5 Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng tại các cửa khẩu. 46
3.3.6 Tăng cường hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc đào tạo nguồn nhân 48
lực và xúc tiến thương mại .48
3.4 Các giải pháp đề xuất dành cho doanh nghiệp, các chủ thể tham gia vào quan hệ thương mại biên giới .48
3.5 Hạn chế của pháp luật và hướng đề xuất hoàn thiện pháp luật về hoạt động thương mại biên giới 52
KẾT LUẬN 62
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế là điều tất yếu khách quan đối với mỗi quốc gia trên thế giới Nó đòi hỏi các quốc gia muốn phát triển, muốn lớn mạnh thì phải không ngừng tăng cường hợp tác với các nước trên thế giới Từ khi cải cách, mở cửa nền kinh tế đến nay, nước ta không ngừng
mở rộng quan hệ đối ngoại, tăng cường hợp tác, giao lưu kinh tế, tiến tới hợp tác phát triển toàn diện với các quốc gia thân thiện Đặc biệt là các nước có cùng đường biên giới như Trung Quốc, Lào và Campuchia – là những nước có tầm ảnh hưởng quan trọng trong giai đoạn đầu cải cách, mở cửa Và hiện nay, mối quan hệ đó càng gắn kết chặt chẽ bởi sự ảnh hưởng sâu rộng của kinh tế đối với mỗi quốc gia, thúc đẩy quan hệ hợp tác hữu nghị và toàn diện về mọi mặt giữa các nước
Nhờ những định hướng, những chính sách đúng đắn của nhà nước, cũng như sự thân thiện, hợp tác giữa các quốc gia có cùng đường biên giới mà quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với Trung Quốc, Lào và Campuchia ngày càng phát triển Trong đó, hoạt động thương mại biên giới chiếm một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa, xã hội giữa các quốc gia, là cầu nối để các quốc gia ngày càng gắn bó thân thiết với nhau hơn
Tuy nhiên, những thành tựu đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của mỗi quốc gia, vẫn còn nhiều bất cập, vướng mắc cũng như chưa xây dựng được mô hình kinh tế bền vững là một trong những thách thức lớn đối với mỗi quốc gia Đứng trước xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, đòi hỏi mỗi quốc gia phải hoàn thiện hơn nữa chính sách, phương hướng phát triển về thương mại biên giới, đặc biệt là sự liên kết giữa các quốc gia trong khâu xây dựng, điều hành và giải quyết các vấn đề lien quan đến hoạt động thương mại biên giới Để làm được những việc trên, cần đánh giá một cách nghiêm túc, đầy đủ về thành tựu cũng như hạn chế trong hoạt động thương mại biên giới giữa Việt Nam với các nước láng giềng Để từ đó có những
cơ chế, chính sách phù hợp nhằm đưa thương mại biên giới giữa các nước phát triển lên tầm
cao mới, đạt được tiềm năng tương xứng Từ nhận thức trên, người viết chọn đề tài “ Pháp
luật về hoạt động thương mại biên giới” làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Nhìn tổng quan về thương mại biên giới từ các qui định pháp luật cũng như các quan hệ phát sinh trên thực tế, kể cả phương thức quản lý, điều hành, sự phối hợp của các quốc gia liên quan để từ đó có những nhận xét khách quan về các thành tựu đạt
Trang 8được cũng như các mặt hạn chế, để từ đó có những đề xuất, kiến nghị phù hợp nhằm thúc đẩy phát triển thương mại biên giới
3 Đối tượng nghiên cứu
Người viết tập trung nghiên cứu các qui định phát luật về các mặt đạt được, các vấn đề còn hạn chế cũng như các vấn đề phát sinh trong thực tế trong quan hệ thương mại biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, Lào, Campuchia
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các qui định pháp luật về hoạt động thương mại biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, Lào, Campuchia bao gồm: trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới, xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới, hoạt động kinh doanh trong chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu và người, phương tiện qua lại giữa các nước trong hoạt động thương mại biên giới Để từ đó so sánh, đối chiếu với thực tế để có những giải pháp, những đề xuất nhằm hoàn thiện các qui định về hoàn động thương mại biên giới.Tuy nhiên, trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới, người viết sẽ không đi sâu vào các thủ tục hải quan cũng như các hoạt động liên quan đến xuất nhập khẩu cũng như quá cảnh hang hóa, chuyển khẩu
Nội dung cơ bản của luận văn gồm ba chương:
- Chương 1: Khái quát chung về hoạt động thương mại biên giới
- Chương 2: Quy định pháp luật về hoạt động thương mại biên giới
- Chương 3: Thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động thương mại biên giới
Trang 9CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI BIÊN GIỚI
Thương mại biên giới được cấu thành bởi nhiều yếu tố, trong đó mỗi yếu tố đóng một vai trò quan trọng nhất định Trong đó gồm các thành phần cần được xem xét đầy đủ, đúng mức như biên giới, thương mại biên giới và các thành phần liên quan như đặc điểm, tính chất cũng như tính tất yếu của hoạt động thương mại biên giới Trong đó, mỗi thành phần cần được xem xét, phân tích các đặc điểm riêng cũng như mối quan hệ giữa các yếu tố với nhau, từ đó có cách hiểu đúng đắn, đầy đủ về hoạt động thương mại biên giới
1.1 Khái niệm về hoạt động thương mại biên giới
1.1.1 Khái niệm về biên giới
Một trong những yếu tố cơ bản để cấu thành quốc gia đó chính là phải có lãnh thổ xác định Trong đó vấn đề biên giới chính là yếu tố cốt lõi Biên giới quốc gia là ranh giới phân định lãnh thổ của quốc gia này với lãnh thổ của quốc gia khác hoặc các vùng mà quốc gia đó có chủ quyền trên biển, bao gồm: Biên giới quốc gia trên đất liền, trên biển, biên giới quốc gia trong lòng đất và trên không Trong đó vấn đề phân định biên giới được tuân theo các điều ước quốc tế, các điều ước song phương và pháp luật của chính quốc gia đó Theo pháp luật Việt Nam, “ Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng
Sa và quần đảo Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”1, nhìn chung cách xác định biên giới, giới hạn đường biên giới của Việt Nam tuân thủ theo các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, như công ước Luật Biển 1982 trong vấn đề phân định biên giới trên biển
Trong đó, vấn đề biên giới trong hoạt động thương mại biên giới được hiểu là biên giới trên bộ, cụ thể là biên giới giữa Việt Nam – Trung Quốc, Việt Nam – Lào và Việt Nam – Campuchia
Trang 101.1.2 Khái niệm về hoạt động thương mại biên giới
1.1.2.1 Khái niệm về hoạt động thương mại
Gắn với quá trình lao động sản xuất của con người, hoạt động thương mại ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa khi mà sản phẩm lao động dư thừa và đáp ứng các nhu cầu khác của con người Cùng với quá trình phát triển của xã hội và nền kinh tế, hoạt động thương mại không còn đơn thuần là hàng hóa mà đó có thể là hoạt động cung ứng dịch vụ, đầu tư nhằm tìm kiếm lợi nhuận Các hoạt động được xem là hoạt động thương mại khi các hoạt động đó thực hiện nhằm mục đích sinh lợi và không vi phạm các điều cấm của pháp luật, cụ thể: " Hoạt động thương mại
là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác"2
1.1.2.2 Khái niệm về hoạt động thương mại biên giới
Thương mại biên giới là một bộ phận của hoạt động thương mại nói chung khi xét về bản chất của hoạt động thương mại Thương mại biên giới chính là bước tiệm cận của thương mại đối nội và thương mại đối ngoại, mang theo bước chuyển mình từ các hoạt động sản xuất trong nước ra thị trường bên kia biên giới rồi mới đến thị trường khu vực và thế giới Thương mại biên giới có thể được hiểu rằng: “ Đây là phương thức mậu dịch do tập quán truyền thống của lịch sử hình thành, không xếp vào mậu dịch đối ngoại quốc gia Nói chung, các nước đều dành cho phương thức mậu dịch này sự đãi ngộ về thuế quan Theo sự phát triển của mậu dịch quốc gia, thương mại hang hóa với nghĩa hẹp như ở trên được phát triển thành phương thức mậu dịch theo nghĩa rộng, tức là giao dịch xuất nhập khẩu hàng hóa được tiến hành tại vùng biên giới giữa hai nước Nó được liệt vào phạm vi mậu dịch đối ngoại quốc gia, thuộc một trong những phương thức mậu dịch xuất nhập khẩu”3
Như vậy, thương mại hàng hóa qua biên giới trên bộ giữa hai nước không chỉ đơn thuần là hoạt động buôn bán hàng hóa qua các cửa khẩu biên giới mà nó có phạm
vi rộng hơn, bao trùm các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới trên bộ Nói chung, các quốc gia có chung đường biên giới đều dành cho hoạt động này ít nhiều sự ưu ái nhất định, đặc biệt là thuế quan Vì nhiều nguyên nhân khác nhau như chính trị, xã hội, an ninh – quốc phòng…đã ảnh hưởng ít nhiều đến sự phát triển của thương mại biên giới Tuy nhiên, cái có thể nhìn thấy rõ nhất là thương mại biên giới
đã có những đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế của quốc gia đó
Trang 111.1.3 Các khái niệm liên quan đến hoạt động thương mại biên giới
