1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đề tài: tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng trong luật hình sự việt nam

83 931 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỘI VI PHẠM QUI ĐỊNH VỀ CHO VAY TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG Theo qui định của pháp luật thì “cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao h

Trang 1

Giảng viên hướng dẫn:

Nguyễn Văn Tròn

Bộ môn Luật Tư pháp

Cần Thơ, 12/2014

Trang 2

Trang 3

Trang 4

BLDS: Bộ luật dân sự;

TCTD: Tổ chức tín dụng;

NHNH: Ngân hàng Nhà nước;

NHTM: Ngân hàng thương mại;

C46: Tổng cục phòng chống tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ; CNH – HĐH: Công nghiệp hóa - hiện đại hóa

Trang 5

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Kết cấu đề tài 4

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỘI VI PHẠM QUI ĐỊNH VỀ CHO VAY TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 5

1.1 Khái quát chung về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế 5

1.1.1 Khái niệm về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế 5

1.1.2 Hệ thống các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế 6

1.1.3 Dấu hiệu pháp lý về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế 7

1.1.4 Ý nghĩa của việc xây dựng chế tài xử phạt các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong thời kỳ Đất nước quá độ lên Xã hội Chủ nghĩa và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa 8

1.2 Khái quát chung về tín dụng, các loại hình tín dụng và chính sách tín dụng 10

1.2.1 Khái niệm về tín dụng 10

1.2.2 Khái niệm nợ quá hạn 11

1.2.3 Các loại hình tín dụng 11

1.2.3.1 Các hình thức của tổ chức tín dụng 11

1.2.3.2 Các hình thức bảo đảm tín dụng 12

1.2.4 Chính sách tín dụng 12

1.2.4.1 Khái niệm 12

1.2.4.2 Cơ sở hình thành chính sách tín dụng 13

1.2.4.3 Mục tiêu và nội dung của chính sách tín dụng 14

1.2.4.4 Tính chiến lược của chính sách tín dụng 15

1.3 Khái quát chung về tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng 16

1.3.1 Đặc điểm của tội vi phạm qui định về cho vay trong các tổ chức tín dụng 16

1.3.2 Hậu quả của hành vi phạm tội và một số vụ án điển hình được dư luận quan tâm 18

1.4 Lịch sử hình thành các giai đoạn của pháp luật Việt Nam về tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng 19

1.4.1 Giai đoạn trước năm 1975 19

1.4.2 Giai đoạn sau năm 1985 20

1.4.3 Từ năm 2000 về sau 21

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ TỘI VI PHẠM QUI ĐỊNH VỀ CHO VAY TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 23

2.1 Một số điểm mới của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế 23

2.2 Dấu hiệu pháp lý liên quan của tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng 30

2.2.1 Mặt khách quan 31

2.2.2 Mặt chủ quan 33

2.2.3 Mặt khách thể 34

2.2.4 Mặt chủ thể 35

2.3 Trách nhiệm hình sự đối với tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng 36

2.3.1 Tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng theo qui định tại khoản 1 Điều 179 Bộ luật hình sự hiện hành 37

Trang 6

2.3.4 Hình phạt bổ sung 39

2.4 Phân biệt tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng với một số tội trong các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế 39

2.4.1 Tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng với tội cố ý làm trái qui định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng 40

2.4.2 Tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng với tội sử dụng trái phép quỹ dữ trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng 42

2.4.3 Tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng với tội lập quỹ trái phép 43

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG TỘI VI PHẠM QUI ĐỊNH VỀ CHO VAY TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY 46

3.1 Thực trạng tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng 46

3.1.1 Nguồn gốc của tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng 46

3.1.2 Thực trạng và những dự báo về tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam 47

3.2.Sự cần thiết phải đưa ra các biện pháp phòng chống tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng 49

3.3 Những bất cặp và giải pháp phòng chống tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam 51

3.3.1 Những nguyên tắc cơ bản và việc đấu tranh phòng chống tội phạm 51

3.3.2 Bất cập trong quy định pháp luật hình sự và giải pháp hoàn thiện 51

3.3.3 Đối với các chủ thể trong hoạt động tín dụng 54

3.3.3.1 Đối với bên cho vay 54

3.3.3.2.Đối với bên vay 56

3.3.4.Các nguồn thông tin về tín dụng 59

3.3.4.1 Đối với quy định phỏng vấn người xin vay 59

3.3.4.2.Quy trình thẩm định hồ sơ tín dụng 60

3.3.4.3 Điều tra nơi hoạt động kinh doanh của người đi vay 62

3.3.5.Khả năng phân tích tín dụng 63

3.3.5.1 Trong khâu đánh giá năng lực vay nợ 64

3.3.5.2 Xem xét uy tín của người xin vay 65

3.3.5.3 Khả năng tạo ra lợi nhuận từ khoản vay 65

3.3.5.4 Các điều kiện kinh tế khác 66

3.3.6 Đội ngũ nhân lực của hệ thống tổ chức tín dụng 67

3.3.7 Trong lĩnh vực hợp tác quốc tế về ngân hàng 69

KẾT LUẬN 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong bất kỳ nền kinh tế nào thì vai trò của các tổ chức tín dụng là hết sức quan trọng, đặc biệt là các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam Các tổ chức tín dụng nói chung và ngân hàng nói riêng là nơi bất nguồn cho các dòng tài chính lưu thông nhưng cũng là nơi xảy ra các hành vi vi phạm pháp luật gây tổn thất về mặt kinh

tế rất lớn Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 chỉ có một điều qui định xử lý vi phạm về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng Trong khi đó, rất nhiều các hoạt động nghiệp vụ khác như đầu tư, chuyển tiền thanh toán, bảo lãnh… xảy ra vi phạm nhưng thiếu hoặc chưa đủ chế tài điều chỉnh, gây nên khoản trống pháp

lý lớn Để ngăn chặn những nguy cơ rủi ro từ thị trường tài chính hiện nay, bên cạnh việc siết chặt các hoạt động quản lý thì bổ sung sửa đổi các qui định về tội phạm lĩnh vực đầu tư, chuyển tiền, bão lảnh, thanh toán trong hoạt động các tổ chức tín dụng là việc làm cần thiết Việt Nam chỉ là nước đang phát triển nên việc quản lý hoạch định chính sách vẫn còn rất hạn chế vì thế cần phải có sự hội nhập, học hỏi kinh nghiệm các

nền kinh tế đã phát triển thành công trong lĩnh vực này để có thể “đi tắt đoán đầu” các

nước đã phát triển sớm hoàn thành mục tiêu đưa đất nước lên con đường xã hội chủ nghĩa Từ rất sớm, Ủy ban Basel1 đã xây dựng chỉ tiêu đánh giá mức độ an toàn và hiệu quả trong hoạt động ngân hàng nhằm chuẩn mực hóa trong hoạt động ngân hàng trong trào lưu toàn cầu hóa Tiêu chí đầu tiên đánh giá khả năng tham gia vào thị trường vốn Quốc tế hiện nay là mức độ tuân thủ chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu theo Hiệp ước Basel 2.2

Việt Nam cũng không là ngoại lệ đó, nhất là khi nước ta trong giai đoạn phát triển phải rất cần các hình mẫu chuẩn mực để noi theo làm sao hạn chế đến mức thấp nhất đến những rủi ro ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế còn rất non trẻ và dể bị tổn thương Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới ( WTO) 3, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các tổ chức tín dụng nói chung và các ngân hàng thương mại trong nước nói riêng đã có nhiều nỗ lực trong việc hoàn thiện hệ thống pháp lý về

1

Basel là ủy ban giám sát ngân hàng do các Ngân hàng Trung ương các nước G10 thành lập năm 1975 dưới sự bảo trợ của Ngân hàng Thanh toán quốc tế Các thành viên của ủy ban này gồm: Anh, Mỹ, Pháp, Oxtrialia, Bỉ, Nhật, Thụy Sĩ, Thủy Điển, Luxemebourg, Cannada, Tây Ban Nha, Italia

2

Sau khi hoạt động một thời gian, Ủy ban Basel đã nghiên cứu và đưa ra các yêu cầu về an toàn vốn, được ban hành lần đầu vào năm 1988 và gọi là Hiệp ước Basel 1 Năm 1999 Ủy ban đã đưa ra 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát Ngân hàng hiệu quả, đây là những nguyên tắc tối thiểu và được xem là tài liệu để cơ quan điều tra, giám sát Ngân hàng và các nhà quản lý tài chính tham khảo Do những hạn chế của Basel 1, một Hiệp ước mới được thông qua vào năm 2001 được gọi là Hiệp ước Basel 2 và là chuẩn mực mà các Ngân hàng trên Thế giới hướng đến

3

Trang 8

GVHD: Nguyễn Văn Tròn SVTH: Trần Minh Cường

tiền tệ và hoạt động ngân hàng cũng như nâng cao năng lực quản trị điều hành đặc biệt

là năng lực quản trị rủi ro trong việc quản lý dòng tài chính và hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng tiến dần đến các thông lệ và các chuẩn mực quốc tế trong quá trình hội nhập và phát triển giai đoạn hiện nay Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đã

có nhiều qui định nhằm nâng cao mức độ an toàn trong hoạt động của các tổ cức tín

dụng trên cơ sở quán triệt quan điểm “tổ chức tín dụng là tổ chức đặc biệt cần được quản lý đặc biệt và tiếp cận sát thông lệ Quốc tế về các yêu cầu bảo đảm an toàn trong hoạt động” Cùng với việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành quy định mới

về các tỉ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng ( Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010 được sửa đổi bổ sung bởi Thông tư 19/2010/TT-

NHNN ngày 27/09/2010 Quy định về tỉ lệ bảo đảm an toàn của tổ chức tín dụng thay

thế cho Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng

Nhà nước ban hành Quy định về các tỉ lệ bào đảm an toan trong hoạt động của tổ chức tín dụng) Điểm quan trọng trong Thông tư 13 này là: Nâng tỉ lệ an toàn vốn tối

thiểu giữa vốn tự có so với tổng tài sản “có” rủi ro từ 8% (theo Quyết định 457/2005.QĐ-NHNN) lên 9% Thông tư này có vai trò hết sức quan trọng trong việc tăng cường tính an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng nói riêng và hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung

Tỉ lệ tội phạm liên quan ngày càng gia tăng, đó là vấn đề cần được giải quyết một cách triệt để Thực tế, công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong lĩnh vực này cho thấy trong các vụ việc được phát hiện, phanh phui thì cán bộ trong các tổ chức

tín dụng chiếm gần 70% số còn lại là “ngoại xâm” thông đồng, câu kết cùng “nội xâm”

trong nội bộ các tổ chức tín dụng để phạm tội Sai phạm của các cán bộ tín dụng xảy ra trong thời gian qua đã gióng lên hồi chuông báo động về tình trạng kiểm soát vốn đem cho vay, công tác quản lý cán bộ của các tổ chức tín dụng Việc phòng ngừa và ngăn chặn vi phạm các quy định cho vay của các tổ chức tín dụng cần nhiều giải pháp đồng

bộ và quyết liệt mà yếu tố tiên quyết là vấn đề con người… trong thời kỳ thị trường hưng thịnh, nhà nhà, người người đua nhau đầu cơ bất động sản, thì phía các tổ chức tín dụng cũng cố tình đẩy giá trị quá cao so với thực tế Việc này sẽ giúp đôi bên cùng

có lợi, doanh nghiệp vay được tiền, tổ chức tín dụng cho vay được nhiều tiền, chưa nói đến việc móc ngoặc, thông đồng, mà nhân viên tín dụng thực hiện để có thể hưởng được hoa hồng nhiều hơn Thậm chí trong những thời kỳ này, việc thẩm định của các

tổ chức tín dụng có giá trị tới mức không cần biết mức độ chính xác của các bản thẩm định đến đâu, chỉ cần có đóng dấu thẩm định của tổ chức tín dụng thì doanh nghiệp đã

