1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo pháp luật việt nam

50 928 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nhằm làm rõ một phần về mặt lý luận trong quy định “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao” theo quy định của ph

Trang 1

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Ths Nguyễn Phan Khôi Nguyễn Công Giàu

Bộ môn: Luật Tư pháp Mssv: 5115973

Cần Thơ 12/2014

Trang 2

Trong suốt quá trình học tập người viết luôn nhận được sự giảng dạy tận tâm của quý Thầy, Cô của Khoa Luật Trường Đại học Cần Thơ đã truyền đạt những kiến thức pháp luật, dạy dỗ và rèn luyện đạo đức – nhân cách – kiến thức cho người viết Đặc biệt trong quá trình viết luận văn, người viết xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới Thầy

Nguyễn Phan Khôi đã quan tân và chỉ dẫn tận tình tạo điều kiện giúp người viết có thể

hoàn thành tốt nhất Luận văn tốt nghiệp này

Vì kiến thức có hạn, thêm vào đó là lần đầu tiên bắt tay vào viết Luận văn nên không tránh khỏi những sai sót nhất định, người viết mong nhận được sự chia sẽ, góp ý

từ phía các Thầy, Cô để người viết thông suốt kiến thức và sửa chữa lại để Luận văn được hoàn thiện hơn

Cuối cùng, người viết xin chúc quý Thầy, Cô luôn dồi dào sức khoẻ và thu được nhiều thành công trong công tác học tập, giảng dạy và nghiên cứu

Xin trân trọng kính chào!

Cần Thơ, ngày tháng năm 2014

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Công Giàu

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

5 Kết cấu của đề tài

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN TÁC GIẢ VÀ

NGOẠI LỆ CỦA QUYỀN TÁC GIẢ 4

1.1 Khát quát quy định chung về quyền tác giả và đặc điểm của quyền tác giả 4

1.1.1 Quyền tác giả 4

1.1.2 Đặc điểm của quyền tác giả 7

1.2 Quy định các ngoại lệ của quyền tác giả theo pháp luật quốc tế và quốc gia 9

1.2.1 Quy định về các ngoại lệ của quyền tác giả theo pháp luật quốc tế 9

1.2.2 Quy định về các ngoại lệ của quyền tác giả theo của pháp luật quốc gia 10

1.2.3 Ý nghĩa của việc quy định các ngoại lệ của quyền tác giả 12

1.3 Sự hình thành và đặc điểm của quy định “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao” theo pháp luật Việt Nam 14

1.3.1 Sự hình thành của quy định “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao” tại Việt Nam .14

1.3.2 Đặc điểm quy định “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao” theo pháp luật Việt Nam 16

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ “CÁC TRƯỜNG HỢP SỬ DỤNG TÁC PHẨM ĐÃ CÔNG BỐ KHÔNG PHẢI XIN PHÉP NHƯNG PHẢI TRẢ TIỀN NHUẬN BÖT, THÙ LAO” 19

2.1 Cơ sở pháp lý liên quan quy định về “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao” theo pháp luật Việt Nam hiện hành 19

2.2 Chi tiết quy định về “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao” theo pháp luật Việt Nam 20

Trang 4

2.2.2 Đối tượng được đề cập trong quy định “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã

công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao” 24

2.2.3 Điều kiện về việc sử dụng tác phẩm được đặt ra trong quy định “Các trường

hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao” 28

2.3 Các vấn đề khác có liên quan 29

2.3.1 Nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật 30

2.3.2 Một số hành vi xâm phạm quyền tác giả trong việc sử dụng tác phẩm đã công

bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao 31

2.3.3 Các biện pháp chế tài xử lý vi phạm được đặt ra điều chỉnh 31

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KHÓ KHĂN CÕN GẶP PHẢI TỪ QUY ĐỊNH ĐẾN THỰC TIỄN VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ ĐẶT RA 35

3.1 Một số khó khăn còn gặp phải từ quy định đến thực tiễn áp dụng 35

3.2 Một vài đề xuất giải quyết vấn đề khó khăn còn gặp phải theo pháp luật Việt

Nam hiện hành 40

KẾT LUẬN 44

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Pháp luật, công cụ hữu hiệu trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể được bảo vệ trong pháp chế xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việc bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể được thực hiện trên nhiều góc độ và phương diện khác nhau Xem xét dưới góc độ Sở hữu trí tuệ, pháp luật về Sở hữu trí tuệ góp phần không nhỏ vào việc bảo

vệ “sự sáng tạo tư duy” của con người Sự sáng tạo này là các “tài sản vô hình” mà pháp

luật nhận nhận thấy cần phải bảo hộ bằng cách trao cho chủ nhân của nó một hay một số độc quyền nhất định với mục đích nhằm tôn trọng, bảo vệ, khuyến khích việc sáng tạo ra các tài sản trí tuệ đó và vì lợi ích chung của xã hội

Nhìn chung, pháp luật Sở hữu trí tuệ luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nắm giữ quyền tác giả để họ có thể khai thác tốt quyền lợi mà họ nhận được từ sự sáng tạo của mình Với các đối tượng của Sở hữu trí tuệ nói chung và việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm nói riêng, việc bảo hộ nhìn chung thường bị giới hạn về thời gian, cũng như tồn tại một số giới hạn - ngoại lệ nhất định mà theo đó người nắm giữ quyền tác giả sẽ bị hạn chế một hoặc một số quyền đối với tác phẩm của mình Một trong

những giới hạn - ngoại lệ được đưa ra nghiên cứu là: “Các trường hợp sử dụng tác phẩm

đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao” được ghi nhận

tại Điều 26 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 Điều này mang ý nghĩa chính là giúp phổ biến các tài sản trí tuệ được thuận tiện và rộng rãi hơn

Bài viết nhằm làm rõ một phần về mặt lý luận trong quy định “Các trường hợp sử

dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao”

theo quy định của pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành, đặc biệt là việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chủ thể nắm giữ quyền tác giả Suy cho cùng bản chất của trường hợp sử dụng được nêu trên thực chất là hành vi xâm phạm đến quyền của chủ thể nắm giữ quyền tác giả, nhằm làm sáng tỏ quy định của pháp luật và phân tích đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở pháp lý của quy định cũng như quy định hiện hành về chủ thể, đối tượng, điều kiện, các vấn đề liên quan như nhuận bút, thù lao,… các hành vi xâm phạm và một

số chế tài xử lý trong “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin

phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao” Bên cạnh đó người viết cũng có sự nhìn

nhận những tồn tại về một số khó khăn còn gặp phải từ quy định đến thực tiễn và từ đó đề xuất một vài hướng giải quyết được cho là có khả năng giải quyết được các vấn đề trên