Trong hoạt động thương mại biên giới, vấn đề cơ bản, chính yếu xoay quanh cửa khẩu biên giới đất liền, bao gồm: cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính (còn gọi là cửa khẩu quốc gia) và cửa khẩu phụ, được mở trên các tuyến đường bộ, đường sắt, đường thủy trong khu vực biên giới Về cơ bản, các cửa khẩu trên được phân chia theo Hiệp định vè Quy chế biên giới đã được ký kết giữa chính phủ nước Cộng hòa xã hôị chủ nghĩa Việt Nam với chính phủ các nước láng giềng để thực hiện việc xuất, nhập khẩu
và qua lại biên giới quốc gia Trong đó:
- Cửa khẩu quốc tế là cửa khẩu được mở cho người, phương tiện hàng hóa của Việt Nam, nước láng giềng và nước thứ ba xuất, nhập qua biên giới quốc gia
Cửa khẩu "quốc tế " ở đây không phải là cảng hàng không quốc tế hay cảng biển, mà tính quốc tế ở dây được hiểu là công dân của nước thứ 3 được xuất nhập cảnh, hàng hóa của nước thứ ba được quá cảnh qua cửa khẩu này
- Cửa khẩu chính (còn gọi là cửa khẩu quốc gia hoặc cửa khẩu song phương), cửa khẩu phụ được mở cho người, phương tiện hàng hóa của Việt Nam, nước láng giềng xuất, nhập qua biên giới quốc gia Trong đó, cửa khẩu chính phục vụ cho nhu cầu qua lại của cư dân, xuất nhập khẩu hàng hóa chính ngạch, tiểu ngạch và quá cảnh hàng hóa, còn cửa khẩu phụ cho nhu cầu xuất nhập khẩu tiểu ngạch là chủ yếu, hàng hóa chính ngạch phải thỏa mãn theo điều kiện qui định
Ngoài các cửa khẩu trên, người dân và hàng hóa vẫn có thể qua lại giữa hai nước giáp ranh bằng lối mở biên giới Lối mở biên giới là nơi mở ra cho các hoạt động qua lại biên giới, được chính quyền cấp tỉnh biên giới hai bên thống nhất mở theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc được mở theo quyết định của cơ quan nhà nước Việt Nam có thẩm quyền Lối mở biên giới bao gồm: đường qua lại các cặp chợ biên giới; chợ biên giới Thông thường, lối mở biên giới do nhân dân hai bên ban đầu tự phát qua lại và được địa phương hai bên thống nhất công nhận cũng như qui định công tác quản lý
Ngoài ra, còn một vấn đề cần quan tâm là khu kinh tế cửa khẩu Khu kinh tế cửa khẩu là khu kinh tế hình thành ở khu vực biên giới đất liền có cửa khẩu quốc tế hoặc cửa khẩu chính và được thành lập theo các điều kiện, trình tự thủ tục theo qui định của Chính phủ
1.2 Đặc điểm của hoạt động thương mại biên giới
Là một bộ phận của quan hệ quan hệ thương mại quốc tế, thương mại biên giới cũng mang nhiều đặc điểm chung của thương mại quốc tế như hoạt động thương mại
Trang 12đa dạng, diễn ra trên nhiều lĩnh vực với cơ cấu hàng hóa, dịch vụ đa dạng cho tới phương thức thanh toán linh hoạt Tuy nhiên, thương mại biên giới giữa Việt Nam và các nước láng giềng cũng mang nhiều đặc điểm riêng, góp phần cho hoạt động thương mại diễn ra sôi động, phong phú hơn dù có tiềm ẩn nhiều rủi ro, cụ thể ở một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, cơ cấu, chất lượng hàng hóa đa dạng, phức tạp, bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố
Cơ cấu hàng hóa của Việt Nam cũng như hàng hóa của các nước có cùng đường biên giới diễn ra tại khu vực biên giới đa dạng, phong phú với nhiều lĩnh vực, từ nông – lâm, thủy – thủy hải sản cho đến công – nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp…cho đến các mặt hàng công nghệ cao như máy móc, thiết bị điện tử Điều này xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng đa dạng của từng nước cũng như vào sâu nội địa của từng nước Trong khi hàng hóa qua biên giới có xuất xứ khắp mọi miền quốc gia đó lẫn hàng hóa của nước thứ ba do đó rất khó kiểm soát về chất lượng hàng hóa Hàng hóa thương mại chính ngạch ( là loại hàng hóa xuất nhập khẩu đúng theo qui trình xuất nhập khẩu, làm các thủ tục xuất nhập khẩu tại cửa khẩu theo thủ tục hải quan và chịu thuế theo qui định) về cơ bản có thể kiểm soát được tuy nhiên thương mại tiểu ngạch (hàng hóa xuất nhập khẩu dưới dạng trao đổi, mua bán hàng hóa của cư dân biên giới) thì vẫn còn bỏ ngõ Trong khi công tác quản lý còn hạn chế thì thương mại tiểu ngạch lại vô cùng phát triển, mang theo nhiều hệ lụy Đặc biệt là các ưu đãi dành cho cư dân biên giới, mặc dù giá trị hàng hóa mua bán của mỗi cư dân biên giới được miễn thuế không cao, nhưng lực lượng cư dân biên giới lại rất hùng hậu
đã trở thành điểm đến của bọn buôn lậu, trốn thuế Các yếu tố này không chỉ làm thất thu ngân sách một lượng không nhỏ mà còn mang theo nhiều tiềm ẩn về buôn lậu, mất
an ninh trật tự tại vùng biên giới, cửa khẩu, chất lượng hàng hóa không đảm bảo và ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất trong nước
Cơ cấu hàng hóa phụ thuộc khá nhiều vào chính sách xuất – nhập khẩu của mỗi quốc gia, trong đó năng lực sản xuất của quốc gia và nhu cầu thị trường cũng ảnh hưởng rất lớn
Thứ hai, Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới được thực hiện theo
nhiều phương thức khác nhau
Thương mại biên giới giữa Việt Nam và các nước láng giềng khá đa dạng, cơ bản gồm các nhóm sau: thương mại chính ngạch, thương mại tiểu ngạch, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới và các dịch vụ khác như chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất… Trong đó, thương mại chính ngạch là hàng hóa nhập khẩu theo giấy phép của
Bộ Công Thương, những hàng hóa này lưu thong qua cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu quốc gia, đồng thời phải tuân thủ các qui định về xuất nhập khẩu của quốc gia và theo thông
lệ quốc tế Hoạt động này phụ thuộc khá nhiều vào chính sách xuất nhập khẩu của cả
Trang 13hai quốc gia và có nhiều thủ tục cần hoàn thành để đưa được hàng hóa qua biên giới Trong khi đó lực lượng thương nhân đông đảo lại chủ yếu là vừa và nhỏ nên thường chú ý vào thương mại tiểu ngạch
Buôn bán tiểu ngạch (còn giọi cách khác là mậu dịch tiểu ngạch hay thương mại tiểu ngạch), là một hình thức thương mại quốc tế hợp pháp được tiến hành giữa nhân dân hai nước sinh sống ở các địa phương hai bên biên giới (cư dân biên giới) mà kim ngạch của mỗi giao dịch hàng hóa hữu hình có giá trị nhỏ theo qui định của pháp luật Buôn bán tiểu ngạch thường có những đặc trưng như thường (song không nhất thiết) thanh toán bằng tiền mặt, không cần hợp đồng mua bán Việc xác định đâu là buôn bán tiểu ngạch không dựa vào hình thức vận chuyển hàng hóa qua đường biên giới Buôn bán tiểu ngạch vẫn phải chịu thuế đánh vào giá trị giao dịch, gọi là thuế xuất nhập khẩu tiểu ngạch Do cư dân biên giới được miễn một số thuế nhất định khi tiến hành trao đổi, mua bán hàng hóa qua biên giới, phần giá trị vượt phần được miễn thì vẫn chịu thuế4, hàng hóa khi qua biên giới vẫn phải chịu sự kiểm tra của các cơ quan thuế quan, kiểm dịch, biên phòng, xuất nhập cảnh và các qui định khác Hàng hóa trong thương mại tiểu ngạch tùy thời điểm có sự khác nhau nhất định nhưng không nhiều, danh mục các loại hàng hóa được trao đổi thương mại tiểu ngạch do Bộ Tài chính qui định
Tuy nhiên, trên thực tế sự phân biệt giữa hàng hóa chính ngạch và hàng hóa tiểu ngạch chỉ mang tính chất tương đối, đôi lúc hàng hóa chính ngạch lại được vận chuyển qua đường tiểu ngạch và ngược lại, điều đó tùy thuộc vào mức thuế của từng loại hàng hóa trong từng thời điểm khác nhau cũng như sự phân loại giữa hàng hóa chính ngạch và hàng hóa tiểu ngạch giữa các quốc gia cũng có sự khác biệt
Thứ ba, chủ thể tham gia hoạt động thương mại biên giới đa dạng, thuộc mọi
thành phần kinh tế
Chủ thể tham gia vào hoạt động thương mại biên giới đa dạng với mọi thành phần kinh tế như: doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân…với nhiều tỉnh thành trong cả nước trong đó có cả hộ kinh doanh ở các vùng biên giới, các cá nhân chưa đăng ký kinh doanh Chính vì sự đa dạng của nó đã dẫn đến khó khăn trong công tác quản lý, sự linh hoạt trong khâu chuyển đổi chưa cao, chưa phát huy hết lợi thế của thương mại biên giới
4
Quyết định số 254/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ Về việc quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới
Trang 14Thứ tư, Phương thức thanh toán linh hoạt
Quan hệ thương mại biên giới cũng là một bộ phận của quan hệ thương mại quốc tế Do đó, các phương thức thanh toán cũng mang các đặc điểm chung của thương mại quốc tế như phương thức chuyển tiền, phương thức nhờ thu, phương thức tín dụng chứng từ Các phương thức trên tùy thuộc vào qui mô, tính chất cũng như mối quan hệ trong thương mại có các phương thức thanh toán phù hợp Ngoài những đặc điểm chung như trên, thanh toán trong hoạt động thương mại biên giới còn có những đặc điểm riêng như: thanh toán không thông qua hệ thống ngân hang mà là sự thanh toán trực tiếp giữa người mua và người bán, sử dụng đồng tiền nước người bán hoặc người mua, hang đổi hàng….Các đơn vị kinh tế và tư nhân thường đổi tiền thông qua các chợ đổi tiền mà không thông qua hệ thống ngân hàng Các chợ đổi tiền hoạt động dọc biên giới gắn liền với các cửa khẩu, khu kinh tế cửa khẩu, đã tạo nên sự thuận tiện trong khâu chuyển đổi ngoại tệ Điều này đảm bảo tính linh hoạt cao trong hoạt động mua bán hang hóa Vì nếu phải đổi tiền thông qua hệ thống ngân hàng thì tại các vùng biên giới, cửa khẩu, hệ thống ngân hàng rất thưa thớt và việc chuyển đổi khá tốn thời gian di chuyển và các thủ tục cần thiết Trong khi nhâu cầu chuyển đổi ngoại