Trang 9

có thể dùng nó để giao dịch Do đó, thiệt hại cuối cùng là nợ xấu như những cục máu đông kéo lùi cả nền kinh tế

Từ những phân tích trên, tác giả chọn đề tài: “Tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng” để làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp cử nhân luật của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài này là nhằm nghiên cứu những yếu tố cơ bản nhất của tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, đánh giá tình hình tội phạm này trong thời gian qua đồng thời tìm ra những phương pháp đúng đắn nhất, bịt lỗ hổng pháp lý và “khóa” điểm yếu từ khâu kiểm soát nội bộ Nhưng yếu tố con người vẫn là quan trọng nhất trong việc ngăn ngừa vi phạm trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng Không ai khác, chính các tổ chức tín dụng phải kiên quyết thanh loại các cán bộ yếu kém về phẩm chất đạo đức Ngoài ra, đánh giá tình hình tội phạm hiện nay cùng với diễn biến sắp tới đưa ra những bất cập, khó khăn tồn tại trong công tác phòng và chống tội phạm nguy hiểm này có hiệu quả

3 Phạm vi nghiên cứu

Do những hạn chế nhất định về nguồn tài liệu tham khảo, thời gian nghiên cứu cũng như kiến thức nên trong đề tài luận văn này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những qui định của pháp luật, những bất cập trong việc thực hiện chính sách, quản lý dòng tài chính Do nó là loại tội phạm mới, được các nhà làm luật qui tại Điều 179 của

Bộ luật Hình sự Việt Nam 1999 sửa đổi, bổ sung 2009, cũng như là các luật liên quan như luật Ngân hàng, luật Các tổ chức tín dụng vừa mới ban hành cho nên không tránh khỏi những bất cập cũng như là các khe hở Do vậy, người viết sẽ tập trung nghiên cứu các qui định của pháp luật, chính sách tín dụng cũng như là các khe hở của pháp luật

mà bọn tội phạm lợi dụng thực hiện hành vi của mình và từ đó có những biện pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật, năng cao công tác phòng chống tội phạm

4 Phương pháp nghiên cứu

Dựa vào những kiến thức đã được học tại trường, người viết vận dụng, thu thập và tổng hợp tài liệu có liên quan để chứng minh làm rõ vấn đề Mặt khác, khi thực hiện luận văn này người viết còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như:

Phương pháp phân tích luật viết; người viết tập trung nghiên cứu, phân tích những bất cập của các văn bản qui phạm pháp luật liên quan

Phân tích, so sánh, tổng hợp; người viết sử dụng phương pháp phân tích và so sánh giữa các điều luật liên quan với nhau hoặc các văn bản luật và dưới luật nhằm tìm

Trang 10

GVHD: Nguyễn Văn Tròn SVTH: Trần Minh Cường

ra những mâu thuẩn, sự không thống nhất giữa các văn bản đó Trong đó, phương pháp tổng hợp là để thống kê, thu thập các số liệu về các vụ án được xử lý cũng như là hậu quả xảy ra để đưa vào bài viết nhằm năng caco tính thuyết phục

Ngoài ra, người viết cũng sử dụng đến phương pháp luận trong bài nghiên cứu của mình

và các hậu quả mà tội phạm này gây ra để làm cơ sở nghiên cứu tại Chương 2

Chương 2: Người viết nghiên cứu, phân tích các qui định của pháp luật có liên quan để chỉ ra những cơ quan quản lý cũng như là xử lý các loại vụ án này và các đối tượng áp dụng các qui định pháp luật trên

Chương 3: Từ những nghiên cứu phân tích của người viết tại Chương 1 và 2, tại Chương 3 này sẽ là những thực trạng hiện nay, những bất cập cần được xử lý kịp thời và hợp lý Từ đó người viết đưa ra những giải pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật

để đáp ứng những nhu cầu trên

Tài liệu tham khảo

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu và xây dựng bài viết nhưng

do thời gian cũng như khả năng tiếp cận nguồn thông tin còn nhiều hạn chế nên bài viết sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Qua đó, kính mong Hội đồng thông cảm và đóng góp ý kiến chân thành để bài viết hoàn thiện hơn

Trang 11

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỘI VI PHẠM QUI ĐỊNH VỀ CHO

VAY TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

Theo qui định của pháp luật thì “cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc bên cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích được xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”4, do hệ thống pháp luật qui định chưa chặt chẽ nên một

số đối tượng đã lợi dụng những kẽ hở của pháp luật để hòng chiếm một số tài sản không hề nhỏ trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng Vấn đề cấp thiết đặt

ra là phải làm thế nào để ngăn chặn những hành vi như vậy trong khi đất nước đang trong quá trình đổi mới “Dân có giàu thì nước mới mạnh”, những vi phạm như thế sẽ làm tổn hại đến lợi ích của quốc gia đang trong quá trình hội nhập và phát triển như nước ta, làm ảnh hưởng đến uy tín trong mắt bạn bè quốc tế, tạo ra sự e dè khi họ

muốn đầu tư vào một thị trường mà khả năng quản lý tổ chức còn yếu kém “Tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng”5, cần phải được

xem là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay mà Đảng, Nhà nước, Chính phủ mà

cơ quan chuyên trách là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tập trung giải quyết, ban hành các văn bản qui phạm pháp luật để ngày càng hoàn thiện hơn, không để thiệt hại đến hàng nghìn tỷ đồng như trong thời gian qua Chương 1 này người viết sẽ khái quát

chung về “tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng”

1.1 Khái quát chung về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

1.1.1 Khái niệm về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

“Các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế là những hành vi nguy hiềm cho xã hội xâm hại nền kinh tế quốc dân, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của các tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thông qua hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế”.6 Tội phạm kinh

tế diễn ra rất đa dạng, ngày càng tinh vi, có sự móc ngoặc giữa người có chức vụ quyền hạn trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước với người ngoài nhà nước, giữa các đối tượng trong nước với các đối tượng là ngưới nước ngoài, sử dụng công nghệ cao để thực hiện và che giấu hành vi phạm tội Thời gian qua các cơ quan chức năng

đã tập trung điều tra làm rõ nhiều vụ án lớn, nghiêm trọng trong nhiều lĩnh vực tài chính ngân hàng, kinh doanh sản xuất…

Trang 12

GVHD: Nguyễn Văn Tròn SVTH: Trần Minh Cường

Xét trên phương diện khoa học pháp lý thì có hai loại tội phạm:

“Một là, tội phạm rõ: là số lượng tội phạm đã thực hiện trên thực tế được tường thuật với cơ quan có thẩm quyền hoặc đã đưa ra xét xử, có trong thống kê hình

sự chính thức

Hai là, tội phạm ẩn: là số lượng tội phạm được thực hiện trên thực tế nhưng không được tường thuật với cơ quan có thẩm quyền hoặc chưa bị phát hiện (một cách chính xác) và do vậy chưa bị đưa ra xét xử, chưa có trong thống kê hình sự chính thức”.7 Ngoài ra, tội phạm ẩn còn là những tội phạm đã được xét xử nhưng lại không

đúng người, không đúng tội vì một lý do nào đó làm cho bỏ lọt tội phạm, oan sai

1.1.2 Hệ thống các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

Tùy theo mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm mà các ngành luật khác nhau

sẽ điều chỉnh nó Đối với hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế có mức độ nguy hiểm cao thì pháp luật hình sự sẽ điều chỉnh và những hành vi nguy hiểm đó sẽ bị cho

là tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế Trong Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định từ Điều 153 đến 181 về tội danh xâm phạm trật tự quản lý kinh tế có đến 40 tội là sự kế thừa chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta đối với hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của nhà nước, đồng thời phản ánh kết quả phát triển của nền kinh tế quốc dân trong giai đoạn cải cách, đổi mới hiện nay Theo

đó, các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế phải được hiểu là những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm hại trật tự quản lý kinh tế Nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân Trong các giai đoạn khác nhau đều có các loại tội phạm xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế khác nhau và ở những mức độ khác Xã hội ngày càng phát triển, Đảng và Nhà nước đẩy mạnh việc phát triển kinh tế làm giàu cho Đất nước, nhân dân ngày càng được ấm no hạnh phúc, song song với những mặt tích cực đó thì những tiêu cực cũng xảy ra Tình trạng tham nhũng, quan liêu, đặc biệt là các tội xâm phạm đến trật tự quản

lý kinh tế xảy ra ngày càng phổ biến và phức tạp, những vụ án được phát hiện làm rúng động dư luận Do đó, mỗi thời kỳ Nhà nước phải đưa ra những chính sách pháp luật phải phù hợp và kiềm chế những hành vi phạm tội xảy ra làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển Đất nước So với BLHS 1985, BLHS 1999 đã có nhiều thay đổi phù hợp với điều kiện chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường ở nước ta cuối những năm 90 của thế kỷ trước:

7

Dương Tuyết Miên, Giáo trình Tội phạm học, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2010, tr 84

Trang 13

Một là, xác định chính xác khách thể bảo vệ của Chương XVI là trật tự quản lý

kinh tế của Nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân, do vậy tên chương tội phạm là

“Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế” thay vì “Các tội phạm về kinh tế” trong BLHS 1985 Sự thay đổi này của BLHS 1999 đã khắc phục được sự thiếu chính xác về học thuật cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật đối với tội xâm phạm trật tự quản

lý kinh tế;

Hai là, do xác định các tội qui định tại Chương XVI BLHS xâm hại đến

khách thể là trật tự quản lý kinh tế nên một số tội phạm trước đây được qui định tại chương khác của BLHS 1985 được chuyển về chương các tội xâm phạm trật tự quản

lý kinh tế Chẳng hạn: Tội buôn lậu (Điều 97 BLHS 1985); Tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới (Điều 97 BLHS 1985) nay được qui định thành các tội phạm tại Điều 153, Điều 154 chương XVI;

Ba là, một số tội phạm qui định trong BLHS 1985 do không còn phù hợp với

điều kiện phát triển của nền kinh tế quốc dân hoặc tuy vẫn còn nguy hiểm cho trật tự quản lý kinh tế nhưng xét thấy không cần thiết phải xử lý bằng hình sự nên đã được loại bỏ Chẳng hạn: Tội cản trở việc thực hiện các qui định của Nhà nước về cải tạo Xã hội Chủ nghĩa (XHCN) (Điều 164 BLHS 1985), Tội vi phạm chế độ tem phiếu (Điều

172 BLHS 1985), Tội lạm sát gia súc (Điều 184 BLHS 1985);

Bốn là, do yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN,

có sự điều tiết của Nhà nước nên BLHS 1999 qui định thêm một số tội phạm mới Đó

là các tội phạm: Tội quảng cáo gian dối (Điều 168), Tội vi phạm qui định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 170), Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan (Điều 170a), Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171);

Năm là, bên cạnh hình phạt tù BLHS 1999 còn mở rộng phạm vi áp dụng các

hình phạt không phải tù, đặc biệt là hình phạt tiền đối với người phạm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế Chính vì vậy, nhìn tổng thể thì chế tài áp dụng đối với người phạm tội xâm phạm trật tự quản lý kinhh tế đã kết hợp hài hoà mục đích trừng trị và mục đích giáo dục cải tạo so với BLHS 1985

1.1.3 Dấu hiệu pháp lý về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

Đa số các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế khi phát hiện đã diễn ra trong một thời gian khá dài, tỷ lệ tội phạm chưa được phát hiện vẫn còn rất cao so với thực

tế, đặc biệt xảy ra tình trạng lợi ích nhóm rất nguy hiểm bọn tội phạm liên kết chặt chẽ với nhau nên rất khó phát hiện, dễ lẫn lộn với với các vi phạm hành chính, vi phạm dân sự nên tình trạng bỏ lọt tội phạm dễ dàng xảy ra