Trang 6

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Người viết muốn đi vào hoạt động nghiên cứu, tìm hiểu và phân tích về một trong

các giới hạn - ngoại lệ của quyền tác giả được ghi nhận tại Điều 26 “Các trường hợp sử

dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao”

của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 Trên cái nhìn tổng quan về quyền tác giả, đặc điểm của quyền tác giả cũng như các giới hạn - ngoại lệ của

quyền tác giả, người viết tiến hành tìm hiểu và phân tích quy định “Các trường hợp sử

dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao”

Đồng thời nhìn nhận những bất cập, hạn chế gặp phải và từ đó đưa ra một số giải pháp

mà người viết cho rằng có thể giải quyết được một phần các vấn đề mà mình đã trình bày

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Sở hữu trí tuệ là một phạm trù có phạm vi nghiên cứu rộng, bao gồm nhiều đối tượng được bảo hộ Trong phạm vi nghiên cứu, do hạn chế về hiểu biết và thời gian nên

người viết chỉ nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến “Các trường hợp sử dụng tác

phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao” được quy

định tại Điều 26 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009

Cụ thể, người viết sẽ đề cập đến các nội dung sau: khái quát các quy định chung

về quyền tác giả và đặc điểm của quyền tác giả, các ngoại lệ của quyền tác giả, sự hình thành quy định được đưa ra nghiên cứu, đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở pháp lý cũng như quy định hiện hành về chủ thể, đối tượng, điều kiện, các vấn đề khác liên quan đến nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác, một số hành vi xâm phạm và biện pháp xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành Thông qua đó, người viết cũng có sự nhìn nhận về một số hạn chế, bất cập còn gặp phải từ quy định đến thực tiễn và trên cơ sở

đó cũng đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện một phần quy định của pháp luật

4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Trong đề tài, người viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp tổng hợp các quy định của pháp luật về cùng một vấn đề; phương pháp so sánh để tìm cái chung, cái riêng để xác định vấn đề trọng tâm, cái khác biệt nổi bật; phương pháp sắp xếp, chọn lọc các nguồn tài liệu tham khảo được để sắp xếp theo chuẩn chung và tìm tài liệu đáng tin cậy và phương pháp phân tích các quy định của pháp luật xoay quanh vấn

đề “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả

tiền nhuận bút, thù lao” được đưa ra nghiên cứu trong quy định tại Điều 26 của Luật Sở

hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009

Trang 7

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì kết cấu của đề tài nghiên cứu được bố cục chính gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung các quy định về quyền tác giả và ngoại lệ của quyền

tác giả

Chương 2: Nội dung quy định của pháp luật Việt Nam về “Các trường hợp sử

dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao”

Chương 3: Một số khó khăn còn gặp phải từ quy định đến thực tiễn và một số đề

xuất giải quyết vấn đề đặt ra

Trang 8

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN TÁC GIẢ

VÀ NGOẠI LỆ CỦA QUYỀN TÁC GIẢ

Đất nước ngày càng có những thay đổi đáng kể về kinh tế, xã hội và mặt khác

cùng với những tiến bộ nhanh chóng cho sự phát triển đem lại những thay đổi quan trọng,

muốn phát triển đất nước đòi hỏi rất nhiều ở khâu lập pháp và cải cách pháp luật cho phù

hợp với tình hình mới Luật Sở hữu trí tuệ góp phần không nhỏ vào việc hoàn thiện hệ

thống pháp luật Việt Nam Một trong những vấn đề được đề cập là các quy định về việc

bảo hộ quyền tác giả và giới hạn quyền tác giả đối với tác phẩm được bảo hộ

Thách thức nảy sinh trong hoàn cảnh mới là sự duy trì cân bằng giữa việc đền đáp

xứng đáng cho chủ thể quyền tác giả của tác phẩm và đảm bảo rằng những đền đáp như

vậy là phù hợp với lợi ích công cộng và nhu cầu của xã hội hiện đại Theo đó, Luật Sở

hữu trí tuệ đưa ra các giới hạn (bao gồm các ngoại lệ) của quyền sở hữu trí tuệ nói chung

hay giới hạn của quyền tác giả nói riêng, cho phép chủ thể quyền tác giả chỉ được thực

hiện các quyền hạn của mình trong phạm vi và thời hạn bảo hộ luật định

1.1 Khái quát quy định chung về quyền tác giả và đặc điểm của quyền tác giả

1.1.1 Quyền tác giả

Có thể nói, lịch sử phát triển của nhân loại là lịch sử phát triển của tri thức và nền

văn minh ngày nay là thành quả của quá trình tích luỹ và kế thừa tri thức qua các thời đại

Việt Nam và các quốc gia trên thế giới càng ý thức cao giá trị và tầm quan trọng của các

sản phẩm do trí tuệ con người sáng tạo ra, vì vậy đã không ngừng khuyến khích và bảo

vệ thành quả đó bằng nhiều biện pháp khác nhau tác động để điều chỉnh

Quyền tác giả là một trong hai nhóm đối tượng quan trọng nhất của Sở hữu trí tuệ,

được đề cập trên phạm vi quốc tế lần đầu tiên bởi Công ước Berne 1886.1

Quyền tác giả là một lĩnh vực còn khá là mới mẻ đối với Việt Nam, tuy ý tưởng về

quyền tác giả có thể được xem là hình thành đầu tiên từ bản Hiến pháp năm 1946.2

Năm

1986 với Nghị định số 142/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng quy định quyền tác giả, có

hiệu lực thi hành ngày 14-11-1986, đây là lần đầu tiên Nhà nước Việt Nam đã ghi nhận

một văn bản riêng biệt về quyền tác giả đã được ban hành với những quy dịnh cơ bản

Nguyễn Bình, Nguyễn Thị Chính, Nguyễn Huy Ngát, Nguyễn Bích Ngọc, Bình luận về quyền tác giả

theo pháp luật Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà Nội, năm 2006, trang 9.

Trang 9

Sau đó không lâu, ngày 22-4-1994 Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả Pháp lệnh đã quy định tương đối đầy đủ và cụ thể về bảo hộ quyền tác giả so với Nghị định 142/HĐBT trước đó

Tiếp đó, ngày 28-10-1995 Bộ luật Dân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khoá IX, kỳ hợp thứ 8 thông qua, có hiệu lực ngày 1-7-1996

Bộ luật này dành riêng hai chương trong Phần thứ sáu quy định về sở hữu trí tuệ và nó trở thành nền tảng cơ sở pháp lý cao nhất cho việc khai thác tương đối toàn diện lĩnh vực

sở hữu trí tuệ Đây là móc son quan trọng đánh dấu việc bắt đầu lập nên một hệ thống pháp luật hiện đại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ ở Việt Nam

Ngày 14-6-2005, Quốc hội Việt Nam khoá XI, kỳ hợp thứ 7 đã thông qua Bộ Luật Dân sự và Bộ Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1-1-2006 Nhưng nhìn chung quyền tác giả được đề cập đến trong các Bộ luật này đa phần mang tính chất dân sự là chủ yếu

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới nền kinh tế - xã hội từng bước thay đổi đặt ra, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ hợp thứ 8 thông qua ngày 29-11-2005, có hiệu lực thi hành ngày 01-7-2006, lần này thì

quyền tác giả đã được quy định riêng bởi Luật mang tính “sở hữu trí tuệ” thật sự

Ngày 19-6-2009, Quốc hội khoá XII, kỳ hợp thứ 5 đã thông qua Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và có hiệu lực thi hành từ 01-01-2010 (sau đây gọi là Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành) Cùng với việc ra đời Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 thì cũng đã có các văn bản hướng dẫn thi hành cho Luật này tiêu biểu như:

- Nghị định 100/2006/NĐ-CP ban hành ngày 21-9-2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan (sau đây gọi là Nghị định 100/2006/NĐ-CP)

- Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày 22-9-2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền Sở hữu trí tuệ và quản lý Nhà nước về Sở hữu trí tuệ (sau đây gọi là Nghị định 105/2006/NĐ-CP)

- Nghị định 47/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan, có hiệu lực thi hành ngày 30-6-2009 (sau đây gọi là Nghị định 47/2009/NĐ-CP)

- Nghị định 85/2011/NĐ-CP ngày 29-09-2011 của Chính phủ quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 100/2006/NĐ-CP (sau đây gọi là Nghị định 85/2011/NĐ-CP)

Trang 10

- Nghị định 131/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan và có hiệu lực thi hành ngày 15/12/2013 (sau đây gọi là Nghị định 131/2013/NĐ-CP)…

Cùng đó, Việt Nam cũng đã gia nhập Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) cũng như là thành viên của nhiều Điều ước quốc tế về Sở hữu trí tuệ

Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) là một trong số các tổ chức chuyên môn thuộc Liên hợp quốc, được thành lập năm 1967 theo bản kí kết thành lập tại Stockholm Tuy nhiên, nguồn gốc sâu xa của WIPO phải được tính từ khi thông qua Công ước Pari vào năm 1853, và Công ước Berne năm 1886 Wipo có sứ mệnh thúc đẩy hợp tác quốc tế trong hoạt động sáng tạo, phổ biến, sử dụng và bảo hộ tài sản trí tuệ của con người nhằm phát triển kinh tế, văn hoá của xã hội của con người Việt Nam trở thành thành viên của WIPO vào ngày 2-7-1976 Đồng thời với hệ thống pháp luật quốc gia đã được định hình như trên, Hiệp định song phương về thiết lập quan hệ quyền tác giả, Hiệp định Thương mại giữa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kì, Hiệp định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ giữa Việt Nam và Liên bang Thụy Sỹ cũng đang có hiệu lực thi hành.3

- Công ước Berne năm 1886 về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật Vào ngày 7-6-2004, Việt Nam gia nhập Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, ngày 26-10-2004 Công ước có hiệu lực thi hành ở Việt Nam

- Công ước Genever về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống lại việc sao chép bất hợp pháp bản ghi âm của họ năm 1952 Việt Nam trở thành thành viên thứ 75 của Công ước và Công ước Genever có hiệu lực thi hành ở Việt Nam kể từ ngày 6-7-2005

- Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng Công ước có hiệu lực thi hành tại Việt Nam từ ngày 1-3-2007),…

Tóm lại, pháp luật về quyền tác giả ở Việt Nam còn tương đối mới Song có thể thấy, pháp luật về quyền tác giả của Việt Nam đã có những bước phát triển nhất định theo thời gian Trong thời gian tới, việc hoàn chỉnh hệ thống pháp luật quốc gia và gia nhập Điều ước quốc tế về quyền tác giả cũng như tăng cường sự hiểu biết và thực thi pháp luật trong lĩnh vực này là yêu cầu bức thiết nhằm khuyến khích nội lực sáng tạo và đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế

3

Cục Bản quyền tác giả, Kiến thức cơ bản, phổ thông về quyền tác giả, quyền liên quan, Bài 1: GIỚI

THIỆU CHUNG, Ts Vũ Mạnh Chu, http://www.cov.gov.vn/cbq/index.php?option=com_content&view=article&id=1256%3Akin-thc-c-bn-ph- thong-v-quyn-tac-gi-quyn-lien-quan&catid=51%3Anghien-cuu-trao-doi&Itemid=107&limitstart=3, [truy cập ngày 3-9-2014]

Trang 11

1.1.2 Đặc điểm của quyền tác giả

Trong thực tế, chúng ta còn gặp một số thuật ngữ khác như “tác quyền” hay “bản

quyền” Các thuật ngữ này thực ra cũng là cách gọi khác của quyền tác giả trên thực tế,

nhưng không được thừa nhận trong luật.4

Quyền tác giả bảo vệ lợi ích cá nhân và kinh tế của quyền tác giả trong mối liên quan với tác phẩm Lợi ích cá nhân và lợi ích kinh tế của quyền tác giả được bảo vệ

thông qua nhóm quyền nhân thân và nhóm quyền tài sản của quyền tác giả đối với các tác phẩm được pháp luật bảo hộ quyền tác giả