tệ tại biên giới là rất lớn, nhất là cư dân biên giới dù giá trị chuyển đổi nhỏ nhưng số lượng lại rất lớn và nếu phải trực tiếp đổi tiền tại ngân hàng thì không khả thi Tuy nhiên thì việc mua bán không nhất thiết phải có hợp đồng và việc đổi tiền diễn ra đơn giản mà không có sự tham gia của ngân hàng đã gây khó khăn trong công tác quản lý, tạo điều kiện cho rủi ro phát sinh
1.3 Các hình thức của hoạt động thương mại biên giới
Từ các đặc điểm của mình như sự đa dạng về cơ cấu, chất lượng hàng hóa, thành phần chủ thể tham gia , hoạt động thương mại biên giới đã được diễn ra với nhiều hình thức khác nhau Các hình thức dù tồn tại ở dạng nào thì cũng đóng vai trò quan trọng hoạt động thương mại biên giới, cụ thể gồm các hình thức sau:
Thứ nhất, mua bán hàng hóa của cư dân biên giới
Đây là một thành phần đặc biệt trong hoạt động thương mại biên giới, được hưởng một số ưu đãi đặc biệt Cư dân biên giới không chỉ là công dân Việt Nam mà có thể là công dân các nước có chung đường biên giới Để trở thành cư dân biên giới, họ phải thỏa mãn một só điều kiện, nhất là họ phải sống tại khu vực biên giới Bản chất của chủ thể này là giá trị hàng hóa giao dịch không lớn, thủ tục đơn giản và không phụ thuộc vào phương thức vận chuyển
Trang 15Thứ hai, xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới
Trong nền kinh tế thị trường, xuất nhập khẩu đóng vai trò chủ đạo của nền kinh
tế Trong đó vấn đề xuất nhập khẩu qua biên giới đóng một vai trò quan trọng bởi có nhiều ưu đãi hơn về thị trường, giá cả, chi phí sản xuất, vận chuyển và cả nguyên liệu Tuy nhiên, việc xuất nhập khẩu qua biên giới còn phụ thuộc nhiều vào chính sách của hai nước cũng như năng lực của mỗi quốc gia Tronh hoạt động này, được xuất nhập bằng đường bộ và đường sắt là chủ yếu Hoạt động này không chỉ thu hút hàng hóa tại khu vực biên giới mà là của cả nước Với nhiều doanh nghiệp, thị trường chủ yếu của
họ là phía bên kia biên giới Tuy nhiên do đặc thù của nền kinh tế Việt Nam, chủ yếu
là các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên qui mô xuất khẩu của từng doanh nghiệp chưa lớn Trong khi đó, việc xuất nhập khẩu tiểu ngạch chiếm tỉ trọng lớn làm cho giá trị xuất khẩu chưa cao, còn tiềm ẩn nhiều rủi ro
Thứ ba, Mua bán, trao đổi hàng hóa tại chợ biên giới
Đây là hoạt động diễn ra tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu…Ngoài các quy định pháp luật của một khu chợ bình thường, các chủ thể kinh doanh tại đây cũng như hàng hóa lưu thông phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo qui định của pháp luật Tại đây không chỉ có công dân, thương nhân Việt Nam mà
có cả thương nhân của các nước có chung đường biên giới khi đáp ứng một số điều kiện nhất định
1.4 Lịch sử hoạt động thương mại với các nước láng giềng
1.4.1 Lịch sử hoạt động thương mại biên giới với Trung quốc
Việt Nam và Trung Quốc – hai nước láng giềng với bao thăng trầm trong mối quan hệ chính trị xã hội cũng như vấn đề kinh tế Thương mại biên giới giữa hai nước cũng không ngoại lệ, trong đó, hoạt động thương mại cũng gắn liền với lịch sử chính trị xã hội giữa hai nước với các giai đoạn chủ yếu sau:
Thứ nhất, giai đoạn 1950 – 1954:
Sau thắng lợi của chiến dịch biên giới 1950, các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn được giải phóng đã tạo điều kiện cho giao lưu buôn bán, trao đổi hàng hóa của nhân dân hai biên giới Tháng 9/1951, Chính phủ hai nước Việt – Trung đã ký các hiệp định về mậu dịch, hiệp định về tiền tệ và Hợp đồng xuất nhập khẩu Đồng thời thành lập các Ty quản lý xuất nhập khẩu ở Lạng Sơn, Cao Bằng và Đồn quản lý xuất nhập khẩu tại các cửa khẩu biên giới Một số công ty xuất nhập khẩu ở các tuyến được thành lập dưới sự quản lý của Bộ Thương mại để làm nhiệm vụ xuất nhập khẩu hàng hóa Tháng 2/1953, cửa khẩu Lào Cai được mở cửa thông thương buôn bán với cửa
Trang 16khẩu Hồ Kiều của Trung Quốc Chính phủ ta đã khuyết khích xuất khẩu một số mặt hàng sang Trung Quốc như sa nhân, cà phê Để tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân mua bán hàng hóa qua biên giới, Chính phủ ta đã ban hành Nghị định 391/TTg về quản lý mậu dịch tiểu ngạch nhân dân biên giới Việt – Trung
Thứ hai, giai doạn 1954 – 1978, đây là thời kỳ khôi phục và xây dựng kinh tế miền Bắc, ngày 10/2/1955 đã khánh thành tuyến đường sắt Hà Nội – Mục Nam Quan tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển thương mại Việt – Trung Ngày 7/7/1955, chính phủ ta đã ký với Trung Quốc Nghị định thư về trao đổi hàng hóa của các công ty mậu dịch địa phương và Hiệp định viện trợ Tháng 7/1965, Chính phủ Việt Nam đã ký với Trung Quốc nghị định thư về việc chuyển tải hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam qua các cửa khẩu Trung Quốc Mặc dù trong gia đoạn Trung Quốc diễn ra “cách mạng văn hóa vô sản”, thương mại Việt – Trụng cũng bị ảnh hưởng nhiều mặt nhưng sau giai đoạn đó, quan hệ giữa hai nước cơ bản trở lại bình thường
Thứ ba, giai đoạn sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ
Từ sau năm 1978, quan hệ hữu nghị giữa hai nước có phần lắng xuống, khu vực biên giới trở thành điểm nóng về an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội nên phải đóng cửa biên giới, quan hệ thương mại ngưng trệ, đã ảnh hưởng không nhỏ đến tốc
độ phát triển kinh tế của hai nước, đặc biệt là thương mại biên gưới
Sau nhiều nỗ lực cố gắng, quan hệ giữa hai nươc đã bình thường trở lại vào cuối năm 1991 Ngay sau khi mới bắt đầu giai đoạn bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, ngày 7/11/1991, chính phủ hai nước đã ký Hiệp định tạm thời về giải quyết các công việc trên biên giới, sau hiệp định, nhiều cửa khẩu, chợ biên giới đã được mở để đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu qua biên giới
Từ năm 1991 đến nay, chính phủ hai nước đã ký nhiều thỏa thuận, hiệp định như: Hiệp định thương mại, Hiệp định hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc (1992), hiệp định thanh toán và hợp tác ngân hang hai nước (1993), hiệp định về quá cảnh hàng hóa (1994), hiệp định về mua bán hang hóa vùng biên giới…
Ngoài ra các bộ ngành liên quan cũng như các địa phương có đường biên giới đã chủ động phối hợp với các cơ quan hữu quan nước bạn thúc đẩy hoạt động thương mại biên giới phát triển, từ đó mà các khu kinh tế cửa khẩu, các siêu thị miễn thuế đã được hình thành Tính đến nay, dải biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc dài 1350 km qua 6 tỉnh vùng cao phía Bắc Tổ quốc đến nay có tất cả 25 cặp cửa khẩu, trong đó có 4 cặp cửa khẩu quốc tế, 7 cặp cửa khẩu quốc gia và 14 cặp tiểu ngạch Ngoài ra, còn có
59 cặp đường mòn và 13 cặp chợ biên giới để phục vụ cho các hoạt động giao lưu kinh
tế và qua lại của dân cư dọc biên giới 2 nước
Trang 171.4.2 Lịch sử hoạt động thương mại biên giới với Lào
Từ đầu thập niên 90, trong bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi, Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chính phủ Cộng hào dân chủ nhân dân Lào đã khẳng định lại truyền thống hữu nghị và tinh thần hợp tác toàn diện giữa hai nước Tháng 2/1991, Việt Nam và Lào đã ký Hiệp định thương mại cho giai đoạn 1991 –
1995, đồng thời ký nghị định thư thương mại, trong đó bao gồm doanh mục hang hóa xuất khẩu giữa hai nước (của Lào sang Việt Nam gồm 22 mặt hàng, của Việt Nam sang Lào gồm 39 mặt hàng ) Các hiệp định, thỏa thuận tiếp theo như: Hiệp định về hợp tác kinh tế, văn hóa, kỹ thuật ( ngày 15/02/1992 ), Hiệp định về hàng hóa của Lào quá cảnh qua lãnh thổ Việt Nam ( ngày 23/4/1994), Hiệp định về tránh đánh thuế hai lần ( ngày 14/01/1996), Hiệp định thương mại ( ngày 09//3/1998 )…đã tạo cơ sở pháp
lý quan trọng, đã mở ra những khả năng mới, tạo điều kiện cho hợp tác và giao lưu kinh tế giữa hai nước phát triển mạnh
Bên cạnh đó, các Bộ ngành chức năng của hai bên cũng đã ban hành các văn bản liên quan hình thành khuôn khổ pháp lý trong hoạt động thương mại nói chung và thương mại biên giới giữa hai nước nói riêng, trong đó phải kể đến thỏa thuận tạo điều kiện thuận lợi về vận chuyển hang hóa, hành khách ở lưu vực sông Mekong (GMS năm 1992), tạo điều kiện thuận lợi cho người, hang hóa, phương tiện qua lại giữa hai nước, các quyết định về giảm thuế cho hàng hóa sản xuất tại Lào, các qui chế về tổ chức chợ biên giới và trao đổi hàng hóa giữa cư dân biên giới hai nước Sau khi Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào ký “Hiệp định hoạch định biên giới” giữa hai nước, trên dọc tuyến biên giới Việt Nam – Lào đã hình thành 11 cặp cửa khẩu biên giới trên
bộ, trong đó có 2 cửa khẩu quốc tế, 9 cửa khẩu quốc gia, ngoài ra còn có 13 cửa khẩu địa phương và 7 chợ biên giới Trong đó, một trong những cửa khẩu quan trọng và có khối lượng cũng như giá trị hàng hoá ra vào lớn nhất là cửa khẩu quốc tế Lao Bảo (Quảng Trị) và Cầu Treo (Hà Tĩnh)
1.4.3 Lịch sử hoạt động thương mại biên giới với Campuchia
Quan hệ kinh tế Việt Nam – Campuchia ngày càng được cải thiện, đặc biệt là hoạt động thương mại biên giới, từ đó, các chính sách đã được đưa ra và dần hoàn thiện, thúc đẩy kinh tế vùng biên ngày càng phát triển Trong đó thể hiện ở một số hiệp định, thỏa thuận quan trọng như Hiệp định thương mại (1998), hiệp định quá cảnh hang hóa (2000, bản sửa đổi 2008)
Mặc dù có nhiều chủ trương, chính sách pháp luật về phát triển thương mại biên giới, trong đó có chợ biên giới, cửa khẩu… Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập về các
Trang 18qui định pháp luật cũng như công tác quản lý dẫn tới hoạt động thương mại biên giới nơi đây vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của nó
Tính đến nay, trên toàn tuyến biên giới Việt Nam – Campuchia có 10 cửa khẩu quốc tế, 9 cửa khẩu chính, 30 cửa khẩu phụ, 9 khu kinh tế cửa khẩu, ngoài ra còn có một mạng lưới 107 chợ biên giới gồm: 70 chợ biên giới, 14 chợ cửa khẩu và 23 chợ trong khu kinh tế cửa khẩu phục vụ trao đổi hang hóa của cư dân biên giới hai nước
1.5 Tính tất yếu và ý nghĩa của việc phát triển thương mại biên giới
Trong xu thế toàn cầu hóa, kinh tế đối ngoại đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh
tế Trong đó, hoạt động thương mại biên giới là tiền đề, là yếu tố cơ bản trong hoạt động kinh tế đối ngoại Thương mại biên giới hình thành sớm dựa trên nhu cầu trao đổi, mua bán hàng hóa của cư dân khu vực biên giới Đó là cơ sở ban đầu, và khi xuất hiện nền kinh tế hàng hóa, thương mại biên giới đã được bổ sung thêm một số tính năng mới, đồng thời cũng phát triển lên tầm cao mới Xu hướng trên đã lan rộng và xuất hiện một số mô hình tiêu biểu như NAFTA, EU…với chính sách mở cửa biên giới, chuyển thành các khu vực mậu dịch tự do, phát triển các khu kinh tế phồn thịnh, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế
1.5.1 Tính tất yếu của việc phát triển thương mại biên giới
Việt Nam và các nước láng giềng cũng tích cực hội nhập kinh tế quốc tế nên cũng không nằm ngoài xu thế đó Với đường biên giới dài, nền văn hóa các nước trong khu vực tương đối tương đồng, có mối qua hệ gắn bó cả về lịch sử hình thành và phát triển,
đã tạo cơ sở để phát triển thương mại biên giới Đặc biệt, Việt Nam – Lào và Campuchia là thành viên của ASEAN, Việt Nam – Trung Quốc đều là thành viên của APEC và Hiệp định hợp tác toàn diện ASEAN – Trung Quốc Do đó, việc phát triển thương mại biên giới giữa Việt Nam với các nước láng giềng là điều tất yếu, là điều kiện cơ bản để hội nhập kinh tế quốc tế
Bên cạnh đó, thực tiễn đã chứng minh, qua gần 30 năm đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế, thương mại biên giới đã cho thấy:
- Hợp tác, trao đổi hàng hóa với các quốc gia trên thế giới là một nhu cầu khách quan trên con đường phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Trong đó, hợp tác kinh tế, trao đổi hàng hóa với các quốc gia có cùng đường biên giới là bước đệm đầu tiên trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
- Thông qua việc phát triển thương mại biên giới, ta phát huy được các lợi thế so sánh, triệt để sử dụng nguồn lực quốc gia, góp phần phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân
Trang 19- Thương mại biên giới đã mở ra cơ hội hợp tác, giao lưu kinh tế với các nước khác, bao gồm các nước có chung đường biên giới các nước thứ ba, góp phần phát triển kinh tế chung của cả khu vực
- Thương mại biên giới đã lám sâu sắc thêm tình hữu nghị giữa các nước, cũng như sự ràng buộc lẫn nhau về kinh tế làm cho các nước thêm gắn kết, tạo môi trường hòa bình, ổn định khu vực
Nói chung, thương mại biên giới là điều kiện cơ bản và tất yếu khi bước chân vào nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế Trong đó sự liên kết kinh tế khu vực đang là xu hướng chung của thế giới
1.5.2 Ý nghĩa của việc phát triển thương mại biên giới
1.5.2.1 Ý nghĩa của thương mại biên giới đối với chính trị xã hội, an ninh – quốc phòng
Lãnh thổ Việt Nam trải dài từ bắc chí nam với gần 4510 km đường biên giới trên bộ, trong đó có 25 tỉnh, 103 huyện, thị xã, thành phố và 435 phường xã, thị trấn có đường biên giới trên đất liền Đây chủ yếu là khu vực đồi núi, dân cư thưa thớt, đời sống người dân còn nhiều khó khăn và trình độ dân trí thấp Đó cũng là lý do mà bọn tội phạm hoạt động mạnh, tệ nạn buôn lậu phổ biến, lợi dụng sự thiếu hiểu biết cũng như cuộc sống khó khăn của người dân để kích động, gây rối, làm mất trật tự, an toàn
xã hội Trong khi đó nếu dùng ngân sách để đầu tư cho toàn bộ khu vực này thì không đơn giản với một nước đang phát triển Do đó việc phát triển thương mại biên giới sễ nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, tạo điều kiện để nâng cao ý thức cũng như trình độ văn hóa, vừa tạo điều kiện cho người dân sống tập trung lại để dễ quản lý cũng như đầu tư phát triển Đồng thời họ cũng là một lực lượng quan trọng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm biên giới, góp phần làm nên sự ổn định cho toàn
xã hội Nhất là việc phát triển thương mại biên giới sẽ làm cho các nước láng giềng thêm gắn bó, phụ thuộc một phần vào nhau giúp cho các mối quan hệ chính trị - xã hội trở nên ổn định hơn
1.5.2.2 Ý nghĩa đối với nền kinh tế nói chung và thương nhân nói riêng
Hoạt động thương mại biên giới về cơ bản là cầu nối giữa nền kinh tế quốc gia và thế giới Trong đó, việc phát triển thương mại biên giới đến đâu phần nào phản ánh được sự phát triển của một nền kinh tế nói chung đối với một nước có nhiều nước giáp ranh, và đối với một nước có truyền thống nông nghiệp như nước ta, việc phát triển đó lại càng quan trọng Sự quan trọng đó được thể hiện trong nền kinh tế nói chung và thương nhân nói riêng khi phát triển thương mại biên giới Cụ thể, sự ảnh hưởng, vai
trò của thương mại biên giới được thể hiện ở các mặt sau:
Trang 20Thứ nhất, đối với nền kinh tế
Việc phát triển thương mại biên giới không chỉ phát triển kinh tế khu vực biên giới
mà còn thu hút các vùng kinh tế trong cả nước Với nhiều ưu đãi đặc biệt về thuế quan cũng như chi phí vận chuyển, thị trường tiêu thụ lớn…hoạt động thương mại biên giới ngày càng được chú trọng và đóng góp không nhỏ trong nền kinh tế Việc phát triển thương mại biên giới đã giúp Việt Nam xuất khẩu được một lượng lớn mặt hàng mà trước đây ta vốn dồi dào nhưng chưa tìm được thị trường, đặc biệt là mảng nông sản Với chất lượng nguồn nông sản chưa cao, khâu sản xuất, bảo quản còn nhiều bất cập thì việc thâm nhập các thị trường khó tính là điều không dễ dàng Tuy nhiên chính thương mại biên giới đã giải quyết các vấn đề đó, nhất là các loại nông sản dưới dạng thô, đã qua sơ chế, kể cả một số mặt hang tiêu dung, may mặc…Tuy nhiên, vì cùng khu vực địa lý cũng như nét tương đồng về văn hóa làm cho cơ cấu sản phẩm, các mặt hàng xuất nhập khẩu của các nước không khác nhau nhiều, do đó sẽ có sự cạnh tranh giữa sản phẩm các nước, góp phần nâng cao sức cạnh tranh cho nền kinh tế
Thứ hai, đối với thương nhân
Cửa ngõ biên giới chính là một thị trường lớn, cùng với nhiều ưu đãi đặc biệt về thuế quan, thủ tục hành chính…đã hướng một bộ phận thương nhân tập trung vào mảng này Tuy nhiên do tập quán kinh tế cũng như qui mô nền kinh tế chưa lớn, các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là vừa và nhỏ nên sức cạnh tranh chưa cao, tiềm lực kinh tế còn yếu, công nghệ sản xuất cơ bản còn lạc hậu Mặc dù các nước trong khu vực có nét tương đồng về văn hóa nhất định do đó không có yêu cầu khắc khe như các thị trường khác Mặc khác, đây cũng là một nguồn nguyên – nhiên liệu, kể cả công nghệ để bù vào các khiếm khuyết của nền kinh tế Đặc biệt là chất lượng và giá cả hàng hóa sẽ khác biệt rất nhiều khi có sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp nước bạn Đây chính là một sự làm quen, sự tập luyện cho các doanh nghiệp trong nước trước khi bước ra thị trường thế giới với sự cạnh tranh còn khốc liệt hơn gấp nhiều lần
1.6 Hệ thống các qui định về thương mại biên giới của việt Nam
Các qui định về thương mại biên giới của Việt Nam gắn liền với quá hình hình thành và phát triển kinh tế trong nước, chính sách đối ngoại quốc gia và mối quan hệ với các nước có cùng đường biên giới Cụ thể, hệ thống pháp luật về thương mại biên giới Việt Nam gồm các "Điều ươc quốc tế " mà Việt Nam đã ký kết hoặc công nhận trong hoạt động thương mại biên giới và " Pháp luật quốc gia " được ban hành trên cơ
sở tuân thủ các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia hoặc công nhận
Trang 211.6.1 Điều ước quốc tế
Trên cơ sở tuân thủ Luật Điều ước quốc tế mà Việt Nam cũng như các nước có cùng đường biên giới là thành viên, Việt Nam và Trung Quốc, Lào ,Campuchia đã ký nhiều hiệp ước mở đầu cũng như thúc đẩy hoạt động thương mại biên giới phát triển Với Trung Quốc, nước ta đã ký nhiều hiệp định như: Hiệp định thương mại, hiệp định hợp tác kinh tế, hiệp định thanh toán và hợp tác giữa ngân hàng hai nước, hiệp định về quá cảnh hàng hóa, hiệp định về mua bán hàng hóa vùng biên giới Với Lào, nước ta cũng đã ký nhiều hiệp định về thương mại như: Hiệp định về hợp tác kinh tế, văn hóa,