Trang 14

GVHD: Nguyễn Văn Tròn SVTH: Trần Minh Cường

Mặt khách thể

Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế xâm phạm đến các quan hệ xã hội bảo đảm cho sự ổn định và phát triển nền kinh tế quốc dân Đó là chế độ quản lý, điều hành toàn bộ nền kinh tế của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, quyền và lợi ích của Nhà nước, của tổ chức kinh tế, quyền và lợi ích, tính mạng, sức khỏe của người tiêu dùng … được thể chế hóa trong những quy định pháp luật của Nhà nước

Mặt chủ thể

Chủ thể của tội xâm phạm này có thể là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự Trong một số tội chủ thể phải là người có chức vụ, quyền hạn nhất định trong các cơ quan, tổ chức kinh tế (chủ thể đặc biệt)

Mặt chủ quan

Các tội xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế được thực hiện do lỗi có ý trực tiếp hoặc gián tiếp Khi thực hiện hành vi người phạm tội đều ý thức được hạnh vi của mình là nguy hiêm cho xã hội, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm nhằm mong muốn hậu quả xảy ra hoặc với ý thức mặc cho hậu quả xảy ra Mục đích và động cơ phạm tội chủ yếu là vụ lợi hoặc động cơ các nhân khác

1.1.4 Ý nghĩa của việc xây dựng chế tài xử phạt các tội xâm phạm trật tự quản

lý kinh tế trong thời kỳ Đất nước quá độ lên Xã hội Chủ nghĩa và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa

Đất nước trong thời ký đổi mới, từng bước đi lên chế độ Xã hội Chủ nghĩa, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa Trong đó, phát triển chính sách kinh tế mới chấm dứt chế độ quan liêu bao cấp là việc làm phù hợp đã được Đảng và Nhà nước ta quán triệt trong các Nghị quyết, các chỉ thị của Nhà nước, xây dựng chính sách kinh tế mới phù hợp hơn, nhanh chóng và dễ áp dụng quản lý hơn để

Trang 15

thực hiện “đi tắt đón đầu” là đều tất yếu phải thực hiện Theo V.I.Lenin: “Chính sách kinh tế mới là nhà nước cho phát triển nhiều thành phần kinh tế, kể cả kinh tế tư bản chủ nghĩa để xây dụng và phát triển chủ nghĩa xã hội Chính sách này không phải là sách lược nhất thời mà là chiến lược xuyên suốt thời kỳ quá độ”.8 Không phải muốn là thay đổi nhanh chóng mà là phải có sự tính toán kỹ lưỡng, thận trọng tránh đi vào vết

xe đổ của các nước đi trước Cái gì có lợi cho dân thì làm, cái gì có hại cho Đất nước cho Nhân dân thì phải hết sức tránh Muốn thay đổi toàn diện và phát triển nền kinh tế theo hướng tích cực thì trước hết phải hoàn thiện hệ thống pháp luật, khắc phục những bất cập của hệ thống pháp luật cũng như là những yếu kém trong việc áp dụng các văn bản pháp luật vào đời sống

Nền kinh tế vẫn còn khó khăn, đất nước vẫn là nước nghèo hằng năm phải nhận viện trợ của các nước khác Hệ thống pháp luật vẫn còn non trẻ bộc lộ nhiều bất cập trong các văn bản qui phạm pháp luật điển hình là các văn bản qui phạm pháp luật vừa mới ban hành thì đã bộc lộ những thiếu sót, bất cập phải sửa đổi bổ sung thậm chí

là phải ban hành văn bản khác để thay thế Đặc biệt là các văn bản qui phạm pháp luật

về kinh tế, nền kinh tế luôn biến động xoay chuyển từng ngày trong khi đó thì hệ thống pháp luật quản lý kinh tế lại đứng yên thụ động cho nên chỉ một thời gian ngắn đưa vào áp dụng nó đã bộc lộ những sai sót và đó chính là cơ hội cho bọn tội phạm lợi dụng những kẽ hở cố tình làm trái pháp luật, luồn lách để trục lợi cho bản thân làm tổn hại nền kinh tế rất nghiêm trọng Những vụ án kinh tế gần đây được phanh phui làm phẩn nộ dư luận, tổn thất một số tiền vô cùng khổng lồn lại khó hoặc không thể thu hồi lại được số tiền mà bọn tội phạm có được từ hành vi phạm tội của mình trong khi đó đất nước còn hết sức khó khăn Suy cho cùng dù hệ thống pháp luật quản lý kinh tế có hoàn thiện đến mấy đi chăng nữa thì cũng do con người tạo nên do vậy cũng ít nhiều

có những kẽ hở trong đó nhưng quan trọng là có thể lợi dụng những kẽ hở đó mà thực hiện hành vi phạm tội của mình hay không thì do ý chí chủ quan của con người và chúng ta có thể khắc phục dần dần những suy nghĩ tiêu cực này

Do đó, Nhà nước phải luôn có những chính sách định hướng cho sự phát triển nền kinh tế phù hợp với khả năng và điều kiện quốc gia của mình cũng như phù hợp với xu thế chung của thế giới Nền kinh tế với định hướng chung như thế sẽ phát triển theo một trật tự quản lý kinh tế nhất định Bất kỳ hành vi nào khiến cho nền kinh tế phát triển trái với trật tự quản lý kinh tế đó đều phải xem là hành vi vi phạm pháp luật

và cần phải có những chế tài thích đáng Bên cạnh đó, cũng cần hoàn thiện hệ thống

8

Trang 16

GVHD: Nguyễn Văn Tròn SVTH: Trần Minh Cường

pháp luật quản lý kinh tế nói riêng và toàn hệ thống pháp luật của nước ta nói chung Pháp luật là một trong những công cụ quan trọng nhất của Nhà nước để quản lý xã hội cũng như định hướng phát triển theo những chính sách đã được đề ra

1.2 Khái quát chung về tín dụng, các loại hình tín dụng và chính sách tín dụng

1.2.1 Khái niệm về tín dụng

Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ La tinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm) Trong thực tế cuộc sống, thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau; ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng

có một nội dung riêng Trong quan hệ tài chính, tín dụng có thể hiểu theo các nội nghĩa sau:9

Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm, thì tín dụng được xem là phương pháp chuyển dịch vốn từ người cho vay sang người đi vay;

Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên

cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể Ví dụ: Ngân hàng cấp tiền vay cho bên bên đi vay

và sau một khoảng thời gian nhất định người đi vay phải thanh toán vốn gốc và lãi;

Tín dụng còn được hiểu là sự bảo lãnh của bên thứ ba thường được gọi là tín dụng bằng chữ ký, như việc ngân hàng mở thư tín dụng cho nhà sản xuất hưởng theo yêu cầu của nhà nhập khẩu

Từ những phân tích trên, người viết cho rằng tín dụng cần được hiểu là một

giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay ( ngân hàng và các chế định tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho

bên cho vay khi đến hạn thanh toán Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một,

một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức hành chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.10Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc bên cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích được xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi.11

Trang 17

1.2.2 Khái niệm nợ quá hạn

Thứ nhất, nợ quá hạn có tài sản đảm bảo là khoản nợ khi cho vay người đi

vay là cá nhân hoặc doanh nghiệp phải thế chấp tài sản cho ngân hàng, theo pháp luật ngân hàng có quyền phát mãi tài sản để thu nợ Do vậy, nợ quá hạn này tuy chưa thu được nhưng ngân hàng vẫn có khả năng thu hồi

Thứ hai, nợ quá hạn không có tài sản đảm bảo là khoản nợ khi cho vay, ngân

hàng không yêu cầu người vay phải thế chấp tài sản Loại nợ này, con nợ là cá nhân hoặc doanh nghiệp vay vốn vẫn tồn tại, vẫn hoạt động kinh doanh nếu tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt thì cũng có khả năng thu hồi nợ , còn nếu xấu thì coi như mất trắng

Thứ ba, nợ quá hạn là khoản nợ khó đòi ( có thể gọi là nợ xấu): Loại nợ này

xảy ra ở những cá nhân/ doanh nghiệp vay vốn có tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính yếu kém, biểu hiện là sản xuất kinh doanh bị lỗ, nợ phải trả tăng, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán hoàn toàn Thời hạn nợ tồn đọng khá lâu, có thể kéo dài trên một năm, 2 – 3 năm hoặc lâu hơn nữa và rất khó giải quyết.12

1.2.3 Các loại hình tín dụng

1.2.3.1 Các hình thức của tổ chức tín dụng

Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi

mô và quỹ tín dụng nhân dân

Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã

Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng , trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác

Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ

12

SaiGonbank, Nợ quá hạn là gì, http://canvaytien.net/no-qua-han-la-gi/ , [truy cập ngày 1-7-1014]

Trang 18

GVHD: Nguyễn Văn Tròn SVTH: Trần Minh Cường

Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống

1.2.3.2 Các hình thức bảo đảm tín dụng

Bảo đảm tín dụng có ba hình thức sau:

Một là, thế chấp tài sản là việc bên đi vay dùng tài sản là bất động sản thuộc

quyền sở hữu của mình hoặc giá trị quyền sử dụng đất hợp pháp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đối với bên cho vay

Hai là, cấm cố tài sản là việc bên đi vay giao tài sản là động sản thuộc sở hữu

của mình cho bên cho vay để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ; nếu tài sản cầm cố có đăng ký quyền sở hữu thì các bên có thể thỏa thuận bên cấm cố vẫn giữ tài sản cầm cố

hoặc giao cho bên thứ ba giữ “Cầm cố tài sản là việc một bên (gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (gọi là bên nhận cầm cố) để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự 13 ”

Ba là, bảo lãnh là việc bên thứ ba cam kết với bên cho vay (người nhận bảo

lãnh), nếu khi đến hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ Người bảo lãnh là người thực hiện nghĩa vụ thay cho người đi vay

đối với người cho vay “Bảo lãnh là việc người thứ ba (say đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình”.14 Người nhận bảo lãnh là chủ nợ, người thụ hưởng bảo lãnh Người được bảo lãnh là người đi vay (người nợ) người có nghĩa vụ thanh toán nợ

1.2.4 Chính sách tín dụng

1.2.4.1 Khái niệm

Chính sách tín dụng là một hệ thống các biện pháp liên quan đến việc tăng trưởng tín dụng hoặc hạn chế tín dụng để đạt mục tiêu đã được hoạch định và hạn chế rủi ro, bảo đảm an toàn trong kinh doanh tín dụng

Trang 19

Một chính sách tín dụng đều phải đạt ba mục tiêu:

Một là, lợi nhuận của tổ chức tín dụng;

Hai là, an toàn, ít rủi ro, hoặc rủi ro trong giới hạn cho phép;

Ba là, sự lành mạnh của các khoản tín dụng

Chính sách tín dụng còn là một “bản hướng dẫn” quan trọng để cán bộ tín

dụng thực thi các hoạt động của mình Bất cứ một tổ chức tín dụng hoặc ngân hàng thương mại nào muốn đạt được các mục tiêu kinh doanh, phải hoạch định một cách rõ ràng một chính sách tín dụng thích hợp cho tổ chức của mình để xác định phương hướng sử dụng các nguồn vốn hiện có nhằm tạo ra một tài sản có chất lượng cao và ít rủi ro Một tổ chức tín dụng nếu thực hiện nghiêm các qui tắc đặt ra thì nguồn vốn của

tổ chức ngày càng phát triển và ngược lại nếu không làm tốt thì rủi ro xảy ra rất cao khi đó tình trạng nợ xấu là rất nguy hiểm

