1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đề tài: thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp theo pháp luật việt nam hiện hành

70 673 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu đề tài Việc nghiên cứu đề tài “Thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện hành” nhằm làm sáng tỏ những quy định của pháp luật có liên quan

Trang 1

KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Bộ môn Luật Tư Pháp

Sinh viên thực hiện:

Nguyễn Thị Thúy Loan

MSSV: 5117318

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN

Ngày… tháng… năm 2014

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN

Ngày… tháng… năm 2014

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu đề tài 2

3 Phương pháp nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài 2

5 Kết cấu đề tài 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 4

1.1 Khái niệm chung về thừa kế và quyền thừa kế 4

1.1.1 Khái niệm chung về thừa kế 4

1.1.2 Khái niệm về quyền thừa kế 5

1.2 Khái niệm chung về quyền sử dụng đất và thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp 6

1.2.1 Khái niệm về quyền sử dụng đất 6

1.2.2 Khái niệm về quyền sử dụng đất nông nghiệp 8

1.2.3 Khái niệm về thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp 9

1.3 Các nguyên tắc của thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp 11

1.3.1 Nguyên tắc chung của thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp 11

1.3.1.1 Nguyên tắc bảo hộ quyền thừa kế của cá nhân 11

1.3.1.2 Nguyên tắc bình đẳng về thừa kế 11

1.3.1.3 Nguyên tắc tôn trọng quyền định đoạt của người để lại di sản và ý chí của người thừa kế 14

1.3.1.4 Nguyên tắc cũng cố, giữ vững tình yêu thương và đoàn kết trong gia đình 15

1.3.2 Nguyên tắc riêng của chế định thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp 16 1.4 Lược sử hình thành và sự phát triển của chế định thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp trong pháp luật Việt Nam 17

1.4.1 Chế định thừa kế quyền sử dụng đất dưới thời Lê 17

1.4.2 Chế định thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp dưới thời Nguyễn 17 1.4.3 Chế định thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp dưới thời Pháp thuộc 18

Trang 6

1.4.4 Từ Cách mạng tháng Tám năm 1954 đến nay 18

1.5 Đặc trưng của thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp 19

1.5.1 Đặc trưng so với các hình thức chuyển quyền sử dụng đất khác 20

1.5.2 Đặc trưng so với việc thừa kế các tài sản thông thường 20

1.6 Mối quan hệ giữa quyền thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp với quyền sở hữu 21

CHƯƠNG 2 THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH 23

2.1 Thời điểm mở thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp 23

2.1.1 Đối với người có tài sản chết 23

2.1.2 Đối với người bị Tòa án tuyên bố chết 24

2.2 Người để lại di sản thừa kế là quyền sử dụng đất nông nghiệp 26

2.2.1 Quyền để lại di sản thừa kế của cá nhân được nhà nước giao đất 28

2.2.2 Quyền để lại di sản thừa kế của cá nhân được nhà nước chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp 30

2.2.3 Quyền để lại di sản thừa kế của cá nhân được nhà nước cho thuê đất 32

2.2.4 Thành viên của hộ gia đình để thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp 33

2.3 Điều kiện để được coi là di sản thừa kế về quyền sử dụng đất nông nghiệp 35

2.3.1 Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp 35

2.3.2 Đất nông nghiệp không có tranh chấp 37

2.3.3 Quyền sử dụng đất nông nghiệp không bị kê biên để bảo đảm thi hành án 37

2.3.4 Trong thời hạn sử dụng đất nông nghiệp 38

2.4 Người được quyền hưởng thừa kế về quyền sử dụng đất nông nghiệp 39

2.4.1 Phải còn sống vào thời thời điểm mở thừa kế 40

2.4.2 Không thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản 42

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐu GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 45

3.1 Thực tiễn áp dụng về thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay 45

3.1.1 Hòa giải tại Ủy ban Nhân Dân cấp xã 46

Trang 7

3.1.2 Các vấn đề liên quan đến thời hiệu khởi kiện thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp tại Tòa án 473.1.2.1 Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là quá ngắn 473.1.2.2 Các trường hợp không áp dụng thơi hiệu khởi kiện về quyền thừa kế 483.1.3 Ưu tiên chia hiện vật cho các thành viên còn lại của hộ gia đình đối với trường hợp người để lại quyền thừa kế sử dụng đất nông nghiệp là thành viên của

hộ gia đình 513.1.4 Độ tuổi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà

ở và tài sản khác gắn liền với đất 533.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay 533.2.1 Hướng nhìn mới về thủ tục hòa giải tại cấp xã đối với tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp 533.2.2 Kéo dài thời hiệu khởi kiện đối với di sản là quyền sử dụng đất nông nghiệp 553.2.4 Nên ưu tiên chia hiện vật cho thành viên còn lại của hộ gia đình đối với trường hợp người để thừa kế quyền sử dụng đất là thành viên của Hộ gia đình 563.2.5 Hướng nhìn mới đối với việc đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất 563.2.6 Nên bỏ Chương XXXIII về Thừa kế quyền sử dụng đất trong Bộ luật dân

sự 2005 57

KẾT LUẬN 58

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế, Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi và pháp triển về mọi mặt của đời sống Thế nhưng muốn phát triển đất nước, trươc tiên cần xây dựng mỗi gia đình hạnh phúc, hòa thuận vì mỗi gia đình là tế bào của xã hội Để thực hiện mục tiêu đó, trong những năm qua Đảng

và Nhà nước ta đã đề và thực hiện những chủ trương, đường lối nhằm đổi mới toàn diện đất nước, đặc biệt trong lĩnh vực pháp luật Việt Nam là một nước coi trọng quyền công dân nói chung và quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo vệ Nó trở thành một nguyên tắc hiến định.Quyền thừa kế đối với di sản là quyền sử dụng đất nông nghiệp cũng không kém phần quan trọng, là một hình thức pháp lý chủ yếu để bảo vệ quyền lợi của người

sử dụng đất nông nghiệp Với vai trò thiết thật như vậy, chế định thừa kế quyền

sử dụng đất nông nghệp có giá trị rất quan trọng trong Bộ luật Dân sự và Luật

Đất đai

Trong các văn kiện của Đảng và các văn bản pháp luật trải qua các thời kì đều giành phần quan tâm sâu sắc đến quyền thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp Tuy nhiên về thực tiễn do sự phát triển mạnh mẽ của đời sống kinh tế -

xã hội của đất nước, nên pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp hiện hành vẫn chưa thể trù liệu hết những trường hợp, tình huống xảy ra trên thực

tế Còn một số quy định của pháp luật về thừa kế còn quy định chung chung, chưa chi tiết, rõ ràng lại còn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể cho từng vấn đề

Vì vậy, có nhiều quan điểm trái chiều, chưa thống nhất nên khi áp dụng vào thực

tế sẽ xảy ra tình trạng không thống nhất trong cách hiểu cũng như cách giải quyết Điều đó đã xâm phạm quyền thừa kế của công dân, đôi khi còn gây bất ổn trong đời sống sinh hoạt của mỗi gia đình, cộng đồng và xã hội

Trước tình hình thực tế về việc thực hiện quyền thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp những năm qua dù đã đạt được một số thành tựu tốt đẹp, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng và đảm bảo cho quyền lợi cho những người có liên quan Bên cạnh đó, còn có không ít trường hợp xảy ra mâu thuẩn, bất đồng giữa những người được hưởng thừa kế Sở dĩ còn tồn tại những bất cập đó là do nhiều nguyên nhân trong đó phải kể đến là phần lớn trong số họ không hiểu biết về pháp luật hoặc do phong tục tập quán lạc hậu đã xâm phạm quyền lợi của họ

Từ thực trạng này, người viết nhận thất sự cấp thiết trong lý luận và thực tiễn thi hành của chế định này trong giai đoạn hiện nay và đi vào nghiên cứu về vấn đề này là việc làm thiết thực và có ý nghĩa Xuất phát từ các lý do đó, người

Trang 9

viết chọn đề tài “Thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp theo pháp luật Việt

Nam hiện hành” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình

2 Mục đích nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu đề tài “Thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp theo

pháp luật Việt Nam hiện hành” nhằm làm sáng tỏ những quy định của pháp luật

có liên quan đến chế định thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp và đánh giá thực trạng của việc áp dụng những quy định của pháp luật này trong cuộc sống thường nhất Trên cơ sở đó nêu lên những quan điểm, giải pháp nhằm khắc phục những bất cập trong việc áp dụng pháp luật thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay

3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu là phương thức, thao tác được người viết lựa chọn, sử dụng để sáng tạo ra tri thức mới về đối tượng Nói đơn giản hơn,

phương pháp là “cách thức thực hiện luận văn” Thông qua đó thấy được những

mặt tích cực cũng như những mặt hạn chế của vấn đề đang nghiên cứu để đưa ra những kiến nghị và hoàn thiện vấn đề Trong các phương pháp hiện hành được dùng, người dùng chủ yếu sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Dựa trên các điều khoản của pháp luật

về thừa kế người viết đã phân tích nó thành những yếu tố đơn giản để nghiên cứu

và làm sang tỏ vấn đề sau đó tổng hợp các vấn đề có liên quan đã được phân tích

Phương pháp so sánh, đối chiếu: Vận dụng phương pháp này, người viết

so sánh những điểm giống nhau cũng như những điểm khác nhau của pháp luật

về thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp qua các thời kỳ Bên cạnh đó, đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn để tìm ra và giải quyết những khó khăn thách thức trong chế định này

Phương pháp thu thập, nghiên cứu tài liệu: Thu thập và nghiên cứu tài

liệu là một công việc quan trọng trong bất kỳ một hoạt động nghiên cứu nào Để thuận tiện cho việc nghiên cứu, người viết đã thu thập nhiều tài liệu khác nhau như: sách bình luận khoa học về thừa kế, giáo trình, Tập chí… và tiếp thu nó

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu đề tài này được xác định trong phạm vi các quy định của pháp luật Việt Nam Đặc biệt tập trung nghiên cứu các quy phạm của pháp luật hiện hành Do mức độ phức tạp trong lĩnh vực thừa kế nói chung và vấn đề thừa

kế quyền sử dụng đất nông nghiệp nói riêng, người viết chỉ tập trung nghiên cứu các chế định thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp trong nước, các bất cập trong việc áp dụng các quy định này và tìm ra giải pháp nhằm khắc phục

Trang 10

5 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Luận văn còn có phần nội dung nghiên cứu được cơ cấu thành ba chương :

Chương 1 Cơ sở lý luận về thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp

Chương 2 Thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành

Chương 3 Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp

Trang 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỪA KẾ

QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP

1.1 Khái niệm chung về thừa kế và quyền thừa kế

1.1.1 Khái niệm chung về thừa kế

Con nguời, cũng như bất kỳ một chủ thể nào khác, muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa trên những cơ sở vật chất nhất định Của cải do con người tạo

ra hợp pháp sẻ thuộc sở hữu của họ và có các quyền năng chiếm hữu, sử dụng chúng để thỏa mãn các nhu cầu cho mình trong sản xuất, tiêu dùng và có quyền định đoạt chúng khi cần thiết Khi chết, những tài sản thuộc sở hữu còn lại của họ

sẽ được dịch chuyển cho người khác Quá trình dịch chuyển tài sản này được gọi

là thừa kế Theo cách cách hiểu thông thường thì thừa kế là quá trình dịch

kế là việc người sống thay thế cho người chết thực hiện các quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết theo sự chỉ định của người chết hoặc có thể theo pháp luật

Trong thời kỳ sơ khai của xã hội loài người, con người cũng biết đến việc

để lại tài sản cho những người còn sống sử dụng tài sản đó Tuy nhiên, việc để lại tài sản của người chết không có một chứng thư hay bất cứ gì để chứng minh người chết đã để lại tài sản vì đây là chế độ sở hữu của cộng đồng, nó chỉ đơn giản là việc người này chết đi để lại tài sản thì người khác còn sống sẽ sử dụng, thế hệ này không còn thì tài sản sẽ do thế hệ sau tiếp tục sử dụng Có thể nói rằng, trong thời kỳ này chưa có khái niệm về thừa kế

Từ khi có nhà nước, mỗi nhà nước đều sử dụng những công cụ hữu ích để quản lý xã hội và pháp luật Lúc này, tài sản không còn là thuộc sở hữu chung của cộng đồng nữa mà là thuộc sở hữu cá nhân, một người chết đi việc để lại tài sản cho những người còn sống không thể không có một chứng thư hay bất cứ thứ

gì để chứng minh mà người chết đó đã để lại cùng tài sản là một chứng thư để chứng minh việc để lại tài sản của mình, nếu người này không để bất cứ thứ gì thì pháp luật cũng có những chế định để bảo vệ chế độ chiếm hữu tư nhân cũng như việc bảo vệ quyền lợi cho những người thân thuộc của người chết đó

1

Phạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang, Pháp luật về thừa kế và giải quyết tranh chấp, Nxb Tư pháp, Hà

Nội, 2013, tr 7

Trang 12

Nói chung, việc một người chết đi để lại tài sản cho người sống và người sống này có quyền sở hữu nó theo di chúc hoặc theo pháp luật đó chính là thừa

1.1.2 Khái niệm về quyền thừa kế

Quyền thừa kế là một phạm trù pháp luật, chỉ xuất hiện và tồn tại trong xã hội đã có nhà nước và pháp luật Nhà nước quản lý xã hội thông qua cơ chế điều chỉnh các quan hệ các quan hệ, hiện tượng phát sinh trong xã hội bằng pháp luật chính là việc nhà nước ban hành ra luật và dùng luật tác động đến các quan hệ, hiện tượng xã hội Thừa kế cũng không nằm ngoài cơ chế điều chỉnh này Vì vậy,

về phương diện khách quan (nghĩa rộng) thì quyền thừa kế là tổng hợp các quy

phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh quá trình dịch chuyển

thừa kế còn được gọi là pháp luật thừa kế

Ngoài ra, dưới góc độ thu hẹp quyền thừa kế được hiểu là quyền năng để người đó có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình, để lại tài sản của mình cho những người thừa kế theo pháp luật, hưởng di sản theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật.4 Pháp luật tôn trọng quyền định đoạt của cá nhân với tư cách là chủ sở hữu đối với tài sản của họ Vì vậy, khi còn sống, họ có quyền định đoạt tài sản của mình cho người khác thông qua các hợp đồng dân sự như bán, tặng cho Trước khi chết, họ có quyền định đoạt việc dịch chuyển tài sản đó cho ai sau khi họ chết Nếu việc định đoạt này được thực hiện bằng ý chí

của họ thể hiện trong di chúc đã lập thì được gọi là quyền để lại thừa kế theo di

chúc Trong trường hợp người để lại di sản không lập di chúc hoặc có lập nhưng

di chúc không có hiệu lực pháp luật thì di sản của họ được dịch chuyển cho

người khác theo quy định của pháp luật Trường hợp này được gọi là quyền để lại

thừa kế theo pháp luật của cá nhân Người được thừa kế trong trường hợp này

phải là người có quan hệ hôn nhân, gia đình hoặc quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng và phải ở nhóm thân thích nhất đối với người chết Quy định này chính là việc pháp luật phỏng đoán mong muốn của người chết trong việc dịch chuyển tài sản mà họ để lại cho những ai

Trang 13

Ngoài ra, cá nhân có thể có quyền hưởng di sản Nếu việc hưởng di sản của một người được xác định theo ý chí của người để lại di sản thể hiện trong di

chúc của họ thì được gọi là quyền hưởng di sản theo di chúc Nếu việc hưởng di

sản của một người được xác định theo quy định của pháp luật thì được gọi là

quyền hưởng di sản theo pháp luật

Việc để lại thừa kế, việc nhận di sản thừa kế là hai phạm trù khác nhau, là hai cặp đối lập nhưng lại cùng thống nhất với nhau, là hai yếu tố cấu thành nên khái niệm quyền thừa kế Hai yếu tố này liên hệ mật thiết với nhau để qua đó phản ánh quá trình dịch chuyển tài sản của người đã chết sang cho người sống khác

Như vậy, theo quy định pháp luật, quyền thừa kế của cá nhân bao gồm: Quyền để lại di sản theo di chúc;

Quyền để lại di sản theo pháp luật;

Quyền nhận di sản theo di chúc;

Quyền nhận di sản theo pháp luật

Như vậy, quyền để lại di sản của người có tài sản cho người thừa kế và quyền được thừa kế di sản là hai nội dung cơ bản của quyền thừa kế được pháp luật công nhận và bảo vệ

1.2 Khái niệm chung về quyền sử dụng đất và thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp

1.2.1 Khái niệm về quyền sử dụng đất

Khác với các nước tư bản chủ nghĩa, Việt Nam là một nước xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất Trong đó, đất đai

là tư liệu sản xuất cốt lõi, cơ bản Do vậy đất đai ở Việt Nam thuộc hình thức sở hữu toàn dân do Nhà nước quản lý Các chủ thể khác như hộ gia đình, cá nhân, tổ chức, cơ sở tôn giáo … chỉ được nhà nước trao cho một số quyền để sử dụng và khai thác lợi ích trên đất Thực tế họ không có quyền năng của chủ sở hữu, cái họ

có chỉ là quyền sử dụng đất Xuất phát từ tầm quan trọng của loại tài sản đặc biệt này, việc xây dựng khái niệm quyền sử dụng đất góp phần quan trọng trong việc

xác định quyền năng cụ thể của người sử dụng đất

Từ khi giành được độc lập đến nay, Quốc hội đã thông qua nhiều Luật đất đai (LĐĐ), mà gần đây nhất là LĐĐ 2013 Tuy nhiên khái niệm quyền sử dụng đất vẫn chưa được luật hóa chính thức Do đó có dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau cho vấn đề này, chể:

Trang 14

Theo TS Lê Xuân Bách,“Quyền sử dụng đất là một bộ phận cấu thành

của quyền sở hữu đất Thông qua việc được độc quyền giao đất, cho thuê Nhà nước trao cho người sử dụng đất thực hiện trong thời hạn thuê đất, nhận giao đất những quyền và nghĩa vụ nhất định, trong đó có sự phân biệt theo loại

quyền sử dụng đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không những đối với chủ sở hữu tài sản, mà còn đối với các chủ thể khác trong mối liên quan tới đối tượng sở hữu là tài sản

Riêng đối với TS Nguyễn Ngọc Điện, “Khái niệm quyền sử dụng đất bao

hàm quyền sử dụng đất đích thực, phát sinh từ việc chính thức giao đất hoặc cho thuê, và quyền sử dụng đất tiềm năng, là quyền của người đang sử dụng đất mà chưa chính thức hóa quyền của mình trong quan hệ với Nhà nước, vì một lý do

khái niệm này, đó là việc phân chia thành quyền sử dụng đất “đích thực” và

“tiềm năng”

Bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng “Quyền sử dụng đất là quyền khai thác

các thuộc tính có ích của đất để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã

xem xét với góc độ kinh tế nhằm mục tiêu phát triển đất nước

Mặc dù LĐĐ 2013 và BLDS 2005 không xây dựng khái niệm quyền sử dụng đất nông nghiệp (QSDĐNN) nhưng thông qua quy định quyền sử dụng

chúng ta có thể khái quát lên khái niêm QSDĐNN Theo đó, “Quyền sử dụng là

công dụng của tài sản được thực hiện tùy thuộc vào từng loại tài sản kết hợp với mục đích sử dụng của người sử dụng chúng Chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu

5

Lê Xuân Bách, Sự hình thành và phát triển thị trường bất động sản trong công cuộc đổi mới ở Việt

Nam, Nxb khoa học kỹ thuật Hà Nội, Hà Nội, 2003, tr 83

6

Điều 164 Bộ luật Dân sự năm 2005

7

Nguyễn Ngọc Điện, Cấu trúc kỹ thuật của hệ thống pháp luật sở hữu bất động sản Việt Nam, góc

nhìn pháp luật, Tập chí nghiên cứu lập pháp, số 6, 2007

Trang 15

hợp pháp tài sản khai thác những giá trị sử dụng của tài sản nhằm phục vụ nhu cầu trong sản xuất, kinh doanh

Hiện nay chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể

khái niệm về “Đất”, nhưng thông qua quy định tại Điều 10 LĐĐ 2013 thì có thể hiểu “ Đất” bao gồm nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng Theo Hiến pháp 2013 thì “Đất đai do Nhà nước đầu tư, quản

lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và

là Nhà nước - chủ thể đặc biệt trong việc thực hiện quyền sở hữu Nhà nước thực hiện mọi quyền năng của mình thông việc trao quyền của nhân dân Bên cạnh đó, đất cũng là một tài sản đặc biệt, chính vì thế đất vừa là đối tượng trong quan hệ pháp LĐĐ vừa là đối tượng của quan hệ pháp luật dân sự

Tóm lại, quyền sử dụng đất là một loại tài sản và được quyền khai thác

công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất khác Người sử dụng đất có quyền khai thác công dụng của

đất (trồng trọt, chăn nuôi ) hay hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất và làm phát sinh quan hệ giữa đại diện chủ sở hữu (Nhà nước) với người sử dụng đất Như vậy, quyền của chủ sở hữu đối với đất đai là quyền mang tính tuyệt đối còn QSDĐ của người sử dụng đất chỉ là quyền phái sinh, chịu sự lệ thuộc vào quyền sở hữu toàn dân về đất đai;

1.2.2 Khái niệm về quyền sử dụng đất nông nghiệp

Theo cách hiểu thông thường, đất nông nghiệp là những vùng đất hoặc khu vực thích hợp cho việc sản xuất, canh tác nông nghiệp, bao gồm cả trồng trọt

và chăn nuôi Theo quy định LĐĐ 2013 thì nhóm đất nông nghiệp bao gồm những loại đất sau:

Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; Đất trồng cây lâu năm; Đất rừng sản xuất; Đất rừng phòng hộ; Đất rừng đặc dụng; Đất nuôi trồng thủy sản; Đất làm muối; Đất nông nghiệp khác gồm đất

sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt,

kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí

Trang 16

đất nông nghiệp bao gồm: Đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất lâm nghiệp và đất nông nghiệp khác Trong đó:

Đất sản xuất nông nghiệp: Là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản

xuất nông nghiệp Bao gồm đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm

Đất lâm nghiệp: Là đất có rừng tự nhiên hoặc có rừng trồng Đất khoanh

nuôi phục hồi rừng (đất đã giao, cho thuê để khoanh nuôi, bảo vệ nhằm phục hồi rừng bằng hình thức tự nhiên là chính) Đất để trồng rừng mới (đất đã giao, cho thuê để trồng rừng và đất có cây rừng mới trồng chưa đạt tiêu chuẩn rừng) Theo loại rừng lâm nghiệp bao gồm: đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng

Đất nuôi trồng thuỷ sản: Là đất được sử dụng chuyên vào mục đích nuôi,

trồng thuỷ sản, bao gồm đất nuôi trồng nước lợ, mặn và đất chuyên nuôi trồng nước ngọt

Đất làm muối: Là đất cát ruộng để sử dụng vào mục đích sản xuất muối Đất nông nghiệp khác: Là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà

kính (vườn ươm) và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất, xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép, đất để xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, xây dựng cơ

sở ươm tạo cây giống, con giống, xây dựng nhà kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp

Do đó, QSDĐNN là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối

và một số đất nông nghiệp khác

1.2.3 Khái niệm về thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp

Trước đây, BLDS 1995 quy định rất hạn chế chủ thể được nhận thừa kế QSDĐNN, theo đó để được thừa kế QSDĐNN để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản thì người nhận thừa kế QSDĐNN theo di chúc hoặc theo pháp luật phải là người có đủ các điều kiện sau: Người thuộc hàng thừa kế theo pháp luật hoặc thừa kế thế vị của người thừa kế đó; có nhu cầu sử dụng đất và có điều kiện trưc tiếp sử dụng đất; chưa có đất hoặc đang sử dụng đất dưới hạng mức theo quy định của pháp luật đất đai (Điều 740,741,741 BLDS 1995) Quy định này nhằm hạn chế quyền của người thừa kế quyền sử dụng đất, cũng như quyền của người nhận thừa kế quyền sử dụng đất Bởi trong trường hợp cùng là con cháu trong gia đình, có người được hưởng thừa kế, có người không được hưởng, mà người

Trang 17

không được hưởng đôi khi lại chính là người đang làm nghĩa vụ với Nhà nước

Ví dụ như lúc mở thừa kế họ đang tại ngũ nên không có điều kiện trực tiếp sử dụng đất đúng mục đích thì không thể chia thừa kế QSDĐNN để trồng cây hàng

năm, nuôi trồng thuỷ sản, bên cạnh đó việc luật quy định “có điều kiện trực tiếp

sử dụng đất đúng mục đích” buộc người được thừa kế phải trực tiếp cày, cuốc

trên mảnh đất là không hợp lý, bởi nếu quy định như vậy sẽ không khuyến khích việc tích tụ, tập trung đất để sản xuất trên quy mô lớn, không khuyến khích người dân tích cực đầu tư, cải tạo đất…

Nhận rõ những hạn chế trên, khi soạn thảo, ban hành LĐĐ năm 2003 sau này là LĐĐ 2013 đã có sự thay đổi rất lớn, LĐĐ thực sự coi quyền sử dụng đất như một loại tài sản, mặt khác đã thể hiện rõ quyền được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất của người Việt Nam định cư ở nước ngoài Tại điểm đ khoản 1 Điều

179 LĐĐ 2013 quy định: “Cá nhân sử dụng đất có quyền để thừa kế quyền sử

dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật”

Hộ gia đình được Nhà nước giao đất, nếu trong hộ có thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó được để thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật

Trường hợp người được thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 186 của Luật này thì được nhận thừa

kế quyền sử dụng đất; nếu không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 186 của Luật này thì được hưởng giá trị của phần thừa kế đó

Theo quy định tại chương 33, phần thứ 5 BLDS năm 2005 thì: “cá nhân

được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất có quyền thừa kế quyền sử dụng đất theo quy định tại phần thứ tư của Bộ luật này và pháp

nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất

mà cả trường hợp được nhà nước cho thuê đất cũng được để thừa kế quyền sử dụng đất Đối với đất được Nhà nước giao cho hộ gia đình thì việc thừa kế quyền

sử dụng đất của hộ gia đình đã được quy định hoàn toàn khác so với BLDS 1995

Theo quy định tại Điều 735 thì: “Hộ gia đình được Nhà nước giao đất nếu trong

hộ có thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó được để lại cho những người thừa kế theo quy định tại phần thứ tư của Bộ luật này và pháp luật

Trang 18

Như vậy, BLDS 2005 không còn có sự phân biệt việc thừa kế QSDĐNN của cá nhân và hộ gia đình và cũng không còn sự phân biệt giữa các loại đất ở, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm và nuôi trồng thủy sản Hay nói cách khác là không đặt ra điều kiện khác nhau trong việc thừa kế QSDĐNN để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng Đây là một quy định hoàn toàn hợp lý, phù hợp với thực tiễn cuộc sống và là một thuận lợi cho các Toà án khi giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất

1.3 Các nguyên tắc của thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp

1.3.1 Nguyên tắc chung của thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp

1.3.1.1 Nguyên tắc bảo hộ quyền thừa kế của cá nhân

Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được nhà

nước bảo hộ.Quy định này đã được khẳng định tại Hiến pháp 2013, Quyền sở

BLDS 2005 đã xác định rõ nội dung của quyền này Trước hết đảm bảo cho mọi

cá nhân đều có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình “Điều có quyền

để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật Điều quan trọng là mỗi

cá nhân đều có quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật” Thậm chí

là quyền từ chối di sản thừa kế Mặt khác nhà nước còn bảo hộ quyền thừa kế, thể hiện trong việc đảm bảo cho mọi công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất Đặc biệt là “tài sản hợp pháp thuộc sở hữu tư nhân không giới hạn về số lượng, giá trị” Do đó tất cả mọi tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân sẽ trở thành di sản thừa kế khi người đó chết, được nhà nước tôn trọng và pháp luật bảo vệ Đây là một nội dung quan trọng đánh dấu sự phát triển mới và là bản chất ưu việt của pháp luật thừa kế ở nước ta

1.3.1.2 Nguyên tắc bình đẳng về thừa kế

Nguyên tắc bình đẳng về thừa kế của cá nhân đã được quy định cụ thể

trong BLDS 1995 theo đó: “mọi cá nhân đều bình đằng về quyền để lại tài sản

Quy định này được giữ nguyên tại Điều 632 BLDS 2005 Đây là sự cụ thể hóa

nguyên tắc bình đẳng đã được quy định trong Điều 5 BLDS 2005 “Trong quan

Trang 19

hệ dân sự, các bên đều bình đẳng, không được lấy lý do khác biệt về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau”, đồng thời theo Hiến

pháp 2013 quy định tại Điều 16: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”

Như vậy, nếu nguyên tắc bình đẳng được quy định trong Điều 5 BLDS 2005 là quy định về sự bình đẳng giữa các chủ thể khi họ tham gia vào các quan hệ dân

sự với nhau, thì nguyên tắc bình đẳng trong thừa kế QSDĐNN quy định tại Điều

632 BLDS 2005 là quyền bình đẳng của giữa các cá nhân với nhau trong việc để lại di sản và hưởng di sản thừa kế

Tuân thủ nguyên tắc này, việc thừa kế QSDĐNN sẽ gạt bỏ được tư tưởng trọng nam khinh nữ, bất bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng trong thừa

kế mà chế độ phong kiến đã để lại và ăn sâu vào trong ý thức hệ của đa số người dân từ bao đời nay Theo đó, sự bình đẳng sẽ dần dần được thiết lập trong lĩnh vực thừa kế QSDĐNN

Vì vậy, cần phải thấy rằng, quy định về bình đẳng giữa các cá nhân trong việc để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật là việc Điều 632 BLDS 2005 hướng tới với những nội dung sau

Vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng trước khi chết

Trước đây, pháp luật Việt Nam thời phong kiến ghi nhận quyền gia trưởng của người chồng trong gia đình và tước đi tư cách chủ thể của người phụ nữ khi lấy chồng Nên pháp luật về thừa kế ở thời kỳ này thể hiện hết sức rõ nét về sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng

Pháp luật của Nhà nước ta hiện nay luôn ghi nhận và bảo đảm quyền bình đẳng của người phụ nữ trong mọi lĩnh vực Việc đảm bảo cho người phụ nữ có quyền bình đẳng với nam giới trong việc định đoạt tài sản chung được cụ thể hóa

thành luật bao gồm việc “Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài

chung bất cứ khi nào … Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy

bỏ di chúc chung thì phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người đã chết thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của

Trang 20

Vợ chồng có quyền hưởng di sản của nhau khi một bên chết trước

Do ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất thời phong kiến với tư tưởng trọng nam khinh nữ Coi trọng tuyệt đối quyền của người chồng với tư cách là người đứng đầu trong gia đình Nên pháp luật thời phong kiến quy định rất khắc khe Theo đó, người vợ chết trước, người chồng trở thành chủ sở hữu duy nhất tất cả của cải chung, trong đó bao gồm cả tài sản riêng của vợ.17 Ngược lại, nếu người chồng chết trước, người vợ chỉ có quyền quản lý khối tài sản chung để phục vụ cho lợi ích của cả gia đình Người

vợ chỉ được hưởng dụng tài sản riêng của chồng khi không còn người thừa kế

tái giá thì phải để lại cho con tài sản chung của vợ chồng, phải trả lại cho gia đình bên chồng toàn bộ tài sản riêng của người chồng, người vợ chỉ được mang theo những gì thuộc tài sản riêng của mình.19

BLDS hiện hành của nhà nước ta đã ghi nhận quyền bình đẳng giữa vợ

chông trong việc hưởng di sản của nhau thông qua “hàng thừa kế thứ nhất

trước thì người còn lại (vợ hoặc chồng) sẽ thuộc hàng thừa kế thứ nhất và sẽ được hưởng di sản

Cha, mẹ có quyền ngang nhau trong việc hưởng di sản của con

Cũng theo quy định tại Điều 676 BLDS 2005 thì bên cạnh vợ chồng thuộc hàng thừa kế thứ nhất thì cha, mẹ cũng đồng hàng thừa kế với vợ chồng trong việc hưởng di sản theo pháp luật và được hưỡng phần di sản như nhau

Những người thân thích khác của người chết được hưởng di sản của người đó một cách ngang nhau nếu họ cùng một hàng thừa kế

Nếu pháp luật về thừa kế ở Việt Nam trong thời phong kiến quy định di sản do người chết để lại sẽ được chia thừa kế cho những người thuộc bên nội của người đó, trong trường hợp không còn ai bên nội, di sản mới được chia cho những người thân thích bên ngoại của họ Theo quy định BLDS 2005 thì ông bà

có quyền hưởng ngang nhau khi hưởng di sản của cháu mà không phân biệt là

Trang 21

bên nội hay bên ngoại.21 Các Cháu, không phân biệt là bên nội hay bên ngoại Các cháu, không phân biệt cháu nội hay cháu ngoại, cháu trai hay cháu gái mà luôn có quyền ngang nhau khi hưởng thừa kế của ông hoặc bà ở hàng thừa kế thứ hai Anh chị em ruột có quyền ngang nhau khi hưởng di sản của người chết là anh, chị, em ruột của mình mà không phân biệt anh trai với chị gái, em trai với

em gái Các cụ có quyền ngang nhau khi hưởng di sản của người chết là chắt mà không phân biệt cụ nội hay cụ ngoại

1.3.1.3 Nguyên tắc tôn trọng quyền định đoạt của người để lại di sản và ý chí của người thừa kế

Tôn trọng quyền định đoạt của người để lại di sản

Theo nguyên tắc này, các cá nhân khi đã có đủ năng lực chủ thể đều có quyền bằng ý chí của mình để giải quyết định có lập di chúc hay không, phân định tài sản cho ai, cho mỗi người bao nhiêu, cho loại tài sản nào, để lại bao nhiêu phần di sản để di tặng hoặc dùng vào việc thờ cúng hoàn toàn theo sự tự nguyện của họ mà không được ép buộc và ngăn cản Ngoài ra, người đã lập di chúc luôn có quyền thay đổi sự định đoạt của mình thông qua việc sữa đổi, bổ sung hoặc thay thế di chúc

Nếu một người đã chết để lại di chúc và di chúc có hiệu lực pháp luật thì phải căn cứ vào di chúc để dịch chuyển di sản của họ cho những người thừa kế theo ý chí mà họ đã thể hiện trong di chúc đó Chỉ có thể dịch chuyển di sản của

họ cho người thừa kế theo quy định của pháp luật trong trường hợp không có di chúc hoặc di chúc không có hiệu lực pháp luật

Tôn trọng ý chí của người thừa kế

Bản chất của quan hệ dân sự là các chủ thể luôn được tự do ý chí khi thiết lập và thực hiện các quan hệ mà họ tham gia Vì vậy, trong quan hệ thừa kế QSDĐNN, pháp luật nước ta cũng cho phép chủ thể được hưởng thừa kế có quyền bằng ý chí của mình để quyết định sự lựa chọn: nhận hay không nhận di

sản thừa kế “Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ

chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người

Trang 22

Theo đó, “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền,

kế người thừa kế có quyền hưởng di sản, mà nếu như đã có quyền thì họ có thể bằng ý chí của mình quyết định đối với quyền đó Vì vậy, ngoài việc có quyền từ chối nhận di sản, người thừa kế còn có thể nhường quyền hưởng di sản cho người khác (mặc dù vấn đề này chưa được luật hiện hành quy định)

Chú ý: Khi thực hiện các quyền nói trên, người thừa kế cần phải:

Một là: Nếu việc từ chối nhận di sản phải thực hiện các thủ tục tại cơ quan

nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật thì việc nhường quyền hưởng di sản phải tuân thủ các điều kiện của một giao dịch dân sự

Hai là: Từ chối nhận di sản không cần xác định người hưởng di sản (phần

từ chối) là ai nhưng nhường quyền hưởng di sản phải xác định cụ thể người được nhường quyền

Ba là: Chỉ định từ chối nhận di sản trong thời hạn sáu tháng kể từ thời

điểm mở thừa kế nhưng việc nhường quyền hưởng di sản không bị hạn chế về thời hạn, miễn là trước khi di sản thừa kế được phân chia

Bốn là: Nếu phần di sản bị từ chối nhận di sản là phần di sản được thừa kế

theo di chúc thì phần di chúc liên quan đến phần di sản của người đó trở nên không còn hiệu lực Nên phần di sản đó được chia cho tất cả những người thừa

kế theo pháp luật của người để lại di sản Trong trường hợp quyền hưởng di sản

là thừa kế theo pháp luật bị từ chối thì phần di sản đó thuộc về những người thừa

kế theo pháp luật còn lại Tuy nhiên, nếu nhường quyền hưởng di sản thì theo phần di sản đó chỉ thuộc về người được nhường (đã được xác định theo ý chí của người nhường quyền nhận di sản)

1.3.1.4 Nguyên tắc cũng cố, giữ vững tình yêu thương và đoàn kết trong gia đình

Nguyên tắc này xuất pháp từ nguyên tắc chung trong quan hệ dân sự, đó là: Việc xác lập thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự phải bảo đảm giữ gìn bản sắc dân tộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán truyền thống tốt đẹp, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, mỗi người vì cộng đồng, cộng đồng vì mỗi người

và giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam

Bằng các nguyên tắc cơ bản được ghi nhận trong BLDS, pháp luật thừa kế nói chung và thừa kế QSDĐNN nói riêng ở nước ta đã bảo vệ lợi ích hợp pháp

23

Điều 636 Bộ luật Dân sự năm 2005

Trang 23

của mọi người lao động trên cơ sở bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội, xóa bỏ tàn tích mà chế độ thừa kế của thực dân trong lĩnh vực thừa kế QSDĐNN đã để lại bao đời nay Góp phần nâng cao ý thức pháp luật cho mọi người dân

1.3.2 Nguyên tắc riêng của chế định thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp

Chế định thừa kế QSDĐNN cũng quan trọng như bất kì một chế định pháp luật khác, nếu như một chế định pháp luật luôn được pháp luật quan tâm và ghi nhận thì có nguyên tắc nhất định Đặc biệt, chế định thừa kế QSDĐNN là một chế định được pháp luật Dân sự dành rất nhiều sự quan tâm và được bảo hộ trong mối quan hệ với các chế định khác và chịu sự điều chỉnh của bởi những nguyền tắc chung của pháp luật Dân sự

Là một chế định khá đặc biệt quan trọng, đặc thù bởi sự dịch chuyển quyền sử dụng đất của người chết cho người sống Vì vậy, ngoài những nguyên tắc chung điều chỉnh về thừa kế thì chế định thừa kế có nguyên tắc riêng và đặc thù để định hướng cho những quy phạm pháp luật về thừa kế QSDĐNN Chịu sự điều chỉnh của luật chung và luật riêng

Quyền sử dụng đất nông nghiệp là một chế định đặc thù và nhất thiết phải chịu sự điều chỉnh của ngành luật dân sự Tuy nhiên, BLDS 2005 chỉ quy định những quy định chung nhất, bao quát nhất đối với vấn đề này (thời điểm, địa điểm mở thừa kế, người để lại di sản thừa kế…) chứ không quy định chi tiết về

thừa kế QSDĐNN Do đó, BLDS 2005 quy định “Thừa kế quyền sử dụng đất là

việc chuyển quyền sử dụng đất của người chết sang cho người thừa kế theo quy

pháp dù muốn để thừa kế quyền sử dụng đất của mình cho những người than theo

di chúc hoặc theo pháp luật thì ngoài việc đáp ứng những quy định của BLDS

2005 về thừa kế (phần thứ tư của Bộ luật này) còn phải thỏa mãn một số quy định của pháp luật đất đai về điều kiện được để thừa kế, loại đất được phép để thừa kế và trình tự thủ tục nhận thừa kế

24

Điều 733 Bộ luật dân sự năm 2005

Trang 24

1.4 Lược sử hình thành và sự phát triển của chế định thừa kế quyền

sử dụng đất nông nghiệp trong pháp luật Việt Nam

Trong các triều đại phong kiến, tư tưởng nho giáo đã ảnh hưởng một cách sâu sắc, trực tiếp đến toàn bộ quan hệ xã hội của nước ta Nhất là từ thời Lê, các

tư tưởng Nho giáo đã được Nhà nước phong kiến đề lên thành luật Quan hệ pháp luật thừa kế trong phong kiến cũng không nằm trong trường hợp ngoại lệ, ngược lại các quan hệ này chi phối một cách sâu sắc của tư tưởng trọng nam khinh nữ,

đề cao vai trò của người chồng trong gia đình

1.4.1 Chế định thừa kế quyền sử dụng đất dưới thời Lê

Nói đến tài sản của gia đình, các quy định trong pháp luật của triều đại nhà

Lê đề lên hàng đầu là điền thổ (đất làm ruộng) Theo đó “Chồng cùng vợ trước

có con, vợ sau không có con, hay vợ cùng chồng trước có con, chồng sau không

có con, mà chồng chết trước không có chúc thư, thì điền sản thuộc về con vợ

không có chúc thư, mà điền sản chia về chồng hay vợ, cùng là để về việc tế tự

Đức (những quy định cơ bản về thừa kế) chỉ đề cập đến điền thổ mà thôi, hoàn

toàn không nói gì đến các loại tài sản khác Theo GS Vũ Văn Mẫn thì “Điều này

cũng dễ hiểu vì trong một nền kinh tế trọng nông, chỉ có điền thổ mới được coi là

Dưới thời phong kiến, vợ chồng tích trữ được tiền của đều mua ruộng đất (tậu ruộng đất) Sự giàu nghèo của một gia đình được đánh giá chủ yếu ở việc có nhiều hay ích ruộng đất và các quan chức trong bộ máy Nhà nước được chủ yếu trả công bằng đất, nên gọi là chế độ lộc điền

1.4.2 Chế định thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp dưới thời Nguyễn

So với thời Lê, pháp luật thời Nguyễn mà cụ thể là trong Bộ Hoàng Việt luật lệ có ít về vấn đề này Tuy nhiên những nguyên tắc về quan hệ tài sản và thừa kế cơ bản vẩn tương tự như thời Lê, vẫn coi điền thổ là một loại tài sản chủ yếu Mặt khác, so với thời Lê, luật thời Nguyễn lại có một số quy định khác về vấn đề cụ thể:

Trang 25

Hoàng Việt luật lệ không cho phép con khi chưa lập hộ tịch riêng được chia của cải với cha mẹ (trừ khi cha mẹ đồng ý), trẻ nhỏ không được phép tạo lập của cải riêng

Theo Hoàng Việt luật lệ, con gái không có quyền thừa kế gia tài (trừ khi theo di chúc cha mẹ có chia cho con gái) Đây là một thụt lùi cơ bản so với quy định của nhà Lê, do việc quá câu nệ những tư tưởng Nho Giáo nặng nề, trọng nam khinh nữ

Đối với ruộng hương quả, nếu không có con trai phải cho cháu trai (con trai người con thứ); trừ khi không có cháu trai nào khác để thừa kế mới trao cho con gái trưởng Đây cũng là một điểm khác biệt so với Nhà Lê

1.4.3 Chế định thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp dưới thời Pháp thuộc

Dưới thời Pháp thuộc, nước ta bị chia cắt thành ba kỳ (Bắc kỳ, Trung kỳ

và Nam kỳ) Ứng với ba kỳ có ba bộ luật: Dân luật Bắc kỳ (năm 1931), Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật (năm 1936) và Dân luật giản yếu Nam kỳ (năm 1883) Đối với Pháp, ruộng đất vẫn thuộc sở hữu của giai cấp thống trị, người dân không có một quyền hạn nào trên mãnh đất mà họ đã tạo ra Chế định thừa kế QSDĐNN chỉ được áp dụng đối với vua, quan và địa chủ trung thành với Pháp Điểm khác biệt của Pháp luật thừa kế QSDĐNN của Pháp thời này là xuất hiện khái niệm

động sản trong tài sản của người chết lập ra để cúng giỗ một người trong gia tộc người ấy hoặc cúng chùa

1.4.4 Từ Cách mạng tháng Tám năm 1954 đến nay

Do những điều kiện nhất định nên sắc lệnh số 47/SL ngày 10-10-1945 cho phép tạm thời áp dụng những văn bản pháp luật dân sự của chế độ cũ với điều

kiện “những luật lệ ấy không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và

chính thể cộng hòa” Hiến pháp 1980 ra đời, quyền thừa kế của công dân được

tiếp tục ghi nhận trong văn bản pháp lý cao nhất này “Pháp luật bảo hộ quyền

thừa kế, qua tổng kết rút kinh nghiệm công tác xét xử về thừa kế, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư 81 ngày 27-7-1981 hướng dẫn giải quyết các

Trang 26

tranh chấp về thừa kế như: xác định di sản thừa kế, thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật, chia di sản thừa kế

Ngày 30-9-1990, Hội đồng Nhà nước nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua pháp lệnh thừa kế Qua hơn bốn năm thực hiện Pháp lệnh thừa kế và thực tiễn xét xử cho thấy, Pháp lệnh thừa kế đã đi vào cuộc sống và về

cơ bản vẫn phù hợp với thực trạng các quan hệ thừa kế hiện nay, bảo đảm quyền thừa kế của công dân được các tầng lớp nhân dân đồng tình, chấp nhận Do đó, chế định thừa kế trong BLDS 1995 đã kế thừa hầu hết các quy định của pháp lệnh nói trên Tuy nhiên, trong từng điều khoản cụ thể, BLDS 1995 có chỉnh lý,

bổ sung nhằm đưa các quy định của luật về thừa kế QSDĐNN vào cuộc sống một cách hữu hiệu hơn Điều đó thể hiện ở chỗ:

Thứ nhất: Di sản thừa kế phải được hiểu theo nghĩa rộng hơn, không

những là tất cả những tài sản hữu hình, mà còn bao gồm những tài sản vô hình, đặc biệt hơn nữa là QSDĐNN của cá nhân và thành viên của hộ gia đình cũng được coi là di sản thừa kế Tuy nhiên, do tính chất đặc thù cùa loại tài sản này, nên thừa kế quyền sử dụng đất (cụ thể là thừa kế QSDĐNN) được quy định thành một chương riêng tại Phần thứ năm BLDS 1995

Thứ hai: Khác với quy định tại Pháp lệnh thừa kế, BLDS không coi Nhà

nước là một trong những người thừa kế Nhà nước chỉ nhận di sản khi không có người thừa kế, hoặc có người thừa kế nhưng họ không nhận di sản hoặc không có quyền thừa kế Trên thực tế, cá nhân có thể lập di chúc để lại một phần hoặc toàn

bộ di sản của mình cho nhà nước

Sau hơn mười năm thực hiện, các quy định thừa kế QSDĐNN của BLDS

1995 đã thực sự đi vào cuộc sống, góp phần điều chỉnh ổn định các quan hệ thừa

kế tài sản trên thực tế Xuất phát từ giá trị thực tế của các quy định về thừa kế QSDĐNN quy định tại Phần thứ năm của BLDS 1995, BLDS 2005 đã tiếp kế thừa Đây là phần ít sửa đổi, bổ sung nhất trong nội dung của BLDS 2005 Theo

đó, không còn các quy định về điều kiện về thừa kế QSDĐNN và nhận thừa kế QSDĐNN, hạn chế chủ thể nhận thừa kế quyền sử dụng đất nhằm bảo vệ diện tích đất nông nghiệp hay thực hiện các chính sách khác của Nhà nước do pháp luật đất đai quy định

1.5 Đặc trưng của thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp

Thừa kế QSDĐNN là một dạng của thừa kế nói chung trong pháp luật dân

sự, nhưng khác với các loại tài sản khác, đất nông nghiệp không thể trực tiếp chuyển giao được mà phải thông qua một hình thức nhất định Chính do đó mà

nó có một số đặc trưng sau:

Trang 27

1.5.1 Đặc trưng so với các hình thức chuyển quyền sử dụng đất khác

Thừa kế QSDĐNN cũng là một hình thức chuyển quyền sử dụng đất, nhưng sự chuyển dịch này là từ người chết sang cho người còn sống vào thời điểm mở thừa kế Thông qua di chúc, người để lại di sản thực hiện một giao dịch dân sự đơn phương thể hiện ý chí của mình không phụ thuộc vào ý chí của người thừa kế Còn trường hợp chuyển quyền sử dụng đất khác thì việc chuyển quyền

sử dụng đất được thực hiện dựa trên cơ sở hợp đồng dân sự có sự thoả thuận của các bên tham gia và các bên đều còn sống khi thực hiện việc chuyển quyền sử dụng đất

1.5.2 Đặc trưng so với việc thừa kế các tài sản thông thường

Bên cạnh những đặc điểm chung với việc thừa kế các tài sản thông thường khác thì thừa kế QSDĐNN có một số điểm khác biệt sau:

 Đối với thừa kế QSDĐNN thì người để lại thừa kế không có quyền sở hữu đất đai mà chỉ có QSDĐNN Đồng thời người hưởng thừa kế QSDĐNN đến lượt mình cũng chỉ có QSDĐNN mà không trở thành chủ sở hữu đất đai;

 Thừa kế QSDĐNN không những được quy định trong BLDS mà còn được quy định cả trong pháp luật về đất đai;

 Đối với thừa kế QSDĐNN thì người nhận thừa kế QSDĐNN không thể

là người Việt Nam định cư ở nước ngoài

 Đối với hầu hết các tài sản thông thường khác khi thực hiện việc thừa

kế không phải tiến hành thủ tục đăng ký thừa kế nhưng đối với thừa kế QSDĐNN thì thủ tục đăng ký thừa kế QSDĐNN là bắt buộc;

 Trong quan hệ thừa kế quyền sử dụng đất, di sản là QSDĐNN phải có

sự công nhận của Nhà nước thông qua việc cấp giấy chứng nhận QSDĐNN

Vấn đề giải quyết tranh chấp về thừa kế QSDĐNN:

Đối với việc giải quyết tranh chấp về thừa kế các tài sản khác thì hoà giải tại Uỷ Ban Nhân Dân xã, phường, thị trấn không phải là thủ tục bắt buộc còn đối với tranh chấp về QSDĐNN, thì hoà giải tại UBND xã, phường, thị trấn là một thủ tục bắt buộc;

Việc giải quyết tranh chấp về thừa kế các tài sản khác cơ quan có thẩm quyền giải quyết là Toà án, còn đối với tranh chấp đất đai nói chung và tranh chấp về thừa kế QSDĐNN nói riêng thì không phải bất cứ tranh chấp nào về quyền sử dụng đất đều được giải quyết theo trình tự Toà án

Tóm lại, thừa kế QSDĐNN vừa có điểm chung vừa có điểm đặc thù so với việc thừa kế các tài sản khác Tính chất đặc thù này do tính đặc biệt của đất đai

Trang 28

quyết định Chính vì vậy việc thừa kế QSDĐNN vừa phải tuân theo các quy định tại BLDS vừa phải tuân theo các quy định của LĐĐ

1.6 Mối quan hệ giữa quyền thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp với quyền sở hữu

Thứ nhất: Quyền sở hữu là cơ sở làm phát sinh quyền thừa kế QSDĐNN

Bởi lẽ từ khi xuất hiện xã hội thì đã có sự sở hữu đối với tài sản mà cụ thể ở đây

là đất nông nghiệp do chính con người tạo ra Khi con người chết sẽ để lại đất nông nghiệp của mình, đất nông nghiệp đó sẽ tiếp tục được những người còn sống xử dụng và định đoạt, đây được coi như một dạng thừa kế khi Nhà nước xuất hiện, xét thấy vai trò quan trọng của sở hữu đất nông nghiệp, vì nó không chỉ phục vụ cho chủ sở hữu khi còn sống toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt mà còn phục vụ cho những người còn sống khác được sử dụng tài sản do người chết để lại Giai đoạn này được gọi là thừa kế QSDĐNN do người chết để lại và từ đây quyền thừa kế QSDĐNN có tác động trở lại đối với quyền sở hữu khi người còn sống được sở hữu đất nông nghiệp do người chết để lại mà không

sợ bị tranh giành

Thứ hai: Quyền sở hữu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước

ban hành nhằm điều chỉnh những quan hệ về sở hữu đối với các lợi ích vật chất trong xã hội Những quy phạm đó xác nhận, quy định và bảo vệ quyền sở hữu của các chử sở hữu đối với đất nông nghiệp của mình Quyền thừa kế là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành quy định các điều kiện, trình tự đất nông nghiệp của người đã chết cho người sống Như vậy, thông qua quyền thừa kế QSDĐNN (về điều kiện, trình tự) thì quyền sở hữu đất nông nghiệp của người chết được dịch chuyển sang cho những người còn sống, một khi quyền sở hữu đó được dịch chuyển sang cho những người thừa kế thì quyền thừa kế coi như đã bảo đảm tốt vai trò của mình

Thứ ba: Quyền sở hữu và quyền thừa kế đều là những phạm trù pháp lý

song song tồn tại trong cùng một hình thái kinh tế, xã hội nhất định Do vậy từ chỗ pháp luật quy định cho công dân có quyền sở hữu Cũng trên cơ sở đó họ có quyền năng trong quan hệ thừa kế Nếu họ có quyền hưởng thừa kế thì tất yếu họ

sẽ được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản thừa kế đó Ngược lại nếu tài sản đã thuộc sở hữu của họ thì họ có mọi quyền năng trong phạm vi pháp luật quy định đối với tài sản đó

Thứ tư: công dân có quyền để lại thừa kế những tài sản thuộc sở hữu của

mình cho người khác, nhà nước không hạn chế quyền để lại thừa kế và quyền nhận thừa kế của công dân (trừ trường hợp vi phạm Điều 643 BLDS 2005) Như

Trang 29

vậy, quyền thừa kế và quyền sở hữu kết hợp với nhau tạo cho chủ sở hữu một quyền năng toàn diện vừa có quyền năng sở hữu vừa có quyền để lại thừa kế cho những người khác tài sản của mình Bên cạnh đó, nó cũng tạo cho chủ thể khác những quyền năng cơ bản, theo đó những chủ thể này vừa có quyền thừa kế những tài sản đó đồng thời họ cũng được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do người chết để lại

Như vậy, thừa kế là một hiện tượng xã hội xuất hiện và tồn tại trong mội chế độ xã hội Nơi nào có sở hữu, nơi đó có thừa kế hay nói cách khác thừa kế và

sở hữu luôn tồn tại song song và gắn bó chặt chẽ với nhau trong một hình thái kinh tế xã hội Trong đó, nếu sở hữu là cơ sở làm xuất hiện vấn đề thừa kế thì đến lược mình, thừa kế lại là phương tiện để duy trì và cũng cố vấn đề sở hữu

Trang 30

CHƯƠNG 2 THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT

NAM HIỆN HÀNH 2.1 Thời điểm mở thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp

“Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trong trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được

sản khác, thừa kế QSDĐNN là một dạng của thừa kế, nên phải thỏa mản những điều kiện do BLDS 2005 quy định Móc thời gian để mở thừa kế QSDĐNN được xác định trong hai trường hợp:

2.1.1 Đối với người có tài sản chết

Khi đó, thời điểm mở thừa kế đối với di sản của họ chính là thời điểm họ chết Theo đó, thời điểm mở thừa kế QSDĐNN được xác định bằng giấy chứng

tử được lập theo quy định hiện hành về hộ tịch.32

Hiện nay, luật và các văn bản dưới luật chưa có một quy định cụ thể

về đơn vị thời gian để tính “thời điểm” để xác định cái chết Theo khoa học pháp

lý có nhiều cách khác nhau để xác định Cách thứ nhất: đã gọi là thời điểm thì buộc phải xác định chính xác đến từng phút, từng giây Trái ngược lại, cách thứ hai lại cho rằng, việc xác định thời điểm chết của một người chính xác đến từng giây, từng phút là một thực tế không thể làm được, vì thế nên quy định thời điểm

mở thừa kế được xác định theo ngày người để lại di sản chết Cũng có một số tác

giả lại chọn việc dung hòa trong việc xác định “thời điểm” người thừa kế

QSDĐNN Theo họ không nên áp dụng cứng nhắc việc phải xác định chính xác đến từng phút, từng giây hai không, bởi thực tế khó có thể áp dụng cứng nhắc Người viết cũng đồng tình với quan điểm trên, bởi nếu đặc trường hợp một người

vì tuổi cao sức yếu nên chết trước mặt con, cháu của người đó thì chắc chắn rằng

họ có thể biết được chính xác thời gian Ông (cha) họ chết để đăng ký khai tử Ngược lại, trong trường hợp một xác chết được phát hiện không biết họ chết vào ngày nào, theo quy định của pháp luật về hộ tịch thì UBND cơ sở nơi phát hiện được xác chết phải thông báo để cơ quan có thẩm quyền thực hiện khám nghiệm

tử thi theo quy định của pháp luật và chính UBND này phải thực hiện thủ tục

Trang 31

khai tử, chứng tử cho người xấu số này và giấy chứng tử phải xác định ngày chết của người này theo ngày phát hiện được xác chết

2.1.2 Đối với người bị Tòa án tuyên bố chết

Khi đó, thời điểm mở thừa kế đối với di sản của họ sẽ được xác định theo ngày được quy định tại khoản 1 Điều 81 BLDS, Gồm có:

Một là: Cá nhân đã bị Tòa án tuyên bố mất tích nhưng sau ba năm kể từ

ngày quyết định tuyên bố mất tích của tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không

có tin tức xác thực là người đó còn sống

Hai là: Cá nhân biệt tích trong chiến tranh năm năm kể từ ngày cuộc

chiến tranh đó kết thúc nhưng vẫn không có tin tức xác thực họ còn sống

Ba là: Cá nhân biệt tích trong vụ tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau

một năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thiên tai, thảm họa đó chấm dức nhưng vẫn không có tin tức xác thực là họ còn sống

Bốn là:Cá nhân biệt tích năm năm liền trở lên và không có tin tức xác

thực là còn sống kể từ ngày có tin tức cuối cùng của người đó

BLDS 2005 bắt buộc Tòa án phải xác định cụ thể ngày chết của người đó căn cứ vào bốn trường hợp như trên Đây cũng là điểm tiến bộ của BLDS 2005

so với BLDS 1995, bởi theo quy định tại khoản 2 Điều 91 BLDS 1995 thì, để xác định ngày chết của một người tuyên bố là đã chết thì phụ thuộc vào hai trường hợp:

Trường hợp một: Là ngày được Tòa án xác định trong quyết định tuyên bố

người đó là đã chết Được áp dụng trong trường hợp khi đã biết rõ lý do biệt tích Nếu theo những sự kiện thực tế xảy ra đã đủ cơ sở để xác định ngày chết của họ thì Tòa án sẽ xác định cụ thể ngày chết của người đó, trong quyết định tuyên bố chết Như vậy, để xác định ngày chết của một cá nhân, BLDS 1995 ngoài việc xác định mốc thời gian xãy ra sự cố để tính thời gian cho một sự kiện pháp lý (quyết định tuyên bố chết) còn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của Thẩm phán Ví

dụ, đối với cá nhân bị tuyên bố chết do bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mặt dù

đã có đủ cơ sở để kết luận một người là đã chết nhưng để tính ngày (ngày xãy ra tai nạn, thiên tai hoặc thảm họa; ngày kết thúc tai nạn, thiên tai hoặc thảm họa; ngày tròm một năm kể từ ngày kết thúc tai nạn, thiên tai hoặc thảm họa đó chấm dức) làm mốc thời gian để tính có đủ thời gian tuyên bố chết hai không

Trường hợp hai: Là ngày quyết định tuyên bố cá nhân đã chết của Tòa án

có hiệu lực pháp luật, thường được áp dụng trong những trường hợp không có cơ

sở để xác định một cách cụ thể về ngày chết của người đó vì sự biệt tích của họ không rõ lý do Thông thường đó là trường hợp người để lại di sản đã bị Tòa án

Trang 32

tuyên bố mất tích và sau đó bị tuyên bố là đã chết vì sau ba năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức gì về sự sống còn của người đó hoặc trường hợp người để lại di chúc bị tuyên bố chết vì

đã biệt tích năm năm và cũng không rõ lý do về sự biệt tích của họ Nhưng nếu đặc trong một số trường hợp cụ thể thì khó mà xác định Ví dụ: Anh M yêu cầu Tòa án tuyên bố ông A (bố anh M) là đã chết để hưởng thừa kế số tài sản của ông

A, vì ông A đã mất tích quá năm năm không rõ lý do Tòa án ra quyết định tuyên

bố ông A là đã chết nhưng quyết định đó chưa có hiệu lực (vì chưa đến thời hạn kháng cáo, kháng nghị) thì anh M đã chết vì bị tai nạn Trong vụ việc trên thì ngày chết của ông A được xác định theo ngày quyết định tuyên bố chết của Tòa

án có hiệu lực pháp luật nghĩa là sau ngày anh M chết nên anh M không được hưởng di sản thừa kế mà ông A để lại Trong trường hợp này xét về mặt logic này hoàn toàn trái ngược với tính thực tế của vụ việc là chính anh M yêu cầu Tòa

án tuyên bố về cái chết của ông A nhưng lại bị coi là người đã chết trước ông A

Chính vì những lý do đó BLDS 2005 ra đời đã khắc phục được những hạn chế của BLDS 1995 bởi theo BLDS 2005 thì thời điểm mở thừa kế đối với người

bị Tòa án tuyên bố là đã chết bao giờ cũng là ngày chết của cá nhân đó được Tòa

án xác định cụ thể trong quyết định tuyên bố chết (mà không xác định theo ngày quyết định tuyên bố chết có hiệu lực pháp luật) Nếu đối chiếu với tình huống trên thì anh M được hưởng phần di sản mà A để lại khi M chết, và những người thừa kế của M sẽ được hưởng phần di sản của A để lại cho M theo luật định

Ý nghĩa việc xác định chính xác thời điểm mở thừa kế QSDĐNN đối với di sản của người chết để lại

Thứ nhất: Thời điểm mở thừa kế QSDĐNN có ý nghĩa trong việc xác

định những người thừa kế của người để lại di sản Điều 635 BLDS 2005 quy định người thừa kế nếu là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế… nếu là cơ quan tổ chức phải là cơ quan, tổ chức còn tồn tại vào thời điểm mở thừa

kế và nếu người thừa kế là cá nhân sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế thì phải là người đã thành thai trước thời điểm mở thừa kế Mặc khác, trong trường hợp những người thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm thì cũng không được hưởng di sản thừa kế của nhau Di sản thừa kế của mỗi người sẽ do những người thừa kế của họ hưởng

Thứ hai: Thời điểm mở thừa kế QSDĐNN có ý nghĩa trong việc xác định

hiệu lực của di chúc Theo quy định của pháp luật thì di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế, di chúc chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm cả hai vợ chồng cùng chết (Điều

668 BLDS 2005) Việc xác định thời điểm có hiệu lực pháp luật của di chúc là vô

Trang 33

cùng quan trọng vì chỉ kể từ thời điểm đó quyền và nghĩa vụ của người thừa kế theo di chúc mới được phát sinh Ngoài ra, nếu người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chể cùng thời điểm với người để lại di chúc thì phần di chúc liên quan đến phần di sản của người đó cũng không phát sinh hiệu lực và phần di sản đó sẽ mang ra chia theo pháp luật

Thứ ba: Thời điểm mở thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp có ý

nghĩa trong việc xác định chính xác di sản thừa kế Trong thực tế, tài sản mà người lập di chúc xác định trong di chúc có thể khác với tài sản mà họ để lại sau khi chết bởi có thể khi lập di chúc thì các tài sản đó vẫn còn nhưng sau đó các tài sản này bị tiêu hủy, mất mát nhưng người lập di chúc vẫn để nguyên di chúc mà không xác định lại tài sản Trong trường hợp này, cần phải căn cứ vào thời điểm người lập di chúc chết (thời điểm mở thừa kế) để xác định khối tài sản hiện còn Chỉ những tài sản nào thuộc sở hữu của người đã chết hiện còn vào thời điểm mở thừa kế mới được coi là di sản của người chết để lại cho những người thừa kế

Thứ tư: Xác định chính xác những người có quyền và nghĩa vụ đối với di

sản thừa kế là QSDĐNN do người chết để lại (xác lập quyền sở hữu) Căn cứ vào Điều 636 BLDS 2005 quy định: “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa

kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” Như vậy,dù đất nông nghiệp được chia hai không chia thì kể từ thời điểm mở thừa kế thì đất nông nghiệp vẫn thuộc quyền sở hữu của người thừa kế hoặc thuộc sở hữu chung của những người thừa kế Đồng thời, cũng từ thời điểm đó, người thừa kế hoặc những người có nghĩa vụ thực hiện những nghĩa vụ và tài sản do người chết để lại

Thứ năm: Thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa trong việc xác định thời hiệu

khởi kiện về quyền thừa kế Điều 645 BLDS 2005 đã quy định thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế

Vì vậy, thời điểm mở thừa kế chính là mốc để xác định thời điểm bắt đầu của thời hiệu khởi kiện này

2.2 Người để lại di sản thừa kế là quyền sử dụng đất nông nghiệp

Người để lại di sản chỉ là cá nhân chứ không thể là tổ chức hay nhà nước.33 Người để lại di sản có thể là người để lại di sản theo di chúc hoặc để lại

di sản chia theo pháp luật Khi còn sống và minh mẫn, người có tài sản có quyền lập di chúc định đoạt tài sản của mình cho những người thừa kế là bất kì ai Bao

33

Điều 631 Bộ luật dân sự năm 2005

Trang 34

gồm cá nhân có quan hệ thân thích hoặc cho cá nhân không có quan hệ thân thích, cho tổ chức, cho Nhà nước Trong trường hợp người có tài sản không lập

di chúc hoặc để lại di chúc nhưng di chúc không hợp pháp, di chúc không có hiệu lực thi hành thì di sản của người chết để lại được chia thừa kế theo pháp luật cho những người có quyền hưởng thừa kế theo điều kiện và trật tự hàng thừa kế

Cũng như việc để thừa kế các tài sản khác, chủ thể để thừa kế QSDĐNN bao giờ cũng là cá nhân (cá nhân được nhà nước giao đất, cho thuê đất, công

nhận chuyển quyền sử dụng đất) Thêm vào đó, LĐĐ cũng cho phép cá nhân là

QSDĐNN của mình Còn đối với các chủ thể khác được hưởng quyền của người

sử dụng đất nhưng không được phép để thừa kế đối với quyền sử dụng đất mà họ

có được từ các căn cứ xác lập QSDĐNN hợp pháp Bởi lẽ, từ khi pháp lệnh thừa

kế 1990 cho đến BLDS 1995 chỉ ghi nhận quyền thừa kế đối với chủ thể duy nhất

là cá nhân (trừ trường hợp di chúc chung của vợ chồng để định đoạt tài sản chung) Vì vậy, LĐĐ 2003 và 2013 đã tiếp nối BLDS 1995 và sau này là BLDS

2005 về chủ thể được phép để thừa kế đối với tài sản của mình35

Sự khác nhau giữa cá nhân sử dụng đất nông nghiệp với cá nhân là thành viên của hộ gia đình sử dụng đất nông nghiệp

Thứ nhất: Cá nhân sử dụng đất nông nghiệp được nhà nước cho phép sử

dụng đất thông qua những hình thức nhất định Chịu trách nhiệm bằng chính hành vi của mình trong quá trình thực hiện các quyền và nghĩa vụ khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai Hay nói khác hơn, trong mọi trường hợp đều nhân danh cá nhân mình thực hiện mọi quy định của pháp luật và gánh chịu mọi hậu quả pháp lý (nếu có) do hành vi mình gây ra

Ngược lại, cá nhân chỉ được xem là thành viên của hộ gia đình khi cá nhân

đó thỏa mãn những điều kiện mà pháp luật quy định BLDS 2005 không định nghĩa về hộ gia đình mà chỉ đưa ra điều kiện để được xem xét là thành viên trong

hộ gia đình Trong đó, “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung cùng

đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông lâm ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là

Trang 35

phải cá nhân nào cũng là thành viên của hộ gia đình mà chỉ những thành viên đáp ứng đủ hai điều kiện cơ bản sao mới là thành viên của hộ gia đình:

Một là: Cá nhân đó phải có tài sản chung với hộ gia đình;

Hai là: Cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản

xuất nông lâm ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định

Nếu thỏa mãn điều kiện mà pháp luật đất đai cho phép thì sẽ được nhà nước giao đất khi đó QSDĐNN đó sẽ là tài sản chung của hộ gia đình Nếu cá nhân sử dụng đất nhân danh chính mình tham gia quan hệ pháp luật đất đai thì ngược lại, từng thành viên của hộ gia đình không trực tiếp thực hiện quyền và

nghĩa vụ mà phải thông qua người đại điện hợp pháp cho hộ gia đình đó là người

Thứ hai: Đối với cá nhân sử dụng đất nông nghiệp là một chủ thể trong

quan hệ pháp luật đất đai, được nhà nước cho phép sử dụng đất nông nghiệp thông qua hình thức: giao đất nông nghiệp, thuê đất nông nghiệp và chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp.38 Còn đối với cá nhân là thành viên của hộ gia đình cũng được xem là một chủ thể trong quan hệ pháp luật đất đai, nhưng cá nhân là thành viên của hộ gia đình chỉ được để lại di sản thừa kế đối với hình thức giao đất 39 Như vậy, phạm vi để lại di sản thừa kế của cá nhân rộng hơn nhiều so với cá nhân là thành viên của hộ gia đình, bởi cá nhân được để lại thừa

kế với ba hình thức: giao đất, cho thuê đất và nhận chuyển quyền sử dụng đất trong khi đó cá nhân là thành viên của hộ gia đình chỉ được phép để lại thừa kế đối với hình thức giao đất

2.2.1 Quyền để lại di sản thừa kế của cá nhân được nhà nước giao đất

Nhà nước giao đất cho cá nhân (hay còn gọi là nhà nước giao quyền sử

dụng đất cho cá nhân) đó là việc “Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao

phải có đủ điều kiện quy định tại điều 52 LĐĐ 2013 được nhà nước giao đất thông qua hai hình thức: không thu tiền sử dụng đất và có thu tiền sử dụng đất:

Ngày đăng: 03/10/2015, 14:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w