Bộ Luật tố tụng hình sự năm 1988 BLTTHS 1988 chưa đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm tạm giam, nhưng những quy định nói trên đã thể hiện sự tiến bộ về mặt kỹ thuật lập pháp tố tụng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS THẠCH HUÔN NGUYỄN NGỌC THOA
Bộ môn: Luật Thương Mại MSSV: 5115934
Lớp: Luật Thương Mại 2
Cần Thơ, tháng 12/2014
Trang 2Tiếp theo em xin gửi lời biết ơn sâu sắc nhất đến Thạc sĩ Thạch Huôn – người thầy đã dành nhiều tâm huyết để trực tiếp hướng dẫn luận văn tốt nghiệp này Trong quá trình làm luận văn, thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp em giải quyết các vấn đề nảy sinh và giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp đúng như định hướng ban đầu
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn đã dành thời gian để có những đóng góp quý báu để bài viết của em thêm hoàn chỉnh
Bằng tất cả sự nổ lực và cố gắng của bản thân trong suốt quá trình tìm tòi, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế và thiết sót Rất mong được sự góp ý tận tình và quý báu của quý Thầy Cô và các bạn
Trân trọng cảm ơn!
Cần Thơ, Tháng 12 năm 2014
Người viết
Nguyễn Ngọc Thoa
Trang 3NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
Cần thơ, ngày… tháng 12 năm 2014
Trang 4NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Cần thơ, ngày… tháng 12 năm 2014
Trang 5MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài 2
5 Bố cục của đề tài 2
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIAM 1.1 Một số khái niệm có liên quan đến quyền con người của người bị tạm giam 3
1.1.1 Khái niệm quyền con người và quyền công dân 3
1.1.1.1 Quyền con người 3
1.1.1.2 Quyền công dân 4
1.1.2 Khái niệm người bị tạm giam 5
1.1.2.1 Tạm giam 5
1.1.2.2 Người bị tạm giam 9
1.1.2.3 Bảo đảm quyền của người bị tạm giam 10
1.2 Quá trình phát triển quyền của người bị tạm giam 11
1.2.1 Quá trình phát triển quyền của người bị tạm giam trong pháp luật quốc tế 11 1.2.1.1 Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948 12
1.2.1.2 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 12
1.2.1.3 Công ước Viên năm 1961 13
1.2.1.4 Công ước Viên năm 1963 14
1.2.2 Quá trình phát triển quyền của người bị tạm giam trong pháp luật Việt Nam 15
1.2.2.1 Trong các bản Hiến pháp 15
1.2.2.2 Trong các Bộ luật tố tụng Hình sự 18
1.3 Ý nghĩa của việc bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam 21
Trang 6CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIAM,
THỰC TIỂN Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG ĐỀ XUẤT 2.1 Pháp luật quốc tế về vấn đề bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam
23
2.1.1 Bảo đảm quyền của người bị tạm giam trước giai đoạn xét xử 24
2.1.2 Bảo đảm quyền của người bị tạm giam trong giai đoạn xét xử 26
2.1.3 Bảo đảm quyền của người bị tạm giam sau giai đoạn xét xử 28
2.2 Pháp luật Việt Nam về vấn đề bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam 29
2.2.1 Bảo đảm quyền của người bị tạm giam 29
2.2.1.1 Bảo đảm quyền được bình đẳng của người bị tạm giam trước pháp luật 29
2.2.1.2 Bảo đảm quyền được bảo hộ tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người bị tạm giam 31
2.2.1.3 Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của người bị tạm giam32 2.2.1.4 Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của người bị tạm giam 33
2.2.1.5 Quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị tạm giam 34
2.2.1.6 Bảo đảm quyền được suy đoán vô tội của người bị tạm giam 36
2.2.1.7 Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giam 37
2.2.1.8 Người bị tạm giam được bảo đảm về quyền tiếp cận thông tin 39
2.2.1.9 Người bị tạm giam được bảo đảm về chế độ sinh hoạt 41
2.2.2 Nghĩa vụ của người bị tạm giam 44
2.2.3 Cơ chế bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam 45
2.2.3.1 Các biện pháp liên quan đến hoạt động lập pháp và thi hành pháp luật của Nhà nước 45
2.2.3.2 Các biện pháp về chế độ trách nhiệm 47
2.2.3.3 Xử lý vi phạm quyền con người 48
2.2.3.4 Thực hiện dân chủ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội 48
2.3 Thực tiễn đảm bảo quyền con người của người bị tạm giam trong hoạt động tố tụng hình sự ở Việt Nam 49
Trang 72.3.1 Những bất cập trong quy định về việc áp dụng biện pháp tạm giam của Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2003 49
2.3.1.1 Căn cứ tạm giam 50
2.3.1.2 Đối tượng bị tạm giam 52
2.3.1.3 Thẩm quyền quyết định việc tạm giam 52
2.3.1.4 Thời hạn tạm giam 53
2.3.2 Các nguyên tắc và một số quyền quan trọng của người bị tạm giam 55
2.3.2.1 Nguyên tắc tranh tụng 55
2.3.2.2 Nguyên tắc suy đoán vô tội 57
2.3.2.3 Quyền bào chữa 57
2.3.2.4 Quyền thăm thân 58
2.3.2.5 Quyền im lặng 59
2.4 Kiến nghị và đề xuất hoàn thiện về việc đảm bào quyền của người bị tạm trong pháp luật tố tụng hình sự 61
2.4.1 Sửa đổi các quy đinh về tạm giam trong bộ luật Bộ Tố tụng hình sự năm 2003 61
2.4.1.1 Căn cứ tạm giam 61
2.4.1.2 Đối tượng bị tạm giam 61
2.4.1.3 Thẩm quyền quyết định việc tạm giam 62
2.4.1.4 Thời hạn tạm giam 62
2.4.2 Bổ sung các Quy định về nguyên tắc và quyền của người bị tạm giam trong Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2003 63
2.4.2.1 Nguyên tắc tranh tụng 63
2.4.2.2 Nguyên tắc suy đoán vô tội 63
2.4.2.3 Quyền bào chữa 64
2.4.2.4 Quyền thăm thân 64
2.4.2.5 Quyền im lặng 65
2.4.2.6 Một số quy định hoàn thiện khác 65
KẾT LUẬN 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bảo đảm quyền con người là một trong những nội dung và cũng là mục đích của xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta Chăm lo đến con người, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho con người phát triển toàn diện trong thực hiện các chính sách kinh tế xã hội, trong các hoạt động Nhà nước là những quan điểm cơ bản được thể hiện trong các văn bản của Đảng và Nhà nước ta, nhất là trong những năm gần đây Nghị
quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020” khẳng định: “Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với cơ quan tư pháp ngày càng cao; các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo
vệ công lý, quyền con người, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm”
Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI của Đảng mới đây cũng tiếp tục đặt ra
nhiệm vụ: “Đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong đó đẩy
mạnh việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người”
Hoạt động tố tụng hình sự là một mặt hoạt động của Nhà nước liên quan rất chặt chẽ với quyền con người Hoạt động tố tụng hình sự là nơi các biện pháp cưỡng chế Nhà nước được áp dụng phổ biến nhất Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình
sự, các biện pháp ngăn chặn có một vị trí đặc biệt quan trọng Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn gắn liền với việc hạn chế các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Tạm giam
là biện pháp ngặn chặn nghiêm khắc nhất trong các biện pháp ngăn chặn còn lại Người
bị tạm giam là bị can, bị cáo, người bị kết án tù hoặc tử hình bỏ trốn bị bắt để tạm giam
mà đối với họ đã có lệnh tạm giam
Thực tế trong những năm qua cho thấy rằng cũng còn nhiều trường hợp vi phạm quyền con người trong quá trình tiến hành tố tụng Những vi phạm đó xảy ra là do nhiều nguyên nhân, trong đó có bất cập, hạn chế của pháp luật, cơ chế, nhận thức, thái độ của người tiến hành tố tụng, các quy định về chế độ trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan, người tiến hành tố tụng đối với công dân, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chưa trực tiếp ghi nhận nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc suy đoán vô tội, chưa đưa ra khái niệm tạm giam, căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam còn nhiều bất cập, quyền và nghĩa vụ của người bị áp dụng biện pháp tạm giam chưa được quy định cụ thể,… Vì vậy, nhận thức được tầm quan trọng trong nghiên cứu việc bảo đảm quyền con người đặc biệt là của chủ thể người bị tạm giam trong tố tụng hình sự từ góc độ lập pháp cũng như áp dụng pháp luật có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói chung, trong công cuộc cải cách tư pháp nói riêng ở nước ta,
Trang 9nên tác giả xin chọn đề tài: “Vấn đề bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam
trong pháp luật Quốc tế và Việt Nam” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Làm rõ những vấn đề lý luận về quyền con người và bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam trong tố tụng hình sự Phân tích các quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự Việt Nam năm 2003 liên quan đến bảo đảm quyền con người Tìm ra những hạn chế
và bất cập đưa ra kiến nghị, giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình
sự Việt Nam về bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Tìm hiểu các quy định về tạm giam, quyền của người bị tạm giam trong các văn bản pháp lý quốc tế: Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948; Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966; Các nguyên tắc tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử với tù nhân năm 1955,…
Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về quyền con người và quyền công dân ở khía cạnh quyền của người bị tạm giam trong Hiến pháp năm 2013
Phân tích các quy định về tạm giam, quyền và nghĩa vụ của người bị tam giam trong
Bộ luật tố tụng hình sự 2003 Tập trung chủ yếu vào nội dung bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam trong mối liên hệ với các chế định khác được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được thực hiện trên cơ sở tham khảo các quan điểm nhân quyền đang tồn tại trên thế giới trong việc đảm bảo quyền của người bị tạm giam, sử dụng phương pháp thống kê, hệ thống, so sánh, phân tích, tổng hợp để đánh giá thực trạng quyền con người của người bị tạm giam hiện nay nhằm phân tích, luận chứng một cách khoa học khi đề ra
sự cần thiết, phương hướng, giải pháp tăng cường sức mạnh của hành lang pháp lý về quyền con người, quyền công dân, quyền của người bị tạm giam
5 Bố cục của đề tài
Phần mở đầu, phần kết luận và mục lục, đề tài được trình bày gồm 2 chương:
Chương 1 Những vấn đề cơ bản về bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam
Chương 2 Pháp luật về quyền con người của người bị tạm giam, thực tiễn ở Việt Nam và những đề xuất
Trang 10CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI
CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIAM
Quyền con người là một trong những vấn đề thiêng liêng, cơ bản và cũng luôn luôn
là khát vọng của toàn thể nhân loại Quyền con người và quyền công dân là hai quyền năng không thể tách rời nhau Quyền công dân là những đặc lợi mà người có quốc tịch của một quốc gia nhất định được hưởng do pháp luật quốc gia đó quy định Hoạt động tố tụng hình sự là một mặt hoạt động của Nhà nước liên quan rất chặt chẽ với quyền con người, quyền công dân Vì thế việc đảm bảo quyền của các chủ thể tham gia tố tụng, đặc biệt là đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam là rất quan trọng cho việc đảm bảo quyền và lợi ích của công dân, quyền con người Vì thế, khi nghiên cứu về vấn đề đảm bảo quyền con người của người bị tạm giam cần làm rõ và đưa ra một số khái niệm về quyền con người, quyền công dân, tạm giam, người bị tạm giam, bảo đảm quyền của người bị tạm giam cũng như nghiên cứu về quá trình phát triển về quyền con người của người bị tạm giam trên Thế giới cũng như ở Việt Nam
1.1 Một số khái niệm có liên quan đến quyền con người của người bị tạm giam
1.1.1 Khái niệm quyền con người và quyền công dân
1.1.1.1 Quyền con người
Quyền con người (hamam rights) là một vấn đề khá phức tạp cho đến nay chúng ta
phải thừa nhận rằng khó có thể tìm thấy một định nghĩa triết học “kinh điển” nào về quyền con người Do vậy, trên thế giới mỗi quốc gia có cách nhìn nhận không giống nhau
về quyền con người Chính vì vậy, hiện nay có rất nhiều định nghĩa về quyền con người, mỗi định nghĩa tiếp cận quyền con người theo những góc độ khác nhau, khó có thể bao quát đầy đủ thuộc tính của nó
Một định nghĩa rất phổ biến thường được trích dẫn bởi các học giả theo học thuyết
quyền tự nhiên (natural rights): Quyền con người là những quyền cơ bản, không thể tước
bỏ mà một người vốn được thừa hưởng đơn giản vì họ là con người
Ở cấp độ quốc tế, có một định nghĩa của Văn phòng cao ủy Liên hợp quốc thường
xuyên được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu: Quyền con người là những bảo đảm pháp
lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người.1
1
Nguyễn Tiến Đạt, Quyền con người và một số vấn đề bảo đảm quyền con người trong việc bắt, tạm giữ ,
tạm giam trong Hiến pháp và luật Tố tụng hình sự Việt Nam,
Trang 11
http://saigonminhluat.com/index.php?option=com_content&view=article&id=6403:quyn-con-ngi-va-mt-Ở Việt Nam, đã có nhiều tác phẩm phân tích về vấn đề quyền con người Trong tác phẩm Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, các tác giả định nghĩa quyền
con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên vốn có của con người được ghi nhận và bảo
vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.2
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng theo quan niệm chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người được xác định dựa trên hai bình diện chủ yếu là giá trị
đạo đức và giá trị pháp luật Dưới bình diện đạo đức, quyền con người là giá trị xã hội cơ
bản, vốn có (những đặc quyền) của con người như nhân phẩm, bình đẳng xã hội, tự
do ; dưới bình diện pháp lý, để trở thành quyền, những đặc quyền phải được thể chế hóa
bằng các chế định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia
Như vậy, nhìn ở góc độ nào và ở cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ Nhờ có những chuẩn mực này mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới được bảo vệ nhân phẩm và có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người Cho dù cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định, một điều rõ ràng là quyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và mọi giai đoạn lịch sử Trong một cuộc khảo sát gần đây do CNN – một trong các cơ quan truyền thông nổi tiếng nhất thế giới tiến hành, quyền con người được xem là một trong mười phát minh làm thay đổi thế giới.3
Liên quan đến khái niệm trên, cũng cần lưu ý rằng thuật ngữ human rights trong tiếng Anh có thể được dịch là quyền con người (theo tiếng thuần Việt) hoặc quyền con
người (theo Hán – Việt) Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “nhân quyền” chính là “quyền con
người”4 Như vậy, xét về mặt ngôn ngữ học, đây là hai từ đồng nghĩa, do đó, hoàn toàn
có thể sử dụng cả hai từ này trong nghiên cứu, giảng dạy và hoạt động thực tiễn về quyền con người
1.1.1.2 Quyền công dân
Để có thể làm sáng tỏ quyền con người, cần phân biệt khái niệm quyền con người
và khái niệm quyền công dân Nếu như con người là một thực thể sinh học – xã hội, thì công dân là người mang quốc tịch của một quốc gia nhất định Tại khoản 1, Điều 17 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (Hiến pháp năm 2013) quy
định: “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt
s-vn-bo-m-quyn-con-ngi-trong-vic-bt-tm-gi-tm-giam-trong-hin-phap-va-lut-t-tng-hinh-s&catid=362:quyen-con-nguoi-quyen-cong-dan&Itemid=549 , [truy cập ngày 24-10-2014]
2
Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, Giáo trình lý luận và pháp luật
về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr 38.
3
Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, Giáo trình lý luận và pháp luật
về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr 38
4
Viện ngôn ngữ học: Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa, Thông tin, 1999, tr 1239.
Trang 12Nam” Điều đó có nghĩa, chỉ những người có quốc tịch Việt Nam mới là công dân Việt
Nam, mới được hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ của công dân được hình thành một chỉnh thế thống nhất, tạo nên địa vị pháp lý của công dân trong xã hội
Người nước ngoài, người không có quốc tịch là những người không có quốc tịch của nước sở tại, nên không phải là công dân của nước đó, vì vậy, không được hưởng các quyền và không phải thực hiện các nghĩa vụ của công dân mà pháp luật nước đó quy định Tuy nhiên, họ cũng có những quyền và phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định do pháp luật nước sở tại quy định và tổng thể những quyền và nghĩa vụ pháp lý này tạo nên địa vị pháp lý của họ với tính chất là người nước ngoài, người không có quốc tịch trong xã hội Điểm chung nhất của công dân, người nước ngoài, người không có quốc tịch là mặc dù
họ có địa vị pháp lý khác nhau, nhưng họ đều được hưởng quyền con người, bởi lẽ, họ đều là con người
Các Hiến pháp của Nhà nước ta đều quy định những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Trong Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 (sau đây gọi tắt
là Hiến pháp năm 1946), quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định tại chương III – Quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân; trong Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1959 (sau đây gọi tắt là Hiến pháp năm 1959), được quy định tại Chương
V – Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; trong Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1992 (sau đây gọi tắt là Hiến pháp năm 1992) được quy định tại Chương V – Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; trong Hiến pháp năm 2013 được quy định tại Chương II – Quyền con người, Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Từ sự phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm quyền công dân như sau: quyền
công dân là những đặc lợi mà người có quốc tịch của một quốc gia nhất định được hưởng do pháp luật quốc gia đó quy định
1.1.2 Khái niệm người bị tạm giam
1.1.2.1 Tạm giam
Nghiên cứu về tố tụng hình sự của Liên bang Nga, Nhật Bản, Cộng hòa Pháp,… cho thấy, Bộ luật tố tụng hình sự của các nước này quy định khác nhau về căn cứ, thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam, nhưng có một điểm chung là đều không có định nghĩa pháp lý của khái niệm tạm giam
Điều 108, Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga quy định: “1 Tạm giam với tư
cách là biện pháp ngăn chặn được áp dụng theo quyết định của Tòa án đối với người bị tình nghi hoặc bị can về tội mà luật hình sự quy đinh hình phạt tước tự do trên hai năm trong trường hợp không thể áp dụng biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khắc hơn Trong những trường hợp đặc biệt, biện pháp ngăn chặn này có thể được áp dụng đối với
Trang 13người bị tình nghi, bị can về tội có mức hình phạt tước tự do đến hai năm, nếu có một trong những tình tiết sai đây:
a) Người bị tình nghi hoặc bị can không có nơi cư trú thường xuyên trên lãnh thổ Liên bang Nga;
b) Không xác định được nhân thân của họ;
c) Họ đã vi phạm biện pháp ngăn chặn khác được áp dụng trước đó đối với họ;
d) Họ đã trốn tránh Cơ quan điều tra hoặc Tòa án”5
Điều 10, Bộ luật tố tụng hình sự Nhật Bản cũng quy định thẩm quyền áp dụng tạm
giam thuộc về Tòa án như Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga: “1 Tòa án có thể tạm
giam bị cáo khi có đầy đủ căn cứ để nghi ngờ rằng người đó đã phạm tội và thuộc một trong những trường hợp sau đây:
a) Nếu họ không có nơi ở ổn định;
b) Nếu có đủ căn cứ để nghi ngờ rằng bị cáo có thể tiêu hủy chứng cứ;
c) Khi bị cáo trốn hoặc có đủ căn cứ để nghi ngờ rằng họ có thể trốn” 6
Điều 144, Bộ luật tố tụng hình sự Cộng hòa Pháp quy định về căn cứ tạm giam khác
với Bộ luật tố tụng hình sự Nhật Bản: “Đối với trọng tội và khinh tội, nếu hình phạt quy
định từ một năm tù trở lên trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc từ hai năm tù trở lên trong những trường hợp khác và nếu đương sự không tôn trọng đầy đủ nghĩa vụ giám sát tư pháp theo quy định tại Điều 137, thì có thể ra lệnh tạm giam hoặc gia hạn tạm giam khi:
1 Việc tạm giam bị can là biện pháp duy nhất để bảo vệ chứng cứ, dấu hiệu phạm tội, để ngăn chặn việc gây áp lực đối với người bị hại, người làm chứng hoặc để ngăn chặn sự thông đồng giữa bị can với những người đồng phạm;
2 Việc tạm giam là cần thiết để bảo vệ đương sự, chấm dứt tội phạm, ngăn ngừa tái phạm, đảm bảo sự giám sát của Tòa án đối với đương sự hoặc để giữ gìn trật tự xã hội
Cũng có thể ra lệnh tạm giam theo quy định tại Điều 141-2 khi bị can cố ý trốn tránh những nghĩa vụ liên quan đến biện pháp giám sát tư pháp”7
Trong các văn bản pháp luật Việt Nam thì tạm giam với tính chất là biện pháp ngăn chặn lần đầu tiên được quy định tại Điều 5 Luật số 103-SL/L.005 ngày 20/5/1957 về bảo đảm về tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật thư tín của nhân
Trang 14dân tại các điều 6, 7, 8 Điều 6 Luật này quy định: “Cơ quan tư pháp, Công an từ cấp
tỉnh hoặc từ thành phố trở lên hoặc Tòa án binh phải hỏi cung trong thời hạn 3 ngày kể
từ lúc nhận giữ can phạm, để quyết định việc tha hẳn, tạm tha hoặc tạm giam Lệnh tạm giam can phạm do cơ quan tư pháp từ cấp tỉnh hoặc thành phố trở lên hoặc Tòa án binh ký” 8
Nghị định số 301-TTg ngày 10/7/1957 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết Luật số 103-SL/L.005 ngày 20/5/1957 về bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân tại Điều 6 đã quy định cụ thể hơn
về việc thực hiện biện pháp này: “Lúc ra lệnh tạm giam, hoặc gia hạn tạm giam một
người phạm pháp, cơ quan Tư pháp phải báo tin cho thân nhân người ấy biết lý do việc tạm giam, trừ trường hợp việc báo tin đó có thể làm trở ngại cho công tác điều tra trinh sát hoặc trường hợp không có cách nào báo tin được”
Điều 5, Sắc luật số 02-SL/76 ngày 15/3/1976 của Hội đồng Chánh phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã quy định về sự bắt buộc phải có phê chuẩn
của Viện kiểm sát nếu không phải là lệnh viết của cơ quan này tại Điều 5: “Sau khi bắt
hoặc nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc trường hợp khẩn cấp,
cơ quan An ninh hoặc Viện kiểm sát nhân dân phải xét hỏi ngay Trong ba ngày kể từ khi bắt hoặc nhận người bị bắt, các cơ quan này phải xét, quyết định trả tự do, tha hẳn, tạm tha hoặc giải người bị bắt lên cấp trên, nếu vụ án thuộc thẩm quyền của cấp trên
Nếu xét thấy cần phải tạm giam, thì việc tạm giam phải có lệnh viết của Viện kiểm sát nhân dân từ cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trở lên hoặc lệnh viết của
cơ quan An ninh cấp tương đương, đã được sự phê chuẩn của Việm kiểm sát nhân dân cùng cấp, nếu là vụ án hình sự hoặc của Ủy ban nhân dân cách mạng cùng cấp, nếu là trường hợp tập trung cải tạo
Thời hạn tạm giam không được quá:
Hai tháng đối với các vụ thường phạm mà pháp luật quy định hình phạt từ năm năm
tù trở xuống
Bốn tháng đối với các vụ phạm tội đến an ninh chánh trị và các thường phạm mà pháp luật quy định hình phạt trên năm năm tù” 9
So với các văn bản pháp luật tương ứng trước đó, quy định trên thể hiện bước tiến
bộ về mặt kỹ thuật lập pháp tố tụng hình sự của nước ta trong lĩnh vực bảo đảm quyền tự
do thân thể của con người
Trang 15Trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, tạm giam được quy định tại các Điều 70,
71, 72, 73 trong đó đối tượng bị áp dụng biện pháp này chỉ có thể là bị can, bị cáo
Bộ Luật tố tụng hình sự năm 1988 (BLTTHS 1988) chưa đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm tạm giam, nhưng những quy định nói trên đã thể hiện sự tiến bộ về mặt kỹ thuật lập pháp tố tụng hình sự của nước ta về biện pháp ngăn chặn này và hoàn toàn phù hợp với khoản 1 Điều 9 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày
16/2/1966: “Mọi người đều có quyền hưởng tự do và an ninh cá nhân Không ai bị bắt
hoặc giam giữ vô cớ Không một ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp có lý do và phải theo đúng những thủ tục mà pháp luật đã quy định”10
Trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, tạm giam được quy định cụ thể hơn so với quy định tương ứng trong BLTTHS 1988 tại Điều 88:
“1 Tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong những trường hợp sau đây:
a) Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng; b) Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội
2 Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ trường hợp đặc biệt sau đây:
a) Bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã;
b) Bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử;
c) Bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họ sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia”
Như vậy, so với BLTTHS 1988 thì BLTTHS 2003 đã cụ thể hóa những trường hợp
áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng Điều này thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước ta đối với những đối tượng này Tuy nhiên, BLTTHS 2003 cũng chưa chính thức ghi nhận về mặt pháp lý khái niệm tạm giam, khái niệm người gia yếu, người bị bệnh nặng
Quy chế về tạm giữ, tạm giam được ban hành kèm theo Nghị định số
89/1998/NĐ-CP ngày 7/11/1998 của Chính phủ đã đưa ra khái niệm tạm giam như sau: “Tạm giam,
tạm giữ là những biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự do
10
Các văn kiện quốc tế về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.181.
Trang 16Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án áp dụng nhằm buộc những người có lệnh tạm giữ hoặc lệnh tạm giam cách ly khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để ngăn chặn hành vi phạm tội, hành vi gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc đảm bảo thi hành án phạt tù hoặc án tử hình” Khái niệm trên đã chỉ ra được mục đích của
biện pháp tạm giam, nhưng nhược điểm của nó là chưa phân biệt được tạm giữ với tạm
giam
Tạm giam là biện pháp ngăn chặn được áp dụng trong thời hạn tương đối dài, thậm chí có những trường hợp còn dài hơn cả mức tối thiểu của hình phạt tù có thời hạn; nó không chỉ tạm thời hạn chế tự do thân thể, mà còn tạm thời hạn chế tự do đi lại và các quyền tự do cá nhân khác, nhưng không có mục đích trừng phạt, giáo dục cải tạo người bị
áp dụng, mà nhằm giải quyết vụ án một cách công minh, khách quan và đúng pháp luật Biện pháp tạm giam không phải là hình phạt, vì vậy không thể tước tự do đối với bị can,
bị cáo là những người chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Đây là đặc điểm phân biệt “tạm giam” với “giam” “Giam” là biện pháp chấp hành hình phạt tù, người bị kết án phải cải tạo và sinh sống trong trại cải tạo (trại giam) một thời gian bằng
hạn tù mà Tòa án đã tuyên Vì vậy, Điều 89 BLTTHS 2003 quy định: “Chế độ tạm giữ,
tạm giam khác với chế độ đối với người đang chấp hành hình phạt tù”
Từ sự phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm tạm giam như sau: Tạm giam là biện
pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do người có thẩm quyền của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng tạm thời hạn chế tự do cá nhân với mức độ nghiêm khắc trong thời hạn tương đối dài, đối với bị can, bị cáo nhằm ngăn chặn tội phạm, đảm bảo cho việc tiến hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án 11
1.1.2.2 Người bị tạm giam
Khái niệm người bị tạm giam được đề cập trong sổ tay thuật ngữ pháp lý thông
dụng như sau: “Người bị tạm giam là bị can, bị cáo bị những người có thẩm quyền ra
lệnh tạm giam để kịp thời ngăn chặn tội phạm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử”.12
Cũng như biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam, đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam cũng chỉ có thể là bị can, bị cáo:
Thứ nhất, bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng13, rất nghiêm trọng14
11
Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình Luật tố tụng Hình sự Việt Nam, Nxb Hồng
Đức – Hội luật gia Việt Nam, 2013, tr 299-300
12
Nguyễn Duy Lãm, Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1996, tr 240
13
Là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy
là trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
14
Là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến
15 năm tù
Trang 17Thứ hai, bị can, bị cáo này phạm tội nghiêm trọng15 hoặc phạm tội ít nghiêm trọng16 Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 88, BLTTHS 2003 thì không phải tất cả những người phạm tội ít nghiêm trọng đều có thể bị tạm giam Chỉ có thể tạm giam đối với những người phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 (BLHS 1999) quy định hình phạt tù trên 2 năm Có căn cứ cho rằng người đó
có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội Để xác định bị can, bị cáo có thể trốn, cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội hay không phải căn cứ vào một số hành vi của từng bị can, bị cáo trong từng vụ án cụ thể Đối tượng bị tạm giam cũng có thể là người bị kết án tù hoặc tử hình nếu có căn cứ cho thấy bị cáo có thể trốn hoặc tiếp tục phạm tội được quy định tại Điều 228 BLTTHS 2003:
“1 Đối với bị cáo đang bị tạm giam mà bị phạt tù nhưng đến ngày kết thúc phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án, trừ trường hợp bị cáo bị xử phạt tù, nhưng được hưởng án treo hoặc thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời gian bị cáo đã bị tạm giam
2 Trong trường hợp bị cáo không bị tạm giam nhưng bị phạt tù thì họ chỉ bị bắt tạm giam để chấp hành hình phạt khi bản án đã có hiệu lực pháp luật Hội đồng xét xử
có thể ra quyết định bắt tạm giam ngay bị cáo nếu có căn cứ cho thấy bị cáo có thể trốn hoặc tiếp tục phạm tội
3 Thời hạn tạm giam bị cáo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này là bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày tuyên án
4 Đối với bị cáo bị phạt tử hình thì Hội đồng xét xử quyết định trong bản án việc tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án”
Như vậy, từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm người bị tạm giam như
sau: Người bị tạm giam là bị can, bị cáo, người bị kết án tù hoặc tử hình bỏ trốn bị bắt để
tạm giam do những người có thẩm quyền ra lệnh tạm giam để kịp thời ngăn chặn tội phạm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án
1.1.2.3 Bảo đảm quyền của người bị tạm giam
Trong khoa học pháp lý, còn có nhiều quan điểm khác nhau về bảo đảm pháp lý Quan điểm thứ nhất của nhà luật học người Nga A.B Mixkevich cho rằng: “bảo đảm pháp lý được hiểu là phương tiện bảo vệ quyền công dân khỏi bất cứ sự xâm hại
Trang 18nào”17 Trong khi đưa ra khái niệm “bảo đảm pháp lý”, A.B Mixkevich dẫn chiếu tới một khái niệm khác là phương tiện bảo vệ quyền công dân, nhưng lại chưa làm rõ được thế nào là phương tiện bảo vệ quyền công dân và như vậy, quan điểm này về bảo đảm pháp lý còn rất chung chung và tác giả chưa làm sáng tỏ được nội hàm của khái niệm này Quan điểm thứ hai của luật học người Nga M.X.Xtrôgôvich cho rằng, “bảo đảm pháp lý là những phương tiện và biện pháp được pháp luật quy định, mà bằng những phương tiện và biện pháp đó, quyền của công dân được bảo vệ; ngăn chặn và loại trừ vi phạm”18
Có thể đồng quan điểm của M.X.Xtrôgôvich và cho rằng, bảo đảm pháp lý đối với quyền và tự do của công dân là việc quy định và áp dụng những biện pháp, phương tiện được pháp luật quy định để bảo vệ và thực hiện quyền và tự do của công dân trên thực tế Cần nhấn mạnh rằng, bảo đảm quyền và tự do của công dân có mối quan hệ chặt chẽ với bảo đảm pháp chế Ở đâu pháp chế được tuân thủ, ở đó tồn tại sự bảo đảm pháp lý đối với các quyền, tự do của công dân
Từ sự phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp
của người bị tạm giam trong tố tụng hình sự như sau: Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp
của người bị tạm giam trong tố tụng hình sự là việc quy định và thi hành những biện pháp, phương tiện do pháp luật tố tụng hình sự quy định nhằm thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giam cũng như thực hiện nhiệm vụ của tư pháp hình sự trong
tố tụng hình sự 19
1.2 Quá trình phát triển quyền của người bị tạm giam
1.2.1 Quá trình phát triển quyền của người bị tạm giam trong pháp luật quốc tế
Tạm giam luôn là vấn đề nhạy cảm trong đời sống chính trị, xã hội của mỗi quốc gia, đây là một trong các biện pháp ngăn chặn ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do về thân thể đã được pháp luật quốc tế tôn trọng
và bảo vệ Tuy nhiên, về vấn đề tạm giam trong pháp luật quốc tế hiện nay vẫn chưa có những quy định cụ thể, riêng biệt mà vấn đề này chỉ được xác định qua một số văn bản pháp lý quốc tế có liên quan Trong nội dung bài viết này, người viết xin đề cập và trao đổi về một số quy định tạm giam trong một số văn bản pháp lý quốc tế đang có hiệu lực
M.X.Xtrôgôvich, Bảo đảm pháp chế ở Liên bang Nga, Nxb Sách pháp lý, Mátcơva, 1995, Tr 223
19 Trần Quang Tiệp, Về bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, trong tố tụng hình
sự, Nxb Chính trị - Quốc gia, Hà Nội, năm 2009, Tr 23
Trang 191.2.1.1 Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948
Tuyên ngôn về Nhân quyền (Tuyên ngôn Nhân quyền) là một tuyên bố được thông qua tại Đại hội đồng Liên Hợp quốc vào ngày 10/12/1948 tại Palais de Chaillot ở Paris Đây được coi là một văn bản pháp lý quốc tế quan trọng để xác định các quyền cơ bản của con người được tôn trọng và bảo vệ trong đó có quyền tự do về thân thể, là cơ sở đầu tiên để các quốc gia thành viên có thể áp dụng các quy định của pháp luật đối với một cá nhân, trong đó có việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với người phạm tội trong hoạt động tố tụng hình sự Quyền được bảo vệ để khỏi bị giam giữ tùy tiện trước hết được quy
định trong Điều 9 Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế (UDHR), trong đó nêu rằng: “Không
một ai bị bắt bớ, cầm tù hay lưu đày một cách độc đoán”
1.2.1.2 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966
Ngày 16 tháng 12 năm 1966, Đại hội đồng Liên Hợp quốc đã thông qua Công ước
về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), tại Điều 9 của Công ước này đã cụ thể hóa Điều 9 của Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế về việc bảo vệ quyền tự do và bất khả xâm phạm về thân thể của con người bằng những quy định khá chi tiết, theo đó:
“Mọi người đều có quyền được hưởng tự do và an toàn cá nhân; không ai bị bắt hoặc bị giam giữ vô cớ; không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền đó
là có lý do và theo đúng những thủ tục mà luật pháp đã quy định
Bất cứ người nào bị bắt giữ đều phải được thông báo vào lúc bị bắt về những lý do
họ bị bắt và phải được thông báo không chậm trễ về sự buộc tội đối với họ Bất cứ người nào bị bắt hoặc bị giam giữ vì một tội hình sự phải được sớm đưa ra toà án hoặc một cơ quan tài phán có thẩm quyền thực hiện chức năng tư pháp và phải được xét xử trong thời hạn hợp lý hoặc được trả tự do; việc tạm giam một người trong thời gian chờ xét xử không được đưa thành nguyên tắc chung, nhưng việc trả tự do cho họ có thể kèm theo những điều kiện để bảo đảm họ sẽ có mặt tại toà án để xét xử vào bất cứ khi nào và để thi hành án nếu bị kết tội
Bất cứ người nào do bị bắt hoặc giam giữ mà bị tước tự do đều có quyền yêu cầu được xét xử trước toà án, nhằm mục đích để toà án đó có thể quyết định không chậm trễ
về tính hợp pháp của việc giam giữ và ra lệnh trả lại tự do cho họ, nếu việc giam giữ là bất hợp pháp
Bất cứ người nào trở thành nạn nhân của việc bị bắt hoặc bị giam giữ bất hợp pháp đều có quyền được yêu cầu bồi thường.”
Ngoài những nội dung đã được nêu cụ thể như trên, trong Bình luận chung số 8 thông qua tại phiên họp lần thứ 16 năm 1982, Ủy ban Nhân quyền (HRC) đã giải thích
Trang 20thêm một số nội dung có liên quan đến Điều 9 của Công ước này, có thể tóm tắt những điểm quan trọng như sau:
Quyền tự do và an toàn cá nhân được áp dụng cho tất cả những người bị tước tự do,
kể cả các trường hợp do phạm tội hay do bị tâm thần, lang thang, nghiện ma tuý, hay để nhằm các mục đích giáo dục, kiểm soát việc nhập cư,
Thời hạn tạm giữ, tạm giam phụ thuộc vào pháp luật của các quốc gia thành viên, tuy nhiên, theo Ủy ban, thời hạn tạm giữ không nên vượt quá vài ngày, còn thời hạn tạm giam cần phù hợp với hai quy tắc: bị can, bị cáo phải được xét xử trong thời gian hợp lý hoặc được trả tự do và việc tạm giam chỉ được coi là ngoại lệ và với thời gian càng ngắn càng tốt
Trong trường hợp sử dụng tạm giữ, tạm giam như là một biện pháp ngăn chặn, việc này không được tiến hành một cách tùy tiện mà phải dựa trên các trình tự, thủ tục được luật pháp qui định, đồng thời phải bảo đảm quyền được thông tin của bị can, quyền được toà án quyết định tính hợp pháp của việc giam giữ, quyền được yêu cầu bồi thường của bị can, bị cáo trong trường hợp oan sai
1.2.1.3 Công ước Viên năm 1961
Công ước Viên 1961 về quan hệ ngoại giao được thông qua ngày 18 tháng 4 năm
1961 tại Hội nghị Viên của Liên hợp quốc về quan hệ ngoại giao và miễn trừ ngoại giao Công ước bao gồm lời mở đầu và 51 điều khoản, phần lớn nội dung của Công ước nói về
quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao trong đó xác định: “Thân thể của viên chức ngoại giao
là bất khả xâm phạm Họ không thể bị bắt hoặc bị giam giữ dưới bất cứ hình thức nà,…” (Điều 29)
Ngoài ra, các thành viên gia đình của viên chức ngoại giao cùng sống chung với người đó, nếu không phải là công dân nước tiếp nhận; các nhân viên hành chính và kỹ thuật của cơ quan đại diện cũng như các thành viên gia đình cùng sống chung với họ, nếu không phải là công dân nước tiếp nhận hoặc không có nơi cư trú thường xuyên ở nước này được hưởng những quyền ưu đãi và miễn trừ như viên chức ngoại giao; các nhân viên phục vụ của cơ quan đại diện không phải là công dân nước tiếp nhận hoặc không có nơi cư trú thường xuyên ở nước này được hưởng những quyền miễn trừ đối với những hành vi trong khi thi hành chức năng của họ
Như vậy, theo quy định của pháp luật quốc tế, đối với những người có thân phận ngoại giao cũng như thành viên gia đình của họ sẽ không bị bắt, tạm giữ, tạm giam khi họ thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ quốc gia mà họ đang thực thi nhiệm vụ
Trang 211.2.1.4 Công ước Viên năm 1963
Công ước Viên 1963 về quan hệ lãnh sự được thông qua ngày 24 tháng 4 năm 1963 quy định về quyền ưu đãi, miễn trừ lãnh sự đối với viên chức lãnh sự Tại Điều 41 của
Công ước xác định:“Viên chức lãnh sự không bị bắt hay bị tạm giam chờ xét xử, trừ
trường hợp phạm tội nghiêm trọng và theo quyết định của cơ quan tư pháp có thẩm quyền” Theo như quy định của công ước thì không như viên chức ngoại giao, viên chức
lãnh sự cũng có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng theo quy định của nước sở tại và trong trường hợp bắt hoặc tạm giam chờ xét xử hoặc truy tố về hình sự một cán bộ nhân viên biên chế cơ quan lãnh sự, nước tiếp nhận phải nhanh chóng thông báo cho người đứng đầu cơ quan lãnh sự Nếu chính bản thân người
đó là đối tượng của một biện pháp như vậy, thì nước tiếp nhận phải thông báo cho nước
cử qua đường ngoại giao
Thứ hai, bên cạnh việc quy định cụ thể về bắt, tạm giữ, tạm giam nhằm bảo vệ và
tôn trọng quyền tự do, bất khả xâm phạm về thân thể của con người trong các điều ước đa phương như Tuyên ngôn Nhân quyền và Công ước về các quyền dân sự và chính trị của con người thì vấn đề bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người phạm tội còn được thể hiện trong một số hoạt động cụ thể trong quan hệ quốc tế, đặc biệt là trong hợp tác quốc tế về đấu tranh và phòng chống tội phạm, thể hiện qua các điều ước song phương và đa phương mà các quốc gia tham gia và ký kết với nhau Trong nội dung bài viết này, người viết đề cập đến hai vấn đề là trường hợp bắt đối tượng truy nã quốc tế và tạm giữ để dẫn
độ
Một là, trong trường hợp tạm giữ để dẫn độ: Các hiệp định tương trợ tư pháp đều
quy định là sau khi nhận được yêu cầu dẫn độ, nước được yêu cầu cần tiến hành những biện pháp cần thiết để truy tìm người phạm tội đang bỏ trốn và ra lệnh bắt giữ khi cần thiết Theo quy định này thì các quốc gia chỉ được quyền bắt, tạm giữ đối tượng khi nhận được yêu cầu dẫn độ của một quốc gia khác Tuy nhiên, trong trường hợp khẩn cấp, để kịp bắt giữ tội phạm, nước được yêu cầu có thể tạm giữ trước người bị yêu cầu dẫn độ khi chưa nhận được văn bản yêu cầu dẫn độ chính thức nhưng trước đó cần phải có đề nghị của nước yêu cầu và nước này bảo đảm chắc chắn là đã có lệnh bắt hoặc đã có bản
án có hiệu lực pháp luật đối với đối tượng này và phải có đảm bảo chắc chắn của nước yêu cầu dẫn độ là những văn bản đó sẽ được gửi tới sau
Ngoài ra, các hiệp định còn quy định trong những trường hợp khẩn cấp chưa có đề nghị của nước ký kết kia, cũng có thể tạm giữ một người đang có mặt trên lãnh thổ nước mình nếu có tin tức về việc người đó đã thực hiện trên lãnh thổ nước ký kết kia một tội phạm đưa đến dẫn độ Tất cả những trường hợp tạm giữ nói trên đều phải thông báo tạm giữ cho nước ký kết kia biết Sau thời hạn quy định kể từ ngày thông báo việc tạm giữ
Trang 22cho nước ký kết kia, nước ký kết này không nhận được văn bản yêu cầu dẫn độ thì phải trả lại tự do cho người bị tạm giữ Thời hạn này được quy định không giống nhau trong các hiệp định Ví dụ như: Trong các hiệp định Việt Nam ký kết với Cộng hòa dân chủ Đức cũ, Tiệp Khắc thời hạn này là 02 tháng; các hiệp định ký với Liên Xô cũ, Cu Ba, Bungary, Cộng hòa dân chủ Lào, Liên bang Nga là 01 tháng; Hiệp định ký với Hungary
là 40 ngày…
Hai là, bắt đối tượng truy nã quốc tế: theo quy định của pháp luật quốc tế trong hoạt
động truy nã tội phạm thì khi cần bắt giữ một đối tượng bị truy nã, Interpol sẽ ban
hành “lệnh truy nã đỏ” và lệnh cho các quốc gia thành viên phải phối hợp truy nã hình sự các cá nhân phạm tội, tiến hành bắt giữ và chuyển giao tội phạm “Lệnh truy nã đỏ” là
quy ước truy nã phổ biến và nổi tiếng nhất, đồng thời đây cũng chính là giấy chứng nhận bắt giữ hình sự mang tính chất tạm thời cho phép các quốc gia thành viên được áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ đối với công dân nước ngoài trên lãnh thổ quốc gia của mình Ngoài ra, theo các hiệp định tương trợ tư pháp song phương thì một quốc gia cũng có thể bắt giữ một công dân của nước khác bị truy nã đang lẩn trốn ở quốc gia của mình khi có yêu cầu của quốc gia tham gia hiệp định thông qua các văn phòng Interpol (tổ chức cảnh sát chống tội phạm quốc tế) ở mỗi quốc gia Đây vừa là quyền bắt giữ công dân nước ngoài, đồng thời cũng là nghĩa vụ phải thực hiện của các quốc gia tham gia các hiệp định quốc tế song phương và đa phương
Đối với Việt Nam, với vai trò là một thành viên của Liên Hợp quốc, đã tham gia vào các công ước quốc tế nói trên, việc tuân thủ những quy định của pháp luật quốc tế về bắt, tạm giữ, tạm giam luôn là một vấn đề quan trọng, điều này cần được thể hiện bằng việc luật hóa cụ thể các quy định đó trong hệ thống pháp luật nước ta và vận dụng đúng đắn trong thực tiễn áp dụng pháp luật, đặc biệt là việc bắt, tạm giữ, tạm giam đối với những đối tượng là người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam.20
1.2.2 Quá trình phát triển quyền của người bị tạm giam trong pháp luật Việt Nam
1.2.2.1 Trong các bản Hiến pháp
Thứ nhất, ngày 09/11/1946 Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa được Quốc hội thông qua Những tư tưởng cơ bản về bảo vệ quyền tự do, dân chủ công dân trong xét xử vụ án hình sự đã được quy định Hiến pháp khẳng định tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật (Điều 7); công dân không bị bắt giam khi chưa có quyết định của Tòa án (Điều 11); Nhà nước bảo đảm quyền bất khả xâm phạm
về nhà ở, thư tín, quyền tư hữu về tài sản (Điều 11, 12) Trong hoạt động xét xử, Hiến
20
Hồ Thanh Giang, Tìm hiểu quy định của pháp luật quốc tế về bắt, tạm giữ, tạm giam, Báo điện tử Cảnh
sát nhân dân, bat,-tam-giu,-tam-giam 526 , [truy cập ngày 17-11-2014]
Trang 23http://www.pup.edu.vn/vi/Tap-chi-CAND/Tim-hieu-quy-dinh-cua-phap-luat-Quoc-te-ve-pháp 1946 quy định nguyên tắc Tòa án xét xử công khai, trừ những trường hợp đặc biệt;
bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc mượn người bào chữa (Điều 67); cấm các hình thức tra tấn, đánh đập, ngược đãi bị cáo (Điều 68); Tòa án xét xử chỉ tuân theo pháp luật, không
ai được can thiệp (Điều 69),…
Đặc biệt, việc bảo đảm quyền con người trước khi ban hành Hiến pháp năm 1959 được quy định đồng bộ và cụ thể tại Luật số 103-SL/L005 ngày 24/01/1957 đảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân Luật này không chỉ quy định nguyên tắc chung, việc tạm giam và khám người, đồ vật, nhà ở, thư tín, mà còn quy định các thủ tục để tiến hành các hoạt động tố tụng đó Đặc biệt, Luật quy định việc tạm giam phải do Tòa án cấp tỉnh trở lên hoặc Tòa án binh quyết định với thời hạn cụ thể; đồng thời cũng quy định việc tạm tha trong trường hợp không cần thiết hoặc đối với các đối tượng đặc biệt là người già yếu, phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú (Điều 7, 8),…
Thứ hai, ngày 31/12/1959 Quốc hội thông qua Hiến pháp lần thứ hai của nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa Hiến pháp một lần nữa khẳng định các nguyên tắc quan trọng về bảo đảm quyền con người liên quan đến hoạt động xét xử của Tòa án như mọi công dân bình đẳng trước pháp luật; quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhà ở, thư tín; nguyên tắc xét xử công khai; Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo Ngoài ra, so với Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 có một
số bổ sung rất quan trọng như quy định quyền khiếu nại, tố cáo của công dân (Điều 29); nguyên tắc giám đốc xét xử của Tòa án nhân dân tối cao đối với hoạt động xét xử của Tòa án cấp dưới (Điều 103)
Các nguyên tắc hiến định trên đã được cụ thể hóa và thực hiện trong các luật (như Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 14/7/1960, Sắc luật số 01/SL-76 ngày 15/3/1976 của Hội đồng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền nam Việt Nam…), Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, văn bản của các cơ quan có thẩm quyền khác hướng dẫn về công tác xét xử Ví dụ: cụ thể hóa nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa cho bị can, bị cáo, Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 14/7/1960 quy định ngoài việc tự bào chữa, bị cáo có thể nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa cho mình; khi cần thiết (bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, bị cáo có thể bị phạt tử hình) và nếu bị cáo không nhờ người bào chữa thì Tòa án chỉ định người bào chữa cho bị cáo
Thứ ba, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp thứ ba của nước ta đã có những quy định
hệ thống, cụ thể và tương đối hoàn chỉnh về bảo đảm quyền con người liên quan đến hoạt động xét xử vụ án hình sự Ngoài việc quy định các quyền cơ bản của công dân như quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhà ở, quyền
Trang 24được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản, quyền về bí mật thư tín, điện thoại, điện tín, quyền khiếu nại, tố cáo,… Hiến pháp còn quy định các bảo đảm cũng như trách nhiệm trong việc bảo đảm thực hiện các quyền đó của công dân
Về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, Hiến pháp năm 1980 tiếp tục ghi nhận các nguyên tắc quan trọng bảo đảm thực hiện quyền con người như nguyên tắc Tòa
án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể, nguyên tắc Tòa án xét xử công khai, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật,…
Thứ tư, xuất phát từ tầm quan trọng của việc bảo đảm quyền con người, quyền công
dân Điều 71 Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân
thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật Nghiêm cấm mọi hành vi truy bức, nhục hình xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân” Điều 72 Hiến pháp 1992 cũng nhấn mạnh: “Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy
tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh
dự Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh”
Những quy định trên của Hiến pháp nhằm ngăn ngừa sự vi phạm quyền con người, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo vệ nhân phẩm, danh dự của công dân từ phía các cơ quan, cán bộ nhà nước Các quy định tại Điều 71 và Điều 72 cũng là
cơ sở để xây dựng Luật Tố tụng hình sự trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong thực tiễn.21
Thứ năm, so với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 có những sửa đổi, bổ
sung và phát triển quan trọng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân Theo đó, Hiến pháp đã khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
các quyền con người, quyền công dân về chính chị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng bảo vệ, đảm bảo theo Hiến pháp và pháp luật” (Điều 14).Quy định
này thể hiện sự phát triển quan trọng về nhận thức và tư duy trong việc ghi nhận quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp, bởi vì Hiến pháp năm 1992 chỉ ghi nhận quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được thể hiện trong quyền công dân
Trang 25Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung nguyên tắc hạn chế quyền phù hợp với các công
ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên Đó là “Quyền con người,
quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì
lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng” (Điều 14) Việc hạn chế quyền con người, quyền công dân không thể tùy tiện mà
phải “theo quy định của luật”
Hiến pháp năm 2013 khẳng định và làm rõ hơn các nguyên tắc về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo hướng: quyền công dân không tách rời nghĩa
vụ của công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác
Hiến pháp năm tiếp tục làm rõ nội dung quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa và trách nhiệm của Nhà nước
và xã hội trong việc tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người Đồng thời, Hiến pháp sắp xếp lại các điều khoản theo nhóm quyền để đảm bảo tính thống nhất giữa quyền con người và quyền công dân, đảm bảo tính khả thi
Hiến pháp năm 2013 còn khẳng định mạnh mẽ mọi công dân Việt Nam đều quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội; được nhà nước bảo hộ, không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh
dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối
xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt, giam giữ người do luật định Mọi người có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác theo quy định của luật
Việc thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất kỳ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải có sự đồng ý của người được thử nghiệm.22
1.2.2.2 Trong các Bộ luật tố tụng hình sự
Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của Nhà nước ta được Quốc hội thông qua ngày 28/6/1988 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1989 Bằng việc ban hành bộ luật này, lần đầu tiên pháp luật tố tụng hình sự được pháp điển hóa hệ thống trong một văn bản
22 Minh Bình, Quyền con người trong Hiến pháp năm 2013, Báo điện tử Triển khai thi hành Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
http://www.moj.gov.vn/thihanhhienphap/News/Lists/giaidapthacmac/View_Detail.aspx?ItemID=5262, [truy cập ngày 17-11-2014]
Trang 26thống nhất Cùng với các chế định khác, việc bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự được quy định trong BLTTHS 1988 tương đối đầy đủ, toàn diện và hệ thống Tính đầy đủ, toàn diện và hệ thống đó của BLTTHS thể hiện trong các điểm sau đây:
Thứ nhất, BLTTHS 1988 quy định các nguyên tắc tố tụng quan trọng bảo đảm
quyền con người BLTTHS 1988 quy định hệ thống các nguyên tắc tố tụng khác nhau, trong đó nhóm nguyên tắc bảo đảm quyền con người chiếm vị trí quan trọng và là nhóm nguyên tắc được quy định đầu tiên trong BLTTHS
Thứ hai, BLTTHS 1988 quy định tương đối cụ thể về địa vị pháp lý (quyền và
nghĩa vụ) của các chủ thể tố tụng hình sự BLTTHS 1988 quy định địa vị pháp lý của người tham gia tố tụng như bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng,… Địa vị pháp lý cũng thay đổi tùy theo giai đoạn tố tụng
Các quyền tố tụng được quy định như quyền được biết bị khởi tố, truy tố về tội gì, quyền tham gia phiên tòa, quyền bào chữa hoặc bảo vệ quyền lợi, quyền đưa ra chứng cứ, các yêu cầu, quyền tranh luận tại phiên tòa,… là những bảo đảm quan trọng để người tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong vụ án hình sự
Thứ ba, BLTTHS 1988 quy định cụ thể các biện pháp ngăn chặn gồm mục đích, căn
cứ áp dụng (Điều 61), thẩm quyền áp dụng và thủ tục áp dụng đối với từng biện pháp ngăn chặn cụ thể như bắt người (Điều 62- 65), tạm giữ (Điều 68-69), tạm giam (Điều 70), cấm đi khỏi nơi cư trú (Điều 74), bảo lĩnh (Điều 75), đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm (Điều 76) Đồng thời BLTTHS 1988 cũng quy định việc hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn (Điều 77),…
Thứ tư, BLTTHS 1988 quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng nhằm bảo
đảm quyền con người
Là một văn bản luật hình thức, BLTTHS 1988 quy định tương đối cụ thể các trình
tự, thủ tục tố tụng nhằm bảo đảm giải quyết vụ án hình sự chính xác, khách quan, toàn diện trên cơ sở tôn trọng và bảo vệ các quyền con người như quy định rõ ràng, chặt chẽ thẩm quyền tố tụng cụ thể cho các cơ quan và người tiến hành tố tụng, đặc biệt là thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng nói chung và biện pháp ngăn chặn nói riêng; quy định căn cứ và thời hạn áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng; quy định các thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng và các thủ tục tố tụng có liên quan đến quyền tự do, dân chủ công dân như thủ tục bắt người, thủ tục khám xét, thu giữ, thủ tục xét hỏi, lấy lời khai, hỏi cung, thủ tục phiên tòa,…
Thứ năm, BLTTHS 1988 quy định các chế tài tố tụng đối với việc vi phạm quyền
con người
Trang 27Theo quy định của Điều 141 Bộ luâth tố tụng hình sự năm 1988, thì khi thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, Viện kiểm sát có nhiệm vụ bảo đảm để không một người nào bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế các quyền con người, bị xâm phạm tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm một cách trái pháp luật Để thực hiện nhiệm vụ đó, Viện kiểm sát có quyền phê chuẩn hay không phê chuẩn các quyết định tạm giam, tạm giữ của Cơ quan điều tra, hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của Cơ quan điều tra, yêu cầu cung cấp tài liệu về việc làm trái pháp luật của Điều tra viên, yêu cầu thay đổi Điều tra viên…
Tóm lại, so với các văn bản pháp luật tố tụng hình sự trước đây, BLTTHS 1988 đã
có một bước phát triển lớn liên quan đến việc tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân Các chế định khác nhau của BLTTHS 1988 đều thể hiện rõ nét nguyên tắc tôn trọng và bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự
BLTTHS 2003 được ban hành trên cơ sở kế thừa các thành tựu lập pháp tố tụng hình sự của Nhà nước ta và yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh kinh tế xã hội mới cũng như đòi hỏi của việc tôn trọng và bảo đảm quyền con người nói chung trong xã hội và trong hoạt động tố tụng hình sự nói riêng
So với BLTTHS 1988; trong BLTTHS 2003, nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân đã được hoàn thiện hơn Ngoài Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, người làm luật bổ sung các chủ thể có trách nhiệm tôn trọng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án Đây là những người mà quyền hạn của họ được pháp luật quy định liên quan rất lớn đến quyền và lợi ích công dân như quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam; ban hành các quyết định tố tụng; giải quyết các khiếu nại của người tham gia tố tụng,… Vì vậy, việc nâng cao trách nhiệm tôn trọng và bảo đảm các quyền con người của những người tiến hành tố tụng này là yêu cầu cấp thiết hiện nay
Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam 2003 ở ngay Chương I, Điều 11 với tên gọi “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” quy định: “Người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này” Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 có định nghĩa “bị can là người đã bị khởi tố về hình sự” (theo khoản 1, Điều 49) và
“bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử” (khoản 1, Điều 50)
Đồng thời BLTTHS 2003 cũng có bổ sung quan trọng khi quy định trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng không chỉ phải tôn trọng mà còn phải bảo vệ các quyền con người Trong tố tụng hình sự, chỉ tôn trọng, không vi phạm quyền con người là chưa
Trang 28đủ, mang tính thụ động, người có trách nhiệm còn phải chủ động, tích cực bảo vệ quyền con người đó khi có vi phạm từ phía cơ quan hoặc người tiến hành tố tụng bằng các biện pháp tố tụng khác nhau như thay đổi người tiến hành tố tụng, hủy bỏ hoặc thay đổi các quyết định tố tụng trái pháp luật, xử lý người vi phạm, bồi thường thiệt hại,…
Tóm lại, bảo đảm quyền con người là vấn đề rất quan trọng, luôn được Đảng, Nhà
nước và nhân dân quan tâm, bảo vệ Bằng nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Hiến pháp, Bộ luật Tố tụng hình sự,… Nhà nước đã chính thức ghi nhận và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, coi đó như những chế định quan trọng và là mục tiêu cuối cùng của chế độ ta Bộ luật Tố tụng hình sự của nhà nước ta đã ghi nhận, bảo vệ quyền con người, quyền công dân qua nhiều chế định khác nhau Các quy định về bắt người, tạm giữ, tạm giam là một trong các quy định nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân của nhân dân và của cả bị can, bị cáo của người bị bắt Tất cả những quy định của Hiến pháp và Bộ luật Tố tụng hình sự về bắt, tạm giữ, tạm giam đều nhằm góp phần phát huy dân chủ, tăng cường hơn nữa hiệu lực của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân để xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và giàu mạnh.23
1.3 Ý nghĩa của việc bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam
Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm giam có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giam đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền đối với việc bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm dân chủ, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người
bị tạm giam là sự thể hiện rõ nhất bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân, trong đó, việc tôn trọng và bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nói chung, người bị tạm giam nói riêng là nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việc ghi nhận và thực hiện bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm giam thể hiện sự tôn trọng và bảo đảm thực hiện có hiệu quả các quyền con người trong lĩnh vực tư pháp – một lĩnh vực nhạy cảm được toàn xã hội chú ý
Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giam còn thể hiện sự an toàn pháp lý của công dân trong mối quan hệ với Nhà nước và xác lập nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp
23
Nguyễn Thị Bình, Pháp luật về bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay, http://dl.vnu.edu.vn/bitstream/11126/11742/1/00050002008.pdf , [truy cập ngày 2014]
Trang 2921-11-của người bị tạm giam trong tố tụng hình sự Nó tạo điều kiện cho người bị tạm giam bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời giúp họ nhận thức được rõ trách nhiệm để
có thái độ hợp tác tích cực với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện các nghĩa vụ pháp lý của mình
Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giam góp phần rất lớn vào việc bảo đảm công bằng xã hội, nâng cao hiệu quả hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần cũng cố lòng tin của nhân dân vào cơ quan tư pháp.Việc quy định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giam thể hiện thái độ nhất quán của Nhà nước đối với trách nhiệm phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội của các cơ quan nhà nước Mục đích cao nhất của hoạt động xét xử là xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, cho nên sẽ là không công bằng nếu như có thái độ thờ ơ, vô trách nhiệm đối với quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm giam và sẽ là vi phạm quyền con người, nếu như vi phạm quyền, lợi ích hợp pháp của họ
Đối với cơ quan tiến hành tố tụng, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giam có ý nghĩa định hướng và chỉ đạo trong lĩnh vực tố tụng hình sự hết sức khó khăn và nhạy cảm Đây là lĩnh vực mà quyền con người dễ bị xâm phạm từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Vì vậy, việc nắm vững bản chất, ý nghĩa bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giam sẽ giúp cho những người thực thi pháp luật tránh được những sai sót, vi phạm quyền con người Việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm giam còn cung cấp cơ sở pháp lý cho việc nhận thức đúng đắn địa vị pháp lý của người bị tạm giam trong tố tụng hình sự để cơ quan tiến hành
tố tụng có thái độ khách quan, thận trọng trong việc nhận thức vụ án hình sự một cách khoa học, không làm oan người vô tội, không bỏ loạt tội phạm
Đối với hoạt động lập pháp, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giam là những giá trị nhân văn có ý nghĩa về mặt phương pháp luận cho việc xây dựng và hoàn thiện các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người nói chung, quyền và lợi ích của người bị tạm giam nói riêng
Trang 30CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIAM,
THỰC TIỂN Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG ĐỀ XUẤT
Pháp luật quốc tế về quyền con người của người bị tạm giam có những chuẩn mực tối thiểu đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân trong tố tụng hình sự được
áp dụng trong phạm vi toàn cầu, không kể hệ thống chính trị, trình độ phát triển kinh tế,
xã hội Tìm hiểu các văn kiện này có thể dựa trên quy định trong từng gian đoạn của quá trình tố tụng: giai đoạn trước khi xét xử, trong gian đoạn xét xử và sau giai đoạn xét xử
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 của nước ta đã có những quy định cụ thể về tạm giam như: đối tượng bị tạm giam, căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam, thẩm quyền ra lệnh tạm giam, thủ tục tạm giam, mà không có những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của người bị áp dụng biện pháp tạm giam Dựa trên những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền con người, quyền công dân để phân tích các quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự liên quan đến bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam; tìm ra những hạn chế
và bất cập về bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự
2.1 Pháp luật quốc tế về vấn đề bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam
Hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động của các quan chức thi hành pháp luật Theo
quy định của "Quy ước đạo đức của quan chức thi hành pháp luật" được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 17/12/1979, thuật ngữ "quan chức thi hành pháp luật"
gồm tất cả những viên chức pháp luật được bổ nhiệm hay bầu ra, thực hiện các thẩm quyền của cảnh sát, đặc biệt các thẩm quyền bắt hay giam giữ Theo Bộ luật tố tụng hình
sự Việt nam năm 2003, hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng hình sự bao gồm: Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát; Toà án; và người tiến hành tố tụng bao gồm: Điều tra viên; Kiểm sát viên; Chánh án, Thẩm phán; Hội thẩm; Thư ký phiên toà
Mục đích hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong lĩnh vực hình sự là nhằm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý hành vi phạm tội, đảm bảo mọi tội phạm được phát hiện kịp thời, không để lọt tội phạm và không xử lý oan người vô tội Tính chất hoạt động của các cơ quan và cá nhân có thẩm quyền này là hoạt động nhân danh nhà nước và mang quyền lực nhà nước Trong khi đó, quyền con người của người bị tạm giam trong tố tụng hình sự, hiểu theo nghĩa trong phạm vi bài này là quyền pháp lý của cá nhân, công dân hay nói chính xác hơn là quyền của bị can, bị cáo, do đang ở vào tình thế bất lợi vì có hành vi vi phạm pháp luật hình sự hoặc đang bị tình nghi phạm tội,
Trang 31nên thông qua pháp luật, nhà nước trao cho họ những quyền pháp lý nhất định, những quyền pháp lý, thường được quy định trong Hiến pháp và luật để giúp họ có công cụ tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, tránh các nguy cơ xâm phạm không đúng pháp luật từ phía các cơ quan hoặc cá nhân đang thực thi pháp luật
Vì tính chất hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nhân danh nhà nước và mang quyền lực nhà nước, nên trong quan hệ của họ với người bị tạm
giam thì đây là quan hệ bất bình đẳng Vì vậy, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của
người bị tạm giam giảm thiểu các nguy cơ xâm phạm bất hợp pháp là mối quan tâm hàng đầu của pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền con người của người bị tạm giam trong hoạt động tố tụng hình sự
Pháp luật quốc tế về quyền con người của người bị tạm giam có những chuẩn mực tối thiểu đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân trong tố tụng hình sự được
áp dụng trong phạm vi toàn cầu, không kể hệ thống chính trị, trình độ phát triển kinh tế,
xã hội Hệ thống các chuẩn mực tối thiểu về quyền con người của người bị tạm giam
trong tố tụng hình sự được quy định trong nhiều văn kiện, đáng chú ý nhất là: Tuyên ngôn
nhân quyền thế giới năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966;Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử với tù nhân năm 1955; Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm 1984; và một loạt các chuẩn mực tối thiểu khác như về vai trò của luật sư, các
quan chức thực thi pháp luật, cơ quan công tố; về tính độc lập của cơ quan tư pháp, Các quy định trong các văn kiện trên tạo thành hệ thống các chuẩn mực tối thiểu về quy tắc ứng xử của cơ quan và nhân viên thực thi pháp luật cũng như đảm bảo cho người
bị tạm giam có các quyền pháp lý nhất định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, giảm thiểu các nguy cơ xâm hại bất hợp pháp từ các cơ quan thực thi pháp luật
Các chuẩn mực pháp lý tối thiểu đảm bảo quyền con người của người bị tạm giam trong hoạt động tố tụng được quy định trong các văn bản pháp lý quốc tế đều dựa trên các nguyên tắc có tính chất nền tảng, xuyên suốt quá trình tố tụng như: nguyên tắc suy đoán
vô tội; nguyên tắc không phân biệt đối xử; nguyên tắc bình đẳng; không bị tra tấn, nhục hình; nguyên tắc đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm (phẩm giá vốn có của con
người),
2.1.1 Bảo đảm quyền của người bị tạm giam trước giai đoạn xét xử
Ở giai đoạn trước khi xét xử, những người đang bị tạm giam là những người đang bị tình nghi có hành vi phạm tội vì thế cơ quan có thẩm quyền áp dụng những biện pháp nghiệp vụ để chứng minh hành vi phạm tội và vì vậy, tuỳ trường hợp cụ thể họ có thể bị
Trang 32áp dụng những biện pháp ngăn chặn nhất định Tuy nhiên ở giai đoạn này, dù có đủ chứng cứ để chứng minh họ phạm tội hay chưa thì họ vẫn là người vô tội
Theo các quy chuẩn quốc tế ở giai đoạn trước khi xét xử, người bị tạm giam chờ xét
xử có các quyền pháp lý sau đây:
Trước hết đó là: quyền được coi là vô tội và phải được đối xử như là người vô tội
Đây là quyền pháp lý rất quan trọng, xuyên suốt quá trình tố tụng từ khi khởi tố đến khi xét xử và bản án chưa có hiệu lực pháp luật Nhận thức đầy đủ quyền này có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động điều tra, đặc biệt là trong quy định và áp dụng các hình thức đối xử thích hợp với người bị tạm giam chờ xét xử Vì thế Nguyên tắc 8, Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay tù dưới bất kỳ hình thức nào được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 9 tháng 12 năm 1988 theo Nghị quyết số
43/173 quy định: “Những người đang bị giam phải được đối xử đúng với địa vị chưa bị
kết án của họ Do vậy bất cứ khi nào có thể, họ phải được tách riêng khỏi những người đang bị tù”
Việc quyết định có giam giữ hay không giam giữ ở giai đoạn này, các quy định quốc tế đều xác định tránh áp dụng biện pháp giam giữ Và nếu có áp dụng việc giam giữ trước khi xét xử phải được sử dụng như là biện pháp cuối cùng trong tố tụng hình sự Và theo Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử với tù nhân năm 1955 quy định tại mục C
từ Điều 84 đến Điều 93 những tù nhân chưa xét xử phải được hưởng chế độ đặc biệt mà những yêu cầu căn bản của nó được thể hiện trong các nguyên tắc sau đây:
“Điều 84:
a Những người bị bắt và bị tù do bị buộc tội hình sự mà bị giam giữ ở đồn cảnh sát hay trong tù nhưng chưa xét xử và kết án, từ đây trở đi, trong các quy tắc này sẽ được gọi là “tù nhân chưa thành án”;
b Tù nhân chưa thành án được coi là vô tội và phải được đối xử như vậy;
c Không phương hại đến cá nguyên tắc pháp lý của việc bảo vệ tự do cá nhân hay quy định các thủ tục phải được tuân thủ liên quan đến tù chưa thành án, các tù nhân này phải được hưởng một chế độ đặc biệt có những yêu cầu căn bản thể hiện trong những nguyên tắc dưới đây
Điều 85:
a Tù nhân chưa thành án phải được giam giữ riêng với tù nhân đã tuyên án
b Tù nhân thanh thiếu niên chưa thành án phải được giam giữ riêng với những người lớn và về nguyên tắc phải được giam giữ trong những nhà tù riêng
Điều 86: Những tù nhân chưa thành án phải ngủ một mình trong những buồng riêng, có chú ý đến phong tục địa phương khác nhau có liên quan đến thời tiết
Trang 33Điều 87: Trong giới hạn phù hợp với trật tự của nhà tù, nếu muốn, tù nhân chưa thành án có thể đặt mua thức ăn bên ngoài bằng tiền của họ hoặc qua ban quản lý nhà tù hoặc qua gia đình hay bạn bè của họ Nếu không thì ban quản lý nhà tù phải cung cấp thức ăn cho họ
Điều 92: Một tù nhân chưa thành án phải được phép thông báo ngay cho gia đình mình về việc bắt giữ và phải được cung cấp những tiện nghi hợp lý để liên lạc với gia đình và bạn bè người đó, được tiếp những cuộc tới thăm của họ và chỉ chịu sự hạn chế, giám sát trong chừng mực cần thiết cho lợi ích của việc hoạt động tư pháp và an ninh trật tự của nhà tù
Điều 93: Với mục đích bào chữa cho mình, một tù nhân chưa thành án phải được phép nhận sự giúp đỡ pháp lý miễn phí ở nơi nào có sẳn sự trợ giúp nầy, được phép tiếp
cố vấn pháp luật của mình nhằm mục đích phụ vụ việc bào chữa, và được phép chuẩn bị
và trao cho cố vấn pháp luật đó những tài liệu kín Vì các mục đích này, nếu muốn thì người đó phải được cung cấp các vật dụng để viết Cảnh sát hay các cán bộ nhân, viên nhà tù có thể quan sát, chứ không được nghe những trao đổi giữa tù nhân đó với cố vấn pháp luật của người đó.”24
2.1.2 Bảo đảm quyền của người bị tạm giam trong giai đoạn xét xử
Tại giai đoạn xét xử, các quy định quốc tế về quyền con người của người bị tạm giam trong quản lý tư pháp đề cao tính độc lập của toà án Nguyên tắc độc lập xét xử của của toà án cho phép và yêu cầu toà án bảo đảm các thủ tục xét xử đều phải được tiến
24
Hà Tất Thắng, Giới thiệu các văn kiện quốc tế về quyền con người, Nxb Lao động – Xã hội, 2011, Tr
691, 692
Trang 34hành một cách đúng đắn và tôn trọng quyền con người của người bị tạm giam trong hoạt động xét xử
Điều 14, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 quy định: Tất
cả mọi người đều bình đẳng trước toà án; có quyền được xét xử công bằng và công khai
do một toà án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật
để quyết định về bất kỳ lời buộc tội hình sự nào, hoặc quyền và nghĩa vụ của người đó trong một vụ kiện trước pháp luật
Ở giai đoạn này, người bị tạm giam đưa ra xét xử trước toà án vẫn có quyền được coi là vô tội cho tới khi tội của họ được chứng minh theo pháp luật Việc quyết định về một tội hình sự, mọi người đều có quyền được có một cách hoàn toàn bình đẳng
Khoản 3, Điều 14, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 quy định:
“Được thông báo không chậm trễ và chi tiết, bằng một ngôn ngữ mà người đó hiểu
về bản chất và lý do buộc tội mình;
Có đủ thời gian và điều kiện thuận lợi để chuẩn bị bào chữa và liên hệ với người bào chữa do chính mình lựa chọn;
Được xét xử mà không bị trì hoãn một cách vô lý;
Được có mặt trong khi xét xử và được tự bào chữa hoặc nhờ sự giúp đỡ về pháp lý
do mình lựa chọn; được thông báo về quyền này nếu chưa có sự giúp đỡ về mặt pháp lý;
và được nhận sự trợ giúp pháp lý theo chỉ định trong trường hợp do lợi ích của công lý đòi hỏi và không phải trả tiền cho sự giúp đỡ đó nếu không có đủ điều kiện trả;
Được thẩm vấn hoặc nhờ người thẩm vấn những nhân chứng buộc tội mình và được mời người làm chứng gỡ tội cho mình tới phiên toà và thẩm vấn họ tại toà với những điều kiện tương tự như đối với những người làm chứng buộc tội mình;
Được có phiên dịch miễn phí nếu không hiểu hoặc không nói được ngôn ngữ sử dụng trong phiên toà;
Không bị buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội”
Khoản 4, khoản 5, khoản 6, khoản 7, Điều 14, Công ước quốc tế về các quyền dân
sự, chính trị năm 1966 quy định:
“Tố tụng áp dụng đối với những người chưa thành niên phải xem xét tới độ tuổi của
họ và mục đích thúc đẩy sự phục hồi nhân cách của họ;
Bất cứ người nào bị kết án là phạm tội đêu có quyền yêu cầu toà án cấp cao hơn xem xét lại bản án và hình phạt đối với mình theo quy định của pháp luật;
Trang 35Được quyền bồi thường thiệt hại nếu có sự nhầm lẫn tư pháp, trừ trường hợp được chứng minh rằng việc không kịp thời làm sáng tỏ sự thật chưa biết một phần hoặc toàn
bộ vụ án do chính bản thân người bị kết án gây ra;
Không bị đưa ra xét xử hoặc bị trừng phạt lần thứ hai về cùng một hành vi phạm tội
mà một bản án đã tuyên đã có hiệu lực pháp luật hoặc về một tội phạm mà người đó được tuyên trắng án phù hợp với pháp luật và tố tụng của mỗi nước”
2.1.3 Bảo đảm quyền của người bị tạm giam sau giai đoạn xét xử
Sau khi xét xử, bản án có hiệu lực pháp luật người phạm tội phải chấp hành bản án
do toà án tuyên Ở giai đoạn này, các văn kiện pháp lý về bảo đảm quyền con người trong quản lý tư pháp đề cao vai trò, trách nhiệm của nhà tù, cán bộ trại giam Theo đó, việc giam tù và các biện pháp khác đưa đến tách một người phạm tội ra khỏi thế giới bên ngoài là một nỗi khổ vì nó tước bỏ quyền tự do của người đó Vì vậy, nguyên tắc áp dụng cho các loại tù nhân chịu án, theo Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử với tù nhân năm 1955, quy định:
Hệ thống nhà tù, trừ trường hợp lấy đi chính đáng hay để duy trì kỷ luật, phải không được làm trầm trọng thêm nỗi đau vốn có và mục đích và lý do kết án tù hay bất kỳ một biện pháp tương tự nào khác tước bỏ tự do chính là để bảo vệ xã hội chống lại tội ác
Mục đích và lý do kết án tù chỉ có thể đạt được nếu thời gian ngồi tù, trong khả năng lớn nhất, đảm bảo được rằng khi người phạm tội trở về với xã hội thì người đó không chỉ sẵn sàng mà còn có khả năng sống một cuộc sống tuân theo pháp luật và tự lực
Để đạt được mục đích này, nhà tù phải sử dụng tất cả các sức mạnh cứu chữa, giáo dục đạo đức, tinh thần và những sức mạnh khác cùng các hình thức giúp đỡ thích hợp hiện có, đồng thời cố gắng áp dụng chúng đối với yêu cầu đối xử với từng cá nhân tù nhân
Nhà tù phải tìm cách giảm đến mức thấp nhất những khác biệt giữa cuộc sống trong
tù với cuộc sống tự do vốn có, tôn trọng nhân phẩm của họ với tư cách là con người
Việc đối xử với tù nhân không phải là loại trừ họ ra khỏi cộng đồng, mà tạo điều kiện cần thiết nhằm bảo đảm cho tù nhân có sự trở về dần dần với đời sống xã hội
Quan tâm về mặt tín gưỡng; đề cao giáo dục dạy nghề và hướng nghiệp, tham vấn công ăn việc làm, phát triển thể lực, đạo đức, phù hợp với nhu cầu cá nhân của tù nhân,
có tính đến lý lịch tư pháp của họ, nhằm không tạo ra khoảng cách quá lớn khi trở về với xã hội
Lao động trong nhà tù không được tạo ra và mang tích chất khổ sai; giáo dục nhất là cho những tù nhân mù chữ, tù nhân là người chưa thành niên là công việc bắt buộc; đồng
Trang 36thời chú ý duy trì và cải thiện quan hệ xã hội hiện tại và sau này như quan hệ giữa tù nhân với gia đình vì lợi ích tốt nhất cho cả hai bên
Như vậy, chuẩn mực pháp lý quốc tế bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam trong hoạt động tố tụng hình sự chính là hệ thống các văn kiện pháp lý được cộng đồng quốc tế xây dựng dựa trên sự nhất trí và đồng thuận của các quốc gia nhằm bảo đảm quyền con người trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và chấp hành án Các chuẩn mực này đề cao quyền con người của người bị tạm giam và trách nhiệm của các quan chức thực thi pháp luật là phải tôn trọng và bảo đảm thực hiện nhằm giảm thiểu nguy cơ
có thể xâm phạm quyền và các lợi ích hợp pháp của cá nhân khi thực thi công vụ trong khi đó không làm giảm đi mục đích của cơ quan tố tụng và quan chức thực thi pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự.25
2.2 Pháp luật Việt Nam về vấn đề bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam
2.2.1 Bảo đảm quyền của người bị tạm giam
2.2.1.1 Bảo đảm quyền được bình đẳng của người bị tạm giam trước pháp luật
Bình đẳng được hiểu là sự ngang bằng nhau cả về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa những người cùng tham gia quan hệ xã hội, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội
Khoản 1, Điều 16 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người đều bình đẳng trước
pháp luật” Bình đẳng trước pháp luật có nghĩa là mọi công dân không phân biệt dân tộc,
nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội đều có địa vị pháp lý và quyền lợi ngang nhau trước pháp luật, đều phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật một cách triệt để Bất kỳ công dân nào vi phạm pháp luật đều bị xử lý tùy theo tính chất, mức
độ vi phạm và không có trường hợp ngoại lệ nào Quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật là một quyền quan trọng, là điều kiện để công dân thực hiện các quyền, nghĩa
vụ của mình đối với Nhà nước, xã hội
Khi tham gia tố tụng hình sự, mọi người đều có quyền và nghĩa vụ như nhau Quyền bình đẳng của người bị tạm giam trước pháp luật thể hiện sự ngang bằng nhau về quyền
và nghĩa vụ của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự không phân biệt dân tộc, nam nữ, tính ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội, Bị can đều có những quyền được quy định tại khoản 2 Điều 49 BLTTHS 2003 và phải thực hiện nghĩa vụ được quy định
25
Tường Duy Kiên, Chuẩn mực quốc tế về bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, Tạp chí điện
tử Nghề luật, con-nguoi-trong-hoat-dong-tths.html , [truy cập ngày 16-11-2014]
Trang 37http://www.intecovietnam.com/hinh-su-va-tths/460-chuan-muc-quoc-te-ve-bao-dam-quyen-tại khoản 3 Điều này Tương tự, bị cáo cũng có những quyền được quy định http://www.intecovietnam.com/hinh-su-va-tths/460-chuan-muc-quoc-te-ve-bao-dam-quyen-tại khoản 2 Điều 50 BLTTHS 2003 và thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 3 Điều này
Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đối với bị can, bị cáo phải dựa trên các căn cứ và trong phạm vi
do luật tố tụng hình sự quy định Không một ai có thể loại trừ hoặc được áp dụng ưu đãi ngoài quy định của pháp luật tố tụng hình sự
Các chủ thể đặc biệt được pháp luật tố tụng hình sự loại trừ hoặc áp dụng ưu đãi khi thực hiện biện pháp ngăn chặn tạm giam đó là: đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; viên chức ngoại giao, viên chức lãnh sự
Đối với việc bắt, giam, giữ, khởi tố đại biểu Quốc hội Điều 81 Hiến pháp năm 2013 quy định:“Không được bắt, giam, giữ, khởi tố đại biểu Quốc hội nếu không có sự đồng ý
của Quốc hội hoặc trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; trong trường hợp đại biểu Quốc hội phạm tội quả tang mà bị tạm giữ thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định”
Đối với việc bắt đại biểu Hội đồng nhân dân phạm tội, Điều 44 Luật tổ chức Hội
đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 quy định: “Trong thời gian Hội đồng nhân
dân họp, nếu không được sự đồng ý của Chủ tọa kỳ họp thì không được bắt giữ đại biểu Hội đồng nhân dân Nếu vì phạm tội quả tang hoặc trong trường hợp khẩn cấp mà đại biểu Hội đồng nhân dân bị tạm giữ thì cơ quan ra lệnh tạm giữ phải báo cáo ngay với Chủ tọa kỳ họp
Giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân, nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra lệnh tạm giữ đại biểu Hội đồng nhân dân thì phải thông báo cho Chủ tịch Hội đồng nhân dân cùng cấp”
Đối với những người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền
ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự, thì việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự của họ nói chung, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn nói riêng phải tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế
Điều 5 BLHS 1999 quy định: “1 Bộ luật hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi
phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2 Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi
và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng
Trang 38hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao”
Điều 2 BLTTHS 2003 quy định: “Hoạt động tố tụng hình sự đối với người nước
ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là công dân nước thành viên của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã
ký kết hoặc gia nhập thì được tiến hành theo quy định của điều ước quốc tế đó
Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các đặc quyền ngoại giao hoặc quyền ưu đãi, miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập hoặc theo tập quán quốc tế, thì
vụ án được giải quyết bằng con đường ngoại giao”
2.2.1.2 Bảo đảm quyền được bảo hộ tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người bị tạm giam
Con người là vốn quý nhất của xã hội, là đối tượng hàng đầu được pháp luật nói chung, pháp luật tố tụng hình sự nói riêng bảo vệ Tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh
dự, tài sản là những giá trị xã hội cao nhất được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Bảo vệ con người trước hết là bảo vệ tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản của họ, vì đó
là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với con người
Điều 19 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền sống Tính mạng con người
được pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật” Người bị tạm giam là
những người bị nghi thực hiện tội phạm, đối với họ chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Xét về mặt pháp lý, họ chưa bị coi là người phạm tội, nên họ hoàn toàn được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản như những công dân khác trong xã hội Mặc khác, cho dù sau này, họ có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật, thì
do họ là con người, cho nên, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người bị tạm giam trong tố tụng hình sự được thực hiện bằng những biện pháp và phương tiện sau:
Thứ nhất, quy định quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự,
tài sản trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác
Thứ hai, nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật tính mạng, sức khỏe, nhân
phẩm, danh dự, tài sản của con người nói chung, của người bị tạm giam trong tố tụng hình
sự nói riêng Mọi hành vi trái pháp luật xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh
dự, tài sản của con người nói chung, của người bị tạm giam nói riêng, đều bị xử lý theo pháp luật
Thứ ba, hoạt động tố tụng hình sự phải được tiến hành trên cơ sở tôn trọng và bảo
đảm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản của con người nói chung, của người
Trang 39bị tạm giam trong tố tụng hình sự nói riêng Việc tạm thời hạn chế quyền nói trên chỉ có thể được tiến hành trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật
Thứ tư, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có trách nhiệm áp dụng
những biện pháp, phương tiện cần thiết theo quy định của pháp luật để bảo đảm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người bị tạm giam trong tố tụng hình sự và người thân thích của họ
Những biện pháp bảo hộ của pháp luật đối với thân nhân và tài sản của người bị tạm giam được quy định tại Điều 90 BLTTHS 2003 như sau:
“1 Khi người bị tạm giữ, tạm giam có con chưa thành niên dưới 14 tuổi hoặc có người thân thích là người tàn tật, già yếu mà không có người chăm sóc, thì cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam giao những người đó cho người thân thích chăm nom Trong trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam không có người thân thích thì cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam giao những người đó cho chính quyền sở tại chăm nom
2 Trong trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam có nhà hoặc tài sản khác mà không
có người trông nom, bảo quản thì cơ quan ra quyết tạm giữ, lệnh tạm giam phải áp dụng những biện pháp trông nom, bảo quản thích đáng
3 Cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam thông báo cho người bị tạm giữ, tạm giam biết những biện pháp đã được áp dụng.”
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 260 BLTTHS 2003 người bị kết án có quyền gặp
người thân thích trước khi thi hành án: “Trong trường hợp người bị kết án đang bị tạm
giam thì theo yêu cầu của người thân thích người bị kết án, cơ quan Công an phải cho phép người bị kết án gặp người thân thích trước khi thi hành án Ban giám thị trại giam phải thông báo cho gia đình người bị kết án biết nơi người đó chấp hành hình phạt” 2.2.1.3 Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của người bị tạm giam
Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người nói chung, của người bị tạm giam nói riêng là một trong những giá trị của con người cần được bảo đảm ở mức cao nhất Quyền bất khả xâm phạm về thân thể có mối quan hệ chặt chẽ với tự do cá nhân của
con người Theo Đại từ điển tiếng Việt, “tự do là quyền được sống và hoạt động xã hội
theo ý nguyện của mình, không bị cấm đoán, ràng buộc, xâm phạm”26
Khi con người bị xâm phạm về thân thể, tức là tự do cá nhân của người đó bị xâm phạm Khoản 1, Điều 20
Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể,
được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực,
26
Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1998, tr 1762
-1763
Trang 40truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm” 27
Điều 6 BLTTHS 2003 quy định: không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa
án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc giam giữ
người phải đúng pháp luật
Nghiêm cấm mọi hành vi truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân Điều đó nói lên rằng, con người thực sự được tôn trọng, được Đảng và Nhà nước quan tâm về mọi mặt, trong đó quyền tự do thân thể của công dân được tôn trọng và bảo đảm một cách tuyệt đối, không ai được xâm phạm đến quyền đó của công dân
Việc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của người bị tạm giam trong tố tụng hình sự được thực hiện bằng những biện pháp và phương tiện sau đây:
Thứ nhất, thừa nhận, tuân thủ và bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về thân thể của
con người nói chung, của người bị tạm giam nói riêng là nghĩa vụ của Nhà nước
Thứ hai, nghiêm cấm việc giam giữ người trái pháp luật Pháp luật quy định hệ
thống các biện pháp bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người Việc tạm thời hạn chế quyền tự do thân thể của người bị tạm giam chỉ được tiến hành khi có căn cứ, điều kiện được pháp luật quy định cụ thể
Thứ ba, việc giam người phải được thực hiện theo trình tự, thủ tục tố tụng hình sự,
chịu sự giám sát chặt chẽ của Tòa án, Viện kiểm sát
2.2.1.4 Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của người bị tạm giam
Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của con người nói chung, của người bị tạm giam nói riêng là những giá trị cao quý của con người trong xã hội hiện đại Chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của con người là những vấn đề thuộc bí mật đời tư, được Nhà nước và xã hội tôn trọng, bảo
vệ Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở và quyền được bảo đảm bí mật về thư tín, điện thoại, điện tín là những quyền tự do cá nhân, có mối quan hệ hữu cơ, gắn liền với quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người Khoản 2, Điều 22 Hiến pháp năm 2013 quy định:
“Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý” 28
27
Nguyễn Văn Dương, Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, Báo điện tử Rubic Law,
http://rubiclaw.vn/quyen-bat-kha-xam-pham-ve-than-the-cua-cong-dan , [truy cập ngày 17-11-2014]
28 Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Điều 22, khoản 2.