1.2.4.2 Cơ sở hình thành chính sách tín dụng

Thứ nhất, nguồn vốn và tính chất của nguồn vốn Quy mô nguồn vốn của một

tổ chức tín dụng quyết định qui mô của khối lượng tín dụng mà tổ chức đó có thể phát

ra Vốn kinh doanh của một tổ chức tín dụng chủ yếu là tiền gửi của người ký thác Một tổ chức tín dụng có quy mô lớn có thể cho vay với một số tiền lớn và thời gian cho người đi vay cũng sẽ dài hơn nhưng điều đó đồng nghĩa với việc rủi ro trong thời gian cho vay cũng sẽ nhiều hơn Vì lợi nhuận và mục tiêu, nên các chính sách tín dụng thường tìm cách nâng cao tỉ phần sinh lợi của tài sản, nhất là nâng cao khả năng cung cấp tín dụng

Thứ hai, khả năng sinh lợi và sự rủi ro của các khoản cho vay, thông thường

một khoản tín dụng có khả năng sinh lợi cao thường xảy ra rủi ro cao và ngược lại Khả năng sinh lợi và rủi ro thường thể hiện theo 2 vấn đề sau:

Lĩnh vực đầu tư: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ…

Loại tín dụng: Tín dụng dài hạn, ngắn hạng, tín dụng tiêu dùng, bảo lãnh tín dụng…

Khả năng sinh lời và rủi ro còn thể hiện theo sự phân tán hay tập trung tín dụng, nó tùy thuộc vào cơ chế quản lý cũng như chính sách định hướng khi tiến hành cho vay trên tổng số tiền cho vay của tổ chức tín dụng đó Điển hình như một chính sách tín dụng tập trung thường có thể mang lại lợi ích cao và đồng nghĩa với rủi ro cao

và ngược lại một chính sách tín dụng phân tán thường có thể mang lại lợi ích thấp và đồng nghĩa với rủi ro ít hơn

Trang 20

GVHD: Nguyễn Văn Tròn SVTH: Trần Minh Cường

Thứ ba, tính ổn định của các khoản ký thác Khi các khoản ký thác ổn định nó

cho phép các tổ chức Tín dụng hoạch định một chính sách tín dụng mà ở đó quy mô, thời gian của tín dụng ổn định và tỉ phần sinh lợi của tài sản cũng có thể được hoạch định cao hơn Ngược lại khi mà sự ký thác không ổn định dẫn đến các tổ chức tín dụng luôn luôn phải dự trữ ngân quỹ để có thể đảm bảo thanh khoản khi cần thiết

Thứ tư, chính sách tiền tệ và tài chính Nhà nước Tùy thuộc vào chính sách

tiền tệ và tài chính của Nhà nước, theo hướng mở rộng hay thắt chặt tiền tệ, thông qua các công cụ như dự trữ pháp định, chính sách chiết khấu, chính sách thị trường mở, lãi suất Đảng và Nhà nước vạch ra những chính sách phát triển kinh tế Đất nước Ngân hàng Nhà nước là cơ quan chuyên trách có nhiệm vụ thực hiện những chính sách đó đối với nguồn tài chính được vạch ra và phải chịu trách nhiệm trước Chính phủ những vấn đề phát sinh trong quản lý

Thứ năm, khả năng và kinh nghiệm của các cán bộ tín dụng Cũng giống như

các lĩnh vực khác thì yếu tố con người là yếu tố hàng đầu để hoạch định chính sách phát triển, quản lý và kinh doanh của một tổ chức tín dụng Để tránh những rủi ro trong việc phát triển của các tổ chức tín dụng thì tùy vào khả năng chuyên môn, quản

lý của đội ngũ cán bộ tín dụng, tổ chức tín dụng đó chỉ mở rộng qui mô tín dụng trong phạm vi mà các cán bộ tín dụng của họ có thể quản lý được Đây là chính sách được xem như lá chắn an toàn cho các tổ chức tín dụng nhưng như vậy sẽ hạn chế phát triển của tổ chức tín dụng đó

1.2.4.3 Mục tiêu và nội dung của chính sách tín dụng

Như trên đã phân tích, mục tiêu của tín dụng trước hết là lợi nhuận, an toàn và

lành mạnh Không thể phát ra một khoản tín dụng mà không tính đến lợi ích do khoản tín dụng đó mang lại, nó sẽ đem lại lợi ích cho các bên người đi vay và người cho vay Một chính sách tín dụng như vậy sẽ giúp ích cho sự phát triển kinh tế đất nước Trong giai đoạn hiện nay, vai trò của các tổ chức tín dụng rất quan trọng Các tổ chức tín dụng cần phải có những mục tiêu và nội dung rõ ràng và rất chặt chẽ Mục tiêu là phải tạo ra lợi nhuận cho mình đồng thời đảm bảo dòng tài chính phải lưu thông không để đình trệ, hạn chế lạm phát ở mức thấp nhất Đảm bảo nguồn vốn cho vay cũng như là tình trạng nợ phải thu hồi được một cách nhanh chóng Lợi nhuận là yếu tố sống còn đối với một tổ chức tín dụng nhưng không vì như thế mà làm bằng mọi cách để có lợi nhuận để rồi tình trạng nợ xấu trầm trọng là cục máu đông cho dòng chảy kinh tế cũng như sự phát triển của một nền kinh tế

Trang 21

Không thể nhấn mạnh về yêu cầu lợi nhuận, mà phải nhấn mạnh về yêu cầu trước tiên là thu hút khách hàng , mở rộng quan hệ tín dụng thì có thể hoặc định một chính sách lãi suất thấp, tuyên truyền quản cáo nhiều Bênh cạnh đó việc đảm bảo an toàn cho dòng vốn cho vay là hết sức quan trọng Thu hút được khách hàng nhiều là hết sức cần thiết nhưng không vì thế mà bất chấp để thu hút khách hàng Chính sách tín dụng phải là hệ thống chủ trương,định hướng quy định chi phối hoạt động tín dụng nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn vốn và phù hợp với những qui định của Chính phủ Chính sách tín dụng những giới hạn áp dụng cho các hoạt động tín dụng Đồng thời cũng thiết lập môi trường nhằm giảm bớt rủi ro trong hoạt động tín dụng Nó được đưa

ra nhằm bảo đảm rằng mỗi quyết định tín dụng đều đảm bảo tính khách quan, tuân theo qui định của Nhà nước và phù hợp thông lệ chung của quốc tế Qua những phân

tích trên có thể xác định mục tiêu và nội dung của chính sách tín dụng như sau: Thứ nhất: phải có các đối tượng vay vốn, việc này là hết sức quan trong đối với một chính sách tín dụng; Hai là: phương thức quản lý các hoạt động quản lý tín dụng phải phù hợp để có thể sử dụng nguồn tín dụng có hiệu quả; Ba là: phương thức quản lý nguồn

vốn cho vay để có thể quản lý được dòng tài chính đã cho vay và có thể bảo đảm là thu

hồi được trong thời gian cho vay; Bốn là: thời hạn và các điều kiện cho vay, đây cũng

là một việc rất quan trọng khi một tổ chức cá nhân có nhu cầu vay thì phải xác định họ

có gì bảo đảm khi vay và hết thời gian vay họ có thể hoàn trả được hay không Trên thực tế khi đi vay một số tổ chức, cá nhân cấu kết với cán bộ tín dụng để vay những khoản vay trái phép mà không có gì bảo đảm hoặc là cố ý định giá tài sản bảo đảm sai với qui định hòng để vay

1.2.4.4 Tính chiến lược của chính sách tín dụng

Khi hình thành chính sách tín dụng cần phải lưu tâm đến chiến lược thu hút khách hàng và phải có sự lựa chọn Điều này đòi hỏi phải nghiên cứu các đối tượng khách hàng thật chu đáo, trước khi quyết định phát các khoản tín dụng cho khách hàng

Khách hàng phải đạt các tiêu chuẩn nhất định như:

Khách hàng có khả năng ổn định và phát triển kinh doanh lâu dài

Khách hàng phải có đội ngũ quản lý giỏi, có khả năng thích ứng tốt với môi trường kinh doanh

Khách hàng không có biểu hiện lừa đảo

Khách hàng có triển vọng chiếm lĩnh thị trường

Trang 22

GVHD: Nguyễn Văn Tròn SVTH: Trần Minh Cường

Lãi suất cũng là một vấn đề quan trọng trong việc thu hút khách hàng Lãi suất cao sẽ hạn chế khách hàng vay vốn và ngược lại Vì vậy, chính lãi suất phải hài hòa và linh hoạt để cả hai cùng có lợi như:

Tín dụng có rủi ro cao thì lãi suất cao;

Tín dụng có rủi ro thấp thì lãi suất thấp;

Tín dụng dài hạn thì lãi suất cao;

Tín dụng ngắn hạng lãi suất thấp

Tóm lại, chính sách tín dụng là vấn đế sốn còn của một tổ chức tín dụng Phải

có chính sách phù hợp trong tình hình kinh tế xã hội khó khăn, để có thể điều tiết được nền kinh tế không làm đình trệ hoạt động Chính phủ điều hành chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước thực thi là vấn đề hết sức quan trọng trong mọi giai đoạn

1.3 Khái quát chung về tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các

tổ chức tín dụng

1.3.1 Đặc điểm của tội vi phạm qui định về cho vay trong các tổ chức tín dụng

Các hành vi của tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng nó thường kéo dài trong một khoản thời gian khá dài Cho nên khi phát hiện ra và xử lý thì nó đã tạo ra một hệ lụy vô cùng lớn Trong hoạt động tín dụng, nếu người nào mà có một trong các hành vi sau đây thì vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng :

Cho vay không có bảo đảm trái quy định của pháp luật;

Cho vay quá giới hạn quy định;

Hành vi khác qui phạm qui định của pháp luật về cho vay trong hoạt động tín dụng

Chủ thể thực hiện hành vi phạm tội gồm 2 nhóm đối tượng (trong và ngoài tổ chức), trong đó nhóm đối tượng cán bộ trong tổ chức tín dụng đóng vai trò chủ chốt để thực hiện hành vi phạm tội:

Nhóm đối tượng là cán bộ trong tổ chức tín dụng thường thực hiện tội phạm với các hành vi phổ biến là:

Lợi dụng chức vụ quyền hạn để thực hiện hành vi tham nhũng Thủ đoạn phạm tội này tương đối phổ biến trong hầu hết các vụ án đã xảy ra trong thời gian qua, một số cán bộ đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để thực hiện hành vi phạm tội

vì động cơ vụ lợi và có sự tính toán, che giấu tinh vi khi thực hiện

Trang 23

Lợi dụng vị trí công tác, uy tín của tổ chức tín dụng để thực hiện hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tiền của các tổ chức tín dụng, tổ chức và cá nhân Cán bộ tín dụng lợi dụng vị trí công tác, uy tín của tổ chức tín dụng để thực hiện hành vi lừa đảo nhằm rút tiền của tổ chức tín dụng hoặc chiếm đoạt tiền của các tổ chức, cá nhân, thông qua các biện pháp nghiệp vụ như: huy động vốn cho tổ chức tín dụng (thỏa thuận trả lãi suất cao hơn quy định Nhà nước cho phép), sau đó không đưa vào tổ chức

mà chiếm đoạt luôn tiền, tài sản của các cá nhân, tổ chức; Cán bộ tổ chức tín dụng sử dụng các biện pháp nghiệp vụ nhằm sửa chữa, tẩy xóa nâng giá trị tiền lên nhiều lần trong các chứng chỉ tiền gửi của các tổ chức tín dụng phát hành, rồi đem thế chấp tại chính tổ chức tín dụng mình đang công tác

Cán bộ tổ chức tín dụng bị lôi kéo, mua chuộc, tiếp tay cho tội phạm Những người ngoài ngành tín dụng chỉ thực hiện được tội phạm khi lôi kéo, mua chuộc được cán bộ, chủ yếu là cán bộ trực tiếp làm công tác tín dụng, cán bộ thẩm định hồ sơ, tài sản thế chấp, hoặc lãnh đạo của các chi nhánh của tổ chức tín dụng, bằng cách cho hưởng phần trăm hoặc “hoa hồng” trên tổng số tiền vay, thực chất những hành vi đó

là đưa, nhận hối lộ để có được sự thông đồng tiếp tay của cán bộ tổ chức tín dụng dưới nhiều hình thức

Cán bộ tín dụng thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng Loại hành vi này xảy ra do lãnh đạo đơn vị tổ chức tín dụng hoặc người có trách nhiệm trong các tổ chức tín dụng cả tin, quan liêu, năng lực yếu kém thiếu kiểm tra cấp dưới dẫn đến bị lợi dụng và để xảy ra vi phạm, tội phạm

Nhóm đối tượng phạm tội ngoài tổ chức tín dụng, các hành vi phổ biến là:

Thứ nhất, hành vi lừa đảo với các thủ đoạn như tạo dựng hồ sơ dự án để thế

chấp vay vốn: các đối tượng phạm tội đăng ký thành lập doanh nghiệp để lấy tư cách pháp nhân, sau đó xây dựng các bộ hồ sơ dự án giả mạo để thế chấp vay; giả mạo hợp đồng mua bán hàng hóa để thế chấp vay vốn: đối tượng phạm tội thường làm giả con dấu của doanh nghiệp khác, tạo ra các hợp đồng mua bán hàng hóa; hoặc lập ra nhiều doanh nghiệp để ký kết các hợp đồng kinh tế giả mạo dùng thế chấp vay vốn; Giả mạo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở; hoặc lừa đảo sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân; hoặc cùng một tài sản (nhà, đất) lập ra nhiều giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà ở, đất ở đem thế chấp tại nhiều tổ chức tín dụng

để vay vốn

Thứ hai, mua chuộc cán bộ nhà nước, cán bộ tổ chức tín dụng tiếp tay cho

hành vi lừa đảo Thông qua các vụ án đã khảo sát cho thấy, trong lĩnh vực tín dụng đã

Trang 24

GVHD: Nguyễn Văn Tròn SVTH: Trần Minh Cường

có rất nhiều quy định chặt chẽ nhất là quy định về vay vốn, mặc dù hành vi và thủ đoạn của bọn tội phạm lừa đảo rất tinh vi, nhưng nếu không có sự tiếp tay của cán bộ Nhà nước, đặc biệt là cán bộ trong ngành, thì khó xảy ra các hành vi lừa đảo chiếm

đoạt được tài sản của các tổ chức tín dụng

1.3.2 Hậu quả của hành vi phạm tội và một số vụ án điển hình được dư luận quan tâm

Mọi vấn đề lớn của phát triển đều bao hàm thách thức và cơ hội Nếu tốc độ và quan hệ của các nước ngày càng phát triển thì tội phạm về kinh tế nói chung và tội phạm liên quan đến các tổ chức tín dụng là một thách thức không hề đơn giản Việc xem xét một số ảnh hưởng tiêu cực trong nền kinh tế sau đây sẽ lý giải cho nhận định trên

Những nước đang phát triển dễ bị ảnh hưởng: Những nước đang phát triển sẽ tập trung phát triển nền kinh tế trên diện rộng, là thị trường đầy tiềm năng cho các tổ chức tín dụng phát triển Dòng tài chính sẽ luân chuyển thường xuyên, là nơi mà các tổ chức cá nhân vay mượn hoặc ký gửi Ngoài những mặt tích cực đấy thì cũng không ít tiêu cực Là những nước phát triển thì khả năng quản lý và sử dụng các dòng tài chính còn yếu kém, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn bộc lộ nhiều kẽ hở là điểm thuận lợi để những kẻ xấu thực hiện hành vi phạm tội của mình Lập hồ sơ khống, hồ

sơ giả để tiến hành các hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm các hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng

Ảnh hưởng đến nền kinh tế: Tội phạm kinh tế nói chung và tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng làm ảnh hưởng đến nhiều mặt của nền kinh tế: hệ thống tổ chức tín dụng bị suy yếu, cầu tiền tệ đột biến, các số lượng thống kê bị bóp méo,… gây khó khăn cho việc hoạch định chính sách phát triển Ngoài ra, tình trạng nợ xấu, khó thu hồi vốn là tình trạng nhức nhối của nhiều tổ chức tín dụng làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế Đơn cử như tình trạng nợ của công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) là khoảng 68.000 tỷ đồng.15 Như vậy một

số nợ khổng lồ, vậy thì đối với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam là rất lớn ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình phát triển kinh tế

Ảnh hưởng đến thị trường tài chính: Nguyên tắc cơ bản trong đầu tư tài chính

là phải sinh lời: “tiền đẻ ra tiền” Nhưng các hành vi xâm phạm đến hoạt động cho vay, các dòng tài chính thì nguyên tắc đấy sẽ bị phá vỡ Thị trường tài chính sẽ bị đảo

15

Thu Hằng, “Khiêu vũ” với nợ xấu tàu biển, Kênh thông tin kinh tế- tài chính Việt Nam, 2014,

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/khieu-vu-voi-no-xau-tau-bien- 2014062714371550714ca34.chn , [truy cập ngày 28-6-2014]

Trang 25

lộn với tình trạng nợ xấu, thất thoát dòng tài chính Những tổ chức tín dụng có số vốn

ít sẽ lâm vào trình trạng phá sản hoặc bị thâu tóm theo kiểu “cá lớn nuốt cá bé”

Làm mất kiểm soát chính sách kinh tế: Chính phủ là cơ quan đầu não phát triển kinh tế, Ngân hàng Nhà nước là cơ quan chuyên trách chịu trách nhiệm trước Chính phủ về điều tiết và luân chuyển dòng tài chính Nếu các hành vi cứ xảy ra thì cho thấy khả năng kiểm soát và quản lý còn yếu kém Nền kinh tế không thể phát triển

mà tình trạng mất kiểm soát diễn ra, làm phương hại rất nghiêm trọng đến nền kinh tế quốc dân Cần thay đổi tư duy khả năng quản lý

Những hành vi phạm tội như vậy làm cho nền kinh tế bị thiệt hại một cách nặng nề Hàng nghìn nghìn tỷ đồng của Nhà nước của Nhân dân đều vào trong túi của những kẻ đó Nhân dân mất lòng tin vào chính sách, đường lối mà Đảng và Nhà nước đưa ra trong khi một loạt các vụ án được phát hiện và số tiền bị thiệt hại là một con số khổng lồ đối với nền kinh tế Việt Nam Tội phạm về kinh tế nói chung và tội vi phạm hoạt động cho vay nói riêng đều đem lại một kết quả là làm cho nền kinh tế chậm phát triển, sử dụng dòng tài chính không hiểu quả thất thoát hằng nghìn tỉ đồng

Những vụ án diển hình bị phát hiện được dư luận quan tâm như vụ: vụ Nguyễn Đức Kiên, Lê Thị Huyền Như, Công ty cho thuê tài chính II… làm ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế Những vụ án đấy đều xảy ra trong một thời gian khá dài mới bị phát hiện thì đã thất thoát một số tiền khổng lồ mà khó có thể thu hồi được Ngay những tập đoàn, công ty có vốn của Nhà nước nước cũng xảy ra những vụ án như thế Mất rất nhiều thời gian để điều tra và làm rõ những vụ án đó nhưng quan trọng nhất là

số tài sản bị thất thoát thì khó có thể thu hồi lại được

1.4 Lịch sử hình thành các giai đoạn của pháp luật Việt Nam về tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng

1.4.1 Giai đoạn trước năm 1975

Trước những năm 70 của thế kỷ trước, hoạt động lập pháp mới chỉ quan tâm đến lĩnh vực tổ chức bộ máy nhà nước (thuộc lĩnh vực hiến pháp), nghĩa vụ quân sự (mục đích để huy động tầng lớp thanh niên tham gia chống Mỹ cứu nước) và pháp luật hình sự Các lĩnh vực khác của đời sống xã hội ít được quan tâm điều chỉnh hoặc chỉ được điều chỉnh chủ yếu bởi các văn bản dưới luật như nghị định, quyết định, nghị quyết, chỉ thị, thông tư của Hội đồng Chính phủ, của các bộ và cơ quan thuộc Chính phủ Chỉ có duy nhất một thành phần kinh tế là Nhà nước, mọi tài sản đều thuộc Nhà nước và để phục vụ cho chiến tranh Vì vậy các tội phạm liên quan đến kinh tế, tiền của các ngân hàng đều được xem là xâm phạm đền tài sản xã hội chủ nghĩa và bị xử lý

Trang 26

GVHD: Nguyễn Văn Tròn SVTH: Trần Minh Cường

theo Pháp lệnh Trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa ban hành ngày 21/10/1970 Những năm này, nước ta luôn chìm trong chiến tranh chống lại bọn xâm lược, giành những điều kiện tốt nhất để phục vụ cho chiến tranh nên có thể nói tình hình kinh tế vô cùng lạc hậu Vì vậy, những loại tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói chung và những tội liên quan đến các tổ chức tín dụng hầu như ít xảy ra

1.4.2 Giai đoạn sau năm 1985

Sau năm 1975, đất nước vừa được giải phóng cơ sở vật chất gần như là bị phá hủy hoàn toàn, nền kinh tế vẫn còn lạc hậu, thực hiện chế độ quan liêu bao cấp kiềm hãm sự phát triển kinh tế đất nước Kinh tế tập trung vào Nhà nước thuộc sở hữu xã hội chủ nghĩa Đến năm 1986 Đại hội VI diễn ra, đánh dấu cho quá trình chuyển mình của nền kinh tế lẫn hệ thống pháp luật nước ta Để phát triển kinh tế nhanh chóng ngoài việc có những chiến lược sáng suốt của Đảng và Nhà nước thì việc hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này cũng hết sức quan trọng Trong giai đoạn này, Bộ luật Hình sự năm 1985 còn hạn chế, không có các phần hoặc chương để quy định các tội liên quan đến các tổ chức tín dụng Bộ luật này chỉ quy định các tội xâm phạm sỡ hữu xã hội chủ nghĩa, trong đó tại Chương 4 từ Điều 133 đến Điều 141 quy định các tội xâm hạm nghiêm trọng đến sở hữu xã hội chủ nghĩa.Trước những thực trạng đó thì cần phải có một văn bản để hướng dẫn cũng như là qui định riêng cho các hành vi liên quan đến các tổ chức tín dụng nhằm xử lý đúng người đúng tội và quan trọng nhất là không bỏ lọt tội phạm Đánh dấu cho bước ngoặt đó, trong năm 1990 là sự ra đời của hai văn bản quan trọng đó là Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Hợp tác xã tín dụng và công ty Tài chính được ban hành ngày 23/5/1990 Do khả năng lập pháp của những nhà làm luật nước ta vẫn còn hạn chế nên hai Pháp lệnh trên nhanh chóng bộc lộ những bất cập cần có một văn bản hoàn chỉnh hơn và đáp ứng những nhu cầu của quá trình phòng chống tội phạm về tín dụng thời bấy giờ

Nhưng không thể phủ nhận một điều rằng, Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Hợp tác xã tín dụng và công ty Tài chính được ban hành ngày 23/5/1990 là những bản nháp cho những nhà làm luật hiểu rõ hơn sự phức tạp của tội phạm cũng như là các thủ đoạn bọn tội phạm lợi dụng những kẽ hở của các văn bản đấy để thực hiện hành vi phạm tội Để từ đó rút ra những kinh nghiệm quý báo, những hướng khắc phục và những dự báo về sự phát triển của tội phạm tín dụng phát triển

trong thời gian tới nhằm năng cao tuổi thọ của các văn bản qui phạm pháp luật

Trang 27

179 của Bộ luật này đã quy định như thế nào là tội phạm về tín dụng Qua đó có những chế tài cần thiết để áp dụng và sử lý khi có những tội phạm như thế xảy ra

Đặc biệt có sự ra đời của Luật Các tổ chức tín dụng năm 201016 và Luật Ngân hàng năm 201017 là một bước tiến mạnh mẽ để xác định rõ các chủ thể quy định của Điều 179 Bộ Luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 Sự ra đời của hai luật này

là hết sức cần thiết trong giai đoạn đất nước trong thời kỳ hội nhập kinh tế thị trường Bên cạnh các mặt tích cực của nền kinh tế thị trường thì những tiêu cực cũng không hề kém Tội phạm ngày càng diễn biến phức tạp, ngày càng tinh vi, lợi dụng quyền hạn, chức vụ để trục lợi là những thực trạng hiện nay Do đó, việc xác định rõ các chủ thể tội phạm là vấn đề quan trọng để có những chế tài, biện pháp cần thiết để ngăn chặn những hành vi phạm tội

Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật vẫn còn hạn chế bộc lộ nhiều kẽ hở, ban hành nhiều văn bản qui phạm pháp luật không rõ ràng nên đó là điều kiện thuận lợi để bọn tội phạm lợi dụng để thực hiện những hành vi của mình Cần phải trải qua một quá trình dài để hệ thống pháp luật được hoàn thiện và khắc phục được các hạn chế đang tồn tại

Tóm lại, trong tình hình kinh tế xã hội còn nhiều diễn biến phức tạp như hiện nay, thì việc nghiên cứu các loại tội phạm xâm phạm đến lợi ích quốc gia là hết sức quan trọng Việc nghiên cứu sẽ tìm ra những nguyên nhân và những biện pháp để khắc phục kịp thời những hậu quả mà những tội phạm đó gây nên Ngoài ra, trên những thực tiễn như vậy ban hành và hoàn thiện những văn bản quy phạm pháp luật phù họp nhầm hạn chế những kẽ hở cho bọn tội phạm lợi dụng để thực hiện hành vi của mình Chỉ có thể trên cơ sở nhận thức đúng về tội phạm này, hiểu biết pháp luật hiện hành để

từ đó tìm ra những ưu, nhược điểm để tìm ra những cách thức phòng chống tội phạm

về kinh tế nói chung và tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng nói riêng có hiệu quả Tất nhiên, muốn có sự thành công thì cần phải có thời gian, trong hoạt động đấu tranh với các loại tội phạm này cũng như vậy nhất là

16

Nhằm thay thế cho Luật các tổ chức tín dụng 1997 sửa đổi, bổ sung 2004

17

Trang 28

GVHD: Nguyễn Văn Tròn SVTH: Trần Minh Cường

nước ta đang trong quá trình phát triển nên cần sự nỗ lực hơn nữa không chỉ của các cơ quan chức năng mà cần phải có sự phối hợp của các nhà nghiên cứu nhà chuyên môn với những bài viết có giá trị và sự chung tay của toàn xã hội

Trang 29

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ TỘI VI PHẠM QUI ĐỊNH VỀ CHO VAY TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC

TỔ CHỨC TÍN DỤNG

Từ xa xưa, con người đã biết dùng những luật lệ, hình phạt để trừng trị những

kẻ gây ra những tội ác mà con người không muốn xảy ra trong cộng đồng để bảo vệ một nhóm người hoặc răng đe những kẻ khác có ý định sẽ thực hiện những hành vi tương tự Do vậy, từ thời Công xã nguyên thủy luật luật lệ đã được đặt ra là những qui định của Tù trưởng bắt buộc mọi người phải thực hiện Chiếm hữu nô lệ luật nằm trong tay của những chủ nô, Phong kiến thì luật “là Vua mà Vua là luật”, Vua là “ con của Trời” nên mọi lời nói của Vua mọi thần dân đều phải tuân theo Tư sản thì pháp luật là bảo vệ tầng lớp quý tộc, những tầng lớp thượng lưu trong xã hội Cho đến thời

kỳ Xã hội chủ nghĩa thì pháp luật được tạo ra là để bảo vệ mọi tầng lớp nhân dân “Tất

cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền ấy, có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, v.v ”.18 Như vậy, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giàu nghèo, thân phận Việt Nam cũng như các nước đều có hệ thống pháp luật để trừng trị những kẻ phạm tội và ngăn chặn những hành vi tương tự xảy ra Do vậy, pháp luật Hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu trong đấu tranh phòng chống mọi loại tội phạm, loại bỏ những yếu tố gây cản trở cho tiến trình đổi mới đất nước Một trong những vật cản cho sự phát triển

đó là tội phạm liên quan đến lĩnh vực kinh tế nói chung và tội “vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng” nói riêng Đây là loại tội phạm khá mới và diễn biến phức tạp, thủ đoạn của bọn tội phạm ngày càng tinh vi khó phát hiện được BLHS Việt Nam quy định tại Điều 179 Nội dung trong Chương 2 người viết sẽ tập trung nghiên cứu và tìm hiểu các yếu tố cấu thành, những điểm mới của pháp luật Hình sự về tội “vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức Tín dụng” và phân biệt tội này với một số tội có liên quan được quy định trong Chương XVI của Bộ luật Hình sự hiện hành

2.1 Một số điểm mới của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được ban hành cách đây đã 14 năm và được sửa đổi bổ sung một lần.19 Khi mà trình độ lập pháp của nước ta còn nhiều hạn chế thì việc ban hành một Bộ luật và sau một thời gian có nhiều điều qui định không còn phù hợp hoặc không đáp ứng kịp tình hình hiện nay thì việc sửa đổi hay bổ sung là điều tất yếu Nhất là nước ta đang trong giai đoạn phát triển và hội nhập quốc tế thì tình xã hội có

18

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tuyên ngôn độc lập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.3, tr.555

19

Trang 30

GVHD: Nguyễn Văn Tròn SVTH: Trần Minh Cường

nhiều diễn biến phức tạp Cụ thể, so với Bộ luật hình sự năm 1985 thì chương XVI của

Bộ luật hình sự hiện hành có nhiều điểm mới:

Chương XVI Bộ luật hình sự hiện hành có 29 Điều quy định 32 tội danh, trong

đó Điều 164 quy định bốn tội danh trong cùng một điều luật, bốn tội danh đó cơ bản là

giống nhau cho nên không cần phải chia làm bốn điều luật, đó là: tội làm tem giả, vé giả; tội buôn bán tem giả, vé giả, còn lại thì mỗi điều quy định một tội danh rõ ràng

Một số tội phạm trong Bộ luật hình sự 1985 quy định tại các chương khác nhau nhưng hiện nay do tình hình kinh tế xã hội có nhiều chuyển biến theo các chiều hướng khác nhau cho nên các nhà làm luật đã quy định lại trong chương XVI, chương này quy định các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế như: tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới; tội làm tiền giả, tội tàn trữ, lưu hành tiền giả, thì trước đây nó được quy định tại Điều 98 Chương I (các tội xâm phạm an ninh quốc gia) Vì sao như vậy? Năm 1985 là những năm Đất nước mới độc lập, chủ trương kinh

tế của Đảng và Nhà nước ta tập trung quan liêu bao cấp Nền kinh tế còn rất khó khăn, đối mặt với nhiều nguy cơ, lệnh cấm vận từ nước ngoài Vấn đề sống còn của đất nước bấy giờ là làm sao quản lý được nền kinh tế thúc đẩy phát triển, quản lý được dòng tài

chính hạn hẹp, kiềm chế tình trạng lạm phát ở mức thấp nhất Do vậy, tội làm tem giả,

vé giả; tội buôn bán tem giả, vé giả, được quy định Chương I (các tội xâm phạm an

ninh quốc gia) là điều hợp lý thời bấy giờ Dưới ánh sáng của chủ nghĩa MacLenin và

sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà nước xã hội ngày càng ổn định, kinh tế phát

triển và ngày càng hội nhập với thế giới cho nên các tội làm tem giả, vé giả; tội buôn bán tem giả, vé giả, đã không còn phù hợp trong Chương các tội xâm phạm an ninh

quốc gia nữa mà xét theo tình hình kinh tế xã hội hiện nay thì các tội đó cần được quy định trong một Chương khác của Bộ luật hình sự và Chương XVI ( các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế) là phù hợp nhất Thấy được những bất cập

đó cho nên các nhà làm luật đã quy định các tội làm tem giả, vé giả; tội buôn bán tem giả, vé giả, tại Điều 180, 181 của Chương XVI Bộ luật hình sự hiện hành Ngoài ra,

một số tội phạm trước đây quy định trong chương các tội phạm về kinh tế, nhưng hiện nay các nhà làm luật nhận thấy không còn phù hợp nên không quy định tại chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nữa mà đã quy định tại một chương khác như tội

vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng thì hiện nay đã được quy định tại Chương XVII ( các tội phạm về môi trường)

Một số hành vi theo Bộ luật hình sự năm 1985 được xem là tội phạm kinh tế, nhưng hiện nay theo Bộ luật hình sự hiện hành thì các tội đấy không được xem là tội phạm kinh tế nữa như: tội phá hủy tiền tệ (Điều 98); tội cản trở thực hiện các quy định

Trang 31

của Nhà nước về cải tạo xã hội chủ nghĩa (Điều 164); tội chiếm đoạt tem, phiếu; tội làm hoặc lưu hành tem, phiếu, giấy tờ giả dùng cho việc phân phối (Điều 172); tội sản xuất hoặc buôn bán rượu, thuốc lá trái phép (Điều 183) và tội lạm sát gia súc (Điều 184) Các hành vi theo Bộ luật hình sự năm 1985 thì không cho là các tội thuộc trường hợp các tội phạm về kinh tế, nhưng theo Bộ luật hình sự hiện hành thì nó lại được xem

là các tội thuộc Chương XVI như: tội quản cáo gian dối (Điều 168); tội vi phạm qui định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 170); tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171); tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng (Điều 179) và tội sử dụng trái phép qũy dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng (Điều 178) Với tình hình thực tế hiện nay, những tội vừa nêu trên là phù hợp khi được qui định trong chương các tội phạm xâm phạm trật

tự quản lý kinh tế Phát triển kinh tế là điều tất yếu của một đất nước Phát triển kinh tế đồng nghĩa với việc nâng cao khả năng sáng tạo, đẩy mạnh công ngiệp hóa hiện đại hóa cho nên các sáng tạo, các quyền sở hữu công nghiệp là hết sức quan trọng Sở hữu

công nghiệp “ là một loại tài sàn vô hình có đầy đủ các quyền như một tài sản vật chất khac(chiếm hữu, sử dụng, định đoạt…) nó bao gồm các đối tượng: sáng chế giải pháp hữu ích; kiểu dáng công nghiệp; nhãn hiệu hàng hóa; tên gọi xuất xứ hàng hóa” 20 Nó

được xem là tài sản vật chất, tạo ra kinh tế khi bị xâm phạm sẽ là tổn thất kinh tế cho người sở hữu cũng như nền kinh tế chung của Đất nước Công nghiệp, kinh tế phát triển thì nhu cầu về vốn hiển nhiên sẽ tăng theo cho nên vai trò của các tổ chức tín dụng ngày càng trở nên quan trọng hơn Bên cạnh những mặt tích cực về nền kinh tế phát triển thì những tiêu cực luôn luôn đồng hành Lợi dụng quản lý không chặt chẽ,

hệ thống pháp lý chưa hoàn chỉnh bọn tội phạm dễ dàng thực hiện hành vi của mình gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế Một khi tín dụng bị xâm phạm thì đồng nghĩa dòng tài chính sẽ bị ảnh hưởng, nhiều hệ lụy về kinh tế xảy ra, điển hình là tình hình nợ xấu không ngừng gia tăng Nợ xấu là những cục máu đông làm tắt ngẽn, ngăn chặn nền kinh tế phát triển Vì thế, các tội như vậy cần phải qui định trong các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế là điều hợp lý nhất

Ngoài ra, một số hành vi phạm tội được qui định trong Bộ luật hình sự 1985 chung với nhau trong cùng một điều luật thì đến Bộ luật hình sự hiện hành được tách

ra thành hai hoặc nhiều tội danh khác nhau trong nhiều điều luật khác như là: tội làm

20

Sở Khoa học công nghệ Thành phố Hồ Chì Minh, sở hữu công nghiệp,

http://www.dost.hochiminhcity.gov.vn/sohuucongnghiep/lists/posts/post.aspx?Source=%2Fsohuucongnghiep&C ategory=Qu%E1%BA%A3n+l%C3%BD+Nh%C3%A0+n%C6%B0%E1%BB%9Bc+v%E1%BB%81+s%E1% BB%9F+h%E1%BB%AFu+c%C3%B4ng+nghi%E1%BB%87p&Mode=2 , [ngày truy cập 20/08/2014]

Trang 32

GVHD: Nguyễn Văn Tròn SVTH: Trần Minh Cường

hàng giả, tội buôn bán hàng giả được quy định tại Điều 167 của Bộ luật hình sự 1985 thì đến Bộ luật hình sự hiện hành nó được chia ra thành ba tội danh quy định ở ba điều luật khác nhau, cụ thể là tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 156), tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157)

và tội sản xuất buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi (Điều 158) Cũng dễ hiểu khi các nhà làm luật lại tách các tội và quy định trong ba Điều luật khác nhau, do tình hình Đất nước có nhiều chuyển biến, kinh tế phát triển, nền kinh tế không còn tập trung vào thành phần kinh tế Nhà nước nữa mà được chia làm nền kinh tế nhiều thành phần Cho nên việc qui định chung một tội danh là sản xuất, buôn bán hàng giả không còn phù hợp và bỏ lọt tội phạm Hiện nay, rất nhiều vật dụng được xem là hàng hóa, hàng hóa

đó có thể cho con người sử dụng nhưng cũng có nhiều loại dùng cho việc sản xuất hoặc vật nuôi, bênh cạnh đó việc qui định cùng một tội danh thì không hợp lý trong nhiều trường hợp Nhà nước muốn có lợi hoặc không có lợi cho người phạm tội Do những bất cập cần phải thay đổi trên nên các nhà làm luật đã sáng suốt khi tách chúng

ra thành các tội danh và được qui định trong ba điều luật khác nhau trong Bộ luật hình

sự hiện hành Điển hình là các tội được qui định tại Điều 156 và 157 của Bộ luật hình

sự hiện hành:

Điều 156: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả:

1 Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật

có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới một trăm năm mươi triệu đồng hoặc dưới

ba mươi triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính

về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 153, 154, 155, 157,

158, 159 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

A) Có tổ chức;

B) Có tính chất chuyên nghiệp;

C) Tái phạm nguy hiểm;

D) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

Đ) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

E) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ một trăm năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

Trang 33

G) Thu lợi bất chính lớn;

H) Gây hậu quả rất nghiêm trọng

3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

A) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

B) Thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

C) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

4 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

Có thể định nghĩa một cách dễ hiểu thì hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là hành vi chế tạo ra, mua bán những loại hàng hóa mà chúng không phải là hàng thật Tội này trong Bộ luật hình sự 1985 thì được qui định tại Điều 167 và được phân ra thành hai tội phạm riêng biệt trong cùng một Điều luật là : “tội làm hàng giả” và “tội buôn bán hàng giả”, cho đến qui định tại Điều 156 của Bộ luật hình sự hiện hành thì vẫn qui định là hai hành vi trong cùng một tội danh: “ sản xuất, buôn bán hàng giả” Nếu chúng ta xét về bản chất đơn thuần của nó thì nhiều người cho rằng hai Điều luật

đó không khác gì nhau, nhưng xét về khía cạnh pháp lý thì chúng ta có thể thấy rõ có một sự thay đổi rõ rệt và phần thay đổi đó cũng hết sức quan trọng để đáp ứng tình hình xã hội hiện nay là về mặt kỹ thuật lập pháp và việc định tội danh Có một điều quan trọng cho việc thay đổi quy định tại Điều 167 sang 156 là dấu hiệu cấu thành tội phạm và mức hình phạt sẽ có lợi cho người phạm tội.21 Thiết nghĩ nếu nói mức hình phạt thay đổi theo hướng có lợi cho người phạm tội thì khuyến khích họ phạm tội, thì quan điểm đó hoàn toàn sai Đảng và Nhà nước ta luôn có sự lãnh đạo sáng suốt, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, chúng ta đặt ra những điều luật nhưng không mong muốn phải áp dụng nó, khuyến khích những người bị phạm tội họ hối hận, cãi tạo tốt để có thể mau trở về hòa nhập cộng đồng và sống làm sao cho xứng đáng với sự khoan hồng của Nhà nước dành cho họ để họ trở thành một công dân có ích cho xã hội Nếu trong Điều 167 của Bộ luật hình sự 1985 thì làm hàng giả với số lượng bao nhiêu đi chăng nữa thì cũng bị xem là tội phạm cả thì đến Điều 156 của Bộ luật hình

sự hiện hành thì không quy định theo cách hiểu chung chung như vậy, làm hàng giả

21

Nguyễn Văn Beo, Luật Hình sự Việt Nam, Quyển 2 phần Các tội phạm, Nxb Chính trị Quốc gia, Tp.Cần Thơ,

Trang 34

GVHD: Nguyễn Văn Tròn SVTH: Trần Minh Cường

khi bị phát hiện thì cần phải có số lượng tương đương với hàng được xem là hàng thật

và có giá trị từ ba mươi triệu đồng trở lên thì mới có thể cấu thành tội phạm; nếu số lượng hàng giả đó có giá trị tương đương với hàng thật nhưng dưới ba mươi triệu đồng thì cần phải có điều kiện người phạm tội đã bị phạt xử lý hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các Điều 153, 154, 155, 157, 158, 159 và 161 của

Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn

vi phạm (bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm), hành vi sản xuất hoặc buôn bán hàng giả đã gây hậu quả nghiêm trọng thì mới có thể cấu thành tội phạm.22 Một nội dung được bổ sung không kém phần quan trong tại Điều 156 của Bộ luật hình sự hiện hành

là quy định thêm trường hợp thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biết rất lớn để định khung hình phạt Đây là hình phạt tăng nặng của Nhà nước nhằm mục đích không bỏ lọt tội phạm nhưng không vì thế mà làm xấu hơn tình trạng của người phạm tội Điều 157 : Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh

1 Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm:

A) Có tổ chức;

B) Có tính chất chuyên nghiệp;

C) Tái phạm nguy hiểm;

D) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

Đ) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

E) Gây hậu quả nghiêm trọng

3 Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm

4 Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình

5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

22

Khoản 1, Điều 156, BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009

Trang 35

Các dấu hiệu cấu thành tội phạm tại điều luật này khác với Điều 156 Nếu tại Điều 156 dấu hiệu cấu thành tội phạm và mức hình phạt theo hướng có lợi cho người phạm tội thì đến điều luật này thì dấu hiệu cấu thành tội phạm theo hướng không có lợi cho người phạm tội Sự khác biệt này cũng dễ hiểu khi mà tại Điều 157 này đối tượng phạm tội là các loại lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh rất gần gũi với con người nó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người

Để tăng lợi nhuận một số kẻ đã bất chấp sức khỏe tính mạng của mọi người để thực hiện hành vi của mình hòng để thu lợi bất chính Nhà nước phải mạnh tay trừng trị những kẻ đó

Có thể hiểu hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh là hành vi làm ra, mua bán những loại lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh ra bên ngoài thị trường mà không phải là hàng thật Đây là tội phạm đã được các nhà làm luật tách ra từ tình tiết

là yếu tố định khung của hình phạt qui định tại Điều 167 Bộ luật hình sự 1985 Hình phạt được qui định tại Điều 157 của Bộ luật hình sự hiện hành được liệt kê ra một cách chi tiết và người phạm tội có thể nhận mức án cao nhất của pháp luật Hình sự

Việt Nam là tử hình “Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình” 23 Ngoài việc các nhà làm luật đã thay đổi, bổ sung các qui định pháp luật giữa hai Bộ luật hình sự năm 1985 và 1999 sửa đổi,bổ sung 2009, bênh cạnh đó các yếu tố định tội của một số tội danh cũng được sữa đổi

bổ sung theo hướng phi hình sự hóa một số hành vi hoặc qui định các tình tiết làm ranh giới để phân biệt các hành vi phạm tội với các hành vi chưa tới mức bị xem là tội phạm Những thay đổi như vậy cũng xuất phát từ yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, đồng thời thuận lợi cho việc áp dụng các hình phạt có các mức nặng nhẹ khác nhau để phù hợp với từng loại tội phạm

23

Trang 36

GVHD: Nguyễn Văn Tròn SVTH: Trần Minh Cường

2.2 Dấu hiệu pháp lý liên quan của tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng

Bất kỳ một hành vi vi phạm pháp luật nào nếu muốn định tội và định khung hình phạt cho hành vi đó điều phải kiểm tra quy phạm pháp luật hình sự (CTTP cụ thể) đây là bước quan trọng nhất trong quá trình làm việc của người tiến hành tố tụng Việc kiểm tra quy phạm pháp luật hình sự phải dựa vào bốn yếu tố là khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan và phải thỏa mãn bốn yếu tố trên mới có thể nhận định đó

là hành vi phạm tội Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong đó có tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng chỉ chiếm từ 12%-15% tổng số các tội phạm xảy ra trên toàn quốc nhưng thiệt hại về mặt kinh tế là rất lớn Nếu trong giai đoạn chiến tranh sức mạnh của một quốc gia được khẳng định qua tiềm lực quốc phòng và khả năng chạy đua vũ trang của nước đó với các nước khác, thì trong gia đoạn hiện nay khi mà các quốc gia tích cực phát triển kinh tế thì sức mạnh của một nước, tiềm lực quốc phòng không còn là quan trọng nhất mà thay vào đó là sức mạnh kinh tế của nước đó phát triển như thế nào Vì có phát triển kinh tế có nguồn tài chính lớn thì mới có thể trang bị quốc phòng được cho nên những tội xâm phạm đến nền kinh tế nói chung và tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các

tổ chức tín dụng nói riêng là hết sức nguy hiểm cần phải xử lý nghiêm và loại trừ những hành vi đấy Cụ thể tội này được pháp luật hình sự Việt Nam qui định tại Điều

179 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009

1 Người nào trong hoạt động tín dụng mà có một trong các hành vi sau đây gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến bảy năm:

A) Cho vay không có bảo đảm trái quy định của pháp luật;

B) Cho vay quá giới hạn quy định;

C) Hành vi khác vi phạm quy định của pháp luật về cho vay trong hoạt động tín dụng

2 Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm

3 Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm

4 Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc liên quan đến hoạt động tín dụng từ một năm đến năm năm

Trang 37

Đây là loại tội phạm mới, nó được hình thành và phát triển với nền kinh tế và

xã hội phát triển Do nó là một loại tội phạm mới nên Bộ luật hình sự năm 1985 chưa

có một điều nào qui định loại tội phạm này Do vậy, nhằm đáp ứng kịp thời các yêu cầu về đấu tranh phòng chống tội phạm nên hành vi vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng đã được các nhà làm luật đưa vào trong Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009, có một điểm lưu ý là do nó mới được đưa vào trong Bộ luật hình sự 1999 nên những hành vi vi phạm như vậy mà đã thực hiện trước khi Bộ luật này có hiệu lực này thì không bị chịu trách nhiệm hình sự về tội này cụ thể

là trước 0 giờ 00 ngày 1/7/2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 1/7/2000 mới bị phát hiện thì không bị xem là tội phạm Nhưng cũng có ý kiến cho rằng đây không phải là tội phạm mới Nếu như vậy thì cần phải xác định cẩn thận các yếu tố cấu thành tội phạm để không bỏ lọt tội phạm, xử lý đúng người đúng tội

2.2.1 Mặt khách quan

Hành vi khách quan: Đối với loại tội phạm này thì người phạm tội họ có thể thực hiện những hành vi sau đây:24

Thứ nhất, họ cho vay không có bảo đảm trái qui định của pháp luật về cho vay

của các tổ chức tín dụng Đây là trường hợp cho vay không có bảo đảm (thế chấp, cầm

cố, bảo lãnh…) theo qui định của pháp luật; Đây có thể là do tổ chức tín dụng họ chạy theo cái lợi nhuận trước mắt mà họ không xem xét kỹ lưỡng đến những hệ quả về sau, hoặc có một số tổ chức tín dụng cạnh tranh không lành mạnh cố tình làm trái những qui định của pháp luật, do sự cạnh tranh, điều kiện sản xuất kinh doanh ngày càng khó khăn số lượng khách hàng ngày càng giảm cho nên nhằm thu hút những khách hàng mới, tăng doanh thu nên khi cho khách hàng vay họ không cần tài sản của người đi vay để bảo đảm hoặc cố tình lập những giấy tờ khống về tài sản bảo đảm để qua mặt được những cơ quan có thẩm quyền kiểm tra

Thứ hai, cho vay quá giới hạn quy định Đây là trường hợp cho vay tuy là có

tài sản để người đi vay đảm bảo cho khoản vay của mình đối với tổ chức tín dụng cho vay nhưng mà số tiền, vàng, ngoại tệ cho vay lại quá mức qui định Ví dụ, một người muốn đi vay với số tiền là 1 tỷ đồng nhưng tài sản thế chấp được thẩm định chỉ được 1

tỷ đồng và theo quy định pháp luật thì số tiền họ vay phải bằng hoặc thấp hơn 80% giá trị tài sản thế chấp (họ chỉ được vay không quá 800.000.000 triệu đồng), nhưng ngân hàng lại cho họ vay số tiền trên 800.000.000 triệu đồng Hành vi này muốn thực hiện được thì cần phải có sự tiếp tay của các cán bộ trong các tổ chức tín dụng Như đã

24

Nguyễn Văn Beo, Luật Hình sự Việt Nam, quyển 2 phần các tội phạm, Nxb Chính trị Quốc gia, Tp Cần Thơ,

Trang 38

GVHD: Nguyễn Văn Tròn SVTH: Trần Minh Cường

phân tích tại Chương 1 của bài viết này thì các cán bộ trong các tổ chức tín dụng mới

là người thực hiện hành vi chính, còn những người đi vay thì họ chỉ là đồng phạm trong hành vi phạm tội này mà thôi Theo thiết nghĩ dù người có đi vay họ có muốn vay với số tiền có bao nhiêu mà tài sản bảo đảm họ không đáp ứng và không có sự can thiệp của những cán bộ bị tha hóa, muốn trục lợi riêng cho mình thì tình trạng cho vay quá giới hạn quy định sẽ không xảy ra Đặc biệt, những cán bộ trong lĩnh vực thẩm định giá tài sản bảo đảm là hết sức quan trọng Nếu họ bị đồng tiền che mờ đi lý trí thì

họ dễ dàng thực hiện hành vi của mình, lập bản thẩm định tài sản sai sự thật, giá trị của

nó khác rất xa so với giá trị thật của tài sản bảo đảm và lợi dụng hệ thống quản lý cho vay của tổ chức mình để từ đó người đi vay sẽ đánh lừa được ngân hàng và những cán

bộ tiếp tay đó sẽ hưởng được một phần giá trị mà số tiền vay được trái qui định pháp luật

Thứ ba, các hành vi vi phạm khác vi phạm qui định của pháp luật về cho vay

trong hoạt động của các tổ chức tín dụng Đây là trường hợp cho vay trái với quy định của pháp luật ngoài hai trường hợp vừa nêu trên Chẳng hạn, cho vay với lãi suất thấp hơn hoặc cao hơn lãi suất qui định; cho vay không đúng đối tượng; cho vay sai qui định.25 Vấn đề này cũng xuất phát từ lợi ích hay là thu hút khách hàng của một tổ chức tín dụng Lợi dụng nhu cầu cần vay vốn của khách hàng mà một số tổ chức tín dụng đã

cố tình năng cao lãi suất cho vay; Đảng và Nhà nước luôn luôn có các chính sách hỗ trợ người dân sản xuất kinh doanh trong mọi lĩnh vực hợp pháp Lợi dụng những qui định chưa rõ ràng đó các tổ chức đã cố tình làm trái qui định của pháp luật nhằm trục lợi hoặc các tổ chức lợi dụng chính sách để được Nhà nước cho vay ưu đãi, giảm thuế xuất nhập khẩu chẳng hạn như vừa rồi Chính phủ vừa có chính sách hỗ trợ ngư dân đóng tàu vỏ sắt thay thế tàu vỏ gỗ với số vốn hộ trợ là 10 nghìn tỷ đồng,26 đây là một

số tiền rất lớn trong khi Đất nước ta còn rất nhiều khó khăn phải giải quyết, nắm bắt cơ hội đó các công ty đã thi nhau làm tường trình gửi Chính phủ cho họ nhập khẩu đội tàu sắt đã qua sử dụng và đóng mới nhằm hỗ trợ Ngư dân bám biển và bảo vệ chủ quyền trước sự nhóm ngó bên ngoài, nghe thì có vẻ rất tốt và cần hổ trợ nhưng xét kỷ lại có phải họ thật lòng hay chỉ lợi dụng chính sách đó nhằm thu lợi nhuận cho mình trong khi hàng loạt tàu đều đã sử dụng khá lâu thậm chí có tàu đã trên 30- 40 tuổi, phải suy

Phan hiển, Đóng tàu vỏ sắt cho ngư dân phải đảm bảo an toàn và có hiệu quả kinh tế, Báo điện tử Chính phủ

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2014, phu-Thu-tuong-Chinh-phu/Dong-tau-vo-sat-cho-ngu-dan-phai-dam-bao-an-toan-va-co-hieu-qua-kinh-

http://baodientu.chinhphu.vn/Chi-dao-quyet-dinh-cua-Chinh-te/201832.vgp , [truy cập ngày 01/9/2014]

Trang 39

xét cẩn thận khi hỗ trợ chính sách đó đúng đối tượng, đạt hiệu quả cao nếu không muốn Việt Nam trở thành bãi phế liệu tàu sắt.27

Hậu quả nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm đối với tội

vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng Nếu hậu quả gây ra mà chưa đến mức nghiêm trọng thì người có hành vi gây ra hậu quả đó chưa thể chịu trách nhiệm hình sự đối với tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng Cho đến nay thì chưa có văn bản nào hướng dẫn hành vi gây hậu quả như thế nào thì được xem là hành vi gây hậu quả nghiêm trọng do vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng gây ra Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTD-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp ban hành là văn bản quy phạm pháp luật mà chúng ta có thể tham khảo để xác định thế nào

là hành vi gây hậu quả nghiêm trọng do hành vi vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng gây ra Một khi muốn xác định hành vi vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng ngoài hành vi khách quan, hậu quả đối với loại tội phạm này thì bênh cạnh đó cũng cần xác định các dấu hiệu khách quan khác như qui định của nhà nước về cho vay trong hoạt động tín dụng mà chủ yếu là các qui định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về các hoạt động tín dụng Cho nên các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng các văn bản qui định về cho vay của các tổ chức tín dụng trước khi đưa ra quyết định để tránh những bản án oan sai, không đúng người đúng tội và bỏ lọt tội phạm

2.2.2 Mặt chủ quan

Cũng giống như những tội khác được qui định tại Chương XVI của Bộ luật hình sự hiện hành, thì người phạm tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của tổ chức tín dụng thực hiện hành vi của mình là do lỗi cố ý (trực tiếp hoặc gián tiếp), tức là họ có nhận thức hành vi của mình gây ra có hậu quả như thế nào và qui phạm qui định của Nhà nước về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng Có thể hậu quả đó họ mong muốn xảy ra hoặc không mong muốn xảy ra Bởi vì khi hậu quả xảy ra thì hành vi của họ sẽ bị phát hiện và các cơ quan chức năng có thẩm quyền

sẽ vào cuộc đó là một điều không mong muốn của một người khi đã thực hiện hành vi phạm tội Tâm lý của một người phạm tội thì không được vững vàng luôn lo sợ hành

vi của mình sẽ bị phát hiện Lỗi là yếu tố bắt buộc để cấu thành tội phạm này “lỗi là

27

Ngọc Tuyên, Đội tàu nghìn tỷ đánh cá biển Đông bị từ chối nhập khẩu, Báo điện tử Vnexpress, 2014,

Trang 40

http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/doi-tau-nghin-ty-danh-ca-bien-dong-bi-tu-choi-nhap-khau-GVHD: Nguyễn Văn Tròn SVTH: Trần Minh Cường

thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý”.28 Ở đây, tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng do người phạm tội thực hiện là cố ý Bời vì, khi người phạm tội thực hiện hành vi đó họ mong muốn được trục lợi cho bản thân mình và hành vi của mình sẽ không bị phát hiện Tâm lý của đa phần các tội phạm khi họ thực hiện thành công một hành vi phạm tội mà không bị phát hiện thì họ sẽ tiếp tục hành vi phạm tội của mình Cho nên dù được xem là một loại tội phạm mới nhưng hiện nay tỷ lệ tội phạm này ngày càng cao

và mức độ hậu quả ngày càng nghiêm trọng, hậu quả của nó tác động trực tiếp đến nền kinh tế quốc dân, đó là vấn đề nợ xấu vô cùng lớn mà chưa có cách giải quyết triệt để Chỉ tính riêng công ty chuyên mua bán nợ xấu là VAMC29 từ khi ra đời đến nay đã mua hơn 52.000 tỷ nợ xấu, một con số không lồ Nhưng cái quan trọng nhất là số nợ

mà họ mua được thì chủ yếu là các giấy tờ bênh cạnh đó những vướng mắc về tài sản đảm bảo thì còn nhiểu bất cập nên rất khó khăn trong xử lý nợ

2.2.3 Mặt khách thể

“Khách thể của tội này là xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực cho vay của các tổ chức tín dụng) Đối tượng tác động của tội phạm này là tài sản cho vay của các tổ chức tín dụng” 30 Như mọi hoạt động khác của con người, các hành vi phạm tội nào thì cũng nhằm vào một khách thể cụ thể, tồn tại độc lập với ý thức chủ thể nhưng không phải để cải tiến phát triển mà lại gây ra thiệt hại hoặc đe dọa khách thể đó Luật hình sự Việt Nam khẳng định khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ và bị các loại tội phạm xâm hại

Có thể thấy rõ những quan hệ xã hội bị xâm hại đó được xác định tại Điều 8 Bộ Luật Hình sự Việt Nam hiện hành Hành vi phạm tội này đã xâm hại đến trật tự xã hội và hoạt động phòng chống tội phạm cho nên gây khó khăn cho việc phát hiện, công tác điều tra của cơ quan có thẩm quyền, truy tố, xét xử tội phạm cũng như xâm phạm đến trật tự quản lý Nhà nước đối với tài sản do tội phạm đó gây ra Hiểu một cách đơn giản thì tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng chính là hoạt động mà bọn tội phạm dùng các thủ đoạn như thế nào để có thể vay hoặc lấy đi những khoản tiền mà các tổ chức tín dụng cho vay một cách trái pháp luật làm cho tài sản của các tổ chức tín dụng bị thất thoát mà không thể thu hồi lại được Đồng thời,

Ngày đăng: 03/10/2015, 14:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w