Đối tượng được bảo hộ quyền tác giả bao gồm các tác phẩm văn học, nghệ thuật

và khoa học dưới bất kỳ hình thức và cách thức thể hiện nào Không như các đối tượng

khác của Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả chủ yếu bảo hộ hình thức thể hiện của ý tưởng chứ không bảo hộ chính bản thân ý tưởng đó - ý tưởng thể hiện trong tác phẩm không cần phải mới song hình thức thể hiện phải mới Việc bảo hộ không phụ thuộc vào chất lượng hay giá trị sản phẩm tạo ra hay sử dụng tác phẩm đó như thế nào Sự khẳng định này nhằm làm rõ, tránh sự hiểu lầm giữa đối tượng được bảo hộ theo pháp luật về quyền tác giả với đối tượng được bảo hộ theo pháp luật về sở hữu công nghiệp hay đối tượng khác

Lĩnh vực quyền tác giả và quyền liên quan được bảo hộ theo cơ chế các quyền tự động phát sinh ngay sau khi tác phẩm được hình thành Trong khi lĩnh vực sở hữu công

nghiệp và giống cây trồng, các quyền phải được xác lập bằng việc cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.6 Điều này cũng có nghĩa việc đăng ký quyền tác giả tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền không phải là thủ tục để xác lập quyền mà đó chỉ là việc

Trang 12

củng cố quyền của quyền tác giả mà thôi Nếu có tranh chấp xảy ra thì chủ thể quyền tác

giả được cấp “Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả” không cần phải có nghĩa vụ

chứng minh quyền tác giả thuộc về mình, trừ trường hợp có căn cứ ngược lại.7

Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ quyền tác giả trong trường hợp không gây phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm được sử dụng để sáng tạo tác phẩm phái sinh Tuy nhiên chỉ những tác phẩm được tác giả trực tiếp sáng tạo, không sao chép từ tác phẩm khác mới thuộc loại hình được bảo hộ

Việc bảo hộ quyền tác giả bị giới hạn về mặt thời gian Thời hạn bảo hộ quyền tác

giả được quy định là khác nhau đối với quyền nhân thân và quyền tài sản Quyền nhân thân của quyền tác giả được pháp luật bảo hộ vô thời hạn (trừ quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm), còn về quyền tài sản được pháp luật bảo

hộ với thời hạn khác nhau tuỳ vào các tác phẩm và các yếu tố quy định khác

Việc bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam chỉ giới hạn trong phạm vi lãnh thổ quốc gia và trong phạm vi tác phẩm Về nguyên tắc các tác phẩm được sự bảo

hộ quyền tác giả là tất cả các sáng tạo trí tuệ nguyên gốc Tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả thuộc tác phẩm trong các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả (Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành) Một điều khoản liệt kê cũng được đưa ra với ý nghĩa giới hạn các đối tượng được bảo hộ quyền tác giả Cụ thể, tại Điều 15 của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành quy định các đối tượng sau không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả như: tin tức thời sự thuần tuý đưa tin; văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó; quy trình, hệ

thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu

Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ nói chung hay quyền tác giả nói riêng phải đảm bảo chính sách của Nhà nước Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ phải đảm bảo

không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và không được vi phạm các quy định khác của pháp luật

có liên quan Trong trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và các lợi ích khác của Nhà nước, xã hội được quy định tại Luật này, Nhà nước có quyền cấm hoặc hạn chế chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền của mình hoặc buộc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng một hoặc một số quyền của mình với những điều kiện phù hợp.8

Trang 13

1.2 Quy định các ngoại lệ của quyền tác giả theo pháp luật quốc tế và quốc gia

Bảo hộ quyền tác giả có nghĩa là bảo vệ quyền của tác giả cũng như chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm được bảo hộ Nhưng để đảm bảo rằng chủ sở hữu có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả không lạm dụng những đặc quyền mà họ được trao cho, hoặc hạn chế thương mại một cách vô lý, pháp luật quốc tế và quốc gia quy định một số giới hạn - ngoại lệ quyền tác giả nhất định nhằm đảm bảo cân bằng lợi ích chính đáng giữa chủ sở hữu và người sử dụng cũng như đảm bảo nhu cầu của lợi ích công cộng

1.2.1 Quy định về các ngoại lệ của quyền tác giả theo pháp luật quốc tế

Công ước Berne năm 1886 cũng quy định các trường hợp sử dụng tác phẩm tự

do.9 Đồng thời Công ước cũng quy định quyền của các quốc gia thành viên liên hiệp và thoả thuận và những thoả hiệp đặc biệt đã có hay sẽ ký giữa các quốc gia này có thẩm quyền quy định cho phép sử dụng trong mức độ phù hợp, có mục đích những tác phẩm

văn học hay nghệ thuật miễn sao việc sử dụng đó phù hợp với thông lệ quốc tế

Liên quan đến giới hạn - ngoại lệ của quyền tác giả, “Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế

giới đã đề xuất “nguyên tắc phép thử ba bước” để các quốc gia xây dựng luật pháp phù

hợp, đó là: giới hạn quyền chỉ là những trường hợp đặc biệt phải ghi rõ tại luật; nó không thể làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường; không gây phương hại đến quyền của chủ sở hữu Việc khai thác, sử dụng tác phẩm được luật các quốc gia quy định giới hạn trong các trường hợp sử dụng nhằm phục vụ nghiên cứu khoa học, giáo dục hoặc chính sách xã hội, nhân đạo Thông thường được phân thành 2 loại:

- Loại thứ nhất là việc sử dụng tự do, tức việc khai thác, sử dụng tác phẩm đã công

bố không phải xin phép, không phải trả tiền, như việc sao chép không quá 1 bản, nhập khẩu không quá 1 bản cho mục đích nghiên cứu cá nhân, giáo dục; chuyển sang chữ nổi cho người khiếm thị; trích dẫn hợp lí phục vụ cho một phóng sự báo chí, luận văn, công trình nghiên cứu khoa học Tuy nhiên việc khai thác, sử dụng ở loại này không áp dụng đối với tác phẩm điện ảnh, tác phẩm nghệ thuật tạo hình, chương trình máy tính Mọi trường hợp sử dụng đều phải dẫn chiếu nguồn gốc xuất xứ, bao gồm tên tác phẩm, tên tác giả, năm xuất bản, nhà xuất bản đối với tác phẩm được sử dụng để trích dẫn Tất cả các

trường hợp trích dẫn đều phải đặt trong ngoặc kép ( “ ”)

- Loại thứ hai “cấp phép bắt buộc” là việc khai thác, sử dụng tác phẩm đã công bố

không phải xin phép, nhưng phải trả tiền Trường hợp này luật Việt Nam cho phép các tổ chức phát sóng, các tổ chức cá nhân hoạt động kinh doanh, thương mại được phép sử

9

Xem khoản 2 Điều 9, Điều 10, Điều 10bis và 11bis của Công ước Berne năm 1886

Trang 14

dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, nhưng phải trả tiền theo thỏa thuận kể từ khi sử dụng tác phẩm Tuy nhiên việc khai thác, sử dụng tác phẩm đã công bố trong các trường hợp này không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm của chủ

sở hữu, không gây phương hại đến quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.” 10

Theo pháp luật của Hoa Kỳ, có những ngoại lệ của bản quyền nhằm làm hài hoà lợi ích của chủ sở hữu bản quyền và nhu cầu của công chúng được tiếp cận tri thức Trong trường hợp này, công chúng có thể tiếp cận những tác phẩm được bảo hộ bản quyền, nhưng với một số điều kiện Thông thường điều kiện đó là phải trả một khoản lệ phí cho hội bản quyền, đồng thời việc sử dụng tác phẩm phải là việc sử dụng hợp lý.11

1.2.2 Quy định về các ngoại lệ của quyền tác giả theo pháp luật quốc gia

Trên cơ sở của pháp luật quốc tế, Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam hiện hành cũng quy định một số trường hợp ngoại lệ trong việc giới hạn quyền tác giả tại Điều 25

và Điều 26 quy định về “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin

phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao” và “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao” của Luật này

Ngoại lệ thứ nhất: “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin

phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao” được quy định tại Điều 25 của Luật Sở hữu

trí tuệ hiện hành và hướng dẫn tại Điều 6 của Nghị định 100/2006/NĐ-CP Bao gồm:

- Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy cá nhân Quy định trên không áp dụng đối với các trường hợp nghiên cứu khoa học, giảng dạy của

cá nhân nhằm mục đích thương mại Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu là việc sao chép không quá một bản Thư viện không được sao chép và phân phối bản sao tác phẩm tới công chúng, kể cả bản sao kỹ thuật số

- Trích dẫn hợp lý12 tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình Trường hợp này phải phù hợp các điều kiện: phần trích dẫn chỉ nhằm mục đích giới thiệu, bình luận hoặc làm sáng tỏ vấn đề được đề cập trong tác

10

Cục Bản quyền tác giả, Kiến thức cơ bản, phổ thông về quyền tác giả, quyền liên quan - Bài 1: GIỚI

THIỆU CHUNG, Ts Vũ Mạnh Chu, http://www.cov.gov.vn/cbq/index.php?option=com_content&view=article&id=1256%3Akin-thc-c-bn-ph- thong-v-quyn-tac-gi-quyn-lien-quan&catid=51%3Anghien-cuu-trao-doi&Itemid=107&limitstart=3, [truy cập ngày 4-9-2014]

11

Xem bài giảng của Anna Thuc, Anh Tran, Bài giảng về Bảo hộ quốc tế và tăng cường hiệu lực của bản

quyền - Anthony V Lupo, tháng 7 năm 1999, Đại học Australia, Dự án Aus ADI - Dự án tài trợ của Cục

Thông tin Hoa Kỳ USIA

12

“Trích dẫn hợp lý” được nêu trên khác “đạo văn” Đạo văn là hành vi sao chép, sử dụng tác phẩm của

người khác mà không nêu nguồn gốc xuất xứ và tự cho đó là của mình

Trang 15

phẩm của mình, số lượng và thực chất của phần trích dẫn từ tác phẩm được sử dụng để trích dẫn không gây phương hại tới quyền tác giả đối với tác phẩm được sử dụng để trích dẫn; phù hợp với tính chất, đặc điểm của loại hình tác phẩm được sử dụng để trích dẫn

- Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu

- Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại

- Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu Trong trường hợp này cũng được quyền sao chép chỉ một bản

- Biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hoá, tuyên truyền cổ động mà không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào Các hình thức này có thể là bán vé hoặc chương trình có tài trợ, hoặc quảng cáo,…

- Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy Chủ thể ghi âm, ghi hình tác phẩm trên không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác thương mại buổi biểu diễn đó

- Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó

- Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị

- Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng Quy định này chỉ

áp dụng cho trường hợp nhập khẩu không quá một bản

Các trường hợp trên không áp dụng đối với “tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo

hình, chương trình máy tính”, việc sử dụng không được làm ảnh hưởng đến việc khai

thác bình thường của tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ tác phẩm

Ngoại lệ thứ hai:“Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin

phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao” tại Điều 26, Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành

- Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng Mức nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác và phương thức thanh toán do các bên thoả thuận; trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc khởi kiện tại Toà

án theo quy định của pháp luật

Trang 16

- Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố để phát sóng không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng theo quy định của Chính phủ

Trong trường hợp này việc sử dụng không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác giả Và cuối cùng là việc sử dụng tác phẩm trong trường hợp được nêu ở ngoại lệ thứ hai này không

áp dụng đối với loại hình “tác phẩm điện ảnh”

Một trong những ngoại lệ được người viết đề cập đến trong bài nghiên cứu của

mình là trường hợp ngoại lệ thứ hai về “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố

không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao”

Tóm lại, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam đưa ra quy định các giới hạn - ngoại lệ của

quyền tác giả về “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép,

không phải trả tiền nhuận bút, thù lao” tại Điều 25 và quy định về “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao”

tại Điều 26 như vừa trình bày là phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế Đặc biệt

là phù hợp với “nguyên tắc phép thử ba bước” về các giới hạn - ngoại lệ của quyền tác

giả mà Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới đã đề suất như đã trình bày Theo đó, pháp luật

quốc gia đã đưa ra và ghi nhận giới hạn - ngoại lệ của quyền tác giả về “Các trường hợp

sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao” tại Điều 26 của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành; quy định cũng đã đưa ra điều kiện

cho việc sử dụng là không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm được sử dụng và không gây phương hại đến quyền của chủ sở hữu

1.2.3 Ý nghĩa của việc quy định các ngoại lệ của quyền tác giả

Bản quyền là một yếu tố quan trọng trong tiến trình của sự phát triển Bảo hộ quyền tác giả là công cụ hữu hiệu nhằm khuyến khích, làm giàu và phổ biến di sản văn hóa quốc gia và điều đó phụ thuộc trực tiếp vào mức độ bảo hộ đối với các tác phẩm

Sự phát triển của một đất nước phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động sáng tạo của người dân Muốn kích thích sự sáng tạo của người dân đòi hỏi Nhà nước phải có các quy định điều chỉnh để bảo hộ sự sáng tạo đó Có như vậy thì việc khuyến khích và phổ biến các sáng tạo sẽ thực hiện dễ dàng hơn - là điều kiện thiết yếu đối với quá trình phát triển

Trang 17

Nhìn chung, quy định về các ngoại lệ của quyền tác giả trên phạm vi quốc tế và tại Việt Nam nói riêng mang nhiều ý nghĩa hướng tới lợi ích công chúng, giúp phổ biến giá trị các tài sản trí tuệ, mang lại lợi ích cho công chúng tiếp cận tri thức, từ đó góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội và ngày càng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, phù hợp với sách lược của Nhà nước

Ngoại lệ của quyền tác giả về “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố

không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao” được quy định tại Điều 25

của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành vừa nêu trên nhìn chung mang ý nghĩa hướng đến việc duy trì lợi ích công chúng Lợi ích công chúng được duy trì thông qua việc sử dụng tác phẩm mang tính tự do (tự do sử dụng mà không cần xin phép) và trong khuôn khổ rộng (rộng về đối tượng tác phẩm, chủ thể và hình thức việc sử dụng) của quy định

Ngoại lệ của quyền tác giả về “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố

không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao” được quy định tại Điều 26

của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành thì mang ý nghĩa tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng và khai thác các tài sản trí tuệ của con người tao ra - là các tác phẩm đã công bố Nhờ quy định trên mà việc sử dụng và khai thác tác phẩm đã công bố dưới hình thức

“phát sóng tác phẩm” của tổ chức phát sóng được dễ dàng hơn khi không cần thông qua

thủ tục xin phép sử dụng và được sự đồng ý từ chủ sở hữu quyền tác giả mà chỉ cần đảm bảo về nghĩa vụ của chủ thể sử dụng mà pháp luật quy định như: thông tin về tác giả, nguồn gốc xuất xứ của tác giả, chế độ nhuận bút, thù lao, quyền lợi ích vật chất khác,…

Ngoài ra, ngoại lệ của quyền tác giả ở Việt Nam còn mang các ý nghĩa khác như:

Đảm bảo sự bảo hộ quyền nhân thân của pháp luật đối với chủ thể quyền tác giả của tác phẩm được sử dụng Việc sử dụng và khai thác các giá trị từ tác phẩm đã công bố

mà không phải xin phép và có hay không có trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác, mặc dù là hành vi xâm phạm quyền tác giả nhưng đó chỉ là sự xâm phạm không tuyệt đối Điều này có thể nhìn thấy rõ thông qua quy định về việc sử dụng không được gây phương hại đến quyền tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tác giả và

nguồn gốc, xuất xứ của tác giả hay tác phẩm

Đảm bảo quyền tài sản đối với tác phẩm của chủ thể quyền tác giả vẫn diễn ra bình thường Việc sử dụng các tác phẩm đã công bố như vừa nêu trên dù ít hay nhiều

cũng đã ảnh hưởng một phần đến quyền tài sản của quyền tác giả Nhưng trong trường hợp này thì pháp luật quy định chủ thể được quyền sử dụng tác phẩm đã công bố không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm được sử dụng Đặc bệt

Trang 18

trong “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải

trả tiền nhuận bút, thù lao” tại Điều 26 của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành thì quyền tài

sản của quyền tác giả cũng được đảm bảo thêm một phần thông qua việc pháp luật đưa ra quy định chế độ nhuận bút, thù lao, hay quyền lợi ích vật chất khác cho phía chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng tác phẩm

Quy định về các ngoại lệ của quyền tác giả mang ý nghĩa và hướng đến mục đích đảm bảo chính sách của Nhà nước về sở hữu trí tuệ Nhà nước công nhận và bảo hộ

quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân trên cơ sở đảm bảo hài hoà giữa chủ thể quyền

sở hữu trí tuệ với lợi ích công cộng, không bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh Nhà nước khuyến khích, thúc đẩy hoạt động sáng tạo, khai thác tài sản trí tuệ nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.13

Tóm lại, quy định về các giới hạn - ngoại lệ của quyền tác giả ở Việt Nam nhìn chung mang ý nghĩa đảm bảo cân bằng lợi ích giữa chủ thể sáng tạo, người sử dụng và công chúng thụ hưởng

1.3 Sự hình thành và đặc điểm của quy định “Các trường hợp sử dụng tác phẩm

đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao” theo pháp luật Việt Nam

1.3.1 Sự hình thành của quy định “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố

không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao” tại Việt Nam

Tại Việt Nam, ngay từ bản Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận những quyền cơ bản của công dân liên quan đến quyền tác giả Năm 1986, Nghị định 142/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng có hiệu lực ngày 14-11-1986, văn bản đầu tiên quy định quyền tác giả của Việt Nam được ban hành, rồi đến Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả năm 1994 Kể từ đó đến nay, hệ thống văn bản pháp luật quy định về quyền tác giả được định hình và bước đầu tạo được hành lang pháp lý bảo hộ thành quả lao động sáng tạo, khuyến khích phát

triển các hoạt động nghệ thuật sáng tạo như đã trình bày ở mục “1.1.1 Quyền tác giả”

Tuy nhiên, quy định của pháp luật về Sở hữu trí tuệ liên quan đến ngoại lệ về

“Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao” của quyền tác giả vào giai đoạn trước năm 2005 (trước ngày Luật Sở

hữu trí tuệ năm 2005 có hiệu lực thi hành) vẫn chưa được đặt ra để điều chỉnh

13

Xem quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 8 của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành

Trang 19

Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 được Quốc hội khoá IX, kỳ hợp thứ 8 thông qua ngày 29-11-2005, có hiệu lực thi hành ngày 01-7-2006 Đây là văn bản Luật đầu tiên đặt

ra để điều chỉnh về vấn đề “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin

phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao” được ghi nhận tại Điều 26 của Luật

Ngày 19-6-2009 Quốc hội khoá XII, kỳ hợp thứ 5 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 Một trong những quy định được sửa

đổi, bổ sung lần này là “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin

phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao” với nội dung như sau:

“1 Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng Mức nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác và phương thức thanh toán do các bên thoả thuận; trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc khởi kiện tại Toà án theo quy định của pháp luật

Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố để phát sóng không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng theo quy định của Chính phủ.14

2 Tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác giả.

3 Việc sử dụng tác phẩm trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với tác phẩm điện ảnh.”

Trong lần sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 thì quy định tại Điều 26 có thêm một số điểm mới tại khoản 1 như: mức nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác

và phương thức thanh toán do các bên thỏa thuận; trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật trong trường hợp tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao Trường hợp này luật đưa ra quy định về sự thỏa thuận cũng như việc khởi kiện để đạt được mục đích nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác

14

Đây là trường hợp mới được đưa vào trong lần sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009

Trang 20

Việc sửa đổi, bổ sung và tiến đến đưa vào quy định “Tổ chức phát sóng sử dụng tác

phẩm đã công bố để phát sóng không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất

kỳ hình thức nào không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định của Chính phủ” tại đoạn 2, khoản 1 của Điều 26 là một

quy định hoàn toàn mới và trước đây Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (trước ngày Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành có hiệu lực) không hề quy định về trường hợp này

Rõ ràng có thể nhận thấy quy định tại đoạn 2, khoản 1 của Điều 26 đã mở rộng quyền sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút,

thù lao của chủ thể quyền sử dụng tác phẩm của “tổ chức phát sóng” trong việc phát

sóng tác phẩm đã công bố có tài trợ, quảng cáo, thu tiền và ngay cả trong trường hợp không có tài trợ, quảng cáo hay không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào

Nhìn chung trong lần sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 quy định về

“Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao” đã mở rộng phạm vi quyền của chủ thể sử dụng về một trong những

giới hạn - ngoại lệ của quyền tác giả Quy định cũng đã một lần nữa thể hiện đảm bảo việc cân bằng lợi ích giữa chủ thể sáng tạo, người sử dụng và công chúng thụ hưởng

1.3.2 Đặc điểm của quy định “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố

không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao”

Điều 26 của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành chỉ cho phép “tổ chức phát sóng” là chủ thể duy nhất được quyền sử dụng mà không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao Tổ chức, cá nhân thực hiện việc “phát sóng tác phẩm” mới có quyền sử

dụng tác phẩm đã công bố để phát sóng mà không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho việc sử dụng đó Điều luật này mang tính loại trừ rất cao và đã loại trừ việc sử dụng các tác phẩm đã công bố mà không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao của hầu hết tất cả các chủ thể khác trong xã hội

Quyền nhân thân của quyền tác giả đối với tác phẩm được sử dụng để phát sóng vẫn được pháp luật tôn trọng và bảo hộ Như quyền được nêu tên thật hoặc bút danh khi

tác phẩm được đưa ra sử dụng, bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén, hoặc xuyên tạc tác phẩm Tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tác giả, nguồn gốc xuất xứ của tác giả trong các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao

Trang 21

Độc quyền cho phép người khác sử dụng tác phẩm được bảo hộ của chủ sở hữu quyền tác giả bị luật vô hiệu hóa một phần Cũng có nghĩa là sự thoả thuận giữa các bên

về việc cho phép sử dụng tác phẩm đã công bố để phát sóng không tồn tại Phần độc

quyền bị vô hiệu hoá là phần độc quyền “cho phép sử dụng” và điều này được nêu rõ trong quy định: “Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố để phát sóng có tài

trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép….Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố để phát sóng không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép…”15

Trong các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả thì loại hình “tác phẩm điện ảnh” không áp dụng sử dụng Quy định tại khoản khoản 3 Điều 26 của Luật Sở hữu

trí tuệ hiện hành đã xác định rõ đặc điểm này Tác phẩm điện ảnh (bao gồm tác phẩm điện ảnh và các tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự) không được áp dụng sử dụng trong các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao

Trong trường hợp này, chủ sở hữu quyền tác giả được một quyền mới phát sinh

đó là quyền được nhận nhuận bút, thù lao hay quyền lợi vật chất khác từ việc khai thác tác phẩm (phát sóng tác phẩm đã công bố) từ phía chủ thể sử dụng (tổ chức phát sóng) tuỳ vào từng trường hợp cụ thể và sự thỏa thuận giữa các bên

15

Xem quy định tại khoản 1 của Điều 26 của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành

Trang 22

Tóm lại, thông qua quá trình tìm hiểu các quy định của pháp luật quốc gia và pháp

luật quốc tế, người viết đã trình bày một cách khái quát nhất các vấn đề về quyền tác giả,

đặc điểm của quyền tác giả cũng như việc quy định về các ngoại lệ của quyền tác giả

Đặc biệt là ý nghĩa của việc quy định về các ngoại lệ của quyền tác giả, nhìn chung các

quy định mang nhiều ý nghĩa khác nhau nhưng quan trọng hơn cả là mang khuynh hướng

hướng tới lợi ích công chúng, giúp phổ biến giá trị các tài sản trí tuệ, mang lại lợi ích cho

công chúng tiếp cận tri thức, từ đó góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội và ngày

càng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, phù hợp với sách lược của

Nhà nước Việc tìm hiểu về sự hình thành và đặc điểm của quy định về “Các trường hợp

sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù

lao”, một trong những quy định về các giới hạn - ngoại lệ của quyền tác giả tại Việt Nam

và đây sẽ là tiền đề cho việc nghiên cứu các vấn đề trọng tâm trong đề tài nghiên cứu

Trang 23

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ

“CÁC TRƯỜNG HỢP SỬ DỤNG TÁC PHẨM ĐÃ CÔNG BỐ KHÔNG PHẢI XIN

PHÉP NHƯNG PHẢI TRẢ TIỀN NHUẬN BÖT, THÙ LAO”

Pháp luật Sở hữu trí tuệ luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể nắm

giữ quyền tác giả để họ có thể khai thác tốt các quyền họ nhận được Luật Sở hữu trí tuệ

Việt Nam cũng có quy định một số trường hợp đặc biệt, theo đó, quyền của tác giả, độc

quyền khai thác tác phẩm của chủ sở hữu quyền tác giả có thể bị giới hạn

Một trong những quy định về giới hạn - ngoại lệ quyền của quyền tác giả được

đưa ra phân tích, tìm hiểu là “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải

xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao” được ghi nhận tại Điều 26 của Luật Sở

hữu trí tuệ hiện hành Việc phân tích, tìm hiểu nội dung chi tiết của quy định được thực

hiện thông qua quá trình xác định cơ sở pháp lý, chủ thể, đối tượng, điều kiện về việc sử

dụng và các vấn đề có liên quan như quy định về nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất

khác, các hành vi xâm phạm quyền tác giả và các chế tài xử lý vi phạm như sẽ trình bày

2.1 Cơ sở pháp lý quy định về “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố

không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao” theo pháp luật Việt

Nam hiện hành

Cơ sở pháp lý quy định về “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không

phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao” chính là các quy định của pháp luật

Việt Nam hiện hành Cụ thể:

- Hiến pháp năm 2013.16

- Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành, đặc biệt phải kể đến quy định có thể được xem là

cơ sở, nền móng cho “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép

nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao” được quy định tại Điều 26 của Luật này

- Nghị định 61/2002/NĐ-CP ban hành ngày 11-6-2002 của Chính phủ quy định về

chế độ nhuận bút

- Nghị định 100/2006/NĐ-CP ban hành ngày 21-09-2006 của Chính phủ quy định

chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về

quyền tác giả và quyền liên quan

16

Xem Điều 40 của Hiến pháp năm 2013

Trang 24

- Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày 22-9-2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền Sở hữu trí tuệ và quản lý Nhà nước về Sở hữu trí tuệ.

- Nghị định 47/2009/NĐ-CP của Chính phủ phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan

- Nghị định 85/2011/NĐ-CP ngày 29-09-2011 của Chính phủ quy định về sửa đổi,

bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21-9-2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan

- Nghị định 131/2013/NĐ/CP ngày 16-10-2013 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính về quyền tác giả và quyền liên quan

- Thông tư liên tịch số 01/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP của Tòa

án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp ngày 29/2/2008 hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ…

2.2 Chi tiết quy định về “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao” theo pháp luật Việt Nam

2.2.1 Chủ thể được đề cập trong quy định “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã

công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao”

Trong quy định về “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin

phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao” tại Điều 26 của Luật Sở hữu trí tuệ hiện

hành người viết nhận thấy có các chủ thể như: tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm và tổ chức phát sóng Sau đây, người viết xin chia thành hai nhóm chủ thể sau:

Nhóm đầu tiên: tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm

Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả bao gồm: tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức,

cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ nước nào hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ở nước khác; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.17

17

Khoản 2 Điều 13 của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành

Trang 25

Tác giả: Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm

văn học, nghệ thuật và khoa học18

, pháp luật thừa nhận một người là tác giả ngay cả trong trường hợp người đó chỉ sáng tạo một phần tác phẩm Theo quy định trên thì tác giả phải

là thể nhân và trong trường hợp tác phẩm được các đồng tác giả sáng tạo, trong đó mỗi phần trong tác phẩm nếu có thể tách rời để sử dụng độc lập thì quyền nhân thân và quyền tài sản của quyền tác giả được áp dụng cho từng phần tác phẩm được sử dụng độc lập đó, nếu các đồng tác giả không có sự thoả thuận khác

Ngoài ra, những người dưới đây cũng được công nhận là tác giả như người dịch tác phẩm từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác được coi là tác giả tác phẩm dịch; người phóng tác từ tác phẩm đã có, người cải biên, chuyển thể tác phẩm từ loại hình nghệ thuật này sang loại hình khác được coi là tác giả của tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể; người biên soạn, chủ giải, tuyển chọn tác phẩm của người khác thành tác phẩm có tính sáng tạo được coi là tác giả biên soạn, chú giải, tuyển chọn.19

Pháp luật hiện hành xác định tổ chức, cá nhân nào nắm giữ một, một số hoặc toàn

bộ các quyền tác giả được xem như là chủ sở hữu quyền tác giả Để phân biệt các dạng chủ sở hữu thì Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành đưa ra quy định xác định sáu loại chủ thể được cho là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm như sau:

Chủ sở hữu quyền tác giả đồng thời là tác giả.20 Về nguyên tắc, người sáng tạo ra tác phẩm và nếu không có thoả thuận gì với các chủ thể khác về chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm tạo ra thì người đó được cho là tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả Chủ sở hữu tác phẩm trong trường hợp này có đầy đủ các quyền nhân thân (Điều 19) và quyền tài sản (Điều 20) theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành

Chủ sở hữu quyền tác giả là các đồng tác giả.21 Mỗi đồng tác giả có đầy đủ các quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm chung của họ Việc sử dụng các quyền tài sản liên quan đến tác phẩm chung phải được tất cả các đồng tác giả đồng ý Trong trường hợp phần vốn góp của các đồng tác giả trong tác phẩm chung có thể sử dụng độc lập22 như một tác phẩm độc lập, trường hợp phần đóng góp của họ có thể phân chia được thì việc sử dụng phần đóng góp của tác giả phần đóng góp đó chỉ làm phát sinh các quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác giả đó

18

Khoản 1 Điều 8 của Nghị định 100/2006/NĐ-CP

19

Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ, Những người được coi là tác giả của tác phẩm,

http://thanhtra.most.gov.vn/vi/faqs/view/page/4/id/39, [truy cập ngày 24/10/2014]

Ngày đăng: 03/10/2015, 14:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w