1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

76 694 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một lĩnh vực quan trọng và nhạy cảm trong nền kinh tế, ngành ngân hàng cần phải có quy định pháp lý hết sức chặt chẽ và hiện đại để điều chỉnh hành vi cạnh tranh rất đa dạng và liên t

Trang 1

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện: ThS LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH TRẦN THỊ THƠ

MSSV: 5116024 Lớp: Luật Thương mại 2

Cần Thơ, tháng 12 năm 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

MSSV: 5116024 Lớp: Luật Thương mại 2

Cần Thơ, tháng 12 năm 2014

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN



Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2014

Giảng viên hướng dẫn

Lê Huỳnh Phương Chinh

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN



Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2014

Giảng viên phản biện

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục của đề tài 2

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG 4

1.1 Một số khái niệm có liên quan đến cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 4 1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 4

1.1.2 Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng 6

1.1.3 Khái niệm hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 7

1.2 Đặc trưng của cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 9

1.3 Tác động của cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 10

1.3.1 Tác động tích cực của cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 10

1.3.2 Hệ quả của hoạt động cạnh tranh không lành mạnh và hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 12

TỔNG KẾT CHƯƠNG 1 13

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG 14

2.1 Quy định pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng 14

2.1.1 Chỉ dẫn gây nhầm lẫn trong lĩnh vực ngân hàng 14

2.1.2 Xâm phạm bí mật kinh doanh và ép buộc khách hàng trong kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng 15

2.1.2.1 Xâm phạm bí mật kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng 15

2.1.2.2 Ép buộc khách hàng trong kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng 18

2.1.3 Dèm pha và gây rối hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng khác 19

Trang 6

2.1.3.1 Dèm pha tổ chức tín dụng khác 19

2.1.3.2 Gây rối hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng khác 21

2.1.4 Quảng cáo và khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng 22

2.1.4.1 Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng 22

2.1.4.2 Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng 24

2.1.5 Phân biệt đối xử của hiệp hội 26

2.1.6 Lạm dụng cơ chế lãi suất trong cạnh tranh 26

2.2 Quy định pháp luật về hành vi hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 28

2.2.1 Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 28

2.2.2 Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và vị trí độc quyền trong lĩnh vực ngân hàng 31

2.2.2.1 Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường trong lĩnh vực ngân hàng 31

2.2.2.2 Lạm dụng vị trí độc quyền trong lĩnh vực ngân hàng 34

2.2.3 Tập trung kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng 35

2.2.3.1 Hình thức tập trung kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng 35

2.2.3.1.1 Sáp nhập tổ chức tín dụng 36

2.2.3.1.2 Hợp nhất tổ chức tín dụng 37

2.2.3.1.3 Mua lại tổ chức tín dụng 38

2.2.3.2 Kiểm soát hành vi tập trung kinh tế trong kĩnh vực ngân hàng 40

2.3 Quy định pháp luật về điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 41

2.3.1 Thẩm quyền và thủ tục điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 41

2.3.2 Biện pháp xử lý vụ việc cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 44

TỔNG KẾT CHƯƠNG 2 46

Trang 7

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

VỀ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG 48

3.1 Thực trạng cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 48

3.1.1 Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng 48

3.1.2 Thực trạng hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 50

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 54 3.2.1 Xác định pháp luật điều chỉnh cho hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng 54

3.2.2 Quy định rõ ràng, cụ thể khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 56

3.2.2.1 Quy định rõ ràng, cụ thể khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng 56

3.2.2.2 Quy định rõ ràng về hành vi hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 57

3.2.3 Thống nhất thẩm quyền và thủ tục xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 57

3.2.4 Tái cấu trúc các tổ chức tín dụng, môi trường cạnh tranh của các tổ chức tín dụng trong lĩnh vực ngân hàng 58

3.2.4.1 Tái cấu trúc các tổ chức tín dụng 58

3.2.4.2 Tái cấu trúc môi trường cạnh tranh của các tổ chức tín dụng 59

TỔNG KẾT CHƯƠNG 3 61

KẾT LUẬN 62

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hội nhập kinh tế đem lại cho Việt Nam nhiều cơ hội phát triển, song song với

đó là không ít những khó khăn và thử thách Một trong những khó khăn và thách thức quan trọng mà chúng ta đã và đang từng bước hoàn thiện, đó chính là một hành lang pháp lý thật sự vững chắc Đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng, phải càng được chú trọng bởi khi có sự xuất hiện của ngày một nhiều các tổ chức tín dụng với đa đạng hình thức và loại hình kinh doanh Việt Nam sẽ phải thực hiện chính sách không phân biệt đối xử giữa các ngân hàng trong nước và ngoài nước Thực tế đó dẫn đến cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng càng trở nên quyết liệt hơn trong cuộc đua đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế

Tuy nhiên, tình trạng bất bình đẳng và môi trường cạnh tranh không minh bạch cũng đang tồn tại ngay trong các tổ chức tín dụng trong nước và nước ngoài, các

tổ chức tín dụng bất chấp các quy định của pháp luật, đạo đức kinh doanh Chính điều này đang tạo ra nhiều tác động đối với các vấn đề kinh tế – xã hội Là một lĩnh vực quan trọng và nhạy cảm trong nền kinh tế, ngành ngân hàng cần phải có quy định pháp lý hết sức chặt chẽ và hiện đại để điều chỉnh hành vi cạnh tranh rất đa dạng và liên tục thay đổi nhằm duy trì một trường kinh doanh lành mạnh, minh bạch cho các

tổ chức tín dụng Chính từ đó người viết nhận thấy việc nghiên cứu tìm hiểu về những quy định hiện hành của pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng đối với tổ chức tín dụng là cần thiết Thông qua quá trình tìm hiểu những quy định của pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng, từ đó xem xét những khó khăn và vướng mắc trên thực tế, chỉ ra những khiếm khuyết, kẻ hở trong quy định của pháp luật và

đề xuất ý kiến góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về lĩnh vực này Với những lý

do trên, người viết đã chọn nội dung “Pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng” làm đề tài nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài này là nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề pháp

lý về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng thông qua các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hành vi hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng, thẩm quyền điều tra

Trang 9

và biện pháp xử lý vụ việc cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng Qua đó, có thể nắm được các quy định chính của pháp luật về các hành vi cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng, thẩm quyền điều tra và các biện pháp xử lý vụ việc cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng Đồng thời, người viết cũng tìm hiểu về thực trạng cạnh tranh và những bất cập của quy định pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng Trên cơ sở những bất cập trong quy định của pháp luật người viết cũng đưa ra những giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng, nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước, áp dụng có hiệu quả các quy định vào thực tiễn

3 Phạm vi nghiên cứu

Tác giả tập trung nghiên cứu về các vấn đề khái quát chung và quy định pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng, quy định pháp luật về thẩm quyền điều tra và biện pháp xử lý vụ việc cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng Bên cạnh đó, tác giả cũng tập trung nghiên cứu

về thực trạng cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật Do giới hạn về khả năng, điều kiện và thời gian nên người viết chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng trên cơ sở của pháp luật hiện hành và không nghiên cứu những quy định không liên quan trực tiếp đến hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

4 Phương pháp nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu đề tài này, người viết kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Cụ thể là: phương pháp tổng hợp từ hệ thống văn bản pháp luật kết hợp với các sách báo, tạp chí chuyên ngành; phương pháp phân tích nhằm làm rõ nội dung, khía cạnh đang đề cập; phương pháp quy nạp để xâu chuỗi các vấn đề lại với nhau; phương pháp so sánh đối chiếu các quy định của pháp luật điều chỉnh cùng một vấn đề Tất cả các phương pháp nghiên cứu kết hợp lại với nhau đã hỗ trợ người viết

hoàn thiện nội dung nghiên cứu này

5 Bố cục của đề tài

Nội dung đề tài người viết trình bày với 3 chương cùng với các phần bổ trợ như Lời nói đầu và Kết luận, cụ thể:

Trang 10

Chương 1: Khái quát về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

Người viết đề cập đến một số khái niệm liên quan đến cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng, đặc trưng của cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và tác động của cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng Mục đích nhằm tạo nên những hiểu biết ban đầu làm tiền đề cho việc đi sâu nghiên cứu các quy định cụ thể của pháp luật ở Chương 2

Chương 2: Pháp luật điều chỉnh về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

Với chương này, người viết đi sâu phân tích để tìm hiểu về quy định của pháp luật hiện hành như quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng, hành vi hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng, quy định về điều tra,

xử lý vụ việc cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng Với trình tự trình bày nội dung chi tiết và cụ thể từng vấn đề tất yếu sẽ thể hiện rõ được những nội dung mà pháp luật hiện hành quy định về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

Chương 3: Thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

Nội dung Chương 3, người viết trình bày về thực trạng cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật

về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng, giúp các tổ chức tín dụng cạnh tranh lành mạnh, minh bạch, góp phần vào việc duy trì hoạt động an toàn, hiệu quả của hệ thống tài chính quốc gia

Trang 11

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG 1.1 Một số khái niệm có liên quan đến cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

Cạnh tranh là một khái niệm rất rộng, xuất hiện ở hầu hết các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Trong kinh tế, cạnh tranh liên quan đến mọi lĩnh vực của thị trường và chủ thể kinh doanh Tuy vậy, cạnh tranh chỉ xuất hiện trong cơ chế kinh

tế nhất định – cơ chế thị trường, nơi pháp luật thừa nhận và bảo đảm chế độ sở hữu đa thành phần, quyền tự do ý chí trong đó có tự do kinh doanh của cá nhân Mặt khác, pháp luật cũng phải bảo đảm trên thị trường sẽ không tồn tại bất kỳ một rào cản nào

từ quản lý hành chính hay của các chủ thể kinh doanh có sức mạnh thị trường đối với các doanh nghiệp tiềm năng, chuẩn bị hoặc mới gia nhập thị trường Có tự do cạnh tranh nền kinh tế thị trường mới vận hành theo đúng quy luật tất yếu của nó và phát huy nội lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển Nếu thừa nhận cạnh tranh là động lực phát triển của xã hội, là yếu tố làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội khi nhà nước đảm bảo sự bình đẳng trước pháp luật của các chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế thì nó cũng kéo theo hệ quả đào thải – có nghĩa là chủ thể yếu kém sẽ có xu hướng bị loại ra khỏi thị trường – và những ảnh hưởng tiêu cực đối với nền kinh tế của cạnh tranh1

Sự đa dạng hoạt động cạnh tranh trong thực tiễn kinh doanh đã kéo theo những tranh luận: liệu có thể đạt được sự thống nhất trong quan niệm về cạnh tranh được hay không Từ trước tới nay, đã có khá nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau về cạnh tranh

Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Cạnh tranh là tranh đua giữa những cá nhân,

tập thể có chức năng như nhau, nhằm giành phần hơn, phần thắng về phía mình.”2

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt

động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà

Trang 12

kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất , tiêu thụ thị trường có lợi nhất.”3

Do tính chất đa dạng và phức tạp của quá trình cạnh tranh trong nền kinh tế hiện đại, các định nghĩa về cạnh tranh mặc dù đều nêu được trong chừng mực nhất định những đặc điểm căn bản về cạnh tranh, tuy vậy, chúng cũng có những hạn chế nhất định và chưa đảm bảo tính khái quát cao và bao trùm trong thực tiễn Nhìn chung, cạnh tranh được coi là hành vi của hai hoặc nhiều chủ thể trong nền kinh tế thị trường với mục đích giành cho mình những ưu thế nhất định so với chủ thể khác4 Tuy nhiên, cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị trường, nơi có sự tham gia của ít nhất hai chủ thể từ phía cung hoặc từ phía cầu và những chủ thể này

có mục đích đối kháng với nhau Sự đạt được mục đích của người này sẽ dẫn đến sự thất bại của người kia và ngược lại

Sự đa dạng của hoạt động kinh doanh trên thị trường cũng kéo theo sự đa dạng của các hành vi cạnh tranh Về mặt hình thức, hành vi cạnh tranh bao giờ cũng biểu hiện thông qua những phương tiện cạnh tranh như bằng cách xác định giá bán, chất lượng hàng hóa, dịch vụ, quảng cáo… Mặc dù hành vi cạnh tranh nhằm mục đích giành lợi thế trong kinh doanh, nhưng xét về mặt bản chất của hành vi thì chúng

không phải là những hành vi giống nhau hoàn toàn Nhìn chung, “hành vi cạnh tranh

là những hành vi của doanh nghiệp tiến hành trong kinh doanh thông qua năng lực

và thủ pháp nhằm mục đích đạt được lợi thế cạnh tranh của mình”5

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là động lực của sự phát triển và là cơ chế của quy luật cung – cầu Đối với lĩnh vực kinh doanh đặc biệt như thị trường dịch

vụ ngân hàng thì cạnh tranh không phải là ngoại lệ Theo đó, “cạnh tranh trong lĩnh

vực ngân hàng của các tổ chức tín dụng là việc các tổ chức tín dụng sử dụng tối đa

Trang 13

các nguồn lực của mình để giành và vượt lên các đối thủ cạnh tranh khẳng định vị trí của mình trong thị trường tiền tệ”6

1.1.2 Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng

Cạnh tranh với bản chất là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trong việc giành ưu thế của mình trên thị trường để đạt được một mục tiêu nào đó Để đạt được mục tiêu của mình, chủ thể tham gia cạnh tranh có khả năng sáng tạo rất nhiều cách thức ganh đua khác nhau, tạo thành tình trạng cạnh tranh ở những mức độ khác nhau, thậm chí xuất hiện những hành vi trái với các chuẩn mực đạo đức kinh doanh Cạnh tranh không lành mạnh, trước hết, là một khái niệm bắt nguồn từ những quy định mang tính nguyên tắc trong pháp luật dân sự, theo đó, các chủ thể trong giao dịch (dân sự hay thương mại) phải đảm bảo tôn trọng thuần phong, mỹ tục và đạo đức xã hội ở mỗi quốc gia Với những quy định như vậy, giao dịch thương mại trên thị trường cũng phải đảm bảo tôn trọng những quy tắc trong xã hội về đạo đức kinh doanh Sự phát triển đa dạng của các quan hệ thương mại trong điều kiện tự do cạnh tranh ở các nền kinh tế theo cơ chế kinh tế thị trường đã kéo theo những hành vi cạnh tranh đa dạng và phức tạp nhằm giành được lợi thế nhất định cho mình, thậm chí gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh khác Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể hiểu là những hành vi cạnh tranh của chủ thể tham gia thị trường vi phạm những chuẩn mực đạo đức kinh doanh thông thường có thể gây thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần cho chủ thể kinh doanh khác và người tiêu dùng

Quy định của pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh phản ánh mặt trái của hành vi, có nghĩa là hành vi đó có dấu hiệu trái với chuẩn mực đạo đức trong kinh doanh của các chủ thể tham gia thị trường Dưới góc độ của cạnh tranh không lành mạnh, các chủ thể tham gia thị trường nói chung sử dụng các thủ pháp không phù hợp với chuẩn mực đạo đức kinh doanh như gian dối, thông tin sai sự thật về hàng hóa, dịch vụ, nói xấu, dèm pha chủ thể kinh doanh khác nhằm gây thiệt hại hoặc bất lợi về cạnh tranh cho một hoặc một số chủ thể khác có liên quan

Trang 14

Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh được quy định rõ ràng trong Luật

Cạnh tranh: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh

nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền

và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng.”7

Sự cạnh tranh này đã và đang góp phần sàng lọc các ngân hàng, loại bỏ các tổ chức tín dụng yếu kém và khách hàng được hưởng lợi nhiều hơn Tuy nhiên, trên thị trường cũng đã xuất hiện nhiều hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có mức độ ảnh hưởng tiêu cực trên thị trường hẹp, thường chỉ tác động đến một số chủ thể nhất định mà không ảnh hưởng đến một khu vực thị trường rộng như hành vi hạn chế cạnh tranh Tuy nhiên, đối với lĩnh vực ngân hàng, do sự khác biệt trong hoạt động, việc xác định mức độ ảnh hưởng của hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng cần được hiểu là trên phạm vi rộng, trên toàn bộ thị trường ngân hàng

Có thể rút ra định nghĩa hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực

ngân hàng như sau: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân

hàng là hành vi của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong hoạt động ngân hàng trái với những chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp khác của tổ chức tín dụng, đến việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng.”8

1.1.3 Khái niệm hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

Khi các hành vi cạnh tranh diễn ra sẽ dẫn đến những hậu quả thay đổi về cấu trúc thị trường, về sức mạnh thị trường của các chủ thể tham gia Những hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp có sức mạnh thị trường thường mang lại hậu quả nhạy cảm trên thị trường, các đối thủ cạnh tranh khác rất dễ bị tác động tiêu cực, bị thiệt hại bởi những hành vi từ những chủ thể đó Nó cũng có thể dẫn đến con đường hình thành độc quyền thông qua việc họ liên kết lại với nhau nhằm tạo ra ưu thế cạnh tranh đáng

7

Khoản 4, Điều 3, Luật Cạnh tranh năm 2004

8

Viên Thế Giang, Hoàn thiện pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng,

Viện Nghiên cứu lập pháp,

http://vnclp.gov.vn/ct/cms/tintuc/Lists/ThucTienPhapLuat/View_Detail.aspx?ItemID=157 , [truy cập ngày 20/8/2014]

Trang 15

kể trên thị trường Với cách thức đó, doanh nghiệp có thể cải thiện được năng lực cạnh tranh của mình, điều này dẫn tới hậu quả là những doanh nghiệp vừa và nhỏ khác có nguy cơ bị thôn tính cao thậm chí phá sản Những hành vi hạn chế cạnh tranh như vậy có thể bị quy kết vi phạm pháp luật và bởi vậy phải bị đình chỉ hành vi, bồi thường thiệt hại hoặc áp dụng một số biện pháp chế tài khác Tùy vào tính chất, mức

độ và đối tượng bị xâm hại, các hành vi có thể bị cấm Bởi vậy, hành vi canh tranh luôn có xu hướng bị kiểm soát bởi pháp luật nhằm hạn chế những hiệu quả tiêu cực của nó9

Theo quy định của Luật Cạnh tranh: “Hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi

của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường bao gồm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế.”10

Như vậy, so với hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hạn chế cạnh tranh có khả năng gây thiệt hại cao hơn Đồng thời, do sự xuất hiện của quyền lực thị trường nên các biện pháp trừng phạt mang tính dân sự như bồi thường thiệt hại hay cải chính công khai sẽ không thể phát huy hiệu quả một cách tối ưu Vì lẽ đó, công quyền đã không thể sử dụng cùng một biện pháp để áp dụng cho cả hai loại hành vi trên11

Đối với hệ thống các tổ chức tín dụng, hành vi hạn chế cạnh tranh của các ngân hàng cũng không có nhiều điểm khác biệt so với các loại hình doanh nghiệp khác Xét về mặc chủ thể, hành vi hạn chế cạnh tranh có thể được thực hiện thông qua một hoặc một số tổ chức tín dụng đã có sức mạnh trong thị trường ngân hàng hoặc hướng đến việc hình thành nên sức mạnh thị trường bằng cách thỏa thuận hoặc tập trung kinh tế Các hành vi này được thực hiện nhằm mục đích làm biến dạng cạnh tranh, làm thay đổi cấu trúc cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng giữa các tổ chức tín dụng với nhau, nhằm loại bỏ đối thủ hoặc ngăn cản đối thủ tiềm năng của mình

Theo đó, có thể nói: Hành vi hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng là

hành vi của các tổ chức tín dụng làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng bao gồm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí

Trang 16

thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập tung kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng

1.2 Đặc trưng của cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

Giống như bất cứ các đơn vị nào trong kinh tế thị trường, các tổ chức tín dụng trong kinh doanh luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt không chỉ từ các ngân hàng thương mại khác mà từ tất cả các tổ chức tín dụng đang cùng hoạt động trong kinh doanh trên thương trường với mục tiêu là để giành giật khách hàng, tăng thị phần tín dụng cũng như mở rộng cung ứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế Tuy vậy, so với sự cạnh tranh của các tổ chức kinh tế khác, cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng có những đặc thù nhất định Cụ thể:

Thứ nhất, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ là lĩnh vực kinh doanh rất nhạy

cảm, chịu tác động bởi rất nhiều nhân tố về kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý, truyền thống văn hoá… mỗi một nhân tố này có sự thay đổi dù là nhỏ nhất cũng đều tác động rất nhanh chóng và mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh chung Chẳng hạn: Chỉ cần một tin đồn thổi dù là thất thiệt cũng có thể gây nên cơn chấn động rất lớn, thậm chí đe dọa sự tồn vong của cả hệ thống các tổ chức tín dụng Một ngân hàng thương mại hoạt động yếu kém, khả năng thanh khoản thấp cũng có thể trở thành gánh nặng cho nhiều tổ chức kinh tế và dân chúng trên địa bàn… Chính vì vậy, trong kinh doanh, các tổ chức tín dụng vừa phải cạnh tranh để từng bước mở rộng khách hàng, mở rộng thị phần, nhưng cũng không thể cạnh tranh bằng mọi giá, sử dụng mọi thủ đoạn, bất chấp pháp luật để thôn tính đối thủ của mình, bởi vì, nếu đối thủ là các tổ chức tín dụng khác bị suy yếu dẫn đến sụp đổ, thì những hậu quả đem lại thường là rất to lớn, thậm chí dẫn đến đổ vỡ luôn chính tổ chức tín dụng này do tác động dây chuyền

Thứ hai, hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng có liên quan đến tất cả

các tổ chức kinh tế, chính trị – xã hội, đến từng cá nhân thông qua các hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm, cho vay cũng như các loại hình dịch vụ tài chính khác; đồng thời, trong hoạt động khách hàng của mình, các tổ chức tín dụng cũng đều mở tài khoản cho nhau để cùng phục vụ các đối tượng khách hàng chung Chính vì vậy, nếu như một tổ chức tín dụng bị khó khăn trong kinh doanh, có nguy cơ đổ vỡ, thì tất yếu

sẽ tác động dây chuyền đến gần như tất cả các tổ chức tín dụng khác cũng sẽ bị “vạ

Trang 17

lây” Đây quả là điều mà các tổ chức tín dụng không bao giờ mong muốn Chính vì vậy, các tổ chức tín dụng trong kinh doanh luôn vừa phải cạnh tranh lẫn nhau để dành giật thị phần, nhưng luôn phải hợp tác với nhau, nhằm hướng tới một môi trường lành mạnh để tránh rủi ro hệ thống

Thứ ba, do hoạt động của các tổ chức tín dụng có liên quan đến tất cả các chủ

thể, đến mọi mặt hoạt động kinh tế – xã hội, cho nên, để tránh sự hoạt động của các tổ chức tín dụng mạo hiểm nguy cơ đổ vỡ hệ thống, tất cả Ngân hàng Trung ương các nước đều có sự giám sát chặt chẽ thị trường này và đưa ra hệ thống cảnh báo sớm để phòng ngừa rủi ro Thực tiễn đã chỉ ra những bài học đắt giá, khi mà Ngân hàng Trung ương thờ ơ trước những diễn biến bất lợi của thị trường đã dẫn đến hậu quả là

sự đổ vỡ của thị trường tài chính – tiền tệ làm suy sụp toàn bộ nền kinh tế quốc dân Chính vì vậy, nên sự cạnh tranh trong hệ thống các tổ chức tín dụng không thể dẫn đến làm suy yếu và thôn tính lẫn nhau như các loại hình kinh doanh khác trong nền kinh tế

1.3 Tác động của cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

1.3.1 Tác động tích cực của cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

Cạnh tranh lành mạnh trong ngành ngân hàng Việt Nam luôn được khuyến khích, nhờ đó đã góp phần trực tiếp tạo nên sự phát triển dịch vụ khá ngoạn mục trên mọi phương diện sau hơn 25 năm đổi mới, cụ thể: gia tăng và ngày càng đa dạng loại hình sản phẩm, tiện ích; gia tăng và ngày càng không phân biệt thành phần khách hàng tiếp cận dịch vụ ngân hàng; gia tăng và ngày càng không phân biệt thành phần

sở hữu ngân hàng… Cụ thể:

- Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, do sức ép cạnh tranh giữa các tổ chức tài chính ngày càng lớn và yêu cầu đòi hỏi của người sử dụng cũng ngày càng cao, dịch vụ ngân hàng không ngừng được cải tiến và dịch vụ ngân hàng hiện đại đã ra đời Các ngân hàng có thể đưa ra thị trường những dịch vụ hoàn toàn mới hoặc cung cấp những dịch vụ truyền thống theo phương thức mới có hàm lượng công nghệ cao Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại như: Dịch vụ tài khoản; Dịch vụ bảo lãnh; Bao thanh toán; Dịch vụ

Trang 18

thanh toán; Dịch vụ cho vay; Kinh doanh ngoại tệ; Ngân hàng điện tử; Sản phẩm liên kết; Doanh nghiệp phát hành trái phiếu,…

- Dịch vụ ngân hàng hiện đại được hiểu bao gồm những dịch vụ ngân hàng truyền thống được nâng cấp, phát triển trên nền tảng công nghệ hiện đại và những dịch vụ hoàn toàn mới được cung cấp nhằm đem lại những tiện ích mới cho người sử dụng Dịch vụ thẻ thời gian qua đã đem lại hiệu quả đáng kể cho nền kinh tế xã hội Ngoài những loại thẻ truyền thống, các ngân hàng thương mại cũng đã đưa ra nhiều loại thẻ tích hợp mới với nhiều tính năng mới làm cho thị trường thẻ thêm phong phú Mạng lưới ATM (Automated Teller Machine – Máy rút tiền tự động, thẻ tín dụng) ngày càng được đầu tư mở rộng, các dịch vụ gia tăng trên ATM ngày càng được chú trọng nhằm đem lại cho khách hàng nhiều tiện ích hơn Sự liên minh giữa các ngân hàng thương mại trong kinh doanh thẻ đã cho phép thẻ của một ngân hàng thương mại phát hành có thể rút tiền mặt tại các ATM của một số ngân hàng khác trong cùng một liên minh

- Theo cách phân nhóm của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội thì trong Hệ thống ngân hàng Việt Nam, hiện có 6 nhóm sở hữu chéo khác nhau như: Sở hữu của các ngân hàng trong nước và nước ngoài tại các ngân hàng liên doanh; Cổ đông chiến lược nước ngoài sở hữu tại các ngân hàng thương mại trong nước; Cổ đông tại các ngân hàng là các công ty quản lý quỹ; Sở hữu của các ngân hàng thương mại nhà nước tại các ngân hàng thương mại cổ phần; Sở hữu lẫn nhau giữa các ngân hàng thương mại cổ phần; Sở hữu ngân hàng cổ phần bởi các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và tư nhân12

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, các ngân hàng thương mại đã và đang nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng tốc độ xử lý thông tin, tăng cường tính bảo mật, đem lại nhiều tiện ích cho khách hàng và tiết kiệm chi phí cho ngân hàng13

12

Nguyễn Thị Hương Thanh, Nhận diện 6 nhóm sở hữu chéo trong ngân hàng, Báo Đầu tư Chứng khoán,

http://tinnhanhchungkhoan.vn/tien-te/nhan-dien-6-nhom-so-huu-cheo-trong-ngan-hang-87277.html , [truy cập ngày 26/7/2014]

13

Trịnh Thanh Huyền, Dịch vụ ngân hàng hiện đại ở Việt Nam: Kết quả đạt được và những hạn chế, Ngân

hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam,

https://www.vietinbank.vn/web/home/vn/research/09/091112.html , [truy cập ngày 26/7/2014]

Trang 19

1.3.2 Hệ quả của hoạt động cạnh tranh không lành mạnh và hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

- Hệ quả đối với nền kinh tế – xã hội: Như đã đề cập và phân tích, tình trạng

cạnh tranh không lành mạnh sẽ khiến cho thị trường tài chính bất ổn, và sự bất ổn của thị trường tài chính sẽ tác động xấu đến sự ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô, ảnh hưởng đến các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Hiệu lực và hiệu quả của các chính sách (nhất là chính sách tiền tệ) trong ngắn hạn và dài hạn bị ảnh hưởng nghiêm trọng trong bối cảnh nhiều hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng xuất hiện Những ảnh hưởng không tốt của cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng làm giảm lòng tin của xã hội đối với nhiều chính

sách của Nhà nước

- Hệ quả đối với hệ thống tổ chức tín dụng: Sự cạnh tranh suy cho cùng là để

các tổ chức tín dụng tự khẳng định uy tín, thương hiệu của mình trên thị trường Kết quả của sự cạnh tranh được đo lường bằng các chỉ số về thị phần, kết quả kinh doanh, nhưng để đạt được hiệu quả lâu dài thì uy tín, thương hiệu là nhân tố có tính quyết định Tuy nhiên, nếu là sự cạnh tranh thiếu lành mạnh, thậm chí bất chấp pháp luật, các kết quả nếu có đạt được cũng chỉ là ngắn hạn Hậu quả cuối cùng sẽ không chỉ là các khách hàng của tổ chức tín dụng phải gánh chịu, mà gián tiếp tác động đến chính các tổ chức tín dụng

- Hệ quả đối với khách hàng của các tổ chức tín dụng: Nhìn bên ngoài, nhiều

hành vi cạnh tranh không lành mạnh có vẻ như tạo cơ hội tốt hơn cho khách hàng, ví

dụ trong những trường hợp “giành giật” khách hàng của các tổ chức tín dụng Tuy nhiên, những lợi ích đó chỉ là ngắn hạn và không có lợi về dài hạn cho khách hàng Những hành vi cạnh tranh không lành mạnh nếu tiếp tục sẽ tác động không tốt đối với khách hàng: họ không có được thông tin đáng tin cậy, họ được hưởng những dịch vụ ngân hàng ít có cải thiện về chất lượng, mối quan hệ gắn bó dài hạn với các ngân hàng thương mại ít được quan tâm và khó thiết lập…

Về nguyên lý, thị trường tài chính có mức độ cạnh tranh cao luôn là cơ hội cho khách hàng của họ - với tư cách là những người hưởng lợi nhờ chi phí giảm Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam những năm qua lại không cho thấy điều này, thậm chí

Trang 20

ngược lại, các khách hàng lại đang phải gánh chịu những chi phí giao dịch ngày càng tăng lên Các phân tích trên đây đã chỉ ra thực trạng này Sở dĩ các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế tại Việt Nam vẫn phải chấp nhận vay vốn với lãi suất cao tại các tổ chức tín dụng vì thực tế họ cũng không có cách nào khác để có thể tiếp cận được nguồn vốn, do thị trường tài chính hoạt động rất kém hiệu quả Một khi thị trường vốn vẫn

là sân chơi của các tổ chức tín dụng, không có gì lạ khi các ngân hàng thương mại tùy tiện tăng lãi suất, và cũng không có gì ngạc nhiên khi việc tăng lãi suất bất chấp các giới hạn qui định của luật pháp

TỔNG KẾT CHƯƠNG 1 Tóm lại, ở chương này, luận văn đã hệ thống một cách khái quát những vấn đề liên quan đến cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng như khái niệm, đặc điểm của cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng, bên cạnh đó cũng cũng đưa ra khái niệm về cạnh tranh không lành mạnh và hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng, tác động tích cực và hệ quả của cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng đối với nền kinh tế – xã hội, các tổ chức tín dụng và khách hàng của các tổ chức tín dụng Qua đó, chúng ta thấy được tầm quan trọng của việc cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng để có những biện pháp đặc biệt để thực hiện nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các tổ chức tín dụng Bên cạnh đó, có cái nhìn đúng đắn hơn về cạnh tranh không lành mạnh

và hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng, từ đó có thể đưa ra những biện pháp thật sự hiệu quả để giải quyết tình trạng này

Trang 21

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG 2.1 Quy định pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng

Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng cũng được xác định tương tự như đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của doanh nghiệp khác, gồm các hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định tại Điều 39 Luật Cạnh tranh trong hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản Cụ thể:

2.1.1 Chỉ dẫn gây nhầm lẫn trong lĩnh vực ngân hàng

Hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn bao gồm hai hành vi vi phạm cụ thể: hành vi sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn là việc doanh nghiệp sử dụng chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao

bì, chỉ dẫn địa lý… làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh; hành vi kinh doanh các sản phẩm có sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn Nhằm đảm bảo cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp cũng như bảo vệ quyền lợi của khách hàng, của người tiêu dùng trước sự thể hiện không rõ ràng về nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bao bì, chỉ dẫn địa lý Luật Cạnh tranh quy định cấm doanh nghiệp sử dụng các chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về hàng hóa, dịch vụ, làm sai lệch nhận thức của khách hàng nhằm mục đích cạnh tranh Đồng thời, Luật Cạnh tranh cũng quy định cấm doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

14

Khoản 1 Điều 39 và Điều 40 Luật Cạnh tranh năm 2004

Trang 22

người tiêu dùng mà còn đối với các chủ thể kinh doanh khác cùng loại hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự

Biểu hiện của việc chỉ dẫn gây ra nhầm lẫn thông qua nhiều cách khác nhau, nhưng xét chung lại, chúng đều làm cho khách hàng cũng như người tiêu dùng nhận thức không đúng về hàng hóa, dịch vụ được cung cấp

Trong hoạt động thương mại nói chung, việc cung cấp thông tin dễ gây nhầm lẫn thường liên quan tới sự không rõ ràng về việc nhận dạng nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ Còn trong lĩnh vực ngân hàng, việc cung cấp thông tin gây nhầm lẫn có thể được thể hiện như:

- Tổ chức tín dụng trong nước sử dụng các tên gọi, logo, chỉ dẫn địa lý dễ gây nhầm lẫn với các tổ chức tín dụng nước ngoài khác, khiến cho khách hàng nhầm tưởng dịch vụ đó do tổ chức tín dụng uy tín hoặc nổi tiếng cung cấp

- Tổ chức tín dụng cung cấp thông tin sai sự thật về chiến lược trong tương lai với các đối tác nước ngoài như: đối tác nước ngoài mua cổ phần, ký kết hợp đồng hợp tác cung cấp dịch vụ,… khiến cho khách hàng lầm tưởng vào khả năng tài chính, khả năng kinh doanh của tổ chức tín dụng đó15 Một số ngân hàng đã công bố báo cáo tài chính chưa trung thực, các khoản nợ khó đòi thường được công bố không rõ ràng, dễ gây hiểu nhầm về khả năng tài chính của ngân hàng

2.1.2 Xâm phạm bí mật kinh doanh và ép buộc khách hàng trong kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng

2.1.2.1 Xâm phạm bí mật kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng

Trong môi trường kinh doanh có cạnh tranh, doanh nghiệp luôn có những thông tin quan trọng, thậm chí liên quan đến sự tồn tại của doanh nghiệp để có được

ưu thế riêng trong kinh doanh Những thông tin này luôn luôn được lưu giữ kín và

được coi là “bí mật kinh doanh” Khi bí mật kinh doanh bị phổ biến hoặc bị xâm

phạm, doanh nghiệp sẽ không còn ưu thế riêng của mình nữa Bí mật kinh doanh có thể bao gồm: phương pháp kinh doanh, phương pháp tính giá, thông tin nhạy cảm về thị trường, thông tin về quản trị quan hệ khách hàng, nguồn nguyên liệu,… kể cả bí

15

Ts Nguyễn Kiều Giang, Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng – Nhìn từ góc độ pháp lý,

Tạp chí Luật học số 12/2007

Trang 23

quyết kỹ thuật đều có thể là những tài liệu riêng được lưu giữ với chế độ bảo mật cao thấp tùy theo mức độ đánh giá của chủ sở hữu

Dưới góc độ pháp luật cạnh tranh, bí mật kinh doanh không phải là bí mật thông thường, nó phải thỏa mãn những điều kiện nhất định để có thể trở thành đối tượng được bảo vệ bởi pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh Theo quy định của Luật Cạnh tranh, bí mật kinh doanh là thông tin có đủ các điều kiện sau16:

- Không phải là hiểu biết thông thường;

- Có khả năng áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng sẽ tạo cho người nắm giữ thông tin đó có lợi thế hơn so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng thông tin đó;

- Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để thông tin đó không bị tiết lộ và không dễ dàng tiếp cận được

Việc một doanh nghiệp xâm phạm bí mật kinh doanh của một doanh nghiệp khác thông qua việc tiếp cận, thu thập thông tin, thuộc bí mật kinh doanh hoặc tiết lộ, hoặc sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh của doanh nghiệp khác… sẽ gây bất lợi trong cạnh tranh cho doanh nghiệp đó Vì vậy, để đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng giữa các chủ thể, Luật Cạnh tranh quy định cấm doanh nghiệp thực hiện các hành vi sau đây17:

- Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp bí mật kinh doanh đó;

- Tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu bí mật kinh doanh;

- Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập và làm lộ thông tin thuộc bí mật kinh doanh của chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó;

- Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người khác, khi người này làm thủ tục theo quy định của pháp luật liên quan đến kinh doanh, làm thủ

Trang 24

tục lưu hành sản phẩm hoặc bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của cơ quan nhà nước hoặc sử dụng những thông tin đó nhằm mục đích kinh doanh, xin cấp giấy phép kinh doanh liên quan đến kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm

Xuất phát từ những quy định chung này, bí mật kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng bao gồm những bí mật liên quan đến hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng (trừ những bí mật mà theo quy định của pháp luật phải công khai), bí mật liên quan đến tài khoản của khách hàng Những thông tin liên quan đến chiến lược kinh doanh, chiến lược phát triển của tổ chức tín dụng, các hợp đồng, giao dịch, tình hình tài chính,… đều được coi là những bí mật kinh doanh Ngoài ra, những thông tin liên quan đến khách hàng gửi tiền, ví dụ số dư tiền gửi của khách hàng, các giao dịch phát sinh trên tài khoản khách hàng, cũng được coi là thông tin mật và pháp luật ngân hàng ràng buộc trách nhiệm của tổ chức tín dụng phải giữ bí mật thông tin này trừ trường hợp phải tiết lộ theo yêu cầu của cơ quan pháp luật có thẩm quyền

Các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh của tổ chức tín dụng có thể bao gồm:

- Tiếp cận thông tin, phá hệ thống bảo mật của tổ chức tín dụng nhằm chiếm đoạt những thông tin bảo mật của tổ chức tín dụng;

- Tiết lộ những thông tin thuộc bí mật kinh doanh của tổ chức tín dụng mà không được phép;

- Lừa gạt, mua chuộc, lợi dụng lòng tin của nhân viên bảo mật của tổ chức tín dụng cạnh tranh nhằm thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của tổ chức tín dụng này;

- Tiếp cận thông tin, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của tổ chức tín dụng khi tổ chức tín dụng này làm các thủ tục hành chính nhà nước, ví dụ như đăng

ký thêm loại hình dịch vụ ngân hàng, hoặc dùng các biện pháp thâm nhập hệ thống thông tin bảo mật của cơ quan nhà nước để chiếm đoạt thông tin về tổ chức tín dụng khác nhằm mục đích phục vụ hoạt động kinh doanh của mình

Trang 25

2.1.2.2 Ép buộc khách hàng trong kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng

Trong xã hội hiên đại và nền kinh tế thị trường, tự do kinh doanh là quyền không thể thiếu của bất kỳ chủ thể kinh doanh nào về mặt thực tế cũng như tiềm năng Vì mục tiêu đạt được lợi thế cạnh tranh, chủ thể kinh doanh cũng có thể sử dụng những hành vi cạnh tranh không lành mạnh thông qua việc dồn khách hàng vào tình thế bắt buộc phải chấp nhận ký kết hợp đồng hoặc thừa nhận các điều kiện thương mại không mong muốn mà do điều kiện hoàn cảnh nào đó đã không có cách lựa chọn nào khác Ép buộc trong kinh doanh luôn luôn hoặc tiềm ẩn khả năng xuất hiện từ những quan hệ kinh doanh không có sự tương xứng về thế mạnh thị trường giữa các bên Theo đó, bên có thế mạnh sẽ khai thác lợi thế của mình để ép buộc chủ thể kinh doanh nhỏ hơn phải chấp nhận hợp đồng hoặc điều kiện mà bên có thế mạnh đưa ra Bởi vậy, chủ thể kinh doanh nhỏ phải từ bỏ hoặc ngừng giao dịch với những doanh nghiệp thuộc mối quan hệ cũ của họ Theo quy định của Luật Cạnh tranh hiện

hành, ép buộc trong kinh doanh là hành vi của doanh nghiệp bằng cách đe dọa hoặc

cưỡng ép khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác để buộc họ không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó18 Dưới góc độ của pháp luật dân sự, những giao dịch như vậy thiếu sự tự nguyện, sự thỏa thuận, sự tự định đoạt của một trong các bên tham gia và chúng có thể bị tuyên bố vô hiệu

Trong hoạt động ngân hàng, hành vi ép buộc khách hàng có thể thể hiện trong việc ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng kèm theo các điều kiện bất hợp lý như: khách hàng chỉ được sử dụng các dịch vụ kèm theo do ngân hàng đó cung cấp hoặc phải mở tài khoản duy nhất ở ngân hàng đó mà không được có tài khoản ở ngân hàng khác

Hành vi của ngân hàng trong những trường hợp này có thể bị coi là vi phạm quyền lợi của khách hàng trong việc lựa chọn dịch vụ mình cần cũng như vi phạm quyền tự do kinh doanh của các tổ chức tín dụng khác

Chủ thể tiến hành hành vi ép buộc trong kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng

có thể là giám đốc ngân hàng, nhân viên của ngân hàng hoặc bất kỳ cá nhân nào khác với mục đích cạnh tranh không lành mạnh Việc chứng minh được động cơ, mục

18

Điều 42, Luật Cạnh tranh năm 2004

Trang 26

đích, người chủ mưu,… của hành vi này là điều kiện cơ bản để có thể kết luận chủ thể

đó có vi phạm quy định về chống cạnh tranh không lành mạnh hay không

2.1.3 Dèm pha và gây rối hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng khác

2.1.3.1 Dèm pha tổ chức tín dụng khác

Trong điều kiện kinh doanh trên thị trường, việc đưa thông tin không đúng sự thật do chủ quan hay khách quan về chủ thể kinh doanh khác là điều rất khó có thể loại bỏ Gièm pha doanh nghiệp khác nhằm làm cho doanh nghiệp này mất uy tín, kéo theo đó mất khách hàng và thu hẹp thị phần là những thiệt hại khó lường đối với bên bị cạnh tranh xấu bằng con đường như vậy Để chống lại cách xử sự này, ngay cả pháp luật dân sự của mọi quốc gia đều có những quy định có tính nguyên tắc nhằm bảo vệ nhân thân, danh dự và uy tín của mọi pháp nhân và thể nhân Bên cạnh những quy định chung của Bộ luật Dân sự năm 2005, trong lĩnh vực kinh doanh thông thường vẫn có các quy định riêng dành cho các thương nhân với tư cách là các chủ thể tham gia cạnh tranh trên thị trường Trong thực tiễn kinh doanh, các chủ thể kinh doanh vì mục đích cạnh tranh cũng có thể sử dụng cả những thông tin không đúng sự thật nhằm gây tổn hại đến lợi ích vật chất và phi vật chất của các đối thủ cạnh tranh khác Dưới góc độ của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh, mọi hành vi trực tiếp hay gián tiếp đưa ra thông tin không trung thực, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác được định danh

là hành vi gièm pha thương nhân khác Luật Cạnh tranh hiện hành quy định: “Cấm

doanh nghiệp gièm pha doanh nghiệp khác bằng hành vi trực tiếp hay gián tiếp đưa

ra thông tin không trung thực, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó.”19 Pháp luật cạnh tranh chỉ cấm và tác động đến những hành vi gièm pha doanh nghiệp khác khi hành vi đó được thực hiện

vì mục đích cạnh tranh Chủ thể tiến hành hành vi này có thể là bất kỳ ai, thông qua bất kỳ các hình thức nào để gièm pha doanh nghiệp khác như: thực hiện thủ đoạn bôi nhọ, lăng mạ, hạ thấp uy tín kinh doanh của đối thủ là trường hợp điển hình về hành

19

Điều 43, Luật Cạnh tranh năm 2004

Trang 27

vi cạnh tranh không lành mạnh ở dạng này20 Tuy nhiên, để một hành vi gièm pha doanh nghiệp khác bị cấm, nó cần phải thỏa mãn những điều kiện như sau:

- Gièm pha doanh nghiệp khác tức là sự gièm pha đó phải có đối tượng là chủ thể kinh doanh cụ thể, đang tồn tại và cùng cạnh tranh Việc gièm pha doanh nghiệp khác phải có mục đích cạnh tranh

- Hành vi đó phải xuất phát từ đối thủ cạnh tranh một cách trực tiếp hoặc gián tiếp

- Đối tượng của hành vi gièm pha có thể liên quan đến các mặt của doanh nghiệp như: uy tín, văn hóa doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm, dịch vụ, cách thức bán hàng, tiềm lực kinh tế – tài chính,…