kỹ thuật (1992), Hiệp định về hàng hàng hóa của Lào quá cảnh vào lảnh thổ Việt Nam (1994), Hiệp định về tránh đánh thuế hai lần (1996), Hiệp định về trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới (1997) Với Campuchia, cũng có các hiệp định được ký kết như Hiệp định thương mại, hiệp định quá cảnh hàng hóa Các hiệp định trên đã đặt nền móng, mở đường cho thương mại biên giới giữa các nước phát triển, đồng thời dựa trên đó định hướng cho sự hình thành của pháp luật quốc gia về thương mại biên giới
1.6.2 Luật quốc gia
Về các qui định chung, hoạt động thương mại biên giới cũng là hoạt động thương mại, do đó vẫn tuân thủ các qui định chung của Luật thương mại 2005, Luật doanh nghiệp 2005 về điều kiện, chủ thể tham gia, hình thức kinh doanh Đặc biệt là Luật Biên giới quốc gia 2003 và Nghị định 34/2014/NĐ-CP ngày 29/4/2014 của Chính phủ về quy chế biên giới đất liền nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong hoạt động thương mại biên giới
Về các qui định riêng, hoạt động thương mại biên giới chịu sự điều chỉnh của các văn bản sau :
- Quyết định số 254/2006/QĐ-TTg ngày 07/11/2006 của Thủ tướng chính phủ về quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước chung đường biên giới
- Nghị định số 34/2014/NĐ-CP ngày 29/4/2014 của Chính phủ về Qui chế khu vực biên giới đất liền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Quyết định số 22/2008/QĐ_BCT ngày 31/07/2008 của Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành qui chế chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu
- Quyết định số 139/2009/QĐ-TTg ngày 23/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều qyết định số 254/2006/QĐ-TTg ngày 7/11/2006 của Thủ tướng chính phủ về quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung đường biên giới
Trang 22Ngoài các văn bản chính trên, hoạt động thương mại biên giới còn chịu sự điều chỉnh của các văn bản liên quan của chính phủ cũng như các bộ ngành liên quan như thủ tục cấp giấy thông hành biên giới, quy trình, thủ tục xuất nhập cảnh… của các bộ, ngành liên quan
Trang 23CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI BIÊN GIỚI
Từ cơ sở ban đầu là việc tìm hiểu lý luận chung về hoạt động thương mại biên giới và cũng để làm rõ các vấn đề về hoạt động thuương mại biên giới trong pháp luật
hiện hành, phần tiếp theo của Chương 2 sẽ tìm hiểu về " Quy định của pháp luật về
hoạt động thương mại biên giới " Nội dung chính của phần này là tập trung nghiên
cứu các quy định trong Quyết định số 254/2006/QĐ-TTg TTg ngày 7/11/2006 của Thủ tướng chính phủ về quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung đường biên giới và Quyết định số 139/2009/QĐ-TTg sửa đổi Quyết định số 254/2006/QĐ-TTg về việc quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước chung đường biên giới, Thông tư liên tịch số 01/2008/TTLT-BCT-BTC-BGTVT-BNN&PTNN-BYT-NHNN hướng dẫn thực hiện Quyết định số 254/2006/QĐ-TTg việc quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước chung đường biên giới ,Nghị định số 34/2014/NĐ-CP về Quy chế khu vực biên giới đất liền và các văn bản liên quan của Chính phủ, Bộ Công thương, Bộ Tài chính về việc hướng dẫn, chỉ đạo cũng như các quy định trong hoạt động thương mại biên giới Cụ thể, Chương 2 xoay vấn vấn đề điều kiện chủ thể, địa điểm kinh danh, cũng như hàng hóa, thuế suất, xuất nhập cảnh người và phương tiện trong hoạt động thương mại biên giới Trên cơ sở đó, tập trung nghiên cứu những vướng mắc phát sinh trong hoạt động thương mại để từ đó
đi đến những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động thương mại biên giới trong phần tiếp theo
2.1 Chủ thể của hoạt động thương mại biên giới
Trong hoạt động thương mại biên giới, chủ thể tham đa dạng với mọi thành phần kinh tế, thuộc các vùng miền trong cả nước, trong có có tập thể, cá nhân, có đăng ký kinh doanh hoặc không đăng ký kinh doanh… Tuy nhiên, dựa vào đặc điểm hình thành cũng như tính chất, có thể chia thành ba nhóm sau: Thứ nhất là mua bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới, thứ hai kinh doanh tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong, khu kinh tế cửa khẩu và thứ ba là là xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới Trong đó, mỗi chủ thể đều có những đóng góp nhất định vào sự phát triển chung của thương mại biên giới
Trang 24
2.1.1 Chủ thể được mua bán, trao đổi hàng hóa qua biên giới
Chủ thể được mua bán, trao đổi hàng hóa qua biên giới là cư dân biên giới Cư dân biên giới là công dân có hậu khẩu thường trú tại khu vực tiếp giáp biên giới với các nước có chung đường biên giới như Trung Quốc, Lào, Campuchia 5
Cụ thể, công dân Việt Nam hoặc công dân các nước có chung đường biên giới sinh sống tại các khu vực tiếp giáp biên giới bao gồm xã, phường, thị trấn có một phần địa giới hành chính trùng hợp với đường biên giới quốc gia trên đất liền Về các điều kiện cũng như khu vực được coi là khu vực biên giới thì thì thuộc vào các qui định của mỗi quốc gia cũng như các điều ước song phương đã được ký kết
Trong đó, công dân Việt Nam thường trú, tạm trú tại các khu vực biên giới được cấp sổ thông hành khi có yêu cầu đăng kí tại Ủy ban nhân dân các xã vùng biên giới Trong đó các xã phường, thị trấn tiếp giáp biên giới được quy định tại Nghị định số 34/2014/NĐ-CP ngày 29 tháng 4 năm 2014 về Quy chế khu vực biên giới đất liền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việc cấp sổ thông hành, giấy thông hành biên giới cho từng quốc gia tiếp giáp biên giới có sự khác biệt nhất định, tùy thuộc vào
sự thỏa thuận song phương giữa các quốc gia Trong đó, việc cấp giấy thông hành sang Trung Quốc được quy định tại Thông tư 67/2013/TT-BCA ngày 11 tháng 12 năm
2013 Còn việc cấp giấy thông hành sang Lào và Campuchia được qui định tại Thông
tư 41/2011/TT-BCA ban hành ngày 29 tháng 6 năm 2011 và Thông tư số BCA ngày 29 tháng 6 năm 2011về việc cấp giấy thông hành sang Lào và Campuchia
2.1.2 Chủ thể được hoạt động kinh doanh tại chợ biên giới, chợ của khẩu,
chợ trong khu kinh tế cửa khẩu
Doanh nghiệp, hộ kinh doanh Việt Nam có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của cơ quan có thẩm quyền do nhà nước cấp, được phép tổ chức kinh doanh tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu Về cơ bản, doanh nghiệp,
hộ kinh doanh Việt Nam được thành lập theo các quy định tại luật Thương mại 2005
và đăng ký hoạt động tương ứng với các cơ quan quản lý tương ứng cửa chợ biên giới, chợ của khẩu hay chợ trong khu kinh tế cửa khẩu
Doanh nghiệp, hộ kinh doanh của các nước có chung biên giới phải đáp ứng các đều kiện kinh doanh theo quy định pháp luật của nước sở tại và tuân thủ các quy định tại Nghị định số 34/2014/NĐ-CP ngày 19 tháng 4 năm 2014 về Quy chế biên giới trên đất liền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quy định có liên quan đến việc đi lại, cư trú và kinh doanh trong khu vực biên giới:
5Điều 6 Quyết định số 254/2006/QĐ-TTg
Trang 25- Được phép tổ chức kinh doanh tại chợ cửa khẩu và chợ biên giới khi được Sở công thương các tỉnh biên giới cấp giấy phép kinh doanh;
- Được phép tổ chức kinh doanh tại chợ trong Khu kinh tế cửa khẩu khi được Ban quản lý Khu kinh tế cửa khẩu cấp giấy phép kinh doanh
Công dân của nước có chung biên giới khi được phép kinh doanh tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong Khu kinh tế cửa khẩu và có giấy phép kinh doanh tại các chợ nói trên còn trong thời hạn hiệu lực nếu có nhu cầu tạm trú ở Việt Nam sẽ được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam xem xét cấp chứng nhận tạm trú hoặc thẻ tạm trú theo hướng dẫn của Bộ Công an
2.1.3 Chủ thể được xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới
Theo Điều 8 Quyết định số 254/2006/QĐ-TTg ngày 07 tháng 11 năm 2006, chủ thể được xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới gồm:
- Thương nhân Việt Nam
- Hộ kinh doanh thuộc các tỉnh tiếp giáp biên giới được thành lập đăng ký theo quy định tại Nghị định số 43/2010NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp
Thương nhân bao gồm các tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh6 Về cơ bản, thương nhân cả nước, thuộc mọi thành phần kinh tế, mọi vùng miền của cả nước có thể tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu qua biên giới khi đáp ứng các điều kiện cụ thể như: hàng hóa được phép xuất khẩu, nhập khẩu,giấy phép xuất khẩu đối với một số loại hàng hóa, giấy phép nhập khẩu đối với từng loại hàng hóa nhất định
Còn đối với hộ kinh doanh, về cơ bản hộ kinh doanh xuất nhập khẩu qua biên giới cũng không khác với các quy định về hộ kinh doanh được xuất nhập khẩu ra nươc ngoài nói chung vẫn tuân theo các quy định tại Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ Cụ thể, hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh Trong đó, những hộ gia đình tham gia sản xuất nông - lâm – ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, kinh doanh dịch vụ lưu động có thu nhập thấp không cần phải đăng ký kinh doanh, trừ những ngành nghề kinh doanh có điều kiện
6Khoản 1 điều 6 Luật thương mại 2005
Trang 26Đối vơi công dân, thương nhân các nước có chung đường biên giới cần đáp ứng các quy định của pháp luật nước sở tại cũng như thỏa mãn các qui định dựa trên điều ước song phương mà các bên đã ký kết dduocj quyền xuấ nhập khẩu hàng quá qua cửa khẩu Việt Nam khi đáp ứng từng yêu cầu cụ thể đối với từng loại hàng hóa, dịch vụ cụ thể
2.2 Địa điểm, thủ tục diễn ra hoạt động thương mại biên giới
2.2.1 Địa điểm, thủ tục mua bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới 2.2.1.1 Địa điểm mua bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới
Các địa điểm cư dân biên giới được phép qua lại, mua bán, trao đổi hàng hóa được qui định tại Điều 7 Quyết định số 254/2006/QĐ-TTg ngày 07 tháng 11 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ , cụ thể như sau:
Thứ nhất, cửa khẩu được Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước có chung biên giới thoả thuận mở Đây thường là cửa khẩu quốc gia hoặc cửa khẩu tế và có vai trò quan trọng trong việc xuất nhập khẩu, vận chuyển hàng hóa Các cửa khẩu này thường
có thể vận chuyển hàng hóa bằng nhiều phương thức khác nhau, có thể có đường sắt hoặc đường thủy tùy từng khu vực cụ thể
Thứ hai, cửa khẩu và các điểm thông quan khác thuộc các Khu kinh tế cửa khẩu
do Chính phủ Việt Nam cho phép thành lập Cửa khẩu này thường được mở gắn liền với sự hình thành của khu kinh tế cửa khẩu do chính phủ quyết định thành lập Cửa khẩu này không chỉ phục vụ cho việc xuất nhập khẩu hàng hóa trong khu kinh tế cửa khẩu mà còn phục vụ cho việc xuất nhập khẩu hàng hóa nói chung cũng như nhu cầu xuất nhập cảnh của cư dân biên giới hai nước
Thứ ba, cửa khẩu do các tỉnh tiếp giáp biên giới của Việt Nam và tỉnh tiếp giáp biên giới của nước có chung biên giới thoả thuận mở và được Bộ Thương mại (Nay là
Bộ Công Thương) cho phép tiến hành làm thủ tục thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu Đây là có thể coi là cửa khẩu phụ, chỉ phục vụ cho nhu cầu xuất nhập khẩu và qua lại của cư dân biên giới hai nước, do chính quyền địa phương của hai tỉnh biên giới giáp ranh thỏa thuận mở
Thứ tư, đường mòn, lối mở biên giới được chính quyền địa phương cấp tỉnh vùng biên giới hai nước hiệp thương xác định theo pháp luật hiện hành và quy định có liên quan của Chính phủ hai nước Đây là một địa điểm hầu như chỉ có sự hiện diện của cư dân biên giới và phục vụ cho cư dân biên giới là chủ yếu Trong đó, các đường mòn, lối mòn biên giới thường do nhân dân hai nước qua lại lâu ngày hình thành và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân các tỉnh vùng biên giới, sự kiểm soát tại các khu vực này không có hải quan sẽ do Bộ đội biên phòng các khu vực này phụ trách
Trang 272.2.1.2 Thủ tục hải quan đối với mua bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới
Thủ tục hải quan đối với hàng hoá mua bán, trao đổi của cư dân biên giới được
thực hiện theo quy định của Luật Hải quan7, trong đó gồm có hai phần chính là hồ sơ hải quan và kiểm tra thực tế hàng hóa
Thứ nhất,đối với hồ sơ hải quan, để được qua biên giới, cửa khẩu thực hiện các hoạt động mua bán, trao đổi hang hóa, chủ hàng, người tham gia hoạt động thương mại biên giới xuất trình chứng minh thư biên giới hoặc giấy thông hành biên giới do cơ quan có thẩm quyền của nước có chung biên giới cấp để được qua biên giới, cửa khẩu cũng như được hưởng định mức miễn thuế…
Hàng hoá mua bán, trao đổi của cư dân biên giới không yêu cầu phải khai trên tờ khai hải quan đối với hàng hoá trong định mức quy định8; đối với hàng hoá vượt định mức thì phải khai trên tờ khai phi mậu dịch phần vượt định mức đó Hàng hoá mua bán, trao đổi của cư dân biên giới nếu vượt định mức quy định, thì Cơ quan Hải quan tính thu thuế trực tiếp trên Tờ khai hàng hoá xuất khẩu/ nhập khẩu phi mậu dịch phần vượt định mức đó Hàng hoá mua bán, trao đổi của cư dân biên giới không phải nộp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá (C/O) Việc xác định xuất xứ hàng hoá đối với trường hợp này căn cứ vào việc kiểm tra thực tế của công chức hải quan
Riêng đối với trường hợp khách du lịch là cư dân các nươc có chung đường
biên giới, chỉ cần xuất trình chứng minh thư tại cơ quan kiểm tra cửa khẩu, lối mở biên giới để được qua biên giới Hàng hóa mua sắm của khách du lịch nếu nằm trong định mức miễn thuế vẫn được miễn thuế, phần giá trị vượt định mức miễn thuế vẫn phải nộp thuế như cư dân biên giới Du khách chỉ được ở lại trong ngày, nếu muốn ở qua đêm tại đó, du khách phải đăng ký tại cơ quan quản lý địa phương và nộp mức phí tương ứng tại địa phương đó
Thứ hai, kiểm tra thực tế hàng hoá, đối với hàng hóa của cư dân biên giới, việc kiểm tra thực tế hàng hóa chỉ kiểm tra đối với trường hợp qua giám sát thấy có khả năng vượt định lượng miễn thuế, có hàng lậu Cơ sở để tính giá trị hàng hóa là căn cứ vào giá cả thị trường vùng biên giới tại thời điểm đó Đối với lô hàng có mở tờ khai xuất khẩu, nhập khẩu phi mậu dịch thì việc kiểm tra thực tế hàng hoá phải thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành Nơi không có Hải quan, thì Bộ đội biên phòng thực hiện theo các quy định trên
7
Luật Hải quan số 29/2001/QH10 và Luật số 42/2005/QH11 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan
8
Thông tư liên ng tư liên tịch số 01/2008/TTLT-BCT-BTC-BGTVT-BNN&PTNN-BYT-NHNN ngày
31/01/2008 của Bộ Công thương- Bộ Tài chính-Bộ Giao thông vận tải-Bộ nông nghiệp và phát triển nông
thôn-Bộ Y tế- Ngân hàng nhà nước Việt Nam hướng dẫn thực hiên quyết định số 254/2006/QĐ-TTg ngày 7/11/2006 của Thủ tướng chính phủ về quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung đường biên giới
Trang 282.2.2 Địa điểm, thủ tục kinh doanh tại chợ biên giới, chợ của khẩu, chợ trong khu kinh tế của khẩu
2.2.2.1 Địa điểm kinh doanh tại chợ
Địa điểm kinh doanh tại chợ biên giới, chợ của khẩu, chợ trong khu kinh tế của khẩu được diễn ra tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu hay chợ trong khu kinh tế của khẩu
Cụ thể, việc mua bán, trao đổi hang hóa tại chợ gồm các khu vực bán hàng, các cửa hàng hay sạp hàng được theo sự sắp xếp của Ban quản lý chợ biên giới, chợ của khẩu hay Ban quản lý trong khu kinh tế cửa khẩu Về hình thức tổ chức chức chợ, quản lý chợ được quy định tại Văn bản hợp nhất số: 11/VBHN-BCT ngày 23 tháng 1 năm
2014 về phát triển và quản lý chợ Còn về khu vực, địa điểm tổ chức, thành lập chợ do
Ủy ban nhân các tỉnh vùng biên giới quyết định
2.2.2.2 Thủ tục kinh doanh tại chợ biên giới, chợ của khẩu, chợ trong
khu kinh tế của khẩu
Đối với kinh doanh tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu hay chợ trong khu kinh tế cửa khẩu, việc kinh doanh và các qui định liên quan về cơ bản giốn như các quy định đối với các loại chợ thông thường trong nội địa, trong đó, chợ ở khu vực biên giới có hai vấn đề cần quan tâm là tổ chức quản lý chợ và thủ tục hải quan đối với hàng hóa ra vào chợ
Thứ nhất, về tổ chức, quản lý chợ, việc quyết định thành lập (hoặc giải thể) và quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan quản lý chợ đối với chợ biên giới, chợ cửa khẩu thực hiện theo phân cấp đối với từng loại chợ quy định tại Văn bản hợp nhất số: 11/VBHN-BCT ngày 23 tháng 1 năm 2014 về phát triển và quản lý chợ, trong đó:
- Chợ trong khu kinh tế cửa khẩu do Trưởng Ban quản lý khu kinh tế cửa khẩu quyết định thành lập (hoặc giải thể) và quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan quản lý chợ theo quy định tại Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng
01 năm 2003 của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ ( Được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 114/2009/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2009, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 02 năm 2010)
- Các nội dung khác liên quan đến chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong Khu kinh tế cửa khẩu không được nêu trong Thông tư liên tịch 01/2008/TTLT-BCT-BTC-BGTVT-BNN&PTNT-BYT-NHNN thì tuân theo các qui định tại Văn bản hợp nhất số: 11/VBHN-BCT ngày 23 tháng 1 năm 2014 về phát triển và quản lý chợ
Trang 29- Các quy định về chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong Khu kinh tế cửa khẩu của pháp luật Việt Nam nếu có sự khác biệt so với các thoả thuận song phương giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước có chung biên giới thì thực hiện theo các thoả thuận song phương đã được ký kết giữa hai Chính phủ Thứ hai, thủ tục hải quan đối với hàng hoá được mua bán, trao đổi tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu Thủ tục hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu đưa vào chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu được thực hiện như thủ tục hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu qua biên giới nêu tại khoản 3, Mục III của Thông tư Thông tư liên tịch 01/2008/TTLT-BCT-BTC-BGTVT-
