Tuy nhiên, để được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại thì phải thỏa các điều kiện như: i Có hồ sơ chứng từ chứng minh đã đầu tư vào đất, trường hợp chi phí đầu tư vào đất còn lại
Trang 1Giảng viên hướng dẫn:
TS Phan Trung Hiền
Bộ môn Luật Hành chính
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Mỵ
MSSV: 5115998 Lớp: Luật Hành chính khóa 37
Cần Thơ, tháng 12 năm 2014
Trang 2Chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ, đã dìu dắt người viết trong suốt thời gian qua để người viết có được những hành trang vững chắc sau này Cuối cùng là lời cảm ơn của người viết đến gia đình và bạn bè, những người luôn động viên giúp người viết hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Người viết
Nguyễn Thị Mỵ
Trang 3NHẬN XÉT CỦA QUÝ THẦY CÔ
/
Trang 4NHẬN XÉT CỦA QUÝ THẦY CÔ
/
Trang 5MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu của đề tài 3
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRƯNG DỤNG ĐẤT VÀ THU HỒI ĐẤT 6
1.1 Khái niệm trưng dụng đất và thu hồi đất 6
1.1.1 Khái niệm về trưng dụng đất 6
1.1.2 Khái niệm về thu hồi đất 8
1.2 Khái niệm về Bồi thường khi Nhà nước trưng dụng đất và Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
1.2.1 Khái niệm về Bồi thường khi Nhà nước trưng dụng đất 9
1.2.2 Khái niệm về Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 7
1.3 Lược sử về trưng dụng đất và thu hồi đất 9
1.3.1 Lược sử về trưng dụng đất 16
1.3.1.1 Giai đoạn trước Hiến pháp năm 1946 có hiệu lực 16
1.3.1.2 Giai đoạn từ Hiến pháp năm 1946 có hiệu lực đến trước Hiến pháp năm 1959 16
1.3.1.3 Giai đoạn từ Hiến pháp năm 1959 có hiệu lực đến trước Hiến pháp năm 1980 18
1.3.1.4 Giai đoạn từ Hiến pháp năm 1980 có hiệu lực đến trước Hiến pháp năm 1992 18
1.3.1.5 Giai đoạn từ Hiến pháp năm 1992 có hiệu lực đến trước Hiến pháp năm 2013 19
1.3.1.6 Giai đoạn từ Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực đến nay 20
1.3.2 Lược sử về thu hồi đất 9
1.3.2.1 Giai đoạn trước Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực 9
1.3.2.2 Giai đoạn từ Luật Đất đai năm 1993 đến Luật Đất đai năm 2003 11
Trang 61.3.2.3 Giai đoạn từ Luật Đất đai năm 2003 đến Luật Đất đai năm 2013 12
1.3.2.4 Giai đoạn từ Luật Luật Đất đai năm 2013 đến nay 14
1.4 Ý nghĩa của trưng dụng đất và thu hồi đất 20
1.4.1 Ý nghĩa của việc trưng dụng đất và Bồi thường khi Nhà nước trưng dụng đất21 1.4.2 Ý nghĩa của việc thu hồi đất và Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 20
1.5 Ảnh hưởng của trưng dụng đất và thu hồi đất 22
1.5.1 Ảnh hưởng của trưng dụng đất 24
1.5.2 Ảnh hưởng của thu hồi đất 22
CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT VÀ TRƯNG DỤNG ĐẤT 26
2.1 Trường hợp áp dụng trưng dụng đất và thu hồi đất 26
2.1.1 Trường hợp áp dụng trưng dụng đất 28
2.1.2 Trường hợp áp dụng thu hồi đất 26
2.2 Chủ thể áp dụng trưng dụng đất và thu hồi đất 29
2.2.1 Chủ thể áp dụng trưng dụng đất 30
2.2.2 Chủ thể áp dụng thu hồi đất 29
2.3 Đối tượng áp dụng trưng dụng đất thu hồi đất 30
2.3.1 Đối tượng áp dụng trưng dụng đất 31
2.3.2 Đối tương áp dụng thu hồi đất 30
2.4 Trình tự, thủ tục áp dụng trưng dụng đất thu hồi đất 31
2.4.1 Trình tự, thủ tục áp dụng trưng dụng đất 33
2.4.2 Trình tự, thủ tục áp dụng thu hồi đất 31
2.5 Cách thức tính toán bồi thường trong trưng dụng đất và thu hồi đất 34
2.5.1 Cách tính toán bồi thường trong trưng dụng đất 35
2.5.2 Cách tính toán bồi thường trong thu hồi đất 34
2.6 Điểm giống nhau giữa trưng dụng đất và thu hồi đất 36
2.7 Điểm khác nhau giữa trưng dụng đất và thu hồi đất 37
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN TRONG TRƯNG DỤNG ĐẤT VÀ THU HỒI ĐẤT 42
3.1 Tình hình thực hiện công tác trưng dụng đất và thu hồi đất ở nước ta 42
Trang 73.1.1 Thực tiễn trưng dụng đất 44
3.1.2 Thực tiễn thu hồi đất 42
3.2 Thuận lợi và khó khăn trong công tác trƣng dụng đất và thu hồi đất 44
3.2.1 Thuận lợi và khó khăn trong công tác trưng dụng đất 49
3.2.1.1 Thuận lợi trong công tác trưng dụng đất 49
3.2.1.2 Khó khăn trong công tác trưng dụng đất 49
3.2.1.3 Nguyên nhân dẫn đến khó khăn 50
3.2.2 Thuận lợi và khó khăn trong công tác thu hồi đất 44
3.2.2.1 Thuận lợi trong công tác thu hồi đất 44
3.2.2.2 Khó khăn trong công tác thu hồi đất 45
3.2.2.3 Nguyên nhân dẫn đến khó khăn 48
3.3 Hướng hoàn thiện trong công tác trưng dụng đất và thu hồi đất 50
3.3.1 Hướng hoàn thiện trong công tác trưng dụng đất 51
3.3.2 Hướng hoàn thiện trong công tác thu hồi đất 50
KẾT LUẬN
Trang 8sử dụng đất có hiệu quả đã và đang được đánh giá cao tầm quan trọng Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra mục tiêu phát triển bền vững, ổn định về mặt chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước Để đạt được mục tiêu trên cùng với nhịp độ phát triển, nước ta đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Vì thế, nhu cầu xây dựng các công trình phục vụ mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng ngày càng gia tăng
Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu đô thị mới, Và các công trình phục vụ quốc phòng, an ninh, kể cả trưng dụng đất để phòng, chống chiến tranh, thiên tai đều cần sử dụng đất Chính vì thế, có nhiều trường hợp khó phân biệt được thu hồi đất hay trưng dụng đất, để hiểu rõ hơn hai chế định này, các cơ quan chức năng đã ban hành nhiều văn bản điều chỉnh vấn đề này Các văn bản có thể kể đến như: Nghị định 151/TTg của Hội đồng Chính phủ ngày 14 tháng 4 năm 1959 quy định tạm thời về trưng dụng ruộng đất (sau đây viết tắt là Nghị định 151/TTg), Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm
1980, Luật Đất đai năm 1987, Hiến pháp năm 1992, Luật Đất đai năm 1993, Nghị định số 90/CP ngày 17 tháng 8 năm 1994 của Chính phủ về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng (sau đây viết tắt là Nghị định 90/CP), Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng
4 năm 1998 của Chính phủ quy định thay thế Nghị định 90/CP (sau đây viết tắt là Nghị định 22/1998/NĐ-CP), Luật Đất đai năm 2003, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (sau đây viết tắt là Nghị định 69/2009/NĐ-CP), Hiến pháp năm 2013, Luật Đất đai năm 2013 Nhìn chung, các văn bản được ban hành trong lĩnh vực trưng dụng và thu hồi đất đất ngày càng phù hợp hơn với thực tiễn và sự cân bằng lợi ích giữa Nhà nước và người dân cũng được quan tâm điều chỉnh nhiều hơn Tuy nhiên các quy định cho dù có phù hợp, tiến bộ đến đâu nhưng cơ quan thực thi,
áp dụng những quy định đó vào thực tế không phù hợp thì các quy định đó cũng khó có
Trang 9thể phát huy được hiệu quả Vì vậy, song song với việc hoàn thiện các quy định của pháp luật thì các chính sách về bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất và trưng dụng đất cũng cần phải được quy định một cách rõ ràng, phù hợp, có như vậy mới phát huy được tác dụng của chúng
Hiện nay trên thực tế thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, để phát triển kinh tế vì lợi ích quốc gia, công cộng cũng rất phổ biến Song có một số trường hợp về bản chất là trưng dụng đất nhưng cơ quan chức năng lại áp dụng thu hồi đất của người dân, thực tế cho thấy khó có thể xác định được trường hợp nào là thu hồi đất? Trường hợp nào áp dụng trưng dụng đất? Luật Đất đai năm 2013 ra đời góp phần hiểu rõ hơn về hai chế định Tuy nhiên, có một số điểm còn đang bất cập, chưa được rõ ràng, cụ thể, gây khó khăn trong quá trình áp dụng và thực thi Từ tình hình đó và được sự góp ý, hướng dẫn của Thầy Phan Trung Hiền cùng với niềm say mê của bản thân đối với lĩnh vực đất đai nên người viết chọn đề tài "Pháp luật về thu hồi đất và trưng dụng đất - Lý luận và thực tiễn" để làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Với mục tiêu là nghiên cứu những quy định của pháp luật để hiểu rõ hơn về hai chế định "Trưng dụng đất" và "Thu hồi đất" Qua đó, thấy rõ những điểm đồng nhất của hai chế định tưởng như chỉ là một, cũng như biết được điểm khác nhau đặc trưng của từng chế định Để từ đó, chúng ta dễ dàng phân biệt được trường hợp nào là thu hồi đất? Trường hợp nào là trưng dụng đất? Để thuận lợi hơn cho chủ thể quyết định cũng như cho người sử dụng đất Đồng thời phân tích, đánh giá những điểm hợp lý cũng như chưa hợp lý của quy định pháp luật Trong phạm vi khả năng của mình người viết đưa ra đề xuất và hướng giải quyết nhằm từng bước khắc phục những hạn chế của pháp luật về trưng dụng đất và thu hồi đất
3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu so sánh những quy định của pháp luật về thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, vì lợi ích quốc gia, công cộng để phát triển kinh tế và trưng dụng đất trong các quy định tại Luật Đất đai năm 2013 Đồng thời có sự phân tích các quy định của pháp luật có liên quan và những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tiến hành thu hồi đất và trưng dụng đất trên phương diện lý luận và thực tiễn trong pháp luật đất đai
Trang 104 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, bằng kiến thức đã học cùng với việc thu thập tổng hợp các văn bản luật có liên quan đến quá trình trưng dụng đất và thu hồi đất nói chung và tìm những văn bản dưới luật có liên quan đến trưng dụng đất và thu hồi đất trong hoạt động đất đai nói riêng Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn, người viết đã vận dụng kết hợp các phương pháp so sánh, phân tích, đối chiếu, tổng hợp, Và đặc biệt là phương pháp phân tích luật viết để tiến hành phân tích những quy định của pháp luật trong hoạt động trưng dụng đất và thu hồi đất
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài Lời cảm ơn, Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,
đề tài được chia thành 03 và được trình bày theo trình tự từ cơ sở lý luận đến các quy định của pháp luật có liên quan, cuối cùng là thực tiễn và hướng hoàn thiện Cụ thể:
- Chương 1: Khái quát chung về trưng dụng đất và thu hồi đất
Chương này giới thiệu về các cơ sở lý luận chung nhất từ các khái niệm cơ bản đến quá trình phát triển của hoạt động trưng dụng đất và thu hồi đất Sau đó là trình bày ý nghĩa của trưng dụng đất và bồi thường khi Nhà nước trưng dụng đất cũng như ý nghĩa của thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Cuối cùng, trên cơ sở các quy định có liên quan và kiến thức thực tiễn về tiến hành hoạt động trưng dụng đất và thu hồi đất, người viết trình bày sự ảnh hưởng của hai chế định
- Chương 2: Những quy định của pháp luật về trưng dụng đất và thu hồi đất
Nội dung chủ yếu của chương này là phân tích các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động trưng dụng đất và thu hồi đất Bên cạnh đó, có sự phân tích, đánh giá những điểm hợp lý và chưa hợp lý của quy định pháp luật, sau đó trình bày những điểm giống nhau và khác nhau của hai chế định trưng dụng đất và thu hồi đất Từ đó, làm cơ sở
để chương 3 so sánh đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn để tìm ra hướng hoàn thiện pháp luật cho vấn đề
- Chương 3: Thực tiễn và hướng hoàn thiện trưng dụng đất và thu hồi đất
Chương này tập trung phân tích thực tiễn tiến hành trưng dụng đất và thu hồi đất Sau đó, hệ thống lại những thuận lợi và khó khăn trong quá trình trưng dụng đất và thu hồi đất ở 2 khía cạnh pháp lý và thực tiễn Sau cùng, đưa ra một số đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật trong trưng dụng đất và thu hồi đất
Do thời gian nghiên cứu đề tài có hạn và có phần hạn chế về kiến thức chuyên môn, nên trong quá trình nghiên cứu đề tài có phần thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến
Trang 11nhận xét, đóng góp tận tình từ quý Thầy, Cô và các bạn để người viết củng cố, bổ sung thêm kiến thức và điều chỉnh đề tài nghiên cứu được hoàn chỉnh hơn.
Trang 12CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRƯNG DỤNG ĐẤT VÀ THU HỒI ĐẤT
Với tốc độ phát triển của đất nước như hiện nay, khi có nhu cầu sử dụng đất để phục vụ quốc phòng, an ninh, để phát triển kinh tế, phòng chống chiến tranh, thiên tai, Nhà nước sẽ ra quyết định trưng dụng đất, thu hồi đất Thực tiễn cho thấy, khi chủ thể có thẩm quyền ra quyết định trưng dụng đất hay thu hồi đất chúng ta khó có thể phân biệt được, chính chủ thể có thẩm quyền cúng khó khi đưa ra quyết định nên trưng dụng đất hay thu hồi đất Vậy cần hiểu rõ thế nào là trưng dụng đất? Thế nào là thu hồi đất? Để giải đáp những vấn đề này, trong chương này người viết lần lượt trình bày: (i) Một số khái niệm về trưng dụng đất, bồi thường khi Nhà nước trưng dụng đất và khái niệm về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; (ii) Lược sử của trưng dụng đất và thu hồi đất, cũng như ý nghĩa và ảnh hưởng của trưng dụng đất, thu hồi đất
1.1 Khái niệm về trưng dụng đất và thu hồi đất
Trong khoa học pháp lý, xây dựng khái niệm là yếu tố tiên quyết để tạo lập cơ sở lý luận Trong quá trình ban hành và thực thi pháp luật, xác định khái niệm và nội hàm khái niệm là những yếu tố gốc gễ, nền tảng đảm bảo pháp luật được hiểu và vận dụng thống nhất Hệ quả của việc quy định các khái niệm chưa được thống nhất, chưa xác định rõ nội hàm là không phản ánh được bản chất của vấn đề, gây nhầm lẫn cho người áp dụng lẫn người bị thu hồi đất.1
Từ đó, người viết trình bày các khái niệm liên quan đến trưng dụng đất và thu hồi đất nhằm làm rõ nội hàm của các khái niệm hơn
1.1.1 Khái niệm về trưng dụng đất
Trưng dụng là việc cơ quan Nhà nước tạm lấy đi (vật hoặc người thuộc quyền sở hữu hay quyền quản lý của tư nhân, tập thể hay cơ quan, xí nghiệp cấp dưới) để sử dụng trong một thời gian nào, một công việc nào đó do yêu cầu đặc biệt Trưng dụng là biện pháp hành chính cho phép một cơ quan Nhà nước với điều kiện có bồi thường, buộc tư nhân phải cho Nhà nước sử dụng một động sản hay bất động sản trong một thời gian nhất định.2
Xem tại: Phan Trung Lý, Trưng mua, trưng dụng khái niệm và điều kiện,
http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2010/02/24/4741/ , [Truy cập ngày 18-6-2014]
Trang 13Trưng dụng đất là việc Nhà nước điều chuyển quyền sử dụng một diện tích đất trong một giai đoạn tạm thời từ người sử dụng đất hợp pháp sang Nhà nước một cách bắt buộc theo thủ tục hành chính không do lỗi của người sử dụng đất.3 Nhà nước trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai.4
Vì vậy, vì mục đích quốc phòng, an ninh, vì lợi ích quốc gia hoặc khi trong tình thế cấp thiết, khẩn cấp, có nguy cơ chiến tranh, nhằm phòng, chống thiên tai, Thì Nhà nước trưng dụng đất của người sử dụng đất trong một thời gian để phòng, chống thiên tai, khi hết thời hạn trưng dụng thì Nhà nước trả lại đất cho người dân và bồi thường khi có thiệt hại
1.1.2 Khái niệm về thu hồi đất
Thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai.5
Việc Nhà nước thu hồi đất làm chấm dứt (vĩnh viễn) quyền sử dụng đất của cá người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thông qua quyết định giao đất, cho thuê đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Vì vậy, người sử dụng đất bị mất quyền sử dụng đất của mình khi chủ thể có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất
Cho thấy việc thu hồi đất phải thuộc các trường hợp quy định tại Điều 16 Luật Đất đai năm 2013 thì mới có thể quyết định thu hồi đất Bên cạnh đó, việc thu hồi đất phải được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục luật định để tránh gây thiệt hại cho người có đất bị thu hồi, người bị ảnh hưởng do thu hồi đất và cho cả Nhà nước Thu hồi đất được tiến hành khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Khi Nhà nước thu hồi đất tùy từng trường hợp nếu đủ điều kiện thì người sử dụng đất được Nhà nước bồi thường về đất và chi phí đầu tư vào đất còn lại khi thu hồi đất (Điều 75) do ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và quyền lợi chính đáng của họ
Như vậy, thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, để phát triển kinh tế - xã hội
vì lợi ích quốc gia, công cộng làm chấm dứt quyền sử dụng đất của người sử dụng đất, đất đã thu hồi để xây dựng công trình thực hiện dự án ổn định lâu dài Cần lưu ý, trường hợp Nhà nước thu hồi đất do có nguy cơ đe dọa tính mạng con người là trường hợp: Đất
ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con người; Đất ở có
Trang 14nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người Nếu người sử dụng đất tiếp tục ở sẽ ảnh hưởng đến tính mạng Nên chủ thể có thẩm quyền căn cứ vào văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác định mức độ ô nhiễm môi trường, sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác để quyết định thu hồi đất đó để tránh ảnh hưởng đến tính mạng nguời sử dụng đất, mục đích thu hồi không
vì thực hiện dự án hay công việc cụ thể nào cả mà vì bảo vệ tính mạng người sử dụng đất.6
1.2 Khái niệm về bồi thường khi Nhà nước trưng dụng đất và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
1.2.1 Khái niệm về bồi thường khi Nhà nước trưng dụng đất
Theo Điều 72 Luật Đất đai năm 2013 thì Bồi thường khi Nhà nước trưng dụng đất là việc Nhà nước trả cho người sử dụng đất giá trị thiệt hại do trưng dụng đất gây ra Việc trưng dụng đất làm tổn hại trực tiếp đến quyền lợi của người bị trưng dụng nên Nhà nước trả lại khoảng tổn hại đó bằng cách bồi thường tiền khi bị hư hại về đất và khoảng thu nhập bị mất do trưng dụng gây ra Người bị trưng dụng đất được bồi thường khi đất bị hư
hại, có thiệt hại về thu nhập và thiệt hại đó do trưng dụng đất trực tiếp gây ra
1.2.2 Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất:
+ Bồi thường theo tiếng Việt là đền bù những tổn hại đã gây ra cho người khác7, khi người nào đó gây ra thiệt hại cho người khác thì họ sẽ đền bù thiệt hại về vật chất (Có thể là tinh thần) cho người bị thiệt hại để bù đắp tổn hại do mình đã gây ra
+ Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất.8
Khi thu hồi đất Nhà nước trả lại giá trị tương ứng với giá trị mà người sử dụng đất bị thiệt hại sau khi có quyết định thu hồi của chủ thể
có thẩm quyền Do thu hồi đất làm cho người có đất bị thu hồi đầu tiên là bị mất đất, sau
đó là bị ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống và quyền lợi chính đáng của họ, vì vậy cần phải bù đắp những tổn hại cho họ do thu hồi đất gây ra
+ Bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi thu hồi là chi phí san lấp mặt bằng
và chi phí khác liên quan trực tiếp có căn cứ chứng minh đã đầu tư vào đất mà đến thời điểm Nhà nước thu hồi còn chưa thu hồi được.9
Do không đủ điều kiện để được bồi thường về đất, nên người sử dụng đất được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi
Trang 15thu hồi Tuy nhiên, để được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại thì phải thỏa các điều kiện như: (i) Có hồ sơ chứng từ chứng minh đã đầu tư vào đất, trường hợp chi phí đầu tư vào đất còn lại không có hồ sơ, chứng từ chứng minh thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương quy định việc xác định chi phí đầu tư vào đất còn lại; (ii) Chi phí đầu tư vào đất còn lại không có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước.10
- Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất:
Là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển.11 Trong đó các khoản hỗ trợ như ổn định đời sống và sản xuất, đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm, 12
Song song với việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thì người bị thu hồi dù được bồi thường thỏa đáng thì vẫn phải có chính sách hỗ trợ Hỗ trợ không phải là quy định bắt buộc đối với mọi trường hợp thu hồi đất, đây là chính sách hỗ trợ nhằm giúp đỡ người bị thu hồi đất ổn định lại đời sống, việc làm, khắc phục những khó khăn trước mắt, Mà thu hồi đất đã mang lại một cách trực tiếp hay gián tiếp thông qua những hình thức khác nhau
- Tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất:
Là việc di chuyển từ chỗ ở này đến chỗ ở khác do bị ảnh hưởng khi Nhà nước tiến hành thu hồi đất, giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án.13 Khi Nhà nước thu hồi đất thì một số trường hợp người bị thu hồi không còn chỗ ở nào khác, vì vậy, chính sách tái định
cư giúp họ có chỗ ở ổn định, ổn định đời sống, an cư lạc nghiệp Người bị thu hồi đất có thể chọn hình thức tái định cư như nhà, đất hoặc tiền, khi chọn hình thức tiền thì họ tự tìm chỗ ở mới để ổn định đời sống cho mình Từ đó cho thấy, chính sách tái định cư nhằm mục đích giúp cho người bị thu hồi có cuộc sống ổn định do thu hồi gây ra
Tóm lại, nhằm bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp cho người bị thu hồi đất, khắc phục bất cập và điều tiết một cách hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất và chủ đầu tư, đồng thời nhằm giảm khiếu kiện trong bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, Luật Đất đai năm 2013 quy định cụ thể điều kiện được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Đồng thời, việc bồi thường phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời
và đúng quy định của pháp luật.14
10
Xem: Đào Trung Chính (6-2014), Điểm mới của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2013, Tạp chí Tài
nguyên và Môi trường, Số 11 (193), tr14-17
Xem tại: DiaOcOnline.vn, Quyền mua đất tái định cư là một quyền mua tài sản,
http://www.diaoconline.vn/tin-tuc/tranh-chap-c66/quyen-mua-dat-tai-dinh-cu-la-mot-quyen-tai-san-i25749 , [Truy cập ngày 18-6-2014]
14
Xem: Bùi Ngọc Tuân(7-2014), Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường,
Trang 161.3 Lƣợc sử về trƣng dụng đất và thu hồi đất
1.3.1 Lược sử về trưng dụng đất
Lịch sử phát triển đất nước trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn để lại một thành quả đáng kể Đất nước muốn phát triển thì quốc phòng, an ninh phải vững mạnh, Khi cần thiết Nhà nước cần sử dụng đất trong một thời gian nhất định để thực hiện một công việc cụ thể Vì vậy, Nhà nước đã trưng dụng đất của người sử dụng đất để phục vụ cho quốc phòng, an ninh cũng như để phòng chống chiến tranh, thiên tai Về lược sử trưng dụng đất người viết tạm chia làm 06 giai đoạn: (i) Giai đoạn trước Hiến pháp năm 1946
có hiệu lực; (ii) Giai đoạn từ Hiến pháp năm 1946 có hiệu đến trước Hiến pháp năm 1959; (iii) Giai đoạn từ Hiến pháp năm 1959 có hiệu lực đến trước Hiến pháp năm 1980; (iv) Giai đoạn từ Hiến pháp năm 1980 có hiệu lực đến trước Hiến pháp năm năm 1992; (v) Giai đoạn từ Hiến pháp năm 1992 có hiệu lực đến Hiến pháp năm 2013; (vi) Giai đoạn từ Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực đến nay
1.3.1.1 Giai đoạn trước Hiến pháp năm 1946 có hiệu lực
Ở giai đoạn này, đất nước đang trong thời kỳ cải cách Về cơ bản chưa xuất hiện chế định trưng dụng đất, mà chủ yếu là người dân tự khai hoang đất được bao nhiêu thì
sử dụng bấy nhiêu, khai hoang thêm nhiều đất nữa để sử dụng, đưa đất nước thoát cảnh nghèo nàn
1.3.1.2 Giai đoạn từ Hiến pháp năm 1946 có hiệu đến trước Hiến pháp năm 1959
Từ khi Hiến pháp đầu tiên của nước ta ra đời, quyền lợi của người dân bắt đầu được Nhà nước đảm bảo quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam15
Tuy nhiên, khi cần thiết để đáp ứng nhu cầu xây dựng của Nhà nước, đồng thời chiếu cố đúng quyền lợi của người có ruộng đất Nhà nước trưng dụng ruộng đất để xây dựng công trình và có bồi thường Từ đó, chế định trưng dụng đất bắt đầu xuất hiện và được Hội đồng Chính phủ quy định và hướng dẫn thực hiện về trưng dụng đất Việc trưng dụng phải đảm bảo nguyên tắc: (i) Kịp thời và đủ diện tích cần thiết cho công trình xây dựng, những người
có ruộng đất bị trưng dụng được bồi thường và trong trường hợp cần thiết được giúp giải quyết công việc làm ăn; (ii) Chỉ được trưng dụng số ruộng đất thật cần thiết, không được trưng dụng thừa ; (iii) Hết sức tránh những nơi dân cư đông đúc, nghĩa trang liệt sĩ, nhà thờ, chùa, đền Trường hợp đặc biệt phải làm vào những nơi đó, thì phải bàn bạc với nhân địa phương 16 Việc trưng dụng ruộng đất cần được báo trước một thời gian là hai tháng
Trang 17để kịp di chuyển, trừ trường hợp khẩn cấp hoặc có nhu cầu cấp thiết xây dựng công trình
và được Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố, hoặc khu công nhận, thời gian báo trước có thể rút ngắn hơn Khi trưng dụng đất xong thì ruộng đất đã trưng dụng thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, đất đã trưng dụng được sử dụng để xây dựng công trình Vì vậy, người bị trưng dụng ruộng đất được bồi thường, cách tốt nhất để bồi thường là vận động nông dân điều chỉnh hoặc nhường ruộng đất khác cho người có ruộng đất bị trưng dụng
để họ có thể tiếp tục sản xuất, trường hợp không làm được thì sẽ bồi thường số tiền bằng
từ 01 đến 04 năm sản lượng thường niên của ruộng đất bị trưng dụng17 Để quy định chi tiết về bồi thường khi trưng dụng đất để xây dựng công trình thì Thông tư số 1424/TT-LB của Liên bộ Ủy ban kế hoạch Nhà nước - Nội vụ ngày 06 tháng 7 năm 1959 thi hành Nghị định 151/TTg quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất để làm địa điểm xây dựng các công trình kiến thiết cơ bản đã hướng dẫn rõ về thủ tục trưng dụng ruộng đất, cũng như việc bồi thường cho người có ruộng đất bị trưng dụng Để thực hiện tốt những nguyên tắc trưng dụng đất nhằm đảm bảo quyền lợi và đời sống cho người có ruộng đất
bị trưng dụng, Ủy ban hành chính tỉnh, đại diện ban chấp hành nông hội, đại diện cơ quan trưng dụng và những người có ruộng đất, mở hội nghị dân chủ bàn bạc việc bồi thường, nghiên cứu cách giải quyết để bồi thường và đề ra những tiêu chuẩn để bồi thường Có hai cách bồi thường là bồi thường bằng ruộng đất và bằng tiền Nhưng bồi thường bằng ruộng đất là tốt nhất và chủ yếu Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng bồi thường, việc bồi thường chủ yếu nhằm những ruộng đất có sản lượng và hoa lợi Nếu người chủ
có ruộng đất tự nguyện không đòi bồi thường thì có thể không bồi thường Sau khi đã thực hiện xong việc bồi thường, cơ quan địa chính cùng với cơ quan trưng dụng ruộng đất tiến hành việc cắm mốc phân rõ địa giới ruộng đất đã trưng dụng và tiến hành giao nhận địa giới theo thủ tục hiện hành
1.3.1.3 Giai đoạn từ Hiến pháp năm 1959 có hiệu lực đến trước Hiến pháp năm
1980
Hiến pháp năm 1959 có hiệu lực, việc trưng dụng cũng được quy định tại Điều 20 Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp quy đinh chung là trưng dụng tư liệu sản suất và có bồi thường Chỉ khi nào cần thiết vì lợi ích chung, Nhà nước mới trưng dụng có bồi thường thích đáng các tư liệu sản xuất ở thành thị và nông thôn trong phạm quy và điều kiện do pháp luật quy định18 Vì thế, khi thật sự cần thiết để phục vụ lợi ích chung của cộng đồng, của đất nước, Nhà nước mới quyết định trưng dụng đất và có bồi thường cho người sử
đất
Trang 18dụng đất Người sử dụng đất bị trưng dụng đất thì được bồi thường trong phạm vi và điều
kiện pháp luật quy định
1.3.1.4 Giai đoạn từ Hiến pháp năm 1980 có hiệu lực đến trước Hiến pháp năm
1992
Trong giai đoạn này, Nhà nước tiếp tục đảm bảo quyền lợi của người dân Hiến pháp năm 1980 có hiệu lực, bắt đầu quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân19 Cá nhân đang sử dụng đất thì được tiếp tục sử dụng và được hưởng kết quả lao động do mình làm
ra theo quy định pháp luật, nếu không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép thì đất làm nông nghiệp, lâm nghiệp không được dùng vào việc khác Có nghĩa là, người
sử dụng đất không được tự ý chuyển mục đích sử dụng và ngoại lệ là cơ quan Nhà nước
có quyền quyết định được dùng vào mục đích khác.20 Từ đó, khi cần thiết vì lợi ích chung Nhà nước trưng dụng tài sản có bồi thường cho cá nhân hoặc tập thể, thể thức do pháp luật quy định.21 Vì vậy, khi thật cần thiết vì lợi ích chung Nhà nước quyết định
trưng dụng đất của người của người sử dụng đất và có bồi thường cho họ
1.3.1.5 Giai đoạn từ Hiến pháp năm 1992 có hiệu lực đến trước Hiến pháp năm
2013
Hiến pháp năm 1992 ra đời, quy định nền kinh tế nước ta pháp triển "nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa"22, một lần nữa khẳng định tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hóa, chỉ trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh
và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường.23 Tuy là tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức nhưng khi Nhà nước cần đến thì người dân có trách nhiệm giúp ích cho đất nước, góp phần phát triển đất nước Vì vậy, vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia Nhà nước quyết định trưng dụng đất của người sử dụng đất và có bồi thường theo thời giá thị trường
Đến Luật Đất đai năm 1993 ra đời, lần đầu tiên trưng dụng đất được quy định trong Luật Đất đai và được quy định rõ ràng cụ thể hơn Trong trường hợp có nhu cầu khẩn cấp của chiến tranh, chống thiên tai hoặc trong tình trạng khẩn cấp thì Nhà nước quyết định trưng dụng đất của người sử dụng đất, việc trưng dụng đất do Ủy ban nhân dân cấp huyện trở lên quyết định Khi hết thời hạn trưng dụng đất người sử dụng đất
Trang 19được trả lại đất và được đền bù thiệt hại do việc trưng dụng gây ra24 Như vậy, trong tình hình khẩn cấp của chiến tranh, nhằm chống thiên tai thì Nhà nước quyết định trưng dụng đất của người sử dụng đất có thời hạn, khi hết hạn Nhà nước trả lại đất cho người bị trưng dụng đất tiếp tục sử dụng và đền bù thiệt hại cho họ Kế thừa Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 quy định về trưng dụng dụng rõ ràng và cụ thể hơn, Nhà nước trưng dụng đất có thời hạn trong trường hợp có nhu cầu khẩn cấp của chiến tranh, thiên tai hoặc trong trường hợp khẩn cấp khác Khi hết thời hạn ghi trong quyết định trưng dụng đất hoặc khi thực hiện xong nhu cầu công việc thì Nhà nước trả lại đất và bồi thường thiệt hại cho người bị trưng dụng đất25
Việc trưng dụng đất trong thời gian nhất định được ghi trong quyết định trưng dụng đất, thời gian cụ thể tùy từng trường hợp của nhu cầu, trong thời gian trưng dụng đất người có đất bị trưng dụng không những mất đất
mà còn mất thu nhập Vì vậy, khi Nhà nước trả lại đất đồng thời bồi thường cho người bị trưng dụng về đất và một khoản tiền mất thu nhập do trưng dụng đất gây ra Để hiểu rõ chế định "Trưng dụng", Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008 quy định thật cụ thể về trưng dụng: (i) nguyên tắc trưng dụng, điều kiện trưng dụng, cũng như hình thức
và hiệu lực của quyết định trưng dụng tài sản; (ii) Các trường hợp hủy bỏ quyết định trưng dụng tài sản, những hành vi nghiêm cấm trong trưng dụng tài sản; (iii) Thẩm quyền quyết định, nội dung, trình tự, thủ tục thực hiện, đồng thời quy định thời hạn trưng dụng, hoàn trả tài sản và bồi thường thiệt hại, Từ đó, hiểu rõ hơn khi Nhà nước trưng dụng tài
sản cần thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục và quy định của pháp luật
1.3.1.6 Giai đoạn từ Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực đến nay
Hiến pháp năm 2013 ra đời, quy định rõ tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu
tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa26 Đồng thời quyền sử dụng đất hợp pháp cũng được pháp luật bảo hộ, tuy nhiên khi đất nước có nguy
cơ chiến tranh hay sắp có thiên tai thì Nhà nước trưng dụng đất của người dân Việc trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết theo luật định để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng,
an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai27
Để bảo hộ quyền sử dụng đất hợp pháp của cá nhân, tổ chức khi Nhà nước trưng dụng đất
sẽ bồi thường cho người bị trưng dụng Để quy định rõ hơn về trưng dụng đất, Luật Đất đai năm 2013 dành 01 điều riêng để quy định về trưng dụng đất, Nhà nước trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai Chính vì việc trưng
Trang 20dụng đất trong tình trạng chiến tranh, chống thiên tai nên người có đất phải chấp hành quyết định trưng dụng, nếu việc trưng dụng gây ra thiệt hại thì người bị trưng dụng đất được bồi thường, chẳng hạn bồi thường khi đất trưng dụng bị hủy hoại hoặc thiệt hại về thu nhập28 Như vậy, việc trưng dụng đất được thực hiện trong một thời gian nhất định để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai, khi hết thời hạn trưng dụng thì Nhà nước trả lại đất cho người sử dụng đất để tiếp tục sử dụng, nếu đất có bị huỷ hoại hay người bị trưng dụng có
bị thiệt hại về thu nhập thì được bồi thường
Tóm lại, lược sử trưng dụng đất trải qua nhiều giai đoạn, đến nay quy định của pháp luật về trưng dụng đất cũng hoàn thiện hơn, các quy định cũng ngày càng đi vào thực tế hơn, chế định trưng dụng đất cũng được nhiều người biết đến và hiểu rõ hơn
1.3.2 Lược sử về thu hồi đất
Luật Đất đai phát triển qua nhiều giai đoạn, mỗi một giai đoạn đánh dấu được sự phát triển của quy định trong luật, cũng như vấn đề thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày càng được quy định rõ ràng, cụ thể hơn Vì vậy, về lược sử thu hồi đất người viết tạm chia thành 04 giai đoạn: (i) trước Luật Đất đai năm 1993; (ii) từ Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực đến trước Luật Đất đai năm 2003; (iii) từ Luật Đất đai năm
2003 có hiệu lực đến trước Luật Đất đai năm 2013; (iv) từ Luật Đất đai năm 2013 có hiệu
lực đến nay
1.3.2.1 Giai đoạn trước Luật Đất đai năm 1993
Ở giai đoạn này có thể nói "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý" được ghi nhận trong Luật Đất đai năm 1987, luật quy định người sử dụng đất có quyền hạn rất hạn chế, người sử dụng đất không được chuyển nhượng đất, chỉ được chuyển quyền sử dụng đất trong những trường hợp:
+ Khi hộ nông dân vào hoặc ra hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp;
+ Khi hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp và cá nhân thỏa thuận đổi đất cho nhau để tổ chức lại sản xuất;
+ Khi người được giao đất chuyển đi nơi khác hoặc đã chết mà thành viên trong
hộ của người đó vẫn còn tiếp tục sử dụng đất đó
Đất được sử dụng chủ yếu để làm nông nghiệp, Nhà nước khuyến khích sản xuất nông nghiệp Vấn đề thu hồi đất trong Luật Đất đai năm 1987 được quy định rõ ràng,
28
Xem Điều 72 Luật Đất đai năm 2013
Trang 21nhưng chủ yếu là do nhu cầu của người sử dụng không còn, đất đai không được xem trọng Nếu Nhà nước có thu hồi đất thì cũng giao lại cho người sử dụng đất một mảnh đất khác để sử dụng hoặc là đền bù tiền Cụ thể, Nhà nước thu hồi đất đã giao cho người sử dụng trong 08 trường hợp, trong đó không có trường hợp nào là thu hồi đất để phát triển kinh tế
- Thứ nhất: Tổ chức sử dụng đất bị giải thể, chuyển đi nơi khác hoặc bị thu hẹp mà giảm nhu cầu sản xuất;
- Thứ hai: Tất cả số người trong hộ sử dụng đất đã chuyển đi nơi khác hoặc đã chết;
- Thứ ba: Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất được giao;
- Thứ bảy: Đất giao không đúng thẩm quyền quy định tại Điều 13 của Luật này;
- Thứ tám: Cần sử dụng đất cho nhu cầu của Nhà nước hoặc của xã hội.29
Luật Đất đai năm 1987 quy định trường hợp thu hồi đất trong tình hình khẩn cấp,
có thể nói đây là trường hợp thu hồi đất đặc biệt, là trường hợp có nhu cầu khẩn cấp của chiến tranh hoặc chống thiên tai thì chủ thể có thẩm quyền quyết định thu hồi đất theo đề nghị của cơ quan chỉ huy quân sự hoặc cơ quan chỉ huy chống bão lụt.30 Song song với quy định Luật Đất đai năm 1987 thì Nghị định 30-HĐBT của Hội đồng bộ trưởng ngày
23 tháng 3 năm 1989 về việc thi hành Luật Đất đai quy định nguyên tắc khi thu hồi đất phải đảm bảo chuyển nhanh vào sản xuất nông nghiệp, hạn chế việc chuyển đất vào các mục đích không phải là sản xuất nông nghiệp, Nhà nước luôn khuyến khích người dân sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp, chưa ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng Đến năm 1990, Hội đồng bộ trưởng cũng quy định thu hồi đất trong tình hình khẩn cấp, cụ thể trong trường hợp đặc biệt phải sử dụng đất nông nghiệp, đất có rừng cho nhu cầu khẩn cấp của chiến tranh hoặc chống thiên tai thì cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi.31
1.3.2.2 Từ Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực đến trước Luật Đất đai năm 2003
Có thể nói, Đất nước ngày càng phát triển, con người ngày càng có nhiều nhu cầu
Trang 22phát triển hơn, phát sinh nhiều vấn đề mà cần đến đất để sử dụng hơn Từ đó, đất đai ngày càng được xem trọng, có giá trị hơn Luật Đất đai năm 1993 quy định về những trường hợp thu hồi đất rõ ràng, cụ thể hơn (ví dụ: Luật Đất đai năm 1987 quy định trường hợp thu hồi đất khi "người sử dụng đất vi phạm nghiêm trọng những quy định về sử dụng đất" chúng ta không hiểu vi phạm như thế nào là nghiêm trọng về sử dụng đất, còn Luật Đất đai năm 1993 quy định rõ là "đất sử dụng không đúng mục đích được giao" và trường hợp người sử dụng đất không sử dụng đất được giao trong 06 tháng liền Luật Đất đai năm 1993 quy định được thời gian dài hơn là 12 tháng liền) Luật Đất đai năm 1993 còn quy định "Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại32, luật bắt đầu quy định về đền
bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Cụ thể được Chính phủ hướng dẫn chi tiết tại Nghị định số 90/CP, về nguyên tắc đền bù thì người được Nhà nước giao đất sử dụng vào mục đích nào thì được đền bù bằng cách giao đất có cùng mục đích sử dụng để thay thế hoặc đền bù bằng tiền theo giá đất cùng mục đích sử dụng Nếu Nhà nước không thể đền bù bằng cách giao đất thay thế hoặc người bị thu hồi đất không yêu cầu đền bù bằng đất thì đền bù bằng tiền theo giá đất cùng hạng hoặc cùng loại của đất bị thu hồi Bên cạnh đó, giá đất để tính đền
bù thiệt hại do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây viết tắt là
Ủy ban nhân cấp tỉnh) ban hành theo khung giá đất do Chính phủ quy định.33 Nghị định này chỉ quy định về đền bù thiệt hại về đất và tài sản mà không quy định về mức hỗ trợ cho người bị thu hồi đất để di chuyển chỗ ở, tái định cư, cũng như đào tạo nghề nghiệp, việc làm, Để khắc phục lỗ hỏng đó, Nghị định số 22/1998/NĐ-CP (ban hành để thay thế cho Nghị định số 90/CP) Nghị định này quy định có lợi hơn cho người bị thu hồi đất, và phạm vi đền bù thiệt hại nhiều hơn quy định trước đây, cụ thể:
- Thứ nhất: Đền bù thiệt hại về đất cho toàn bộ diện tích đất thu hồi theo quy định tại Chương II của Nghị định này;
- Thứ hai: Đền bù thiệt hại về tài sản hiện có bao gồm cả các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật gắn liền với đất thu hồi;
- Thứ ba: Trợ cấp đời sống và sản xuất cho những người phải di chuyển chỗ ở, di chuyển địa điểm sản xuất kinh doanh;
- Thứ tư: Trả chi phí chuyển đổi nghề nghiệp cho người có đất bị thu hồi mà phải chuyển nghề nghiệp;
Trang 23- Thứ năm: Trả các chi phí phục vụ trực tiếp cho việc tổ chức thực hiện đền bù, di chuyển, giải phóng mặt bằng.34
Trong đó, Nghị định cũng quy định rõ về đền bù thiệt hại cho từng loại đất (đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất làm muối, đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản, đất ở tại đô thị, đất ở thuộc nông thôn, đất chuyên dùng35), mỗi loại đất đền bù thiệt hại theo cơ chế riêng Nghị định hướng dẫn chi tiết về việc đền bù thiệt hại về đất, tài sản và chính sách
hỗ trợ, hỗ trợ để ổn định đời sống và sản xuất, những người phải di chuyển chỗ ở được tính trong thời gian là 06 tháng thì được hỗ trợ, với mức trợ cấp tính bằng tiền cho 01 nhân khẩu/01 tháng tương đương 30 kg gạo theo thời giá trung bình ở thị trường địa phương tại thời điểm đền bù36 Tuy được hỗ trợ tiền nhưng cuộc sống người dân vẫn bị ảnh hưởng về sau, vừa bị mất đất vừa bị mất việc làm cuộc sống khó có thể được như trước
1.3.2.3 Từ Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực đến trước Luật Đất đai năm 2013
Nói đến thu hồi đất thì Luật Đất đai năm 2003 quy định về các trường hợp thu hồi đất rõ ràng nhất so với các văn bản trước đây và mục đích thu hồi đất để phát triển kinh tế bắt đầu được quy định, cụ thể là Điều 38 Luật Đất đai năm 2003 quy định 12 trường hợp thu hồi đất, ngoài Khoản 1 Điều 38 thì các khoản còn lại cũng quy định rõ lý do của việc thu hồi đất (ví dụ: Khoản 8 Điều 38 Luật Đất đai năm 2003 quy định "người sử dụng đất
tự nguyện trả lại đất"), đối với Khoản 1 Điều 38 được Chính phủ hướng dẫn chi tiết tại Nghị định số 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29 tháng 10 năm 2004 về việc thi hành Luật Đất đai, Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng trong trường hợp:
- Sử dụng đất cho mục đích quốc phòng, an ninh;
- Sử dụng đất để xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất;
- Sử dụng đất để xây dựng trụ sở của tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao;
- Sử dụng đất để xây dựng các công trình công cộng không nhằm mục đích kinh doanh;
- Sử dụng đất để chỉnh trang, phát triển khu đô thị và khu dân cư nông thôn;
Trang 24- Sử dụng đất làm nghĩa trang, nghĩa địa.37
Từ khi Luật Đất đai năm 2003 ra đời và tình hình nước ta trong giai đoạn này cũng đang trên đà phát triển, con người cần đến những cơ sở vật chất hiện đại hơn, công trình quy mô hơn Vì vậy mà vấn đề thu hồi đất cũng được nhiều người quan tâm hơn Nói đến thu hồi thì có bồi thường, nhưng không phải trường hợp nào cũng được bồi thường, quan trọng hơn là chính sách của Nhà nước đối với người bị thu hồi đất như thế nào? Việc bồi thường được thực hiện ra sao? Để giải quyết thắc mắc của nhiều người, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 197/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 03 tháng 12 năm 2004 về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Nghị định quy định rõ nguyên tắc bồi thường; điều kiện được bồi thường; những trường hợp được bồi thường về đất và tài sản gắn liền trên đất; hỗ trợ thêm cho đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư, đất vườn
ao liền kề với đất ở trong khu dân cư (giá tính hỗ trợ từ 20% - 50% giá đất ở liền kề, mức
hỗ trợ cụ thể do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho phù hợp với thực tế tại địa phương38); các chính sách hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất và người bị thiệt hại do thu hồi đất gây ra; trình tự, thủ tục thực hiện thu hồi đất Để cụ thể hóa thêm những quy định của Luật Đất đai năm 2003 và các Nghị định hướng dẫn về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Nghị định số 69/2009/NĐ-CP, Nghị định này quy định chủ yếu là giá đất khi Nhà nước thu hồi đất, lấy ý kiến bồi thường và trình tự, thủ tục khi thu hồi đất Hướng dẫn chi tiết vấn đề này, Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01-10-2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất Các quy định hướng dẫn về thu hồi đất ra đời ngày càng hoàn thiện hơn trong quá trình thu hồi đất, giải quyết được vướng mắc gặp phải khi tiến hành thu hồi đất
1.3.2.4 Giai đoạn từ Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực đến nay
Nhìn chung, từ khi Luật Đất đai năm 2013 ra đời vấn đề thu hồi đất được cải tiến hơn, khắc phục được một số vướng mắc từ việc quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đến trình tự, thủ tục thực hiện nhằm đảm bảo một cách công khai, minh bạch và quyền lợi của người có đất bị thu hồi nhằm khắc phục, loại bỏ những trường hợp thu hồi đất làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người sử dụng đất đồng thời khắc phục một cách có hiệu quả những trường hợp thu hồi đất mà không đưa vào sử dụng, gây lãng phí, tạo nên dư luận xấu trong xã hội Đặc biệt, Luật cũng quy định chế tài mạnh để
xử lý những trường hợp không đưa đất đã được giao, cho thuê vào sử dụng hoặc chậm
Trang 25đưa đất vào sử dụng Quy định đầy đủ, rõ ràng về những trường hợp thật cần thiết mà Nhà nước phải thu hồi, quy định giá đất bồi thường không áp dụng theo bảng giá đất mà
áp dụng giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất39 Luật quy định cụ thể, đầy đủ các trường hợp bị thu hồi đất, đối với trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế, thì được quy định trường hợp ít hơn Để cụ thể hóa trường hợp thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, để phát triển kinh tế -xã hội vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Chính phủ ban hành Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, cụ thể Nghị định quy định bồi thường cho các loại đất (ví dụ: Đối với trường hợp bồi thường khi thu hồi đất ở thì "Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất, người Việt nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt nam khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì được bồi thường bằng đất ở, nhà ở tái định cư hoặc bằng tiền40
), bên cạnh đó Nghị định cũng quy định rõ về bồi thường thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất, thiệt hại tài sản gắn liền với đất đối với đất thuộc hành lang an toàn khi xây dựng công trình có hành lang bảo vệ, bồi thường đối với đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 1-7-2014, đối với trường hợp diện tích đo đạc khác với diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất, người đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất, về di chuyển mồ mả, 41 từ đó giải đáp được thắc mắc của người bị thu hồi đất Song song đó, Nghị định cũng quy định về hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất, đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm, cũng như hỗ trợ tái định cư cho người có đất bị thu hồi và trình tự, thủ tục thực hiện
Có thể nói, trong những năm qua lĩnh vực đất đai ngày càng hoàn thiện Tuy nhiên, trên thực tế còn nhiều trường hợp khiếu nại, tố cáo, tình hình khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai diễn ra rất phức tạp, đòi hỏi phải có những giải pháp hết sức căn cơ, đồng bộ với sự tham gia của nhiều cấp, nhiều ngành Thực hiện chủ trương của Đảng và trên cơ
sở pháp luật hiện hành, thời gian qua các cơ quan có trách nhiệm ở Trung ương và các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương đã có nhiều giải pháp nhằm tập trung giải quyết để giảm số vụ tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai Kết quả là, Bộ Tài nguyên và môi
39
Xem tại: Minh Minh, Những đổi mới quan trọng về chính sách đất đai trong Luật Đất đai năm 2013,
http://www.moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=6011 , [truy cập ngày 04-7-2014]
40
Xem điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP Ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất
41
Xem Nghị định số 47/2014/NĐ-CP Ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Trang 26trường đẫ tiếp nhận 10.137 đơn thư vào năm 2005, đến năm 2011 giảm xuống còn 5.298 đơn thư Tòa án các cấp đã thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm 307.912 vụ việc, trong
đó số vụ việc liên quan đến tranh chấp đất đai là 69.806 vụ việc, chiếm 22,70% Các cấp chính quyền địa phương đã có nhiều cố gắng và giải quyết được phần lớn các vụ việc, khiếu nại, tố cáo ngay tại cơ sở, được nhân dân đồng tình ủng hộ, từng bước hạn chế khiếu kiện vượt cấp, góp phần ổn định tình hình chính trị, giữ vững an ninh, trật tự xã hội Một số địa phương đã đặt công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản lý đất đai.42
Tóm lại, lược sử thu hồi đất trải qua nhiều giai đoạn, nhiều thời kỳ, cũng gặp không ít khó khăn, vướng mắc đến nay cơ bản đã hoàn thiện, đã đánh dấu được sự phát triển trong công trình nghiên cứu của nhà làm luật, cũng như trong phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật
1.4 Ý nghĩa của trƣng dụng đất và thu hồi đất
Để đất nước phát triển bền vững thì cơ sở hạ tầng phát triển là điều kiện tiên quyết Bên cạnh đó, quốc phòng, an ninh vững mạnh là rất cần thiết, bảo vệ tính mạng, sức khỏe con người là trách nhiệm của toàn xã hội Vì thế, trưng dụng đất và thu hồi đất có ý nghĩa rất to lớn
1.4.1 Ý nghĩa của việc trưng dụng đất và bồi thường khi Nhà nước trưng dụng đất
Cùng với ý nghĩa của thu hồi đất vì mục đích công cộng và lợi ích quốc gia thì Nhà nước có thể trưng dụng đất của người sử dụng đất hợp pháp trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia Các trường hợp thật cần thiết này như chiến tranh, thiên tai hoặc trường hợp khác Qua đó, có thể rút được ý nghĩa về tầm quan trọng của trưng dụng đất:
- Thứ nhất, Nhà nước trưng dụng đất để đảm bảo lợi ích công cộng, ưu tiên hàng đầu
để duy trì hoạt động ổn định của quốc gia Chẳng hạn, bão lũ làm sập một cây cầu huyết mạch nối liền hai tỉnh với nhau, nếu sửa chữa và phục hồi lại cây cầu thì rất tốn kém và mất thời gian mà lại không có chất lượng nên đã trưng dụng đất của các hộ xung quanh
có địa hình thuận lợi để xây dựng cây cầu tạm
- Thứ hai, thể hiện vai trò chủ đạo của cơ quan nhà nước trong quản lý nhà nước của mình Chẳng hạn, cơ quan quản lý nhà nước như các Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân
Trang 27dân cấp tỉnh thực hiện việc trưng dụng đất khi thật cần thiết trong phạm vi mình quản lý
- Thứ ba, sau khi trưng dụng đất xong thì người dân được trả lại đất, được bồi thường về đất, thu nhập theo giá thị trường Qua đó, tạo niềm tin, sự động viên cho người dân yên tâm khi nhà nước trưng dụng đất để phòng, chống chiến tranh, thiên tai
1.4.2 Ý nghĩa của việc thu hồi đất và Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Việc thu hồi đất không chỉ làm chấm dứt quyền sử dụng đất của cá nhân, hộ gia đình,
tổ chức đang sử dụng đất mà còn ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan: đầu tiên là lợi ích người bị thu hồi đất, lợi ích người hưởng lợi từ việc thu hồi đất (các nhà đầu tư, doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức, ) Trên thực tế việc giải quyết ổn thỏa hậu quả mang lại từ việc thu hồi đất gặp rất nhiều khó khăn, hơn nửa rất phức tạp Giải quyết tốt vấn đề thu hồi đất mang lại ý nghĩa to lớn Quyền sử dụng đất của các tổ chức,
cá nhân là một quyền nhất định khi Nhà nước giao đất sử dụng ổn định lâu dài, ông bà ta
từ xa xưa đã nói "Có an cư mới lạc nghiệp", thế nhưng nhà nước có quyền thu hồi đất khi cần sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, để phát triển kinh tế vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, từ đó làm cho cuộc sống người dân đang yên lành lại bị xáo trộn, có thể di chuyển chỗ ở, tạo dựng cuộc sống mới với muôn ngàn khó khăn, nếu công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư không hợp lý thì gây bất đồng trong dư luận Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn thì việc thu hồi đất đã mang lại những ý nghĩa to lớn hơn cho đất nước mai sau như:
- Thứ nhất, thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất một cách hợp lý góp phần phát triển cơ sở hạ tầng, tránh lãng phí đất đai khi dân số nước ta ngày càng tăng, trong khi đó diện tích đất ngày càng bị thu hẹp, đặc biệt gần đây là quá trình công nghiệp hóa đất nước
- Thứ hai, ngày càng hoàn thiện và nâng cao chất lượng các công trình cơ sở hạ tầng, phục vụ trước hết cho người dân như đường xá, cầu cống, điện nước tới vùng sâu vùng
xa, trường học, bệnh viện, công viên, Các công trình này có thể sử dụng trong thời gian lâu dài
- Thứ ba, cơ sở hạ tầng ngày càng được hoàn thiện thì thu hút đầu tư của nước ngoài vào Việt nam ngày càng nhiều, qua đó tạo điều kiện cho người lao động của nước ta học hỏi những kinh nghiệm về khoa học - kỹ thuật của các nước tiên tiến khi đầu tư tại Việt nam
- Thứ tư, khi các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt nam thì các khu công nghiệp mọc lên nhiều hơn, tạo việc làm cho đội ngũ lao động cũng như giải quyết tình trạng thất
Trang 28nghiệp cho đất nước, mức sống người dân được cải thiện và nâng cao
- Thứ năm, thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thì công trình xây dựng phục vụ đời sống người dân, nhà cửa được bố trí hợp lý tạo vẻ mỹ quan đô thị, tránh sự phân tán dân cư, gây lãng phí đất đai
1.5 Ảnh hưởng của trưng dụng đất và thu hồi đất
1.5.1 Ảnh hưởng của trưng dụng đất
Do tính khẩn cấp của trưng dụng đất nên đã ảnh hưởng đáng kể đến cuộc sống của người trưng dụng từ vật chất đến tinh thần
- Ảnh hưởng đối với người bị trưng dụng:
+ Tạm thời bị mất việc làm: Vì lý do quốc phòng, an ninh hay chiến tranh, thiên tai khi Nhà nước trưng dụng đất thì đều làm cho người dân tạm thời mất việc làm trong thời gian trưng dụng Một phần cũng do người dân nghĩ rằng trưng dụng trong thời gian ngắn nên không cần phải đi xin việc làm ổn định mà làm việc tạm thời qua ngày tại nơi ở
+ Tạm thời di chuyển đến chỗ ở khác: Do trưng dụng đất có thời hạn nên đa phần người bị trưng dụng sống "tạm bợ" chứ không xây dựng nhà ở cố định
- Ảnh hưởng đối với xã hội: Vì trưng dụng đất khi sắp có chiến tranh, thiên tai để phục vụ cho lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng góp phần đảm bảo cho đất nước ổn định Bên cạnh đó, vẫn có tình trạng xảy ra tệ nạn xã hội, mất việc làm sinh ra cờ bạc, rượu chè,
- Ảnh hưởng đối với những người liên quan:
+ Về cơ quan Nhà nước: Nâng cao vị trí, vai trò của cơ quan quản lý Nhà nước, khi có nhu cầu thì trưng dụng đất để phục vụ lợi ích chung
+ Những người xung quanh: Cuộc sống đang yên ổn, nay bị xáo trộn Thêm nữa, khi trưng dụng đất có thể làm tổn hại đến lợi ích về vật chất và tinh thần của họ, hư hại
cây cối, hạn chế trong việc buôn bán, sản xuất, kinh doanh,
1.5.2 Ảnh hưởng của thu hồi đất
* Ảnh đối với người bị thu hồi đất
Theo quy định của pháp luật thì người bị thu hồi đất nếu đủ điều kiện thì được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để mang lại cuộc sống bằng hoặc tốt hơn cuộc sống trước khi thu hồi Nhưng như thế không có nghĩa là cuộc sống của họ không bị ảnh hưởng
- Thu hồi hết đất ở làm cho người dân phải chuyển đến chỗ ở mới, gặp không ít khó khăn trong quá trình di chuyển đến chỗ ở mới, sau đó thì làm quen với môi trường sống, sinh hoạt tại nơi mới đến; công việc mới và một số có thể bị thất nghiệp do mất việc làm;
Trang 29hàng xóm mới, một số người chuyển đi nơi khác sống trở nên sống khép kính hơn, Tất
cả đều phải bắt đầu lại từ đầu Cuộc sống đang êm ấm, gia đình hạnh phúc vậy mà bị xáo trộn, làm ảnh hưởng đến cuộc sống và tinh thần do thu hồi đất gây ra
- Phải di chuyển đến chỗ ở khác làm cho người bị thu hồi đất mất việc làm, ảnh hưởng đến thu nhập của họ, không còn nơi để sản xuất, kinh doanh
- Đối với những người chọn phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bằng tiền thì phải tự tìm kiếm chỗ ở mới Một số người không lo làm ăn, không tìm nơi để an cư mà lấy số tiền đó để ăn chơi, mua sắm, hưởng thụ đến khi hết tiền mà vẫn chưa có chỗ ở mới, cuộc sống nghèo lại càng thêm nghèo, gia đình đổ vỡ
Tuy nhiên, Nhà nước có chính sách hỗ trợ bố trí việc làm mới, tạo điều kiện để có việc làm, đào tạo học nghề Nhưng người bị thu hồi đất chọn hình thức này không nhiều,
có thể họ nghĩ rằng cho dù có đi học thì cũng không xin được việc làm Vì vậy, họ chọn hình thức hỗ trợ bằng tiền để tự tìm kiếm việc làm cho mình
* Ảnh hưởng đối với xã hội
Khi thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh hay để phát triển kinh tế vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì lợi ích trước mắt là cho đất nước, sau đó mới là cho công cộng, người dân Nhưng đồng thời cũng bị ảnh hưởng không ít cho xã hội trong quá trình thu hồi
- Thứ nhất: Ảnh hưởng đầu tiên có thể nói là tạo ra các tệ nạn xã hội Bởi khi Nhà nước thu hồi đất, người dân không còn đất để làm nông nghiệp, sản xuất kinh doanh, từ
đó người dân mất việc làm, số người mất việc tăng lên Thời gian rảnh rổi không có gì làm sinh ra rượu chè, bài bạc, lô đề, Gây mất an ninh trật tự xã hội, quan trọng hơn là cuộc sống gia đình tan vở
- Thứ hai: Trình độ học vấn ngày càng thấp Khi chuyển đến nơi ở mới, "lạ bạn, lạ trường", một phần cha mẹ ít quan tâm đến việc học của con cái dẫn đến xa rời việc học,
tụ tập bạn bè, Một số thanh niên chủ yếu đi làm công ty để kiếm tiền phục vụ cuộc sống
- Thứ ba: Mất cân bằng dân số, dân cư tập trung lên thành phố Để duy trì cuộc sống
"kiếm kế sinh nhai" người dân phải di cư lên thành phố để tìm việc làm từ các công ty, xí nghiệp, khu công nghiệp, Từ đó mà dân cư ở nông thôn thưa dần, ở thành phố thì đông đúc, "quá tải"
- Khoảng cách giữa người giàu với người nghèo rõ rệt, khi người nghèo bị mất đất
và công việc thì nghèo lại càng nghèo, còn người giàu thì có cơ hội để kinh doanh, cơ hội đầu tư phát triển, giàu càng thêm giàu
Trang 30* Ảnh hưởng đối với những người liên quan
Ngoài người bị thu hồi đất và xã hôi bị ảnh hưởng thì những người sống xung quanh khu vực thu hồi đất cũng bị ảnh hưởng không ít Tuy không bị Nhà nước thu hồi đất, nhưng trong quá trình tiến hành giải phóng mặt bằng thì không thể tránh khỏi ảnh hưởng:
- Để xây dựng công trình thì cần phải bơm cát, trong quá trình bơm cát thì không thể tránh được cát tràn qua khu vực bên cạnh, có thể làm gảy cây cối, chết cây, làm vơ đồ đạc, Làm cuộc sống riêng tư của họ bị ảnh hưởng
- Trong quá trình xây dựng công trình không thể thiếu các công cụ, phương tiện để phục vụ công trình như xe tải chở vật liệu, các máy khoan, máy trộn bê tông, Những người ở gần công trình phải chịu tiếng ồn, khói bụi gây ô nhiễm môi trường, nguy hiểm đến sức khỏe con người
- Bên cạnh đó, có một số công trình xây dựng như xây dựng cầu, cống, điện, nước, Cần phải nối liền với công trình và sự hỗ trợ của các khu vực lân cận
Qua những gì tìm hiểu về ảnh hưởng của thu hồi đất, có thể nói thu hồi đất là một vấn đề phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người sử dụng đất Vì vậy, xã hội rất quan tâm đến chủ thể thu hồi và chủ thể bị thu hồi