Trong hoạt động ngân hàng, hành vi gièm pha các tổ chức tín dụng khác có thể được thể hiện như: Nói xấu tổ chức tín dụng khác, tung tin không chính xác về tình hình tổ chức hoặc hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng khác nhằm gây khó khăn cho hoạt động của tổ chức này Có thể kể đến vụ Ngân hàng Á Châu bị tung tin đồn Tổng giám đốc bỏ trốn vào năm 2003 khiến khách hàng đồng loạt kéo đến ngân hàng đòi rút tiền, tất toán sổ tiết kiệm trước hạn Uỷ ban nhân dân Tp Hồ Chí Minh trong thông báo ra ngày 14/10/2003 cũng xác định đây là một tin đồn thất thiệt có tính chất phá hoại, trực tiếp đưa ra những thông tin không trung thực, làm cho người tiếp nhận thông tin hiểu sai về tình hình thực tế21 Mục đích của hành vi trên là nhằm cạnh tranh trong kinh doanh, nó trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh Đối thủ cạnh tranh đã lợi dụng sự lo lắng của những người gửi tiền, tung ra những tin đồn thất thiệt, hoàn toàn sai sự thật, hậu quả xấu là gây ảnh hưởng đến uy tín, tình trạng tài chính, kinh doanh của doanh nghiệp bị gièm pha này và lòng tin của người gửi tiền22 Mặc dù chưa xác định được đây có phải là tin đồn do một ngân hàng khác đưa ra hay không nhưng nếu cơ quan chức năng xác định được điều này thì có thể coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh thông qua việc gièm pha tổ chức tín dụng khác

Trang 28

http://lenhatbao.blogspot.com/2013/06/ngan-2.1.3.2 Gây rối hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng khác

Chủ thể kinh doanh có thể sử dụng bất kỳ phương tiện cạnh tranh hợp pháp nào để đạt được lợi thế trong kinh doanh Tuy nhiên, nếu tổ chức tín dụng muốn hoạt động kinh doanh của mình diễn ra thuận lợi bằng cách gây rối, cản trở hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng khác thì bị coi là bất hợp pháp Luật Cạnh tranh quy định:

“Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác là hành vi của doanh nghiệp trực tiếp hoặc gián tiếp làm cản trở hoặc gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác.”23

Nếu so sánh với hành vi gièm pha tổ chức tín dụng khác hoặc ép buộc khách hàng trong kinh doanh, thì có thể thấy rằng, hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của

tổ chức tín dụng khác cũng là một dạng biểu hiện trong chiến lược cản trở hoặc gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng khác như hai hành vi nói trên Chúng đều có thể do tổ chức tín dụng vi phạm thực hiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Sự khác nhau giữa chúng chỉ là phương tiện và thủ đoạn được tổ chức tín dụng vi phạm sử dụng Nếu hành vi gièm pha sử dụng công cụ là các thông tin không trung thực về tổ chức tín dụng bằng cách thức truyền miệng công khai, không công khai hoặc thông qua các phương tiện truyền thông…; hành vi ép buộc trong kinh doanh sử dụng các thủ đoạn mang tính côn đồ đối với khách hàng của tổ chức tín dụng khác, thì hành vi gây rối hoạt động kinh doanh sử dụng bất cứ công cụ nào khác ngoài những phương tiện nói trên để làm cản trở gián đoạn hoạt động kinh doanh của

tổ chức tín dụng khác Như vậy, với hành vi này, Luật Cạnh tranh không quy định về hình thức của hành vi vi phạm cũng như những phương tiện, công cụ mà tổ chức tín dụng vi phạm đã sử dụng trong hành vi Yêu cầu duy nhất của pháp luật là phải xác định được hậu quả xảy ra cho tổ chức tín dụng bị xâm hại, đó là: tình hình kinh doanh của họ bị gián đoạn hoặc bị cản trở; hậu quả này đã xảy ra trên thực tế24

Hành vi này trên thực tế hiếm khi xảy ra Mặc dù vậy có thể kể đến ví dụ như chi nhánh của một ngân hàng có hành vi cản trở hoạt động bình thường của một chi nhánh khác trên địa bàn thông qua các hành động như thuê người đứng ở tại chi nhánh đó và cản trở khách hành vào giao dịch với chi nhánh đó, hoặc tìm cách làm

Trang 29

phá hoại hệ thống máy tính của chi nhánh đó khiến việc thanh toán qua chi nhánh đó

bị gián đoạn hoặc không thực hiện được

Những hành vi này nếu ở mức độ nhẹ bị xử lý theo quy định của pháp luật cạnh tranh, nếu nặng thì sẽ bị xử lý hình sự

2.1.4 Quảng cáo và khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng

2.1.4.1 Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng

Là biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh để thu hút khách hàng, chiếm lĩnh thị trường, quảng cáo luôn có mục đích là để giới thiệu, khuếch trương hàng hóa, dịch

vụ của mình và vì thế nó được coi là hành vi hợp pháp của doanh nghiệp cũng như

của tổ chức tín dụng “Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu

đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch

vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã hội; thông tin cá nhân.” 25, giúp họ giới thiệu đến khách hàng một cách nhanh chóng, là phương tiện để mở rộng thị trường kinh doanh Đối với người tiêu dùng, hoạt động quảng cáo cung cấp thông tin cho người tiêu dùng những thông tin cơ bản về tình hình thị trường, về hàng hóa, dịch

vụ, từ đó nâng cao khả năng lựa chọn của họ đối với các sản phẩm, dịch vụ trên thị trường Với ý nghĩa đó, hoạt động quảng cáo thực sự có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế và của các tổ chức tín dụng

Các doanh nghiệp thực hiện việc quảng cáo thông qua sản phẩm quảng cáo

“Sản phẩm quảng cáo bao gồm nội dung và hình thức quảng cáo được thể hiện bằng hình ảnh, âm thanh, tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, màu sắc, ánh sáng và các hình thức tương tự.” 26 Phương tiện để đưa sản phẩm quảng cáo đến với khách hàng rất đa dạng như các phương tiện thông tin đại chúng, các phương tiện truyền thông, các xuất bản phẩm, các loại bảng, biển, pa-nô, áp phích…

Theo Luật Cạnh tranh, những hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh bao gồm: So sánh trực tiếp, hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ

Trang 30

cùng loại của doanh nghiệp khác; Bắt trước sản phẩm quảng cáo để gây nhầm lẫn cho khách hàng; Quảng cáo đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về giá, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, xuất xứ hàng hóa, người sản xuất, nơi sản xuất, người gia công, nơi gia công, hoặc cách thức sử dụng, phương pháp phục vụ, thời hạn bảo hành, hoặc các thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn khác; Các hoạt động quảng cáo khác mà pháp luật có quy định cấm27

Đối với tổ chức kinh doanh thông thường, hành vi này có thể gây nhầm lẫn và dẫn đến hậu quả không nhỏ đối với một bộ phận khách hàng Tuy nhiên, hậu quả của quảng cáo sai sự thật của một tổ chức tín dụng sẽ lớn hơn nhiều bởi số lượng khách hàng lớn hơn, phạm vi ảnh hưởng lớn hơn và cao hơn hết là có thể dẫn đến mất niềm tin của khách hàng vào cả hệ thống ngân hàng

Trong lĩnh vực ngân hàng, hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh có thể là hành vi so sánh dịch vụ mình cung cấp với dịch vụ của các tổ chức tín dụng khác theo hướng đề cao vị thế của mình, làm giảm uy tín của các tổ chức tín dụng khác, gây nhầm lẫn cho khách hàng để nhằm mục đích giảm lượng khách hàng của các tổ chức tín dụng này28 Sản phẩm quảng cáo của tổ chức tín dụng vi phạm đưa ra những thông tin khẳng định dịch vụ được quảng cáo có các lợi ích khi sử dụng dịch vụ, điều kiện để sử dụng dịch vụ, giá cả của dịch vụ,… ngang bằng, tốt hoặc tốt hơn hoặc tốt nhất so với các sản phẩm dịch vụ cùng loại của các tổ chức tín dụng khác Với hành vi quảng cáo so sánh đúng hay không đúng đều là cạnh tranh không lành mạnh Và hành vi quảng cáo của tổ chức tín dụng vi phạm phải là so sánh trực tiếp sản phẩm dịch vụ cùng loại của tổ chức tín dụng khác Các thông tin quảng cáo được coi là so sánh trực tiếp nếu những hình ảnh, màu sắc, tiếng nói, chữ viết… được

sử dụng trong sản phẩm quảng cáo đủ để người tiếp nhận thông tin xác định được sản phẩm dịch vụ bị so sánh

Bắt chước sản phẩm quảng cáo của một tổ chức tín dụng khác cũng thuộc nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh Việc bắt trước như vậy sẽ làm cho khách

Trang 31

hàng nhầm lẫn về dịch vụ mình cung cấp là dịch vụ mà khách hàng đã biết và tín nhiệm trước đó do tổ chức tín dụng khác cung cấp Luật Canh tranh không thể xác định cụ thể mức độ bắt chước của sản phẩm quảng cáo nhái so với sản phẩm quảng cáo bị nhái để có thể gây nhầm lẫn cho khách hàng Tùy thuộc vào từng trường hợp

cụ thể, cơ quan thực thi pháp luật sẽ xác định căn cứ vào tình hình cụ thể của sự việc

và của thị trường29

Hành vi quảng cáo sai sự thật trong lĩnh vực ngân hàng có thể được thể hiện như tổ chức tín dụng quảng cáo sai sự thật về khả năng tài chính, số lượng chi nhánh, mạng lưới phục vụ, chất lượng và số lượng dịch vụ, đội ngũ nhân viên,… Để xác định hành vi này là cạnh tranh không lành mạnh, cơ quan có thẩm quyền chỉ cần đối

chiếu nội dung của thông tin quảng cáo với thực tế khách quan

2.1.4.2 Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng

Hoạt động khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại bình thường của các

tổ chức tín dụng Thực tế thời gian qua cho thấy, trong cuộc chiến lãi suất, nhiều ngân hàng đưa ra các chương trình khuyến mại rút thăm trúng thưởng hay tặng quà nhằm thu hút người gửi tiền như: Gửi tiết kiệm trúng Sổ tiết kiệm, Vay mua nhà được thêm Vespa,… Mặc dù vậy, vẫn có những hoạt động khuyến mại có thể bị coi là cạnh tranh không lành mạnh và bị pháp luật cấm

Luật Cạnh tranh đưa ra một số hình thức khuyến mại bị cấm30 Bên cạnh đó, Nghị định 37/2006/NĐ-CP về xúc tiến thương mại cũng quy định những hình thức khuyến mại thương nhân được phép tiến hành Trên cơ sở các quy định của hai văn bản này có thể rút ra các hành vi bị cấm sau có thể hiện diện trong lĩnh vực ngân hàng như sau:

- Tổ chức khuyến mại mà gian dối về giải thưởng31 Hành vi này xảy ra khi tổ chức tín dụng thực hiện khuyến mại bằng hình thức tổ chức giải thưởng nhưng đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng giải thưởng đã công bố trước đó Ví dụ như tổ chức khuyến mại không được phép, không công khai, không có sự hiện diện

Trang 32

của đại diện Sở thương mại, tổ chức khuyến mại mà những người trúng thưởng toàn

là người nhà của nhân viên ngân hàng

- Khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hóa, dịch vụ để lừa dối khách hàng32 Trong trường hợp này, hoạt động khuyến mại được tổ chức tín dụng sử dụng làm công cụ để làm cho khách hàng bị nhầm lẫn về dịch vụ của mình

Ví dụ, tổ chức tín dụng có chương trình khuyến mại phát hành thẻ thanh toán miễn phí nhưng không giải thích rõ cho khách hàng khiến khách hàng tưởng lầm thẻ tín dụng

- Phân biệt đối xử đối với khách hàng như nhau tại các địa bàn tổ chức khuyến mại khác nhau trong cùng một chương trình khuyến mại33 Tổ chức tín dụng áp dụng

cơ cấu mức thưởng khác nhau theo từng chi nhánh trên địa bàn Do đó, dù đáp ứng điều kiện như nhau nhưng các khách hàng ở các chi nhánh khác nhau của tổ chức tín dụng được hưởng khuyến mãi không giống nhau Hành vi này bị coi là cạnh tranh không lành mạnh bởi đã phân biệt đối xử với khách hàng Vê nguyên tắc, khi khách hàng đáp ứng đủ điều kiện tổ chức tín dụng đặt ra và các điều kiện là như nhau thì họ

có vị trí như nhau trước tổ chức tín dụng Một khi điều kiện giống nhau nhưng lợi ích được thụ hưởng khác nhau thì tổ chức tín dụng thực hiện việc khuyến mại đã có thái

độ đối xử không công bằng đối với khách hàng Việc quy định hành vi phân biệt đối

xử với khách hàng là hành vi cạnh tranh không lành mạnh cho thấy pháp luật cạnh tranh không chỉ bảo vệ tổ chức, cá nhân kinh doanh mà còn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của khách hàng, người tiêu dùng34

- Cung ứng dịch vụ trong chương trình khuyến mại với giá rẻ hơn giá thành với thời gian vượt quá 45 ngày35 Đây có thể là hiện tượng bán phá giá dịch vụ, nếu kéo dài trong một thời gian dài sẽ ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng có ít khả năng tài chính hơn

Trang 33

Nhìn chung, những hành vi khuyến mại này cản trở hoạt động cạnh tranh bình thường giữa các tổ chức tín dụng và phải bị coi là cạnh tranh không lành mạnh cũng như bị xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật

2.1.5 Phân biệt đối xử của hiệp hội

Hiện nay các tổ chức kinh tế được tự do thỏa thuận thành lập các Hiệp hội nghề nghiệp để giúp nhau hoạt động, phát triển kỹ thuật phát triển thị trường, đầu tư ngành, nghề đó và bảo vệ cho quyền lợi của mình Tuy nhiên hoạt động của các hiệp hội có thể dẫn đến những biểu hiện tiêu cực do sự chi phối của các thế lực trong hiệp hội đó Luật Cạnh tranh quy định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của Hiệp hội ngành, nghề bao gồm:

- Từ chối doanh nghiệp có đủ điều kiện gia nhập hoặc rút khỏi hiệp hội nếu việc từ chối đó mang tính phân biệt đối xử và làm cho doanh nghiệp đó bị bất lợi trong cạnh tranh36

- Hạn chế bất hợp lý hoạt động kinh doanh hoặc các hoạt động khác có liên quan tới mục đích kinh doanh của các doanh nghiệp thành viên37

Ở Việt Nam đã có Hiệp hội ngân hàng Việt Nam Trong tương lai có thể có các hiệp hội khác nữa trong lĩnh vực ngân hàng Điều đặc biệt quan trọng là các hiệp hội này phải không được có những hoạt động mang tính phân biệt đối xử giữa các tổ chức tín dụng Khi các tổ chức muốn gia nhập hội viên khi đã đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, của Hiệp hội thì không được từ chối vì những lý do như: quy mô vốn, lĩnh vực kinh doanh, địa bàn hoạt động,… Tất cả các tổ chức tín dụng là thành viên của các hiệp hội phải được đối xử bình đẳng như nhau Nghiêm cấm việc hạn chế bất hợp lý hoạt động kinh doanh hoặc các hoạt động khác có liên quan tới mục đích kinh doanh của các tổ chức tín dụng thành viên

2.1.6 Lạm dụng cơ chế lãi suất trong cạnh tranh

Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước trao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh cho các doanh nghiệp Các tổ chức tín dụng cũng không phải là ngoại lệ Các tổ chức tín dụng được quyền ấn định lãi suất kinh doanh

Trang 34

của mình trên cơ sở lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố trong từng thời

kỳ Mặc dù vậy, vẫn có thể xảy ra hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh thông qua việc lạm dụng cơ chế lãi suất mở

Có thể xem xét hai thành tố của cơ chế lãi suất: Lãi suất huy động và lãi suất cho vay Hai thành tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và quyết định hiệu quả hoạt động ngân hàng Bởi lẽ, phần lớn lợi nhuận ngân hàng của Việt Nam hiện nay thu được từ sự chênh lệch lãi suất huy động và lãi suất cho vay trong hoạt động ngân hàng truyền thống là đi vay để cho vay

Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định trần lãi suất cho vay được ấn định không quá 150% lãi suất cơ bản38 Năm 2008 khi lãi suất được đẩy lên cao do lạm phát bùng

nổ thì Ngân hàng Nhà nước mới áp trần lãi suất cho vay Tuy nhiên, trong quá trình

áp dụng đã nảy sinh nhiều bất cập nên tháng 4/2010 Ngân hàng Nhà nước đã bỏ cơ chế trần lãi suất

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo điều chỉnh mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi và mức lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam tại Quyết định số 2173/QĐ-NHNN và Quyết định 2174//QĐ-NHNN ngày 28/10/2014 Theo đó, mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng Việt Nam đồng không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 năm là 1%/năm, mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng Việt Nam đồng có kỳ hạn từ

1 tháng đến dưới 6 tháng là mức 5,5%/năm39 Đối với lãi suất cho vay, tổ chức tín dụng áp dụng mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng Việt Nam đồng là 7%/năm40

Thực tế thời gian qua cho thấy, các ngân hàng đã tham gia vào “cuộc chiến lãi suất” nhằm mục đích tăng thị phần huy động vốn của mình, đảm bảo thanh khoản cho khách hàng Để thực hiện được điều này, các ngân hàng đua nhau nâng mức lãi suất huy động tiền gửi trong dân cư, đồng thời giảm mức lãi suất cho vay mà không cần hiệu quả kinh tế cao Nếu việc đưa ra lãi suất huy động cao dựa trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế và có lợi nhuận thì đây là cạnh tranh lành mạnh Tuy nhiên, nếu lãi

38

Điều 476, Bộ luật Dân sự năm 2005

39 Điều 1, Quyết định 2173/QĐ-NHNN ngày 28 tháng 10 năm 204 về mức lãi suất tối đa với tiền gửi bằng Việt Nam đồng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế theo quy định tại Thông tư 07/2014/TT-NHNN ngày 17 tháng 3 năm

2014

40

Điều 1, Quyết định 2174/QĐ-NHNN ngày 28 tháng 10 năm 204 về mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng Việt Nam đồng của tổ chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định tại Thông tư 08/2014/TT-NHNN ngày 17 tháng 3 năm 2014

Trang 35

suất được đưa ra trên cơ sở tổ chức tín dụng chấp nhận lỗ để giành thị phần, đây được coi như bán dịch vụ dưới giá thành, thì lại là cạnh tranh không lành mạnh41

Cạnh tranh không lành mạnh cũng có thể hiện diện trong hoạt động cho vay Bên cạnh việc giảm lãi suất cho vay để thu hút khách hàng, các ngân hàng dưới sức

ép của cạnh tranh và vì chạy theo lợi nhuận mà có thể bỏ qua các quy định an toàn của Ngân hàng Nhà nước Một ví dụ điển hình là Ngân hàng Nhà nước đã có chỉ thị

về hạn chế cho vay đầu tư chứng khoán nhưng một số ngân hàng vẫn chưa tuân thủ nghiêm túc hoặc vẫn tìm cách lách quy định này Đây là một hành vi cạnh tranh không lành mạnh bởi lẽ nó gây thiệt thòi cho các ngân hàng mà tuân thủ theo đúng các quy định của Ngân hàng Nhà nước cũng như thực hiện đúng cam kết của các thành viên trong Hiệp hội ngân hàng

Trường hợp miễn trừ đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng bao gồm: Cấp tín dụng để phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng

trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thuộc danh mục Chính phủ có chính sách khuyến khích trong từng thời kỳ; danh mục cấp tín dụng được Chính phủ chỉ định hoặc uỷ thác và các chính sách cụ thể khác42

2.2 Quy định pháp luật về hành vi hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

2.2.1 Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

Trong thực tiễn kinh doanh, các doanh nghiệp thường thỏa thuận, hợp tác với nhau nhằm đạt hiệu quả cao nhất khi tham gia vào thị trường Tuy nhiên, vì mục tiêu lợi nhuận và lợi thế trong kinh doanh, các doanh nghiệp cũng luôn tìm cách lạm dụng quyền tự do này để hạn chế khả năng tham gia thị trường của các đối thủ cạnh tranh hoặc đối thủ cạnh tranh tiềm năm, để tìm cách loại bỏ một số đối thủ nào đó trên thị trường hay để hạn chế sự cạnh tranh giữa những đối thủ cạnh tranh bằng cách thống nhất với nhau giữa các đối thủ cạnh tranh để cùng thực hiện chiến lược cạnh tranh

Trong Luật Cạnh tranh không định nghĩa về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh mà

liệt kê tám loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cơ bản, đó là: “Thỏa thuận ấn định giá

41

Trần Tuấn Anh, Nói và làm: “Cuộc chiến” lãi suất vẫn khốc liệt, Báp điện tử Vietnamnet,

http://vietnamnet.vn/vn/kinh-te/89660/noi-va-lam -cuoc-chien lai-suat-van-khoc-liet-.html , [ngày truy cập: 25/10/2014]

42

Minh An, Vi phạm lãi suất, ngân hàng có thể bị phạt tiền,

http://vietstock.vn/PrintView.aspx?ArticleID=194410 , [truy cập ngày 26/10/2014]

Trang 36

hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; Thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ; Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, dịch vụ; Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; Thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiến đến đối tượng của hợp đồng; Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp không phải là các bên của thoản thuận và Thông đồng để một hoặc các bên của thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ.”43 Trong đó, hành vi thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp có thể được thực hiện trong lĩnh vực ngân hàng nhằm hạn chế sự cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng, cụ thể là hành vi thỏa thuận ấn định lãi suất trần của các tổ chức tín dụng trong Hiệp hội Ngân hàng Hành vi này cũng được Cục Quản lý cạnh tranh xác định là một hình thức thỏa thuận cạnh tranh44

Ngày 23/3/2008 tại Hà Nội và ngày 24/3/2008 tại thành phố Hồ Chí Minh, các thành viên của Hiệp hội Ngân hàng đã họp và thỏa thận áp dụng mức trần lãi suất huy động bằng Việt Nam đồng ở mức 11% một năm Thỏa thuận này của Hiệp hội Ngân hàng có dấu hiệu vi phạm quy định trong Luật Cạnh tranh và Nghị định 116/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh: Thỏa thuận ấn định hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp45

Mặc dù các tổ chức tín dụng được quyền tự chủ kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình Các tổ chức tín dụng cũng được quyền hợp tác và cạnh tranh hợp pháp Ngân hàng Nhà nước chỉ quy định về mức lãi suất cơ bản

để căn cứ xác định trần lãi suất mà không bắt buộc các ngân hàng phải áp dụng một mức lãi suất huy động nhất định Do đó, thỏa thuận áp dụng mức lãi suất trần huy động Việt Nam đồng của Hiệp hội Ngân hàng ở mức 11% một năm nằm trong giới hạn cho phép của cơ quan điều tiết nganh Tuy nhiên, nhìn dưới góc độ cạnh tranh thì

45

Khoản 1, Điều 8 Luật Cạnh tranh năm 2004 và Điều 14 Nghị định 116/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh

Trang 37

thỏa thuận này đã có những ảnh hưởng nhất định tới môi trường cạnh tranh, cụ thể như sau:

- Về mặt hành vi, các thành viên Hiệp hội Ngân hàng đã áp dụng thống nhất một mức giá với một số hoặc tất cả khách hàng, giảm giá ở mức cụ thể, áp dụng công thức tính giá chung, sử dụng mức giá thống nhất tại thời điểm các cuộc đàm phán về giá bắt đầu Việc áp dụng đồng đều mức giá như trên đã gây hạn chế cạnh tranh vì thị trường không còn nhiều mức giá khác nhau để khách hàng lựa chọn Lúc này, khách hàng sẽ chỉ lựa chọn những ngân hàng lớn, lâu năm, các ngân hàng thương mại quốc danh,… Như vậy, các ngân hàng không có lợi thế về vốn, các ngân hàng mới thành lập chưa tạo được tên tuổi sẽ rơi vào tình trạng khó khăn hơn

- Về hình thức, thỏa thuận này bị cấm khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan chiếm trên 30%46 Các thành viên Hiệp hội Ngân hàng có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan chiếm trên 30% Vụ việc sau

đó đã được Cục Quant lý cạnh tranh giải quyết thông qua buổi làm việc với Hiệp hội Ngân hàng

Tại thời điểm đầu năm 2008, tình hình lạm phát tăng cao thì lãi suất cơ bản là 14% một năm tương đưuong lãi suất cho vay tối đa là 21% một năm (không quá 150% lãi suất cơ bản như đã phân tích ở trên) Bên cạnh đó, một số ngân hàng còn thu thêm phí nên lãi suất rất cao, vào khoảng 23-24% một năm Để đảm bảo được đủ vốn cho vay, các ngân hàng đã đưa ra các mức lãi suất huy động cũng ở mức rất cao, khoảng 17-18% một năm và cũng cộng thêm các chương trình khuyến mại, tặng tiền, hiện vật cho khách hàng gửi tiết kiệm, do đó mức lãi suất đầu vào ở mức cao đỉnh điểm trong lịch sử ngân hàng Việt Nam47

Trước tình hình đó, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có Công điện số 02/CĐ-NHNN ngày 26 tháng 02 năm 2008 gửi Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam

và các ngân hàng đề nghị không được áp dụng mức lãi suất huy động bằng Việt Nam đồng quá 12% một năm Tuy nhiên, các ngân hàng đã đưa ra thỏa thuận mức lãi suất bằng Việt Nam đồng không quá 11% một năm Do đó đã tạo ra một mặt bằng lãi suất

Trang 38

mới hợp lý hơn, góp phần bình ổn thị trường huy động vốn của ngân hàng nói riêng

và ổn định kinh tế vĩ mô nói chung Mặc dù Luật Cạnh tranh không quy định về việc cho hưởng miễn trừ trong trường hợp này, tuy nhiên đây cũng là một trong những vấn

đề có tính thời sự và cấp bách, có thể đưa vào diện được miễn trừ và do đó cần được xem xét và có thể đưa vào luật trong tương lai48

2.2.2 Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và vị trí độc quyền trong lĩnh vực ngân hàng

Kiểm soát và xử lý hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền là một trong những nhiệm vụ quan trọng của pháp luật cạnh tranh nhằm bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh, không phân biệt đối xử Đối tượng áp dụng đối với chế định pháp này là những doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp đang có vị trí thống lĩnh, doanh nghiệp có vị trí độc quyền trên thị trường liên quan49 Luật Cạnh tranh không đưa ra định nghĩa cụ thể mà chỉ liệt kê các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh Theo đó, chỉ khi doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có

vị trí thống lĩnh thị trường, doanh nghiệp có vị trí độc quyền thực hiện những hành vi được quy định tại Điều 13 và Điều 14 Luật Cạnh tranh năm 2005 mới bị coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh

2.2.2.1 Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường trong lĩnh vực ngân hàng

Luật Cạnh tranh quy định: “Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị

trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể.”50 Không chỉ một doanh nghiệp mới có thể có

vị trí thống lĩnh thị trường, một nhóm doanh nghiệp cũng có thể thống lĩnh thị trường

“Nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cũng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong các trường hợp sau đây: Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan; Ba doanh nghiệp có

48

Bạch Văn Mừng, Báo cáo đánh giá cạnh tranh trong 10 lĩnh vực năm 2010, Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ

Công thương, Hà Nội, năm 2010

Ngày đăng: 03/10/2015, 15:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng tóm tắt một số vụ sáp nhập, hợp nhất và mua lại tổ chức tín dụng - pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng
Bảng t óm tắt một số vụ sáp nhập, hợp nhất và mua lại tổ chức tín dụng (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm