1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng trong luật hôn nhân và gia đình việt nam

60 1,5K 22

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nguyên tắc, nguyên lý cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 là: -Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ Tại một qui định khác tại Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 nhằm q

Trang 1

BỘ MÔN THƯƠNG MẠI

MSSV: 5115959

LỚP: LUẬT THƯƠNG MẠI 2 KHÓA: 37

CẦN THƠ, 11/2014

Trang 2

Cần Thơ, Ngày … Tháng … Nắm 2014

Trang 3

Cần Thơ, Ngày … Tháng … Năm 2014

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài 2

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài 3

5 Cơ cấu luận văn 3

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHĨA VỤ CHUNG THỦY CỦA VỢ CHỒNG TRONG LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH VIỆT NAM 1.1 Khái niệm về nghĩa vụ và nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng 5

1.2 Lược sử các chế định nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng qua các thời kỳ 7

1.2.1 Trong Bộ luật nhà Lê 8

1.2.2 Trong Luật gia đình 1959 8

1.2.3 Trong luật hôn nhân và gia đình 1986 10

1.2.4 Trong luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và các văn bản điều chỉnh các vấn đề trên 12

1.2.5 Luật hôn nhân và gia đình 2014 12

1.3 Mối quan hệ giữa nghĩa vụ chung thủy và nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng 14

1.4 Ý nghĩa sự chung thủy của vợ chồng 14

1.4.1 Ý nghĩa của nghĩa vụ chung thủy đối với nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng 14

1.4.2 Ý nghĩa của sự chung thủy đối với đời sống vợ chồng 16

Trang 5

CHƯƠNG 2 CÁC QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ NGHĨA VỤ CHUNG

THỦY CỦA VỢ CHỒNG

2.1 Điều kiện phát sinh nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng 18

2.1.1 Kết hôn hợp pháp 18

2.1.2 Chung sống như vợ chồng được pháp luật công nhận 21

2.2 Nội dung của nghĩa vụ chung thủy 22

2.3 Giới hạn của nghĩa vụ chung thủy và sự vi phạm của nghĩa vụ chung thủy 24

2.4 Thời điểm chấm dứt phát sinh nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng 31

2.4.1 Thời điểm phát sinh nghĩa vụ chung thủy 31

2.4.2 Chấm dứt nghĩa vụ chung thủy 32

2.5 Chế tài khi vi phạm nghĩa vụ chung thủy 35

2.5.1 Chế tài hành chính 35

2.5.2 Chế tài hình sự 37

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VIỆC THỰC HIỆN NGHĨA VỤ CHUNG THỦY CỦA VỢ CHỒNG TRONG LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH VIỆT NAM 3.1 Thực trạng, nguyên nhân, hậu quả của sự vi phạm nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng 41

3.2 Bất cập từ những quy định của pháp luật 43

3.2.1 Bất cập trong chế tài về xử lý vi phạm hành chính 43

3.2.2 Bất cập trong chế tài hình sự 44

3.3 Giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng 46

3.3.1 Tăng mức độ nghiêm khắc của chế tài hành chính khi vi phạm nguyên tắc hôn

Trang 6

nhân một vợ một chồng 46

3.3.2 Tăng chế tài hình sự quy định căn cứ xét mức xử lý 47

3.3.3 Giải pháp về quy định của pháp luật 48

3.4 Về mặt xã hội 49

KẾT LUẬN 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

MỤC LỤC 56

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Gia đình là tế bào của xã hội, là những hình ảnh thu nhỏ của xã hội một cách trực quan và sinh động nhất Gia đình cũng là nơi duy tri nòi giống, là nơi nuôi dưỡng ra những thế hệ tương lai, cũng là nơi hình thành nhân cách con người nơi bảo tồn, duy trì

và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chống lại các tệ nạn xã hội Đồng thời tạo ra nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Xuất phát từ những tầm quan trọng ấy, tại hội nghị cán bộ thảo luận dự thảo Luật

hôn nhân và gia đình (ngày 10/10/1959) chủ tịch Hồ Chí minh đã khẳng định: “Quan tâm đến gia đình là đúng vì nhiều gia đình cộng lại thì mới thành xã hội Xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình càng tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của xã hội chính là gia đình Chính vì vậy muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải chú ý đến hạt nhân đó cho tốt”

Ngày nay, hôn nhân và gia đình là luôn mối quan tâm lớn của toàn xã hội, vì đây vừa là nền tảng xây dựng một xã hội tốt đẹp văn minh vừa là mục tiêu chung trong các đường lối của Đảng và Nhà nước khi xây dựng pháp luật nói chung và Luật hôn nhân

và gia đình nói riêng Tuy nhiên với tình hình tăng trưởng kinh tế và tốc độ đô thị hóa như hiện nay một số người chạy theo lối sống cho là hiện đại, và xem trọng quan niệm

“có tiền là có tất cả” mà không quan tâm nhiều đến sự chung thủy trong cuộc sống

giữa vợ và chồng, làm lưu mờ đi những giá trị truyền thống tốt đẹp vốn có của gia đình Việt Nam

Các văn bản Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, năm 1986 cho đến Luật hôn

nhân và gia đình năm 2000 điều có qui định về nguyên tắc hôn nhân “một vợ một chồng” Bên cạnh trong Luật hôn nhân năm 1986 và Luật hôn nhân gia đình hiện hành

có quy định cụ thể như thế nào là chung thủy, nhằm ngăn ngừa vợ hoặc chồng có quan

hệ bất chính với người khác ngoài hôn nhân Luật hôn nhân năm 2000 không qui định

cụ thể thế nào là “chung thủy” và thế nào là “không chung thủy” bên cạnh cũng không

Trang 8

đặt ra các biện pháp chế tài khi vi phạm nghĩa vụ chung thủy một cách độc lập,mà pháp luật chỉ qui định nguyên tắc dự phòng khi vợ chồng vi phạm nghĩa vụ chung thủy đến

mức vi phạm nguyên tắc hôn nhân “một vợ một chồng” và khi đó sẽ bị chế tài theo

nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng Tuy nhiên có một số trường hợp pháp luật không xử lý được do chưa thỏa điều kiện vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng Và nếu đã thỏa điều kiện.Và nếu đã thỏa điều kiện vi phạm để xử lý thì gặp một

số vướng mắc đó là pháp luật được ban hành ra nhưng khó thực thi được vì gặp nhiều

qui định còn hạn chế Do vậy người viết chọn đề tài “Nghĩa vụ chung thủy của vợ

chồng trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam” là đề tài nghiên cứu cho luận văn

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

Tìm hiểu về tình hình thực tế của những qui định của pháp luật bên cạnh các yếu

tố xã hội tác động, cũng như nêu lên một số hậu quả,nguyên nhân của sự vi phạm nghĩa

vụ chung thủy đó nhằm có hướng đóng góp vào các quy phạm của pháp luật điều chỉnh các vấn đề trên Trong khuôn khổ của một đề tài luận văn người viết cũng nhằm mục đích nhằm góp phần hoàn thiện nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đồng thời bổ sung thêm các yếu tố của nghĩa vụ chung thủy Và sự vi phạm nghĩa vụ chung thủy khi

có đầy đủ các điều kiện về yếu tố vi phạm khi đó những đối tượng vi phạm sẽ bị chế tài theo nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng nhằm góp phần nhằm bảo vệ chế độ hôn

nhân “một vợ một chồng”

Bên cạnh nêu lên sự bình đẳng trong qui định vợ chồng có nghĩa vụ chung thủy thể hiện sự bình đẳng giữa vợ và chồng Nhưng trên thực tế về định kiến xã hội (về giới) vẫn còn tồn tại không ít sự bất bình đẳng trong cách nhìn nhận vấn đề

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Trong phạm vi đề tài người viết tập trung nghiên cứu các vấn đề sau: sơ lược về nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử và một số qui định của pháp luật trong các giai đoạn đó điều chỉnh về nghĩa vụ chung thủy đó Bên

Trang 9

cạnh tập trung nghiên cứu về những qui định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

về các chế tài xử lí vi phạm hành chính, xử lý hình sự khi vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng,nhằm một phần bổ sung vào những điều kiện cụ thể về vi phạm nghĩa vụ chung thủy khi bị chế tài do vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng

Bên cạnh người viết đề cập tới biểu hiện của sự không chung thủy gọi là “ngoại tình” Hành vi ngoại tình được hiểu là người đã có vợ hoặc chồng có quan hệ yêu

đương bất chính với một người khác Có các dạng ngoại tình như ngoại tình trong tư tưởng, ngoại tình có mối quan hệ xác thịt với một người khác ngoài chồng và vợ Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn người viết tập trung nghiên cứu về những trường hợp ngoại tình có mối quan hệ xác thịt với một người khác ngoài chồng hoặc vợ của người đó Nhằm xem xét những trường hợp đó có thể thỏa những điều kiện qui định về các biện pháp chế tài khi vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng

Cụm từ của hành vi “ngoại tình” được biểu hiện nhiều dạng khác nhau như ngoại tình

trong tư tưởng hay có mối quan hệ xác thịt với một người khác ngoài chồng (vợ) Và từ

ngữ “ngoại tình” được trình bày trong luận văn là cụm từ dùng được hiểu theo nghĩa có

mối quan hệ xác thịt với một người khác ngoài chồng hoặc vợ của họ

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Cơ sở pháp luận của việc nghiên cứu, đánh giá các vấn đề của luận văn dựa vào phương pháp phân tích luật viết, các phương pháp quy nạp, diễn dịch phương pháp thu thập tài liệu, quá trình tìm hiểu thực tế Sử dụng phương pháp khoa học lịch sử biện chứng, kết hợp với quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ghi trong các văn bản pháp chế điều chỉnh về hôn nhân và gia đình

5 Cơ cấu luận văn

Ngoài phần lời nói đầu,kết luận và danh mục tài liệu tham khảo.Luận văn

nghiên cứu về “Nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam” còn có phần nội dung được kết cấu thành ba chương

Trang 10

Chương 1: Lý luận chung về nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam

Trong chương 1 người viết nêu lên khái niệm của nghĩa vụ chung thủy, lược sử

các chế định của nghĩa vụ chung thủy qua các thời kỳ, mối quan hệ giữa nghĩa vụ chung thủy và nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng và ý nghĩa của nghĩa vụ chung

thủy

Chương 2: Các qui đinh của pháp luật điều chỉnh về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng

Trong chương 2 người viết đi sâu vào phân tích những quy định của pháp luật về

quyền và nghĩa vụ của vợ chồng như điều kiện phát sinh nghĩa vụ, nội dung, giới hạn, thời điểm phát sinh và chấm dứt nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng, chế tài khi vi

phạm nghĩa vụ chung thủy

Chương 3: Thực tiễn và giải pháp hoàn thiện việc thực hiện nghĩa vụ

chung thủy của vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam

Trong chương 3 người viết nêu lên thực tiễn, phương hướng hoàn thiện và một

ít kiến nghị của bản thân trong việc thực hiện nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam

Trang 11

CHƯƠNG 1:

LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHĨA VỤ CHUNG THỦY CỦA VỢ CHỒNG TRONG

LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM

1.1 Khái niệm về nghĩa vụ và nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng

Theo phạm trù đạo đức học, nghĩa vụ phản ánh trách nhiệm của một công dân,một nhóm,một tập đoàn, một giai cấp dân tộc đối với việc phải làm trong những điều kiện xã hội cụ thể, trong những tình hình xã hội nhất định Khi đã trở thành cái bên trong, nghĩa vụ trở nên trù tượng hơn so với chuẩn mực trên cơ sở lập trường chính trị, đạo đức hình thành ở mỗi cái nhân Nghĩa vụ gắn liền với tính tất yếu của đạo đức, với những yêu cầu đòi hỏi chung nhất, với những qui định chính thức và không chính thức, với trách nhiệm khả năng và năng lực của cá nhân Hành vi của con người được qui định bởi nhiều yếu tố, một trong số đó là nghĩa vụ được xã hội xác lập, nghĩa vụ được qui định bằng pháp luật Thông thường, nghĩa vụ thường đi đôi với quyền, chằng hạn công dân có quyền và nghĩa vụ cơ bản được qui định trong hiến pháp và pháp luật

Theo từ điển tiếng Việt thì nghĩa vụ được hiểu là: “Một việc mà pháp luật hay đạo đức bắt buộc phải làm đối với xã hội,đối với người khác”

Dưới góc độ pháp lý: nghĩa vụ là hành vi mà một người phải thực hiện vì lợi ích của một người khác.Có ba loại nghĩa vụ:

 Nghĩa vụ theo phong tục,tập quán của địa phương qui định

 Nghĩa vụ về đạo đức,nhân văn: nghĩa vụ đạo đức là ý thức trách nhiệm,là tình cảm tự giác của con người đối với người khác và đối với xã hội,được con người ý thức

và tự nguyện tự giác hành động Nghĩa vụ là một trong những nét đặc trưng cơ bản của con người Chỉ có ở xã hội loài người mới có ý thức về nghĩa vụ Đối với loài vật,mọi hành động đều hoàn toàn theo bản năng.Còn cuộc sống của con người ngoài bản năng

có ý thức con người còn có một yếu tố tự nguyện tự giác mà biểu hiện cao nhất là ý thức về nghĩa vụ được thông qua những hành vi đạo đức Ngoài ra nghĩa vụ đạo đức

Trang 12

cũng là sự phù hợp giữa lý trí và tình cảm của cá nhân với những nhu cầu đạo đức của

xã hội.Cả hai mặt này đều có sự thống nhất với nhau về ý thức và hành vi của con người Nó là một trong những tiêu chuẩn giá trị cao nhất được hình thành, tồn tại và phát triển như một quy luật tất yếu có ý nghĩa trong lịch sử xã hội

Đạo đức học Mác-Lênin quan niệm nghĩa vụ đạo đức là ý thức trách nhiệm của con người,là ý thức cần phải làm và mong muốn làm,hành động tự giác vì lợi ích của người khác và lợi ích chung của xã hội Triết học Mác-Lênin đã giải thích,con người là một bộ phận của tự nhiên, nhưng cũng là chủ thể của xã hội Trong cái tư nhiên và cái

xã hội có ở mỗi người,thì cái xã hội là cái làm nên bản chất của con người,nếu mất yếu

tố xã hội,con người sẽ vô thức và xã hội sẽ không tồn tại.(1)

- Nghĩa vụ pháp lý là những nghĩa vụ đã được pháp luật quy định như nghĩa vụ công dân do hiến pháp và pháp luật quy định

- Theo quan niệm truyền thống,chung thủy có nghĩa là chỉ có một bạn tình duy nhất trên mọi diện phương diện tình cảm,tình dục và tâm lý

- Trong tiếng việt chung thủy là: vẫn một lòng trước sau như một,vẫn có tình cảm gắn bó không thay đổi Như vậy, khái niệm chung thủy là khái niệm rộng Trong quan hệ vợ chồng thì chung thủy được hiểu là vợ chồng cũng có sự khác nhau cơ bản

Từ những khái niệm chung về nghĩa vụ được đề cập người có thể hiểu về nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng như sau: nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng là loại nghĩa vụ về đạo đức và nhân văn mang giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam và được nâng lên thành qui định của pháp luật (tuy nhiên pháp luật không qui đinh như thế nào là nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng) Tóm lại nghĩa vụ chung thủy

là: “Trong quan hệ giữa vợ chồng thì nghĩa vụ chung thủy được hiểu là vợ chồng phải luôn chung tình, gắn bó tình cảm yêu thương về mặt tinh thần và thể xác chỉ với nhau

mà thoi nhằm thực hiện trách nhiệm đối với gia đình, đồng thời góp phần vào sự bền

_

1

Xem: Tập thể tác giả, Giáo trình đạo đức học- nhà xuất bản chính trị quốc gia

Trang 13

vững của gia đình và sự ổn định của xã hội”

1.2 Lƣợc sử các chế định nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng

Trong thời nguyên thủy của xã hội loài người khi con người vừa thoát thai từ loài vật,chưa có quan hệ hôn nhân và gia đình Quan hệ giữa người đàn ông và người đàn bà gọi là quan hệ tính giao,mang tính chất bầy đàn và bừa bãi Có nghĩa mọi người đàn bà đều thuộc mọi người đàn ông và ngược lại,điều này được coi là phù hợp với tập quán lúc bấy giờ

Thực tế lúc bấy giờ,do điều kiện tự nhiên quyết định nên con người phải chấp

nhận cuộc sống ăn ở chung,chung chạ vợ chồng như PH.Ăngghen đã viết “Đấy là hình thức quần hôn,một hình thức hôn nhân trong đó cả từng nhóm đàn ông và cả từng nhóm đàn bà đều là sở hữu của nhau Trong đó ghen tuông luôn khó lòng phát triển”(2) Dần dần do xã hội phát triển, các hình thái hôn nhân gia đình cũng xuất hiện như tồn tại chế độ quần hôn,hôn nhân đối ngẫu,hôn nhân một vợ một chồng

Từ gia đình đối ngẫu đến một vợ một chồng cổ điển,khái niệm chung thủy đã bắt

đầu hình thành nhưng chỉ về phía người phụ nữ: “Họ mong muốn ngày càng nồng nhiệt quyền được giữ trinh tiết, kết hôn nhất thời hay lâu dài chỉ với một người đàn ông và coi đó là sự giải phóng.Bước tiến đó không thể nào do đàn ông mà có cả,chỉ vì đến tận ngày nay không bao giờ người đàn ông có ý từ bỏ thú vui của chế độ quần hôn thực sự cả Trong giai đoạn này,một người đàn ông sống chung với một người đàn bà, song việc có nhiều vợ và việc không chung tình khi có dịp vẫn là quyền của người đàn ông nhưng thông thường thì phụ nữ triệt để phải chung tình trong thời gian chung sống với chồng,và tội ngoại tình của họ sẽ bị trừng trị một cách tàn ác.Hôn nhân cặp đôi đã đưa vào gia đình một yếu tố mới,bên cạnh người mẹ đẻ, chế độ đó đã đặt người bố,người bố thật có lẽ còn thật hơn nhiều so với người “bố thời nay” (3)

Sang gia đình một vợ một chồng cổ điển “để đảm bảo cho sự trung thành của người

3Xem: C.Mác -Ph.Ăngghen, tuyển tập 6, Nxb.Sự thật, Hà Nội 1994, tr.89

_

2

Xem: C Mác - Ph.Ăngghen,tuyển tập 6,Nxb.Sự thật,Hà Nội 1994,tr 62

Trang 14

vợ, do đó, bảo đảm việc con cái đích thật là do người cha đẻ ra người vợ phải phục tùng quyền lực tuyệt đối của người chồng, nếu người chồng có giết vợ đi chăng nữa thì cũng chỉ là thực hiện quyền hành của mình mà thôi” (4).Như vậy trong giai đoạn này, sự chung thủy chỉ được áp đặt với người vợ và quan niệm này được duy trì khá lâu trong lịch sử phát triển của thời đại

1.2.1 Trong Bộ luật nhà Lê

Trong xã hội phong kiến Việt Nam, các quan hệ hôn nhân và gia đình ảnh hưởng nặng nề tư tưởng nho giáo Nho giáo trở thành tư tương thống trị trong xã hội.Một trong những mối quan hệ cơ bản quan trọng nhất trong xã hội là quan hệ phu phụ (vợ chồng) Pháp luật nhà Lê đã quy định những quyền cơ bản của nghĩa vụ vợ và chồng như: Nghĩa vụ đồng cư,nghĩa vụ phù trợ,nghĩa vụ trung thành và nghĩa vụ tòng phu Nghĩa vụ chung thủy đặt ra giữa người vợ và người chồng mang tính chất tương đối vì trong thời gian này người chồng vẫn có quyền đa thê Nhưng bên cạnh đó Điều

401 của bộ Luật quy định: “Gian dâm với vợ kẻ khác bị lưu hoặc chết,với vợ lẻ (thiếp) của người khác thì tội giảm một bực tội,với người có quyền quý thì xử riêng Kẻ phạm tội phải nộp tiền tạ lỗi như luật định Vợ lớn vợ bé phạm tội điều xử lưu, điền sản trả lại cho người chồng Nếu vợ chưa cưới thì cả hai điều được giảm một bực” Đồng thời tại Điều 405 quy định: “Ngoại tình với vợ người khác thì xử đánh 60 trượng, biếm hai

xa thì xử riêng” Người vợ có hành vi dâm đãng bị coi là phạm vào “thất xuất” để

người chồng ly hôn Mặt khác theo tập quán lúc bấy giờ thì những người phụ nữ không đoan chính bị kỳ thị và trừng trị rất tàn ác

Trong giai đoạn này nghĩa vụ chung thủy của cả người vợ và chồng cũng được pháp luật quy định,nhưng chỉ mang tính chất tương đối với người chồng

1.2.2 Trong Luật gia đình 1959

Trong thời kì Pháp thuộc,quan niệm chỉ người phụ nữ mới phải thực hiện nghĩa

vụ chung thủy vẫn tồn tại và thể hiện rất rõ trong phong tục tập quán cũng như pháp _

Trang 15

luật Điều này thể hiện sự bất bình đẳng giữa nam và nữ,giữa vợ và chồng trong gia đình

Ở miền Nam,trong thời kì dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa thì quan niệm này

đã được thay đổi Theo Luật gia đình ngày 02/01/1959,Sắc luật ngày 13/07/1964,Bộ dân luật 20/12/1972,nghĩa vụ chung thủy có tính chất bắt buộc đối với cả hai vợ chồng:

“Vợ chồng phải lấy tình nghĩa thủy chung mà đối đãi với nhau”, “Vợ chồng có nghĩa

vụ chung thủy với nhau”

Theo Luật gia đình số 1/59 ngày 02/01/1959, chế tài đặt ra đối với hành vi vi phạm về nghĩa vụ này là rất chặt chẽ nhằm ngăn ngừa và trừng phạt các hành vi ngoại

tình, trong đó có hành vi “giao du thân mật” cũng bị coi là tội phạm Tại Điều 73 của Luật Gia đình 1/59 có qui định: “Chồng hay vợ có quyền cấm người hôn phối không được giao du một cách quá thân mật với người nào khác mà họ xét có hại cho sự chung thủy của vợ chồng Nếu mặc dù có sự cấm đoán đó, người chồng hay vợ cùng người tòng phạm tiếp tục gặp gỡ nhau một mình một cách bất chính tại nơi công cộng hay không công cộng và nếu sự vi phạm đó bị thừa phát lại hay viên chức hình cảnh theo yêu cầu của người hôn phối kia lập vi bằng kiểm chứng hai lần trong thời hạn một năm, người vi phạm va người tòng phạm có thể bị phạt tiền từ 1000 đến 50000 đồng Nếu tái phạm thì có thể bị phạt giam từ một đến sáu tháng”.(5)

Bên cạnh luật còn qui định về tội “phạm gian” tại Điều 71 của Luật Gia đình số

1/59 Tuy nhiên sự phạm gian( thông gian ) của người vợ hoặc người chồng chỉ bị truy

tố khi có đơn kiện của người hôn phối kia, khi đó thì có thể bị tòa án phạt tiền hoặc phạt giam từ ba tháng đến hai năm, tái phạm thì ngoài hình phạt tù giam còn có thể bị

xử biệt xứ từ sáu tháng đến hai năm Người tòng phạm vẫn phải chịu chế tài Ngoài ra lỗi phạm gian là căn cứ để người hôn phối kia yêu cầu ly thân

Sắc luật ngày 23/07/1964 thay thế cho Luật Gia đình 1/59 Sau đó sắc luật ngày 23/7/1964 được thay thế bởi Bộ Dân luật ngày 20/12/1972 Lúc này tuy qui định về tội

“giao du thân mật” không còn nữa, song trong Bộ Hình luật năm 1972 thì ngoài tội

_

5

Xem: Vũ Văn Mẫu, Việt Nam dân luật lược giảng, Sài Gòn 1973, tr.97

Trang 16

“trong khi hôn thú chưa đoạn tiêu mà kết hôn với người khác” (Điều 380) thì còn có tội

“phạm gian” mà người chồng phạm gian hay người vợ phạm gian (thường gọi là ngoại

tình) và người tòng phạm đều có thể bị phạt vạ bằng tiền và phạt tù giam đến hai năm Qua đó có thể thấy rằng trong thời kỳ này, sự chung thủy của cả vợ chồng đã được chú trọng hơn thể hiện sự bình đẳng hơn trong quan hệ vợ chồng nhưng cũng còn có nhiều điểm chưa phù hợp thực tế

1.2.3 Trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1986

Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ( 30/04/1975)

,cả nước thống nhất, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn cả nước độc lập, thống nhất và tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa,tiến nhanh,tiến mạnh,tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội Tiếp đó trong phiên họp 18/12/1980 của Quốc hội khóa VI, kì họp thứ 7 đã chính thức thông qua bản Hiến pháp thứ 3 của nước

ta, làm nền tảng cho bước phát triển mới của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Hiến pháp 1980 đạo luật cơ bản của Nhà nước đã qui định các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa tại các Điều 38,47,63,64 của Hiến pháp Việc áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, có một số điều không phù hợp chẳng hạn như chưa thể hiện được đầy đủ phong tục tập quán của miền Nam

Quá trình thi hành ở cả hai miền đã cho thấy một số quan hệ mới cần phải được điều chỉnh,các nguyên tắc cơ bản cần được cụ thể hơn

Việc ban hành Luật hôn nhân và gia đình mới là một yếu tố khách quan để thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước Ngày 25/12/1986, Hội đồng bộ trưởng ( nay là chính phủ ) đã quyết định thành lập ban dự thảo Luật hôn nhân gia đình mới: Dự luật đã được quốc hội khóa VII, kì họp thứ 12 thông qua 29/12/1986 và được Hội đồng nhà nước công bố ngày 01/01/1987

Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 là sự kế thừa và phát triển của Luật hôn nhân

và gia đình năm 1959 Nhiệm vụ của Luật được đặt ra là nhằm tiếp tục xây dựng và cũng cố gia đình xã hội chủ nghĩa,giữ gìn và phát huy những phong tục,tập quán tốt đẹp của dân tộc, xóa bỏ những tục lệ lạc hậu, những tàn tích của chế độ hôn nhân và

Trang 17

gia đình phong kiến, chống lại sự ảnh hưởng của chế độ hôn nhân và gia đình tư sản trong đó có nhiệm vụ xây dựng và cũng cố chế độ hôn nhân và gia đình mới là nhiệm

vụ hàng đầu Các nguyên tắc của Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 tiếp tục được coi

là những nguyên tắc quán triệt trong toàn bộ nội dung của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986

Những nguyên tắc, nguyên lý cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 là: -Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ

Tại một qui định khác tại Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 nhằm qui định rõ hơn và bổ trợ cho nguyên qui định ở nguyên tắc hôn nhân một vợ một

chồng: “Vợ chồng có nghĩa vụ chung thủy với nhau” cũng như Điều 4 của Luật qui định: “Cấm người đang có vợ,có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác” Vì ta thấy rằng nếu như luật qui định vợ chồng chỉ phải tuân theo nguyên

tắc hôn nhân một vợ một chồng trong suốt thời kì hôn nhân thì cũng chưa điều chỉnh được các hành vi chưa đủ yếu tố vi phạm nguyên tắc đó vì vậy tạo kẻ hỡ của pháp luật, nhưng ở đây luật có sự qui định chi tiết hơn là vợ chồng có nghĩa vụ chung thủy với nhau,qui định này nhằm góp phần giữ gìn và phát huy những phong tục tập quán của dân tộc Việt Nam Đồng thời có những chế tài cấm người đang có vợ có chồng mà kết hôn với người đang có vợ có chồng hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có

vợ có chồng,hoặc cấm người đang có vợ có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người chưa có vợ có chồng

Trang 18

1.2.4 Trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và các văn bản điều chỉnh các vấn đề trên

Tiếp tục kế thừa,phát triển hệ thống pháp Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam cùng với Hiến pháp 1992, trong điều kiện đổi mới, thủ tướng Chính phủ có chỉ thị về tổng kết thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và dự thảo các điều sửa đổi,bổ sung Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 được Quốc hội khóa X ngày 09/06/2000, gồm 13 chương, 110 điều đã kế thừa, cụ thể hóa nhiều quy định để điều chỉnh các quan

hệ trong điều kiện nền kinh tế thị trường

Nhằm phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của gia đình trong tình cảm vợ

chồng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 tại Điều 18 qui định: “ Vợ chồng chung thủy, yêu thương, quý trọng , chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau”.Qua đây cho thấy, pháp luật

về hôn nhân và gia đình đã từng bước cụ thể hóa những quan hệ xã hội mới phát sinh trong cuộc sống gia đình,tuy không thể nào điều chỉnh hết tất cả các mối quan hệ đa dạng phát sinh trong đời sống gia đình nhưng đã phần nào cùng chung tay xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng tiến bộ, hạnh phúc, bền vững như nhiệm vụ của Luật hôn nhân

và gia đình năm 2000 đã đặt ra

Tóm lại, trong quá trình phát triển lịch sử xã hội với sự điều chỉnh tương ứng của các qui định của Luật hôn nhân và gia đình cho thấy Đảng và Nhà nước ta luôn quan

tâm đến lĩnh vực hôn nhân và gia đình, trên cơ sở quán triệt nguyên tắc “nam nữ bình đẳng” Mặt khác kiên quyết xóa bỏ những phong tục tập quán lạc hậu của chế độ hôn

nhân đa thê phong kiến, xây dựng và củng cố nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng bên cạnh nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng đối với nhau theo chế định hôn nhân xã hội chủ nghĩa và trong nền kinh tế hội nhập, cấm những thủ đoạn, hành vi làm mờ giá trị truyền thống quý báu vốn có của gia đình

1.2.5 Trong luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Kế thừa và phát triển hệ thống pháp Luật hôn nhân và gia đình Việt nam cùng với Hiến pháp 1992, trong xã hội các mối quan hệ trong lĩnh vực hôn nhân và gia

Trang 19

đình luôn diễn ra đa dạng, phức tạp, với những hình thức khác nhau Vì vậy để xây dựng và hoàn thiện chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xóa bỏ những phong tục tập quán lạc hậu, chậm tiến bộ trong hôn nhân và gia đình là vấn đề đang được quan tâm Ngày 19 tháng 6 năm 2014, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa XIII, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật hôn nhân và gia đình, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015, thay thế Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có 9 chương, 133 Điều, so với Luật hôn nhân và gia đình

2000 ít hơn 4 chương, nhưng tăng lên 23 Điều Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã

có nhiều quy định mới, có những sữa đổi bổ sung Đó là việc sửa đổi, bổ sung “Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình” Bên cạnh việc tiếp tục khẳng định nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, Luật nhấn mạnh mục tiêu xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc

Nhằm phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của gia đình trong tình cảm vợ

chồng Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tại Điều 19 qui định: “Vợ chồng có nghĩa

vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” Điều này được sửa đổi, bổ sung trên

cơ sở của Điều 18 của Luật hôn nhân và gia đình 2000 Theo đó, bổ sung nội dung

sau:“Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác” Qua đây cho thấy

pháp luật về hôn nhân và gia đình đã từng bước cụ thể hóa những quan hệ xã hội mới phát sinh trong cuộc sống gia đình

Trong quá trình phát triển của xã hội với sự điều chỉnh tương ứng của các qui định của Luật hôn nhân và gia đình cho thấy Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến lĩnh

vực hôn nhân và gia đình, trên cơ sở quán triệt nguyên tắc “hôn nhân tự nguyện, tiến

bộ, một chồng một vợ, vợ chồng bình đẳng” Vì gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi

nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội

Trang 20

Vì luật không quy định thế nào là chung thủy và cũng như không quy định rõ là khi có dấu hiệu vi phạm nghĩa vụ chung thủy đến khi xác minh những vụ việc đó là vi phạm nghĩa nghĩa vụ chung thủy (tức những người vợ hoặc người chồng đã có cuộc hôn nhân chính thức mà còn có quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân đến mức vi phạm các quyền và nghĩa vụ đối với gia đình) thì khi đó cần xét đến những trường hợp như vậy

có vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng hay không để có thể lấy các biện pháp chế tài của vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng mà áp dụng chế tài vi phạm nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng

1.4 Ý nghĩa của sự chung thủy vợ chồng

1.4.1 Ý nghĩa của nghĩa vụ chung thủy đối với nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng

Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt nghiêm trọng Đó là phương

tiện không thể thiếu để đảm bảo sự tồn tại,sự vận hành cho bình thường cho xã hội nói chung và nền đạo đức nói riêng Pháp luật không chỉ là công cụ pháp lý Nhà nước hữu hiệu mà còn tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển ý thức đạo đức, lành mạnh hóa đời sống của con người trong đời sống xã hội, góp phần giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống tiến bộ đồng thời góp phần bồi đắp nên những giá trị văn hóa mới phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội Cùng với tầm quan trọng đó thì

Trang 21

pháp luật về hôn nhân và gia đình cũng mang một giá trị pháp lý cao trong đời sống xã hội

Việc bổ trợ thêm cho nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng nhằm tạo sự ổn định

xã hội, thì pháp luật quy định thêm vợ chồng phải có nghĩa vụ chung thủy với nhau thì theo người viết nghĩ rằng bên cạnh sự ổn định của gia đình về mặt cấu trúc một vợ một chồng thì trong đời sống vợ chồng cần có sự chung thủy, yêu thương và tin tưởng lẫn nhau ông bà ta có câu:

“Vợ chồng nghĩa nặng tình sâu Thương nhau đến lúc bạc đầu còn thương”

Nếu nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là quy định của pháp luật thì nghĩa vụ chung thủy được Luật quy định bên cạnh về mặt lập pháp thì đó cũng là quy định về khía cạnh đạo đức cần phải có trong cuộc sống hôn nhân của vợ chồng,và cũng là truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam ta đó là lòng chung thủy Mà nó cần giữ gìn

và phát huy trong nền kinh tế hội nhập,và sự tràn lan một lối sống thực dụng.ích kỉ làm lưu mờ đi giá trị văn hóa đạo đức của văn hóa truyền thống vốn có

Theo quan niệm truyền thống,chung thủy có nghĩa là chỉ có một bạn tình duy nhất trên mọi phương diện tình cảm,tình dục và tâm lý Trong một giai đoạn lịch sử khá dài, khi hôn nhân được xây dựng trên những nền tảng hay mục đích khác ngoài tình yêu (như vì lí do môn đăng hộ đối, chuyển giao tài sản), thì chỉ có người phụ nữ là bị buộc phải nêu gương tiết hạnh nếu không muốn bị trừng phạt, đày đi biệt xứ, bỏ tù hay thậm chí tử hình

Đến giữa thế kỉ XX việc ngoại tình dù là từ phía người chồng hay người vợ đều

đã được xét xử bình đẳng trước pháp luật Trước đó, việc một người phụ nữ ngoại tình

sẽ bị tòa án coi là phạm tội trong khi với trường hợp của nam giới, họ chỉ bị “khiển trách” từ phía gia đình Còn thời nay thay vì là lý do “tiên quyết” thì việc ngoại tình

cũng chỉ còn là một trong vô số những khúc mắc dẫn vợ chồng tới quyết định ly hôn

Có thể thấy, quan niệm về sự chung thủy đang biến đổi đồng thời với tốc độ phát

Trang 22

triển của xã hội Thông qua đấu tranh, qua khả năng tiếp cận với các biện pháp ngừa thai và hòa nhập vào môi trường nghề nghiệp,ngày nay phụ nữ đã có trong tay quyền

tự do mới trong việc xây dựng mối quan hệ tình cảm và tình dục Hơn nữa, ngoại tình ở

nữ giới giờ đây đã không còn là vấn đề cấm kị Văn chương khiêu dâm cùng tạp chí và phim ảnh dành cho phụ nữ đang ngày càng góp phần mở ra tự do tình dục cho phái nữ Con người ngày càng xa rời các quy tắc đạo đức truyền thống nhiều hơn Sự chung thủy không còn là sợi dây ràng buộc giữa hai vợ chồng nữa nếu như một trong hai người đã nảy sinh tình cảm và ham muốn với người thứ ba Ngày nay khi cuộc sống lứa đôi được xây dựng trước hết dựa trên nền tảng tình cảm và cảm xúc thì để duy trì gia đình,người ta buộc nhờ cậy nhiều hơn tới sự chung thủy Tuy vậy số người có quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân vẫn không ngừng tăng cao do nhu cầu cần thay đổi

“không khí” và dung hòa giữa một cuộc sống hôn nhân phẳng lặng với cảm kích thích

mà những cuộc phiêu lưu tình ái mang đến

1.4.2 Ý nghĩa của sự chung thủy đối với đời sống vợ chồng

Trong xã hội hiện đại ngày nay thì tình yêu nam nữ là cơ sở để xây dựng

hôn nhân bởi như C.Mác đã nói: “Nếu chỉ trên hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu mới là hợp đạo đức thì cũng chỉ riêng hôn nhân trong đó tình yêu được duy trì mới là hợp đạo đức mà thôi”(6) Đó chính là cơ sở cơ bản đề đảm bảo xây dựng một gia đình dân chủ hòa thuận và hạnh phúc

Tuy vậy, trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay, những quan niệm về tình yêu, hôn nhân ,gia đình không còn mang ý nghĩa truyền thống Mỗi thế hệ mỗi cá nhân đều

có quan niệm khác nhau về cái gọi là “chung thủy” Luật hôn nhân và gia đình qui định

đó là nghĩa vụ chung của hai vợ chồng.Và bên cạnh đó đã đưa ra những cơ chế nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đó.Ở đây chúng ta thấy nảy sinh vấn đề: Một bên là tình cảm tự nhiên của con người và còn bên kia là những quy định luật pháp Một cái mang tính bản năng tự nhiên và một cái mang tính xã hội

Bản chất của quan hệ vợ chồng bao gồm tình yêu và nghĩa vụ Như vậy, cái tự

_

Trang 23

nhiên và cái xã hội luôn đan xen nhau, quan hệ biện chứng với nhau và không thể tách rời nhau Chính vì vậy, trong quan hệ vợ chồng cả hai bên đều mong muốn được thể hiện tình yêu và phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhau,điều đó thể hiện sự chung thủy Nếu môt trong hai bên vợ, chồng hoặc cả hai bên lại thể hiện tình yêu với người khác, thực hiện nghĩa vụ với người khác thì đó là biểu hiện của sự không chung thủy Mục đích của hôn nhân trong chế độ ngày nay là xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng tiến bộ hạnh phúc và bền vững Để hôn nhân đạt được mục đích đó thì cơ bản hai người trong quan hệ hôn nhân phải yêu thương nhau, chăm sóc giúp đỡ nhau cùng tiến

bộ và nhất là phải cùng chung thủy với nhau vì đây không chỉ là quy định về mặt pháp

lý mà đó còn là đòi hỏi về mặt đạo đức

Trong trường hợp những người không có mối quan hệ pháp lý như vợ và chồng (tức không phải vợ chồng theo nghĩa của luật) thì những người này không có nghĩa vụ chung sống và các nghĩa vụ đặc trưng của quan hệ vợ chồng như nghĩa vụ yêu thương,đùm bọc,hỗ trợ,giúp đỡ nhau cùng tiến bộ và nhất là nghĩa vụ chung thủy sẽ không được đặt ra đối với họ về mặt qui định của pháp luật được,mà ở đây có chăng là

về mặt đạo đức xã hội và dư luận xã hội và riêng trách nhiệm của bản thân họ tự ý

thức

Trang 24

CHƯƠNG 2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ NGHĨA VỤ CHUNG

THỦY CỦA VỢ CHỒNG

2.1 Điều kiện phát sinh nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng

Tại khoản 1 Điều 4 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 qui định: “quan hệ hôn nhân và gia đình thực hiện theo qui định của Luật hôn nhân và gia đình được tôn trọng và pháp luật bảo vệ” và như vậy thì các mối quan hệ hôn nhân có giá trị pháp lý

được pháp luật bảo vệ Đồng thời tại khoản 1 Điều 10 của Luật hôn nhân và gia đình

có qui định năm 2000 có qui định trường hợp cấm kết hôn với “người đang có vợ hoặc

có chồng” - người đang có vợ hoặc có chồng được hiểu là:

- Người đã kết hôn với người khác theo đúng qui định của pháp luật về hôn nhân

và gia đình nhưng chưa ly hôn

- Người tuy chưa đăng kí kết hôn nhưng việc chung sống của họ được pháp luật công nhận là vợ chồng ( hôn nhân thực tế và cũng chưa ly hôn )

Qui định này cũng bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ một chồng về mặt pháp lý Như vậy, hôn nhân có giá trị và còn tồn tại là điều kiện để phát sinh nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng

2.1.1 Kết hôn hợp pháp

Để đảm bảo là một cuộc hôn nhân hợp pháp,thì khi đăng kí kết hôn nam nữ bắt buộc phải tuân thủ các qui định về điều kiện kết hôn được qui định tại Điều 9.Điều 10 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

Khi đăng kí kết hôn thì hai bên nam nữ phải nộp tờ khai theo mẫu qui định và xuất trình giấy Chứng minh nhân dân Trong trường hợp một người cư trú tại phường,xã,thị trấn này, nhưng đăng ký kết hôn tại xã,phường,thị trấn khác, thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú về tình trạng hôn nhân của người đó Đối với người đang trong thời hạn công tác, học tập, lao động ờ nước ngoài về nước đăng ký kết hôn, thì phải có xác nhận của Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam tại

Trang 25

nước sở tại về tình trạng hôn nhân của người đó Đối với cán bộ, chiến sĩ đang công tác trong lực lượng vũ trang, thì thủ trưởng đơn vị của người đó xác nhận tình trạng hôn nhân Việc xác nhận tình trạng hôn nhân nói trên có thể xác nhận trực tiếp vào Tờ khai đăng ký kết hôn hoặc bằng giấy xác nhận tình trạng hôn nhân Việc xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị từ 6 tháng, kể từ ngày xác nhận(7) Nếu quá thời hạn này mà các bên không thực hiện việc đăng kí kết hôn thì sau này nếu muốn thực hiện đăng kí kết hôn của mình thì các bên sẽ phải xác định lại tình trạng hôn nhân của mình

Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn

là cơ quan đăng kí kết hôn Cơ quan đại diện ngoại giao; cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài là cơ quan đăng kí kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài

Ví dụ: Anh Phạm Đình Minh và chị Nguyễn Phương Uyên cùng cư trú ở một xã thì khi đăng kí kết hôn chỉ cần nộp một tờ khai đăng kí kết hôn và giấy chứng minh nhân dân của hai người Còn trong trường hợp anh Minh và chị Uyên cư trú ở hai xã khác nhau và có nguyện vọng đăng kí kết hôn tại xã của anh Minh thì ngoài tờ khai của anh Minh còn phải nộp thêm tờ khai của chị Uyên có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã nơi chị Uyên cư trú và giấy chứng minh nhân dân của hai người tại Ủy ban nhân dân

xã nơi anh Minh cư trú để cơ quan có thẩm quyền xem xét hồ sơ và đăng kí kết hôn cho anh Minh và chị Uyên nếu thỏa điều kiện kết hôn do luật định

Ngoài ra, tại điểm II.2.d trong thông số 01/2008/TT_BTP hướng dẫn thực hiện một

số qui định của Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 17/12/2005 của chính phủ về quản lý

hộ tịch hướng dẫn xác định tình trạng hôn nhân như sau: “Đối với những người đã qua nhiều nơi cư trú khác nhau (kể cả thời gian cư trú ở nước ngoài), mà Ủy ban nhân dân cấp xã,nơi xác nhận tình trạng hôn nhân không rõ về tình trạng hôn nhân của họ ở những nơi đó, thì yêu cầu đương sự viết bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình trong thời gian trước khi về nơi cư trú tại địa phương và chịu trách nhiệm về việc cam đoan”

_

7

Xem: khoản 1, Điều 158/2005/NĐ-CP ngày 17/12/2005

Trang 26

Cùng với qui định trên,ngày 06/06/2006 Bộ tư pháp đã có công văn số 2488/BTP-HCTP hướng dẫn thực hiện Nghị định số 158/2005/NĐ-CP nêu trên Theo đó,tại điểm 9 có quy định xác định tình trạng hôn nhân trong hồ sơ đăng kí kết hôn của những người đã cư trú tại nhiều địa phương khác nhau(kể cả cư trú ở nước ngoài) như sau: “ Trong trường hợp một người đã qua nhiều cư trú khác nhau (kể cả thời gian cư

trú ở nước ngoài) như sau: “Trong trường hợp một người đã qua nhiều nơi cư trú khác nhau (kể cả cư trú ở nước ngoài), thì khi đăng kí kết hôn,ngoài việc xác nhận tình trạng hôn nhân của nơi cư trú hiện tại, đương sự phải viết tờ cam kết và chịu trách nhiệm về cam kết của mình về tình trạng hôn nhân trong thời gian trước đó”

Như vậy quy định của pháp luật đã thể hiện hết sức rõ ràng, khi xin xác nhận tình trạng hôn nhân, Ủy ban nhân dân xã, phường nơi cư trú hiện tại chỉ cần xác nhận về tình trạng hôn nhân của người xin xác nhận từ khi cư trú hiện tại Ủy ban nhân dân xã phường đó, còn vào giai đoạn trước khi họ cư trú tại địa phương, họ cần phải cam kết

về tình trạng hôn nhân và chịu trách nhiệm về cam kết của mình Ủy ban nhân dân xã phường không cần thiết yêu cầu người xin xác nhận phải cung cấp xác nhận về tình trạng hôn nhân của họ vào thời gian trước khi họ cư trú tại địa phương

Để việc kết hôn phù hợp với các qui định của pháp luật, cơ quan đăng kí kết hôn sau khi nhận hồ sơ đăng kí kết hôn của hai bên kết hôn phải tiến hành điều tra, xác minh về vấn đề mà hai bên nam nữ đã khai Nếu như điều mà các bên nam nữ đã khai

là đúng sự thật và phù hợp với các điều kiện kết hôn thì cơ quan đăng kí kết hôn tiến hành đăng kí kết hôn và ghi vào sổ kết hôn cho họ theo đúng nghi thức do pháp luật qui định Khi việc đăng kí kết hôn đã được đăng kí tại cơ quan đăng kí kết hôn và ghi vào sổ kết hôn thì giữa các bên nam nữ phát sinh quan hệ hôn nhân

Như vậy, khi cơ quan đăng kí kết hôn tiến hành việc đăng kí việc kết hôn cho các bên nam nữ là sự liên kết pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân Điều đó cũng có nghĩa là giữa các bên nam nữ đã phát sinh các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo luật định trong đó có nghĩa vụ chung thủy của vợ và chồng Như vậy việc xác nhận

Trang 27

tình trạng hôn nhân đối với những người: độc thân,những người đã ly hôn, những trường hợp chấm dứt quan hệ hôn nhân do cái chết sinh học và do tòa án tuyên bố đã chết trở về mà người vợ (chồng) của họ đã kết hôn với một người khác, với trường hợp trên thì giấy xác nhận tình trạng hôn nhân tạo cơ sở cho việc bảo vệ quyền lợi của người nam và nữ sau khi kết hôn Sự kết hôn hợp pháp khi đáp ứng đầy đủ các qui định của pháp luật về kết hôn thì khi đó quyền của vợ và chồng được bảo vệ trên cơ bản về mặt pháp lý

2.1.2 Chung sống nhƣ vợ chồng đƣợc pháp luật công nhận

Đây là một trường hợp đặc biệt mà pháp luật thưà nhận nam nữ lấy nhau tuy

không đăng kí kết hôn nhưng vẫn chung sống trong quan hệ vợ chồng Thông thường trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng Vấn đề nảy sinh là cách xác định tình trạng hôn nhân đối với những người không đăng kí kết hôn mà sống chung với nhau như vợ chồng, như vậy để giải quyết được vấn đề này thì phải xác định được thời điểm nam nữ chung sống và việc chung sống này có phù hợp với pháp luật của việc chung sống được pháp luật chung sống hay không công nhận quan hệ vợ chồng giữa họ Và từ đó cũng có thể xác định tình trạng hôn nhân của họ

Theo thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị quyết 35/2000/QH10 thì trường hợp được coi là nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, nếu họ có đủ điều kiện để kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và một trong các trường hợp sau đây:

- Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;

- Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận;

- Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;

- Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau,cùng nhau xây dựng gia đình

Trang 28

Trên tinh thần của thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT - TANDTC - VKSNDTC - BTP ngày 03/01/2001 định nghĩa chung sống như vợ chồng thì việc xác định thời điểm chung sống như vợ chồng như sau, theo Nghị quyết số 35/2000/QH ngày 09/06/2000 thì:

Trường hợp thứ nhất: Nam nữ tuy có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng kí kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 (ngày Luật hôn nhân và gia đình 1986 có hiệu lực) thì pháp luật công nhận là vợ chồng (hay gọi là hôn nhân thực tế) Những người này có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng đối với nhau theo qui định của pháp luật giống như những người kết hôn hợp pháp Điều này đồng nghĩa với việc họ cũng không được kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác khi quan hệ hôn nhân đang tồn tại

Trường hợp thứ hai: Nam nữ tuy có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng kí kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 mà chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001 thì có nghĩa vụ đăng

kí kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật hôn nhân và gia đình có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003 Trong thời hạn hai năm này nếu họ đi đăng kí kết hôn thì họ cũng sẽ có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng đối với nhau về mặt pháp lý tương tự như trường hợp thứ nhất vừa được đề cập Trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết Theo cách hiểu của người viết thì trường hợp theo thời hạn hai năm từ ngày 01/01/2000 đến ngày 01/01/2003 thì nếu họ không đi đăng kí kết hôn trong trường hợp hai năm đó thì trong thời hạn hai năm đó họ vẫn được pháp luật xem là vợ chồng, như vậy thì quyền và nghĩa vụ giữa vợ

và chồng vẫn được đặt ra đối với họ, cũng như nghĩa vụ chung thủy được đặt ra về mặt pháp lý Đồng thời trong thời hạn này người vợ hoặc người chồng cũng không được kết hôn hay chung sống như vợ chồng với người khác

2.2 Nội dung của nghĩa vụ chung thủy

Nghĩa vụ và quyền thể hiện mối quan hệ tình cảm giữa vợ và chồng - Điều 18 của

Trang 29

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “ Vợ chồng chung thủy, yêu thương ,quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững” Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng có quy định: “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” ở Luật

hôn nhân và gia đình năm 2014 có thêm khoản 2 quy định cụ thể nghĩa vụ của vợ

chồng: “Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”

Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy với nhau Tuy nhiên pháp luật không định nghĩa cụm từ: “chung thủy” là như thế nào? Nhưng quan điểm của người viết hiểu theo tinh thần của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định thì nghĩa vụ chung thủy này là những hành vi mà người chồng (vợ) phải thực hiện thể hiện trách nhiệm của mình nhằm thể hiện tình cảm trước sau như một về cả mặt tình cảm, tình dục và tâm lý chỉ với người vợ hoặc người chồng của mình mà thôi nhằm thực hiện thể hiện trách nhiệm đối với gia đình Để góp phần xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ hạnh phúc và bền vững Bên cạnh mang lại sự tin tưởng của vợ và chồng đối với nhau tạo không khí gia đình hạnh phúc, ấm áp cho người vợ (chồng) mình, đồng thời xây dựng nên một bức tường vững chắc góp phần làm giảm sự vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng cũng như phòng tránh căn bệnh thế kỉ AIDS mà một trong những nguyên nhân là do vi phạm nghĩa vụ chung thủy

Với mục đích của hôn nhân dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là xây dựng gia đình no

ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững và để đạt được mục đích đó thì điều cơ bản là hai người trong quan hệ hôn nhân phải yêu thương nhau, chung thủy với nhau, quý trọng nhau, chăm sóc giúp đỡ nhau cùng tiến bộ

Cơ sở xác lập quan hệ vợ chồng cũng có thể xuất phát từ tình yêu giữa nam và nữ

họ yêu thương nhau, hiểu nhau và thông cảm cho nhau và khi họ quyết định xác lập quan hệ hôn nhân và trở thành vợ chồng của nhau khi đó tình cảm yêu thương đó vẫn

Trang 30

được duy trì trong suốt thời kì hôn nhân Đó không chỉ đòi hỏi về pháp luật mà còn là yêu cầu của đạo đức Sự xuất phát từ tình yêu thương ấy mà vợ chồng giữ lòng chung thủy với nhau, tình cảm của họ trước sau như một Yêu thương không phải là điều kiện

đủ của chung thủy bởi tho F.Engesl: “ bản chất của tình yêu là không thể chia sẻ”, thế nhưng trong quan hệ đạo đức Việt Nam thì yêu thương không phải là điều kiện cần của chung thủy vì nếu như không còn yêu thương nhau thì vợ chồng vẫn có thể chung thủy đối với nhau Chính hai yếu tố yêu thương và chung thủy đã giúp cho vợ chồng chung sống hạnh phúc và la cơ sở duy trì quan hệ hôn nhân bền vững

Bên cạnh đó quy định về nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng thể hiện quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong mối quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, vì pháp luật quy định đây là nghĩa vụ của cả vợ và chồng mà không phải là nghĩa vụ riêng của vợ hoặc của chồng như quan niệm trong thời phong kiến nữa Nghĩa vụ này được pháp luật quy định và xem như là một trách nhiệm của vợ chồng đối với nhau theo quan niệm về mặt đạo đức Sự quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền bình đẳng giữa vợ, chồng trong các quan hệ nhân thân, đồng thời ngăn chặn vợ chồng có quan hệ nam-nữ bất chính bảo vệ hạnh phúc gia đình

2.3 Giới hạn của nghĩa vụ chung thủy và sự vi phạm nghĩa vụ chung thủy

Dẫu sao sự không chung thủy không nhất thiết phải gắn tới mối quan hệ xác thịt Nếu coi thái độ không chung thủy như là sự thách thức, sự coi thường đối với lòng tin, lòng tận tụy trong quan hệ hỗ tương, thì việc một người công nhiên yêu một người khác (dù không có quan hệ xác thịt) trong khi vợ (chồng) mình vẫn hết lòng với mình, với gia đình, cũng có thể là biểu hiện của sự không chung thủy

Với quy định của luật xuất phát từ nguyên tắc mệnh lệnh bắt buộc thì vợ chồng không thể thỏa thuận về việc giới hạn nghĩa vụ yêu thương và chung thủy (đúng hơn là giới hạn của nghĩa vụ chung thủy), nói rõ hơn, vợ chồng không được phép giao kết rằng mỗi người đều có quyền tự do quan hệ xác thịt với người khác, tự do yêu thương người khác không phải chồng hoặc vợ mình Luật hiện hành không có quy định cụ thể

Ngày đăng: 03/10/2015, 14:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm