1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

pháp luật việt nam về bảo hộ người việt nam ở nước ngoài thực trạng và phương hướng hoàn thiện

57 466 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ của lãnh sự là một trong những hoạt động quản lý nhà nước quan trọng trong lĩnh vực đối ngoại nhằm mục đích bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, công dân, pháp nhân

Trang 1

PHÁP LUẬT VIỆT NAM

VỀ BẢO HỘ NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Ths KIM OANH NA LÝ VĂN PHÚC

Bộ Môn: Luật Thương Mại MSSV: 5116011

Lớp: Luật Thương Mại-Khóa 37

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Cần Thơ, ngày tháng 11 năm 2014

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN

Cần Thơ, ngày tháng 11 năm 2014

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI VIỆT NAM VÀ BẢO HỘ NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI 3

1.1 Khái niệm về người Việt Nam và bảo hộ Người Việt Nam ở nước ngoài 3

1.1.1 Khái niệm người Việt Nam ở nước ngoài 3

1.1.2 Bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài 4

1.2 Mục đích, ý nghĩa của việc bảo hộ Người Việt Nam ở nước ngoài 6

1.2.1 Mục đích của việc bảo hộ Người Việt Nam ở nước ngoài 6

1.2.2 Ý nghĩa của việc bảo hộ Người Việt Nam ở nước ngoài 7

1.3 Khái quát tình hình Người Việt Nam ở nước ngoài 8

1.3.1 Tình hình làm ăn, sinh sống, học tập, du lịch của người Việt Nam ở nước ngoài 8

1.3.2 Người Việt Nam có quốc tịch quốc gia sở tại hoặc quốc gia khác 10

1.4 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển các quy định về bảo hộ công dân ở nước ngoài 11

1.4.1 Trong pháp luật quốc tế 11

1.4.2 Trong pháp luật Việt Nam 15

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI 20

2.1 Cơ sở pháp lý về bảo hộ công dân 20

2.1.1 Những quy định của pháp luật quốc tế 20

2.1.1.1 Những quy định trong các Công ước quốc tế 20

2.1.1.2 Hiệp định giữa Việt Nam và quốc gia sở tại 22

2.1.2 Những quy định của pháp luật Việt Nam 24

2.1.2.1 Hiến pháp 24

2.1.2.2 Luật cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài 26

2.2 Quy định trách nhiệm của cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài 29

2.2.1 Bảo hộ lãnh sự 29

2.2.2 Thực hiện việc thăm lãnh sự 29

2.2.3 Cấp đổi giấy tờ có giá trị xuất cảnh, nhập cảnh 30

2.2.4 Cấp thị thực 31

2.2.5 Công chứng và chứng thực 31

2.2.6 Đăng ký và quản lý hộ tịch 32

Trang 5

2.2.7 Hợp pháp hóa lãnh sự và chứng nhận lãnh sự 32

2.2.8 Ủy thác tư pháp 33

2.2.9 Nhiệm vụ lãnh sự về thừa kế 34

2.3 Quy định trách nhiệm của Nhà nước Việt Nam 34

2.3.1 Cục lãnh sự 34

2.3.2 Sở Ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh 36

2.3.3 Cơ quan ngoại vụ các Tỉnh, Thành phố 36

2.4 Quy định trách nhiệm của quốc gia sở tại 37

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG, NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN VÀ GIẢI PHÁP BẢO HỘ NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI 38

3.1 Thực trạng bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài tại một số quốc gia 38

3.2 Những thuận lợi và khó khăn trong việc bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài 44

3.2.1 Những thuận lợi trong việc bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài 44

3.2.2 Những khó khăn trong việc bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài 45

3.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện vấn đề bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài 47 3.3.1 Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật 47

3.3.2 Kiến nghị nhằm hoàn thiện thực tiễn bảo hộ công dân 48

KẾT LUẬN 50 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngay từ xưa, trong lịch sử phát triển, các quốc gia đã có mối quan hệ hợp tác với nhau trong lĩnh vực đời sống, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…để cùng tồn tại và phát triển Đây được coi là nhu cầu tất yếu, bởi vì nếu không có mối quan hệ qua lại thì sẽ dẫn đến suy yếu Xuất phát từ nhu cầu khách quan này, giữa các quốc gia đã cử cơ quan đại diện của mình đến quốc gia khác để thiết lập quan hệ ngoại giao và cùng giải quyết các vấn đề phát sinh Nhu cầu này ngày càng cao nên đã hình thành các cơ quan đối ngoại ở các quốc gia như cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, phái đoàn thường trực của các nước tại các tổ chức quốc tế…Làm thế nào để các cơ quan đại diện ngoại giao thực hiện tốt nhiệm vụ của mình một cách hiệu quả, nhanh chóng, bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của Nhà nước, công dân, pháp nhân,…trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, bình đẳng quốc gia, tôn trọng pháp luật của nước cử và nước nhận đại diện, pháp luật quốc tế mà các bên là thành viên Để giải quyết vấn đề đó, Công ước Viên về quan hệ lãnh sự 1963 (viết tắt là Công ước Viên 1963) đã được thông qua, theo đó tại Điều 5 quy định về chức năng của lãnh sự Đây là Công ước có giá trị cao nhất trong quan hệ lãnh sự đã được hầu hết các nước tham gia

Việt Nam là một quốc gia độc lập có chủ quyền, thế nên Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế phát triển của quan hệ quốc tế Trong những năm qua, chúng ta đã từng bước chủ động hội nhập ngày càng toàn diện với thế giới trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh

tế quốc tế Vì thế vai trò và uy tín của nước ta ngày càng được khẳng định và nâng cao trên trường quốc tế Nhiệm vụ của lãnh sự là một trong những hoạt động quản lý nhà nước quan trọng trong lĩnh vực đối ngoại nhằm mục đích bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, công dân, pháp nhân Việt Nam trong quan hệ với phía nước ngoài, phát triển thúc đẩy các quan hệ hợp tác chính trị, kinh tế, lao động, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, giáo dục…giữa Việt Nam và các nước Việt Nam đã tham gia Công ước Viên 1963, bên cạnh

đó, Việt Nam cũng ban hành những văn bản có liên quan để điều chỉnh quan hệ này, trong

đó quan trọng nhất là Luật cơ quan đại diện Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài năm 2009 Và để nắm rõ hơn về các quy chế pháp lý mà pháp luật quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam quy định nhiệm vụ lãnh sự, bảo hộ công dân Việt Nam ở

nước ngoài là như thế nào Vì thế, người viết đã chọn đề tài “Pháp luật Việt Nam về bảo

hộ người Việt Nam ở nước ngoài-Thực trạng và phương hướng hoàn thiện” làm đề tài

luận văn tốt nghiệp của mình

Trang 7

2 Mục đích nghiên cứu đề tài

Việc tìm hiểu và phân tích những quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế về hoạt động bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài, người viết muốn làm rõ những quy định của pháp luật về bảo hộ công dân, đặc biệt là bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài Từ đó, giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về những quy định về hoạt động bảo hộ công dân trong luật pháp quốc tế nói chung và pháp luật Việt Nam nói riêng

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Với đề tài này, người viết đã phân tích những quy định của Công ước Viên 1963 về quan hệ lãnh sự, Luật cơ quan đại diện Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài 2009 Người viết cũng đã hệ thống lại những khái niệm cơ bản về bảo hộ công dân Bên cạnh đó là nêu lên thực trạng trong việc bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài; những thuận lợi và hạn chế của pháp luật, đồng thời nêu lên những kiến nghị, đề xuất của người viết

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Khi phân tích vấn đề này người viết kết hợp nghiên cứu, phân tích, so sánh, đánh giá những quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam Chủ yếu dựa vào kiến thức có được trong quá trình học tập, nghiên cứu của bản thân và dựa vào các nguồn tài liệu như: văn bản pháp luật quốc tế và Việt Nam, giáo trình, tập bài giảng, sách, báo, tạp chí nghiên cứu quốc tế, các thông tin từ truy cập Internet…

5 Bố cục đề tài

Lời nói đầu

Nội dung gồm 3 chương:

 Chương 1: Khái quát chung về người Việt Nam và bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài

 Chương 2: Pháp luật về bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài

 Chương 3: Thực trạng, những thuận lợi, khó khăn và giải pháp bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài

Kết luận

Trang 8

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI VIỆT NAM

VÀ BẢO HỘ NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI 1.1 Khái niệm về người Việt Nam và bảo hộ Người Việt Nam ở nước ngoài

1.1.1 Khái niệm người Việt Nam ở nước ngoài

Dân cư là một trong những bộ phận cấu thành nên một quốc gia, dân cư của một quốc gia không chỉ bao gồm công dân của nước đó mà còn có người có quốc tịch nước ngoài, người có hai hay nhiều quốc tịch và người không quốc tịch Sở dĩ có tình trạng công dân của một nước này lại làm ăn, sinh sống ở một nước khác là do có hiện tượng di dân

Di dân không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên mà là sản phẩm của đời sống kinh tế, xã hội, an ninh, chính trị, văn hoá trong từng thời đại Ngày nay, di dân thế giới là hệ quả của quá trình toàn cầu hoá Dòng người Việt Nam di cư ra nước ngoài cũng không nằm ngoài quy luật ấy Người Việt Nam ra nước ngoài định cư từ rất sớm, cư trú ở những địa bàn khác nhau về địa lý và chính trị Từ đó đã tạo nên cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đa dạng và phức tạp

Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì vấn đề quốc tịch hết sức quan trọng Việc họ còn hay không còn giữ quốc tịch Việt Nam cũng như đã được nhập quốc tịch nước ngoài hay chưa có ảnh hưởng trực tiếp đến địa vị pháp lý của họ

Trước đây, thuật ngữ “Việt kiều”, “Người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài”,

“Người Việt Nam ở nước ngoài” được sử dụng để chỉ khái niệm “Người Việt Nam định cư

ở nước ngoài” Nghị định số 84-HĐBT ngày 28 tháng 7 năm 1983 của Hội đồng Bộ trưởng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Việt Kiều Trung ương là văn bản đầu tiên sử dụng thuật ngữ “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài” Từ đó đến nay thuật ngữ này được dùng thống nhất ở các văn bản pháp luật khác

Theo nghị định 138/2006/NĐ-CP quy định “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài

là người có quốc tịch Việt Nam và người gốc Việt Nam đang cư trú, làm ăn, sinh sống lâu

Khái niệm này còn được khẳng định lại tại Luật quốc tịch Việt Nam “Người Việt

Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống

Như vậy, theo khái niệm trên, người Việt Nam định cư ở nước ngoài bao gồm hai loại là công dân Việt Nam: là những người có quốc tịch Việt Nam; Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài

Trang 9

1.1.2 Bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài

Bảo hộ công dân là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền

và lợi ích của công dân nước mình ở nước ngoài, khi các quyền và lợi ích này bị xâm hại ở nước ngoài đó, đồng thời bao gồm cả các hoạt động giúp đỡ về mọi mặt mà nhà nước dành cho công dân của nước mình đang ở nước ngoài, kể cả trong trường hợp không có hành vi xâm hại nào tới các công dân của nước này

Theo định nghĩa trên thì bảo hộ công dân có thể bao gồm các hoạt động có tính công vụ như cấp phát hộ chiếu, giấy tờ hành chính hoặc các hoạt động mang tính giúp đỡ, như trợ cấp tài chính cho công dân khi họ gặp khó khăn, phổ biến các thông tin cần thiết cho công dân nước mình tìm hiểu về nước mà họ có dự định tới vì nguyện vọng cá nhân cho đến các hoạt động có tính phức tạp hơn như thăm hỏi lãnh sự công dân bị bắt, bị giam hoặc tiến hành các hoạt động bảo vệ và đảm bảo cho công dân nước mình được hưởng những quyền lợi và lợi ích tối thiểu theo quy định của nước sở tại hoặc theo pháp luật quốc

tế3

Việc quy định cơ quan nhà nước nào có thẩm quyền bảo hộ công dân là hoàn toàn

do luật quốc gia của nước hữu quan quy định Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều giao nhiệm vụ theo dõi, thực hiện bảo hộ công dân cho Bộ Ngoại giao Bộ Ngoại giao là cơ quan giám sát các hoạt động bảo hộ công dân của các cơ quan đại diện của nước mình ở nước ngoài đồng thời là cơ quan trực tiếp thực hiện các biện pháp nhằm đảm bảo việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các quy định pháp luật mới về bảo hộ ngoại giao, đảm bảo việc bảo hộ ngoại giao luôn đạt hiệu quả Bộ Ngoại giao chịu trách nhiệm trước chính phủ về các hoạt động bảo hộ công dân trong nước cũng như ngoài nước Trong trường hợp vấn đề bảo hộ ngoại giao cần giải quyết có liên quan tới các bộ, các ngành khác trong chính phủ thì bộ ngoại giao có trách nhiệm phối hợp hoạt động với các bộ, ngành có liên quan để giải quyết và báo cáo lại với Quốc hội4

Theo nguyên tắc chung, việc bảo hộ công dân nước mình ở nước ngoài thuộc về các

cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của nước cử đại diện tại nước nhận đại diện Việc bảo

hộ công dân do các cơ quan đại diện thực hiện được ghi nhận trong các Công ước Viên

1961 về quan hệ ngoại giao, Công ước Viên 1963 về quan hệ lãnh sự

Theo Công ước Viên 1961 về quan hệ ngoại giao thì chức năng chính của một đoàn

ngoại giao có chức năng là “Bảo vệ quyền lợi của Nước cử đi và của công dân Nước cử đi

nước, quyền và lợi ích chính đáng của tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và của công dân Việt Nam tại nước tiếp nhận, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để họ thường xuyên giữ quan

hệ gắn bó với gia đình, quê hương, đóng góp thiết thực cho sự nghiệp xây dựng đất nước

3 Ts Lê Mai Anh (chủ biên): Giáo trình Luật quốc tế, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, tr.124

4 Ts Lê Mai Anh (chủ biên): Giáo trình Luật quốc tế, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, tr.125

5 Điểm b, Khoản 1 Điều 3 Công ước Viên 1961

Trang 10

Thẩm quyền này còn thuộc về cơ quan lãnh sự Theo Công ước Viên 1963 thì các chức năng lãnh sự đối với hoạt động bảo hộ công dân được quy định gồm có: bảo vệ tại nước tiếp nhận lãnh sự các quyền lợi của nước lãnh sự và của người dân nước đó, cá nhân cũng như pháp nhân trong phạm vi luật quốc tế quy định; cứu trợ và giúp đỡ những công dân, cá nhân cũng như pháp nhân của nước cử lãnh sự; bảo vệ lợi ích của người dân, cá nhân cũng như pháp nhân của nước cử lãnh sự trong trường hợp có thừa kế di sản trên lãnh thổ nước tiếp nhận lãnh sự, theo đúng luật lệ của nước tiếp nhận lãnh sự; trong phạm vi luật lệ của nước tiếp nhận lãnh sự cho phép, bảo vệ quyền và lợi ích của những vị thành

hành các hoạt động bảo hộ công dân, các cơ quan chức năng có thẩm quyền phải dựa trên

cơ sở pháp lý là các văn bản pháp luật quốc gia về bảo hộ công dân và các điều ước quốc

tế hữu quan về bảo hộ công dân

Tùy thuộc vào từng điều kiện hoàn cảnh, vụ việc cụ thể, quốc gia sẽ tiến hành các biện pháp bảo hộ công dân thích hợp từ đơn giản đến phức tạp, từ các biện pháp hành chính, pháp lý đến các biện pháp tư pháp đơn thuần

Các biện pháp hành chính, pháp lý thường được áp dụng để hỗ trợ, giúp đỡ công dân ở nước ngoài như cấp hộ chiếu, hỗ trợ tiền, hiện vật tiếp nhận đăng kí khai sinh, khai

tử, kết hôn, hướng dẫn các thủ tục pháp lý liên quan đến lý lịch tư pháp, chứng nhận quốc tịch, kế thừa tài sản tại nước sở tại, bảo vệ người chưa thành niên, người không đủ năng lực hành vi dân sự, đặc biệt trong trường hợp lập sự giám hộ hoặc ủy thác tư pháp tài sản đối với họ; bố trí đại diện cho công dân mình trước Tòa án và các cơ quan khác của nước

sở tại

Ngoài các biện pháp nói trên, đối với những vụ việc phức tạp, quốc gia có thể thực hiện các biện pháp ngoại giao như gửi công hàm đề nghị, phản đối hành vi của nước sở tại; hoặc đưa vụ việc ra thảo luận, giải quyết trước các cơ quan tổ chức quốc tế, giải quyết bằng Tòa án công lý quốc tế, trọng tài quốc tế, trừng phạt, cấm vận kinh tế Ở Việt Nam, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta trong công tác bảo hộ công dân và pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài, Nhà nước ta đã ký kết hoặc tham gia nhiều điều ước quốc tế, thể chế hóa nhiều văn bản pháp luật Đến nay, Chính phủ đã đặt khoảng 100 cơ quan đại diện ở khắp các châu lục Bộ Ngoại giao quán triệt công tác bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài là một trong những trọng tâm công tác của Bộ và của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài Bộ Ngoại giao đã phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

rà soát ký kết Hiệp định lao động với các nước: Lào năm 1995, Oman năm 2007, Qatar năm 2008, Liên Bang Nga năm 2008, Kazakstan năm 2008, UAE năm 2009, Canada năm 2010… Đây là những hành lang pháp lý quan trọng, là cơ sở để bảo hộ quyền và lợi ích

6 Điều 3 Công ước Viên 1963

Trang 11

chính đáng của người lao động Việt Nam ở nước ngoài7 Với bộ máy này, công tác bảo hộ, giúp đỡ công dân ở nước ngoài đã và chắc chắn sẽ đạt được nhiều kết quả tích cực

Trong nghị quyết của Bộ Chính trị về người Việt Nam ở nước ngoài, Đảng ta nhấn mạnh: Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi và hỗ trợ đồng bào ổn định cuộc sống, yên tâm làm ăn sinh sống, hội nhập vào đời sống xã hội nước sở tại, đồng thời duy trì quan hệ gắn bó với quê hương, đất nước; đổi mới và đa dạng hóa các phương thức vận động, các hình thức tập hợp với mục đích đoàn kết người Việt Nam ở nước ngoài quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, khuyến khích những hoạt động hướng về Tổ quốc của bà con, nhất là của thế hệ trẻ trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với pháp luật và phong tục tập quán nước sở tại; hỗ trợ các dự án của người Việt Nam ở nước ngoài nhằm mục tiêu trên

Theo Hiến pháp “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận không tách rời

diện ở nước ngoài có trách nhiệm thi hành các biện pháp cần thiết, phù hợp với pháp luật của nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ người Việt Nam ở nước ngoài

1.2 Mục đích, ý nghĩa của việc bảo hộ Người Việt Nam ở nước ngoài

1.2.1 Mục đích của việc bảo hộ Người Việt Nam ở nước ngoài

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài giữ mối quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước Các cơ quan nhà nước, cơ quan đại diện có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi chính đáng phù hợp với pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia sở tại, với mục đích:

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và pháp nhân nước mình tại nước tiếp nhận lãnh sự trong phạm vi pháp luật quốc tế

Cấp hộ chiếu và giấy thông hành cho công dân nước mình; cấp thị thực và các giấy

tờ cần thiết khác cho những người muốn đến nước cử lãnh sự

Thực hiện chức năng hành chính và công chứng đối với công dân và pháp nhân của quốc gia mình

Thăm hỏi, tiếp xúc và áp dụng các biện pháp bảo đảm đại diện pháp lý cho công dân nước mình bị bắt, bị tạm giam, tạm giữ…ở nước sở tại

Tuyên truyền, giới thiệu chính sách và pháp luật Việt Nam liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài

động, hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài

7 Sở ngoại vụ tỉnh An Giang: Bảo hộ công dân Chủ động, Nhanh chóng và Hiệu quả

http://songoaivu.angiang.gov.vn/wps/portal/!ut/p/c4/04_SB8K8xLLM9MSSzPy8xBz9CP0os3j3oBBLczdTEwN3Q1d DA09vCycXF7NAYx8nE_2CbEdFACIuvEM!/?WCM_GLOBAL_CONTEXT=/wps/wcm/connect/songoaivu2/song oaivusite/lanhsu/tinlanhsu/fgfgfgffgfgf, [truy cập ngày 20-8-2014]

8 Khoản 1 Điều 18 Hiến pháp 2013

Trang 12

Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền về chính sách, biện pháp thích hợp nhằm duy trì

sự gắn bó của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với quê hương, đất nước; khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài giữ gìn bản sắc dân tộc, tham gia hoạt động trên các lĩnh vực đời sống xã hội của đất nước

nhập với xã hội tại quốc gia tiếp nhận; kiến nghị biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người Việt Nam, ngăn ngừa hành động phân biệt đối xử đối với cộng đồng người Việt Nam ở quốc gia tiếp nhận

Tổ chức hoặc phối hợp tổ chức hoạt động văn hóa phục vụ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài

chức, cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài có thành tích xuất sắc trong hoạt động xây dựng cộng đồng và đóng góp xây dựng đất nước

1.2.2 Ý nghĩa của việc bảo hộ Người Việt Nam ở nước ngoài

Bảo hộ công dân chủ yếu mang tính chất hành chính - pháp lý quốc tế Được thiết lập trong hoạt động đối ngoại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức nước mình ở quốc gia khác

Trước tiên, bảo hộ công dân thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa công dân và Nhà nước, khẳng định rằng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam Xác định địa vị pháp lí của người Việt Nam ở nước ngoài dựa trên pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế cũng như pháp luật tại quốc gia sở tại Tạo tiền đề cho các mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia

Bảo hộ công dân còn là cầu nối cho hợp tác phát triển kinh tế trong mối quan hệ quốc tế giữa các quốc gia Góp phần giới thiệu văn hóa quốc gia ra trường quốc tế, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước, củng cố thêm niềm tự hào dân tộc và tinh thần yêu nước của người Việt Nam ở nước ngoài

Không những thế, đây còn là điều kiện hợp tác quốc tế về khoa học, kỹ thuật, giáo dục Tạo điều kiện để cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hội nhập và thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật nước sở tại

Đảng và Nhà nước mong muốn, khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài chăm

lo xây dựng cuộc sống, làm ăn thành đạt, nêu cao tinh thần tự trọng và tự hào dân tộc, giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc Việt Nam, đoàn kết đùm bọc, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, giữ mối quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước bà con sinh sống với nước nhà, tùy theo khả năng và điều kiện của mỗi người góp phần xây dựng quê hương đất nước, chủ động đấu tranh với các biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc

Trang 13

1.3 Khái quát tình hình Người Việt Nam ở nước ngoài

1.3.1 Tình hình làm ăn, sinh sống, học tập, du lịch của người Việt Nam ở nước ngoài

Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã dần hoàn thiện hệ thống pháp luật để giúp

đỡ, tạo điều kiện thuận lợi đối với người Việt Nam ở nước ngoài, như: Nghị quyết 08, ngày 29/11/1993 của Bộ Chính trị về chính sách và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Chỉ thị số 55-CT/TW, ngày 23/3/1995 của Ban Bí thư Trung ương Đảng hướng dẫn triển khai thực hiện Nghị quyết 08, Nghị quyết số 36/NQ-TW, ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị, về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Quyết định số 110/QĐ-TTg, ngày 23/6/2004 của Thủ tướng Chính phủ thông qua Chương trình hành động của Chính phủ nhằm thực hiện Nghị quyết 36 Chính phủ cũng đã quyết định đổi tên Ban Việt kiều Trung ương thành Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài như một cơ

quan quản lý trực thuộc Chính phủ

Nghị quyết 36/NQ-TW của Bộ Chính trị khẳng định: “Người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước ta với các nước” Để huy động được hết mọi tiềm năng của người Việt Nam ở nước ngoài, Nghị quyết 36 còn nhấn mạnh: “Đảng và Nhà nước mong muốn, khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài hội nhập và thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp nước sở tại, chăm lo xây dựng cuộc sống, làm ăn thành đạt, nâng cao tinh thần tự trọng và tự hào dân tộc, giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc, đoàn kết, đùm bọc yêu thương, giúp

đỡ lẫn nhau, giữ mối quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước bà con sinh sống với nước nhà, tùy theo khả năng và điều kiện của mỗi người góp phần xây dựng quê hương đất nước, chủ động đấu tranh với

các biểu hiện cố tình đi ngược lại với lợi ích chung của dân tộc”

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện có gần 4 triệu người làm ăn, sinh sống rải rác ở các nước và vùng lãnh thổ, trong đó hơn 80% ở các nước công nghiệp phát triển, như Bắc Mỹ, Oxtraylia, Tây Âu, Nga và các nước Đông Âu, các nước Châu Á như: Hàn Quốc, Thái Lan, Campuchia, Lào, Trung Quốc Phần đông bà con có cuộc sống ngày càng ổn định và hòa nhập vào xã hội nơi cư trú, có vị trí nhất định trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội ở nước sở tại Cuộc sống cũng như các hoạt động khác nhau của cộng đồng Việt kiều sẽ có ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau tới mối quan hệ giữa các nước sở tại với Việt Nam Bên cạnh đó, trong những năm qua, hàng trăm ngàn người Việt Nam đã ra nước ngoài lao động, học tập, tu nghiệp, đoàn tụ gia đình, hình thành các cộng đồng người

Việt Nam đáng kể ở một số địa bàn như: Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia,…

So với cộng đồng ngoại kiều khác, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một cộng đồng trẻ, năng động, nhanh chóng hòa nhập vào xã hội nước sở tại và có xu hướng định cư lâu dài ở những nước như Mỹ, Oxtraylia, Canađa và các nước Tây Âu Trong khi

Trang 14

phần lớn người Việt Nam ở Đông Âu và Nga vẫn coi cuộc sống ở nước sở tại là tạm cư với mục đích làm ăn kinh tế là chính, khi có điều kiện sẽ trở về nước sinh sống Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là cộng đồng khá phức tạp về thành phần xã hội, phức tạp

về xu hướng chính trị và đa dạng về nghề nghiệp, tôn giáo… bị chi phối, phân hóa bởi sự khác biệt về giai tầng xã hội, hoàn cảnh ra đi khỏi đất nước, địa bàn nơi cư trú và đặc biệt

là chính kiến rất khác nhau, đa dạng Tính liên kết, gắn bó ở một số cộng đồng không cao,

do sinh sống phân tán, rất khó tập trung liên kết Ở một số nước, chính quyền có chủ trương bố trí cho cộng đồng ngoại kiều sinh sống phân tán, nhỏ lẻ để dễ quản lý Việc duy trì tiếng mẹ đẻ và giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống đang là thách thức lớn đối với những thế hệ tiếp sau của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài Dù được coi là hòa nhập thành đạt nhanh ở Mỹ và phương Tây, nhưng tiềm lực kinh tế của cộng đồng người Việt còn hạn chế, thu nhập nhìn chung còn thấp so với mức bình quân của người bản xứ

Qua nhiều cách tiếp cận khác nhau cho thấy, tiềm lực chất xám, trí tuệ của cộng đồng người Việt ở nước ngoài là đáng kể, nhất là ở Bắc Mỹ, Tây Âu, Nga, Đông Âu Nhiều người Việt Nam ở nước ngoài có trình độ đại học, trên đại học và công nhân kỹ thuật bậc cao, có thông tin kiến thức cập nhật về khoa học và công nghệ, về kinh tế Tuy

nhiên, cũng cần thấy rằng chỉ số học vấn trung bình hiện nay của người Việt vẫn còn thấp

Trên thực tế, nhiều người Việt Nam ở nước ngoài đã đạt được các vị trí quan trọng trong các viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện, doanh nghiệp, các công ty quốc tế lớn Rõ ràng một thế hệ trí thức mới những người có nguồn gốc Việt Nam đang hình thành

và phát triển, chủ yếu ở Bắc Mỹ, Tây Âu, Oxtraylia, họ tham gia vào nhiều lĩnh vực khoa học công nghệ và kinh tế mũi nhọn, như: công nghệ thông tin và truyền thông, điện tử, vật liệu mới, công nghệ sinh học, chế tạo máy, tự động hóa, năng lượng nguyên tử, quản lý kinh tế, ngân hàng, chứng khoán…

Tuy nhiên, việc thu hút cũng như sự đóng góp của bà con vào công cuộc xây dựng đất nước, nhất là của giới trí thức chưa phản ánh đúng tiềm năng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài Nếu có cơ chế, chính sách phù hợp và có những biện pháp có hiệu quả trong công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài thì đội ngũ gần 4 triệu Việt kiều sẽ

là những cầu nối hết sức quan trọng không chỉ phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế

- xã hội của đất nước mà còn phục vụ cho cả việc tăng cường tình hữu nghị giữa nước Việt Nam với các nước khác trên thế giới, đặc biệt là phát huy vai trò của người Việt Nam ở nước ngoài trong việc tuyên truyền đường lối đối ngoại của Đảng và chủ trương đại đoàn kết dân tộc của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với bạn bè quốc tế

9 Bộ Ngoại giao Việt Nam: Cục Lãnh sự,

http://dicu.gov.vn/CMSPages/BaiViet/Default.aspx?IDBaiViet=1567 [truy cập ngày 15-8-2013

Trang 15

1.3.2 Người Việt Nam có quốc tịch quốc gia sở tại hoặc quốc gia khác

Tình hình quốc tịch của người Việt Nam định cư ở nước ngoài có thể xem xét theo các khu vực: các nước Đông Âu, các nước châu Á và các nước phương Tây

Ở các nước Đông Âu: cộng đồng người Việt Nam ở các nước Đông Âu được hình thành chủ yếu vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX Hầu hết họ sang Đông Âu để làm việc, học tập rồi ở lại hoặc một số khác thì đi theo con đường du lịch, thăm thân nhân Họ ra đi hợp pháp nhưng sau đó ở lại quá hạn và trở thành cư trú bất hợp pháp Do những nguyên nhân khác nhau như bị mất giấy tờ, không được cấp giấy tạm trú, không được phép đăng ký cư trú nên hiện có khoảng 80% người Việt Nam ở các nước này không có quy chế định cư hoặc giấy tờ hợp pháp Trong số còn lại có quy chế định cư và giấy tờ hợp pháp thì cũng chỉ có một số ít là có quốc tịch của nước sở tại Chính điều này

đã khiến cho cuộc sống của họ không ổn định và gặp nhiều khó khăn

Ở các nước châu Á: Các nước thuộc khu vực Đông Nam Á: Lào, Campuchia, Thái Lan…là những nước làng giềng lân cận với Việt Nam, do đó có khá đông người Việt Nam sang định cư tại các nước này Do chính sách của các nước sở tại đối với người nước ngoài không giống nhau nên địa vị pháp lý của người Việt Nam ở từng nước đó cũng khác nhau Chẳng hạn ở Lào, do được sự quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện của Chính phủ Lào nên cộng đồng người Việt ở Lào đã ổn định cuộc sống, được hưởng quy chế cư trú và hơn nửa trong số đó đã được nhập quốc tịch Lào Trong khi đó, tại Campuchia, địa vị pháp lý của người Việt Nam không rõ ràng, phần lớn không có giấy tờ tuỳ thân hợp pháp, chỉ có một

số lượng ít người Việt có quốc tịch Campuchia Chính vì vậy, cuộc sống của họ chưa thật

sự ổn định

Tại một số nước khác thuộc khu vực châu Á như Hàn Quốc, Đài Loan cũng có khá đông người Việt định cư Phần lớn trong số này là các cô dâu Việt lấy chồng người Hàn Quốc hoặc Đài Loan rồi theo chồng về nước định cư

Hôn nhân Việt - Hàn có xu hướng gia tăng đáng kể, số liệu thống kê theo thời gian cho thấy sự gia tăng nhanh chóng Trước năm 2004, số cuộc hôn nhân chỉ là 560, đến năm

2005 là 1.500, năm 2006 là 20.000, năm 2007 là 25.000 và tính đến cuối năm 2009 là 35.000 Số phụ nữ lấy chồng ở Hàn Quốc xin thôi quốc tịch Việt Nam năm 2007 là 273 trường hợp, năm 2008 là 543 trường họp Số liệu thống kê những năm gần đây về chuyển đổi quốc tịch chưa được thống kê đầy đủ Một số người hiện nay bị rơi vào tình trạng không quốc tịch do đã xin thôi quốc tịch Việt Nam nhưng chưa nhập quốc tịch hoặc bị từ chối nhập quốc tịch Hàn Quốc Hệ quả là quyền và lợi ích chính đáng của họ không được bên nào bảo hộ hoặc hỗ trợ khi cần thiết

Cùng với Hàn Quốc, Đài Loan là nơi có khá đông cô dâu Việt Nam sinh sống Tính đến tháng 06/2010 đã có trên 80.000 phụ nữ Việt Nam kết hôn với đàn ông Đài Loan Tại đây, các công ty môi giới hôn nhân với người nước ngoài hoạt động hợp pháp, được Chính

Trang 16

phủ cấp phép và thu phí môi giới khá cao Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến

sự thương mại hóa các cuộc hôn nhân Đài - Việt

Ở các nước phương Tây: Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tại các nước tư bản phát triển chiếm số lượng lớn nhất, khoảng 4/5 tổng số người Việt Nam ở nước ngoài trên toàn thế giới Người Việt Nam ở khu vực này phần đông đã có quốc tịch nước sở tại (70-80%) do thủ tục xin nhập quốc tịch các nước này ít phức tạp, không đòi hỏi phải xin thôi quốc tịch gốc, chỉ cần đáp ứng các tiêu chuẩn theo luật nhập cư là có thể được nhập tịch (ví dụ: Mỹ, Pháp…) Riêng đối với Cộng hoà liên bang Đức, pháp luật về quốc tịch của Đức quy định người nước ngoài muốn nhập quốc tịch Đức thì phải thôi quốc tịch mà

họ đang có Do đó, hàng năm, số người Việt Nam định cư ở Đức xin thôi quốc tịch Việt Nam khá nhiều

Như vậy, ngoại trừ số người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã xin thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước sở tại thì hiện nay, còn nhiều người vừa có quốc tịch Việt Nam, vừa có quốc tịch nước ngoài Việc họ vẫn còn quốc tịch Việt Nam khi đã được nhập quốc tịch nước ngoài là do nước mà họ định cư công nhận 2 quốc tịch hoặc chấp nhận 2 quốc tịch trên thực tế Trong khi đó, trong cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài này vẫn có một bộ phận chỉ có quốc tịch Việt Nam mà chưa được nhập quốc tịch nước sở tại Số này chủ yếu sống ở Nga, các nước Đông Âu và những người ra đi hợp pháp đang định cư ở các nước phương Tây Hầu hết họ đã được Việt Nam cấp đổi hộ chiếu trừ những người vượt biên hoặc ra đi bất hợp pháp Những người này đã được nước sở tại cấp giấy chứng nhận quy chế ngoại kiều, giấy thông hành tỵ nạn…Đến nay, một số người không có giấy tờ gì, sống bất hợp pháp hoặc rơi vào tình trạng không quốc tịch, nhất là ở Nga và các nước Đông Âu Bên cạnh đó, cũng có một bộ phận đã xin thôi quốc tịch Việt Nam để được gia nhập quốc tịch của nước sở tại như: Lào, Séc, Hàn Quốc, Đài Loan, Đức…

1.4 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển các quy định về bảo hộ công dân ở nước ngoài

1.4.1 Trong pháp luật quốc tế

Theo một số học giả luật quốc tế, vấn đề bảo hộ công dân là lĩnh vực mới trong quan hệ quốc tế, vì cho đến trước thế kỷ thứ XVIII, việc bảo hộ công dân ở nước ngoài chưa được đặt ra trong quan hệ quốc tế Đến thế kỷ XVIII, do quan hệ thương mại quốc tế phát triển mạnh mẽ nên nhu cầu về bảo hộ người nước ngoài và tài sản của họ mới xuất hiện trong quan hệ giữa các quốc gia Năm 1794 Hiệp ước Jay được ký kết giữa Mỹ và Anh đã mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ quốc tế - thời kỳ sử dụng các cơ quan trọng tài quốc tế như là phương tiện để giải quyết các tranh chấp thường xuyên phát sinh trong quá trình bảo hộ ngoại giao

Bước sang thế kỷ XIX, thương mại quốc tế và cách mạng khoa học kỹ thuật có bước phát triển đột biến Giao lưu giữa các thể nhân, pháp nhân của các quốc gia tăng lên

Trang 17

đáng kể Bảo hộ ngoại giao trở thành công cụ của các nước mạnh ở Châu Âu thường sử dụng để can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác ở Châu Mỹ La tinh, Châu Phi Trong giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, bảo hộ công dân ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quan hệ giữa các quốc gia, đặc biệt giữa các nước châu Âu với các nước Châu Phi-Mỹ La tinh Trong nhiều trường hợp bảo hộ công dân đã dẫn đến can thiệp bằng vũ lực để giải quyết vấn đề tranh chấp Hàng loạt cơ quan trọng tài quốc tế ra đời theo điều ước quốc tế song phương trong khoảng thời gian trên

Sau khi Thế chiến lần thứ I kết thúc, cộng đồng quốc tế đã đưa vấn đề pháp điển hóa luật quốc tế, trong đó có các quy phạm về bảo hộ ngoại giao ra bàn hội nghị quốc tế tại Lahaye, bắt đầu từ ngày 13/03/1930 Tuy nhiên, Hội nghị đã không thể đưa ra tiếng nói chung Vì vậy, vấn đề bảo hộ ngoại giao chủ yếu được điều chỉnh tại các điều ước quốc tế song phương có liên quan và các tập quán quốc tế được hình thành và áp dụng rộng rãi trong vấn đề này

Trước hết, quyền công dân cũng là quyền con người, các quy định về bảo vệ quyền con người suy cho cùng vẫn dùng để bảo vệ quyền công dân Và khi thực hiện việc bảo vệ quyền công dân là đã thực hiện việc bảo hộ công dân ở nước ngoài

Những tư tưởng triết học về quyền con người ở Châu Âu thời kỳ Phục Hưng đã có ảnh hưởng quan trọng đến sự ra đời của những văn bản pháp luật về quyền con người ở một số nước của châu lục này, cũng như đến hai cuộc cách mạng nổi tiếng thế giới nổ ra vào cuối những năm 1700 ở Mỹ và Pháp Hai cuộc cách mạng này đã có những đóng góp rất to lớn vào sự phát triển của tư tưởng và quá trình lập pháp về quyền con người không chỉ ở hai nước Mỹ và Pháp mà còn trên toàn thế giới Trong cuộc cách mạng thứ nhất, năm

1776, mười ba thuộc địa ở Bắc Mỹ đã tuyên bố độc lập với đế chế Anh thông qua một văn bản có tên là Tuyên ngôn độc lập , trong đó khẳng định rằng : “… mọi người sinh ra đều bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Mặc dù không phải văn kiện pháp lý đầu tiên trên thế giới đề cập đến vấn đề này, tuy nhiên, Tuyên ngôn Độc lập 1776 của nước Mỹ có thể coi là sự xác nhận chính thức đầu tiên trên phương diện nhà nước về quyền con người Đánh giá về văn kiện này, Các Mác đã cho rằng, nước Mỹ

là nơi lần đầu tiên xuất hiện ý tưởng về nền cộng hoà dân chủ vĩ đại, nơi đã tuyên bố bản tuyên ngôn đầu tiên về quyền con người

Trong cuộc cách mạng thứ hai, vào năm 1789, nhân dân Pháp, mà chủ yếu là thợ thuyền, trí thức và một số thị dân, đã đứng lên lật đổ chế độ phong kiến, thành lập nền cộng hòa đầu tiên, đồng thời công bố bản Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền nổi tiếng của Pháp Điều 1 bản Tuyên ngôn này khẳng định : “Người ta sinh ra và sống tự do

và bình đẳng về các quyền …” Đặc biệt, không dừng lại ở những nguyên tắc, ý tưởng như Tuyên ngôn Độc lập 1776 của nước Mỹ, Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền 1789 đã xác định một loạt các quyền cơ bản của con người như quyền tự do và bình đẳng, quyền sở

Trang 18

hữu, được bảo đảm an ninh và chống áp bức, quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền không bị bắt giữ trái phép, quyền được coi là vô tội cho đến khi bị tuyên bố phạm tội, quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng, quyền tự do ngôn luận, quyền tham gia ý kiến vào công việc nhà nước…, đồng thời đề cập đến những biện pháp cụ thể nhằm bảo đảm thực hiện các quyền này Điều đó chứng tỏ những tư tưởng về quyền con người đã thẩm thấu một cách nhanh chóng và gây ra những biến động xã hội rất to lớn ở châu lục này Nó cũng chứng tỏ rằng, giai cấp tư sản đã nhận thấy, nắm lấy và tận dụng triệt để quyền con người như là một phương tiện hữu hiệu trong cuộc đấu tranh giành quyền lực với giai cấp phong kiến

Tuy nhiên, quyền con người chỉ thực sự nổi lên như một vấn đề ở tầm quốc tế từ những năm đầu của thế kỷ XIX, cùng với cuộc đấu tranh nhằm xoá bỏ chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ diễn ra rất mạnh mẽ và liên tục tới tận cuối thế kỷ đó và phong trào đấu tranh đòi cải thiện điều kiện sống cho người lao động và bảo vệ nạn nhân trong các cuộc xung đột vũ trang thế thới Vào năm 1864, Hội nghị ngoại giao quốc tế đầu tiên họp ở Giơnevơ (Thuỵ Sĩ) đã thông qua Công ước về cải thiện điều kiện của người bị thương trong các cuộc chiến trên trên bộ (Công ước Giơnevơ thứ I) Năm 1899, Hội nghị hoà bình quốc tế họp ở Lahaye (Hà Lan) đã thông qua Công ước về các luật lệ và tập quán trong chiến tranh Đây là những văn kiện đầu tiên của luật nhân đạo quốc tế - ngành luật mà tuy chỉ giới hạn trong việc bảo vệ những nạn nhân chiến tranh trong hoàn cảnh xung đột vũ trang, nhưng chứa đựng những giá trị và quy phạm có quan hệ chặt chẽ với luật quốc tế về quyền con người ở giai đoạn sau này

Vào những năm đầu của thế kỷ XIX, cùng với việc thành lập Hội quốc liên và Tổ chức Lao động quốc tế, quyền con người càng trở thành một vấn đề có tầm quốc tế rộng lớn Cả hai tổ chức này đã nâng nhận thức và các hoạt động về quyền con người lên một mức độ mới Tổ chức Lao động quốc tế, trong Điều lệ của mình, đã khẳng định, hoà bình trên thế giới chỉ có thể được thực hiện nếu được dựa trên cơ sở bảo đảm công bằng xã hội cho tất cả mọi người Trong Thoả ước của Hội quốc liên, các nước thành viên tuyên bố chấp nhận nghĩa vụ bảo đảm, duy trì sự công bằng và các điều kiện nhân đạo về lao động cho đàn ông, phụ nữ và trẻ em cũng như bảo đảm sự đối xử xứng đáng với những người bản xứ tại các thuộc địa của họ Cũng trong thời kỳ này, một loạt văn kiện khác của luật nhân đạo quốc tế đã được thuông qua trong hội nghị Lahaye, tại các Hội nghị của Hội Chữ Thập đỏ quốc tế (ICRC) và Hội Quốc liên, bổ sung những bảo đảm rộng rãi hơn với các quyền con người trong hoàn cảnh chiến tranh và xung đột vũ trang Cũng trong thời kỳ này, cuộc Cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới nổ ra ở nước Nga vào tháng 10 năm

1917, mở ra một chương mới trong lịch sử chính trị quốc tế, đồng thời tạo ra những biến chuyển quan trọng trong tư tưởng và thực tiễn về quyền con người Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trong những thập kỷ 1940 đến 1980 của thế kỷ trước, các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá được đề cao, và đặc biệt, các quyền độc

Trang 19

lập và tự quyết của các dân tộc được cổ vũ Đây là những quyền con người mà trước đó đã không hoặc rất ít được đề cập trên các diễn đàn quốc tế

Sau chiến tranh thế giới thứ II, việc Liên Hợp quốc ra đời, thông qua Hiến chương (24/10/1945), Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người (10/12/1948) và hai công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và kinh tế, xã hội, văn hoá (năm 1966) đã chính thức khai sinh ra ngành luật quốc tế về quyền con người, đặt nền móng cho việc tạo dựng một nền văn hoá quyền con người, nền văn hoá mới và chung của mọi dân tộc trên trái đất Mặc dù ngay sau khi Liên Hợp quốc được thành lập cho đến cuối thập kỷ 1970, cuộc Chiến tranh lạnh trên thế giới phần nào ảnh hưởng đến những nỗ lực quốc tế trên lĩnh vực này, song cho đến ngày nay, một hệ thống hàng trăm văn kiện quốc tế về quyền con người

đã được thông qua, một cơ chế quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người đã được hình thành, biến quyền con người thành một trong các yếu tố chính trị chi phối các quan hệ quốc tế

Hội nghị thế giới về quyền con người năm 1993 đánh dấu một bước ngoặt trong những nỗ lực thúc đẩy các quyền con người trên thế giới sau những trì trệ ở thời kỳ “Chiến tranh lạnh” Hội nghị đã khẳng định mối liên hệ không thể tách rời giữa dân chủ, phát triển

và quyền con người cũng như giữa các quyền con người về dân sự, chính trị và kinh tế, xã hội, văn hoá Hội nghị đã thiết lập “một khuôn khổ mới cho việc đối thoại, hợp tác và phối hợp của cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực quyền con người” mà cho phép thúc đẩu một cách thực sự hiệu quả các quyền con người ở tất cả các cấp độ địa phương, quốc gia khu vực và quốc tế Tại hội nghị này, các đại biểu đã nhất trí thông qua Tuyên bố Viên kèm theo Chương trình hành động chung về quyền con người, với các mục tiêu rất cụ thể, trong

đó đưa ra những biện pháp mới mang tính lịch sử để thúc đẩy và bảo vệ các quyền của phụ

nữ, trẻ em, người bản địa và để tăng cường năng lực của hệ thống Liên hợp quốc trong việc giám sát sự tuân thủ các chuẩn mực quốc tế về quyền con người trên thế giới…

Cùng với Hội nghị Viên, những phát triển gần đây trên lĩnh vực quyền con người bao gồm việc thành lập các toà án hình sự quốc tế lâm thời và thường trực để xét xử các tội

ác chiến tranh, tội ác chống nhân loại, tội diệt chủng và tội xâm lược và việc thành lập Hội Đồng Liên Hợp quốc về quyền con người (năm 2006, thay thế cho Uỷ ban của Liên hợp quốc về quyền con người trước đó) đã làm cho cuộc đấu tranh vì quyền con người thực sự phát triển trên phạm vi toàn cầu với một cơ sở pháp lý vững chắc, được mở rộng không ngừng cả về nội dụng và mức độ bảo đảm Song song và làm nền tảng cho tiến trình phát triển đó, dòng tư tưởng, lý thuyết về quyền con người cũng ngày càng được củng cố và phát triển, đi sâu làm rõ những khía cạnh thực tiễn của quyền con người, biến quyền con người trở thành một trong những khái niệm được đề cập, chấp nhận và cổ vũ một cách rộng khắp, thường xuyên và nồng nhiệt nhất trong đời sống hiện nay của nhân loại

Trang 20

1.4.2 Trong pháp luật Việt Nam

Hiến pháp 1946

Nhận thức rõ tầm quan trọng của bản hiến pháp, chỉ sau ngày tuyên bố độc lập,

ngày 3/09/1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Hồ Chủ tịch đã đưa ra sáu nhiệm vụ, trong đó có việc ban hành hiến pháp Dự thảo hiến pháp được thông qua tại

kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I ngày 08/11/1946 Bản hiến pháp này gồm 7 chương, trong

đó chương đề cập về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân dược đặt ở vị trí thứ 2 sau chương về chính thể nhà nước Ở bản hiến pháp này, chưa xuất hiện chế định bảo vệ người Việt Nam ở nước ngoài, tuy nhiên trước đó không lâu, ngày 14/09/1946 đã có một Tạm

dân Pháp ở Việt Nam đều được hưởng quyền tự do cư trú như người bản xứ và tất cả các quyền tự do dân chủ” Tuy Tạm ước tồn tại không lâu, song cho thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài

Hiến pháp 1959

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa, miền Nam tiếp tục cách mạng dân chủ Hiến pháp 1946, theo nhận định của Đảng, đã hoàn thành nhiệm vụ của mình Vì vậy, Hiến pháp 1959 được quốc hội khóa I kỳ họp thứ 11 ngày 31/12/1959 thông qua Để phù hợp với chiến lược phát triển, chương II quy định về chế độ kinh tế và xã hội, chương về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được đặt ở vị trí thứ

3 Lần đầu tiên chế định bảo vệ người Việt Nam ở nước ngoài được ghi nhận trong hiến

duy nhất nhưng nó thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đến việc bảo vệ công dân của mình

ở nước ngoài Từ đây, tạo tiền đề cho sự phát triển trong quan hệ quốc tế, các cơ quan được thành lập để thực hiện quy định ấy

Hiến pháp 1980

Sau chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, chính vì tình hình ấy, đất nước cần một bản hiến pháp mới phù hợp hơn Hiến pháp 1980 được Quốc hội khóa VI kỳ thứ 7 ngày 18/12/1980, gồm 12 chương

Do đất nước vừa thống nhất nên bản hiến pháp này chủ yếu tập trung vào kinh tế, xã hội, bảo vệ đất nước…chính vì thế, quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định ở chương

còn hạn chế, có thể đây là thời kỳ tập trung phát triển kinh tế đất nước nhũng chế định chưa được rõ ràng, chỉ dừng lại ở khái niệm chung chung

Hiến pháp 1992

Sau một thời gian phát huy hiệu lực, nhiều quy định của hiến pháp 1980 không còn phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế - xã hội đất nước Tình hình thức tiễn đòi hỏi một

10 Điều 36 Hiến pháp 1959

Trang 21

bản hiến pháp mới, phù hợp hơn để thức đẩy sự tiến bộ xã hội, nâng cao đời sống của người dân Theo tinh thần của hiến pháp, các chế định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được coi trọng hơn (có 34 điều, Hiến pháp 1980 có 28 điều) Vấn đề bảo vệ người Việt Nam ở nước ngoài từ đó được nâng cao Không còn là quy định chung chung,

hiến pháp này khẳng định “Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam

được hưởng những quyền như công dân Việt Nam Có một điểm mới so với Hiến pháp

1980 là “Nhà nước tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ quan hệ gắn

bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước” So với các bản hiến pháp trước thì đây là một bước quan trọng đánh dấu sự hội nhập của Nhà nước trong mối quan hệ quốc tế Đến năm 2001, hiến pháp có sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn trên tinh thần nâng cao đời sống người dân, phát triển kinh tế - xã hội Có thêm một điểm mới trong

quan hệ bảo hộ đó là Nhà nước khẳng định rằng “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là

Hiến pháp 2013

Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội (khóa XIII) thông qua tại kỳ họp thứ 6, gồm 11 chương, 120 điều có hiệu lực từ ngày 01/01/2014, giảm 01 chương và 27 điều so với Hiến pháp năm 1992 Hiến pháp năm 2013 đã quy định bao quát hầu hết các quyền cơ bản về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa của con người Nếu như Hiến pháp năm 1992 quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định tại chương V thì ở Hiến pháp năm 2013 chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là chương II, chỉ xếp sau chương về chế độ chính trị Đây không phải là sự ngẫu nhiên hoặc

cơ học mà đây là một điểm mới, thể hiện tầm quan trọng của quyền con người trong Hiến pháp Hiến pháp đã làm rõ hơn các quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân; thể hiện rõ bản chất dân chủ của Nhà nước ta Trải qua 5 bản hiến pháp, những quy định về bảo vệ người Việt Nam ở nước ngoài từng bước hoàn thiện, chỉ rõ tầm quan trọng cũng như mối

quan hệ giữa công dân và Nhà nước

Luật quốc tịch năm 2008

Ngay từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Nhà nước ta

đã ban hành các văn bản pháp luật quy định về quốc tịch Tuy nhiên, ngày 28/6/1988, Luật quốc tịch Việt Nam đầu tiên mới được thông qua Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988 lần đầu tiên đã chính thức “luật hoá” mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân bằng quy định

“Công dân Việt Nam được Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm các

quyền công dân và phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội theo quy định của pháp luật Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam ở nước

11 Điều 75 Hiến pháp 1992

12 Điều 75 Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2001

Trang 22

ngoài”13 “Quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài” được quy định chi tiết tại Điều 1 Nghị định số 37/HĐBT ngày 05/02/1990 quy định chi tiết thi hành Luật quốc tịch Việt Nam Theo đó, “Quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài theo quy định tại Điều 2 Luật quốc tịch là những quyền lợi được pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết bảo đảm và những quyền lợi khác theo pháp luật và tập quán quốc tế, nếu việc hưởng những quyền lợi ấy không trái với những

nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”

Các quy định của Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo hộ của Nhà nước Việt Nam đối với công dân Việt Nam ở nước ngoài, phù hợp với chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn đó

Xuất phát từ những đòi hỏi về mặt pháp lý và thực tiễn, ngày 20/5/1998 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật quốc tịch Việt Nam năm

1998 thay thế Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988 Liên quan đến vấn đề người Việt Nam ở nước ngoài, Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 quy định: “Nhà nước Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài”, khác với Luật quốc tịch năm

1988 chỉ quy định việc bảo hộ đối với “Công dân Việt Nam ở nước ngoài” Như vậy, phạm vi bảo hộ của nhà nước Việt Nam đã được mở rộng Nhà nước Việt Nam sẽ bảo hộ không những đối với người có quốc tịch Việt Nam (công dân Việt Nam) mà còn bảo hộ cả với những người gốc Việt Nam ở nước ngoài Quy định này đã khiến cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam

Sau hơn 9 năm thực hiện, Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 đã phát huy vai trò là

cơ sở pháp lý quan trọng trong vấn đề quản lý quốc tịch Tuy nhiên, Luật năm 1998 cũng bộc lộ một số điểm hạn chế, bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung Chính vì vậy, ngày 13 tháng 11 năm 2008, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 thay thế Luật quốc tịch năm 1998 Luật quốc tịch năm 2008 so với Luật năm 1998 có nhiều điểm mới, riêng đối với quy định liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài, Luật quốc tịch năm 2008 ngoài việc kế thừa các quy định trước đó về quan hệ giữa Nhà nước với công dân, bảo hộ đối với công dân Việt Nam ở nước ngoài, chính sách đối với người gốc Việt Nam ở nước ngoài còn bổ sung quy định mới về quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài đang định cư ở nước ngoài Theo đó, “Quyền

và nghĩa vụ của công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài đang định cư ở nước ngoài được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan” Đặc biệt, tại Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008, lần đầu tiên vấn đề quốc tịch của người Việt Nam định cư ở

nước ngoài đã được khẳng định rõ: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất

13 Điều 2 Luật quốc tịch Việt Nam 1988

Trang 23

quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày Luật này có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam và trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực,

Quy định này phù hợp với nguyện vọng của đông đảo người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tạo tâm lý phấn khởi và yên tâm cho họ

Có thể thấy rằng, những quy định tại Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài đã thể hiện rõ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay, luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một

bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam

Luật cơ quan đại diện năm 2009

Luật Cơ quan đại diện Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài (sau đây gọi là Luật Cơ quan đại diện) đã được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII biểu quyết thông qua tại kỳ họp thứ 5 (ngày 18 tháng 6 năm 2009) và

có hiệu lực thi hành từ ngày 02 tháng 9 năm 2009 Theo đó, Pháp lệnh Lãnh sự năm 1990

và Pháp lệnh Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài năm 1993 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành

Pháp lệnh Lãnh sự năm 1990 quy định về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài và Pháp lệnh về cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài năm 1993 quy định chức năng, nhiệm vụ và

cơ cấu tổ chức của cơ quan đại diện ngoại giao và phái đoàn đại diện thường trực của Việt Nam tại các tổ chức quốc tế liên chính phủ Qua thực tiễn thực hiện hai Pháp lệnh nêu trên cho thấy, các quy định của hai Pháp lệnh, về cơ bản phù hợp với Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Công ước Viên 1961 về quan hệ ngoại giao, Công ước Viên 1993 về quan hệ lãnh sự cũng như phù hợp với tập quán quốc tế

Tuy nhiên, do mối quan hệ quốc tế ngày càng phát triển chính vì thế một số quy định trong hai Pháp lệnh nêu trên không còn phù hợp với thực tiễn hoạt động của cơ quan đại diện Xuất phát từ thực trạng đó, Luật cơ quan đại diện được thông qua, quy định cụ thể những nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan đại diện, như : Thúc đẩy quan hệ chính trị - xã hội, quốc phòng - an ninh, phục vụ phát triển kinh tế đất nước, thúc đẩy quan hệ văn hóa, thực hiện nhiệm vụ lãnh sự…Đặt biệt là nhiệm vụ “Hỗ trợ và bảo vệ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài”

Ngoài những quy định nói trên, nhà nước ta còn thành lập quỹ Bảo hộ công dân và

pháp nhận Việt Nam ở nước ngoài theo Quyết định số 119/2007/QĐTTg ngày 25/07/2007 của Thủ tướng Chính phủ, nhằm thực hiện hiệu quả hơn công tác bảo hộ công dân Quỹ có

tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Ngoại giao về tổ chức và hoạt động Cục Lãnh sự là cơ quan được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao ủy quyền trực

14 Khoản 2 Điều 13 Luật quốc tịch Việt Nam 2008

Trang 24

tiếp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của Quỹ Hỗ trợ các hoạt động của các Cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài để thực hiện việc bảo hộ các quyền lợi, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân và pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài Hỗ trợ nhân đạo khẩn cấp cho công dân, pháp nhân Việt Nam gặp hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà họ không thể tự khắc phục được tại thời điểm đó

Ta có thể thấy rằng, từ bản Hiến pháp 1946 cho đến nay thì sự quan tâm của Đảng

và Nhà nước đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng sâu sắc hơn, đó như

là lời khẳng định của Nhà nước rằng người Việt Nam ở nước ngoài là một phần ruột thịt không thể tách rời

Trang 25

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

2.1 Cơ sở pháp lý về bảo hộ công dân

2.1.1 Những quy định của pháp luật quốc tế

2.1.1.1 Những quy định trong các Công ước quốc tế

Như đã phân tích, vấn đề bảo hộ công dân là lĩnh vực mới trong quan hệ quốc tế Mãi đến thế kỷ XVIII nhu cầu bảo hộ người nước ngoài và tài sản của họ mới xuất hiện trong quan hệ giữa các quốc gia khi mà quan hệ thương mại quốc tế ngày một phát triển mạnh mẽ

Với những quy định trong văn bản có tên “Tuyên ngôn độc lập” trong cuộc cách mạng mười ba thuộc địa ở Bắc Mỹ tuyên bố độc lập với đế chế Anh năm 1776, cùng với

“Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền” của Pháp năm 1789, có thể thấy rằng quyền con người đã được coi trọng hơn Không chỉ dừng lại ở những quy tắc, ý tưởng quyền con người được xác định cụ thể như quyền tự do, quyền bình đẳng…Vào những năm đầu của thế kỷ XIX, nhận thức và hành động bảo vệ quyền con người được nâng lên một tầm cao mới để đảm bảo công bằng xã hội cho tất cả mọi người

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Liên hợp quốc ra đời, đã chính thức khai sinh ra ngành luật quốc tế về quyền con người, đặt nền móng cho việc tạo dựng một nền văn hoá quyền con người-nền văn hoá mới và chung của mọi dân tộc-trên trái đất

Theo nguyên tắc chung, việc bảo hộ công dân ở nước ngoài thuộc về các cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của nước cử đại diện tại nước nhận đại diện Việc bảo hộ công dân do các cơ quan đại diện thực hiện được ghi nhận trong các công ước Viên 1961 về quan hệ ngoại giao, Công ước Viên 1963 về quan hệ lãnh sự

 Công ước Viên 1961

Chức năng của cơ quan đại diện ngoại giao đã được luật quốc tế hiện đại ấn định cụ thể15:

Thay mặt cho quốc gia cử đại diện tại quốc gia nhận đại diện;

Bảo vệ quyền lợi cho quốc gia cử đại diện và những người thuộc quốc tịch của quốc gia cử tại quốc gia nhận đại diện;

Đàm phán với Chính phủ của quốc gia nhận đại diện;

Tìm hiểu bằng những phương tiện hợp pháp về điều kiện và tình hình tiến triển của quốc gia nhận đại diện và báo cáo tình hình đó cho Chính phủ của quốc gia cử đại diện; Đẩy mạnh các quan hệ hữu nghị và phát triển các quan hệ kinh tế, văn hóa, khoa học giũa quốc gia cử và quốc gia nhận đại diện

Ngoài chức năng nêu trên, tại Khoản 2 Điều 3 của công ước Viên 1961 còn khẳng

định: “Không một điều khoản nào của Công ước này có thể được giải thích như có ý ngăn

15 Điều 3 Công ước Viên 1961

Trang 26

cản cơ quan đại diện ngoại giao thi hành các chức năng lãnh sự” Điều đó cho thấy ngày

nay cơ quan đại diện ngoại giao cũng có thể thực hiện cả chức năng lãnh sự, góp phần nhanh chóng, hiệu quả trong công tác bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài hoặc giúp

đỡ mọi mặt cho công dân đang gặp khó khăn

 Công ước Viên 1963

Công ước Viên 1961 chỉ đề cập chung chung về nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của nước cử và công dân nước cử đại diện; ở Công ước Viên 1963 thì có những điều khoản cụ thể quy định nhiệm vụ của cơ quan lãnh sự đối với công tác bảo hộ công dân, pháp nhân nước mình

Công ước Viên 1963 quy định “Các chức năng lãnh sự do các cơ quan lãnh sự thực

mình khi các quyền, lợi ích của họ bị xâm phạm Không dừng lại ở đó, cơ quan lãnh sự còn giúp đỡ về mọi mặt mà nhà nước dành cho công dân nước mình đang ở nước ngoài (ngay cả khi không có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích) Bảo hộ, giúp đỡ cả cá nhân lẫn pháp nhân nước mình đang ở nươc ngoài

Cấp hộ chiếu và giấy tờ đi lại cho công dân nước cử và cấp thị thực hoặc các giấy tờ thích hợp cho những người muốn đến nước cử

Công chứng những giấy tờ cần thiết hoặc theo nhu cầu của công dân nước mình, thực hiện chức năng như là cơ quan hộ tịch, giải quyết các vấn đề đăng kí kết hôn, khai sinh, khai tử…ngoài ra còn thực hiện các hoạt động tương tự, có tính chất hành chính, với điều kiện là không vi phạm pháp luật nước sở tại cũng như pháp luật quốc tế

Bảo vệ quyền lợi của công dân bao gồm cả thể nhân và pháp nhân của nước cử trong trường hợp thừa kế di sản trên lãnh thổ nước tiếp nhận, phù hợp với luật và quy định của nước tiếp nhận

Trong phạm vi luật và quy định của nước tiếp nhận, bảo vệ quyền lợi của những vị thành niên và những người bị hạn chế năng lực hành vi là công dân nước cử, đặc biệt trong trường hợp cần bố trí sự giám hộ hoặc đỡ đầu cho những người này

Phù hợp với thực tiễn và thủ tục hiện hành ở nước tiếp nhận, đại diện hoặc thu xếp việc đại diện thích hợp cho công dân Nước cử trước toàn án và các nhà chức trách khác của Nước tiếp nhận, nhằm đưa ra những biện pháp tạm thời phù hợp với luật và quy định của nước tiếp nhận để bảo vệ các quyền và lợi ích của các công dân đó, nếu vì vắng mặt hoặc vì một lý do nào khác, họ không thể kịp thời bảo vệ các quyền và lợi ích của họ

Chuyển giao các tài liệu tư pháp và không tư pháp, hoặc thực hiện các uỷ thác tư pháp hoặc uỷ thác lấy lời khai cho các toà án ở nước cử phù hợp với các điều ước quốc tế hiện hành, hoặc nếu không có những điều ước quốc tế như vậy thì theo bất cứ cách nào khác phù hợp với luật và quy định của nước tiếp nhận

16 Điều 3 Công ước Viên 1963

Trang 27

Cơ quan lãnh sự có trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài phù hợp với pháp luật nước sở tại, điều ước quốc tế mà Việt Nam

và nước đó ký kết hoặc tham gia và phù hợp với tập quán quốc tế; bảo đảm cho công dân Việt Nam ở nước tiếp nhận được hưởng những quyền cơ bản theo luật pháp quốc tế như quyền được bảo vệ tính mạng, tài sản và các quyền hợp pháp khác, quyền được tự do cư trú, đi lại, hành nghề…

Trong quá trình thực hiện bảo hộ công dân, cơ quan lãnh sự có thể dùng nhiều biện pháp đa dạng khác nhau, từ đơn giản như cấp hộ chiếu, visa…cho đến các biện pháp phức tạp có thể ảnh hưởng tới quan hệ ngoại giao giữa các nước như đưa vụ việc ra tòa án quốc

tế hoặc các biện pháp khác có tính răn đe để bảo vệ công dân

Công ước Viên 1961 về quan hệ ngoại giao, Công ước Viên 1963 về quan hệ lãnh

sự là những công ước quy định rõ nhất về công tác bảo hộ công dân cũng như pháp nhân của nước cử ở nước tiếp nhận Tuy nhiên, Công ước 1966 về quyền dân sự chính trị, Công ước 1966 về các quyền kinh tế xã hội văn hóa đã gián tiếp quy định các quyền mà công dân, pháp nhân ở nước ngoài được hưởng, vì quyền công dân cũng là quyền con người

2.1.1.2 Hiệp định giữa Việt Nam và quốc gia sở tại

Để thực hiện tốt công tác bảo hộ công dân, ngoài việc ký kết hoặc tham gia các điều ước quốc tế đa phương, Nhà nước ta còn chủ động trong việc kí kết các điều ước song phương với một số nước Đó có thể là điều ước song phương về miễn thị thực giữa Việt Nam và các nước Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý giữa Việt Nam và các nước Hiệp định, thỏa thuận song phương về nhận trở lại công dân với các nước

Hiệp định, thỏa thuận miễn thị thực giữa Việt Nam và các nước

Việt Nam Hiệp định, thỏa thuận miễn thị thực với 78 nước, trong đó 03 Hiệp định, thỏa thuận với các nước sau đây chưa xác định ngày có hiệu lực: Costa Rica, Namibia và Bôlivia Miễn thị thực bao gồm việc miễn thị thực nhập cảnh, xuất cảnh và quá cảnh Thời gian tạm trú miễn thị thực được tính từ ngày nhập cảnh Hiệp định miễn thị thực Việt Nam

- Lào quy định: “Công dân của Bên ký kết này mang hộ chiếu phổ thông còn giá trị sử dụng ít nhất 6 tháng được miễn thị thực nhập cảnh, xuất cảnh và quá cảnh lãnh thổ Bên ký

dân mang hộ chiếu phổ thông, nhưng được cấp và miễn không thu lệ phí

Việt Nam miễn thị thực cho thành viên tổ bay của 14 nước, vùng lãnh thổ trên nguyên tắc có đi có lại Việt Nam đề nghị miễn cho thành viên tổ bay của các hãng hàng không Mianma kể từ ngày 01/03/2010 nếu Mianma áp dụng quy chế miễn thị thực đối với thành viên tổ bay của Việt Nam Airlines (Hiện nay Mianma chưa có đường bay tới Việt Nam) nhưng chưa nhận được khẳng định của phía Mianma Miễn thị thực cho thành viên

tổ bay mang quốc tịch nước thứ ba của hãng hàng không Singapo nếu phía Singapo áp

17 Điều 1 Hiệp định giữa Chính phủ cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ cộng hòa dân chủ nhân dân Lào về miễn thị thực cho công dân hai nước mang hộ chiếu phổ thông

Trang 28

dụng quy chế tương tự với các hãng hàng không Việt Nam nhưng chưa nhận được khẳng định của phía Singapo

Việt Nam đơn phương miễn thị thực cho công dân 07 nước là Liên bang Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc (HCPT), Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch, Thuỵ Điển (không phân biệt loại

hộ chiếu) và cho quan chức Ban thư ký ASEAN

Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý giữa Việt Nam và các nước

Hiệp định tương trợ tư pháp quy định: Công dân của nước ký kết này được hưởng trên lãnh thổ của nước ký kết kia sự bảo hộ pháp lý về các quyền nhân thân và tài sản mà nước ký kết kia dành cho công dân nước mình

Tùy thuộc vào hiệp định đã ký kết quy định tương trợ về dân sự, hình sự hoặc chỉ dân sự Hiệp định tương trợ Việt Nam - Pháp quy định: “Nước ký kết này cam kết dành cho nước ký kết kia sự tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự Các vấn đề dân sự nói trong Hiệp định này bao gồm các vấn đề pháp luật dân sự, pháp luật hôn nhân, gia đình,

Pháp ký kết chỉ quy định về các vấn đề dân sự nên nếu có phát sinh vấn đề hình sự thì sẽ

áp dụng pháp luật quốc tế Còn đối với hiệp định giữa Việt Nam - Lào thì quy định: Công dân của nước ký kết này có quyền tự do liên hệ với Toà án, Viện kiểm sát, Cơ quan công chứng (sau đây gọi là “Cơ quan tư pháp”) và các cơ quan khác có thẩm quyền về các vấn

đề dân sự và hình sự của Nước ký kết kia Họ có quyền trình bày ý kiến của mình, khởi

hai nước ký kết hiệp định tương trợ về dân sự lẫn hình sự nên khi vấn đề phát sinh thì áp dụng hiệp định này để giải quyết

Hiệp định, thỏa thuận song phương về nhận trở lại công dân với các nước

Việt Nam đã hiệp định, ký kết thỏa thuân về nhận lại công dân với 16 nước nhằm chống di cư bất hợp pháp và để tạo thuận lợi cho việc nhận trở lại, trên cơ sở có đi có lại, những người nhập cảnh và cư trú bất hợp pháp trên lãnh thổ của mỗi bên ký kết

Theo yêu cầu của một bên ký kết, bên ký kết kia sẽ nhận trở lại những người không đáp ứng hoặc không còn đáp ứng các yêu cầu pháp lý về nhập cảnh và cư trú trên lãnh thổ của bên ký kết yêu cầu

Người trở về sẽ nhận được một số quyền nhất định theo thỏa thuận của các bên ký

các điều khoản của Hiệp định, pháp luật của các bên ký kết, luật pháp quốc tế và bảo đảm

18Điều 1 Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự giữa Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Nước

cộng hoà Pháp

19 Khoản 2 Điều 1 hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự và hình sự giữa Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

và Nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

20 Điều 3 Hiệp định giữa chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ vương quốc Thụy Điển

về nhận trở lại công dân

Ngày đăng: 03/10/2015, 14:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w