CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ CHO CON 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1.1 Khái niệm xác định cha, mẹ cho con “Xác định cha, mẹ cho con” là một trong những chế định quan tr
Trang 1KHOA LUẬT
*******
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
(Niên khoá 2011 – 2015)
ĐỀ TÀI
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ CHO CON
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
HUỲNH THỊ TRÚC GIANG NGUYỄN THỊ NHẬT LAN
BỘ MÔN TƯ PHÁP MSSV: 5115897
Lớp: Thương mại 2 – K37
Cần Thơ, tháng 11 - 2014
Trang 2………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, quý thầy cô khoa Luật trường Đại học Cần Thơ đã luôn nhiệt tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức bổ ích cũng như tạo điều kiện để tác giả có thể hoàn thành luận văn này
Và hơn hết, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến cô Huỳnh Thị Trúc Giang đã luôn tận tâm chỉ dẫn, góp ý và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn bên cạnh động viên tác giả
Do thời gian hữu hạn và kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế, nên kết quả đạt được không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả hy vọng nhận được sự lượng thứ, góp ý của quý thầy cô để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Cuối lời xin kính chúc quý thầy cô thật nhiều sức khỏe và hoàn thành tốt công tác
Cần Thơ, ngày 31 tháng 10 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Nhật Lan
Trang 4MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ CHO CON 3
1.1 Một số khái niệm cơ bản 3
1.1.1 Khái niệm xác định cha, mẹ cho con 3
1.1.2 Khái niệm con trong giá thú 5
1.1.3 Khái niệm con ngoài giá thú 5
1.1.4 Khái niệm sinh con theo phương pháp khoa học 6
1.1.5 Khái niệm mang thai hộ 7
1.2 Căn cứ phát sinh quan hệ cha, mẹ, con 8
1.2.1 Căn cứ phát sinh quan hệ cha, mẹ, con về mặt huyết thống 9
1.2.2 Căn cứ phát sinh quan hệ cha, mẹ, con về mặt pháp lý……… 10
1.2.2.1 Căn cứ phát sinh quan hệ cha, mẹ, con về mặt pháp lý dựa vào thời kỳ hôn nhân 10
1.2.2.2 Căn cứ phát sinh quan hệ cha, mẹ, con về mặt pháp lý dựa vào sự thừa nhận của cha, mẹ 11
1.3 Ý nghĩa của việc xác định cha, mẹ cho con 11
1.4 Lịch sử phát triển về xác định cha, mẹ cho con trong pháp luật Việt Nam 13
1.4.1 Xác định cha, mẹ cho con trong pháp luật Việt Nam trước năm 1945 13
1.4.2 Xác định cha, mẹ cho con trong pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến nay ….15 1.4.2.1 Xác định cha, mẹ cho con theo Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 15
1.4.2.2 Xác định cha, mẹ cho con theo Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 16
1.4.2.3 Xác định cha, mẹ cho con theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 17
1.4.2.4 Xác định cha, mẹ cho con theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 18
CHƯƠNG 2 QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ CHO CON 20
2.1 Xác định cha, mẹ cho con trong giá thú 20
2.1.1 Cơ sở pháp lý về xác định cha, mẹ cho con trong giá thú 20
2.1.2 Nguyên tắc suy đoán pháp lý về xác định cha, mẹ cho con trong giá thú 21
2.1.3 Những trường hợp con được xác định là con trong giá thú 23
2.2 Xác định cha, mẹ cho con ngoài giá thú 25
2.2.1 Cơ sở pháp lý về xác định cha, mẹ cho con ngoài giá thú ………25
2.2.2 Những trường hợp con ngoài giá thú được xác định là con chung 27
Trang 52.3 Xác định cha, mẹ cho con theo phương pháp khoa học 28
2.3.1 Cơ sở pháp lý về xác định cha, mẹ cho con theo phương pháp khoa học 28
2.3.2 Nguyên tắc xác định cha, mẹ cho con theo phương pháp khoa học 29
2.4 Xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo 31
2.4.1 Cơ sở pháp lý về việc xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo 31
2.4.2 Nguyên tắc xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo 31
2.5 Trình tự, thủ tục xác định cha, mẹ cho con 33
2.5.1 Xác định cha, mẹ cho con bằng thủ tục hành chính 34
2.5.2 Xác định cha, mẹ cho con bằng thủ tục tư pháp 37
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ CHO CON 40
3.1 Thực trạng và giải pháp về xác định cha, mẹ cho con 40
3.1.1 Thực trạng và giải pháp về xác định cha, mẹ cho con theo thủ tục hành chính 40 3.1.2 Thực trạng và giải pháp về xác định cha, mẹ cho con theo thủ tục tư pháp 44
3.2 Những bất cập trong quy định của pháp luật và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xác định cha, mẹ cho con 47
KẾT LUẬN 51 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ ngàn xưa đến nay, quan hệ giữa cha, mẹ, con là những mối quan hệ cao cả và thiêng liêng, luôn được tôn trọng và bảo vệ Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển thì mối quan hệ ấy càng được chú trọng Hơn nữa, quan hệ cha, mẹ, con còn là mối quan
hệ cơ bản trong gia đình, mà mỗi thành viên là công dân của xã hội Do đó, việc xác định cha, mẹ, con không chỉ có ý nghĩa ổn định các mối quan hệ trong gia đình, mà còn góp phần vào việc ổn định xã hội Bên cạnh đó, quyền được làm cha, làm mẹ là những quyền thiêng liêng, vì vậy việc xác định cha, mẹ, con là thật sự cần thiết, giúp các chủ thể tìm lại nguồn gốc và huyết thống của mình Đồng thời, việc xác định quan hệ cha,
mẹ, con còn liên quan đến những mối quan hệ pháp luật khác như hôn nhân và gia đình, dân sự…
Trong những năm gần đây, đất nước ngày càng phát triển và trên đà hội nhập thì các mối quan hệ trong xã hội cũng chịu nhiều ảnh hưởng, trong đó có các mối quan hệ
về hôn nhân và gia đình Quan niệm truyền thống của nước ta về gia đình, xã hội cũng dần thay đổi Bên cạnh việc tiếp nhận những văn hóa tốt đẹp của các nước, thì đồng thời cũng xuất hiện những tiêu cực trong xã hội Ngày nay, nam nữ yêu đương và có quan hệ sinh lý trước khi đăng ký kết hôn hay chung sống với nhau như vợ chồng ngày càng nhiều, dẫn đến việc mang thai ngoài ý muốn và sau khi sinh thì chối bỏ, do đó đứa trẻ không biết cha, mẹ của mình là ai… Đặc biệt, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học và mang thai hộ đã làm thay đổi quan niệm truyền thống về mặt huyết thống trong mối quan hệ cha, mẹ, con trước đây Đây là những vấn đề hết sức phức tạp và việc xác định cha, mẹ cho con trong những trường hợp này cũng không đơn giản, đòi hỏi pháp luật phải có những quy định riêng biệt Hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình hiện nay cũng đã có những quy định điều chỉnh về vấn đề này, tuy nhiên trên thực tế vẫn còn nhiều bất cập, thiếu sót trong quá trình áp dụng
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này nên tác giả chọn đề tài “Hoàn
thiện pháp luật về xác định cha, mẹ cho con” với mong muốn tìm hiểu về vấn đề này,
qua đó đề ra những giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện pháp luật về xác định cha,
mẹ cho con” là nhằm tìm hiểu, phân tích, làm rõ các quy định của pháp luật và thực
Trang 7trạng về việc xác định cha, mẹ cho con Qua đó, có sự so sánh và phát hiện những bất cập trong quy định của pháp luật cũng như những vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ việc liên quan đến vấn đề xác định cha, mẹ cho con Trên cơ sở này, nêu lên những nguyên nhân của các vướng mắc đó, đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật vào thực tiễn
3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài “Hoàn thiện pháp luật về xác định cha, mẹ cho
con” là tập trung tìm hiểu, nghiên cứu các quy định của pháp luật về vấn đề xác định
cha, mẹ cho con trong nước, trên phương diện lý luận và thực tiễn Trong khuôn khổ của luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu từ các tài liệu như: Luật hôn nhân và gia đình năm
1959, 1986, 2000, 2014, nghị định, nghị quyết, thông tư cùng một số nguồn tài liệu khác
có liên đến vấn đề xác định cha, mẹ cho con
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài “Hoàn thiện pháp luật về xác định cha, mẹ cho con” vận dụng phương
pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, cùng một số phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp… Bên cạnh đó, đề tài còn được nghiên cứu trên cơ sở từ những quy định của pháp luật đối chiếu với thực tiễn áp dụng, cùng với việc tham khảo những công trình nghiên cứu, sách báo, tạp chí… có liên quan nhằm hiểu rõ các quy định của pháp luật và hoàn thành đề tài tốt hơn
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Khái quát chung về xác định cha, mẹ cho con
- Chương 2: Quy chế pháp lý về xác định cha, mẹ cho con
- Chương 3: Thực trạng và hướng hoàn thiện pháp luật về xác định cha, mẹ cho con
Trang 8CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ CHO CON
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm xác định cha, mẹ cho con
“Xác định cha, mẹ cho con” là một trong những chế định quan trọng trong Luật hôn nhân và gia đình, nhằm góp phần vào việc tìm ra nguồn gốc cho những trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi, không được cha, mẹ thừa nhận… và đồng thời cũng là căn cứ giúp cha,
mẹ xác định mối quan hệ huyết thống với những người con của mình Nhưng trong luật hiện hành lại không định nghĩa cụ thể khái niệm xác định cha, mẹ cho con là như thế nào Tuy nhiên, có thể hiểu “xác định cha, mẹ cho con” dưới nhiều góc độ khác nhau:
- Dưới góc độ sinh học – xã hội: Có thể thấy quan hệ giữa cha, mẹ, con là những
mối quan hệ có liên quan mật thiết với nhau và không thể tách rời Trong xã hội, theo quan niệm truyền thống và cả về mặt sinh học thì giữa những người là cha, mẹ, con với nhau sẽ có cùng huyết thống thông qua sự kiện sinh đẻ của người phụ nữ Và cha, mẹ phải là những người trực tiếp sinh ra đứa trẻ và ngược lại, con phải mang huyết thống và được sinh ra từ chính cha, mẹ của mình Như vậy nếu xét dưới góc độ này, việc xác định cha, mẹ cho con không phụ thuộc vào hôn nhân hợp pháp của cha mẹ, hay nói cách khác mối quan hệ cha, mẹ, con được ràng buộc tự nhiên mà không cần phải được xác định theo những quy định của pháp luật Như vậy dưới góc độ sinh học – xã hội, “xác định
cha, mẹ cho con” là việc nghiên cứu, tìm kiếm, nhận diện mối quan hệ huyết thống giữa
hai thế hệ kế tiếp nhau thông qua sự kiện sinh đẻ 1
Tuy nhiên ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì yếu tố
“huyết thống” không còn được đảm bảo nữa trong trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học hoặc mang thai hộ Do đó, mối quan hệ giữa những người được xác định
là cha, mẹ, con có thể có hoặc không cùng huyết thống với nhau và người con trong mối quan hệ này có thể không được sinh ra từ những người được xác định là cha, mẹ của mình
- Dưới góc độ khoa học – pháp lý: Mối quan hệ cha, mẹ, con không chỉ đơn thuần
là những mối quan hệ tình cảm liên quan nội tại trong phạm vi gia đình, mà còn là một quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh Do đó, việc xác định cha, mẹ cho con dưới
1Nguyễn Thị Lan, Luận án tiến sĩ Luật học “Xác định cha, mẹ, con trong Pháp luật Việt Nam”,
Đại học Luật Hà Nội, năm 2008, tr 10
Trang 9góc độ pháp lý cũng chịu ảnh hưởng bởi những quy tắc đặc thù và được nghiên cứu dưới nhiều tư cách khác nhau
Theo quan điểm của TS Nguyễn Thị Lan, Đại học Luật Hà Nội thì “xác định cha,
mẹ cho con” dưới góc độ pháp lý được nghiên cứu:
Với tư cách là một sự kiện pháp lý: “Xác định cha, mẹ, con là căn cứ pháp lý làm
phát sinh quan hệ pháp luật giữa cha, mẹ và con về mặt huyết thống” 2
Có thể thấy quan hệ tự nhiên giữa cha, mẹ, con được hình thành thông qua sự kiện sinh đẻ từ giai đoạn thụ thai, mang thai và sinh con – kết quả của mối quan hệ sinh
lý giữa người phụ nữ với một người đàn ông Trong trường hợp cần xác định cha, mẹ, con về mặt pháp lý thì các yếu tố về mặt sinh học (có quan hệ xác thịt, có sự thành thai),
là những gì đã diễn ra trước đó, không thể đem ra làm căn cứ chứng minh vào bất kỳ thời điểm nào khi có tranh chấp Hơn nữa, sự kiện sinh đẻ chỉ là một trong những căn cứ ghi nhận tư cách cha, mẹ, con của các chủ thể, không đủ cơ sở xác định cha, mẹ, con
Do đó, sự kiện sinh đẻ cần phải được “pháp lý hóa” như thông qua việc thực hiện đăng
ký khai sinh cho trẻ… để làm căn cứ phát sinh quan hệ cha, mẹ, con
Với tư cách là một chế định pháp lý: “Xác định cha, mẹ, con là tổng hợp các quy
phạm pháp luật do nhà nước ban hành, quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, căn cứ và thủ tục pháp lý nhằm nhận diện một người cha, một người mẹ, một người con
có mối quan hệ huyết thống trực hệ” 3
Xác định cha, mẹ, con được các quy phạm pháp luật điều chỉnh, làm căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể Theo đó, xác định cha, mẹ, con là một quyền nhân thân, các chủ thể được bảo đảm thực hiện quyền xác định cha, mẹ, con cũng như quyền được các chủ thể khác tôn trọng và được pháp luật bảo hộ, tạo điều kiện xác định cha, mẹ, con Tuy nhiên, các chủ thể trong việc xác định cha, mẹ, con phải tuân theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật mà không được tự ý thỏa thuận làm thay đổi quyền
và nghĩa vụ do quy định của pháp luật, cũng như làm thay đổi mối quan hệ cha, mẹ, con
Có thể thấy, xét dưới nhiều góc độ khác nhau thì xác định cha, mẹ, con được hiểu theo nhiều hướng khác nhau Tuy nhiên, dù theo cách hiểu nào thì mục đích sau cùng của việc xác định cha, mẹ, con cũng là nhằm nhận diện đúng tư cách của các chủ thể
2 Nguyễn Thị Lan, Luận án tiến sĩ Luật học “Xác định cha, mẹ, con trong Pháp luật Việt
Nam”, Đại học Luật Hà Nội, năm 2008, tr 10
3 Nguyễn Thị Lan, Luận án tiến sĩ Luật học “Xác định cha, mẹ, con trong Pháp luật Việt Nam”,
Đại học Luật Hà Nội, năm 2008, tr 11
Trang 10trong mối quan hệ cha, mẹ, con Từ đó làm căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên
1.1.2 Khái niệm con trong giá thú
Trong hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình từ trước đến nay không đưa ra định nghĩa về khái niệm “con trong giá thú” mặc dù đã có sử dụng đến thuật ngữ này
Trước hết, theo Từ điển Luật học thì “giá thú” là văn bản có giá trị pháp lý thừa nhận
việc lấy vợ, lấy chồng hợp pháp của những người chưa có vợ hoặc chưa có chồng 4 Như vậy có thể hiểu, con trong giá thú là con được sinh ra từ mối quan hệ vợ chồng hợp
pháp Nói một cách cụ thể thì “con trong giá thú” là con mà cha, mẹ có quan hệ hôn
nhân hợp pháp, tức là việc kết hôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận (trước đây dưới chế độ cũ gọi là con chính thức) 5
Theo quy định của pháp luật hiện
hành có giải thích thì “hôn nhân” là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn 6 Và
“kết hôn” là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về
điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn 7 Từ những căn cứ này, có thể thấy hai bên nam nữ
có hôn nhân hợp pháp khi đã đăng ký kết hôn và đáp ứng đầy đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình
Tuy nhiên, theo Điểm a Điều 3 Nghị quyết 35/2000/NQ - QH10 ngày 9 tháng 6 năm 2000 về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình, thì trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/01/1987 vẫn được pháp luật thừa nhận là hợp pháp Do đó, con được sinh ra trong trường hợp này cũng được xem là con trong giá thú
Tóm lại, “con trong giá thú” là con được sinh ra từ mối quan hệ vợ, chồng có đăng ký kết hôn hoặc mối quan hệ đó được pháp luật thừa nhận
1.1.3 Khái niệm con ngoài giá thú
Tương tự như khái niệm “con trong giá thú”, tuy pháp luật hôn nhân và gia đình
có sử dụng thuật ngữ “con ngoài giá thú” nhưng lại không đưa ra định nghĩa về khái niệm này Theo từ điển Luật học thì “con ngoài giá thú” là con mà cha mẹ không phải vợ chồng, hoặc ăn ở với nhau như vợ chồng, nhưng việc lấy nhau chưa được Uỷ ban nhân
4 Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách khoa, năm 1999, tr 169
5 Nguyễn Văn Cừ, Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, NXB Công an nhân dân,
năm 2006, tr 156
6 Khoản 6 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
7
Khoản 2 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
8 Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách khoa, năm 1999, tr 102
Trang 11thú là con được sinh ra từ mối quan hệ giữa cha, mẹ không tồn tại hôn nhân hợp pháp, tức là trước pháp luật, họ không được công nhận là vợ chồng
Có nhiều trường hợp con sinh ra được xác định là con ngoài giá thú từ mối quan
hệ mà cha, mẹ không phải là vợ chồng trước pháp luật; hoặc tuy cha, mẹ ăn ở, chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, bao gồm:
- Người mẹ không có chồng mà sinh con
- Người mẹ có chồng, nhưng ngoại tình, có con với người khác
- Hai bên nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng, trong thời gian sống chung, giữa hai người có con chung với nhau, nhưng cha mẹ không có đăng ký kết hôn (kể cả trường hợp hai vợ chồng đã ly hôn, sau đó lại sống chung với nhau nhưng không đăng
ký kết hôn lại Nếu người mẹ sinh con trong thời kỳ này thì con đó là con chung ngoài giá thú) 9
Như vậy, có thể thấy việc con sinh ra được xác định có phải là con ngoài giá thú hay không, điều này phụ thuộc vào quan hệ hôn nhân của cha, mẹ trước pháp luật
1.1.4 Khái niệm sinh con theo phương pháp khoa học
Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, xã hội thì nhu cầu của con người về mọi mặt trong đời sống cũng ngày càng nâng cao, kể cả việc sinh con cũng có thể được đáp ứng theo mong muốn Trên thực tế, ngày càng có nhiều cặp vợ chồng vô sinh do nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến việc họ không thể có con Với sự tiến bộ của nền y học và khoa học kỹ thuật thì việc sinh con theo phương khoa học có thể xem
là một thành tựu vượt bậc, từ đó có thể đáp ứng được nguyện vọng được làm cha, làm
mẹ cho những cặp vợ chồng vô sinh Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này vào sinh sản là một vấn đề hết sức phức tạp không chỉ liên quan đến những cặp vợ chồng vô sinh
mà còn có thể ảnh hưởng đến chủ thể thứ ba (người cho trứng, tinh trùng, phôi…) Đây
là một trong những điểm khác biệt cơ bản so với việc sinh sản tự nhiên Do đó, vấn đề này không thể tồn tại một cách độc lập và tự phát mà cần phải được pháp luật điều chỉnh, làm căn cứ bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia
Theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 12/2003/NĐ – CP của Chính phủ ngày 12
tháng 02 năm 2003 về sinh con theo phương pháp khoa học có giải thích: “Sinh con theo
phương pháp khoa học là việc sinh con được thực hiện bằng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
9
Nguyễn Văn Cừ, Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, NXB Công an nhân dân,
năm 2006, tr 160
Trang 12như thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm” Như vậy, có thể thấy trong quy định
này, pháp luật đã cho phép áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thông qua hai con đường,
đó là thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm Theo đó, “thụ tinh nhân tạo” là thủ
thuật bơm tinh trùng của chồng hoặc của người cho tinh trùng vào tử cung của người phụ nữ có nhu cầu sinh con để tạo phôi 10 Và “thụ tinh trong ống nghiệm” là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi 11 Theo Khoản 5 và Khoản
6 Điều 3 Nghị định 12/2003/NĐ – CP có giải thích rõ thêm, “noãn” là tế bào trứng và
“phôi” là sản phẩm của quá trình kết hợp giữa noãn và tinh trùng
Bên cạnh đó, theo Khoản 21 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 gần đây
nhất cũng đưa ra khái niệm: “Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con
bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm” Tuy nhiên, có thể thấy
khái niệm này về cơ bản không có sự khác biệt so với khái niệm sinh con theo phương pháp khoa học được quy định trong Nghị định 12/2003/NĐ – CP
1.1.5 Khái niệm mang thai hộ
Theo quan niệm truyền thống, căn cứ đầu tiên để xác định mối quan hệ giữa cha,
mẹ, con là yếu tố huyết thống Người con được sinh ra từ một người phụ nữ sẽ đương nhiên được thừa nhận không chỉ về mặt gia đình, xã hội mà còn được pháp luật công nhận, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp Ngày nay, quan niệm ấy đã có sự thay đổi về mặt huyết thống, khi mà người phụ nữ vẫn được công nhận là mẹ của người con mà mình không trực tiếp mang thai và sinh ra, trong khi người phụ nữ trực tiếp mang thai và sinh ra đứa trẻ ấy lại không phải là mẹ Đây là vấn đề còn khá mới lạ và có ảnh hưởng rất lớn đến quan niệm truyền thống về mối quan hệ giữa cha, mẹ, con Nguyên nhân của hiện tượng này xuất phát từ thực tế hiện nay, khi trong xã hội ngày càng có nhiều cặp vợ chồng mà người vợ không có khả năng mang thai và sinh đẻ Từ đó, trong xã hội dần phát sinh hiện tượng những cặp vợ chồng vô sinh sau khi thụ tinh trong ống nghiệm từ tinh trùng và noãn của chính mình, thì cấy vào tử cung của một người phụ nữ khác để mang thai hộ Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “mang thai hộ” bao gồm: “mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” và “mang thai hộ vì mục đích thương mại” Tuy nhiên, pháp luật chỉ thừa nhận trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo 12
Trang 13Tại Khoản 22 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Mang thai hộ
vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con” Có thể thấy trong
quy định này, pháp luật đã nêu việc mang thai hộ sẽ được áp dụng đối với các cặp vợ chồng mong muốn được có con, nhưng vì những lý do khác nhau, người vợ không có khả năng tự mình mang thai và sinh con, kể cả khi đã có sự hỗ trợ kỹ thuật vào việc sinh sản Thông thường, quá trình sinh đẻ của người phụ nữ gồm ba giai đoạn: thụ thai, mang thai và sinh con Nhưng đối với người phụ nữ trong trường hợp mang thai hộ thì phải nhờ đến người phụ nữ thứ hai mang thai và sinh đẻ Bào thai mà người phụ nữ này mang cho đến khi sinh ra được hình thành từ việc thụ tinh trong ống nghiệm giữa noãn và tinh trùng của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ Có thể thấy, pháp luật thừa nhận mang thai hộ
là vì mục đích nhân đạo, đáp ứng được mong muốn được làm cha, làm mẹ Do đó, việc một người phụ nữ thứ hai tham gia vào quá trình sinh đẻ phải dựa trên ý chí tự nguyện, giúp mang thai và sinh con cho người phụ nữ không có khả năng này, mà không phải vì bất kỳ lợi ích nào khác Pháp luật quy định yếu tố tự nguyện này là hoàn toàn phù hợp với đạo đức xã hội
Như vậy, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được pháp luật thừa nhận và cho phép áp dụng đối với những cặp vợ chồng mà người vợ không có khả năng mang thai và sinh con, mặc dù đã áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Các vấn đề xoay quanh việc mang thai hộ không chỉ liên quan nội tại đến các cặp vợ chồng vô sinh mà còn liên quan đến người thứ ba Tuy đây là lần đầu tiên việc mang thai hộ được pháp luật dự liệu, nhưng
có thể thấy những quy định ban đầu về vấn đề này là tương đối phù hợp
1.2 Căn cứ phát sinh quan hệ cha, mẹ, con
Quan hệ cha, mẹ, con là mối quan hệ pháp lý giữa một người (gọi là con) và một người khác (gọi là cha hoặc mẹ) 13
Một số trường hợp việc xác định mối quan hệ cha,
mẹ, con giữa các chủ thể rất dễ dàng nhưng cũng có một số trường hợp do nhiều nguyên nhân khác nhau, việc xác định mối quan hệ ấy rất phức tạp Tuỳ vào tính chất và hoàn
13
Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam - tập 1, NXB
Trẻ TP Hồ Chí Minh, năm 2002, tr 121
Trang 14cảnh của từng trường hợp cụ thể mà có sự lựa chọn những căn cứ phù hợp để xác định mối quan hệ cha, mẹ, con Tuy nhiên, các căn cứ ấy luôn tồn tại song song và trong nhiều trường hợp bổ trợ cho nhau
Có hai căn cứ cơ bản để xác định mối quan hệ cha, mẹ, con, đó là: căn cứ về mặt huyết thống và căn cứ về mặt pháp lý Trong đó, căn cứ về mặt huyết thống thường được
ưu tiên xét đến đầu tiên khi xem xét có hay không việc phát sinh quan hệ cha, mẹ, con
1.2.1 Căn cứ phát sinh quan hệ cha, mẹ, con về mặt huyết thống
Trong đời sống xã hội, theo quan niệm từ xưa đến nay, khi một người phụ nữ có quan hệ sinh lý với bất kỳ người đàn ông nào, dù đó có phải là người chồng hợp pháp hay không, mà dẫn đến việc mang thai và sinh con, thì việc xác định mối quan hệ cha,
mẹ, con được đặt ra, hay nói cách khác mối quan hệ cha, mẹ, con được phát sinh Theo quy luật sinh học, khi đứa trẻ ra đời sẽ mang huyết thống của người phụ nữ sinh ra và người đàn ông đã có quan hệ sinh lý với người phụ nữ này Đây là mối liên hệ huyết thống tự nhiên thông qua sự kiện sinh đẻ Theo đó, người phụ nữ sinh ra đứa trẻ được xác định là mẹ, còn người cha được xác định là người đàn ông có quan hệ sinh lý với người mẹ dẫn đến việc mang thai và sinh ra đứa trẻ
Tuy nhiên ngày nay, dưới sự phát triển của y học và những tiến bộ không ngừng của khoa học, thì mọi việc đều có thể được con người sắp xếp, quyết định một cách chủ động theo mong muốn và ý chí của mình, kể cả sinh sản Việc sinh sản không chỉ diễn ra theo quá trình tự nhiên mà còn được thực hiện bằng những phương pháp nhân tạo, dưới
sự hỗ trợ của kỹ thuật Do đó, quan niệm truyền thống về mặt huyết thống phát sinh từ
sự kiện sinh đẻ trong mối quan hệ cha, mẹ, con đã có sự thay đổi
Sinh sản theo phương pháp khoa học đã hình thành nên khả năng sinh sản mà không phải dựa trên mối quan hệ tình dục giữa nam và nữ Tuy cũng bằng sự kết hợp giữa noãn của phụ nữ và tinh trùng của người đàn ông nhưng môi trường để hình thành phôi lúc này là trong ống nghiệm (thụ tinh trong ống nghiệm) hoặc được thực hiện bằng việc bơm tinh trùng vào tử cung của người phụ nữ để hình thành phôi (thụ tinh nhân tạo), và cả hai phương pháp này đều đã có sự hỗ trợ kỹ thuật, chứ không còn là sự phát triển tự nhiên từ giai đoạn thành thai cho đến khi sinh đẻ như khi sinh sản tự nhiên Điểm đáng chú ý, cha và mẹ được xác định cho con sinh ra bằng phương pháp khoa học không đồng thời là những người có tinh trùng và noãn kết hợp với nhau để hình thành thai, có nghĩa là trường hợp người vợ mang thai, nhưng bào thai là kết quả của sự phối hợp giữa trứng và tinh trùng của người khác hoặc trứng của người vợ và tinh trùng của
Trang 15người khác Đặc biệt trong trường hợp “mang thai hộ”, sau khi có sự hỗ trợ kỹ thuật, tuy kết quả phối hợp giữa noãn và tinh trùng là của cặp vợ chồng vô sinh, nhưng người trực tiếp mang thai và sinh đẻ là một người phụ nữ khác Pháp luật hiện nay đã thừa nhận cặp
vợ chồng vô sinh là cha, mẹ của đứa trẻ, người mang thai hộ chỉ đóng vai trò hỗ trợ cho
sự ra đời của đứa trẻ ấy
Như vậy, căn cứ phát sinh quan hệ cha, mẹ, con về mặt huyết thống được nhận diện thông qua sự kiện sinh đẻ Đối với việc sinh sản tự nhiên, về mặt sinh học đứa con
sẽ mang huyết thống của người phụ nữ và người đàn ông có quan hệ sinh lý với nhau mà dẫn đến việc người phụ nữ có thai và sinh ra đứa trẻ Mối quan hệ cha, mẹ, con lúc này được phát sinh dựa trên mối liên hệ huyết thống theo quy luật sinh học Tuy nhiên, đối với việc sinh sản nhân tạo thì yếu tố huyết thống làm căn cứ phát sinh mối quan hệ cha,
mẹ, con đã có sự thay đổi, có nghĩa là những người được xác định là cha, mẹ, con của nhau có thể không đồng thời mang cùng huyết thống
1.2.2 Căn cứ phát sinh quan hệ cha, mẹ, con về mặt pháp lý
1.2.2.1 Căn cứ phát sinh quan hệ cha, mẹ, con về mặt pháp lý dựa vào thời kỳ hôn nhân
Hôn nhân hợp pháp là quan hệ giữa vợ, chồng được pháp luật thừa nhận, khi đã đăng ký kết hôn và đáp ứng đầy đủ điều kiện kết hôn Hôn nhân hợp pháp luôn gắn liền với thời kỳ hôn nhân Do đó, một trong những căn cứ về mặt pháp lý để xác định quan
hệ cha, mẹ, con là dựa vào thời kỳ hôn nhân Khi xét đến thời kỳ hôn nhân cần quan tâm đến thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân và thời điểm chấm dứt thời kỳ hôn nhân Theo
quy định của pháp luật hiện hành thì “thời kỳ hôn nhân” là khoảng thời gian tồn tại quan
hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân 14 Và “ly hôn”
là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của
vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng 15 Từ những căn cứ này của pháp luật thì thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân được xác định kể từ ngày đăng ký kết hôn Đối với thời điểm chấm dứt thời kỳ hôn nhân được xác định kể từ khi có bản án, quyết định có hiệu lực của Toà án về việc chấm dứt quan hệ vợ chồng (ly hôn), ngay cả trong trường hợp
vợ, chồng chết Pháp luật hiện hành đã có những quy định về trường hợp đứa trẻ được
14 Khoản 7 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
15 Khoản 8 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Trang 16xác định là con chung dựa vào thời kỳ hôn nhân Do đó, việc xác định thời kỳ hôn nhân
có vai trò rất quan trọng, làm căn cứ phát sinh mối quan hệ cha, mẹ, con
1.2.2.2 Căn cứ phát sinh quan hệ cha, mẹ, con về mặt pháp lý dựa vào sự thừa nhận của cha, mẹ
Căn cứ phát sinh quan hệ cha, mẹ, con về mặt pháp lý dựa vào sự thừa nhận của cha, mẹ được áp dụng trong trường hợp người vợ sinh con trước ngày đăng ký kết hôn16
Có thể thấy trong cuộc sống ngày nay, nam nữ yêu thương và có quan hệ sinh lý với nhau trước khi đăng ký kết hôn, dẫn đến việc người phụ nữ có thai ngày càng phổ biến Trong trường hợp này họ không được pháp luật công nhận là vợ chồng, giữa họ không tồn tại thời kỳ hôn nhân, do đó đứa con được sinh ra sẽ không đương nhiên được thừa nhận Tuy nhiên, nếu xét về mặt sinh học thì đứa trẻ được sinh ra là con chung Do đó,
dự liệu được trường hợp này, pháp luật đã có những quy định về việc ghi nhận sự thừa nhận của cha, mẹ đối với đứa trẻ như để “pháp lý hóa” mối quan hệ giữa họ Tức là lúc này, mối quan hệ cha, mẹ, con được phát sinh, đứa trẻ được xác định là con chung và được sự thừa nhận về mặt pháp lý
1.3 Ý nghĩa của việc xác định cha, mẹ cho con
Mối quan hệ giữa cha, mẹ, con là một trong những mối quan hệ quan trọng và thiêng liêng trong gia đình, mà gia đình là đơn vị, tế bào cấu thành của xã hội Từ đó có thể thấy mối quan hệ giữa gia đình và xã hội là không thể tách rời và có mối liên hệ mật thiết với nhau Vì vậy, mà việc xác định cha, mẹ cho con không chỉ mang ý nghĩa đối với từng chủ thể mà còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc Xác định cha, mẹ, con là một chế định có ý nghĩa trong pháp luật hôn nhân và gia đình, góp phần đảm bảo cho các trẻ em
có đầy đủ sự yêu thương, chăm sóc từ gia đình… Mặt khác, việc xác định cha, mẹ cho con còn liên quan đến những mối quan hệ pháp lý khác như dân sự, hôn nhân và gia đình… và có ý nghĩa trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể Có thể thấy, xác định cha, mẹ cho con không chỉ có ý nghĩa về mặt xã hội mà còn có ý nghĩa về mặt pháp lý
- Ý nghĩa về mặt xã hội
Từ ngàn xưa đến nay, quyền làm cha, mẹ là những quyền cao cả, thiêng liêng và
có ý nghĩa quan trọng Hạnh phúc gia đình có thể được duy trì từ sự hiện diện của những
16
Nguyễn Thị Lan, Luận án tiến sĩ Luật học “Xác định cha, mẹ, con trong Pháp luật Việt
Nam”, Đại học Luật Hà Nội, năm 2008, tr 13
Trang 17đứa con thân yêu Việc xác định cha, mẹ cho con tạo điều kiện cho trẻ em được phát triển một cách toàn diện và an toàn trong chính mái ấm gia đình và sự yêu thương của cha, mẹ, đặc biệt là đối với những trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi…
Ngoài ra, việc xác định cha, mẹ cho con còn góp phần xoá bỏ sự kỳ thị, phân biệt đối xử giữa những người con được sinh ra từ những cuộc hôn nhân hợp pháp và bất hợp pháp, đảm bảo những đứa trẻ dù được sinh ra trong những hoàn cảnh khác nhau vẫn có quyền được đối xử bình đẳng, điều này cũng đã phù hợp với một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật hôn nhân và gia đình, tại khoản 2 Điều 68 Luật hôn nhân và gia
đình 2014 quy định: “Con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ
đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha mẹ của mình…”
Hơn nữa, việc xác định cha, mẹ cho con còn đảm bảo cho các chủ thể có căn cứ
để xác định được huyết thống, dòng tộc của mình, giúp duy trì được nòi giống, tái sản xuất con người, tăng nguồn nhân lực… góp phần vào việc quyết định cho sự phát triển
xã hội trong tương lai
- Ý nghĩa về mặt pháp lý
Ngoài ý nghĩa về mặt xã hội thì việc xác định cha, mẹ cho con còn mang ý nghĩa
về mặt pháp lý Mối quan hệ giữa cha, mẹ, con không chỉ có ý nghĩa khi được các chủ thể trong gia đình và xã hội thừa nhận, mà còn có ý nghĩa và thật sự cần thiết khi được pháp luật công nhận Khi mối quan hệ cha, mẹ, con được xác định thì giữa những người với vai trò là cha, mẹ, con lúc này đã hình thành nên mối quan hệ pháp lý trước pháp luật, nghĩa là họ đã có những quyền lợi và nghĩa vụ đối với nhau Đồng thời, đây còn là căn cứ để các cá nhân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, là cơ sơ để các cơ quan có thẩm quyền giải quyết nếu có tranh chấp xảy ra trong những ngành luật như dân
sự, hôn nhân và gia đình…
Khi sự kiện sinh đẻ xảy ra đồng thời sẽ làm phát sinh những hành vi pháp lý có liên quan khác Hơn nữa, việc xác định cha, mẹ cho con còn làm phát sinh mối quan hệ giữa các thành viên khác trong gia đình như ông, bà, anh, chị, em… qua đó làm cơ sở cho các chủ thể xác định và thực hiện đúng những quy định của pháp luật về quyền nhân thân, tài sản, cấp dưỡng, nuôi dưỡng…
Mặt khác, việc xác định cha, mẹ cho con cũng đã thể hiện đúng tinh thần của những nguyên tắc cơ bản trong pháp luật hôn nhân và gia đình Cụ thể, Khoản 3 và 4 Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định:
Trang 18“3 Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con.”
“4 Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em…, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình.”
1.4 Lịch sử phát triển về xác định cha, mẹ cho con trong pháp luật Việt Nam
1.4.1 Xác định cha, mẹ cho con trong pháp luật Việt Nam trước năm 1945
Pháp luật thời phong kiến Việt Nam giai đoạn trước năm 1945 nhìn chung chưa
có sự phân biệt rõ ràng giữa các ngành luật, mọi quan hệ pháp luật đều được quy định chung trong các bộ luật Trong thời kỳ này, tiêu biểu cho chế độ hôn nhân và gia đình là hai bộ luật: Quốc triều hình luật (hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức) được ban hành vào thế kỷ XV dưới thời Lê, và Hoàng Việt luật lệ (hay còn gọi là Bộ luật Gia Long) được ban hành vào thế kỷ XIX dưới thời Nguyễn Đây được xem là hai bộ luật nổi bật quy định về nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau như: hôn nhân và gia đình, dân sự, hình sự…, mà cả những chế độ sau đó vẫn còn dựa vào hai bộ luật này để giải quyết các tranh chấp xảy ra Tuy nhiên, lại không tìm thấy những quy định về việc xác định cha, mẹ cho con
Trong giai đoạn này, pháp luật nước ta chịu nhiều ảnh hưởng của hệ thống pháp luật phong kiến Trung Quốc, đặc biệt bị ảnh hưởng sâu sắc bởi những tư tưởng Nho giáo Thời này, xã hội đề cao vai trò của người gia trưởng, coi trọng các mối quan hệ trong gia đình và có hình phạt rất nặng đối với những ai xâm phạm đến mối quan hệ này, bên cạnh đó trong giai đoạn này còn tồn tại những định kiến lạc hậu như “trọng nam khinh nữ”… người phụ nữ, người vợ trong gia đình phải theo đạo lý “tam tòng tứ đức”, chịu nhiều lễ giáo hà khắt Đối với trường hợp người phụ nữ dâm đãng, ngoại tình thì sẽ
bị chồng bỏ và chịu những hình phạt khắt khe… Đối với người đàn ông nếu phạm phải tội gian dâm với vợ người khác cũng sẽ chịu trừng phạt rất nặng, bị xử tội lưu hay tội chết Do đó, các mối quan hệ giữa cha, mẹ và con cái luôn được coi trọng và bắt buộc phải tuân thủ, nên những người con được sinh ra hầu hết đều được công nhận và theo chế độ phụ hệ Đối với trường hợp con ngoại hôn được sinh ra từ mối quan hệ bất chính
do người phụ nữ có chồng nhưng thông gian với người khác mà sinh ra, hoặc người phụ
nữ sinh con mà không có người thừa nhận là cha, thì pháp luật giai đoạn này có quy định
Trang 19về sự tự thừa nhận mối quan hệ cha con, có nghĩa là nếu người cha thừa nhận đứa trẻ là con thì đứa trẻ này sẽ trở thành con chính thức
Như vậy, có thể thấy pháp luật giai đoạn này vẫn còn nhiều thiếu sót và chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo Về việc xác định cha, mẹ cho con vẫn chưa được quy định cụ thể trong luật
Đến thời Pháp thuộc (1858 – 1945), giai đoạn đầu xâm lược, thực dân Pháp vẫn còn tạm thời cho áp dụng pháp luật của triều Nguyễn và phong tục tập quán bản xứ Về sau, chúng ban hành pháp luật mới để cai trị, do đó nếp sống cổ truyền của dân tộc ta cũng đã thay đổi, trong đó chế độ hôn nhân và gia đình cũng chịu nhiều ảnh hưởng Chính quyền thực dân dùng chính sách “chia để trị” chia cắt đất nước ta thành ba miền tương ứng với ba bộ luật khác nhau:
- Ở Nam kỳ áp dụng bộ Dân luật giản yếu được ban hành vào năm 1883 là một sắc lệnh của Tổng thống Pháp
- Ở Trung kỳ áp dụng bộ Dân luật Trung (tên chính thức là Hoàng Việt Trung Kỳ
hộ luật) được ban hành từ năm 1936 đến năm 1939
- Ở Bắc kỳ áp dụng bộ Dân luật Bắc (tên chính thức là “Bộ dân luật thi hành tại các toà Nam án Bắc Kỳ”) được ban hành vào năm 1931
Pháp luật thời kỳ này bắt đầu có sự phân biệt đối xử sâu sắc giữa các con trong gia đình, giữa con trai với con gái, giữa con chung với con riêng, giữa con trong giá thú (hay còn gọi là con chính thức) với con ngoài giá thú (hay còn gọi là con ngoại hôn, con hoang, con tư sinh, con loạn luân) Việc xác định cha, mẹ cho con chủ yếu được đặt ra đối với mối quan hệ cha – con, còn người phụ nữ sinh ra đứa trẻ sẽ đương nhiên được
xác định là mẹ đứa trẻ Điều 151 Bộ Dân luật Bắc kỳ quy định: “Phàm thụ thai trong
thời kỳ giá thú thì cha đứa con sinh ra là người chồng” Có thể thấy, việc xác định
người cha cho đứa trẻ sẽ căn cứ vào giá thú với người mẹ Đồng thời, tại Điều 151 Bộ
Dân luật Bắc kỳ còn quy định: “Thụ thai trong thời kỳ giá thú, tức là kể từ sau khi đã
làm lễ cưới cách ngoại một trăm tám mươi ngày sinh con, hay là kể từ sau khi đã tiêu hôn mà trong khoảng ba trăm ngày sinh con” Như vậy, đứa con được thụ thai trong
thời kỳ giá thú và được sinh ra tính từ khi thụ thai đến khi ra đời trong khoảng thời gian tối thiểu 180 ngày và tối đa 300 ngày thì sẽ được xác định là con chính thức Đối với con ngoài giá thú, con loạn luân hay ngoại tình thường sẽ không được thừa nhận và bị phân biệt đối xử, kể cả quyền xin được xác định cha, mẹ, sự thừa nhận nếu có thì sẽ bị vô
hiệu Cụ thể tại Điều 168 Bộ Dân luật Bắc kỳ quy định: “Nếu là con loạn luân hay con
Trang 20ngoại tình của người mẹ thì hộ lại không được đăng ký sự khai nhận đứa con hoang ấy Nếu hộ lại đã trót khai nhận thì coi như không và vô hiệu” Qua quy định này, có thể
thấy sự bất công đối với con ngoài giá thú, tuy nhiên bên cạnh đó pháp luật cũng có những quy định để làm căn cứ thừa nhận con ngoài giá thú thành con chính thức Điều
169 Bộ Dân luật Bắc kỳ quy định: “Phàm con hoang mà cha mẹ nó trước đã khai nhận,
đến sau lại có giá thú hợp phép, thì có thể công nhận làm con chính thức, sự công nhận
ấy là tự nhiên chiểu luật”
Có thể thấy, việc xác định cha, mẹ cho con trong giai đoạn này tuy vẫn chưa thật
sự hoàn thiện nhưng qua từng giai đoạn, từ thời phong kiến đến dưới thời Pháp thuộc đã
có sự tiến bộ Vấn đề xác định cha, mẹ cho con dần được quy định khá cụ thể và đầy đủ
1.4.2 Xác định cha, mẹ cho con trong pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến nay
1.4.2.1 Xác định cha, mẹ cho con theo Luật hôn nhân và gia đình năm 1959
Trước năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra những mục tiêu chiến lược như giải phóng phụ nữ, thực hiện nam nữ bình quyền trong gia đình và xã hội, xoá bỏ chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến… Đến khi Cách mạng tháng Tám thành công đã giải phóng dân tộc thoát khỏi ách thống trị, đất nước bước vào một giai đoạn mới, thì mục tiêu giải phóng phụ nữ, nam nữ bình quyền ngày càng được chú trọng Năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, các mối quan hệ pháp luật cơ bản trong xã hội cũng đã được quy định trong hiến pháp, trong đó có các vấn đề về hôn nhân và gia đình, đây là cơ sở xây dựng chế độ hôn nhân tiến bộ của nước
ta vào giai đoạn này
Hiến pháp ra đời làm tiền đề xây dựng các đạo luật khác nhằm điều chỉnh và đáp ứng tình hình thực tiễn, trong đó có đạo luật về hôn nhân và gia đình Vì vậy tại kì họp thứ 11, đạo Luật hôn nhân và gia đình đầu tiên của nước ta được Quốc hội khóa I thông qua ngày 29/12/1959 và được công bố vào ngày 13/01/1960, đã đề ra những nguyên tắc chung về chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, bình đẳng, một vợ, một chồng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, con cái Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 gồm 6 chương, 35 điều quy định về những nguyên tắc chung, kết hôn, nghĩa vụ và quyền lợi của vợ, chồng, quan hệ giữa cha, mẹ và con, ly hôn Theo đó, “Quan hệ giữa cha, mẹ và con cái” được quy định tại chương IV từ Điều 17 đến Điều 24, trong đó có những quy định ghi nhận về
quyền được nhận cha, mẹ, con ngoài giá thú, như tại Điều 22 quy định: “Người con
ngoài giá thú được xin nhận cha hoặc mẹ trước Toà án nhân dân Người mẹ cũng có quyền xin nhận cha thay cho đứa trẻ chưa thành niên Người thay mặt cũng có quyền xin
Trang 21nhận cha hoặc mẹ thay cho đứa trẻ chưa thành niên” và Điều 23 quy định: “Con ngoài giá thú được cha, mẹ nhận hoặc được Toà án nhân dân cho nhận cha, mẹ, có quyền lợi
và nghĩa vụ như con chính thức” Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi cha, mẹ nhận
con ngoài giá thú cũng đã được quy định tại Điều 21, cụ thể: “Cha hoặc mẹ nhận con
ngoài giá thú phải khai trước Ủy ban hành chính cơ sở Nếu có tranh chấp, Tòa án nhân dân sẽ quyết định”
Như vậy có thể thấy Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 ra đời góp phần điều chỉnh tình hình thực tiễn trong giai đoạn này, đã có những quy định ghi nhận quyền được nhận cha, mẹ, con và thẩm quyền giải quyết khi có tranh chấp xảy ra Tuy nhiên, những quy định về xác định cha, mẹ cho con chưa đầy đủ và hoàn thiện
1.4.2.2 Xác định cha, mẹ cho con theo Luật hôn nhân và gia đình năm 1986
Sau khi đất nước được hoàn toàn thống nhất từ ngày 30/4/1975, mở ra một giai đoạn mới đòi hỏi nước ta cần phải có sự cải thiện và phát triển hơn trên tất cả các lĩnh vực, kể cả pháp luật, để điều chỉnh kịp thời các mối quan hệ pháp luật phát sinh trong xã hội Do đó, Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 trong thời kỳ này đã không thể đáp ứng kịp thời nhu cầu của xã hội, nên đòi hỏi phải có một văn bản khác thay thế Vì vậy, Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 được ban hành vào ngày 29/12/1986 dưới sự thông qua của Quốc hội khoá VII, và chính thức có hiêu lực vào ngày 3/01/1987 Nội dung luật bao gồm 10 chương, 57 điều, trong đó chế định xác định cha, mẹ, con được quy định tại
chương V từ Điều 28 đến Điều 33 Cụ thể tại Điều 28 quy định: “Con sinh ra trong thời
kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng Trong trường hợp có yêu cầu xác định lại vấn đề này thì phải có chứng cứ khác” Bên
cạnh đó, tại Điều 31 còn quy định: “Con ngoài giá thú có quyền xin nhận cha, mẹ kể cả
trong trường hợp cha, mẹ đã chết…” Ngoài ra tại điều luật này còn quy định về những
chủ thể có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ cho con ngoài giá thú chưa thành niên
“Người mẹ, người cha hoặc người đỡ đầu có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ cho người con ngoài giá thú chưa thành niên” và “Viện kiểm sát nhân dân, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ cho người con ngoài giá thú chưa thành niên” Hơn nữa, trong
Luật hôn nhân và gia đình 1986 đã có quy định cho thấy không còn sự phân biệt đối xử
Trang 22giữa các loại con: “Con ngoài giá thú được cha, mẹ nhận hoặc được Toà án nhân dân
cho nhận cha, mẹ có mọi quyền và nghĩa vụ như con trong giá thú” 17
Có thể thấy Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 ra đời có nhiều tiến bộ hơn khi
đã dành hẳn một chương riêng biệt về xác định cha, mẹ, con và đã có những quy định liên quan đến thời kỳ hôn nhân - căn cứ phát sinh quan hệ cha, mẹ, con, là cơ sở cho việc xác định cha, mẹ cho con dễ dàng hơn
1.4.2.3 Xác định cha, mẹ cho con theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Đất nước không ngừng tiến bộ, xã hội ngày càng phát triển sẽ làm phát sinh nhiều mối quan hệ pháp luật mới khác nhau, các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật hôn nhân và gia đình nói riêng đòi hỏi cũng phải được đổi mới để phù hợp với tình hình hiện tại Do đó việc ra đời luật mới để thay thế Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 là thật sự cần thiết Ngày 9/6/2000 Quốc hội chính thức thông qua Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và chính thức có hiệu lực vào ngày 01/01/2001 Luật gồm 13 chương,
110 điều, trong đó chế định “Xác định cha, mẹ, con” được quy định tại chương VII từ Điều 63 đến Điều 66 Nhìn chung, so với Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 thì Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 không có nhiều sự thay đổi trong những quy định về việc xác định cha, mẹ cho con Nội dung quy định xoay quanh nguyên tắc xác định cha,
mẹ, con; quyền và các chủ thể có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con… Tuy nhiên, có
một điểm hoàn toàn mới được quy định tại Điều 63: “Việc xác định cha, mẹ cho con
được sinh ra theo phương pháp khoa học do Chính phủ quy định” Đây là lần đầu tiên
vấn đề sinh con theo phương pháp khoa học được luật hóa Và tại Điều 66 quy định về người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc xác định con cho cha, mẹ mất năng lực hành vi dân
sự
Có thể thấy Luật hôn nhân và gia đình 2000 ra đời cũng đã có sự tiến bộ hơn khi kịp thời có những quy định mới phù hợp với tình hình xã hội Riêng những quy định làm căn cứ để xác định cha, mẹ cho con về căn bản vẫn không có sự thay đổi so với những quy định trong văn bản luật hôn nhân và gia đình trước đó
17 Điều 32 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986
Trang 231.4.2.4 Xác định cha, mẹ cho con theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
Đất nước ngày càng phát triển, đặc biệt là trong giai đoạn công nghiệp hoá – hiện đại hoá như hiện nay, cùng với sự ảnh hưởng của văn hoá nước ngoài trong giai đoạn hội nhập thì ngày càng có nhiều quan hệ pháp luật mới về hôn nhân và gia đình phát sinh, đặc biệt trong những năm gần đây nổi cộm lên vấn đề “mang thai hộ”, đây là vấn
đề hết sức nhạy cảm và đã gây nhiều tranh cãi trong thời gian qua Tuy “mang thai hộ”
là vấn đề vẫn còn khá mới mẻ nhưng trên thực tế đã có nhiều trường hợp phát sinh và không được pháp luật điều chỉnh Điều này đã bộc lộ một trong những hạn chế của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Do đó, vào ngày 19/6/2014, Quốc hội khoá XIII đã chính thức thông qua Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và có hiệu lực vào ngày 01/01/2015 Luật gồm 9 chương, 133 điều, bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung một số điều luật thì đã có quy định thêm ba chế định mới, trong đó đã thừa nhận việc “mang thai hộ” Riêng về chế định “Xác định cha, mẹ, con” được quy định tại chương V, mục 2, từ Điều 88 đến Điều 102, cùng với một số quy định được kế thừa từ Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 còn bổ sung thêm một số quy
định mới, cụ thể tại Điều 88: “Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm
chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân” và quy
định về xác định cha, mẹ, con trong trường hợp người có yêu cầu chết cũng được ghi
nhận tại Điều 92, theo đó thì “người thân thích của người này có quyền yêu cầu Tòa án
xác định cha, mẹ, con cho người yêu cầu đã chết” Đặc biệt, pháp luật đã có những quy
định về xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh
sản tại Điều 93, và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo tại Điều 94, với nội dung: “Con
sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra”
Có thể thấy, so với những quy định trước đây thì Luật hôn nhân và gia đình năm
2014 ra đời đã điều chỉnh kịp thời những bất cập trong xã hội về mối quan hệ hôn nhân
và gia đình Đặc biệt là “mang thai hộ” cùng với những nguyên tắc xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp này Đây được xem là sự tiến bộ và mang tính nhân đạo khi các nhà làm luật đã tạo điều kiện cho các cặp vợ, chồng mà người vợ không có khả năng mang thai và sinh con được quyền làm cha, làm mẹ như những người bình thường khác
Nhìn chung, pháp luật hôn nhân và gia đình nói chung và việc xác định, cha, mẹ, con nói riêng đã được quy định từ rất sớm và không ngừng được hoàn thiện Có thể thấy tùy vào từng giai đoạn mà nhà nước bổ sung, sửa đổi và ban hành những quy định pháp
Trang 24luật phù hợp để điều chỉnh tình hình thực tế Tuy nhiên, xã hội vẫn không ngừng phát triển nên khó tránh khỏi sự thiếu sót và bất cập trong việc áp dụng những quy định của pháp luật vào thực tiễn, trong đó có cả chế định xác định cha, mẹ, con Vì thế, nhà nước cần phải theo dõi và quan tâm đến vấn đề này để kịp thời có những quy định phù hợp, góp phần hoàn thiện pháp luật
Trang 25CHƯƠNG 2 QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ CHO CON
2.1 Xác định cha, mẹ cho con trong giá thú
2.1.1 Cơ sở pháp lý về xác định cha, mẹ cho con trong giá thú
Nguyên tắc suy đoán pháp lý về việc xác định cha, mẹ cho con trong giá thú được quy định tại Điều 63 Luật hôn nhân và gia đình 2000 với nội dung như sau:
“1 Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó
là con chung của vợ chồng
Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng
2 Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Toà án xác định
Việc xác định cha, mẹ cho con được sinh ra theo phương pháp khoa học do Chính phủ quy định”
Hơn nữa tại Mục 5a Nghị quyết 02/2000/NQ – HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, quy định những trường hợp con được xác định là con chung của vợ chồng:
- Con sinh ra sau khi đã tổ chức đăng ký kết hôn cho đến trước khi chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc của cả hai vợ chồng;
- Con sinh ra sau khi chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng, nhưng người vợ đã có thai trong thời kỳ hôn nhân (trong thời kỳ từ khi đã tổ chức đăng ký kết hôn cho đến trước khi chấm dứt quan hệ hôn nhân)
- Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn (ngày tổ chức đăng ký kết hôn) nhưng được cả vợ và chồng thừa nhận
Nguyên tắc suy đoán pháp lý về xác định cha, mẹ cho con tiếp tục được dự liệu trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nhưng về nội dung và tinh thần trong quy định pháp luật không có sự thay đổi so với Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, bên
Trang 26cạnh việc bổ sung quy định: “Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm
chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân” 18
2.1.2 Nguyên tắc suy đoán pháp lý về xác định cha, mẹ cho con trong giá thú
Nguyên tắc suy đoán pháp lý về xác định cha, mẹ cho con không được đề cập trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 Đây là một thiếu sót trong pháp luật hôn nhân và gia đình vào thời điểm này, vì thực tế có nhiều trường hợp khi giải quyết các tranh chấp về vấn đề xác định cha, mẹ cho con, Toà án đã thiếu đi những cơ sở pháp lý nên đã gây nhiều khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp Vì vậy, khi Luật hôn nhân
và gia đình 1986 ra đời đã quy định nguyên tắc suy đoán pháp lý về xác định cha, mẹ cho con 19 Quy định này tiếp tục được dự liệu trong Luật hôn nhân và gia đình năm
2000, với nội dung nguyên tắc như sau: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do
người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng…” 20 Trong quy định này
có đề cập đến “thời kỳ hôn nhân”, theo đó thời kỳ hôn nhân là “khoảng thời gian tồn tại
quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân” 21 Ở đây
có hai khái niệm cần phải được làm rõ là “ngày đăng ký kết hôn” và “ngày chấm dứt hôn nhân” Theo đó:
- Ngày đăng ký kết hôn được xác định là ngày hai bên nam nữ ký vào giấy chứng
nhận kết hôn, đồng thời cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng ký kết hôn và giấy chứng nhận kết hôn Trong trường hợp hai bên nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng và có giá trị pháp lý thì sau khi đăng ký kết hôn, thời kỳ hôn nhân được xác định
từ ngày hai bên chung sống với nhau như vợ chồng
- Ngày chấm dứt hôn nhân được xác định trong trường hợp ly hôn, là ngày bản án hay quyết định công nhận thuận tình ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật, hoặc là ngày mà một bên vợ, chồng chết hoặc có quyết định của toà án tuyên bố vợ, chồng đã chết
Như vậy, nếu trong khoảng thời gian kể từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày hôn nhân chấm dứt, người phụ nữ sinh ra đứa con sẽ đương nhiên được thừa nhận là mẹ đứa trẻ, việc xác định người cha sẽ dựa trên mối quan hệ pháp lý giữa người mẹ với người
18 Khoản 1 Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
19 Xem Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986
20 Khoản 1 Điều 63 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
21
Khoản 7 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Trang 27đàn ông sẽ được xác định là cha của đứa trẻ Theo đó, người chồng sẽ được xác định là cha của đứa con này
Đối với trường hợp người vợ “có thai trong thời kỳ hôn nhân” thì con sinh ra được xem là con chung của vợ chồng, khi áp dụng nguyên tắc suy đoán pháp lý để xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp này thì cần xem xét đến thời điểm thụ thai và mang thai đứa trẻ Theo đó, “có thai” là đang mang thai trong bụng còn “thụ thai” là bắt đầu có thai Từ đây, dẫn đến hai trường hợp: Người vợ thụ thai trong thời kỳ hôn nhân hoặc người vợ đang mang thai trong thời kỳ hôn nhân (trường hợp này người vợ đã thụ thai trước thời kỳ hôn nhân) 22
Trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành không có những quy định giải thích về việc thế nào là con được thụ thai trong thời kỳ hôn nhân Tuy nhiên có thể thấy trong trường hợp này, pháp luật
có quy định hay không là không thật sự cần thiết, vì pháp luật đã thừa nhận con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân được xác định là con chung của vợ chồng Có thể thấy pháp luật
dự liệu trường hợp này đã có sự tiến bộ hơn so với thời kỳ trước, vì trên thực tế có nhiều trường hợp hai bên nam nữ chưa đăng ký kết hôn nhưng đã chung sống và có quan hệ sinh lý với nhau, dẫn đến việc người phụ nữ có thai
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã có quy định về nguyên tắc suy đoán pháp
lý về xác định cha, mẹ cho con trong giá thú và tại Nghị định số 70/2001/NĐ – CP của Chính phủ ngày 3/10/2001 quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật hôn nhân và gia
đình có quy định:“Con sinh ra trong vòng 300 ngày, kể từ ngày người chồng chết hoặc
kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án xử cho vợ chồng ly hôn có hiệu lực pháp luật, thì được xác định là con chung của hai người” 23
Tức là trong trường hợp hôn nhân của
vợ chồng chấm dứt theo quy định của pháp luật, và trong khoảng thời gian 300 ngày kể
từ ngày hôn nhân chấm dứt, người vợ không kết hôn hoặc không có quan hệ sinh lý với bất kỳ người đàn ông nào thì con sinh ra trong khoảng thời gian này được xác định là con chung của vợ chồng Như vậy có thể thấy theo quy định này, pháp luật đã gián tiếp thừa nhận thời gian mang thai tối đa là 300 ngày Tuy nhiên lại không có những quy định về thời gian mang thai tối thiểu Do đó, bên cạnh việc quy định thời gian mang thai tối đa, pháp luật cần có những quy định về khoảng thời gian mang thai tối thiểu để tạo
cơ sở cho việc xác định cha, mẹ cho được hoàn thiện hơn
22Nguyễn Thị Lan, Bàn về thời gian mang thai tối đa và tối thiểu trong việc xác định cha, mẹ,
con, Tạp chí Luật học, Đại học Luật Hà Nội, số 8, năm 2007, tr 30
23
Khoản 2 Điều 21 Nghị định 70/2001/NĐ – CP
Trang 28Đồng thời cũng tại Khoản 1 Điều 63 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy
định: “Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con
chung của vợ chồng” Đây cũng là một quy định tiến bộ phù hợp với thực tiễn xã hội
trong trường hợp hai bên nam nữ chưa đăng ký kết hôn nhưng đã quan hệ tình dục với nhau, dẫn đến việc người phụ nữ mang thai và sinh con ngoài mong muốn Về sau, nếu người con được sự thừa nhận của cha, mẹ thì vẫn được xác định là con chung của vợ chồng Có thể thấy, pháp luật đã dự liệu trường hợp này một phần cũng là để góp phần vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đứa trẻ
Tại Khoản 2 Điều 63 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Trong
trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Toà án xác định” Pháp luật quy định như vậy là phù hợp với tình hình thực tiễn, vì đã có không ít
trường hợp sau khi người vợ sinh con, người chồng vì nghi ngờ người vợ không chung thuỷ và ngoại tình với người khác nên đứa trẻ đã không được sự thừa nhận của người cha Tuy nhiên việc không thừa nhận đứa con chỉ được Toà án xác định là có hiệu lực khi người chồng đưa ra được những chứng cứ chứng minh đứa trẻ đó không phải là con của mình Ngược lại, nếu người chồng không đưa ra được chứng cứ chứng minh thì Toà
án buộc người chồng phải thừa nhận đứa trẻ là con của mình Mục đích pháp luật quy định như vậy một phần cũng là để bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ và trẻ em, hạn chế những trường hợp người chồng vì trốn tránh trách nhiệm mà khước từ đi con của mình
2.1.3 Những trường hợp con được xác định là con trong giá thú
Dựa trên nguyên tắc suy đoán pháp lý về xác định cha, mẹ cho con tại Điều 63 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Điều 21 Nghị định 70/2001/NĐ – CP thì con được xác định là con trong giá thú bao gồm những trường hợp sau đây:
Trường hợp thứ nhất: Con do người vợ thụ thai và sinh ra trong thời kỳ hôn nhân
Việc xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp này không có nhiều phức tạp, vì nam nữ yêu nhau, kết hôn theo quy định của pháp luật và sau đó vợ chồng có con chung
là điều tất yếu Mặt khác, sự kiện sinh đẻ của phụ nữ từ lúc mang thai cho đến khi sinh con đều được biểu hiện ra bên ngoài nên rất dễ dàng để nhận biết Người phụ nữ sinh ra đứa trẻ được xác định là mẹ, người chồng được xác định là cha Vì thế, trong thời kỳ hôn nhân nếu người vợ có thai và sinh con thì đứa trẻ được sinh ra sẽ đương nhiên được thừa nhận là con chung của vợ chồng
Trường hợp thứ hai: Con do người vợ thụ thai trước thời kỳ hôn nhân và được
sinh ra trong thời kỳ hôn nhân
Trang 29Đây là trường hợp pháp luật dự liệu phù hợp với tình hình thực tế, ngày nay rất phổ biến hiện tượng hai bên nam nữ yêu đương, “sống thử” đã có quan hệ sinh lý và thụ thai trước khi kết hôn, dẫn đến việc người phụ nữ mang thai Lúc này, hai bên nam nữ cũng đã ý thức được rằng đứa con sau này được sinh ra chắc chắn là con chung của vợ chồng Về sau, nếu hai bên kết hôn thì đứa con được sinh ra vào bất kỳ thời điểm nào trong thời kì hôn nhân (do pháp luật không quy định thời gian mang thai tối thiểu nên không bắt buộc phải xác định trong khoảng thời gian bao nhiêu ngày kể từ khi kết hôn, đứa trẻ được sinh ra mới được xem là con chung) cũng sẽ đương nhiên được thừa nhận
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đứa trẻ sau này khi chúng được sinh ra khi cha, mẹ vẫn chưa là vợ chồng hợp pháp trước pháp luật
Trường hợp thứ tư: Con do người vợ thụ thai trong thời kỳ hôn nhân nhưng được
sinh ra sau khi hôn nhân chấm dứt theo quy định của pháp luật trong thời hạn luật định tối đa là 300 ngày
Có nhiều trường hợp, người vợ đã thụ thai trong thời kỳ hôn nhân, nhưng đứa trẻ chưa được sinh ra thì hôn nhân giữa cha, mẹ đã chấm dứt vì nhiều nguyên nhân khác nhau Lúc này, trước pháp luật hai bên nam, nữ không còn là vợ chồng hợp pháp nữa Tuy nhiên, căn cứ vào Khoản 2 Điều 21 Nghị định 70/2001/NĐ – CP, đứa trẻ sau này nếu được sinh ra trong vòng 300 ngày, kể từ ngày hôn nhân chấm dứt vẫn được xác định
là con chung của vợ chồng Sở dĩ pháp luật quy định thời hạn là 300 ngày là vì trên cơ
sở y tế và khoa học, đây là khoảng thời gian tối đa tính từ khi người phụ nữ mang thai cho đến khi sinh con Do đó, kể cả trong trường hợp người vợ thụ thai vào ngày cuối cùng của thời kỳ hôn nhân thì khoảng thời gian này vẫn được áp dụng để làm căn cứ xác định cha, mẹ cho con