BNN&PTNT-BYT-NHNN ngày 31 tháng 11 năm 2008
2.2.3 Địa điểm, thủ tục hải quan đối với xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa qua biên giới
2.2.3.1 Địa điểm đối với xuất khẩu hàng hóa qua biên giới
Theo điều Điều 9 Quyết định số 254/2006/QĐ-TTg ngày 07 tháng 11 năm
2006 của Thủ tướng Chính phủ thì cửa khẩu xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới gồm:
- Cửa khẩu quốc tế được mở cho người, phương tiện, hàng hoá của Việt Nam, nước có chung biên giới và nước thứ ba xuất nhập qua biên giới quốc gia
- Cửa khẩu chính được mở cho người, phương tiện, hàng hoá của Việt Nam và nước có chung biên giới xuất, nhập qua biên giới quốc gia
- Cửa khẩu và các điểm thông quan khác thuộc Khu kinh tế cửa khẩu do Chính phủ Việt Nam cho phép thành lập
- Cửa khẩu phụ được mở cho người, phương tiện, hàng hoá của Việt Nam và nước
có chung biên giới ở khu vực biên giới, vùng biên giới qua lại biên giới quốc gia )
So với cư dân biên giới, xuất nhập khẩu qua biên giới không được thực hiện ở những khu vực không có sự kiểm soát của Hải quan như lối mở, đường mòn biên giới, các cửa khẩu phụ (trừ trường hợp được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về việc xuất nhập khẩu qua cửa khẩu phụ với từng loại hàng hóa), riêng đối với hàng hóa của nước thứ 3 ( là những nước không cùng đường biên giới) chỉ được xuất nhập khẩu qua cửa khẩu quốc tế và cửa khẩu chính
Đối với các hàng hóa xuất khẩu hợp pháp theo các quy định hiện hành được phép đi qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới nêu trên Riêng đối với hàng hóa là tài nguyên khoáng sản thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh có cửa khẩu phụ, lối mở
Trang 30biên giới đáp ứng các quy định9 quyết định việc cho phép các loại hàng hóa này được
đi qua Đối với hàng hóa nhập khẩu qua cửa khẩu phụ, lối mở phải nằm trong hai Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư 13/2009/TT-BTC ngày 03 tháng 6 năm 2009 và phải được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định cho phép đi qua Đối với các mặt hàng thuộc Phụ lục 2 Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh biên giới chỉ được cho phép hàng hóa đi qua khi có sự đồng ý bằng văn bản của Bộ Công Thương gồm nguyên liệu lá thuốc lá, hóa chất công nghiệp, than mỡ và than cốc; phân bón các loại Các hàng hóa được phép đi qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới vẫn phải đáp ứng các quy định hiện hành về xuất nhập khẩu chủ yếu bao gồm Nghị định số 12/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định ngày 23/01/2006 và các văn bản quản lý chuyên ngành có liên quan
Để đảm bảo việc thực hiện, Ủy ban nhân dân các tỉnh có cửa khẩu phụ, lối
mở biên giới phải có trách nhiệm báo cáo Bộ Công Thương về hoạt động xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu phụ, lối mở biên giới vào tuần cuối của tháng cuối quý hoặc báo cáo đột xuất theo yêu cầu cụ thể; trách nhiệm phải lập danh mục các cửa khẩu phụ, lối mở biên giới đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều 1 của Thông tư, thông báo cho Bộ Công Thương đồng thời thông báo công khai cho doanh nghiệp và các cơ quan hữu quan biết các cửa khẩu phụ, lối mở biên giới được phép xuất nhập khẩu hàng hóa; các
cơ quan quản lý Nhà nước về Hải quan, Biên phòng, Kiểm dịch thực hiện các hoạt động quản lý, kiểm tra, kiểm soát, làm các thủ tục xuất hoặc nhập khẩu qua các cửa khẩu phụ, lối mở biên giới theo quy định hiện hành
2.2.3.2 Thủ tục hải quan đối với xuất khẩu hàng hóa qua biên giới
Thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu qua biên giới được thực hiện theo quy định của Luật Hải quan, cụ thể gồm các thủ tục cơ bản sau:
Thứ nhất, đối với hàng nhập khẩu, tờ khai hải quan: Sử dụng tờ khai hàng hoá
nhập khẩu theo Tờ khai Hải quan do Bộ Tài chính quy định Các chứng từ khác về hồ
sơ hải quan, quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo hợp đồng mua bán do Bộ Tài chính quy định, trừ vận đơn và hợp đồng thương mại Phải có Giấy chứng nhận kiểm dịch y tế do cơ quan kiểm dịch y tế cấp (đối với hàng hoá thuộc đối tượng kiểm dịch y tế); và Giấy đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hoá đối với hàng hoá thuộc diện phải kiểm tra Hàng hoá nhập khẩu qua biên giới được hưởng các ưu đãi về thuế nhập khẩu nếu có đủ điều kiện theo thoả thuận song phương giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước có chung biên giới; việc khai báo hải quan, nộp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá (C/O) đối với hàng hóa được hưởng ưu đãi về thuế nhập khẩu, thực hiện theo Thông tư số 59/2007/TT-BTC ngày
9
Thông tư số 13/2009/TT-BTC ngày 03 tháng 6 năm 2009
Trang 3114 tháng 6 năm 2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành thuế xuất khẩu, nhập khẩu,
và Thông tư số 45/2007/TT-BTC ngày 07 tháng 5 năm 2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt Đối với trường hợp áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt thì đối tượng nhập khẩu phải xuất trình Giấy chứng nhận xuất
xứ hàng hoá-C/O (trừ trường hợp tổng trị giá lô hàng (FOB) không vượt quá 200 USD
Thứ hai, đối với hàng xuất khẩu, tờ khai hải quan gồm hai loại tương ứng với hai
hình xuất khẩu là hàng hóa xuất khẩu theo hợp đồng và xuất khẩu không theo hợp đồng tương ứng với hai loại từ khai hải quan do Bộ Tài chính qui định, trong đó, hàng hoá xuất khẩu theo hợp đồng mua bán sử dụng theo Tờ khai Hải quan do Bộ Tài chính quy định, hàng hoá xuất khẩu không có hợp đồng mua bán sử dụng tờ khai hàng hoá xuất khẩu biên giới cũng do Bộ Tài chính quy định
Các chứng từ khác về hồ sơ hải quan, quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo hợp đồng mua bán thực hiện theo quy định của pháp luật Hải quan hiện hành Ngoài ra còn một số yêu cầu như phải có giấy chứng nhận kiểm dịch y tế do cơ quan kiểm dịch y tế cấp đối với hàng hoá xuất khẩu phải kiểm dịch y tế theo yêu cầu của nước nhập khẩu hoặc theo yêu cầu của chủ hàng, hàng hoá xuất khẩu qua biên giới được hưởng các ưu đãi về thuế xuất khẩu theo thoả thuận song phương giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước có chung biên giới
2.3 Hàng hóa, chính sách thuế và đồng thanh toán trong hoạt động thương mại biên giới
2.3.1 Hàng hóa trong hoạt động thương mại biên giới
Hàng hóa xuất nhập khẩu trong hoạt động thương mại biên giới phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là về chính sách, pháp luật, sự điều tiết nền kinh tế của Việt Nam cũng như các nước cùng biên giới Cụ thể đối với hàng hóa của cư dân biên giới, tùy theo từng thời kỳ, hàng hóa được phép trao đổi của cư dân biên giới có sự khác biệt nhất định Hiện tại, danh mục hàng hóa được nhập khẩu vào Việt Nam theo hình thức mua bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới được qui định tại Thông tư số 42/2012/TT-BCT ngày 27 tháng 12 năm 2012 của Bộ Tài chính Hàng hóa trao đổi, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu theo hình thức thương mại biên giới được thực hiện theo những quy định tại Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế
và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài
Chất lượng hàng hoá thương mại biên giới phải phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý chất lượng hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, cụ thể là Luật chất lượng hàng hóa 2007 và các văn bản hướng dẫn liên quan về tiêu chuẩn, chất
Trang 32lượng hàng hóa Đối với hàng hoá nhập khẩu thuộc Danh mục phải kiểm tra chất lượng và kiểm dịch theo quy định hiện hành thì phải được kiểm tra về chất lượng trước khi thông quan; không được nhập khẩu qua những cửa khẩu không có các điểm kiểm dịch động thực vật, kiểm dịch y tế, kiểm tra chất lượng hàng hoá theo quy định của pháp luật Việt Nam
Về kiểm dịch y tế biên giới, tất cả hàng hoá buôn bán, vận chuyển qua biên giới đều phải khai báo với Cơ quan kiểm dịch y tế biên giới (Việc kiểm tra thực tế và xử lý kiểm dịch y tế này chỉ thực hiện đối với hàng hoá mang véc tơ, mầm bệnh truyền nhiễm và yếu tố nguy cơ đến sức khoẻ cộng đồng do Bộ Y tế thông báo và chỉ định) Cục Y tế dự phòng và môi trường Việt Nam là cơ quan thuộc Bộ Y tế chịu trách nhiệm triển khai các hoạt động kiểm dịch y tế biên giới trên địa bàn cả nước theo các quy định của pháp luật hiện hành về kiểm dịch y tế Hệ thống tổ chức cơ quan kiểm dịch y
tế biên giới Việt Nam thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ Thủ tục về trình tự kiểm tra thực tế và xử lý kiểm dịch y tế thực hiện theo quy trình kiểm dịch y tế biên giới nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện hành Khi có dịch bệnh truyền nhiễm xảy ra ở khu vực biên giới của nước có chung biên giới theo thông báo của Bộ Y tế, Sở Y tế tỉnh chỉ đạo cơ quan kiểm dịch y tế triển khai các hoạt động kiểm dịch y tế tại khu vực qua lại để kiểm tra, giám sát, thực hiện biện pháp xử lý y tế kịp thời đối với hàng hoá đảm bảo không để dịch bệnh lây lan
