1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÍ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÙ HỢP VỚI TÍNH ĐẶC THÙ CỦA HỌC SINH LỚP 6

19 578 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 238 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặt vấn đề: 2.1 Tầm quan trọng của vấn đề: Nhìn lại cách tổ chức, quản lí dạy và học ở các lớp cuối cấp tiểu học với các lớp đầu cấp THCS ta thấy có nhiều điểm quá khác nhau cả về nội du

Trang 1

1.Tên SKKN:

MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÍ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÙ HỢP VỚI TÍNH ĐẶC THÙ CỦA HỌC SINH LỚP 6

2 Đặt vấn đề:

2.1 Tầm quan trọng của vấn đề:

Nhìn lại cách tổ chức, quản lí dạy và học ở các lớp cuối cấp tiểu học với các lớp đầu cấp THCS ta thấy có nhiều điểm quá khác nhau cả về nội dung chương trình sách giáo khoa lẫn phương pháp dạy học, là một sự thay đổi quá lớn và có thể xem là khá đột ngột, nhất là đối với các em từ lớp 5 lên lớp 6 Cụ thể sự khác biệt đó là: Ở bậc THCS, mỗi môn học có một thầy cô riêng, ngay cả thầy cô giáo chủ nhiệm lớp cũng chỉ dạy ở lớp một môn và thời gian làm việc với lớp cũng không nhiều Do đó việc quản lí, kèm cặp các em không được chu đáo như ở tiểu học Nhất là đối với khối lớp 6 là khối lớp nhỏ nhất, còn rất xa lạ với mọi thứ đối với môi trường giáo dục của nhà trường, từ cảnh quan, bạn bè, thầy cô, nội dung học, phương pháp dạy, Thật đúng, lớp 6 là lớp “vỡ lòng” của bậc THCS, rất cần sự nâng niu, dìu dắt, một bầu không khí thân thiện, cởi

mở của tất cả các thầy cô, của các học sinh đàn anh đàn chị để các em dần dần tiếp cận, làm quen, các thầy cô ở từng bộ môn cần khai phá từng bước một thì các em mới có thể “bắt nhịp” được phương pháp dạy và học ở bậc học THCS này Do đó vấn đề dạy học ở lớp 6 đòi hỏi các trường THCS, các nhà quản lí, các thầy cô giáo phải quan tâm đặc biệt hơn, phải thấy rõ sự chuyển tiếp của hai cấp học còn nhiều sự khác biệt trong phương pháp quản lí và dạy học Để từ đó

đề ra các phương pháp giáo dục thích hợp và cần có sự quan tâm sâu sát hơn với đặc điểm của một lớp đầu cấp

2.2 Thực trạng vấn đề:

Trong ngành giáo dục, việc quan tâm nâng cao chất lượng giáo dục là nhiệm vụ chính trị hàng đầu của tất cả các trường học, mọi hoạt động trong nhà trường cũng chỉ nhằm phục vụ các hoạt động dạy học Hằng năm, tập trung nhất

là trong các kì nghỉ hè, từ Sở giáo dục đến các Phòng giáo dục thường xuyên tổ chức các đợt tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên ở tất cả các bộ môn, cán bộ quản lí, Tuy nhiên việc đầu tư quan tâm đối với khối lớp 6, khối lớp đầu cấp vẫn chưa có gì ưu ái hơn, trong khi chất lượng dạy học ở khối lớp này đang có chiều hướng tụt dốc do nhiều nguyên nhân như đã nêu ở trên Chất lượng khối lớp 6 thấp thấy rõ nhất là ở cuối học kì I, trong nhiều năm qua thường chỉ vào khoảng 70 đến 75% trung bình trở lên, thậm chí có nhiều trường chưa đạt đến con số này Rõ ràng đây là điều đang báo động và cần sự quan tâm của toàn ngành nói chung, các nhà trường nói riêng để chất lượng dạy học ở lớp

6 nhanh chóng trở về bình thường như những khối lớp khác của bậc học THCS

2.3 Lí do chọn đề tài:

Trước thực trạng đó, là người được phân công phụ trách công tác chuyên môn rất nhiều năm, nhất là khi trực tiếp đón nhận những thông tin phản ảnh từ PHHS về sự sa sút trong kết quả học tập của nhiều em khi mới chuyển từ lớp 5 lên, bản thân tôi thấy cần thiết phải tìm cách khắc phục nhanh tình hình này

Trang 2

nhằm giúp các em học sinh mới vào lớp 6 học được và giữ vững sự ổn định về

“phông độ”, tiếp tục khám phá và khai thác tiềm năng sẵn có ở bậc tiểu học của các em, sớm ổn định để đưa các em vào nề nếp và quỹ đạo chung của bậc học THCS, giúp các em sớm hòa nhập để có thể tiếp cận được phương pháp dạy học lẫn nội dung chương trình được xem là quá nặng đối với mọi em Bên cạnh đó,

về phía đội ngũ thầy cô giáo cũng cần tìm hiểu, thâm nhập với phương pháp dạy

và học của lớp 5 để định hình cho mình một phương pháp dạy học phù hợp với mức độ và khả năng của khối lớp mới chuyển cấp, khắc phục tình trạng sa sút khi vào học chương trình lớp 6, tạo nền tảng vững chắc cho cả bậc học THCS

2.4 Giới hạn nghiên cứu đề tài:

Trong nhà trường, mọi hoạt động đều nhằm mục đích hỗ trợ và phục vụ cho công tác dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục theo mục tiêu nghị quyết năm học Do đó hoạt động giáo dục của nhà trường là rất phong phú, đa dạng Tuy nhiên, trong phạm vi của đề tài tôi chỉ tập trung khai thác một số giải pháp mà bản thân cho là mới nhằm nhanh chóng khắc phục những tồn tại yếu kém trong việc ổn định nâng cao chất lượng học tập của học ssinh lớp 6 từ nhiều năm qua Đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 6 của trường THCS Nguyễn Huệ thuộc PGD Đại Lộc Năm học trước tôi đã đi sâu nghiên cứu về các giải pháp quản lí nề nếp tự học đối với học sinh lớp 6, bước vào năm học này tôi cũng tiếp tục nghiên cứu về các giải pháp trong dạy học để nâng cao chất lượng học tập ở

học sinh lớp 6 với đề tài là “Một số biện pháp tổ chức và quản lí phương pháp dạy học phù hợp với tính đặc thù của học sinh lớp 6”

3 Cơ sở lí luận:

3.1 Một số khái niệm:

- Quản lý: Ngày nay thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất Có người cho quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc qua sự nổ lực của người khác Cũng có người cho quản lý

là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo phối hợp những nổ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm Tuy nhiên, theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động

có mục đích của con người, cho đến nay nhiều người cho rằng: Quản lý chính là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn Từ những ý chung của các định nghĩa

và xét quản lý với tư cách là một hành động, có thể định nghĩa: Quản lý là sự tác

động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra.

Trong định nghĩa trên cần lưu ý một số điểm sau:

+ Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định + Quản lý thể hiện mối liên hệ giữa hai bộ phận chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, đây là quan hệ ra lệnh – phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc

+ Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người

+ Quản lý là sự tác động, mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan

+ Quản lý xét về mặt công nghệ là sự hoạt động của thông tin

Trang 3

+ Quản lý có khả năng thích nghi giữa chủ thể với đối tượng quản lý và ngược lại

- Quản lý giáo dục: Là tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý giáo dục lên khách thể và đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, những cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường, làm cho tổ chức vận hành có hiệu quả

- Quản lý PPDH của hiệu trưởng: là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức của hiệu trưởng đến cách thức làm việc của thầy và trò nhằm đạt được mục đích dạy học

- Phương pháp dạy học: Có nhiều định nghĩa khác nhau về PPDH, song tựu trung lại có thể hiểu dưới ba dạng sau đây:

+ Theo quan điểm điều khiển học, PPDH là cách thức tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh và điều khiển hoạt động này

+ Theo quan điểm logich, PPDH là những thủ thuật logich được sử dụng

để giúp học sinh nắm kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách tự giác

+ Theo bản chất của nội dung, PPDH là sự vận động của nội dung dạy học

Mặc dù chưa có ý kiến thống nhất về định nghĩa PPDH, các tác giả đều thừa nhận rằng, PPDH có những dấu hiệu đặc trưng sau đây:

+ Nó phản ảnh sự vận động của quá trình nhận thức của học sinh nhằm đạt được mục đích đặt ra

+ Phản ảnh sự vận động của nội dung đã được nhà trường quy định

+ Phản ảnh cách thức thông tin giữa thầy và trò

+ Phản ảnh cách thức điều khiển hoạt động nhận thức: kích thích và xây dựng động cơ, tổ chức hoạt động nhận thức và kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động

Để cho đơn giản và dễ hiểu, khái niệm PPDH có thể được định nghĩa là: PPDH là hệ thống những hành động có chủ đích theo một trình tự nhất định của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động thực hành cho học sinh nhằm đảm bảo cho họ lĩnh hội nội dung dạy học và chính như vậy mà đạt được mục đích dạy học

3.2 Thông tin liên quan đến đề tài:

- Phương pháp dạy học phù hợp với tính đặc thù của học sinh lớp 6 là gì? Theo tôi, đó là “tổ hợp các cách thức tổ chức hoạt động của giáo viên một cách tương thích, phù hợp với tính đặc thù của học sinh lớp 6 trong sự phối hợp, thống nhất dưới vai trò chủ đạo của giáo viên, kích thích sự chủ động của học sinh nhằm thực hiện được những nhiệm vụ dạy học”

-Tính đặc thù của học sinh lớp 6 như thế nào(?) Theo tôi, vấn đề giáo dục học sinh lớp 6 hiện nay được khá nhiều người quan tâm, chúng ta cũng khẳng định lại rằng lớp 6 là lớp “vỡ lòng” của bậc học THCS, phải thấy rằng ở các em còn quá non nớt trong một môi trường quá mới lạ so với lúc còn ở tiểu học, mới

lạ cả về nội dung chương trình lẫn phương pháp tổ chức và quản lí người học

Do đó đối tượng học sinh mới bước vào học lớp 6 có một đặc thù rất riêng so với những khối lớp đàn anh 7,8,9 trong nhà trường

Trang 4

4 Cơ sở thực ti ễ n :

4.1 Thực trạng vấn đề:

Việc đầu tư quan tâm đến học sinh khối lớp 6 là vấn đề được nhiều trường quan tâm Đây cũng là vấn đề mà bản thân tôi đã tập trung nghiên cứu trong

năm học trước với đề tài là “Một vài kinh nghiệm trong việc quản lí, xây dựng

nề nếp học tập đối với học sinh khối 6” Tuy nhiên, năm học này tôi chỉ đi sâu

vào việc nghiên cứu phương pháp dạy và học mang tính đặc thù đối với học sinh lớp 6 Để có cơ sở nghiên cứu, trước hết chúng tôi đã theo dõi tình hình diễn biến chất lượng học lực ở một số mặt khi học sinh từ lớp 5 bước vào lớp 6 qua vài năm gần đây của nhà trường như sau:

Năm

học TS

Đầu năm (Đầu vào) Cuổi HKI Cuổi năm

TB trở lên Giỏi TB trở lên Giỏi TB trở lên Giỏi

2010-2011 167 167 100.0% 62 37.1% 120 71.9% 30 18.0% 140 83.7% 39 23.4%

2011-2012 202 202 100.0% 71 35.1% 158 78.2% 28 13.9% 171 84.7% 41 20.3%

2012-2013 162 162 100.0% 53 32.7% 115 79.0% 32 19.8%

Qua bảng thống kê, ta thấy hằng năm chất lượng đầu vào của khối lớp 6 (cuối năm học lớp 5) là khá cao, nhưng khi bước vào lớp 6 thì chất lượng tụt hẳn, nhất là ở cuối HKI hằng năm

Phân tích nguyên nhân:

+Về phía PHHS: Với tâm lý chung là khi con em được vào lớp 6 tức là đã

‘thoát khỏi trường làng” thì họ xem như xong, không cần phải quan tâm nữa!

+Về phía quản lí:

-Khối lớp thường được quan tâm nhiều là khối 8 và khối 9 Bởi khối 8 là lứa tuổi HS có nhiều thay đổi về tâm sinh lý nên hay nghịch phá, có nhiều vấn

đề về hạnh kiểm cần phải chú ý Còn khối 9 là khối thi tuyển vào lớp 10, là “bộ mặt” của nhà trường nên cần quan tâm nhiều hơn, nhất là về học tập Còn khối 6 được cho là nhẹ gánh nhất vì các em còn ngây thơ, dễ dạy so với các khối khác Như vậy, vô tình cả gia đình lẫn nhà trường đều có xu hướng an tâm khi trẻ học lớp 6 Điều đó thật thiệt thòi cho các em vì đây là năm đầu tiên lên trung học, các em còn nhiều bỡ ngỡ trước mọi thứ mới lạ, không như ở tiểu học

-Chưa có sự quan tâm đúng mức đến một khối lớp đầu cấp, chưa thấy được sự khác biệt về nội dung chương trình cũng như phương pháp dạy học giữa lớp 5 và lớp 6 để có sự đầu tư phù hợp đáp ứng được điều kiện, nhu cầu dạy học mang tính dặc thù cho khối lớp 6

+Về phía học sinh: Phần lớp các em lớp 6 không quen và đang gặp nhiều khó khăn như là nội dung bài học viết quá nhiều nên có nhiều em không viết kịp

và phải viết ngoáy, nội dung công việc học tập về nhà quá nhiều, trong khi ở lớp

5 là rất ít, thậm chí là không có Rõ ràng mới khi bước vào đầu năm học lớp 6 các em đã phải học tập với một cường độ quá lớn mới có thể tải được nội dung chương trình hiện hành

Trang 5

+Về phía giáo viên: Như ta thấy, nội dung chương trình sách giáo khoa của lớp 6 so với lớp 5 là có phần nặng hơn nhiều: môn học nhiều hơn, nội dung từng môn học, từng tiết học cũng nhiều hơn, Do đó việc dạy học của các thầy

cô giáo lớp 6 cũng gặp khó khăn hơn nhiều Trong khi đó một bộ phận giáo viên chưa thấy được gánh nặng của các em, chưa quen được cách học của các em từ lớp 5, do đó phương pháp dạy học còn nặng nề về lí thuyết, bài ghi lí thuyết quá dài dòng, ít thực hành luyện kĩ năng, nội dung công việc giao về nhà cũng quá nhiều, Một thực trạng nữa đó là GVBM ít tổ chức các hình thức kiểm tra bài

vở học sinh, hoặc làm không thường xuyên càng làm cho các em, nhất là những học sinh chưa chăm càng chủ quan, không lo lắng đầu tư vào việc tự học ở nhà

Và như thế nhiều em vượt không qua nỗi gánh nặng này, từ đó nảy sinh tư tưởng ngao ngán, buông thả trong tự học, bài vở để nợ chất chồng dẫn đến chất lượng ngày càng sa sút là điều đương nhiên

Nhưng trong tình hình đó, như đã nói ở trên, sự quan tâm của các nhà trường, của các thầy cô giáo dành cho học sinh lớp 6 cũng chẳng có gì đặc biệt, chưa có chút ưu ái gì cho một khối lớp gọi là đầu cấp, là khối lớp “vỡ lòng” của cấp THCS Đã có một số thầy cô làm công tác chủ nhiệm lớp, hay các cán bộ quản lí đã đề cập đề cập đến vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh nhưng chỉ là chung chung cho cả bậc THCS như là “Một số biện pháp giáo dục học sinh cá biệt …”, “Giải pháp huy động các lực lượng xã hội tham gia công tác xã hội hóa

…” Hoặc chỉ là một số vấn đề thuộc về lãnh vực các kiến thức khi dạy học ở các môn học của lớp 6, … Tuy nhiên những sáng kiến này cũng chỉ dừng lại ở việc triển khai các phương pháp đặc trưng bộ môn chứ chưa đánh động gì đến tính đặc trưng lứa tuổi, hoặc tính đặc thù rất riêng của học sinh lớp 6

4.2 Nhiệm vụ đặt ra:

Về phía bản thân, để khắc phục tình trạng trên, trong năm học này, ngoài việc tiếp tục duy trì thực hiện các giải pháp trong đề tài năm học trước nhằm xây dựng, quản lí nề nếp tự học của các em, tôi tập trung nghiên cứu, đầu tư thêm các giải pháp nhằm có sự quan tâm nhiều hơn nữa đến phương pháp dạy và học phù hợp tính đặc thù của khối lớp 6 Điểm mới của đề tài ở năm học này đó là:

+Thu hẹp khoảng cách về sự khác biệt trong việc dạy của thầy cũng như việc học của trò giữa lớp 5 và lớp 6

+Nhà trường phổ biến, quán triệt sâu sắc tính đặc thù của học sinh lớp 6

để động viên họ tích cực chọn lọc PPDH phù hợp, vừa sức, đạt hiệu quả trong giảng dạy

-Phát huy, nhân rộng những giải pháp tổ chức dạy học phù hợp với đặc thù của lớp 6 như: Đầu tư phương pháp lẫn nội dung kiểm tra bài cũ; Phương pháp tổ chức, quán xuyến các hình thức kiểm tra việc ghi bài, soạn bài của học sinh; Tăng cường đầu tư nội dung dặn dò giao việc phù hợp và vừa sức;

Với việc tiếp tục tổ chức thực hiện các nhóm giải pháp của năm học này, tôi hy vọng chất lượng dạy học của học sinh lớp 6 nói riêng , chất lượng giáo dục nói chung của nhà trường sẽ được cải thiện ngày càng rõ rệt hơn

Trang 6

5 Nội dung các giải pháp:

1 Tổ chức tìm hiểu tính đặc thù của lớp 6:

Như Bác Hồ đã nói “Biết địch biết ta trăm trận trăm thắng”, hoặc như trong phương châm của ngành y: “Chẩn đoán đúng bệnh mới chửa được bệnh” Thật vậy, trong nghề dạy học cũng thế, người thầy giáo muốn có tiết dạy hay, học sinh chăm chú lắng nghe chỉ khi họ hiểu được học sinh, họ biết học sinh của mình thích nghe những gì, thích nghe như thế nào(?) Như vậy để dạy học ở lớp

6 đạt hiệu quả thì người thầy phải thấy được các đặc thù của lớp 6 và nó có gì khác với các lớp 7,8,9(?)

Khi dạy học sinh lớp 6 thì phải biết rằng các em là từ lớp 5 lên và nội dung học, cách học ở lớp 5 như thế nào, thói quen học tập ở trên lớp cũng như học ở nhà ra sao (?) Thậm chí cần biết thêm khối lượng kiến thức lớp 5 khác với lớp 6 ở mức độ nào, các em mới vào lớp 6 sẽ gặp khó khăn gì, … Từ đó người thầy giáo sẽ biết để “tránh” gây khó khăn cho các em hơn trong việc học tập bộ môn mình đang dạy Nắm bắt được vấn đề này cũng nhằm hạn chế việc thay đổi đột ngột về phong cách học tập ở học sinh khi các em từ lớp 5 bước vào lớp 6

a)Phương pháp tìm hiểu:

Để tìm hiểu phương pháp dạy học của giáo viên và cách học của học sinh lớp 5, tôi đã quán triệt đội ngũ tiến hành như sau:

+Thông qua học sinh mình đang dạy kể cả thông qua vở ghi chép và vở soạn bài ở nhà của các em hồi ở lớp 5

+Gặp gỡ trao đổi với giáo viên dạy ở lớp 5 về bộ môn mình đang dạy +Nghiên cứu cấu trúc chương trình bộ môn dạy ở lớp 5 và 6 khác nhau như thế nào về dung lượng kiến thức trong mỗi tiết học, nội dung ghi bài học trên lớp, lượng công việc giao về nhà cần hoàn thành

b)Kết quả tìm hiểu về tính đặc thù của lớp 6 như sau:

+Về nội dung chương trình: Ở lớp 5, mỗi tiết học từ 35 đến 40 phút và thường chỉ có khoảng một đơn vị kiến thức được trình bày rất ngắn gọn phần lớn dưới dạng bài tập thực hành Trong khi mới bước vào lớp 6, các em phải tiếp cận với một bộ khung chương trình khá to lớn với không ít hơn 13 môn học, dung lượng kiến thức của mỗi môn học, nhất là ở mỗi tiết học đều lớn hơn nhiều

so với ở lớp 5 (Có minh hoạ độ chênh lệch về dung lượng kiến thức cũng như cách ghi bài trên lớp trong một tiết, buổi học giữa lớp 5 và lớp 6 đối với môn Ngữ văn và môn Toán có kèm theo ở phần phụ lục)

+Về phương pháp dạy học và tổ chức dạy học: Phương pháp dạy học ở tất

cả các môn học nhìn chung chẳng có gì khác biệt giữa lớp 5 và lớp 6 Nhưng về cách tổ chức dạy học thì khác hẳn, do các em lớp 5 được học 2 buổi/ngày nên dường như các nội dung tự học như nắm bắt kiến thức, làm bài tập, luyện tập, bài soạn, … cũng được giải quyết hầu hết tại lớp và các em có thể không cần tự học ở nhà vẫn đảm bảo nắm được phần cơ bản của chương trình Chỉ những em thuộc diện khá giỏi, được phụ huynh quan tâm đầu tư thì các em mới tìm tòi tài liệu để luyện thêm những nội dung nâng cao lúc ở nhà Cũng từ đây đã hình thành thói quen cho đại trà học sinh mới bước vào lớp 6 là tối lại chỉ vui chơi, giải trí!

Trang 7

+Về phương pháp tổ chức và quản lí người học: Ở lớp 5, các em được sự bảo bọc, chỉ bảo khá chu đáo của nhà trường, nhất là của giáo viên phụ trách lớp (gọi là giáo viên chủ nhiệm) Nhưng khi bước vào lớp 6, cách quản lí các em đã khác hẵn, mỗi thầy cô giáo dạy một bộ môn, nhất là giáo viên chủ nhiệm cũng chỉ “gặp” các em mỗi tuần nhiều nhất khoảng vài ba lần ! Với cách quản lí có vẽ rời rạc như thế thì dễ nảy sinh tư tưởng mình được “thả lỏng” từ đó dễ dẫn đến hiện tượng lơ là, thiếu tập trung cho việc học là tất yếu, nhất là đối với đối tượng chưa chăm, ít tự giác

Có cảm nhận được những đặc thù của các em học sinh mới bước vào lớp

6 như vậy thì khi được phân công giảng dạy các bộ môn ở khối lớp này người thầy mới am hiểu về người học nhiều hơn, từ đó vạch ra kế hoạch dạy học phù hợp để kết hợp tổ chức quản lí việc thực hiện nhiệm vụ học tập của các em tốt hơn và để dần dần điều chỉnh, uốn nắn cho các em thích hợp với phương pháp dạy học ở bậc học THCS

2 Việc cần thiết phải tăng cường đầu tư để làm tốt bước kiểm tra bài cũ một cách phù hợp với đặc thù của học sinh lớp 6:

Đây là việc làm bình thường của mỗi GVBM, nhưng ảnh hưởng và tác dụng của nó không hề bình thường nếu phần kiểm tra bài cũ của chúng ta không suông sẻ Bởi lẽ nó có tác động đến tâm lí của cả thầy lẫn trò nếu kết quả kiểm tra không tốt, thầy thì chán nản, trò thì bi quan, … Đặc biệt với học sinh mới bước vào lớp 6, nếu người thầy giáo chưa sâu sát với các em, việc chuẩn bị cho nội dung kiểm tra không chu đáo thì kết quả kiểm tra sẽ không thể nào tốt được

và dễ gây cho các em, đối tượng rất mới mẻ của nhà trường nhiều sợ hãi và choáng ngợp với việc quá tải về nội dung tự học ở nhà

Trong thời gian qua, trong bước kiểm tra bài cũ của nhiều giáo viên, về nội dung tôi thấy có một số bất cập và không hợp lí Ví dụ như:

+GV gọi một học sinh trung bình yếu lên giao cho một câu hỏi quá dễ và học sinh trả lời được ngay! GV lúng túng và phải cho 8 điểm Điều này bất cập

về thang điểm và tính công bằng, vì tại sao em này được câu hỏi dễ(?), và tại sao trả lời đúng lại cho điểm 8(?) Cũng chính điều này làm cho nhiều em không coi trọng điểm số của thầy cho!

+Hoặc kiểm tra học sinh với nội dung quá thiên về lí thuyết, trong khi đó học sinh học ở lớp 5 lại thiên về năng lực thực hành

Chẳng hạn như ở bộ môn Toán, GV gọi một học sinh trung bình với câu hỏi kiểm tra như sau: “Phát biểu tính chất cơ bản của phân số”, hoặc “phát biểu qui tắc bỏ dấu ngoặc”, … Với các kiểu câu hỏi kiểm tra quá thiên về lý thuyết như thế thì phần lớn các em học sinh lớp 6 không trả lời được và khi đó GV kết luận ngay là học sinh này, thậm chí có khi quy kết là lớp này không học bài (?) rồi sinh ra cáu ghét với lớp, tạo khoảng cách thầy trò ngày càng lớn

Theo tôi bước kiểm tra bài cũ là một trong các bước quan trọng trong một tiết học Kết quả kiểm tra nó phản ảnh phần nào kết quả của tiết dạy và học trước đó của thầy, đồng thời cho thấy tính hợp tác trong khâu chuẩn bị của cả thầy lẫn trò để bước vào tiết học mới ra sao(?)

Trang 8

Như đã nói ở trên, đặc thù của học sinh mới bước vào lớp 6 là các em đã thấm nhuần thói quen xem nhẹ các lí thuyết hàn lâm và chủ yếu chú trọng kĩ năng thực hành Do đó để làm tốt và hiệu quả bước này, bản thân tôi cũng là người đang trực tiếp giảng dạy bộ môn toán của một lớp đã thực hiên và quán triệt mỗi GVBM cần lưu ý một số kĩ năng sau:

2.1 Chú trọng câu hỏi kiểm tra kĩ năng thực hành của học sinh nhiều hơn:

Trong kiểm tra bài cũ, thường thường GVBM đặt ra các yêu cầu đầu tiên

là việc phải học thuộc kiến thức nhiều hơn là các yêu cầu về kĩ năng Trong khi cái cần thiết nhất và còn đọng lại ở mỗi học sinh trong cuộc sống là các kĩ năng vận dụng được những kiến thức đã học vào luyện tập, thực hành Do đó trong cách kiểm tra và nội dung kiểm tra đó đã phần nào làm cho học sinh xa rời thực

tế, chưa thấy được các lợi ích thiết thực từ những bài đã học để rồi các em ít thấy mặn mà lắm với những gì đã học ở trên lớp

Chẳng hạn như ở môn GDCD lớp 6, khi học xong bài “Tiết kiệm”, hệ thống câu hỏi kiểm tra bài cũ dành cho một học sinh (Trong bài soạn của GV) là:

“1/Thế nào là tiết kiệm, lợi ích của tiết kiệm?

2/Em đã thực hành tiết kiệm như thế nào?”

Với hệ thống câu hỏi như thế thì chỉ mới đặt câu hỏi 1 thôi cũng đã có không ít em sẽ lúng túng nếu chưa học kĩ phần lí thuyết và nếu GVBM vội vàng đánh giá cho điểm ngay thì sẽ ảnh hưởng tai hại như thế nào đến kết quả học tập

bộ môn này (?)

Do đó nếu GVBM đảo ngược thứ tự hệ thống câu hỏi trên thì dường như

em nào cũng có thể hoàn thành được ít nhất 50-70% yêu cầu kiểm tra !

Hoặc thay cho yêu cầu phát biểu tính chất cơ bản của phân số như đã nêu trên, có thể nêu lần lượt các yêu cầu như sau:

Câu 1: Hai phân số sau như thế nào với nhau: và

Câu 2: Tìm thêm các phân số bằng phân số ?

Câu 3: Nêu tính chất cơ bản của phân số

Một ví dụ khác: thay việc nêu quy tắc bỏ dấu ngoặc, ta có thể nêu:

Câu 1: Bỏ dấu ngặc rồi tính: 19-(9-13)

Câu 2: Giải thích bước bỏ dấu ngoặc trong bài toán ?

Câu 3: Phát biểu quy tắc bỏ dấu ngoặc

Bởi lẽ như đã nói ở phần trên, thói quen ở lớp 5 là thiên về thực hành, nói không được nhưng có thể làm được Do đó khi tiến hành kiểm tra bất kì một học sinh nào, GV có thể giao cho các em một vài bài tập theo yêu cầu vận dụng từ đơn giản đến phức tạp trước sau đó mới kiểm tra hoàn thiện mặt lý thuyết thì kết quả kiểm tra, dù là với những em diện trung bình hoặc yếu, chưa học kỉ bài cũ vẫn có được điểm và tiết học sẽ suông sẻ, các em có phần phấn khởi hơn, động

cơ học tập sẽ tốt hơn

2.2 Đề kiểm tra miệng phải đảm bảo cấu trúc và phù hợp đối với mỗi đối tượng học sinh.

Trang 9

Trong bước kiểm tra bài cũ không ít GVBM có suy nghĩ đơn giản là đặt một vài yêu cầu phù hợp với năng lực của các em và cho điểm đánh giá là xong Tuy nhiên như tôi đã đề cập ở trên là làm như thế sẽ gặp không ít bất cập trong việc kiểm tra đánh giá học sinh

Theo tôi, để kiểm tra một đối tượng học sinh, nhất thiết trước hết là người thầy giáo phải xác định được đối tượng kiểm tra thuộc diện học lực như thế nào, thói quen nề nếp học tập ra sao (?), … Để từ đó chuẩn bị một đề kiểm tra phù hợp, nhằm khai thác, khám phá và phát huy được các em hơn

Đề kiểm tra miệng (KTM) thường chỉ thời lượng rất ngắn tùy theo tình hình thực tế dung lượng từng tiết học, do đó theo tôi nội dung đề KTM chỉ nên

có cấu trúc ở 2 mức độ tùy thuộc ở từng đối tượng như sau:

-Đối tượng khá giỏi cần kiểm tra ở mức độ thông hiểu và vận dụng -Đối tượng trung bình trở xuống thì chỉ kiểm tra ở mức độ nhận biết và thông hiểu

Ví dụ: Cũng với các câu hỏi kiểm tra môn toán như trên, ta có thể lập các

đề KTM cho phù hợp từng đối tượng như sau:

+Đối với đối tượng trung bình trở xuống:

Câu 1: Hai phân số sau như thế nào với nhau: và (Nhận biết) Câu 2: Tìm thêm các phân số bằng phân số ? (Thông hiểu)

Câu 3: Nêu chất cơ bản của phân số (Thông hiểu)

+Đối với đối tượng khá giỏi:

Câu 1: Tìm các phân số bằng phân số ? (Thông hiểu)

Câu 2: Điền số thích hợp vào chỗ dấu ?: (Vận dụng)

Với nội dung kiểm tra như trên thì mỗi em thuộc nhóm đối tượng nào cũng có thể dễ dàng đạt được yêu cầu 1 và việc đánh giá cho điểm của GVBM khó rơi vào tình trạng điểm yếu ở học sinh Có như vậy mới động viên khuyến khích được tinh thần học tập cho các tiết học tiếp theo Cách kiểm tra như thế vừa tạo điều kiện cho đối tượng trung bình yếu không cảm thấy chán nản vì phải thường xuyên bị điểm kém, bên cạnh đó đối tượng khá giỏi cũng được phát huy

3 Tăng cường sự quán xuyến và tổ chức các hình thức kiểm tra việc ghi bài của học sinh trong tiết học:

Như chúng ta đã biết, ở các lớp dưới tiểu học nói chung, lớp 5 nói riêng, với tính đặc thù là trong giờ học giáo viên bộ môn quán xuyến học sinh rất chu đáo, kiểm tra theo dõi các em cả về nội dung bài viết, chữ viết, cách trình bày bài vở … Nhưng khi các em bước vào lớp 6 (kể cả các lớp 7,8,9) thì việc dám sát này dường như bị bỏ ngỏ, bên cạnh đó tính tự giác học tập của các em thì chưa cao do đó việc ghi chép bài ở lớp cũng không ít em xao lãng, thậm chí không có đủ vở sách cho các môn học trên lớp Về phía đội ngũ GVBM, đối với những thầy cô quan tâm theo dõi kiểm tra nhắc nhở thì không nói gì, nhưng bên cạnh đó không ít người không hề quan tâm, có thể do nhiều nguyên nhân như

Trang 10

không có thời gian để xử lí (nếu phát hiện), công việc trên lớp nhiều, sợ cháy giáo án, … điều đáng ngại nhất là có thầy cô chưa gần gũi, thiếu thân thiện với các em Do đó trong thời gian qua tôi đã tiếp nhận không ít phản ánh của một bộ phận GVBM là nhiều em không chép bài, hoặc có em không có đủ vở sách, … Hiện tượng này nếu để kéo dài thì ảnh hưởng không ít đến nề nếp, đến phong trào học tập của lớp và chất lượng dạy học sẽ không tốt

Để chấn chỉnh tình trạng này, tôi đã thực hiện một số biện pháp sau:

1)Nhiệm vụ của chuyên môn nhà trường: Thường xuyên quán triệt nhiệm

vụ của GVBM là phải thường xuyên quán xuyến việc thực hiện nhiệm vụ học tập của học sinh trong giờ dạy của mình, có biện pháp kiểm tra, phát hiện xử lí kịp thời số học sinh vi phạm để ổn định nề nếp học tập chung cho cả lớp; Về phía GVCN cần định kì tổng kiểm tra sách vở của các em bằng hình thức kiểm tra chéo lẫn nhau; Ban kiểm tra nề nếp nhà trường có kế hoạch kiểm tra xác suất

để đôn đốc nhắc nhở chung khi đánh giá thi đua trong học sinh

2)Nhiệm vụ của GVBM: Tăng cường phối hợp cả hai hình thức kiểm tra trong giờ học Đó là:

+GVBM kiểm tra: Hình thức này có thể tiến hành lúc kiểm tra miệng, GVBM kết hợp kiểm tra việc ghi bài, làm bài tập của học sinh và ghi đánh giá nhận xét vào vở ghi của các em để thông báo cho phụ huynh biết để cùng phối hợp trong công tác giáo dục

+Tổ chức lớp tự giám sát và kiểm tra chéo lẫn nhau: Đây là hình thức theo tôi là hiệu quả nhất, bởi lẽ nó mang tính thường xuyên và thể hiện được trách nhiệm cá nhân các em nhiều hơn Để thực hiện được một cách hiệu quả hình thức này, như tôi (cũng là GVBM toán lớp 8/1) đã làm là:

-Phân công giao nhiệm vụ: Ngay từ tiết dạy đầu tiên tôi đã phân công lớp theo cặp đôi để theo dõi, trao đổi, nhắc nhở, kiểm tra lẫn nhau trong giờ học và báo cáo kết quả khi GVBM yêu cầu

-Theo dõi của GVBM: Trong suốt tiết dạy, GVBM phải quán xuyến được lớp để phát hiện, nhắc nhở khi có hiện tượng chểnh mảng, thiếu tập trung trong giờ học Thỉnh thoảng, vào khoảng giữa và gần cuối tiết học, GVBM cho các em từng cặp kiểm tra bài viết để thu thập kết quả, bên cạnh đó giáo viên vẫn đi kiểm tra một vài em để có sự gần gủi và sâu sát học sinh hơn

*Một giải pháp bổ trợ có tính kích cầu cao mà tôi cũng khuyến khích đội ngũ thực hiện, đó là thống nhất trước với lớp cuối mỗi kì học có một cột điểm hệ

số 1 về chấm vở bộ môn Để thực hiện cột điểm này, tôi đã làm như sau:

 Cuối mỗi tiết dạy, học sinh phải ghi đầy đủ các nội dung dặn dò cho từng đối tượng của GVBM vào vở bài tập ngay sau phần đang học

 Cuối mỗi kì học, tôi phân công cho các em tự kiểm tra chéo vở lẫn nhau bằng cách phát mỗi em một phiếu để ghi các thông tin về kết quả kiểm tra vở của bạn mình, sau đó GVBM nhận lại để xem xét, đánh giá cho điểm

Mẫu phiếu như sau:

“PHIẾU KIỂM TRA VỞ”

HỌC KÌ: NH: 2012-2013 Môn: Toán Lớp 8/1 Người kiểm tra: Người được kiểm tra:

Ngày đăng: 03/10/2015, 14:08

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w