Với những đặc điểm này người có được bản ghi âm có thể làm biến đổi những âm thanh vốn có để được những âm thanh theo họ mong muốn có được, có thể có những người chỉ muốn chỉnh sửa, cắt
Trang 1ThS Mạc Giáng Châu Phan Tấn Khánh Nguyên
Bộ môn Luật Tƣ pháp MSSV: 5117332
Lớp: Luật Tƣ Pháp
Cần Thơ, tháng 12/2014
Trang 2
Trang 3
Trang 4
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Lý do nghiên cứu đề tài 1
2 Phạm vi nghiên cứu đề tài 1
3 Mục đích nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục đề tài 2
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA BẢN GHI ÂM, GHI HÌNH TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 3
1.1 Khái niệm chung về bản ghi âm, ghi hình 3
1.1.1 Khái niệm bản ghi âm 3
1.1.1.1 Định nghĩa 3
1.1.1.2 Đặc điểm 4
1.1.2 Khái niệm bản ghi hình 9
1.1.2.1 Định nghĩa 9
1.1.2.2 Đặc điểm 11
1.2 Vai trò của bản ghi âm, ghi hình trong tố tụng hình sự Việt Nam 14
1.2.1 Bản ghi âm ghi hình có thể mang giá trị như những chứng cứ trong các vụ án hình sự 14
1.2.2 Bản ghi âm, ghi hình hỗ trợ thông tin về tội phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng 17
CHƯƠNG 2 GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA BẢN GHI ÂM GHI HÌNH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 21
2.1 Giá trị pháp lý của bản ghi âm ghi hình trong tố tụng hình sự Việt Nam 21
2.1.1 Bản ghi âm ghi hình có thể coi là chứng cứ được xác định như các tài liệu đồ vật trong thu thập chứng cứ 21
2.1.2 Bản ghi âm ghi hình có khả năng ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án hình sự 22
2.1.2.1 Bản ghi âm, ghi hình luôn phát huy tối đa công dụng hỗ trợ cho quá trình thu thập chứng cứ và quyết định có hay không khởi tố vụ án hình sự 22
2.1.2.2 Ảnh hưởng đến tâm lý lấy lời khai của bị can, làm cho bị can phải khai đúng sự thật, tránh trường hợp cho khẩu cung giả 23
Trang 52.1.3 Bản ghi âm, ghi hình phải được thu thập theo trình tự thủ tục luật định 26
2.2 Những bản ghi âm, ghi hình có giá trị pháp lý 28
2.2.1 Điều kiện để bản ghi âm, ghi hình có giá trị pháp lý 28
2.2.1.1 Bản ghi âm, ghi hình phải có nguồn gốc rõ ràng 28
2.2.1.2 Bản ghi âm, ghi hình phải được giám định 30
2.2.2 Những bản ghi âm, ghi hình được sử dụng để giải quyết vụ án hình sự 32
2.2.2.1 Bản ghi âm, ghi hình ghi lại quá trình vụ án đã xảy ra 32
2.2.2.2 Bản ghi âm, ghi hình do cơ quan điều tra ghi lại trong quá trình hỏi cung bị can và thực hiện công tác điều tra 36
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BẢN GHI ÂM, GHI HÌNH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 42
3.1 Tồn tại pháp luật và một số kiến nghị 42
3.1.1 Một số tồn tại pháp luật 42
3.1.2 Kiến nghị 46
3.2 Về mặt thực tiễn sử dụng bản ghi âm, ghi hình trong tố tụng hình sự Việt Nam 48
3.2.1 Thực tiễn và một số bất cập 48
3.2.2 Hướng giải quyết 55
KẾT LUẬN 57
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu đề tài
Hiện nay, xã hội cùng với sự phát triển của phương tiện khoa học kỹ thuật ngày càng được nâng cao, cho nên tội phạm hoạt động ngày càng tinh vi, phức tạp gây khó khăn cho việc điều tra như các tội phạm sử dụng công nghệ cao Vì vậy, trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm của Nhà nước hiện nay là điều vô cùng cần thiết và quan trọng nhằm đem đến một xã hội công bằng Tuy nhiên, việc tìm ra chứng cứ trong các vụ
án hình sự không phải lúc nào cũng dễ dàng đối với cơ quan tiến hành tố tụng Và có những chứng cứ có thể chứng minh được tội phạm nhưng vẫn chưa được pháp luật ghi nhận cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành cũng như các văn bản hướng dẫn khác, dẫn đến nảy sinh nhiều bất cập trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, cụ thể là bản ghi âm, ghi hình Từ đó, một yêu cầu cấp thiết cần đặt ra đó là làm thế nào để biết được bản ghi âm, ghi hình nào được sử dụng để giải quyết vụ án hình sự, hay nói cách khác là làm thế nào để xác định được giá trị pháp lý của các bản ghi âm, ghi hình Đây là một vấn đề còn tồn tại trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Từ vấn đề này đã dẫn đến nhiều khó khăn, vướng mắc khi áp dụng vào thực tiễn và đã đưa đến những hậu quả nghiêm trọng Cụ thể đó là khi cơ quan tiến hành tố tụng không xác định được bản ghi
âm, ghi hình đó có giá trị pháp lý hay không, nên không biết phải giải quyết thế nào cho hợp lý, hợp pháp Nguyên nhân của vấn đề này là do pháp luật tố tụng hình sự chưa quy định rõ ràng về giá trị pháp lý của bản ghi âm, ghi hình Do đó để công tác điều tra và xét
xử được thực hiện thỏa đáng thì việc hoàn thiện pháp luật là điều hết sức cần thiết Chính
vì điều đó nên người viết đã chọn đề tài “Giá trị pháp lý của bản ghi âm, ghi hình trong
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của
mình
2 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối với đề tài “Giá trị pháp lý của bản ghi âm, ghi hình trong pháp luật tố tụng
hình sự Việt Nam”, người viết tập trung nghiên cứu về giá trị của các bản ghi âm, ghi
hình trong tố tụng hình sự Việt Nam có những trường hợp nào được coi là có giá trị như chứng cứ, những trường hợp nào không có giá trị như chứng cứ, mà không nghiên cứu về giá trị pháp lý của những tài liệu, đồ vật khác có thể là chứng cứ mà trong Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành không có quy định Trước tiên, người viết nghiên cứu về các khái niệm, đặc điểm của bản ghi âm, ghi hình Sau đó, từ những quy định của pháp luật về nguồn của chứng cứ để làm rõ giá trị pháp lý của bản ghi âm, ghi hình trong tố tụng hình
sự Việt Nam Và từ những quy định của pháp luật khi áp dụng vào thực tế, người viết thấy vẫn còn một số bất cập trong việc áp dụng nên đã đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, hướng giải quyết, khắc phục những hạn chế đó
Trang 73 Mục đích nghiên cứu
Về mục đích nghiên cứu đề tài “Giá trị pháp lý của bản ghi âm, ghi hình trong
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam” là để tìm hiểu và phân tích về các bản ghi âm, ghi
hình có giá trị như chứng cứ để chứng minh tội phạm hay không, đồng thời tìm hiểu các quy định của pháp luật và thực tiễn khi áp dụng các bản ghi âm, ghi hình vào các vụ án hình sự vẫn còn những bất cập Từ đó, người viết đưa ra những hướng giải quyết để khắc phục, nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật để pháp luật Việt Nam được chặt chẽ hơn, giúp cho người dân cũng như các cơ quan tiến hành tố tụng nắm được quy định của pháp luật một cách rõ ràng hơn và áp dụng vào thực tiễn được thuận lợi, nhanh chóng
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong bài viết này, người viết đã sử dụng các phương pháp như sau: thu thập, tổng hợp các tài liệu có liên quan đến đề tài như các văn bản quy phạm pháp luật, báo mạng và các tài liệu khác Và từ những tài liệu đó, người viết đã chọn ra những tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu của mình để sử dụng trong bài viết Trong quá trình viết, người viết
đã sử dụng các phương pháp phân tích luật viết, giải thích và cho ví dụ minh họa để làm
rõ vấn đề trong bài viết của mình
5 Bố cục đề tài
Đề tài “Giá trị pháp lý của bản ghi âm, ghi hình trong pháp luật tố tụng hình sự
Việt Nam” được chia làm ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về giá trị pháp lý của bản ghi âm, ghi hình trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 2 Giá trị pháp lý của bản ghi âm, ghi hình trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 3 Thực trạng sử dụng bản ghi âm, ghi hình trong pháp luật tố tụng hình
sự Việt Nam và một số kiến nghị
Trang 8CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA BẢN GHI ÂM, GHI HÌNH
TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm chung về bản ghi âm, ghi hình
1.1.1 Khái niệm bản ghi âm
1.1.1.1 Định nghĩa
Nhu cầu của con người ngày một phát triển, một trong những xu hướng hiện nay
là con người muốn lưu lại những gì chúng ta đã nói, những âm thanh để sau này có thể nghe lại để gợi nhớ lại, do đó sự phát triển của công nghệ thông tin là rất cần thiết, các thiết bị máy móc ra đời càng ngày càng phong phú, đa dạng, đặc biệt là xuất hiện tính năng ghi lại âm thanh trong các thiết bị máy móc đó
Về luật học, hiện nay chưa có một định nghĩa cụ thể về bản ghi âm là gì, ta chỉ có thể dựa vào chức năng của bản ghi âm để đưa ra định nghĩa Trước tiên ta sẽ tìm hiểu hai
từ ngữ quan trọng đó là “ghi” và “âm”
“Ghi” là một động từ, đó là việc thu lại, ghi chép, ghi nhớ, lưu giữ lại một sự vật,
sự việc nào đó đã từng xảy ra vào một bộ nhớ nào đó Việc làm này để nhằm lưu trữ, bảo quản để sau này có cần dùng đến thì có thể lấy ra để dùng
Còn “âm” là một danh từ, đó là những âm thanh, tiếng động được phát ra trong đời sống hằng ngày Âm thanh là một hiện tượng vật lý do kết quả dao động của vật thể đàn hồi trong môi trường không khí Hiện tượng này gọi là sóng âm, chúng kích thích vào cơ quan não bộ của con người làm cho chúng ta có cảm giác về âm thanh.1 Âm thanh được phát ra từ con người, sinh vật Chẳng hạn như tiếng nói chuyện của con người, tiếng gáy của con gà, tiếng lá cây bị gió thổi xào xạc, tiếng xe chạy, Âm thanh mà con người có thể nghe được chỉ giới hạn trong một phạm vi và cường độ nhất định, chẳng hạn như tần
số âm thanh con người có thể nghe được là trong khoảng từ 20 Hz đến 20 kHz
Từ những phân tích trên có thể hiểu ghi âm là hoạt động thu lại những âm thanh
đã được phát ra trên thực tế trong phạm vi, cường độ nhất định Vậy bản ghi âm là kết
quả của hoạt động ghi âm, đã thu lại những âm thanh đã được phát ra trên thực tế, sau
đó sẽ được tái hiện lại một cách tương đối với cường độ của âm thanh thu được Bản ghi
âm thường được lưu trong các thiết bị đĩa, băng từ gắn trong máy ghi âm, điện thoại, máy tính… Sau khi ghi âm thì có thể dùng chức năng “phát lại” của các thiết bị này để nghe lại những gì đã được thu trước đó Nhưng cũng có thể là bản ghi âm đó đã bị chỉnh sửa
về giọng nói, hoặc bị cắt, ghép, hoặc là ghi âm không đầy đủ nội dung làm phản ánh sai
1 Đặng Đăng Phước, Âm thanh và các thuộc tính cơ bản,
http://dangdangphuoc.violet.vn/present/show/entry_id/4272642 , [truy cập ngày 09-10-2014]
Trang 9sự thật Do đó để biết bản ghi âm có đáng tin cậy hay không thì phải thực hiện công tác giám định
Từ đó có thể thấy, hoạt động ghi âm là một hoạt động do một chủ thể nào đó ghi lại những âm thanh có mục đích được thể hiện qua bản ghi âm, bản ghi âm đó ghi lại những âm thanh trên thực tế lúc hoàn cảnh xảy ra nên bản ghi âm sẽ tái hiện lại được những âm thanh thu được trên thực tế lúc đó Tuy nhiên, việc ghi âm chỉ được thực hiện trên một phạm vi nhất định và phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: cường độ
âm thanh lúc đó, sự tác động của các âm thanh khác,… nên không phải bản ghi âm nào cũng thể hiện đầy đủ những âm thanh lúc thực hiện việc ghi âm đó
Và bên cạnh đó, việc bản ghi âm thường được lưu trữ trong nhiều thiết bị khác nhau như máy ghi âm, điện thoại, laptop,… nên do tính năng của các thiết bị trên những bản ghi âm sẽ dễ dàng được chỉnh sửa, cắt ghép,… tùy theo mục đích của người sử dụng bản ghi âm muốn nên không phải bản ghi âm nào cũng phản ánh đúng sự thật khi âm thanh được phát ra trên thực tế nên để bản ghi âm phản ánh đúng sự thật cần có những công tác giám định do người có chuyên môn, thẩm quyền thực hiện Vậy có thể nói những bản ghi âm tái hiện lại những âm thanh đã xảy ra trong quá khứ do nó đã được thu lại lúc những âm thanh đó phát ra trên thực tế Tuy nhiên, với việc có thể làm thay đổi nó
do tính năng của các thiết bị công nghệ hiện đại ngày nay thì đa số những bản ghi âm đó không thể hiện được đúng những âm thanh lúc nó được thu lại trước đó Bên cạnh đó thì những bản ghi âm dù không bị thay đổi do con người thì nó cũng bị ảnh hưởng từ điều kiện ngoại cảnh như tiếng gió, tiếng xe chạy,… Nên khi ghi âm lại muốn có một bản ghi
âm thật rõ ràng các âm thanh là điều rất khó, trừ khi việc thực hiện ghi âm được xảy ra ở những nơi yên tĩnh như phòng kín, trong nhà mà xung quanh không có tiếng ồn,…Vậy nên, việc xác định chính xác những âm thanh trong bản ghi âm cũng là một điều rất khó khăn Tóm lại, bản ghi âm phản ánh những âm thanh thực đã được thu lại trong quá khứ sau đó có thể tái hiện lại bằng các thiết bị có thể phát lại được âm thanh
1.1.1.2 Đặc điểm
Thứ nhất, bản ghi âm có thể nghe lại được nhiều lần, sau khi ghi lại thì bản ghi
âm đó đã được lưu lại trong bộ nhớ của thiết bị, nên nếu ta không xóa thì muốn mở lại để nghe khi nào cũng được
Với sự phát triển của các thiết bị ngày nay về ghi âm, bản ghi âm lại các âm thanh được phát lại là khá dễ dàng Việc này có ý nghĩa giúp ta nghe thật kĩ những vấn đề mấu chốt trong đoạn ghi âm, không bỏ qua những âm thanh quan trọng và giúp cho việc giải quyết các vụ án hình sự của các cơ quan có thẩm quyền được dễ dàng hơn khi phát lại nhiều lần thì các cơ quan điều tra sẽ dễ dàng nghe kĩ hay lúc nghe đoạn nào không rõ thì
Trang 10cơ quan điều tra có thể bấm dừng lại ngay đoạn ghi âm đó để nghe rõ ràng hơn, nắm bắt được những tình tiết quan trọng nhất của vụ án
Có những đoạn ghi âm trong những hoàn cảnh bên ngoài không thuận lợi tác động vào bản ghi âm hay do tác động của những âm thanh phụ khác trong lúc ghi âm đó khiến cho những âm thanh ta nghe được không được rõ ràng hay có thể dẫn đến nhầm lẫn trong việc tiếp nhận những âm thanh đó có thể làm người nghe hiểu sai lệch về nội dung của những âm thanh đó Cho nên, các thiết bị ghi âm hiện nay ngoài việc thu âm thì còn có chức năng cho ta nghe lại nhiều lần những âm thanh đó, với chức năng của các thiết bị ghi âm hiện nay giúp cho ta nghe lại nhiều lần là vô cùng quan trọng nó giải quyết được những sai lầm, nhầm lẫn khi ta nghe các đoạn ghi âm mang đến tính chính xác cao cho các chủ thể trong bản ghi âm hay cho người nghe những bản ghi âm không hiểu nhằm những âm thanh đó Với việc bản ghi âm có thể nghe lại nhiều lần còn có thể giúp cho các chủ thể trong đoạn ghi âm có thể xác định lại những âm thanh lúc đó đã quên hay nhầm lẫn trong cuộc nói chuyện lúc đó, một người khi đã từng phát ra những âm thanh trong các cuộc nói chuyện sẽ không nhớ được tất cả những gì mà mình đã nói trong quá khứ nên việc nghe lại nhiều lần sẽ giúp họ gợi nhớ lại những gì mình đã nói và được thu lại trong quá khứ Hay khi nghe lại nhiều lần mọi chuyện sẽ được rõ ràng hơn các chủ thể trong đoạn ghi âm sẽ không thể chối bỏ hay phủ nhận những âm thanh đã phát ra lúc ghi
âm bản ghi âm đó, một đoạn ghi âm không phải lúc nào những âm thanh trong nó cũng được rõ ràng nên những chủ thể trong đoạn ghi âm đó có thể lợi dụng tình tiết để chối bỏ những gì mà mình đã nói trong bản ghi âm đó hay phủ nhận mình có trong đoạn ghi âm
đó, vậy nên việc nghe lại nhiều lần sẽ góp phần cho việc xác định rõ ràng những âm thanh trong đoạn ghi âm
Thứ hai, bản ghi âm chỉ ghi lại được những âm thanh trong phạm vi nhất định, ở
cường độ nhất định mà nó cho phép Chẳng hạn như trong một phạm vi gần, khoảng mười mét, nhưng cường độ âm thanh lúc đó quá nhỏ, không đủ để máy ghi âm nghe được, nên không thể ghi lại âm thanh đó
Cũng như những loại máy móc khác, máy ghi âm cũng chỉ là một loại thiết bị kỹ thuật do con người chế tạo ra, do đó tính năng của nó đương nhiên sẽ phụ thuộc vào con người Trên thực tế, một người có thể nghe được một âm thanh nào đó là do âm thanh đó phát ra ở phạm vi gần với người đó hoặc giả khoảng cách âm thanh phát ra với người nghe được âm thanh không gần lắm nhưng vì cường độ âm thanh quá lớn đủ để người ở
xa có thể nghe được Từ đó, con người chế tạo ra thiết bị ghi lại âm thanh giống như khả năng nghe được của con người Mặt khác, việc chế tạo ra thiết bị ghi âm chỉ ghi lại những
âm thanh trong một phạm vi, cường độ nhất định cũng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Đó
là thu hẹp lại những âm thanh nghe được giúp cho những âm thanh quan trọng mình cần nghe sẽ rõ ràng hơn, ít bị những tạp âm làm ảnh hưởng Như nếu một người muốn thu lại
Trang 11cuộc nói chuyện đùa giỡn với con họ để giữ làm kỉ niệm sau này nhưng bản ghi âm mà người đó thu lại lại nghe không được rõ ràng vì hoàn cảnh xung quanh là khá ồn ào, lẫn nhiều tạp tiếng khác nhau Do đó, mà người này không thu được những âm thanh mà mình mong muốn ghi lại được Nhưng nếu người này để máy ghi âm gần với mình hơn thì khả năng nghe rõ sẽ cao hơn Vậy nên phạm vi và cường độ âm thanh quyết định một phần không nhỏ chất lượng âm thanh thu được Nếu lúc ghi âm để máy ghi âm càng gần, nói chuyện càng lớn thì âm thanh thu được sẽ càng rõ ràng và dễ nghe hơn
Tuy nhiên, chỉ ghi lại trong một phạm vi nhất định thì sẽ gây khó khăn trong việc xác định hoàn cảnh thực tế xung quanh bản ghi âm Chẳng hạn như cơ quan điều tra muốn điều tra chỗ con tin bị bắt giữ, nhưng kẻ phạm tội chỉ gửi bản ghi âm giọng nói của con tin trong phòng kín, do đó không thể nghe được hoặc là nghe được rất nhỏ những tạp
âm bên ngoài, nên rất khó xác định nơi giam giữ con tin gần với nơi nào Vậy nên, tùy vào các thiết bị ghi âm sẽ quyết định đến việc thu âm khác nhau Như có những máy ghi
âm có tính năng hiện đại hơn có thể thu lại những âm thanh ở những khoảng cách xa hơn hay có khả năng lọc âm tốt hơn, nên trong việc ghi âm thì các thiết bị ghi âm như thế nào cũng là một phần quan trọng Nhưng dù là thiết bị nào thì phạm vi ghi âm và cường độ
âm thanh lúc ghi âm cũng là một trong những yếu tố quan trong nhất, nó còn quyết định chất lượng âm thanh ta thu được Như đã nói ở trên máy ghi âm không thể ghi lại những
âm thanh ở phạm vi quá xa đối với thiết bị ghi âm đó hay nếu cường độ âm thanh quá nhỏ thì dù ta để gần cũng chưa chắc thu lại được rõ ràng những âm thanh mà mình muốn lưu lại Phạm vi ghi âm của các thiết bị ghi âm trong một phạm vi ghi âm không phải lúc nào cũng giống nhau còn tùy theo điều kiện bên ngoài Như nếu một máy ghi âm có thể thu lại những âm thanh được con người phát ra bình thường trong phạm vi mười mét chẳng hạn nhưng nếu trong phạm vi đó có sự ngăn cách của một bức tường thì những âm thanh thu được không như dự tính nếu so với việc thu âm mà trong phạm vi đó không có vật cản, chẳng hạn như hai phòng nằm sát nhau được ngăn cách bởi một bức tường cách
âm thì việc ghi âm sẽ thu được những âm thanh nhỏ hơn hay thậm chí không thể thu được những âm thanh đó Cường độ âm thanh cũng giống như phạm vi nếu có sự ngăn cách thì việc thu âm sẽ không như mình mong muốn, còn tùy thuộc vào những vật cản
âm đó
Thứ ba, bản ghi âm có thể được lưu lại, chỉnh sửa, cắt ghép hoặc xóa bỏ tùy theo
nhu cầu của người sử dụng
Hiện nay nhu cầu sử dụng của con người ngày càng lớn đối với các thiết bị máy móc Đối với các thiết bị có thể lưu lại bản ghi âm có nhiều tính năng khác nhau giúp cho người sử dụng có thể lưu lại, xóa bỏ, chỉnh sửa hay cắt ghép một phần hay toàn bộ bản ghi âm mà họ mong muốn vì mục đích của bản thân hay vì một mục đích nào khác Với những đặc điểm này bản ghi âm có thể thay đổi theo nhiều chiều hướng khác nhau nhằm
Trang 12phục vụ lợi ích của người sử dụng Người có bản ghi âm có thể làm thay đổi âm thanh không đúng với sự thật của bản ghi âm, làm dư hay thiếu những âm thanh vốn có của bản ghi âm đó hay có thể xóa bỏ tất cả những âm thanh trong bản ghi âm đó, Do đó, người phạm tội có thể lợi dụng các chức năng trên để trốn tránh, đánh lạc hướng cơ quan tiến hành điều tra trong quá trình điều tra các vụ án dựa vào bản ghi âm bằng cách họ có thể xóa bỏ một phần hoặc toàn bộ những bản ghi âm có thể là chứng cứ trong các vụ án để buộc tội họ hay họ có thể chỉnh sửa, cắt ghép làm thay đổi sự thật trong các đoạn ghi âm gây ra khó khăn trong quá trình điều tra vụ án Chẳng hạn như nếu một bản ghi âm có đoạn nghe rõ thì ta có thể chỉnh sửa để âm thanh khó nghe hơn hay giọng nói trong bản ghi âm hơi trầm ta có thể chọn chế độ điều chỉnh giọng nói để sửa lại thành giọng cao hơn Với những đặc điểm này người có được bản ghi âm có thể làm biến đổi những âm thanh vốn có để được những âm thanh theo họ mong muốn có được, có thể có những người chỉ muốn chỉnh sửa, cắt ghép, lưu lại hay xóa bỏ không vì mục đích nào khác hay không làm ảnh hưởng đến người khác nhưng đây là những đặc điểm có thể tạo cơ hội cho những người có mục đích xấu, họ có thể chỉnh sửa bản ghi âm không đúng với sự thật, cắt ghép âm thanh vu khống người khác, xóa những bản ghi âm quan trọng của người khác,… nên những việc làm như vậy sẽ gây khó khăn cho công tác điều tra tội phạm của các cơ quan pháp luật, vì vậy việc xác định rõ ràng những bản ghi âm là vô cùng quan trọng Một bản ghi âm khi bị chỉnh sửa, cắt ghép thì không phải toàn bộ những âm thanh trong đó điều không chính xác, có thể chính xác một phần hay gần toàn bộ bản ghi âm chỉ thay đổi một số chi tiết nhỏ như bản ghi âm không có được âm thanh trong, dễ nghe thì người chỉnh sửa có thể làm cho những âm thanh trong hay dễ nghe hơn nhưng vẫn không làm thay đổi nội dung của bản ghi âm đó Tuy nhiên việc chỉnh sửa như vậy thì ích nhiều cũng không đảm bảo được sự chính xác của những bản ghi âm đó
Ví dụ: Khi gọi điện đặt số đề, tên Giàu và đồng bọn đã chuyển file vào máy tính
và dùng phần mềm công nghệ cao sửa giọng nói khớp với giọng mà bọn chúng đặt gọi điện trước đó Nếu “đối tác” không chung chi thì tên giàu và đồng bọn sẽ dùng hung khí
có sẵn trên xe thanh toán Ngày 27/5, Viện Kiểm sát Nhân dân Thị xã Thủ Dầu Một cho biết đã phê chuẩn quyết định khởi tố, bắt tạm giam 11 đối tượng trong vụ “lừa đề” bằng công nghệ cao, gây náo loạn thị xã Bình Dương vào ngày 9/5 vừa qua để điều tra làm rõ hành vi “cưỡng đoạt tài sản”.2
Từ ví dụ này có thể thấy rằng việc chỉnh sửa giọng nói là không có gì khó khăn đối với Giàu, chỉ cần có phần mềm công nghệ cao là có thể làm được
Qua những đặc điểm này có thể thấy đây là một trong những đặc điểm khá quan trọng của các bản ghi âm, nó có thể tạo điều kiện cho tội phạm làm sai sự thật của các vụ
2 Quỳnh Mai, Khởi tố băng “lừa đề” gây náo loạn Bình Dương, Báo điện tử Việt Báo, Phap-luat/Khoi-to-bang-lua-de-gay-nao-loan-Binh-Duong/75289584/218/ , [truy cập ngày 15-9-2014]
Trang 13http://vietbao.vn/An-ninh-án nên khi có được những bản ghi âm cần phải được giám định chặt chẽ nhằm trhttp://vietbao.vn/An-ninh-ánh những sai sót hay bỏ loạt tội phạm do những bản ghi âm đó cung cấp
Thứ tư, bản ghi âm có thể được sao chép, nhân bản trong nhiều thiết bị khác nhau,
nhằm phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau
Tình hình kinh tế, xã hội ngày một phát triển nhu cầu con người ngày một tăng lên mọi người muốn lưu giữ lại những âm thanh đã phát ra trong cuộc sống, không những một bản mà là nhiều bản ghi âm đối với nội dung âm thanh giống nhau để gửi cho bạn bè, người thân cùng nghe được hoặc là với nhu cầu của những người kinh doanh, người làm việc muốn đảm bảo tính an toàn của những bản ghi âm đã thu được người ta đã sao chép
ra làm nhiều bản để lưu ở nhiều bộ nhớ khác nhau trên cùng một thiết bị hoặc trên nhiều thiết bị khác nhau Việc sao chép, nhân bản như vậy để yên tâm rằng dù làm mất bản ghi
âm đó trên một trong những bộ nhớ thì dù sao cũng còn lưu lại ở những bộ nhớ khác hay còn những bản khác do nhân bản mà có Với chức năng sao chép, nhân bản đã giúp cho công việc của con người trở nên thuận tiện hơn Như bản thân mình muốn lưu lại kỉ niệm hát một bài hát với một người bạn thì khi thu âm lại có thể nhân thành hai bản ghi âm có nội dung giống nhau và mỗi người sẽ có một bản
Tuy nhiên, không phải lúc nào việc sao chép, nhân bản bản ghi âm cũng vì mục đích tích cực Có những trường hợp việc sao chép, nhân bản những bản ghi âm với những nội dung ghi âm về quyền riêng tư, bí mật đời tư của những người bị ghi âm thì có thể người sao chép, nhân bản muốn dùng những bản ghi âm đó để đưa lên mạng internet để bôi nhọ danh dự nhân phẩm của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến người khác Hay hơn thế nửa, khi một người có được những bản ghi ghi lại cuộc nói chuyện của những người khác với nội dung trong bản ghi âm là trái pháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc là những bí mật không thể để người khác biết Thì người có được bản ghi âm đó sẽ dùng bản ghi âm đó để tống tiền những người bị ghi âm một hoặc nhiều lần do họ có thể sao chép, nhân bản những bản ghi âm đó Như một người khi có được một bản ghi âm về bí mật đời tư của một người khác họ có thể tống tiền người đó nhiều lần bằng cách nhân bản ghi âm đó ra làm nhiều bản Như vậy, người bị tống tiền sẽ bị phụ thuộc vào người tống tiền và chịu thiệt hại về bản thân nhiều lần Do đó việc sao chép, nhân bản là hết sức nguy hiểm trong nhiều trường hợp có những người vì lợi ích cá nhân mà làm ảnh hưởng đến lợi ích của người khác Việc sao chép, nhân bản là không có hại nó chỉ tùy vào mục đích của người sao chép, nhân bản đó Việc sao chép những bản ghi âm thường là do những người không phải là người ghi lại bản ghi âm đó mà thường là những người muốn
có những bản ghi âm đó nên họ muốn sao chép lại để lưu trữ nhưng cũng có những người
vì lợi ích bản thân mà sao chép lại để đem lại lợi ích cho bản thân mà làm ảnh hưởng đến người khác, như sao chép bí mật đời tư của người khác do vô tình phát hiện được bản ghi
âm bí mật của người khác Còn nhân bản những bản ghi âm thường do những người thu
Trang 14lại được bản ghi âm muốn nhân lên thành nhiều bản có thể để lưu lại hay đem cho người khác nghe hay cũng có thể vì một mục đích xấu nào đó Nói tóm lại, bản ghi âm có thể sao chép hay nhân bản là một đặc điểm có lợi cho người sử dụng, nó đem đến sự an toàn cho việc giữ gìn những bản ghi âm nhưng việc sao chép, nhân bản cần phải cẩn trọng vì
nó có thể là cơ hội cho những người có ý đồ xấu có thể lợi dụng để gây hại cho những người có liên quan đến bản ghi âm đó
1.1.2 Khái niệm bản ghi hình
1.1.2.1 Định nghĩa
Sự phát triển hơn nữa trong nhu cầu ngày càng hiện đại của con người đó là không những ghi lại những âm thanh đã phát ra mà còn ghi lại cả những hình ảnh, hoạt động đã diễn ra Nắm bắt được nhu cầu này, các nhà nghiên cứu đã cho ra đời những dụng cụ với tính năng ghi lại hình ảnh đã diễn ra xung quanh
Về luật học, tương tự như bản ghi âm, thì bản ghi hình cũng chưa có một khái niệm cụ thể nào, nó chỉ được xây dựng dựa vào tính năng và mục đích sử dụng
Theo từ điển Tiếng việt của Viện ngôn ngữ học 2000 giải thích hình ảnh là “hình
người, vật, cảnh tượng thu được bằng khí cụ quang học như máy ảnh hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí óc, là khả năng gợi tả sống động trong cách diễn đạt”
Theo triết học, hình ảnh được coi “là kết quả của sự phản ánh khách thể, đối
tượng vào ý thức con người Ở trình độ cảm tính, hình ảnh là những cảm giác, tri giác và biểu tượng Ở trình độ tư duy, đó là những khái niệm, phán đoán và suy luận Về mặt nguồn gốc, hình ảnh là khách quan; về cách nhận thức tồn tại, hình ảnh là chủ quan Hình thức thể hiện vật chất của hình ảnh là các hành động thực tiễn, ngôn ngữ, các mô hình kí hiệu khác nhau”
Dưới góc độ pháp lý, hình ảnh được hiểu là các hình thức nghệ thuật đã ghi lại hình dáng của con người hay các vật thể khác, chẳng hạn như chụp lại, quay lại
Con người chỉ có thể nhìn thấy được hình ảnh trong phạm vi tầm mắt của người
đó, và tốc độ ánh sáng cho phép của những hình ảnh đó
Như vậy, bản ghi hình là tác phẩm của hoạt động chụp, quay lại những hình ảnh của cả động vật và thực vật đã diễn ra trong thế giới vật chất trong một phạm vi, ánh sáng nhất định mà ta có thể nhìn thấy được, bao gồm hình ảnh tĩnh và hình ảnh động Chẳng hạn như máy chụp ảnh có thể ghi lại những hình ảnh tĩnh, máy quay có thể ghi lại hình ảnh con người đang làm việc, hình ảnh con vật đang đi,… Sau khi ghi lại những hình ảnh
đó thì bản ghi hình sẽ được lưu vào bộ nhớ của thiết bị ghi hình đó và được phát lại để xem bất cứ lúc nào Ngoài ra sự vượt trội về tính năng của bản ghi hình so với bản ghi âm
Trang 15là bản ghi hình chẳng những lưu lại hình ảnh mà đồng thời còn có thể lưu lại được những
cụ thể Ngoài ra, việc các thiết bị ghi hình động còn có thể lưu được những âm thanh còn
làm cho những bản ghi hình càng thể hiện sinh động rõ ràng hơn khi ta xem lại, từ đó ta còn có thể đánh giá tính đúng đắn trong bản ghi hình đó
Tuy nhiên các bản ghi hình tái hiện lại những hình ảnh trong quá khứ không phải lúc nào cũng chính xác, qua các tính năng của các thiết bị ghi hình hiện nay có thể nói ngày càng hiện đại nên việc làm thay đổi những bản ghi hình là khá dễ dàng như ta có thể chỉnh sửa, cắt ghép,… những hình ảnh thu được thành những hình ảnh khác không đúng
Trang 16với thực tế lúc ghi hình Do những tính năng này mà việc những bản ghi hình thường có
sự chỉnh sửa trong đó nên có thể với những bản ghi hình là bằng chứng trong việc phạm tội của tội phạm sẽ gây ra những khó khăn cho việc điều tra tội phạm
từ đó lưu lại những khoảnh khắc đó vào các thiết bị ghi hình Ngoài ra, các thiết bị ghi lại hình ảnh còn có chức năng ghi lại những âm thanh phát ra đồng thời với những hình ảnh
ta thu được lúc đó Do đó rất dễ dàng cho việc xem lại để biết đầy đủ những thông tin về hoàn cảnh xảy ra sự việc lúc đó Ví dụ: Ông K.L., ở tỉnh Đắk Lắk tự bỏ tiền sắm thiết bị ghi lại hình ảnh phá rừng, khai thác gỗ lậu để gửi đến cơ quan chức năng và báo chí Và
từ những chứng cứ ông K.L thu được, nhiều vụ phá rừng, khai thác gỗ lậu đã bị phanh phui Từ những chứng cứ của ông K.L cung cấp đầu năm 2014, cơ quan chức năng đã xử
lý hình sự hành vi nhận 10 triệu đồng hối lộ của đối tượng chở gỗ trái phép đối với một
xã đội phó Trong những vụ này ông K.L đã quay cảnh gỗ lậu.3
Từ ví dụ này có thể thấy các thiết bị ghi hình có thể dể dàng ghi lại những hình ảnh quan trọng xảy ra trên thực tế lúc sự việc xảy ra, qua những bản ghi hình đó ta có thể nắm bắt được tình tiết của vụ án xem những ai có liên quan và mau chóng tìm ra được tội phạm Với việc lưu lại được những hình ảnh, hoạt động hay diễn biến những sự vật sự việc đã xảy ra sẽ giúp cho mọi người không mất đi những hình ảnh cần nhớ, lưu lại được những hình ảnh đó trong các thiết bị an toàn mà họ sẽ không bị mất đi Khi cần xem lại thì chỉ việc mở các thiết bị lưu hình ảnh thì sẽ xem lại được một cách dễ dàng, những sự vật, sự việc thì xảy ra muôn màu muôn vẻ, chúng ta không thể nào nhớ hết tất cả các hình ảnh của sự vật sự việc được
vì thế việc các thiết bị ghi hình lưu lại được những hình ảnh sẽ giảm tải những hình ảnh cần nhớ của con người, mà chúng ta còn có thể xem lại đầy đủ những chi tiết về những hình ảnh, âm thanh mà ta thu được trong các bản ghi hình Hay đối với các vụ án vật chứng là vô cùng quan trọng nhưng không phải vật chứng nào ta cũng có thể thu thập để đem vào hồ sơ vụ án được, theo Khoản 1 Điều 75 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì
“Vật chứng cần được thu thập kịp thời, đầy đủ, được mô tả đúng thực trạng vào biên bản
và đưa vào hồ sơ vụ án Trong trường hợp vật chứng không thể đưa vào hồ sơ vụ án thì phải chụp ảnh và có thể ghi hình để đưa vào hồ sơ vụ án Vật chứng phải được niêm
3 Trung Dũng, Bí mật ghi hình lâm tặc phá rừng, Báo điện tử Tuổi trẻ, 2014, hoi/20141006/bi-mat-ghi-hinh-lam-tac-pha-rung/654577.html , [truy cập ngày 1-11-2014]
Trang 17http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-phong, bảo quản.” Từ đó việc có thể thấy các bản ghi hình là vô cùng quan trọng trong
việc lưu giữ những hình ảnh quan trọng trong nhiều lĩnh vực khác nhau
Thứ hai, bản ghi hình có thể ghi lại cả những hình ảnh động và cả những hình ảnh
tĩnh
Về đặc điểm này, có thể nói những thiết bị ghi hình có thể ghi lại những hình ảnh đứng yên, hay còn được gọi là hình ảnh tĩnh; thứ hai là ghi lại những hình ảnh lẫn sự chuyển động của hình ảnh hay còn gọi là hình ảnh động
Nói về hình ảnh tĩnh, ta nghĩ đến ngay đó là những hình ảnh đứng yên, không di chuyển, chẳng hạn như bức ảnh Tuy nhiên không phải nhưng hình ảnh trong thực tế lúc nào cũng đứng yên để ta chụp lại, mà có thể là những hình ảnh đó đang chuyển động nhưng do tính năng của máy ảnh chỉ cho phép ta lưu lại những khoảnh khắc mà ta bấm nút chụp lại và nó có thể gọi là những hình ảnh tĩnh Như một người đi chơi phát hiện hai người đang có hành động chặt phá rừng bừa bãi và đã nhanh chóng dùng máy ảnh chụp lại khoảnh khắc đó, chứ không thể lưu lại được toàn bộ diễn biến, hành động chặt phá rừng cụ thể như thế nào Do đó, khi xem lại hình ảnh người khác sẽ không nắm bắt được
sự việc diễn biến như thế nào Cho nên có thể nói, máy ảnh chỉ ghi lại những hình ảnh
vào một thời điểm nhất định, như vậy không thể phản ánh đầy đủ và chính xác sự thật đã
xảy ra, mà nhìn hình trong máy ảnh như thế nào thì ta sẽ nghĩ thực tế như thế ấy, điều đó hoàn toàn làm sai lệch suy nghĩ của người xem Nên những bản ghi hình tĩnh ta không thể chỉ nhìn những hình ảnh đó mà kết luận cả một vấn đề nào đó, mà từ những hình ảnh
đó ta cần phải kết hợp với sự vật sự việc trước, trong và sau đó để có thể kết luận về một vấn đề nào đó chứ ta không nên vội vàng kết luận chỉ qua một tấm ảnh được Những bản ghi hình tĩnh có thể nói chỉ phản ánh một phần sự vật, sự việc lúc xảy ra chứ nó không thể hiện hết toàn bộ sự vật, sự việc lúc ghi lại hình ảnh đó
Còn về bản ghi hình động, có thể nói đó là những hình ảnh cùng với cả sự chuyển động của chính những hình ảnh đó, có khi còn kèm theo những âm thanh Tức là khi dùng máy ghi hình có chức năng quay (còn được gọi là máy quay) ghi lại hình ảnh trong một khoảng thời gian xác định (thời gian quay tùy theo ý muốn của con người và tùy theo
bộ nhớ của máy cho phép) Sau đó, khi mở lại xem thì toàn bộ quá trình mà những hình ảnh ghi được cử động như thế nào, di chuyển như thế nào hay diễn biến của các sự vật,
sự việc như thế nào đều được tái hiện một cách đầy đủ và chính xác Cho nên, khi ta xem lại những hình ảnh động này sẽ giúp ta nhìn nhận đúng sự vật, sự việc lúc được ghi lại,
độ chính xác sẽ cao hơn Như ở đặc điểm thứ nhất đã nói, nếu máy ảnh chỉ chụp lại được một hình ảnh cụ thể như hình ảnh chặt phá rừng thì người xem không thể nào nhận định một cách chính xác được tình hình lúc đó như thế nào Nhưng nếu là máy quay thì có thể quay lại tất cả quá trình hai người đó đã chặt phá rừng Như vậy thì nhận định sẽ ít bị sai lệch hơn Với những bản ghi hình động ta có thể xem lại cả quá trình sự vật sự việc lúc ta
Trang 18ghi hình sẽ làm cho ta nắm bắt được đầy đủ những tình tiết, hình ảnh, âm thanh lúc ghi hình lại tránh những sai lầm nhận định khách quan về một vấn đề nào đó Những bản ghi hình động giống như ta đang tái hiện lại toàn bộ những gì đã xảy ra lúc ta ghi hình không giống như hình ảnh tĩnh chỉ biết được một tình tiết nào đó lúc xảy ra những sự vật, sự việc đó
Thứ ba, bản ghi hình cũng có những đặc điểm cơ bản như bản ghi âm có thể xem
lại nhiều lần, chỉ có thể ghi lại trong phạm vi nhất định, bản ghi hình có thể được chỉnh sửa, cắt ghép, lưu lại, xóa bỏ, nhân bản sao chép tùy theo mục đích người sử dụng,… Giống như bản ghi âm bản ghi hình trên các thiết bị máy móc ngày nay việc chỉnh sửa, sao chép hay nhân bản, là khá dễ dàng để thực hiện và hầu như các bản ghi hình người lưu đều muốn chỉnh sửa cho chất lượng các bản ghi hình được tốt hơn, hình ảnh âm thanh
rõ nét hơn Vì vậy, các bản ghi hình thường bị làm thay đổi các hình ảnh, âm thanh trong bản ghi hình đó khiến cho bản ghi hình không còn thể hiện chính xác những hình ảnh lúc được ghi lại Nếu các bản ghi hình có liên quan đến các vụ án hình sự thì vấn đề xem xét, kiểm tra là rất quan trọng để tránh sự không chính xác trong các bản ghi hình đó Ngoài
ra với những đặc điểm đó còn là một cơ hội để tội phạm lợi dụng để đem đến lợi ích cho bản thân như chỉnh sửa những bản ghi hình để đổ oan cho người khác Một người có thể
dễ dàng chỉnh sửa hình ảnh của người khác để phục vụ cho lợi ích của mình nếu có được hình ảnh mà mình mong muốn như có thể chỉnh sửa hình ảnh của người khác để tung lên mạng internet nhằm mục đích bôi nhọ người khác
Với những đặc điểm trên còn rất thuận tiện để giữ được những bản ghi hình lâu dài mà bản thân người ghi lại những hình ảnh đó muốn, họ có thể lưu trong nhiều thiết bị khác nhau như điện thoại, máy tính,… hay họ có thể nhân bản thành nhiều bản khác nhau làm sao để giúp họ giữ được những bản ghi hình đó Nên những bản ghi hình thường có nhiều bản, có bản gốc và có thể sao chép ra làm nhiều bản phụ cho nên sẽ rất khó để xác định bản nào là bản gốc, bản phụ thực sự Hay một số người có thể lợi dụng những đặc điểm đó để đem lại lợi ích cho mình Như một người chụp được một bức ảnh đẹp bán cho một người khác và nói rằng đây là bản gốc và chỉ có một bản nhưng thực chất là đã photo
ra nhiều bản phụ khác Do vậy nhờ có những đặc điểm trên mà bản ghi hình dễ dàng trở thành công cụ cho những tội phạm, những người vì lợi ích bản thân mà lừa gạt người khác Với những đặc điểm trên việc những bản ghi hình hiện nay bị chỉnh sửa, cắt ghép,… là điều không tránh khỏi, nên nếu những bản ghi hình bình thường như một bức ảnh thì không có gì đáng nói, nếu nó là một bằng chứng quan trọng trong các vụ án thì sẽ gây ra nhiều khó khăn cho các cơ qua điều tra tội phạm hiện nay Việc xem xét kĩ, đánh giá đúng những bản ghi hình là vô cùng quan trọng, để không có những trường hợp bỏ lọt tội phạm hay oan sai Vấn đề giám định hình ảnh cũng là rất quan trọng, mà bản thân bản
Trang 19ghi hình việc chỉnh sửa, cắt ghép, sao chép,… là điều dễ dàng thì việc xác định tính đúng đắn của các hình ảnh trong các bản ghi hình là rất cần thiết
Kết luận chung về bản ghi âm, ghi hình: Bản ghi âm, ghi hình là kết quả của các
hoạt động ghi âm, ghi hình từ các thiết bị có thể thu lại những âm thanh hình ảnh trong quá khứ, sau đó tái hiện lại những gì đã được ghi âm, ghi hình Tuy nhiên, thì không phải
những bản ghi âm, ghi hình lúc nào những thể hiện chính xác những âm thanh hình ảnh
đã được thu lại trong quá khứ lúc được ghi lại Có thể do nhiều nguyên nhân như là do bản thân các thiết bị ghi âm, ghi hình nhưng quan trọng hơn là do sự chỉnh sửa, cắt ghép,… của con người Những bản ghi âm, ghi hình có nhiều đặc điểm nên có thể dể dàng làm thay đổi nó để phù hợp với mục đích của người sử dụng Những bản ghi âm, ghi hình có thể được chỉnh sửa, cắt ghép, sao chép,… nên việc xác định tính đúng đắn, khách quan của nó là rất khó khăn Vậy nên, nếu những bản ghi âm, ghi hình là cơ sở để giải quyết vụ án hình sự cần được xem xét, đánh giá một cách rõ ràng và chính xác để tránh những sai lầm trong giải quyết vụ án dẫn đến án oan cho những người vô tội và không bỏ lọt tội phạm đảm bảo tính công bằng, khách quan trong xã hội Vì vậy, bản ghi
âm, ghi hình trong vụ án có vai trò quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự Việt Nam
1.2 Vai trò của bản ghi âm, ghi hình trong tố tụng hình sự Việt Nam
1.2.1 Bản ghi âm ghi hình có thể mang giá trị như những chứng cứ trong các vụ
án hình sự
Do sự phát triển của xã hội hiện nay, các vụ án hình sự cũng ngày một diễn ra phức tạp hơn, tính chất ngày càng nghiêm trọng hơn và quan trọng hơn là các tội phạm ngày càng thực hiện việc phạm tội tinh vi hơn gây nhiều khó khăn cho việc tìm ra người phạm tội của các cơ quan tiến hành tố tụng Vì vậy, việc xác định chứng cứ trong các vụ
án hình sự là vô cùng quan trọng nhưng không phải chứng cứ nào cũng được ghi nhận cụ thể trong pháp luật hình sự hiện nay như nguồn chứng cứ từ ghi âm, ghi hình Chứng cứ
là những gì có thật,4 hay là những thông tin, tài liệu mà các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập được, kiểm tra, đánh giá theo quy định của pháp luật để giải quyết vụ án hình sự hay
hỗ trợ việc điều tra tìm ra tội phạm Vậy liệu những bản ghi âm ghi hình có phải là chứng cứ? Hiện nay Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành chưa có một quy định cụ thể nào về chứng cứ ghi âm, ghi hình nhưng có thể hiểu những bản ghi âm, ghi hình có thể xác định
là chứng cứ thuộc các tài liệu, đồ vật khác được quy định cụ thể trong Điều 78 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Việc không quy định cụ thể về chứng cứ ghi âm, ghi hình trong
Bộ luật tố tụng hình sự sẽ làm giảm đi một nguồn chứng cứ quan trọng để giải quyết các
vụ án hình sự Chứng cứ là căn cứ để tìm ra tội phạm nên nếu trong một vụ án không có nguồn chứng cứ nào khác ngoài bản ghi âm, ghi hình nhưng bản ghi âm ghi hình lại
4 Bộ luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2003, điều 64, khoản 1
Trang 20không được quy định cụ thể vào trong Bộ luật tố tụng hình sự thì sẽ gây ra nhiều khó khăn trong việc giải quyết vụ án đó Mà chứng cứ là để chứng minh tội phạm, tìm ra người phạm tội giải quyết vụ án đúng đắn, khách quan còn những bản ghi âm, ghi hình thu lại được những âm thanh, hình ảnh trong quá khứ lúc diễn ra các vụ án hình sự nên
nó có thể là cơ sở để chứng minh tội phạm hữu hiệu nhất, nếu những hình ảnh, âm thanh trong các bản ghi âm, ghi hình ghi lại được những tình tiết có liên quan đến vụ án thì đó
có thể là một chứng cứ quan trọng, vì chứng cứ phải là những gì có thật, khách quan nhằm mục đích chứng minh tội phạm, hỗ trợ quá trình tìm ra tội phạm Nhưng để bản ghi
âm, ghi hình có thể coi là một chứng cứ trọng vụ án thì phải đáp ứng những yêu cầu để trở thành một chứng cứ có giá trị, nó phải được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập theo đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự
Xét về bản chất của bản ghi âm, ghi hình là ghi lại những âm thanh, hình ảnh đã được diễn ra trong quá khứ còn quá trình thực hiện các vụ án hình sự là quá trình cũng xảy ra trong quá khứ, để tái hiện lại những hình ảnh, âm thanh của vụ án xảy ra thì bản ghi âm, ghi hình là những công cụ hữu hiệu nhất để chứng minh tội phạm, tìm ra hướng
giải quyết vụ án Theo điều 74 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “Vật chứng là những vật
dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết phạm tội , vật là đối tượng của tội phạm cũng như tiền bạc và vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội”, vậy bản ghi âm, ghi hình là có thể mang dấu vết tội phạm, chứng minh tội
phạm và người phạm tội nên việc coi bản ghi âm, ghi hình là một vật chứng để tìm ra tội phạm nhưng như đã nói ở trên nó phải được thu thập theo một trình tự, thủ tục mà luật định Bên cạnh đó, có thể những bản ghi âm, ghi hình không cụ thể chứng minh tội phạm hay người phạm tội nhưng nó có thể là một tài liệu liên quan đến quá trình vụ án từ đó
mà cơ quan điều tra có thể lần theo dấu vết để tìm ra tội phạm
Ví dụ: anh Nguyễn Đỗ Thọ, chủ khu trọ sinh viên Đăng Khoa (phường Hiệp Thành), cung cấp cho các “hiệp sĩ” Bình Dương đoạn video đặc biệt Theo đó, để có thể theo dõi khu trọ từ xa, anh Thọ cho gắn 4 camera quanh khu trọ Ngày 29-1, cửa 3 phòng trọ bị mở, ổ khóa biến mất, đồ đạc trong phòng bị lục tung Anh Thọ xem lại camera, phát hiện buổi trưa hôm đó có một gã to cao, ăn mặc sang trọng, đội mũ bảo hiểm nâu sọc trắng, đi xe SH màu đen vào khu trọ Những hình ảnh trong camera cho thấy lúc gã chạy xe vào, khu trọ vắng người, hầu hết các phòng đều đóng cửa Ban đầu, gã đứng trước một phòng trọ, có một sinh viên nam chạy xe máy ngang qua, gã liền lấy điện thoại
ra giả vờ nghe Nhận được thông tin, “hiệp sĩ” Nguyễn Thanh Hải, Đội trưởng Đội Phòng chống tội phạm phường Phú Hòa và hàng chục “hiệp sĩ” trong Thành phố chia nhau truy tìm Sau nhiều tháng lùng sục, khoảng 8 giờ ngày 14-5, “hiệp sĩ” Huỳnh Thanh Hải, Đội Phòng chống tội phạm phường Phú Lợi, đang đi trên đường Trịnh Hoài Đức (Thành phố Thủ Dầu Một) thì phát hiện một thanh niên chạy xe SH màu đen giống với tấm hình mà
Trang 21“hiệp sĩ” Nguyễn Thanh Hải đã đưa cho anh xem nên cùng các “hiệp sĩ” kết hợp công an
áp giải đối tượng về đồn.5
Từ ví dụ trên có thể thấy cơ quan điều tra đã dựa vào máy camera để tìm người trong đoạn camera chống trộm của nhà trọ lúc xảy ra vụ án, từ đó có thể tìm ra thủ phạm, nên mặc dù những bản ghi âm, ghi hình như vậy không thể chứng minh được cụ thể được tội phạm nhưng nó vẫn có thể là cơ sở để cơ quan điều tra có thể tìm ra được tội phạm Tuy không phải lúc nào những bản ghi âm, ghi hình cũng là chứng cứ trong việc giải quyết vụ án hình sự nhưng nếu được xem là bằng chứng trong các vụ án thì nó có thể cột tội hay cởi tội một ai đó bằng những âm thanh, hình ảnh khách quan trong những bản ghi
âm đó Qua đó có thể thấy tuy là một nguồn chứng cứ quan trọng trong các vụ án nhưng chưa được ghi nhận cụ thể trong pháp luật tố tụng hình sự là có thể bởi sự phức tạp trong các bản ghi âm, ghi hình như việc những bản ghi, âm ghi hình có thể bị chỉnh sửa, cắt ghép, bị cày bẫy khi ghi âm ghi hình,… là điều khiến bản ghi âm ghi hình không được xem trọng trong các vụ án hiện nay và việc xác định những âm thanh, hình ảnh là tương đối phức tạp nên để đươc coi là chứng cứ trong các vụ án bản ghi âm, ghi hình phải trải qua nhiều quá trình xem xét, giám định để có thể coi là một chứng cứ hợp pháp
Có thể thấy rằng âm thanh và hình ảnh là những chứng cứ phi vật thể Để làm rõ vấn đề này, trước tiên ta cần tìm hiểu khái niệm “phi vật thể”
Phi có nghĩa là không phải, không có cái gì đó, nó mang nghĩa phủ định lại các sự vật, sự việc nào đó Từ “phi” thường đi kèm với các từ ngữ chỉ sự vật, sự việc nào đó, chẳng hạn như: phi lý, có nghĩa là không có lý lẽ; hoặc là phi nghĩa, tức là không có ý nghĩa, v.v… Ở đây ta sẽ tìm hiểu về từ “phi vật thể” Như vậy, phi vật thể có nghĩa là không phải là vật thể Vậy vật thể là gì? Theo vật lý học định nghĩa về vật thể như sau:
“vật thể là vật có thuộc tính vật lý nhất định”
Vật với ý nghĩa vật lý tồn tại với mọi trạng thái (rắn, lỏng, khí), đồng thời vật phải
là vật hữu hình, có thể cảm nhận được thông qua việc con người có thể cầm, nắm được
và chiếm một phần trong không gian
Các thuộc tính vật lý nhất định của vật như là hình dạng, kích thước, khối lượng
và tính năng sử dụng
Như vậy, vật thể là những vật hữu hình mà con người có thể cảm nhận được, tồn tại ở mọi trạng thái với hình dạng, kích thước, khối lượng và tính năng sử dụng riêng biệt
Từ những phân tích trên ta có thể hiểu “phi vật thể” là những gì không phải là vật thể, hay nói cách khác, đó không phải là những vật hữu hình, con người không thể cầm,
5 Bắt “trùm trộm” nhờ camera, Báo điện tử Người lao động, 2013, nuoc/bat-trum-trom-nho-camera-20130517103018916.htm , [truy cập ngày 1-11-2014]
Trang 22http://tuyensinh.nld.com.vn/thoi-su-trong-nắm được, chúng không có hình dạng, kích thước, khối lượng và tính năng sử dụng riêng biệt
Rõ ràng, âm thanh, hình ảnh không hề có hình dạng, kích thước hay khối lượng nào cả, nó không hề chiếm một phần nào trong không gian, và con người chúng ta cũng không thể cầm, nắm nó được, mà âm thanh, hình ảnh chỉ được lưu trữ trong các vật thể khác thông qua thao tác “ghi” Có nghĩa là khi âm thanh nào đó phát ra, hay hình ảnh nào
đó xuất hiện thì sẽ được một số thiết bị lưu trữ lại Nếu có thể cầm, nắm được thì chỉ có thể cầm, nắm được những vật thể chứa đựng các âm thanh, hình ảnh đó thôi Và kích thước, hình dạng, khối lượng cũng là của các vật thể ấy chứ không phải của âm thanh, hình ảnh Các vật thể chứa đựng âm thanh, hình ảnh có thể là máy vi tính, điện thoại, băng, đĩa,…
Ðặc trưng dễ nhận biết của phi vật thể là nó không tồn tại dưới dạng vật chất, vật thể cụ thể mà tiềm ẩn trong trí nhớ, tâm thức của con người và chỉ bộc lộ thông qua hành
vi và hoạt động của con người Cụ thể ở đây là nội dung bản ghi âm, ghi hình (tức là âm thanh, hình ảnh) chỉ được thể hiện khi con người thực hiện thao tác mở lại thiết bị ghi
âm, ghi hình đó thôi Chứ nếu như con người không làm gì hết thì không thể nào nghe hoặc xem được nội dung của bản ghi âm, ghi hình đó
Bản ghi âm, ghi hình có một đặc điểm đó là có thể nhân bản, lưu truyền trong cộng đồng Đặc điểm này giống với đặc điểm của các phi vật thể khác
Cho nên có thể nói, các thiết bị lưu trữ âm thanh, hình ảnh là rất quan trọng, chúng
mã hóa những âm thanh, hình ảnh có thực trong thực tế thành những âm thanh, hình ảnh được lưu trong chính bộ nhớ của các thiết bị đó Do đó, dù ta đi đâu thì cũng có thể đem những âm thanh, hình ảnh đó theo được Việc này rất có ích trong việc giải quyết vụ án hình sự Vì khi những âm thanh, hình ảnh có thực trong thực tế phản ánh được tội phạm
và người phạm tội thì việc “ghi” lại âm thanh, hình ảnh đó là việc làm hết sức cần thiết Vậy, các thiết bị lưu trữ âm thanh, hình ảnh chính là vật có giá trị chứng minh tội phạm
và người phạm tội Mà theo Điều 74 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định những vật có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội là vật chứng Như vậy cũng có nghĩa là nếu âm thanh, hình ảnh trong thực tế thì chỉ là những chứng cứ phi vật thể, nhưng nếu được “ghi” vào trong một phương tiện nhất định (băng, đĩa, điên thoại,…) thì khi đó nó sẽ trở thành vật chứng
1.2.2 Bản ghi âm, ghi hình hỗ trợ thông tin về tội phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng
Thứ nhất, đối với bản ghi âm, ghi hình ghi lại những cuộc đối thoại, những hình ảnh, hoạt động của những người liên quan giúp cho cơ quan điều tra, cơ quan xét xử nắm bắt đầy đủ và chính xác hơn các tình tiết trong vụ án một cách rõ ràng và hợp lý
Trang 23Khi nghe lại đoạn ghi âm thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ dễ dàng biết được nội dung cuộc nói chuyện; đồng thời những âm thanh đi kèm ở xung quanh sẽ có thể phỏng đoán được địa điểm ghi âm là ở nơi như thế nào, để từ đó cơ quan tiến hành tố tụng có thể suy đoán được sự việc đã xảy ra như thế nào và ở đâu Chẳng hạn như có một đám người bắt cóc trẻ em để tống tiền, khi họ ghi âm lại giọng nói của con tin hoặc là khi họ gọi điện thoại để tống tiền đến gia đình của con tin, nếu người nhà đã báo công an thì khi nghe được đoạn ghi âm đó thì cơ quan điều tra có thể dùng bản ghi âm đó để kiểm tra về giọng nói, để từ đó xác định được các đối tượng tình nghi, đồng thời những âm thanh nghe được trong bản ghi âm đó, bất kể là âm thanh lớn nhỏ gì thì cơ quan điều tra cũng không bỏ sót, vì từ những âm thanh đó, cơ quan điều tra sẽ xử lý số liệu về âm thanh để biết được đó là những âm thanh được phát ra từ cái gì, rồi sau đó rà soát các địa điểm nào
có thể phát ra những âm thanh đó Như vậy sẽ rất dễ dàng cho việc tìm ra nơi giam giữ con tin của bọn bắt cóc
Tuy nhiên, với bản ghi âm thì vẫn chưa thể nào giúp cơ quan điều tra nắm bắt được đầy đủ thông tin mà nó chỉ làm cơ sở để những người điều tra có thể phỏng đoán được các tình huống đã xảy ra Vì bản ghi âm chỉ có thể cung cấp được âm thanh đã xảy
ra chứ chưa cung cấp được hoàn cảnh thực tế, diễn biến sự việc xảy ra như thế nào, chưa biết được hình dạng của những người được ghi âm lại Nhưng nếu là bản ghi hình thì có thể biết được các đối tượng đó là ai, sự việc, diễn biến hành động của các đối tượng trong bản ghi hình đó như thế nào, biết được rằng lời nói có thật sự khớp với hành vi mà họ đã làm hay không Hoặc cũng có thể biết được lý do tại sao họ lại làm như vậy
Ví dụ: Lợi là một sĩ quan trẻ công tác tại một đơn vị quân đội ở Nghệ An, một hôm Lợi vào Hà Tĩnh thăm bạn, họ rủ nhau ra nhà hàng nhậu Ở bàn bên cạnh bàn của Lợi có một cô gái tên Trinh thỉnh thoảng lại nhìn sang bàn của Lợi Thấy vậy Lợi chủ động đi lại bàn cô gái để bắt chuyện làm quen và xin số điện thoại, sau đó Lợi quay về bàn của mình và cô gái cũng rời khỏi nhà hàng Chừng 45 phút sau, khi cuộc nhậu đã ngà ngà, bắt ngờ điện thoại Lợi báo tin nhắn “Anh đã nhậu xong chưa, thật sự em buồn em muốn tâm sự với anh ngay bây giờ…” nên hai người đã hẹn gặp nhau ở khách sạn TA, phường Thạch Linh, Thành phố Hà Tĩnh Lợi đẩy cửa bước vào, thấy Trinh đã nằm lặng
lẽ trên giường kê sát tường Anh cẩn thận đóng cửa, uống ngụm nước xả bia và tiến lại phía người đẹp Trinh nằm vắt tay lên đầu, rất tư lự, chiếc chăn bông mỏng mảnh kéo ngang người Lợi mạnh dạn lật nhẹ mảnh chăn Chiếc áo quá nhỏ không đủ che phần thân người gợi cảm của nàng Lợi thực hiện hành động như nhiều người đàn ông trong hoàn cảnh đó, làm theo tình cảm, theo bản năng “Đừng anh, em không đồng ý” – câu nói của nàng trong hoàn cảnh đó, không mấy ai để ý Giống như đẩy cửa thì gió phải vào Lợi cũng vậy Nhưng đó chính là một trong những câu nói quan trọng để buộc Lợi thành thủ phạm vụ hiếp dâm không thể tin được Chiếc máy điện thoại đầu giường đã chuyển sang
Trang 24chế độ ghi âm để làm căn cứ buộc tội chàng sĩ quan trẻ, mà mãi sau này khi tới cơ quan điều tra, chàng mới hay biết Trinh dường như chỉ yên lặng khi Lợi “tấn công” Nhưng khi cuộc “đánh chiếm” sắp hạ màn, bấy giờ hành động của Trinh mới rõ ràng Trinh giẫy nảy, phản đối, yêu cầu Lợi phải chấm dứt ngay lập tức Nghĩ rằng nàng giận nên có lời lẽ không hay, Lợi tiếp tục dỗ Nhưng động tác của Trinh càng quyết liệt Cô la hét, và bất ngờ kêu cứu.6
Xét ở ví dụ trên, nếu hoàn cảnh lúc đó mà bị cô gái ghi âm lại và trình báo với công an là bị anh thanh niên đó hiếp dâm mình thì cơ quan điều tra và cả những người khác sẽ dễ dàng bị nhầm lẫn là anh Lợi đó đã thực sự hiếp dâm cô gái đó Vì trong bản ghi âm sẽ ghi lại được tiếng của cô gái không đồng ý, mà anh Lợi vẫn làm Thế nhưng, nếu hoàn cảnh lúc đó mà bị ghi hình lại thì sự việc sẽ được rõ ràng hơn, anh thanh niên sẽ không bị oan
Bên cạnh đó, những cuộc đối thoại, những hình ảnh hay những hoạt động trong bản ghi âm, ghi hình có thể giúp cơ quan điều tra biết được lời khai của bị can có đúng sự thật không hay cũng biết được những ai có liên quan đến vụ án và những tình tiết quan trọng trong các vụ án Khi lấy lời khai của bị can, những người có liên quan, họ có thể cho lời khai đúng sự thật hoặc không đúng sự thật tùy thuộc vào lợi ích của họ hoặc tinh thần hợp tác giải quyết vụ án Do đó, khi xem xét lại những lời khai mà cơ quan điều tra
đã ghi nhận lại so sánh với bản ghi âm, ghi hình thu thập được để xem người cho lời khai
có khai đúng sự thật hay không Hoặc là khi đang lấy lời khai, cơ quan điều tra có thể mở bản ghi âm, ghi hình đã thu thập được cho những người bị lấy lời khai nghe, rồi sau đó hỏi họ, vừa nghe xong rồi hỏi ngay, trong thời gian ngắn như vậy họ không thể nào kịp suy nghĩ để trả lời gian dối được, do đó có thể hạn chế được trường hợp cho lời khai giả Không những vậy, nếu như bản ghi âm chỉ có thể cho ta biết được những đối tượng bị ghi
âm, thì bản ghi hình còn có thể chỉ ra được những đối tượng ở xung quanh đó mà họ không lên tiếng, giúp ta biết được những người có liên quan đến vụ án đó Và có thể từ những người có liên quan đó mà cơ quan điều tra có thể tìm ra được manh mối vụ án
Thứ hai, đối với bản ghi âm, ghi hình do cơ quan điều tra ghi lại trong quá trình điều tra và lấy lời khai thì có tác dụng giúp cho đội điều tra ghi lại biên bản một cách thuận lợi và chi tiết, làm tư liệu để điều tra Có thể trong lúc lấy lời khai, cán bộ điều tra không kịp ghi chép lại lời khai thì họ sẽ sử dụng máy ghi âm hoặc máy ghi hình để ghi lại lời khai của bị can Khi ghi âm hoặc ghi hình trong lúc lấy lời khai thì cán bộ điều tra phải cho người bị lấy lời khai biết là mình đang bị ghi âm, ghi hình Sau khi lấy lời khai xong, cán bộ điều tra sẽ nghe lại hoặc xem lại bản ghi âm, ghi hình mà mình đã ghi được
để ghi vào hồ sơ, biên bản một cách đầy đủ nhất, đồng thời có thể xem lại thái độ, cử chỉ,
6 Phan Đăng, Giải mã những vụ án tình kỳ quặc, Báo điện tử Công an nhân dân, 2011,
http://www.cand.com.vn/News/PrintView.aspx?ID=148605 , [truy cập ngày 1-11-2014]
Trang 25khuôn mặt, ánh mắt của người cho lời khai để nhận xét, đánh giá xem người đó có khai thật hay không Chẳng hạn như khi hỏi đến câu hỏi mà người cho lời khai không muốn trả lời thật thì người đó có thể gãy đầu để suy nghĩ, hoặc do phải suy nghĩ lời khai giả nên
cơ thể người sẽ dễ bị mất nước, và người đó sẽ xin được uống nước, hoặc là mắt người
đó liếc qua liếc lại không dám nhìn thẳng vào người hỏi,…
Đồng thời, việc ghi âm, ghi hình lại quá trình lấy lời khai còn giúp cho cơ quan điều tra chứng minh được người cho lời khai đã thật sự khai giống với những gì mà cán
bộ điều tra đã ghi chép lại Ghi âm, ghi hình lại quá trình lấy lời khai có vai trò rất quan trọng Việc làm này nhằm tránh được một số trường hợp bất ngờ, chẳng hạn như người cho lời khai tại cơ quan điều tra đã cho những lời khai như thế, nhưng khi đứng trước cơ quan xét xử thì lại nói khác, đảo ngược lời khai hoặc sửa đổi một số lời khai,… làm cho
vụ án trở nên phức tạp hơn Có thể là người cho lời khai nói rằng trong lúc lấy lời khai, cán bộ điều tra đã dùng biện pháp tra tấn, nhục hình buộc họ phải cho lời khai giả Lúc này trách nhiệm sẽ thuộc về cơ quan điều tra Hoặc là tự bản thân người cho lời khai thay đổi lời khai trước Tòa án, trong trường hợp này cơ quan điều tra sẽ không bị truy cứu trách nhiệm Do đó, ghi âm, ghi hình trong quá trình lấy lời khai là rất cần thiết, bởi vì nó thể hiện được tính trung thực, khách quan, sự minh bạch của quá trình lấy lời khai, đồng thời hạn chế được trường hợp thay đổi lời khai tại Tòa án
Cho nên có thể nói, dù là bản ghi âm, ghi hình ghi lại những cuộc đối thoại, những hình ảnh, hoạt động của những người liên quan hay là những bản ghi âm, ghi hình do cơ quan điều tra ghi lại trong quá trình lấy lời khai thì đều có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự Việt Nam, nó hỗ trợ thông tin về tội phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng, giúp cho cơ quan điều tra, cơ quan xét xử có thể suy xét tình tiết kỹ lưỡng hơn, giải quyết đúng đắn hơn, nhanh chóng tìm ra được sự thật
Trang 26CHƯƠNG 2 GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA BẢN GHI ÂM, GHI HÌNH TRONG TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM
2.1 Giá trị pháp lý của bản ghi âm ghi hình trong tố tụng hình sự Việt Nam
2.1.1 Bản ghi âm ghi hình có thể coi là chứng cứ được xác định như các tài liệu
d) Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác.”
Theo quy định trên có thể thấy, chứng cứ được xác định cụ thể tại khoản 2 Điều
64 Bộ luật tố tụng hình sự nhưng ở điểm d thì các tài liệu, đồ vật khác chưa được liệt kê
cụ thể là bao gồm những tài liệu đồ vật nào Nhưng theo điều 78 Bộ luật tố tụng hình sự thì ta có thể hiểu rằng các tài liệu, đồ vật khác là những tài liệu đồ vật nào bởi vì trong
điều 78 Bộ luật tố tụng hình sự có quy định “Những tình tiết có liên quan đến vụ án được
ghi trong các tài liệu cũng như đồ vật do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp có thể được coi là chứng cứ ” Như bản ghi âm âm, ghi hình,… Theo quy định trên những tình tiết
liên quan đến vụ án là những sự vật, sự việc đã diễn ra tại thời điểm xảy ra vụ án, nó giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng tìm ra được những manh mối để giải quyết vụ án một cách chính xác Mà những tình tiết đó có thể sẽ được ghi nhớ lại bằng cách chép lại hoặc lưu trong các thiết bị lưu trữ và sau đó ta có thể xem lại những tình tiết đó lúc vụ án đã xảy ra hay nói cách khác những tình tiết liên quan đến vụ án là những thông tin, tài liệu để giải quyết vụ án một cách chính xác hoặc có thể hỗ trợ giải quyết vụ án
Bên cạnh đó, ta có thể thấy bản ghi âm ghi hình cũng mang những tính chất là tái hiện lại những hình ảnh hay âm thanh trong quá khứ lúc sự vật, sự việc xảy ra, từ đó những tình tiết trong vụ án sẽ được tái hiện một cách rõ ràng cho nên bản ghi âm ghi hình
có thể được coi là chứng cứ và được xếp vào loại các tài liệu đồ vật khác trong vụ án Nếu một bản ghi âm, ghi hình ghi lại được những tình tiết liên quan đến vụ án hay có thể
Trang 27là một công cụ hỗ trợ cơ quan tiến hành tố tụng tìm ra được tội phạm thì bản thân những
bản ghi âm, ghi hình đó sẽ là một chứng cứ hữu hiệu cho các vụ án hình sự Và có thể
thấy tuy không quy định cụ thể những tài liệu đồ vật khác là những tài liệu đồ vật nào
nhưng ta có thể hiểu đây là một quy định mở của pháp luật vì ta không thể biết hết được
những gì có thể chứng minh được tội phạm nên không thể quy định cụ thể những gì được
coi là chứng cứ, vậy ta có thể coi bản ghi âm, ghi hình thuộc tài liệu đồ vật khác có thể
coi là chứng cứ mà pháp luật không có quy định cụ thể trong tố tụng hình sự Việt Nam
Theo quy định tại đoạn 2 Điều 78 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì: “Trong
trường hợp những tài liệu, đồ vật này có những dấu hiệu quy định tại Điều 74 của Bộ
luật này thì được coi là vật chứng” Mà vật chứng được quy định tại Điều 74 bao gồm
những vật dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối
tượng của tội phạm cũng như tiền bạc và vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và
người phạm tội Rõ ràng, trong các dấu hiệu trên thì bản ghi âm, ghi hình chỉ có thể có
dấu hiệu là vật có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội (nếu có) Bởi vì, vật
chứng minh cho tội phạm là vật mà thông qua đó chúng ta có thể rút ra được chứng cứ
chứng minh tình tiết này hay tình tiết khác thuộc bốn yếu tố cấu thành tội phạm Chẳng
hạn như thông qua các thiết bị ghi âm, ghi hình mà cơ quan tiến hành tố tụng thu thập
được, những thiết bị đó sẽ phản ánh các tình tiết lúc vụ án xảy ra, từ đó có thể biết được
những tình tiết đó có cấu thành tội phạm hay không Đồng thời, vật có giá trị chứng minh
người phạm tội là những vật chứng minh cho tư cách chủ thể của người phạm tội Hay
nói cách khác, những vật có giá trị xác định đúng một người nào đó đã thực hiện hành vi
phạm tội Cụ thể như là giọng nói, hình ảnh của người phạm tội, hoặc là những hành vi
phạm tội của một người đã được ghi vào trong máy ghi âm, ghi hình Vì vậy trong trường
hợp này bản ghi âm, ghi hình sẽ trở thành vật chứng để giải quyết vụ án hình sự
2.1.2 Bản ghi âm ghi hình có khả năng ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án
hình sự
2.1.2.1 Bản ghi âm, ghi hình luôn phát huy tối đa công dụng hỗ trợ cho quá
trình thu thập chứng cứ và quyết định có hay không khởi tố vụ án hình sự
Như những gì đã phân tích ở các phần trên thì có thể thấy rằng bản ghi âm, ghi
hình có chức năng lưu giữ những âm thanh, hình ảnh lúc sự vật, sự việc xảy ra và đã
được máy ghi âm, ghi hình ghi lại Sau đó với tính năng phát lại mà những sự vật, sự việc
đã từng xảy ra sẽ được tái hiện lại Từ đó giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng nắm bắt đầy
đủ và kịp thời những thông tin cần thiết có liên quan đến vụ án Có thể những âm thanh,
hình ảnh đó không nói lên được mấu chốt của vụ án, nhưng rất có thể từ những âm thanh,
hình ảnh đó mà cơ quan điều tra sẽ tìm ra được những chứng cứ làm sáng tỏ vụ án
Trang 28Chẳng hạn như trong một căn nhà có một người bị giết chết Căn nhà này là một trong số những căn nhà trong khu chung cư Ngoài hành lang của khu chung cư thường
có lắp đặt máy camera để chống trộm Do đó cơ quan điều tra đã yêu cầu quản lý chung
cư cho xem lại máy ghi hình đã đặt ở chung cư đó Vì lúc hung thủ ra tay giết người là ở trong nhà nên máy quay không thể quay lại được Tuy nhiên, máy quay có thể đã quay lại được những người đáng tình nghi đã ra vào nơi gần hiện trường xảy ra vụ án Từ đó cơ quan điều tra sẽ khoanh vùng những đối tượng tình nghi, tiến hành điều tra những người này xem ai có mâu thuẫn với nạn nhân hay không, hay nói cách khác cơ quan điều tra sẽ điều tra những ai có động cơ giết chết nạn nhân Trên cơ sở đó có thể tìm ra được người phạm tội, nhanh chóng kết thúc vụ án
Do đó, tuy bản ghi âm, ghi hình không thể chỉ ra được người phạm tội nhưng chúng cũng có tác dụng hỗ trợ cho Cơ quan Điều tra điều tra làm rõ những tình tiết, những người đáng nghi ngờ, làm cơ sở để tìm ra chứng cứ giải quyết vụ án
Bên cạnh đó, bản ghi âm, ghi hình còn được dùng làm cơ sở để quyết định có hay không khởi tố vụ án hình sự Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên
mà trong đó cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành việc xác định có (hay không) các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện, đồng thời ban hành quyết định về việc khởi tố (hoặc không khởi tố) vụ án hình sự liên quan đến hành vi đó Vậy, chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm.7 Mà dấu hiệu của tội phạm là những hành vi chứa đựng tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình
sự và tính phải chịu hình phạt Do đó, nếu bản ghi âm, ghi hình do Cơ quan Điều tra thu thập được khi có người tố giác tội phạm thì những âm thanh, hình ảnh trong bản ghi âm, ghi hình đó sẽ được xem xét xem chúng có phải là những hành vi nguy hiểm cho xã hội hay không, những hành vi đó có lỗi hay không, có trái pháp luật hình sự hay không và có cần phải chịu trách nhiệm hình sự không, nếu có các dấu hiệu trên thì cơ quan có thẩm quyển sẽ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, còn sau khi xem xét những âm thanh, hình ảnh đó mà không xác định được dấu hiệu phạm tội thì cơ quan có thẩm quyền sẽ không khởi tố vụ án hình sự
2.1.2.2 Ảnh hưởng đến tâm lý lấy lời khai của bị can, làm cho bị can phải khai đúng sự thật, tránh trường hợp cho khẩu cung giả
Thông thường, những người bị lấy lời khai sẽ có tâm lý lo sợ, hoang mang Tuy nhiên, không phải như vậy là họ sẽ trình bày đúng với sự thật Vì một lợi ích cá nhân nào
đó, hoặc bị đối tượng khác ép buộc khiến họ phải cho lời khai giả nhằm buộc tội hoặc gỡ tội cho mình hay cho người khác Cho nên, nếu như trước khi lấy lời khai mà cơ quan
7 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, điều 100
Trang 29điều tra đã thu thập được những bản ghi âm, ghi hình có liên quan đến vụ án, liên quan đến những gì cần hỏi bị can thì khi lấy lời khai, điều tra viên có thể lấy bản ghi âm, ghi hình đó mở lại cho bị can xem, nhằm phản biện lại lời khai của bị can, làm cho bị can phải khai đúng với sự thật, nhưng nếu lời khai trước đó đã trùng khớp với nội dung của bản ghi âm, ghi hình thì xem như lời khai đó đáng tin cậy Bởi vì khi một người muốn cho lời khai giả, muốn nói dối thì bộ não cần phải hoạt động nhiều để suy nghĩ ra những nội dung giả, lôi kéo người khác tin vào những gì mình nói, đồng thời khi nói thì phải dùng những từ ngữ diễn tả có sức thuyết phục cao Nếu đối phương là những người chưa biết chính xác sự việc là như thế nào thì người nói có thể phát huy tối đa tính nói dối của mình, vì khi đối phương chưa biết gì thì việc lôi kéo sự tin tưởng của họ đối với mình là không có gì khó Nhưng, nếu cơ quan điều tra đưa ra bản ghi âm, ghi hình chứng tỏ rằng phía cơ quan điều tra đã biết được một số sự thật thì khi đó tâm lý của người nói dối sẽ trở nên hoang mang, không bình tĩnh như lúc đầu được, có thể sẽ ảnh hưởng đến khả năng nói dối của họ, cho nên cho dù họ có muốn tiếp tục nói dối thì cũng sẽ dễ dàng để lộ
ra những sơ hở, hoặc là trong những câu nói của họ sẽ có mâu thuẫn Khi đối tượng khai báo không đúng sự thật, ở trường hợp này trong đầu óc của họ đồng thời tồn tại hai mô hình tư duy của vụ án, một mô hình về diễn biến của vụ án do họ “sáng tạo” ra và một
mô hình phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án Để lời khai có sức thuyết phục, đối tượng cố gắng hòa nhập hai mô hình này làm cho mô hình giả giống như thật Do vậy, quá trình tư duy của đối tượng diễn ra nhanh chóng và phức tạp Dưới tác động của hàng loạt vấn đề, họ càng có trạng thái căng thẳng và càng khó kiểm soát nội dung câu hỏi cũng như nội dung câu trả lời của bản thân Chỉ cần điều tra viên đưa ra bản ghi âm, ghi hình phản biện lại với một vài tình tiết trong lời khai của họ là tự động người cho lời khai
sẽ bị rối Từ đó điều tra viên có thể nhắm vào những điểm sơ hở, điểm mâu thuẫn đó để làm rõ vấn đề Chẳng hạn như khi điều tra viên hỏi vào khoảng thời gian xảy ra vụ án thì
bị can đi đâu, nếu như bị can có ý nói dối thì lúc này trong đầu bị can sẽ nghĩ là mình phải khai ở đâu mà xa với hiện trường xảy ra vụ án, khi đó nếu điều tra viên đem bản ghi
âm, ghi hình đã ghi lại được bị can đang ở gần hiện trường vụ án trong khoảng thời gian
đó, thì sẽ làm cho bị can lúng túng, và sẽ đưa ra những câu giải thích ngay sau đó, trong tâm lý lúng túng như vậy thì bị can dù muốn tiếp tục khai man cũng sẽ có rất nhiều mâu thuẫn
Như vậy, điều tra viên là người điều khiển hành vi và giao tiếp của các thành viên tham gia hoạt động lấy lời khai Để thu nhận được thông tin cần thiết, điều tra viên phải
áp dụng các tác động tâm lý đúng thời điểm, phù hợp tình huống, đúng đối tượng để từ
đó có thể kiểm soát được lời nói, hành vi của người cho lời khai Một trong những phương thức tác động tâm lý đó là việc sử dụng những chứng cứ (chẳng hạn như bản ghi
âm, ghi hình) để bị can nhìn vào sự thật và khó có thể khai man được
Trang 302.1.2.3 Không bỏ qua những tình tiết quan trọng trong vụ án
Theo Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: “Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát và Tòa án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo” Từ quy định trên có thể thấy rằng pháp luật nước ta
xem trọng việc xác định sự thật của vụ án, cho nên bằng mọi biện pháp hợp pháp đều phải tìm ra được sự thật Mà việc xem xét nội dung trong bản ghi âm, ghi hình đã qua đánh giá, giám định thì không phải là bất hợp pháp, nên việc tìm hiểu những tình tiết trong đó cũng là một biện pháp hợp pháp để tìm ra sự thật
Bản ghi âm, ghi hình có thể đã ghi lại được một số tình tiết quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến quá trình giải quyết vụ án, chẳng hạn như nó ghi lại được hình dáng của kẻ phạm tội, hay cuộc nói chuyện của những người thực hiện việc phạm tội Hoặc có thể ghi lại thời gian xảy ra vụ án, hoặc những người có liên quan có mặt tại hiện trường,… Nếu bản ghi âm, ghi hình đó được sử dụng làm căn cứ để điều tra vụ án thì vụ án sẽ được tìm
ra sự thật một cách nhanh chóng, những tình tiết dù là nhỏ nhất cũng sẽ được xem xét kỹ lưỡng, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng những tình tiết quan trọng bị bỏ sót Vì vậy, bản ghi âm, ghi hình mà cơ quan tiến hành tố tụng thu thập được có sức ảnh hưởng mạnh đến việc tìm ra người phạm tội Bởi vì, giả sử bản ghi âm, ghi hình ghi lại được những tình tiết quan trọng có thể cột tội hoặc gỡ tội cho một người nào đó mà lại không được xem xét sử dụng làm căn cứ để điều tra vụ án thì đương nhiên khả năng cột tội hay gỡ tội cho người đó là rất thấp
Ví dụ: Trưa 29/9, chị Phạm Khánh Huyền (29 tuổi, ở xã Diễn Xuân, huyện Diễn Châu) đi làm về vào phỏng ngủ rót nước trong ấm nước đun sôi để nguội ra uống thì phát hiện nước có màu vàng và mùi lạ nên nói với chồng Anh Ngô Sỹ Hòa (35 tuổi, chồng chị Huyền) xem lại camera đặt trong nhà thì phát hiện Thủy, người giúp việc bỏ vật lạ vào ấm nước Anh Hòa, chị Huyền nghi Thủy bỏ thuốc độc vào nước nên gặng hỏi thì Thủy nói “không biết”, do đó vợ chồng anh Hòa, chị Huyền đã báo công an Viện khoa học hình sự giám định ấm nước cho thấy có thuốc thuốc an thần gây ngủ Rotundin Thủy khai, ngày 26/9, Thủy đến làm ô-sin cho gia đình vợ chồng anh Hòa, chị Huyền, thấy anh chị để ví tiền và tư trang “hớ hênh” nên đã đi mua thuốc ngủ để “chuốc” cho vợ chồng anh anh Hòa, chị Huyền ngủ li bì rồi cướp tài sản trốn vào Nam.8
Ta thấy trong ví dụ trên, một tình tiết quan trọng mà cũng đồng thời là mấu chốt của vụ án đó là tình tiết người giúp việc bỏ vật lại vào ấm nước Nhờ có camera ghi hình
8
Hoàng Lâm, Ô-sin đánh thuốc gia chủ, bị camera ghi hình, Báo điện tử Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh, 2014,
http://phunuonline.com.vn/xa-hoi/phap-luat/o-sin-danh-thuoc-gia-chu-bi-camera-ghi-hinh/a129885.html , [truy cập ngày 20-10-2014]
Trang 31lại thì mới biết được là người giúp việc đã có hành vi gây án, từ đó giúp cho chị Huyền, anh Hòa cùng với cán bộ công an nhanh chóng bắt được chị Thủy
2.1.3 Bản ghi âm, ghi hình phải được thu thập theo trình tự thủ tục luật định
Chứng cứ là một trong những chế định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành, để giải quyết các vụ án đúng đắn thì cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét, đánh giá chứng
cứ Theo Khoản 1 Điều 64 của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành “Chứng cứ là những gì
có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.” Theo đó, chứng cứ phải là những gì có thật và phải được thu thập
theo một trình tự luật định Vậy nếu bản ghi âm, ghi hình là một chứng cứ trong vụ án hình sự thì nó cũng phải thu thập theo một trình tự luật định chứ không phải ngẫu nhiên
mà một bản ghi âm, ghi hình nào cũng trở thành chứng cứ trong một vụ án như vậy sẽ đảm bảo sự khách quan của bản ghi âm, ghi hình đó Nên có thể nói những tài liệu, đồ vật nói chung hay những bản ghi âm, ghi hình nói riêng phải được thu thập theo một trình tự luật định thì nó mới có thể trở thành một chứng cứ hữu hiệu
Theo Điều 65 Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành quy định:
“1 Để thu thập chứng cứ, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án có quyền
triệu tập những người biết về vụ án để hỏi và nghe họ trình bày về những vấn đề
có liên quan đến vụ án, trưng cầu giám định, tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ
án
2 Những người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều
có thể đưa ra tài liệu, đồ vật và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án.”
Từ quy định trên có thể thấy khi vụ án xảy ra các cơ quan tiến hành tố tụng có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp những tài liệu đồ vật hay các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể tự cung cấp các tài liệu đồ vật liên quan hoặc những vấn đề khác có liên quan đến vụ án Như vậy, những bản ghi âm, ghi hình sẽ được thu thập từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu hoặc không theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng nhưng những bản ghi âm, ghi hình khi được thu thập phải có những tình tiết liên quan đến vụ án Và khi thu thập các tài liệu, đồ vật như bản ghi âm, ghi hình cơ quan tiếp nhận phải xác định việc giao nhận các bản ghi âm, ghi hình đó vì các bản ghi âm, ghi hình đó có thể là những bằng chứng cột tội hay cởi tội cho những người liên quan đến vụ
án và thể hiện tính khách quan khi thu thập chứng cứ của các cơ quan tiến hành tố tụng Thu thập chứng cứ nói chung hay bản ghi âm, ghi hình nói riêng là một hoạt động rất
Trang 32quan trọng trong các bước tiến hành tố tụng nó đòi hỏi cơ quan tiến hành tố tụng phải đảm bảo sự khách quan, đúng pháp luật mà còn phải có lương tâm nghề nghiệp vì với những đặc điểm riêng của bản ghi âm, ghi hình đó có thể bị thay đổi như chỉnh sửa, xóa bỏ,… gây ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án Nếu không thu thập đúng trình tự thủ tục luật định có thể dẫn đến nhiều hậu quả xấu như oan sai cho người vô tội hay bỏ lọt tội phạm
Sau khi cơ quan tiến hành tố tụng đã thu thập được các tài liệu như bản ghi âm, ghi hình thì nó không mặc nhiên trở thành một chứng cứ được, nó phải được xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án.9 Vì những bản ghi âm, ghi hình muốn trở thành một chứng cứ phải đáp ứng những tính này thì mới được coi là một chứng cứ hợp pháp, còn nếu thiếu một trong những tính đó thì nó không thể coi là một chứng cứ được
Thứ nhất, tính hợp pháp của chứng cứ tức là chứng cứ phải được thu thập trong những nguồn chứng cứ và được thu thập theo một trình tự luật định Nguồn của chứng cứ
theo Khoản 2 Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự hình sự gồm: “Chứng cứ được xác định
bằng:
a) Vật chứng;
b) Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; c) Kết luận giám định;
d) Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác.Vậy như đã phân
tích trên bản ghi âm, ghi hình thuộc vào các tài liệu đồ vật khác Nói tóm lại, bản ghi âm, ghi hình phải được xác định bằng nguồn nhất định theo quy định pháp luật và phải thu thập theo trình tự, thủ tục quy định
Thứ hai, tính xác thực ở đây có nghĩa là chứng cứ phải có thật và nó tồn tại khách quan Như vậy, bản ghi âm ghi hình phải là những âm thanh, hình ảnh có thật, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án, nó phải không bị chỉnh sửa, cắt ghép,… làm sai lệch
đi những gì vốn có mà những bản ghi âm, ghi hình trước đó đã thu lại được
Thứ ba, Khi thu thập chứng cứ cơ quan tiến hành tố tụng thu thập được nhiều thông tin, tư liệu nên cần phải xem xét tính liên quan của các thông tin, tài liệu đó có liên quan đến vụ án hay không thì mới đưa vào hồ sơ vụ án Vậy, tính liên quan là những bản ghi âm, ghi hình được thu thập phải có những tình tiết liên quan đến vụ án, nó là cơ sở để xác định những điều cần phải làm rõ trong vụ án hay những vấn đề cần phải chứng minh của các đối tượng trong vụ án
Nên chứng cứ nói chung hay những bản ghi âm, ghi hình nói riêng phải đáp ứng
đủ các tính trên thì mới có thể xem là một chứng cứ trong vụ án, dù là thiếu bất kì một
9 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, điều 66, khoản 1