Đối với việc kiểm dịch động vật, kiểm dịch thực vật, kiểm dịch thuỷ sản, chỉ những hàng hoá thuộc danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thuộc diện kiểm dịch động vật, kiểm dịch thực vật, kiểm dịch thuỷ sản do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công bố mới phải làm thủ tục kiểm dịch Danh mục hàng hoá thuộc diện kiểm dịch động vật, thực vật xuất khẩu, nhập khẩu được Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công bố trong từng thời kỳ Về kiểm soát vệ sinh
an toàn thực phẩm, hàng hoá là thực phẩm xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới phải được thực hiện theo Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm
Về công tác kiểm lâm, thực hiện theo Nghị định số 82/2006/NĐ-CP ngày 10 tháng
8 năm 2006 của Chính phủ về quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cây nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm; Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và Quyết định số 54/2006/ QĐ-BNN ngày 05 tháng 7 năm 2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về công bố Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp
Trang 33Đối với hàng hóa là thuốc men, mỹ phẩm, hàng hóa là thuốc thực hiện theo Luật Dược số 34/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này, còn đối với mỹ phẩm, thực hiện theo Quyết định số 35/2006/QĐ-BYT, ngày
10 tháng 11 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế về ban hành Quy chế quản lý mỹ phẩm
2.3.2 Chính sách thuế trong hoạt động thương mại biên giới
Hoạt động thương mại biên giới phát triển do các yếu tố thuận lợi về thị trường tiêu thụ, chi phí vận chuyển thấp…thì yếu tố về thuế chính là nhân tố chính quyết định đến sự phát triển của hoạt dộng thương mại này Ngoài ra, khi tham gia hoạt động thương mại này các chủ thể tham gia còn phải trả các loại phí, lệ phí nhất định khi sử dụng các loại hình tương ứng
Thứ nhất, đối với chính sách thuế, hàng hoá thương mại biên giới phải được nộp thuế và các lệ phí khác theo quy định của pháp luật Việt Nam và được hưởng các ưu đãi về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng hoá qua biên giới theo các thoả thuận song phương giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước
có chung biên giới Riêng hàng hoá do cư dân nước có chung biên giới sản xuất nhập khẩu vào nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới hình thức mua, bán, trao đổi của cư dân biên giới được miễn thuế nhập khẩu nếu giá trị hàng hoá đó không quá 2.000.000đồng /1 người/1 ngày10 Đối với phần giá trị vượt trên 2.000.000 đồng thì được tính thuế theo quy định hiện hành Thuế suất được tính theo giá thị trường tại vùng biên giới trong thời điểm đó
Trong khi đó, trước thời điểm Quyết định 254/2006/QĐ-TTg ngày 07 tháng 11 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ có hiệu lực, theo Quyết định số 252/2003/QĐ-TTg ngày 24 tháng 11 năm 2003 thì hàng hóa của cư dân biên giới chỉ đượ miễn thuế
là 500.000 đồng/người/ngày, phần giá trị vượt vẫn nộp thuế Đối với hàng hoá sản xuất tại nước thứ ba không được hưởng định mức miễn thuế trên, tuy nhiên tùy từng thời điểm cũng như loại hàng hóa và xuất xứ hang hóa sẽ có những ưu đãi riêng Chính sách thuế đối với hàng hóa do cư dân biên giới mua trong khu thương mại – công nghiệp nào thì được thực hịên theo quy định của khu thương mại – công nghiệp đó.Hàng hoá là sản phẩm không thể cắt rời, nếu giá trị một đơn vị sản phẩm vượt định mức này, thì phải nộp thuế phần vượt (kể cả vật nguyên con, nguyên chiếc, nguyên cái, nguyên bộ) Hàng hoá thuộc danh mục hạn ngạch thuế quan được sản xuất tại nước có chung biên giới, nếu do cư dân biên giới trao đổi mua bán cũng được hưởng định mức miễn thuế nêu trên
10
Khoản 2 Điều 1 Quyết định 139/2009/QĐ-TTg
Trang 34Thứ hai, về chính sách phí và lệ phí, hàng hoá buôn bán qua biên giới phải nộp phí
và lệ phí (nếu có) theo quy định của pháp luật Trong đó các phí, lệ phí tại các cửa khẩu có thể khác nhau tùy vào điều kiện của từng vùng miền, từng địa phương11,đối với khu kinh tế cửa khẩu thquanrn quản lý khu kinh tế của khẩu được ủy quyền thu một số lại phí nhất định theo quy định của nhà nước12
2.3.3 Đồng thanh toán trong hoạt động thương mại biên giới
Hoạt động thanh toán trong hoạt động thương mại biên giới diễn ra đa dạng và linh hoạt trong khâu chuyển đổi Trong đó,hoạt động thanh toán trong mua bán, trao đổi hàng hoá của cư dân biên giới, thanh toán trong mua bán hàng hoá tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu được thực hiện bằng đồng Việt Nam (VNĐ), đồng tiền của nước có chung biên giới Trường hợp thanh toán bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi, chỉ được thực hiện với những đối tượng thu ngoại tệ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Thanh toán xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới theo các phương thức không theo thông lệ quốc tế được thực hiện bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi, đồng Việt Nam hoặc đồng tiền của nước có chung biên giới Phương thức thanh toán bằng tiền mặt hoặc không dùng tiền mặt do các bên mua bán thoả thuận phù hợp với quy định về quản lý ngoại hối của Việt Nam và các nước có chung biên giới.Việc mang tiền đồng Việt Nam và tiền mặt của nước có chung biên giới qua cửa khẩu biên giới để thực hiện thanh toán phải tuân thủ các quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về mang ngoại tệ tiền mặt và đồng Việt Nam bằng tiền mặt khi xuất nhập cảnh
Các bên mua bán, trao đổi, xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới được lựa chọn các hình thức thanh toán phù hợp với các quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, nhà nước khuyến khích các bên tham qia vào quan hệ thương mại biên giới thanh toán qua ngân hàng cũng như thanh toán trên cơ sở hợp đồng, hóa đơn, chứng từ
để tránh rủi ro, bảo vệ quyền lợi các bên tham gia
Riêng đối với việc thanh toán tại các cửa hàng, siêu thị miễn thuế được thực hiện bằng đồng Việt Nam và các đồng ngoại tệ là USD, EURO13
2.4 Xuất nhập cảnh người và phương tiện liên quan đến hoạt động thương mại biên giới
Để tham gia vào hoạt động thương mại biên giới, cụ thể là tham gia vào hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa qua biên giới, xuất nhập khẩu hay mua bán hàng hóa tại
Trang 35chợ biên giới, công dân Việt Nam cũng như công dân các nước có chung đường biên giới qua lại các cửa khẩu biên giới để mua bán, vận chuyển hàng hóa Trong khi đó, việc vận chuyển hàng hóa qua biên giới do các phương tiện vận tải thực hiện kèm theo các tài xế, thương nhân mua bán hàng hóa Do đó, để đảm bảo cho việc vận chuyển hàng hóa cũng như đảm bao cho công tác quản lý, an ninh trong thương mại biên giới, cần có các qui định cho nhóm đối tượng này Các qui định về người và phương tiện trong hoạt động thương mại biên giới có thể chia thành hai nhóm sau: Người và phương tiện của Việt Nam, người và phương tiện các nước có chung đường biên giới
2.4.1 Người và phương tiện Việt Nam
Chủ hàng, người điều khiển phương tiện vận tải hàng hoá, nhân viên phục vụ trên
xe, tàu, thuyền khi tham gia vào quan hệ thương mại biên giới phải có một trong các loại giấy tờ có giá trị sử dụng như Hộ chiếu, Chứng minh thư biên giới, Giấy thông hành biên giới, (danh bạ thuyền viên hoặc sổ thuyền viên đối với tàu, thuyền) hoặc các giấy tờ qua lại biên giới khác theo quy định của pháp luật Riêng người điều khiển phương tiện, ngoài giấy tờ quy định nêu trên còn phải có giấy phép điều khiển phương tiện phù hợp với loại phương tiện điều khiển, trong đó:
- Chủ phương tiện, người điều khiển phương tiện vận tải hàng hoá khi vào các địa điểm tại khu vực biên giới phải xuất trình hoặc nộp các giấy tờ theo quy định
- Người điều khiển phương tiện ra vào chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu chịu sự kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành tại cửa khẩu; nếu vào sâu nội địa phải tiến hành thủ tục xuất, nhập cảnh
- Kiểm dịch y tế nhập cảnh, xuất cảnh: người, phương tiện nhập cảnh, xuất cảnh phải tiến hành kiểm dịch y tế biên giới theo quy định hiện hành của Bộ Y tế về kiểm dịch y tế biên giới
- Đối với xe ô tô Việt Nam đi qua biên giới để giao hàng xuất khẩu, nhận hàng nhập khẩu ngay tại khu vực cửa khẩu sau đó quay trở lại Việt Nam ngay trong ngày và
xe ô tô nước ngoài vào khu vực cửa khẩu Việt Nam để giao hàng nhập khẩu hoặc nhận hàng xuất khẩu sau đó quay về nước ngay trong ngày, thì không yêu cầu khai và nộp các giấy tờ theo quy định trên
Riêng đối với thủ tục Hải quan đối với phương tiện vận tải xuất nhập khẩu, quá cảnh qua cửa khẩu đường bộ gồm xe ô tô vận tải hàng hoá xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và phương tiện vận tải tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập có thời hạn được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính