1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh

70 563 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 671,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 2: Quy định pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh Trong chương hai này người viết chủ yếu nghiên cứu các quy định của pháp luật về thuế thu

Trang 1

Giảng viên hướng dẫn:

TS Lê Thị Nguyệt Châu

Sinh viên thực hiện:

Nguyễn Võ Ngân Tâm

MSSV: 5115928 Lớp: Luật Thương mại khóa 37

Cần Thơ, tháng 11 năm 2014

Trang 2

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt khoảng thời gian bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, tôi đã

nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô, gia đình và bạn bè Với lòng

biết ơn sâu sắc, tôi xin được gửi lời cám ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại học Cần Thơ,

Ban chủ nhiệm Khoa Luật cùng quý Thầy Cô là giảng viên Khoa Luật đã tận tình dạy

bảo tôi, truyền đạt những kiến thức, những kinh nghiệm quý báu trong học tập và cả

những kỹ năng sống ngoài xã hội, để tôi có được hành trang cần thiết bước vào đời

Đặc biệt hơn, tôi xin cám ơn cô Lê Thị Nguyệt Châu, tuy luôn bận rộn với công

việc giảng dạy, song cô vẫn dành cho tôi sự quan tâm, giúp đỡ để tôi có điều kiện thuận

lợi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này Nếu như không có những lời hướng dẫn, dạy bảo

ân cần của cô thì tôi nghĩ sẽ rất khó có thể hoàn thiện được

Trong quá trình viết cũng như tìm hiểu đề tài, dù đã rất cố gắng nhưng do vốn kiến

thức còn hạn chế Vì vậy, những sai sót trong quá trình thực hiện đề tài là điều không thể

nào tránh khỏi Tôi rất mong sẽ nhận được những ý kiến đóng góp của quý Thầy Cô và

các bạn sinh viên để vốn kiến thức cũng như đề tài luận văn tốt nghiệp của tôi được hoàn

thiện hơn

Một lần nữa tôi xin chân thành cám ơn!

Cần Thơ, tháng 12 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Võ Ngân Tâm

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 - KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI THU NHẬP TỪ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 4

1.1 Khái quát chung về hoạt động kinh doanh 4

1.1.1 Khái niệm về hoạt động kinh doanh 4

1.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh 5

1.1.3 Phân loại các hoạt động kinh doanh 7

1.1.4 Vai trò của hoạt động kinh doanh 8

1.2 Khái quát chung về thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động kinh doanh 9

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động kinh doanh 9

1.2.1.1 Khái niệm 9

1.2.1.2 Đặc điểm 11

1.2.1.3 Vai trò 13

1.2.1.4 Chủ thể, phạm vi điều chỉnh 15

1.2.2 Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động kinh doanh 16

1.2.2.1 Cá nhân cư trú 16

1.2.2.2 Cá nhân không cư trú 17

1.2.3 Lược sử sự phát triển chế định thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh 17

CHƯƠNG 2 - QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI THU NHẬP TỪ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 20

2.1 Các khoản thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ hoạt đông kinh doanh 20

2.1.1 Phạm vi chịu thuế 20

2.1.2 Các khoản thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động kinh doanh 21

2.1.2.1 Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc tất cả các lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh theo quy định của pháp luật 21

2.1.2.2 Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập trong những lĩnh vực, ngành nghề được cấp giấy phép, chứng chỉ theo quy định 21

2.1.2.3 Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thúy sản không được miễn thuế 22

2.2 Căn cứ tính thuế, thuế suất và cách tính thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động kinh doanh 23

2.2.1 Căn cứ tính thuế, thuế suất và cách tính thuế đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ hoạt động kinh doanh 23

2.2.1.1 Đối với cá nhân kinh doanh chưa thực hiện đúng pháp luật về kế toán, hóa đơn chứng từ 25

2.2.1.2 Đối với cá nhân kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán hóa đơn, chứng từ 28

2.2.1.3 Đối với nhóm cá nhân kinh doanh 31

2.2.2 Căn cứ tính thuế đối với cá nhân không cư trú từ hoạt động kinh doanh 35

2.3 Các khoản thu nhập được giảm thuế, miễn thuế từ hoạt động kinh doanh 36

2.3.1 Các khoản thu nhập được giảm thuế 37

Trang 7

2.3.2 Các khoản thu nhập được miễn thuế 38

2.4 Quy định pháp luật về đăng kí thuế, kê khai thuế, quyết toán thuế và hoàn thuế 39

2.4.1 Quy định pháp luật về đăng kí thuế 39

2.4.2 Quy định pháp luật về kê khai, quyết toán thuế 40

2.4.3 Quy định pháp luật về hoàn thuế 43

2.5 Xử lý vi phạm pháp luật về thuế thu nhập cá nhân từ hoat động kinh doanh 44

2.5.1 Hành vi vi phạm pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người nộp thuế 44

2.5.2 Hình thức xử lý vi phạm 45

2.5.2.1 Xử phạt vi phạm hành chính về thuế 45

2.5.2.2 Xử lý vi phạm hình sự về thuế 49

2.6 Những bất cập trong quy định và giải pháp hoàn thiện thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh 51

2.6.1 Những bất cập 51

2.6.2 Các giải pháp hoàn thiện thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh 55

KẾT LUẬN 61

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Thuế không chỉ đơn thuần là một nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước mà

thuế còn gắn liền với các vấn đề về tăng trưởng kinh tế, về sự công bằng trong phân phối

và sự ổn định xã hội, kích thích tăng trưởng kinh tế và điều chỉnh thu nhập Các chính sách về thuế ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, giá cả, quan hệ cung cầu, cơ cấu đầu tư và

đến sự phát triển hoặc suy thoái của một nền kinh tế Đặc biệt sự giảm dần các loại thuế

xuất nhập khẩu do yêu cầu tự do hóa thương mại nên thuế thu nhập cá nhân ngày càng trở thành nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước Nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển, thu nhập bình quân đầu người của cá nhân ngày càng tăng từ đó thuế thu nhập

cá nhân sẽ góp phần quan trọng vào việc tăng thu cho ngân sách nhà nước Trong số các loại thuế thu nhập cá nhân thì thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động kinh doanh là loại thuế có tác động lớn và có tầm ảnh hưởng rộng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trong những năm gần đây, các cá nhân, hộ gia đình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển và đa dạng các loại hình ở Việt Nam Quá trình phát triển nền kinh tế thị trường cho thấy vai trò, sự đóng góp của các chủ thể này ngày càng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, trong đời sống của xã hội và cần phải tăng cường công tác quản lý của nhà nước đối với quá trình phát triển thị trường này Tuy nhiên cho đến nay hoạt động kinh doanh của các chủ thể này ở nước ta vẫn còn khiêm tốn, ít phát triển hơn so với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và công ty Các hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ còn nhỏ lẻ được thể hiện đơn giản trong hầu hết các giao dịch mua bán của người dân Các bên mua – bán phần nhiều không làm hợp đồng nên dễ dẫn đến tranh chấp không đáng có Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng đó là do thiếu sự quản lý, điều tiết chặt chẽ, hữu hiệu của các cơ quan quản lý nhà nước đối với các hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, thiếu những chủ trương, chính sách và biện pháp cụ thể, phù hợp để định hướng và tạo điều kiện cho hoạt

động kinh doanh của những chủ thể này phát triển theo quy luật của thị trường và phù

hợp với định hướng của nhà nước Chính vì vậy, trong các chính sách quản lý của nhà nước về thuế, đặc biệt là việc tìm hiểu, nghiên cứu về Luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động kinh doanh cần được lưu tâm

Với suy nghĩ như vậy nên người viết chọn đề tài “pháp luật về thuế thu nhập cá

nhân đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh” nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp,

đồng thời tìm hiểu rõ hơn về những quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân điều

chỉnh đối với lĩnh vực kinh doanh cũng như những vướng mắc đang gặp phải trong việc

Trang 9

thực thi pháp luật, từ đó đưa ra một số ý kiến nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật

về Thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động kinh doanh

2 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn được thực hiện với mục tiêu đóng góp ý kiến nhằm cải cách chính sách thuế đối với hoạt động kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình ở Việt Nam trong thời gian tới trên cơ sở tìm hiểu các quy định của pháp luật và tình hình thực tế khi triển khai thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động kinh doanh Từ những vấn đề còn tồn tại, người viết đưa ra một số ý kiến cũng như giải pháp để góp phần hoàn thiện các quy

định của pháp luật về Thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động kinh doanh

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Người viết nghiên cứu đề tài trong phạm vi khái quát chung về hoạt động kinh doanh và thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh và những quy

định pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ kinh doanh trên cơ sở Luật

thuế thu nhập cá nhân năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan đến hoạt động kinh doanh Bên cạnh đó, người viết có tham khảo thêm sách, báo, giáo trình có liên quan tới Thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động kinh doanh

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được người viết nghiên cứu trên cở sở tìm hiểu các văn bản và các quy

định có liên quan Đồng thời sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh các

quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động kinh doanh và đưa ra một số ý kiến đóng góp của cá nhân

5 Bố cục đề tài

Đề tài luận văn được chia làm ba phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết

luận

Phần nội dung bao gồm hai chương:

Chương 1: Khái quát chung về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh

Trong chương này người viết trình bày khái quát chung một số nội dung như: khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế thu nhập cá nhân và khái niệm, đặc điểm, phân loại, vai trò của hoạt động kinh doanh Trên cơ sở lí luận đó sẽ đi đến khái quát về thuế thu nhập

cá nhân đối với hoạt động kinh doanh là gì, về đối tượng chịu thuế đối với hoạt động kinh doanh

Trang 10

Chương 2: Quy định pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ hoạt

động kinh doanh

Trong chương hai này người viết chủ yếu nghiên cứu các quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động kinh doanh, về các khoản thu nhập chịu thuế; cách tính thuế; thời điểm xác định thu nhập tính thuế; về các khoản thu nhập được miễn, giảm thuế; các quy định pháp luật về đăng kí thuế; kê khai, quyết toán thuế; hoàn thuế và các biện pháp xử lí hành vi vi phạm pháp luật về thuế; đồng thời nêu lên những bất cập

và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện Luật thuế thu nhập cá nhân

Trang 11

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

ĐỐI VỚI THU NHẬP TỪ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

Nếu như Pháp lệnh về thu nhập đối với người có thu nhập cao quy định thu nhập của cá nhân kinh doanh thuộc diện điều chỉnh của Thuế thu nhập doanh nghiệp dẫn đến tình trạng là cũng cùng thu nhập do cá nhân tạo ra nhưng thu nhập từ kinh doanh không

được trừ khởi điểm mà phải nộp theo thuế suất của thuế thu nhập doanh nghiệp và không được giảm trừ gia cảnh, trong khi đó thu nhập từ tiền lương, tiền công có quy định mức

khởi điểm, áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần và được tính giảm trừ gia cảnh Quy

định này dẫn đến hệ quả cùng mức thu nhập 5 triệu đồng/tháng, cá nhân có thu nhập từ

kinh doanh ( theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thuế suất là 22%) sẽ nộp thuế cao hơn

cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công (áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần là 5%) Ngược lại, nếu cá nhân có thu nhập 100 triệu đồng/tháng thì người có thu nhập từ tiền lương, tiền công nộp thuế là 35% và người có thu nhập từ kinh doanh cũng chỉ nộp thuế là 22% Từ đây có thể thấy rõ sự mâu thuẫn phát sinh từ chính sách thuế của Nhà nước và cũng chính vì những bất cập đó mà việc đưa cá nhân kinh doanh vào diện nộp Thuế thu nhập cá nhân như cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công là hợp lí Để có

được cái nhìn bao quát, toàn diện về thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động kinh doanh

Trong chương 1 này người viết trình bày khái quát chung một số nội dung như: khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế thu nhập cá nhân và khái niệm, đặc điểm, phân loại, vai trò của hoạt động kinh doanh Trên cơ sở lí luận đó sẽ đi đến khái quát về thuế thu nhập

cá nhân đối với hoạt động kinh doanh là gì, về đối tượng chịu thuế đối với hoạt động kinh doanh

1.1 Khái quát chung về hoạt động kinh doanh

1.1.1 Khái niệm về hoạt động kinh doanh

Theo quan niệm truyền thống, kinh doanh được hiểu đơn giản là cách làm giàu của con người trên thương trường, là hành vi buôn bán để kiếm lợi

Ngày nay, kinh doanh được hiểu là hoạt động của cá nhân hoặc tổ chức nhằm mục

đích đạt lợi nhuận qua một loạt các hoạt động như: quản trị, tiếp thị, tài chính, kế toán,

sản xuất

Kinh doanh là một trong những hoạt động phong phú nhất của loài người Hoạt

động kinh doanh thường được thông qua các thể chế kinh doanh như công ty, tập đoàn, tư

nhân nhưng cũng có thể là hoạt động tự thân của các cá nhân

Trang 12

Để đánh giá các hoạt động kinh doanh, người ta có nhiều chỉ tiêu khác nhau

như doanh thu, tăng trưởng, lợi nhuận biên, lợi nhuận ròng

Kinh doanh là phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hoá, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương tiện mà chủ thể kinh tế

sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình (bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ ) trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời cao nhất

Theo quan điểm pháp luật: “Kinh doanh là việc thưc hiện liên tục một, một số hoặc

tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung

ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” 1

Tuy nhiên, dù hiểu khái niệm nào thì hoạt động kinh doanh là hoạt động bất kỳ mang tính rủi ro để nhận được lợi nhuận Là sự đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro Lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng cao, nhưng rủi ro cao chưa chắc lợi nhuận đã cao

1.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh

Hoạt động kinh doanh bao gồm hoạt động mua bán hàng hóa và cung ứng dich vụ Trong đó hoạt động mua bán hàng hóa bao gồm những đặc điểm sau:

− Về hoạt động: hoạt động kinh doanh cơ bản là lưu chuyển hàng hoá (Lưu chuyển hàng hoá là sự tổng hợp các hoạt động thuộc quá trình mua bán trao đổi và dự trữ hàng hoá)

− Về hàng hoá: hàng hoá trong kinh doanh gồm các loại vật tư, sản phẩm có hình thái vật chất và phi vật chất mà doanh nghiệp mua về với mục đích để bán

− Về phương thức lưu chuyển hàng hoá: hoạt động kinh doanh có hai hình thức lưu chuyển chính là bán buôn, bán lẻ

− Về tổ chức kinh doanh: có thể theo nhiều mô hình khác nhau như tổ chức bán buôn, bán lẻ, công ty kinh doanh tổng hợp, công ty môi giới, công ty xúc tiến thương mại

− Về sự vận động của hàng hoá: sự vận động của hàng hoá không giống nhau, tuỳ thuộc vào nguồn hàng và ngành hàng (hàng lưu chuyển trong nước, hàng xuất nhập khẩu…) Do đó chi phí thu mua và thời gian lưu chuyển hàng hoá cũng khác nhau giữa các loại hàng

1

Khoản 2 điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2013

Trang 13

Còn với hoạt động cung ứng dịch vụ thì có những đặc trưng cơ bản khác với sản phẩm hữu hình khác như tính vô hình, tính không thể tách rời khỏi nguồn gốc, tính không

ổn định về chất lượng, tính không lưu giữ được

vụ, khách hàng phải được thông tin đầy đủ những gì mà họ sẽ có trong toàn bộ các giai

đoạn của quá trình mua và sử dụng sản phẩm hay dịch vụ Vì thế, việc tuyên truyền,

quảng cáo đóng vai trò rất quan trọng để câu dẫn khách hàng đến quyết định mua một dịch vụ

Dịch vụ về cơ bản là không cụ thể và nó rất dễ bắt chước Điều này làm cho việc cạnh tranh trở nên gay gắt hơn và đó cũng chính là thách thức chủ yếu của công ty dịch

vụ

− Thứ hai là tính không thể tách rời khỏi nguồn gốc:

Hàng hoá được sản xuất tập trung tại một nơi, rồi vận chuyển đến nơi có nhu cầu Khi ra khỏi dây chuyền sản xuất thì hàng hóa đã hoàn chỉnh Nhà sản xuất cũng có thể sản xuất khi nào thuận tiện, rồi cất trữ vào kho và đem bán khi có nhu cầu Do đó, họ dễ thực hiện cân đối cung cầu Nhưng quá trình cung cấp dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ xảy

ra đồng thời Người cung cấp dịch vụ và khách hàng phải tiếp xúc với nhau để cung cấp

và tiêu dùng dịch vụ tại các địa điểm và thời gian phù hợp cho hai bên Đối với một số dịch vụ, khách hàng phải có mặt trong suốt quá trình cung cấp dịch vụ

Do dịch vụ được thực hiện bởi những người cung cấp khác nhau, ở những thời gian

và địa điểm khác nhau và có cả sự can thiệp của khách hàng trong quá trình tạo ra dịch vụ

đã tạo ra tính không ổn định của dịch vụ Vì thế khó có thể kiểm tra trước chất lượng dịch

vụ và điều này gây khó khăn trong quản lý chất lượng của dịch vụ

− Thứ ba là tính không ổn định về chất lượng:

Trang 14

Dịch vụ không thể được cung cấp hàng loạt, tập trung như sản xuất hàng hoá Khi

đó, nhà cung cấp khó kiểm tra chất lượng theo một tiêu chuẩn thống nhất Mặt khác, sự

cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ lại chịu tác động mạnh bởi kỹ năng, thái

độ của người cung cấp dịch vụ Sức khoẻ, sự nhiệt tình của nhân viên cung cấp dịch vụ

vào buổi sáng và buổi chiều có thể khác nhau Do vậy, khó có thể đạt được sự đồng đều

về chất lượng dịch vụ ngay trong một ngày Dịch vụ càng nhiều người phục vụ thì càng khó đảm bảo tính đồng đều về chất lượng Việc mua và sử dụng một sản phẩm dịch vụ, khách hàng thường căn cứ vào thái độ của nhân viên Bởi lẽ đó, để nâng cao chất lượng phục vụ, giảm sự không ổn định về chất lượng, cần chú trọng đến công tác tuyển chọn,

đào tạo và khuyến khích những người trực tiếp bán hàng

− Thứ tư là tính không lưu giữ được:

Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp và không thể sản xuất hàng loạt để cất vào kho dự trữ, khi có nhu cầu thị trường thì đem ra bán Đặc tính này sẽ ảnh hưởng đến các chính sách của các công ty dịch vụ như chính sách giá cước thay đổi theo thời gian, mùa vụ, chính sách dự báo nhu cầu, kế hoạch bố trí nhân lực

1.1.3 Phân loại các hoạt động kinh doanh

Hoạt động kinh doanh là một hoạt động rất phổ biến và diễn ra hàng ngày, hàng giờ

và thường xuyên trong cuộc sống của con người Hoạt động kinh doanh bao gồm các loại hoạt động như:

− Nông nghiệp và khai mỏ: liên quan đến việc sản xuất các nguyên liệu thô, như nông sản và khoáng sản

− Kinh doanh tài chính: bao gồm ngân hàng và các công ty chủ yếu thu lợi nhuận qua việc đầu tư và quản lý nguồn vốn

− Thông tin: lợi nhuận chính thu được thông qua bán lại các quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm các xưởng phim, nhà xuất bản và các công ty phần mềm

− Kinh doanh vận tải: vận chuyển người và hàng hóa từ nơi này đến nơi khác, thu lợi nhuận thông qua phí vận chuyển

− Dịch vụ công cộng: ví dụ như ngành điện và xử lí chất thải, thường được đặt dưới

sự quản lí của chính phủ

− Sản xuất: sản xuất hàng hóa từ các nguyên liệu thô hoặc các chi tiết cấu thành, sau

đó bán đi thu lợi nhuận Các công ty sản xuất hàng hóa hữu hình, như ô tô, xe máy, được gọi là nhà sản xuất

Trang 15

− Kinh doanh bất động sản: thu lợi từ việc bán, cho thuê, phát triển các tài sản bao gồm đất, nhà riêng, và các loại công trình

− Bán lẻ và phân phối: hoạt động như một trung gian giữa nhà sản xuất và khách hàng, thu lợi nhuận qua dịch vụ bán lẻ và phân phối

− Kinh doanh dịch vụ: cung cấp các dịch vụ và hàng hóa vô hình, thu lợi bằng cách tính giá sức lao động hoặc các dịch vụ đã cung cấp cho Chính phủ, các lĩnh vực kinh doanh khác hoặc khách hàng

1.1.4 Vai trò của hoạt động kinh doanh

Thứ nhất, hoạt động kinh doanh là hoạt động chuyên nghiệp trong lưu thông hàng hoá Trước hết hoạt động kinh doanh có tác dụng nhiều mặt đối với lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực tiêu dùng của xã hội Nó cung ứng vật tư hàng hoá cần thiết một cách đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, đúng số lượng, chất lượng một cách thuận lợi với quy mô ngày càng

mở rộng

Thứ hai, hoạt động kinh doanh thúc đẩy việc áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật công nghệ mới vào sản xuất Thông qua việc bảo đảm những loại máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, kinh doanh thúc đẩy các doanh nghiệp sản xuất sử dụng các loại máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu mới, hiện đại Đồng thời thúc đẩy nhu cầu, gợi

mở nhu cầu, đảm bảo cho người tiêu dùng những hàng hoá tốt, văn minh và hiện đại Thứ ba, hoạt động kinh doanh thực hiện việc dự trữ các yếu tố của sản xuất và hàng hoá tiêu dùng, bảo đảm cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và người tiêu dùng giảm bớt được dự trữ lớn ở nơi sản xuất và dự trữ tiêu dùng cá nhân

Thứ tư, hoạt động kinh doanh bảo đảm điều hoà cung cầu Nó làm đắt ở những nơi

có nguồn hàng rẻ, nhiều phong phú và làm rẻ hàng hoá ở những nơi hàng hoá đắt, ít nghèo nàn Trong phạm vi nền kinh tế quốc dân, có tác dụng lớn trong việc thúc đẩy việc

sử dụng nguồn lực và phân bổ các nguồn lực một cách có hiệu quả và hợp lý

Thứ năm, hoạt động kinh doanh nhờ việc áp dụng ngày càng nhiều các dịch vụ trong các hoạt động kinh doanh hàng hoá sẽ bảo đảm cho các vật tư kỹ thuật ngày càng kịp thời, thuận tiện và văn minh cho các doanh nghiệp sản xuất, bảo đảm ngày càng nhiều hàng hoá tốt, hiện đại, văn minh với dịch vụ ngày càng thuận lợi cho người tiêu dùng Bảo đảm cung ứng hàng hoá ổn định, bình thường trong xã hội

Trang 16

1.2 Khái quát chung về thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động kinh doanh

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động kinh doanh

1.2.1.1 Khái niệm

Thuế là một khoản thu của Nhà nước đối với các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội, khoản thu đó mang tính bắt buộc, không hoàn trả trực tiếp được pháp luật quy định2 Tuy nhiên, tùy theo cách nhìn nhận ở các góc độ, lĩnh vực khác nhau mà có cách hiểu khác nhau về thuế

− Theo các tác giả Giáo trình Luật thuế, Đại học Luật Hà Nội thì:3

Các Mác viết “thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để

kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân dùng vào việc chi tiêu của nhà nước”

Các nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng “thuế là một hình thức phân phối thu nhập tài

chính của nhà nước để thực hiện chức năng của mình, dựa vào quyền lực chính trị, tiến hành phân phối sản phẩm thặng dư của xã hội một cách cưỡng chế và không hoàn lại”

Ở khía cạnh nghiên cứu luật pháp, các chuyên gia về luật thuế cũng nhận định “thuế

là một trật tự đã được thiết lập hòa bình giữa chính phủ với cộng đồng trong sự tôn trọng thực hiện nghĩa vụ thu, nộp vào ngân sách Thuế không có bất kì sự phân biệt đối xử nào giữa các bang hay vùng lãnh thổ”

− Ở góc độ người thu thuế thì thường hiểu thuế là khoản đóng góp bắt buộc theo nghĩa vụ do pháp luật quy định Thuế là khoản thu không phải hoàn trả ngang giá và trực tiếp

− Với người nộp thuế thì hiểu thuế là khoản bắt buộc phải nộp cho Nhà nước theo quy định

Các quan niệm trên đều có thể đúng nhưng ở những góc độ khác nhau Từ các khái

niệm trên, ta có thể kết luận: “thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức

hoặc cá nhân phải nộp cho nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định”

Hệ thống thuế được cấu thành từ nhiều loại thuế, trong đó thuế thu nhập cá nhân là một bộ phận trong hệ thống thuế của nước ta và có ảnh hưởng lớn đến mọi tầng lớp dân

cư trong xã hội Thuế thu nhập cá nhân là một trong những loại thuế có tác động lớn nhất, trực tiếp nhất đến đời sống kinh tế - xã hội Do đó, hơn bao giờ hết, đây được đánh giá là

Trang 17

loại thuế quan trọng trong hệ thống thuế của mỗi quốc gia, cần được chú trọng cả về mặt lập quy và thực thi

Trên cơ sở khái niệm về thuế, có thể định nghĩa thuế thu nhập cá nhân như sau:

“Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế chủ yếu đánh vào thu nhập của cá nhân nhằm thực

hiện công bằng xã hội, động viên một phần thu nhập của cá nhân vào ngân sách nhà nước và có thể được sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc khuyến khích hay nghỉ ngơi; thông qua việc thu hay không thu thuế đối với các khoản thu nhập từ kinh doanh, đầu tư,… 4

Với khái niệm này ta thấy thuế thu nhập cá nhân trước hết phải là một phần thu nhập, có thu nhập mới có thể nộp thuế, nhưng chỉ nộp một phần thu nhập của cá nhân Phải có phần còn lại để tái sản xuất trong chu kỳ sản xuất tiếp theo Nếu triệt tiêu sản xuất thì không có thu nhập để đóng thuế Vậy như thế nào là thu nhập?

Hiện nay chưa có một định nghĩa chính xác thế nào là thu nhập Việc đưa ra định nghĩa của thu nhập cũng rất khó khăn Theo nhà kinh tế học người Mỹ Paul.A.Samuelson

thì: “thu nhập là tổng số tiền kiếm được hoặc thu góp được trong một khoảng thời gian

nhất định (thường là một năm)” Thuật ngữ “tiền” ở đây được hiểu là những khoản thu

dưới dạng tiền tệ hay hiện vật được tính thành tiền, nhận được từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, từ lao động hoặc không từ lao động, từ quyền sở hữu tài sản…5

Theo Tòa án tối cao của Mỹ thì: “thu nhập là sự giàu có lên của một đối tượng

trong một khoảng thời gian nhất định”

Mỗi một quan niệm về thu nhập như trên mới phản ánh một hoặc một số khía cạnh nào đó của thu nhập, mà chưa bao quát toàn diện các khía cạnh khác nhau Tuy nhiên có

thể hiểu “thu nhập là một giá trị vật chất mà người nào đó nhận được” Giá trị vật chất

này có thể là giá trị tài sản hay của cải được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ Thế nhưng, không phải tất cả những khoản giá trị vật chất đều bị đánh thuế, chỉ những khoản giá trị vật chất được quy định trong luật thuế thu nhập cá nhân mới phải chịu thuế thu nhập cá nhân

Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập chính đáng của từng cá nhân nhưng không phải muốn thu thuế khi nào cũng được mà phải trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) hoặc thu thuế theo từng lần phát sinh thu nhập

Trang 18

Thuế thu nhập cá nhân nói riêng và thuế nói chung là hình thức động viên một phần thu nhập của cá nhân vào ngân sách nhà nước nhưng lại là hình thức động viên mang tính bắt buộc Hình thức chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không gắn với lợi ích cụ thể của người nộp thuế, do đó, không thể sử dụng phương pháp tự nguyện trong việc chuyển giao Nhà nước là người cung cấp phần lớn hàng hóa công cộng cho xã hội Đặc tính của hàng hóa công cộng là có thể sử dụng chung và khó có thể loại trừ ít có người dân nào tự nguyện trả tiền cho việc thụ hưởng hàng hóa công cộng đó… Vì vậy, để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng, nhà nước tất yếu phải sử dụng quyền lực của mình để bắt buộc mọi đối tượng có thu nhập phải nộp thuế

Thuế thu nhập cá nhân thường được tính theo biểu thuế lũy tiến từng phần do xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế thu nhập cá nhân là điều tiết thu nhập của người có thu nhập cao, động viên sự đóng góp của những người có thu nhập thấp, thu nhập trung bình trong xã hội, thuế thu nhập được đánh trên nguyên tắc lợi ích, công bằng và khả năng nộp thuế

Thuế đối với kinh doanh là công cụ hữu hiệu giúp nhà nước quản lý các hoạt động kinh doanh trên thị trường, hạn chế đầu cơ, định hướng nguồn vốn vào đầu tư sản xuất kinh doanh, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển lành mạnh Ngoài ra, việc đánh thuế đối việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ góp phần điều tiết thu nhập, tạo nguồn thu ổn

định cho ngân sách

Thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động kinh doanh là khoản thuế mà cá nhân phải nộp cho nhà nước khi có thu nhập phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân trong những lĩnh vực, ngành nghề được cấp giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân trong hoạt động kinh doanh là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành trong đó chủ yếu là loại thuế đánh vào thu nhập từ hoạt động kinh doanh của cá nhân góp phần tăng ngân sách Nhà nước và thực hiện điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp nhân dân

1.2.1.2 Đặc điểm

Thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động kinh doanh là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập chính đáng của từng cá nhân, hộ gia đình Do là thuế trực thu nên nó phản ánh sự

đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế theo luật và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế

Người chịu thuế thu nhập cá nhân không có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế khoá sang cho các đối tượng khác tại thời điểm đánh thuế

Trang 19

Về nguyên tắc, thuế phải có tính trung lập, không nhằm những mục tiêu khác nhau, tuy nhiên thuế thu nhập cá nhân được xây dựng có một số khoản được khấu trừ có tính chất xã hội trước khi tính thuế, việc xem xét đến hoàn cảnh cá nhân người nộp thuế ít nhiều cho thấy thuế thu nhập cá nhân luôn gắn với chính sách xã hội của từng quốc gia nhưng ở mức độ đảm bảo cuộc sống của người nộp thuế, công bằng giữa các khoản thu nhập phải chịu thuế và tính hiệu quả trong thu thuế Trong đó, thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động kinh doanh là một loại thuế chú trọng đến gia cảnh người chịu thuế thông qua các quy định giảm trừ cho cá nhân người chịu thuế và những người phụ thuộc Các quy

định giảm trừ góp phần cho thuế thu nhập cá nhân thực hiện nguyên tắc cân bằng theo

chiều dọc trong điều tiết thu nhập của nhân dân Mặt khác còn tạo nên sự đồng thuận của

xã hội nói chung khi áp dụng luật thuế

Do là loại thuế điều tiết trực tiếp vào thu nhập cá nhân từ hoạt động kinh doanh nên phải có các yếu tố kỹ thuật như: xác định các khoản thu nhập nằm trong phạm vi xác định thu nhập chịu thuế, thuế suất, biểu thuế, miễn giảm thuế thu nhập theo chính sách của Nhà nước qua từng thời kì

Thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động kinh doanh là khoản đóng góp bắt buộc mang tính không hoàn trả trực tiếp Nếu như các khoản đóng góp bắt buộc như phí, lệ phí người

đóng sẽ nhận được trực tiếp những dịch vụ tương ứng với từng loại phí theo tên gọi còn đối với thuế thu nhập cá nhân từ kinh doanh người nộp thuế không hề được nhận một

dịch vụ đối ứng trực tiếp nào mà chỉ có thể được nhận một cách gián tiếp thông qua các dịch vụ công cộng, an ninh xã hội, môi trường,… Qua đó thể hiện mối quan hệ khắng khít giữa Nhà nước và công dân

Thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động kinh doanh điều tiết mạnh người có thu nhập cao, động viên sự đóng góp của người có thu nhập thấp, thu nhập trung bình để góp phần thực hiện công bằng xã hội, giảm bớt khoảng cách phân chia giàu nghèo và đảm bảo xã hội phát triển ổn định

Thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động kinh doanh là một loại thuế phức tạp Tính phức tạp thể hiện ở chỗ diện đánh thuế rộng liên quan chặt chẽ tới hoàn cảnh cá nhân, chính sách kinh tế - xã hội, áp dụng phương pháp tính thuế khá phức tạp là phương pháp lũy tiến, ngoài việc xác định thu nhập chịu thuế còn phải xác định thời điểm phát sinh thu nhập, nguồn gốc, địa điểm, thời hạn cư trú của đối tượng nộp thuế và các khoản chi phí

được trừ trước khi tính thuế Vì vậy, việc quản lý thuế, thu thuế đòi hỏi trình độ, kỹ thuật

cao, chi phí quản lý thuế lớn

Trang 20

Đối tượng chịu thuế, thu nhập chịu thuế của thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động

kinh doanh rất đa dạng và phức tạp

Thuế thu nhập cá nhân từ kinh doanh có tính ổn định không cao Xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống người dân được cải thiện không ngừng thì thu nhập cũng không ngừng tăng lên, nếu áp dụng một mức thuế quá lâu sẽ dẫn đến tình trạng lạc hậu và có tính lũy thoái, mức khởi điểm chịu thuế sẽ không còn phù hợp với sự phát triển của đất nước và đời sống của mọi người nên các nhà làm luật phải sửa đổi, bổ sung nhiều lần,

điều này làm cho Thuế thu nhập cá nhân thường xuyên bị thay đổi và trở nên không ổn định

1.2.1.3 Vai trò

Góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước: khi trình độ phát triển kinh tế càng cao, thu nhập của nhân dân được nâng lên thì số thu từ loại thuế này càng chiếm vị trí quan trọng trong tổng thu ngân sách về thuế

Thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế: ngoài vai trò là tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thuế thu nhập cá nhân còn giữ vị trí quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế

vì chính sách thuế có ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả, đến quan hệ cung cầu, đến cơ cấu

đầu tư và sự phát triển cũng như suy thoái của nền kinh tế

Điều tiết vĩ mô nền kinh tế là Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động

kinh tế, xã hội bằng các mệnh lệnh hành chính mà Nhà nước chỉ đưa ra những chuẩn mực mang tính định hướng lớn trên diện rộng và bằng các công cụ đòn bẩy để hướng các hoạt động kinh tế, xã hội đi theo, nhằm đạt được mục tiêu kinh tế đề ra, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động kinh tế - xã hội thực hiện trong khuôn khổ pháp luật6 Trong

điều kiện nền kinh tế thị trường, khi sự can thiệp trực tiếp của nhà nước vào nền kinh tế

ngày càng hạn chế thì việc sử dụng công cụ thuế như một biện pháp điều chỉnh kinh tế mang lại hiệu quả cao

Điều tiết đối với nền kinh tế là yêu cầu khách quan, thường xuyên của Nhà nước đối

với nền kinh tế Thông qua các quy định của pháp luật về thuế, Nhà nước phát huy vai trò

điều tiết của mình Vai trò này của thuế thể hiện ở chỗ thuế là công cụ tác động đến tư

duy đầu tư, hành vi đầu tư của các chủ thể kinh doanh, hành vi tiêu dùng của các thành viên trong xã hội Dựa vào công cụ thuế, Nhà nước có thể thúc đẩy hoặc hạn chế việc đầu

Trang 21

Điều tiết tiêu dùng là một trong những hoạt động quan trọng của Nhà nước Với các

quy định của pháp luật về thuế, Nhà nước tác động đến các quan hệ tiêu dùng của xã hội Nhằm hạn chế việc tiêu dùng đối với các hàng hóa, dịch vụ, Nhà nước sẽ tăng thuế Giá trị gia tăng, thuế Tiêu thụ đặc biệt…đối với việc sản xuất - kinh doanh, tiêu dùng các hàng hóa đó Ngược lại, nếu khuyến khích tiêu dùng một mặt hàng nào thì Nhà nước sẽ

miễn thuế, giảm thuế đối với mặt hàng đó

Thuế là công cụ để bảo hộ sản xuất trong nước Trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường phải đối mặt với những rủi ro cạnh tranh khốc liệt

từ bên ngoài Vì vậy, bất kỳ nước nào tham gia hội nhập điều phải thiết lập một rào cản bảo hộ hợp lý và hợp pháp Mức thuế cao đối với hàng nhập khẩu có tác dụng giảm bớt hoặc triệt tiêu lợi thế giá cả giữa hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước Ngược lại, mức thuế thấp hoặc bằng không đối với hàng nội địa có tác dụng làm cho giá cả hàng hóa trong nước thấp sẽ tăng khả năng cạnh tranh cho nền kinh tế

Góp phần đảm bảo công bằng xã hội: để đạt đến mục tiêu công bằng xã hội, nhà nước phải can thiệp bằng việc thu thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động kinh doanh nhằm

điều tiết thu nhập của những cá nhân với hộ gia đình kinh doanh có thu nhập cao, qua đó điều chỉnh tương đối sự chênh lệch về thu nhập giữa các cá nhân, hội gia đình trong xã

hội

Thuế thu nhập cá nhân từ hoạt đông kinh doanh là công cụ hữu hiệu để thực hiện mục tiêu công bằng xã hội theo chiều dọc (các bậc thu nhập khác nhau thì chịu mức thuế suất khác nhau) và theo chiều ngang (thu nhập như nhau thì chịu cùng một mức thuế suất) Tuy nhiên cần lưu ý đến chi tiêu của ngân sách nhà nước, đặc biệt là các khoản chi tiêu mang ý nghĩa phúc lợi xã hội, nhằm góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đối tượng có thu nhập thấp trong xã hội

Giúp khắc phục tính lũy thoái của thuế gián thu: thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động kinh doanh với thuế suất lũy tiến sẽ góp phần phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp nhân dân trong xã hội, người có thu nhập cao sẽ nộp thuế càng nhiều và ngược lại, thu nhập thấp nộp thuế ít hơn hoặc không phải nộp thuế

Ở nước ta hiện nay, thu nhập của các tầng lớp nhân dân có sự chênh lệch nhau, một

số cá nhân và hộ gia đình kinh doanh có thu nhập còn thấp, nhưng cũng có một số cá nhân và hộ gia đình kinh doanh có thu nhập khá cao Mặc dù thuế thu nhập cá nhân chưa mang lại số thu lớn cho ngân sách Nhà nước, song xét trên phương diện công bằng xã hội

và phương diện công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước thì thuế thu nhập cá nhân có vị trí

Trang 22

cực kỳ quan trọng, do đó việc điều tiết thuế thu nhập đối với những người có thu nhập cao là cần thiết, đảm bảo thực hiện chính sách công bằng xã hội

1.2.1.4 Chủ thể, phạm vi điều chỉnh

Bất kỳ một văn bản quy phạm pháp luật nào được ban hành cũng phải có phạm vi

điều chỉnh và đối tượng tác động, đây là những yếu tố rất quan trọng và không thể thiếu

giúp mọi người giới hạn được ranh giới và chủ thể cần tác động đến của văn bản

Chủ thể

Một quan hệ pháp luật được cấu thành từ ba yếu tố: chủ thể, khách thể và nội dung Trong đó chủ thể là yếu tố đầu tiên cần thiết để xác định các bên tham gia vào quan hệ pháp luật có năng lực chủ thể để thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Việc xác định chủ thể cũng như đối tượng nộp thuế của thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh là rất quan trọng giúp xác định chính xác đối tượng nào chịu sự điều tiết của thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh Theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân Việt Nam thì đối tượng nộp thuế thu nhập

cá nhân đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh bao gồm cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú

Phạm vi điều chỉnh

Đối với hoạt động kinh doanh có rất nhiều khoản thu nhập từ hoạt động mua bán

hàng hóa, cung ứng dịch vụ Tuy nhiên, Luật thuế thu nhập cá nhân quy định các khoản thu nhập sau chịu sự điều chỉnh của thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động kinh doanh:7

− Thu nhập từ sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

− Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân trong những lĩnh vực, ngành nghề được cấp giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật

Đây là quy định có tính liệt kê, tuy các nhà làm luật sử dụng phép liệt kê nhưng

phạm vi tác động lại không bị giới hạn mà rất rộng bởi quy định đó là quy định mở, đây

là phương pháp mà các nhà làm luật thường hay sử dụng để dự phòng trong trường hợp thực tiễn có thay đổi Đất nước không ngừng vận động và phát triển, nhiều vấn đề xã hội cũng không ngừng phát sinh, các nhà làm luật chưa dự liệu hết các trường hợp có thể xảy

ra, nếu quy định khép kín thì khó tránh khỏi thiếu hay bỏ sót nhiều vấn đề

Như vậy, phạm vi điều chỉnh của thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động kinh doanh là thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và Thu nhập từ

7

Xem Khoản 1 Điều 3 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012

Trang 23

hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân trong những lĩnh vực, ngành nghề được cấp giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật

1.2.2 Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động kinh doanh

Thuế thu nhập cá nhân trong hoạt động kinh doanh có đối tượng nộp thuế là cá nhân

có thu nhập chịu thuế từ hoạt động kinh doanh Theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân đối tượng nộp thuế bao gồm cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú

1.2.2.1 Cá nhân cư trú

Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống8 Trong Luật thuế thu nhập cá nhân thì nơi cư trú là nơi người đó thường xuyên sinh sống, làm việc và có thu nhập phát sinh

Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau:9

a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam

b) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam bao gồm có nơi ở đăng kí thường trú hoặc

có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn

Như vậy cá nhân cư trú phải đáp ứng một trong hai điều kiện:

− Thứ nhất, có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam

Quy định cá nhân cư trú có mặt ở Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch thì 183 ngày này không cần liên tục, cá nhân có thể cộng dồn theo từng lần

đến Việt Nam sao cho từ ngày 01/01 đến ngày 31/12 cá nhân có mặt ở Việt Nam từ 183

ngày trở lên thì được xem là cá nhân cư trú của Việt Nam

Trường hợp cá nhân cư trú có mặt tại Việt Nam trong 12 tháng liên tục thì cá nhân phải ở Việt Nam 12 tháng liên tục nhưng không bắt buộc phải trong một năm dương lịch

mà có thể từ năm này sang năm khác Ví dụ Ông A cư trú ở Việt Nam từ ngày 01/06/2013 đến ngày 31/05/2014 thì Ông A được xem là cá nhân cư trú của Việt Nam

− Thứ hai, có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn

Tiêu chí “nơi ở thường xuyên” của người nước ngoài bao gồm các trường hợp: thuê nhà ở nhiều nơi, cá nhân ở khách sạn, ở nhà nghỉ, nhà trọ, ở tại nơi làm việc, ở trụ sở cơ

Trang 24

quan,… không phân biệt cá nhân tự thuê hay người sử dụng lao động thuê cho người lao

động

Như vậy, việc quy định đối tượng nộp thuế theo tiêu chí cư trú làm cho người Việt Nam và người nước ngoài cùng được điều chỉnh trong một biểu thuế nếu đáp ứng đủ điều kiện luật định Quy định cho thấy chế độ đãi ngộ công dân, thực hiện nguyên tắc công bằng khi xây dựng luật thuế của Nhà nước Việt Nam, tạo cho cá nhân không phải là người Việt Nam nhận thấy mình không bị phân biệt đối xử về thuế khi đến Việt Nam đầu

tư, làm ăn hay hợp tác kinh doanh

1.2.2.2 Cá nhân không cư trú

Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện là cá nhân cư trú nêu ở trên Vì vậy, việc xác định chính xác cá nhân cư trú rất quan trọng vì nếu xác định đối tượng này là cá nhân cư trú rồi thì sẽ loại trừ đối tượng đó là cá nhân không cư trú

Tóm lại, Luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam sử dụng tiêu chí nơi cư trú làm

căn cứ đánh thuế Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ kinh doanh là

cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân

năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012

1.2.3 Lược sử sự phát triển chế định thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh

Về danh nghĩa, trước năm 2007, Việt Nam chưa có Luật thuế thu nhập cá nhân mà chỉ có những sắc lệnh mang tính chất của thuế thu nhập cá nhân như thuế Lợi tức lương bổng được áp dụng ở Miền Nam nước ta từ năm 1962 và sau đó cải cách vào năm 1972 Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất (30/4/1975) đến năm 1990 Nhà nước ta chú trọng việc thu thuế, chưa nhận thấy rõ vai trò và vị trí của thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước do vào thời kì này các khoản thu chủ yếu của Nhà nước là các khoản vay, khoản viện trợ của các nước Xã hội chủ nghĩa, thực hiện chế độ thu quốc doanh và chế độ trích nộp lợi nhuận, chỉ thực hiện chế độ thuế đối với kinh tế ngoài quốc doanh

Sự sụp đổ của hệ thống các nước Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Liên Xô và cùng với công cuộc đổi mới nền kinh tế, Nhà nước ta quyết định cải cách hệ thống thuế để trở thành nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước Hội đồng Nhà nước đã ban hành hàng loạt thuế mới, trong đó có Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao được Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 27/12/1990, có hiệu lực ngày 01/04/1991 Pháp lệnh

được ban hành nhằm mục tiêu động viên một bộ phận dân cư có thu nhập cao hơn so với

mức thu nhập chung vào nguồn ngân sách nhà nước và thực hiện điều tiết thu nhập giữa

Trang 25

các tầng lớp dân cư, góp phần thực hiện công bằng xã hội về thu nhập và làm tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước

Theo quy định của Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao thì nó là loại thuế trực thu, đối tượng nộp thuế là các cá nhân không kinh doanh có thu nhập chịu thuế phát sinh và thu nhập chịu thuế là các khoản thu nhập phát sinh từ lao động và các khoản khác không từ kinh doanh của cá nhân

Qua quá trình tổ chức thực hiện Pháp lệnh này được sửa đổi nhiều lần qua các năm

1992, 1993, 1994, 1997 và được thay thế bằng Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao năm 2001 sửa đổi, bổ sung năm 2004 Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành

đến ngày 01/01/2009, Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 có hiệu lực thay thế cho

pháp lệnh trong vấn đề điều tiết thu nhập cá nhân Đây là lần đầu tiên chính thức có văn bản lập quy về Thuế thu nhập cá nhân, chứng tỏ tầm quan trọng, cần thiết của loại thuế

này trong chính sách thuế ở nước ta

Việc Nhà nước cho ra đời Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 có hiệu lực từ ngày 01/01/2009 trong giai đoạn này xuất phát từ sự đòi hỏi của thực tiễn Sự đòi hỏi này bắt nguồn từ chính sự thay đổi trong bối cảnh, bản chất của đời sống kinh tế xã hội Việt Nam khi chúng ta ngày càng hội nhập sâu với khu vực và thế giới Hiện thực này đã làm cho nội dung các quy định của Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao hiện hành không còn phù hợp với thực tiễn và nhu cầu cần điều tiết thu nhập cá nhân từ phía Nhà nước, xã hội

Trong Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 đã đưa các khoản thu nhập của cá nhân

từ hoạt động kinh doanh vào diện chịu thuế thu nhập cá nhân, áp dụng thống nhất biểu thuế lũy tiến từng phần, được giảm trừ gia cảnh, được trừ các khoản đóng góp bảo hiểm bắt buộc và các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo như cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công là hợp lí Do đó, có thể đánh giá rằng sự ra đời của văn bản Luật Thuế thu nhập cá nhân là sự tất yếu của quá trình phát triển chính sách thuế thu nhập cá nhân của Nhà nước ta

Sau gần bốn năm thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân, trước yêu cầu đổi mới của

sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, một số nội dung của Luật thuế thu nhập cá nhân đã tỏ ra bất cập, cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp Vì vậy, ngày 22 tháng 11 năm 2012, Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung luật thuế thu nhập cá nhân Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2013

Tóm lại, trên cơ sở khái quát chung về thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động

kinh doanh, ta thấy đây là một loại thuế tương đối phức tạp và có tác động đến sự phát

Trang 26

triển kinh tế - xã hội Vì vậy, để hiểu sâu và rõ hơn về loại thuế này, người viết sẽ tìm hiểu quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh ở chương 2

Trang 27

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

ĐỐI VỚI THU NHẬP TỪ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 đã đưa khoản thu nhập từ hoạt động kinh doanh thành đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân nhận được sự hoan nghênh của đa số người dân Những năm gần đây, hoạt động kinh doanh của cá nhân cũng như hộ gia đình

đều phát triển mạnh đã mang lại nguồn thu nhập tương đối lớn, vì vậy, khi khoản thu

nhập này chịu sự điều chỉnh của thuế thu nhập cá nhân, bên cạnh việc có thể điều tiết thu nhập, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước còn có tác dụng điều tiết vĩ mô nền kinh tế

ở Việt Nam

Để đi sâu vào tìm hiểu về thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động kinh doanh,

người viết chủ yếu nghiên cứu các quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động kinh doanh, về các khoản thu nhập chịu thuế; cách tính thuế; thời điểm xác

định thu nhập tính thuế; về các khoản thu nhập được miễn, giảm thuế; các quy định pháp

luật về đăng kí thuế; kê khai, quyết toán thuế; hoàn thuế và các biện pháp xử lí hành vi vi phạm pháp luật về thuế; đồng thời nêu lên những bất cập và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện Luật thuế thu nhập cá nhân

2.1 Các khoản thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ hoạt đông kinh doanh

2.1.1 Phạm vi chịu thuế

Phạm vi xác định thu nhập chịu thuế là một trong những sự khác biệt cơ bản khi xác

định thu nhập chịu thuế của cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú Đối với cá nhân cư

trú thì phạm vi xác định thu nhập chịu thuế nói chung và thu nhập từ hoạt động kinh doanh nói riêng là khoản thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, đối với cá nhân không cư trú thì chỉ có thu thuế đối với những khoản thu nhập phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam, nghĩa là khi một cá nhân được xem là cá nhân cư trú thì khi người này thực hiện các hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, hoạt động hành nghề độc lập có phát sinh thu nhập trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam thì phải thực hiện nghĩa vụ

đóng thuế thu nhập cá nhân trên khoản thu nhập từ hoạt động kinh doanh Đối với cá

nhân không cư trú thì chỉ thực hiện nghĩa vụ nộp thuế khi có thu nhập phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp Hiệp định tránh đánh thuế hai lần có quy định khác Từ đây

có thể thấy rằng phạm vi xác định thu nhập chịu thuế của cá nhân cư trú rộng hơn cá nhân không cư trú

Trang 28

Phạm vi xác định thu nhập chịu thuế là giới hạn của thu nhập chịu thuế đối với từng

đối tượng nộp thuế cụ thể Và giới hạn theo quy định của luật thuế thu nhập cá nhân là

trong lãnh thổ Việt Nam

2.1.2 Các khoản thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động kinh doanh

Luật thuế thu nhập cá nhân khi được ban hành đã tác động đến một số cá nhân trong

xã hội và có vai trò quan trọng trong việc điều tiết thu nhập của cá nhân Trong các khoản thu nhập chịu sự điều chỉnh của Luật thuế thu nhập cá nhân thì khoản thu nhập từ hoạt

động kinh doanh cũng góp một phần không nhỏ cho ngân sách nhà nước Tuy nhiên,

không phải khoản thu nhập nào phát sinh từ hoạt động kinh doanh cũng phải đóng thuế, chỉ những khoản thu nhập mà Luật thuế thu nhập cá nhân quy định mới phải đóng thuế thu nhập cá nhân

2.1.2.1 Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc tất cả các lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh theo quy định của pháp luật

Hoạt động sản xuất, kinh doanh là những hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ như: xây dựng, vận tải, ăn uống; cho thuê nhà, quyền sử dụng đất, mặt nước,

“Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao

hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận”10

“Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung

ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận”11

Từ khái niệm trên cho thấy các hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ ngày càng đa dạng và phổ biến trong xã hội Hoạt động kinh doanh góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển góp phần đem lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước

2.1.2.2 Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập trong những lĩnh vực, ngành nghề

được cấp giấy phép, chứng chỉ theo quy định

Chứng chỉ hành nghề là văn bản mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam hoặc hiệp hội nghề nghiệp được Nhà nước ủy quyền cấp cho cá nhân có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp về một số ngành, nghề nhất định Chứng chỉ

Trang 29

hành nghề ở nước ngoài không có hiệu lực thi hành tại Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành hoặc Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác Ngành nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề và điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề tương ứng theo quy định của pháp luật chuyên ngành có liên quan Theo đó, ngành nghề kinh doanh bắt buộc phải có chứng chỉ hành nghề là: kinh doanh dịch vụ pháp lý; kinh doanh dịch vụ khám, chữa bệnh và kinh doanh dược phẩm; kinh doanh dịch

vụ thú y và kinh doanh thuốc thú y; kinh doanh dịch vụ kiểm toán, kế toán; dịch vụ môi giới bất động sản Và điều kiện để được cấp chứng chỉ hành nghề có những điểm chung như:

− Có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, trung thực, liêm khiết, có ý thức chấp hành pháp luật;

− Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc chuyên ngành;

− Có kinh nghiệm công tác trong ngành;

− Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; không bị cấm hành nghề theo quyết định của

cơ quan có thẩm quyền; không đang trong tình trạng bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành án phạt tù;

− Có giấy chứng nhận đã hoàn thành khoá đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về chuyên ngành

Đối với một số ngành nghề chỉ có thể hoạt động khi có chứng chỉ hành nghề thì thu

nhập từ các ngành nghề đó được xem là thu nhập từ hoạt động kinh doanh và chịu sự quản lí của luật thuế thu nhập cá nhân

2.1.2.3 Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thúy sản không được miễn thuế

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp

là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; hay hiểu một cách rộng hơn, nông nghiệp còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản Trong đó, lâm nghiệp là ngành sản xuất vật chất độc lập của nền kinh tế quốc dân có chức năng xây dựng rừng, quản lí bảo vệ rừng, khai thác lợi dụng rừng, chế biến lâm sản và phát huy các chức năng phòng hộ, của rừng Thủy sản nói chung về những nguồn lợi, sản vật đem lại cho con người từ môi trường nước và được con người khai thác, nuôi trồng thu hoạch sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu hoặc bày bán trên thị

Trang 30

trường Trong các loại thủy sản, thông dụng nhất là hoạt động đánh bắt, nuôi trồng và

khai thác các loại cá, tôm

Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam Hiện nay, tỉ trọng của nông

nghiệp trong cơ cấu kinh tế Việt Nam bị sụt giảm nhiều nhưng Việt Nam vẫn là nước có

nền nông nghiệp phát triển, bằng chứng là Việt Nam luôn là nước xuất khẩu gạo thuộc

hàng nhất nhì thế giới trong năm gần đây ( năm 2012 )12

Ngoài ra, việc nước ta có đường bờ biển dài 3260 km tạo nhiều thuận lợi cho nghề

làm muối và đánh bắt hải sản phát triển, góp phần đem lại nguồn thu nhập không nhỏ cho

người dân

Đối với những cá nhân, hộ gia đình trực tiếp tham gia các hoạt động nông nghiệp,

lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản chưa qua chế biến hoặc chỉ sơ chế

thì không phải nộp thuế thu nhập cá nhân Còn đối với những cá nhân, hộ gia đình thực

hiện việc mua bán sẽ nộp thuế theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân

2.2 Căn cứ tính thuế, thuế suất và cách tính thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động

kinh doanh

Căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú đối với hoạt động

kinh doanh là không giống nhau Cá nhân cư trú sẽ được trừ các khoản giảm trừ như:

giảm trừ gia cảnh; các khoản đóng bảo hiểm, quỹ hưu trí tự nguyện; các khoản đóng góp

từ thiện, nhân đạo, còn với cá nhân không cư trú sẽ không được giảm trừ khoản nào

Trong đó cách tính thuế thu nhập của cá nhân cư trú sẽ có hai cách tính và thuế thu nhập

của cá nhân không cư trú chỉ có một cách tính duy nhất Và để xác định số thuế mà mỗi

cá nhân kinh doanh phải nộp cần dựa vào những quy định của pháp luật về căn cư tính

thuế, thuế suất và cách tính thuế

2.2.1 Căn cứ tính thuế, thuế suất và cách tính thuế đối với cá nhân cư trú có thu

nhập từ hoạt động kinh doanh

Khi tiến hành tính thuế thu nhập cá nhân của cá nhân cư trú đối với hoạt động kinh

doanh thì căn cứ vào hai yếu tố là thu nhập tính thuế và thuế suất

− Thu nhập tính thuế được tính trên cơ sở thu nhập chịu thuế trừ (-) các khoản sau:

khoản giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế và người phụ thuộc mà người nộp

thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng; các khoản đóng bảo hiểm, quỹ hưu trí tự nguyện và các

khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học

Trang 31

− Thuế suất thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh áp dụng theo biểu thuế lũy tiến từng phần Cụ thể như sau:13

Thuế suất (%)

► Thu nhập chịu thuế từ kinh doanh được xác định bằng doanh thu trừ các khoản chi phí hợp lý liên quan trực tiếp đến việc tạo ra thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế Trước hết doanh thu được hiểu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế mà các cá nhân kinh doanh thu được trong kì tính thuế, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh Để cụ thể hóa việc xác định doanh thu tính thu nhập chịu thuế, pháp luật thuế thu nhập cá nhân quy định: Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế từ kinh doanh là toàn bộ tiền bán hàng hoá, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế từ các hoạt động kinh doanh

13

Xem Khoản 2 Điều 7 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/08/2013 của Bộ Tài Chính Hướng dẫn thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính Phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân

Trang 32

Chi phí hợp lí để trừ là các khoản chi phí thực tế phát sinh, có liên quan đến hoạt

động sản xuất, kinh doanh của cá nhân và có đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định của

● Đối với cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán thì thu nhập chịu

thuế xác định như sau:

Thu nhập chịu thuế

trong kỳ tính thuế =

Doanh thu khoán trong kỳ tính thuế *

Tỉ lệ thu nhập chịu thuế ấn định

Trong đó:

- Doanh thu khoán được xác định theo tài liệu kê khai của cá nhân kinh doanh, cơ

sở dữ liệu của cơ quan thuế, kết quả điều tra doanh thu thực tế của cơ quan thuế và ý kiến tham vấn của Hội đồng tư vấn thuế xã, phường

- Tỉ lệ thu nhập chịu thuế ấn định

● Đối với cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán có sử dụng hóa đơn

Trường hợp cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán có sử dụng hóa

đơn quyển, nếu trong quý doanh thu trên hoá đơn cao hơn doanh thu khoán thì ngoài việc

nộp thuế theo doanh thu khoán còn phải nộp bổ sung thuế thu nhập cá nhân đối với phần doanh thu trên hoá đơn cao hơn doanh thu khoán

Trường hợp cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán sử dụng hóa đơn

do cơ quan thuế bán lẻ theo từng số thì khai và nộp thuế thu nhập cá nhân theo tỉ lệ 10% tính trên thu nhập chịu thuế của từng lần phát sinh

14

Xem Khoản 1 Điều 8 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/08/2013 của Bộ Tài Chính Hướng dẫn thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính Phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân

Trang 33

Thu nhập chịu thuế của từng lần phát sinh được xác định như sau:

Trong đó:

- Doanh thu tính thu nhập chịu thuế từng lần phát sinh được xác định theo hợp đồng

và các chứng từ mua bán

- Tỉ lệ thu nhập chịu thuế ấn định

Trường hợp cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán sử dụng hóa đơn quyển có yêu cầu hoàn thuế thu nhập cá nhân thì doanh thu tính thuế của năm được xác

Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành đối với cá nhân kinh doanh không thực hiện chế độ kế toán hóa đơn, chứng từ đã bổ sung thêm trường hợp nộp thuế theo phương pháp khoán có sử dụng hóa

đơn phải chịu thuế thu nhập cá nhân theo từng lần phát sinh mà trước đây Luật thuế thu

nhập cá nhân năm 2007 và các văn bản hướng dẫn không có quy định Đây được coi là quy định cần thiết vì các cá nhân, hộ gia đình kinh doanh ngày càng nhiều, các hình thức kinh doanh cũng đa dạng và không ngừng phát triển Ngày nay, việc áp dụng thuế khoán ngày càng trở nên phổ biến vì nó dễ tính toán, dễ quản lí do đó Chính phủ tiêu tốn ít chi phí để thu thuế hơn và giảm thiểu được gian lận thuế bởi nó đơn giản chỉ là một số tiền

cố định đánh vào các cá nhân kinh doanh

* Đối với cá nhân kinh doanh chỉ hạch toán được doanh thu không hạch toán được chi phí thì thu nhập chịu thuế được xác định như sau:

Trang 34

Thu nhập chịu

thuế trong kỳ

tính thuế

= Doanh thu tính thu

nhập chịu thuế trong

kỳ tính thuế

* Tỉ lệ thu nhập chịu thuế ấn định

+ Thu nhập chịu thuế khác trong

kỳ tính thuế

Trong đó:

- Doanh thu tính thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế được xác định theo sổ sách

kế toán

- Tỉ lệ thu nhập chịu thuế ấn định

- Thu nhập chịu thuế khác là các khoản thu nhập phát sinh trong quá trình kinh doanh gồm: tiền phạt vi phạm hợp đồng; tiền phạt do chậm thanh toán; tiền lãi ngân hàng trong quá trình thanh toán; tiền lãi do bán hàng trả chậm, trả góp; tiền lãi do bán tài sản

cố định; tiền bán phế liệu, phế phẩm và thu nhập chịu thuế khác

Thu nhập khác là những khoản thu nhập góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu từ các hoạt động ngoài hoạt động tạo ra doanh thu

Một điểm mới trong văn bản hướng dẫn Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 sửa

đổi, bổ sung năm 2012 mà văn bản hướng dẫn Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007

không có quy định về thu nhập chịu thuế khác trong trường hợp tính thu nhập chịu thuế chỉ hạch toán được doanh thu Nhà nước quy định thêm khoản thu nhập chịu thuế khác ngoài mục đích đánh lên tất cả các khoản thu nhập từ kinh doanh còn đánh lên các khoản thu nhập khác không phải thu nhập thuộc ngành nghề trong giấy đăng kí kinh doanh trong kì tính thuế nhằm tránh trường hợp cá nhân kinh doanh lợi dụng chuyển các khoản thu nhập ngoài ngành nghề chính vào khoản thu nhập chịu thuế khác để giảm bớt số thuế phải nộp

* Đối với cá nhân kinh doanh lưu động (buôn chuyến) và cá nhân không kinh doanh

có phát sinh hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cần có hóa đơn để giao cho khách hàng

Cá nhân kinh doanh lưu động (buôn chuyến) và cá nhân không kinh doanh có phát sinh hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cần có hóa đơn để giao cho khách hàng khai và nộp thuế thu nhập cá nhân theo tỉ lệ 10% tính trên thu nhập chịu thuế của từng lần

phát sinh

Thu nhập chịu thuế của từng lần phát sinh được xác định tương tự như đối với cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán sử dụng hóa đơn do cơ quan thuế bán

lẻ theo từng số

Trang 35

Đây được coi là quy định mới của Luật thuế thu nhập cá nhân nhằm mở rộng đối

tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là những cá nhân kinh doanh lưu động và cá nhân không kinh doanh Đồng thời góp phần làm tăng thêm nguồn thu vào ngân sách nhà nước

và đảm bảo công bằng cho các cá nhân kinh doanh

* Tỉ lệ thu nhập chịu thuế ấn định

Tỉ lệ thu nhập chịu thuế ấn định tính trên doanh thu áp dụng đối với cá nhân kinh doanh chưa thực hiện đúng pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ; cá nhân kinh doanh lưu động và cá nhân không kinh doanh như sau:

Hoạt động Tỉ lệ thu nhập chịu thuế

ấn định (%)

Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu 30 Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hoá, xây dựng có

Đối với cá nhân kinh doanh nhiều ngành nghề thì áp dụng theo tỉ lệ của hoạt động

kinh doanh chính Trường hợp cá nhân thực tế kinh doanh nhiều ngành nghề và không xác định được ngành nghề kinh doanh chính thì áp dụng theo tỉ lệ của “Hoạt động kinh doanh khác”

Trường hợp cá nhân kinh doanh không đủ hóa đơn chứng từ nên nhà nước quy định

sử dụng phương pháp khoán lấy doanh thu tính thu nhập chịu thuế từng lần phát sinh nhân (×) tỉ lệ thu nhập chịu thuế ấn định theo từng ngành nghề kinh doanh Quy định này vừa dễ tính thu nhập chịu thuế lại vừa tiết kiệm thời gian xác định chi phí có liên quan

2.2.1.2 Đối với cá nhân kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán hóa đơn, chứng

Chi phí hợp lý

được trừ trong

kỳ tính thuế +

Thu nhập chịu thuế khác trong

kỳ tính thuế

Ngày đăng: 03/10/2015, 15:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w