Phạm vi nghiên cứu của đề tài Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật hình sự đối với nhóm tội về môi trường được quy định trong BLHS Việt Nam hiện hành; tình hìn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP
- -
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT NIÊN KHÓA: 2011 - 2015 Đề tài CÁC TỘI PHẠM VỀ MÔI TRƯỜNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
NGUYỄN VĂN TRÒN
Cần Thơ, 11/2014
SINH VIÊN THỰC HIỆN
TRẦN HOÀI ÂN MSSV: 5115869 Lớp: Luật tư pháp 2_ K37
Trang 2KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP
- -
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT NIÊN KHÓA: 2011 - 2015 Đề tài CÁC TỘI PHẠM VỀ MÔI TRƯỜNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
LỜI CẢM ƠN
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
NGUYỄN VĂN TRÒN
Cần Thơ, 11/2014
SINH VIÊN THỰC HIỆN
TRẦN HOÀI ÂN MSSV: 5115869 Lớp: Luật tư pháp 2_ K37
Trang 3- -
Người viết xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Cần Thơ, đơn vị Khoa Luật đã tạo điều kiện thuận lợi cho người viết hoàn thành khóa luận văn tốt nghiệp này Đặc biệt, người viết xin gửi lời cảm ơn chân thành đến giảng viên hướng dẫn - thầy Nguyễn Văn Tròn đã giúp đỡ tận tình trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Cần Thơ, Ngày….,Tháng… Năm 2014
Sinh viên thực hiện
TRẦN HOÀI ÂN
Trang 4NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
- -
Cần Thơ, Ngày….,Tháng… Năm 2014
Chữ ký Giảng viên hướng dẫn
Trang 5NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
- -
Cần Thơ, Ngày….,Tháng… Năm 2014
Chữ ký Giảng viên phản biện
Trang 7MỤC LỤC
- Trang LỜI NÓI ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài……….………… 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ……… ….………1
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài ……….… …………2
4 Phương pháp nghiên cứu ………… ……… ………2
5 Kết cấu của luận văn ……… ……….…………2
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC TỘI PHẠM MÔI TRƯỜNG THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM……… …… 3
1.1.Khái niệm về môi trường.……… …….……….….3
1.2 Khái quát về tội phạm môi trường……….……… 4
1.2.1 Khái niệm tội phạm về môi trường……….……… 4
1.2.2 Đặc điểm của tội phạm về môi trường……….6
1.2.3 Nguyên nhân và điều kiện phạm tội của tội phạm về môi trường…… … 7
1.2.4 Hậu quả của tội phạm về môi trường gây ra……….……….… …….8
1.3 Sự hình thành các quy định về tội phạm môi trường trong luật hình sự Việt Nam……….8
1.3.1 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về bảo vệ môi trường của Việt Nam……….……….…………8
1.3.2 Quá trình hình thành các quy định về tội phạm môi trường trong luật hình sự Việt Nam ……….….……… ……….……….10
1.3.2.1 Giai đoạn trước khi có Bộ Luật Hình sự 1985……… …… 10
1.3.2.2 Các quy định về tội phạm môi trường trong Bộ luật Hình sự 1985… 11
1.3.2.3 Các quy định về tội phạm môi trường trong Bộ luật Hình sự 1999… 12
1.3.2.4 Các quy định về tội phạm môi trường trong Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2009……… ….……….13
Trang 81.4 Những quy định về tội phạm môi trường trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới……….……….…14 1.4.1 Trung Quốc……….……… …14 1.4.2 Singapore………15
CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ CÁC TỘI PHẠM MÔI TRƯỜNG
2.1 Các quy định chung về tội phạm môi trường trong Bộ luật hình sự Việt
Nam……… 16 2.1.1 Những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội phạm về môi trường ….16
2.1.1.1 Mặt Khách thể của tội phạm về môi trường………… ………….……16 2.1.1.2 Mặt Khách quan của tội phạm về môi trường ……….………… 16 2.1.1.3 Mặt Chủ quan của tội phạm về môi trường……….… ………….… 18 2.1.1.4 Mặt Chủ thể của tội phạm về môi trường……… …….…….…18
2.1.2 Phân loại các tội phạm về môi trường……… ………… …….…19
2.1.3 Hình phạt đối với các tội phạm về môi trường……….………20
2.2 Các quy định cụ thể về tội phạm môi trường theo pháp luật hình sự hiện
hành.……… ………21 2.2.1 Tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 182, BLHS hiện hành)……….………21
2.2.1.1 Định nghĩa: ……… ….………21 2.2.1.2 Dấu hiệu pháp lý……… …… ………21 2.2.1.3 Hình phạt: ……… 22
2.2.2 Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại (Điều 182a) …… …24
2.2.2.1 Định nghĩa: ……… … ……… ……24 2.2.2.2 Dấu hiệu pháp lý………24 2.2.2.3 Hình phạt: ……….………25
2.2.3 Tội vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường (Điều 182b) … 26
2.2.3.1 Định nghĩa: ……… … 26 2.2.3.2 Dấu hiệu pháp lý……… ……….26 2.2.3.3 Hình phạt: ……….………27
Trang 92.2.4 Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam (Điều 185) … ………27
2.2.4.1 Định nghĩa: ……… ……27
2.2.4.2 Dấu hiệu pháp lý………27
2.2.4.3 Hình phạt: ……… …… 29
2.2.5 Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người (Điều 186) ………… …30
2.2.5.1 Định nghĩa: ……… ……….…30
2.2.5.2 Dấu hiệu pháp lý………30
2.2.5.3 Hình phạt: ……… 31
2.2.6 Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật (Điều 187) 32
2.2.6.1 Định nghĩa: ……… 32
2.2.6.2 Dấu hiệu pháp lý……… ……….32
2.2.6.3 Hình phạt: ……….………34
2.2.7 Tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản (Điều 188) ……….………34
2.2.7.1 Định nghĩa: ……….…… 34
2.2.7.2 Dấu hiệu pháp lý……… …… 35
2.2.7.3 Hình phạt: ……… ……35
2.2.8 Tội hủy hoại rừng (Điều 189) ……….……….… 36
2.2.8.1 Định nghĩa: ……… ……… …36
2.2.8.2 Dấu hiệu pháp lý…….… ……….………36
2.2.8.3 Hình phạt: ……….………38
2.2.9 Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài vật nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ (Điều 190 BLHS) ……… 41
2.2.9.1 Định nghĩa: ……… 41
2.2.9.2 Dấu hiệu pháp lý……… 41
2.2.9.3 Hình phạt: ………42
2.2.10 Tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên (Điều 191) ……… 44
2.2.10.1 Định nghĩa: ……… ……….44
2.2.10.2 Dấu hiệu pháp lý………….……….………… 44
Trang 102.2.10.3 Hình phạt: ……… ………45
2.2.11 Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại (Điều 191a) …….…46
2.2.11.1 Định nghĩa: ……….……….… ……46
2.2.11.2 Dấu hiệu pháp lý………46
2.2.11.3 Hình phạt……….………47
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC ÁP DỤNG NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM VỀ MÔI TRƯỜNG………48
3.1 Thực trạng áp dụng những quy định của Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung 2009 đối với các tội phạm về môi trường ………48
3.2 Những bất cập trong việc áp dụng những quy định của Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung 2009 đối với các tội phạm về môi trường……… …………51
3.2.1 Trong lĩnh vực hình sự……….…… 51
3.2.2 Trong lĩnh vực kinh tế……… ……… ………….… … …53
3.2.3 Trong công tác giáo dục……….…………54
3.2.4 Trong công tác điều tra, quản lý, thanh tra, giám sát …… …… ……54
3.3 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung 2009 đối với các tội phạm về môi trường.……….…54
3.3.1 Trong lĩnh vực hình sự……… ……… ……… …54
3.3.2 Trong lĩnh vực kinh tế……… ……… ……… …60
3.3.3 Trong công tác giáo dục……… ……….….…60
3.3.4 Trong công tác điều tra, quản lý, thanh tra, giám sát ……… 61
KẾT LUẬN……… 62
Trang 11LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn hai mươi năm đổi mới, đất nước ta đã có những thay đổi lớn trên tất cả các mặt của đời sống xã hội Đời sống nhân dân ngày ngày càng được nâng cao, tình hình an ninh chính trị được giữ vững, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm Tuy nhiên, cùng với sự phát triển tích cực của nền kinh tế thì tình hình tội phạm cũng đang có chiều hướng gia tăng đặc biệt là các tội phạm về môi trường (TPVMT)
Sự ô nhiễm, suy thoái và những sự cố môi trường diễn ra ngày càng ở mức độ cao đang đặt con người vào những thảm họa của thiên nhiên có thể xảy ra như sự nóng nên của trái đất, lỗ hổng tầng ôzôn, tình trạng ngập lụt, sóng thần v.v Vì vậy, vấn đề bảo vệ môi trường (BVMT) đã trở nên vô cùng cấp thiết được các quốc gia và cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm
Một thực tế không thể phủ nhận là môi trường nước ta hiện nay đang bị ô nhiễm và suy thoái nặng nề, nếu không có những biện pháp hữu hiệu để khắc phục thì chúng ta sẽ phải trả giá cho cho những tổn thất mà các thế hệ người Việt Nam sẽ phải gánh chịu bây giờ và trong tương lai
Nhận thức đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của việc BVMT, Đảng, Nhà nước và Quốc hội đã đề ra nhiều giải pháp vừa mang tính chiến lược vừa mang tính cấp bách để BVMT Trong số các biện pháp pháp lý được sử dụng để BVMT thì biện pháp hình sự được xem là khả thi nhất Bộ luật Hình sự (BLHS) 1999 sửa đổi, bổ sung 2009, dành riêng Chương XVII quy định các TPVMT Tuy nhiên, các quy định này chưa phát huy hết hiệu quả như mong đợi, vẫn mang tính lý thuyết chưa áp dụng được trên thực tế, một số vấn đề lớn chưa được giải thích cụ thể dẫn đến cách hiểu không thông nhất của các cơ quan bảo vệ pháp luật, cũng như một số quy định không có tính khả thi khó áp dụng Vì vậy, việc nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn hoạt động điều tra, xử lý các vụ phạm tội về môi trường, từ
đó đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống các TPVMT là vấn đề cấp thiết trong tình hình hiện nay Do đó, người viết quyết định chọn đề
tài “ Các tội phạm về môi trường trong luật hình sự Việt Nam hiện hành - Lý luận và thực tiễn” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ các vấn đề lý luận, các đặc trưng pháp lý cơ bản của các TPVMT Đồng thời, đánh giá về tình hình các TPVMT trong thời gian qua để từ
Trang 12đó rút ra những phương pháp đúng đắn và đề xuất các giải pháp thiết yếu cho công tác đấu tranh phòng, chống các TPVMT trong thời gian tới được thực thi nhanh chóng, rõ ràng và hiệu quả Qua đó kêu gọi sự chung tay xây dựng một môi trường trong lành góp phần thúc
đẩy phát triển kinh tế
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật hình sự đối với nhóm tội về môi trường được quy định trong BLHS Việt Nam hiện hành; tình hình về các tội phạm môi trường trong thời gian qua và thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các TPVMT của các cơ quan bảo vệ pháp luật Số liệu thống kê phục vụ cho việc nghiên cứu, so sánh, đối chiếu trong đề tài được viện dẫn từ các báo cáo tổng kết của Bộ Tài nguyên và Môi trường; báo cáo công tác của Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm môi trường, Bộ Công an; và một số báo cáo chuyên đề về môi trường
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về cải cách tư pháp, về tội phạm, về đấu tranh phòng, chống các tội phạm nói chung và các TPVMT nói riêng Đồng thời, dựa trên cơ sở các bài viết, các đề tài khoa học của các nhà nghiên cứu lý luận về các TPVMT; các phương pháp mà luận văn đã vận dụng như: phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh; chuyên gia; thống kê hình sự
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia thành ba chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về các tội phạm môi trường theo luật hình sự Việt
Nam
Chương 2: Những quy định về các tội phạm môi trường trong Bộ luật Hình sự Việt
Nam hiện hành
Chương 3: Thực trạng và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc áp dụng những
quy định của Bộ luật Hình sự đối với các tội phạm môi trường
Trang 13CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC TỘI PHẠM MÔI TRƯỜNG THEO
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Nhu cầu được sống trong một môi trường sinh thái an toàn trong lành và sạch đẹp là một trong những nhu cầu chính đáng và thiết yếu của nhân loại Trải qua quá trình phát triển của xã hội thì nhu cầu này của con người ngày càng cao hơn và trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật hiện đại, khai thác tài nguyên, sản xuất hàng hóa v.v…cùng với những mặt trái của nó đã gây ra những hậu quả làm ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến môi trường tự nhiên, xã hội và con người, đặc biệt phải kể đến những hậu quả như: nạn sa mạc hóa; ô nhiễm đất, nước và không khí v.v…Mặt khác, công tác đấu tranh với những hành vi tàn phá môi trường của nước ta chưa thu được hiệu quả cao, cùng với tính chất đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đặt ra nhiệm vụ phải hoàn thiện cơ chế BVMT hiệu quả hơn
Việc xác định đúng khái niệm tội phạm môi trường là cơ sở quan trọng cho việc quy định các tội phạm cụ thể và cho việc giải quyết đúng đắn vấn đề TNHS đối với các TPVMT Trong khi khái niệm tội phạm môi trường đã được quy định trong BLHS của một số quốc gia như Anh, Pháp, Mỹ… thì BLHS của nước ta chưa đưa ra khái niệm chung về tội phạm môi trường Trong chương này người viết sẽ tập trung làm rõ khái niệm môi trường, khái niệm về tội phạm môi trường, quá trình hình thành các quy định về tội phạm môi trường trong luật hình sự Việt Nam Đồng thời nghiên cứu các quy định về tội phạm môi trường trong pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới Từ đó đưa ra cách hiểu thống nhất về tội phạm môi trường và làm cơ sở cho việc định tội danh cũng như xác định hình phạt cho các tội phạm môi trường đó
1.1.Khái niệm về môi trường
Môi trường là một khái niệm có nội hàm rất rộng và được sử dụng trong nhiều lĩnh
vực khác nhau Theo nghĩa thông thường môi trường là: toàn bộ nói chung những điều kiện
tự nhiên và xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ hay sinh vật ấy.1; là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế.2; là toàn bộ hệ thống tự nhiên và các
1 Xem: Trung tâm từ điển học Hà Nội - Đà Nẵng , Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng,1997, Tr 618
2 Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, http://vi.wikipedia.org/wiki/Môi_trường, [ngày truy cập 01/10/2014]
Trang 14hệ thống do con người sáng tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống bằng lao động của mình đã khai thác tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thoả mãn các nhu cầu của mình.3 Môi trường sử dụng trong lĩnh vực pháp lý được hiểu như là mối liên hệ giữa con người và tự nhiên, trong đó môi trường là những yếu tố, hoàn cảnh và tự nhiên bao
quanh con người Khoản 1 Điều 3 Luật BVMT 2005 định nghĩa môi trường “bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”
Theo định nghĩa của luật BVMT thì bất cứ một sự vật hiện tượng nào cũng tồn tại trong một môi trường của nó Tuy nhiên môi trường, cái mà loài người hiện nay phải đối mặt
và nghiên cứu bảo vệ đó là môi trường sống bao quanh con người Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:
Môi trường tự nhiên: bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học,
tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú
Môi trường xã hội: là tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó là những luật
lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể v.v Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác
Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển.4
1.2 Khái quát về tội phạm môi trường
1.2.1 Khái niệm tội phạm về môi trường
Việc xác định khái niệm tội phạm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc định tội danh cũng như xác định hình phạt Trong khi khái niệm tội phạm môi trường đã được quy định trong BLHS của một số quốc gia như Anh, Pháp, Mỹ… thì ở nước ta đến nay khái
3 Xem Tuyên ngôn của UNESCO 1981
4
Trang 15niệm về tội phạm môi trường vẫn chưa được luật hoá mà mới chỉ được định nghĩa trong một
số công trình nghiên cứu Song, các định nghĩa này còn nhiều điểm chưa hoàn toàn rõ ràng
hoặc đầy đủ: Một số tác giả cho rằng: "TPVMT là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do những người có năng lực TNHS thực hiện, xâm hại đến sự bền vững và ổn định của môi trường; xâm hại đến các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý và BVMT, gây ra những hậu quả xấu đối với môi trường sinh thái"5 Trong khái niệm này có hai điểm chưa được rõ ràng:
Thứ nhất, khái niệm trên chưa chỉ ra đặc trưng hết sức quan trọng của tội phạm nói
chung, TPVMT nói riêng, mà được tất cả các nhà luật học công nhận: "tội phạm là hành vi
vi phạm pháp luật hình sự" Cũng chính vì lý do này nên khái niệm trên chưa hoàn toàn chính xác Không ai nghi ngờ "Hành vi nguy hiểm cho xã hội" là đặc trưng chung của các
hành vi vi phạm pháp luật như: vi phạm hành chính, tội phạm, vi phạm kỷ luật v.v , vậy khái niệm nêu trên có thể bao gồm cả những hành vi vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực môi trường
Thứ hai, khái niệm trên có thể gây sự hiểu nhầm giữa đối tượng và Khách thể của
tội phạm Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội và lợi ích xã hội bị xâm hại và được chỉ ra rất rõ ràng trong Điều 1 và Điều 8 BLHS 1999
Giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội cho rằng: "Các TPVMT là các hành vi nguy hiểm cho xã hội vi phạm các quy định của Nhà nước về BVMT, qua đó gây thiệt hại cho môi trường"6 Khái niệm này có ưu điểm là rất ngắn gọn, tuy nhiên cũng còn có vài điểm cần bàn thêm: Cũng giống như ở khái niệm trước, khái niệm TPVMT trong giáo trình Luật Hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội chưa tạo ra được sự khác biệt giữa TPVMT
và hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường Việc đưa "thiệt hại cho môi trường" vào trong khái niệm TPVMT có thể dẫn tới sự hiểu lầm Yếu tố "thiệt hại" trong cấu
thành tội phạm chỉ bắt buộc đối với những cấu thành tội phạm vật chất Những cấu thành hình thức khẳng định việc tội phạm đã được thực hiện ngay khi đã thực hiện hành vi, bất kể
hành vi đó đã gây ra thiệt hại hay chưa Như vậy, sử dụng cấu trúc "gây thiệt hại cho môi trường" trong khái niệm có thể dẫn tới sự hiểu nhầm rằng: "tất cả TPVMT có cấu thành vật chất" Ngoài ra, khái niệm kể trên chưa chỉ rõ Khách thể bị xâm hại Có thể nói, một trong
những đặc trưng cơ bản nhất của tội phạm cụ thể chính là Khách thể giúp phân biệt với các
5 Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự 1999, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, Hà Nội, 2001, trang 320.
6 Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam tập 2, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, Hà Nội,
2009, trang 153.
Trang 16tội phạm khác
Qua nghiên cứu, chọn lọc những nội dung hợp lý, theo người viết TPVMT có thể
được khái quát chung như sau: TPVMT là hành vi nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định, xâm hại đến các quan hệ xã hội trong lĩnh vực môi trường liên quan đến việc BVMT tự nhiên, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, và BVMT sống cho con người Qua đó gây thiệt hại nghiêm trọng trực tiếp hay gián tiếp đến môi trường tự nhiên và môi trường sống của con người
1.2.2 Đặc điểm của các tội phạm về môi trường
Từ khái niệm TPVMT có thể khái quát những đặc điểm của TPVMT như sau:
Thứ nhất, hành vi Khách quan của nhóm TPVMT là hành vi xâm phạm các quy định
của Nhà nước về BVMT Ví dụ: như hành vi thải vào không khí, nguồn nước, đất các chất gây ô nhiễm môi trường, phát bức xạ, phóng xạ quá quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải (Điều 182 BLHS hiện hành); hay những hành vi làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người
và động vật, thực vật như hành đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh động vật, thực vật, sản phẩm động vật thực vật hoặc vật phẩm khác bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh (Điều 187 BLHS hiện hành) v.v…
Thứ hai, hậu quả do các TPVMT gây ra cũng rất đa dạng, hành vi vi phạm các quy
định của BLHS về tội phạm môi trường có thể gây ảnh hưởng xấu đến môi trường tự nhiên, môi trường sống của con người; qua đó gây thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của con người Những thiệt hại về tài sản ở đây bao gồm cả thiệt hại thực tế
và chi phí khắc phục thiệt hại đã gây ra
Dấu hiệu hậu quả là dấu hiệu bắt buộc, có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tội danh và định khung hình phạt của hầu hết các tội danh thuộc nhóm tội này
Thứ ba, Chủ thể của các TPVMT đều có thể là chủ thể bình thường Chủ thể của tội
phạm môi trường thực hiện hành vi với lỗi cố ý Động cơ mục đích của người phạm tội tương đối đa dạng nhưng không có ý nghĩa trong việc định tội
Các TPVMT được quy định chi tiết trong BLHS và chưa có văn bản hướng dẫn thi hành dưới luật Mỗi điều khoản về tội phạm môi trường trong BLHS hiện hành đều xác định hành vi phạm tội rõ ràng, và những quy định những căn cứ để truy cứu TNHS, căn cứ định khung và định hình phạt Các quy định về TPVMT của Việt Nam cũng tuân thủ một số công ước và hiệp ước mà Việt Nam tham gia và ký kết như tuân thủ công ước Basel về kiểm soát, vận chuyển xuyên biên giới các phế thải nguy hiểm và việc tiêu huỷ chúng
Trang 171.2.3 Nguyên nhân và điều kiện phạm tội của tội phạm về môi trường
Các TPVMT đang diễn ra ngày càng tăng có rất nhiều nguyên nhân và điều kiện tác động đến và nó tập chung chủ yếu ở một số nguyên nhân và điều kiện sau đây:
Thứ nhất, hiện nay chưa có văn bản nào hướng dẫn việc áp dụng các điều luật về tội
phạm môi trường trong BLHS hiện hành
Cấu thành cơ bản của các tội quy định trong Chương XVII ( các TPVMT) của BLHS hiện hành cũng có những nét đặc thù, nhiều tình tiết định lượng, định tính chưa được cụ thể hoá đòi hỏi phải được nghiên cứu, hướng dẫn để áp dụng thống nhất trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này
Thứ hai, công tác phối hợp giữa các lực lượng liên quan đến điều tra các vụ án về
môi trường chưa được chặt chẽ và hiệu quả Đặc biệt là sự phối hợp giữa cơ quan điều tra của lực lượng cảnh sát nhân dân và thanh tra chuyên ngành về điều tra tội phạm môi trường
Thứ ba, công tác tổ chức phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tội phạm môi trường
chưa được tiến hành một cách đồng bộ, chưa xây dựng được kế hoạch hợp lý, cụ thể nhằm phối hợp các hoạt động của các bộ, ngành có liên quan để thực hiện chiến lược về BVMT của Đảng và Nhà nước
Thứ tư, việc nhận diện được một hành vi vi phạm pháp luật môi trường là rất khó,
đòi hỏi phải có sự trợ giúp của các phương tiện khoa học kỹ thuật, phải có sự đánh giá của các cơ quan chuyên ngành, phải định tính, định lượng cụ thể mới có thể xác định đó là một hành vi vi phạm pháp luật về môi trường Trong khi đó việc trang bị các phương tiện khoa học kỹ thuật cho cán bộ thực thi pháp luật trong lĩnh vực môi trường của nước ta còn hạn chế, gây khó khăn cho việc định lượng hậu quả mà các hành vi vi phạm gây ra
Thứ năm, về quan niệm và nhận thức, trong một thời gian dài, vấn đề BVMT còn bị
xem nhẹ, chưa coi vấn đề môi trường là cấp thiết cần ưu tiên giải quyết, ý thức pháp luật, ý thức BVMT của một bộ phận nhân dân còn nhiều hạn chế, đặc biệt các doanh nghiệp nhỏ,
hộ kinh doanh và bộ phận dân cư miền núi, vùng sâu vùng xa nhiều người còn chưa hiểu được thế nào là môi trường trong lành, như thế nào là gây ô nhiễm môi trường, TPVMT
Thứ sáu, công tác giáo dục ý thức BVMT đối với các tầng lớp dân cư trong xã hội
còn nhiều hạn chế Việc phổ biến, giáo dục pháp luật về môi trường nói chung còn mang tính hình thức, khuếch trương phong trào mà chưa tiến hành một cách thường xuyên, sâu rộng trong quần chúng nhân dân
Trang 181.2.4 Hậu quả của tội phạm về môi trường gây ra
Hậu quả do các TPVMT gây ảnh hưởng xấu đến môi trường tự nhiên, môi trường sống của con người, qua đó gây thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của con người Ví dụ như: Ô nhiễm không khí làm giảm sức đề kháng của cơ thể và dẫn đến các bệnh như: chóng mặt, đau đầu, các vấn đề tim mạch và thậm chí chết sớm trong trường hợp nặng; Nguồn nước bị ô nhiễm sẽ gây ra nhiều bệnh cho con người như: thương hàn, viêm gan, viêm dạ dày, tiêu chảy, viêm não, giun đũa v.v ; Tầng ozone bảo vệ tất cả các sinh vật sống trên trái đất khỏi tia cực tím, việc ô nhiễm không khí kéo dài là nguyên nhân làm mỏng tầng ozone, qua đó đe dọa sự sống của nhân loại; Hành vi hủy hoại rừng dẫn đến mất cân bằng hệ sinh thái gây ra các thiên tai như: hạn hán, lũ lụt, xói mòn đất.v.v ; Các loài sinh vật ngoại lai phát tán sẽ làm giảm đa dạng sinh học, ảnh hưởng nghiêm trọng đến mùa màng và tốn hao tiền của cho chi phí khắc phục hậu quả;.v.v…
1.3 Sự hình thành các quy định về tội phạm môi trường trong luật hình sự Việt Nam
1.3.1 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về bảo vệ
môi trường của Việt Nam
Từ những năm 60, vấn đề BVMT đã được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm thông qua các chủ trương, chính sách như: Chỉ thị số 7/TTg ngày 16/01/1964 về việc thu tiền bán khoáng lâm sản và chi tiền nuôi rừng; Nghị quyết số 183/CP ngày 25/09/1966 về công tác trồng cây gây rừng; Pháp lệnh quy định bảo vệ rừng ngày 11/09/1972.v.v Tuy nhiên, vào thời điểm này chúng ta cũng chưa thấy rõ tầm quan trọng đặc biệt của công tác BVMT đối với sự phát triển bền vững và lâu dài của đất nước, đây cũng là thái độ chung của cộng đồng quốc tế đối với công tác BVMT
Đến năm 1980, lần đầu tiên vấn đề BVMT mới được chính thức ghi nhận tại điều 36
của Hiến pháp 1980: “Các cơ quan Nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải thiện môi trường sống” Tuy nhiên, từ năm 1980 đến
1992, việc ban hành các văn bản pháp luật để cơ sở cho công tác BVMT vẫn chưa được quan tâm đúng mức Công tác quản lý, sử dụng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường trên thực tế gần như bị thả nổi Đây là nguyên nhân chính làm mất đi một nửa diện tích rừng, làm 40% diện tích lãnh thổ trở thành đất trống, đồi núi trọc, thế giới đông thực vật và nguồn lợi thủy sản bị suy giảm nghiêm trọng.v.v
Trang 19Trước thực trạng trên, Đại hội Đảng VII ( 1991) đã chỉ rõ ảnh hưởng và tác dụng to lớn của môi trường đối với con người và sự phát triển lâu dài của đất nước Trên cơ sở đó,
Điều 29 Hiến pháp 1992 xác định rõ: “Cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và BVMT Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và huỷ hoại môi trường” Với quy định này, Hiến pháp 1992 đã khẳng định tính nghiêm khắc của
quy định pháp luật với công tác BVMT, làm cơ sở cho việc quy định các TPVMT trong BLHS sau này Đồng thời, vấn đề BVMT không chỉ là chính sách của Đảng và Nhà nước,
mà nó còn được pháp luật hóa và trở thành một ngành luật độc lập, mang tính nguyên tắc cao trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Sau Hiến pháp, ngày 27/12/1993 Luật BVMT đã được Quốc hội thông qua Văn bản này đã thể hiện rõ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với công tác BVMT Đây là sự biểu hiện tập chung nhất việc cụ thể hóa Hiến pháp 1992 Luật BVMT đã hệ thống hóa và khái quát khá đầy đủ tinh thần của nhiều văn bản pháp luật
có liên quan đến công tác BVMT, đặc biệt là quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong việc phòng, chống suy thoái và ô nhiễm môi trường, cũng như thẩm quyền giải quyết, xử lý các sự cố về ô nhiễm môi trường
Để cụ thể hóa Luật BVMT Chính phủ đã ban hành Nghị định số 175/CP ngày 18/10/1994 hướng dẫn Luật BVMT Trong đó, Chính phủ đã phân công trách nhiệm quản lý nhà nước đối với các cơ quan có thẩm quyền về BVMT, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân đối với nhiệm vụ BVMT; quy định danh mục tiêu chuẩn môi trường và hệ thống tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường; quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phục hồi môi trường của tổ chức và cá nhân trong
và ngoài nước gây tổn hại nghiêm trọng đối với môi trường Việt Nam
Cùng với việc ban hành Nghị định 175/CP, một số văn bản quy phạm pháp luật về BVMT trong các lĩnh vực cụ thể như hành chính, dân sự.v.v…, đã được Nhà nước lần lượt ban hành như: Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 1995; Nghị định số 26/CP ngày 26/4/1996 quy định nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính về BVMT; Thông tư số 2433 ngày 3/6/1996 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn thi hành Nghị định số 26/CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về BVMT; Thông tư liên bộ số 1590/1977/TTLB-BKHCNMT-BXD của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường và Bộ Xây dựng hướng dẫn tổ chức triển khai quản lý chất thải.v.v
Trong lĩnh vực pháp luật dân sự, Bộ luật Dân sự năm 1995 cũng đã quy định một số
Trang 20quyền và nghĩa vụ của tổ chức, công dân có liên quan đến công tác BVMT như: Nghĩa vụ của chủ sở hữu trong BVMT (Điều 268); Nghĩa vụ tôn trọng quy tắc xây dựng (Điều 272); Quy định việc bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường gây ra (Điều 286) Trong lĩnh vực hình sự, các tội phạm liên quan đến môi trường được quy định tại một số điều của BLHS 1985 và toàn bộ Chương XVII của BLHS 1999
1.3.2 Quá trình hình thành các quy định về tội phạm môi trường trong luật hình
sự Việt Nam
1.3.2.1 Giai đoạn trước khi có Bộ Luật Hình sự 1985
Từ khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, chúng ta tập chung vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển kinh tế xã hội để thoát khỏi sự khủng hoảng kinh tế Mặt khác, giai đoạn này công nghiệp chưa phát triển mạnh, các máy móc thiết bị chưa được
sử dụng nhiều nên khí thải còn hạn chế, rừng chưa bị tàn phá nghiêm trọng… Do đó, vấn đề BVMT trong giai đoạn này ít được quan tâm
Trước những năm 60, hầu như chúng ta mới chỉ có một số rất ít các văn bản pháp luật quy định về bảo vệ các yếu tố môi trường thiên nhiên như: Sắc lệnh 142/SL ngày 21 -12-
1949 quy định về việc lập biên bản các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng Kể từ những năm 60, xuất hiện một số văn bản có giá trị pháp lý cao như: Pháp lệnh quy định về quản lý nhà nước đối với công tác phòng cháy và chữa cháy ngày 27-09-1961; Pháp lệnh về bảo vệ rừng ngày 11-09-1972… Đặc biệt trong thời kì này là vấn đề BVMT đã được quy định trong đạo luật cao nhất của Nhà nước ta – Hiến pháp năm 1980 Điều 36 Hiến pháp năm 1980 quy
định: “Các cơ quan Nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải thiện môi trường sống” quy định này đã đặt cơ sở pháp lý quan trọng
và cơ bản nhất cho sự điều chỉnh của pháp luật đối với việc BVMT thiên nhiên và những yếu tố bao quanh nó
Ngày 06-09-1972, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng Theo pháp lệnh này thì tất cả các hành vi gây thiệt hại đến rừng đều bị nghiêm cấm và chịu những hình phạt nghiêm khắc Cụ thể, tại Chương II – Những biện pháp bảo vệ
rừng – Pháp lệnh quy định: Cấm phá rừng (Điều 3); Cấm mọi hành động chặt cây rừng trái
với các điều quy định của Nhà nước (Điều 4); Chính phủ quy định những khu rừng cấm nhằm bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ di tích lịch sử, bảo vệ sức khoẻ, nghiên cứu khoa học hoặc phục vụ các lợi ích đặc biệt khác Ở những khu rừng này, cấm chặt cây, trừ trường hợp để
Trang 21dọn rừng và tu bổ rừng, cấm săn bắn chim, muông, thú rừng (Điều 5)… Để nghiêm trị các hành vi kể trên Pháp lệnh quy định các hình phạt khá nghiêm khắc như: Kẻ nào vi phạm một trong những điều ghi ở Chương II của Pháp lệnh này hoặc tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép lâm sản mà không gây thiệt hại lớn đến tài nguyên rừng thì bị cảnh cáo hoặc bị phạt tiền từ một đồng đến hai trăm đồng Cơ quan Kiểm lâm nhân dân huyện có quyền cảnh cáo hoặc phạt tiền đến một trăm đồng; trong trường hợp số tiền phạt quá một trăm đồng thì cơ quan Kiểm lâm nhân dân tỉnh xét và xử lý (Điều 21); Kẻ nào vi phạm một trong những điều ghi ở Chương II của Pháp lệnh này hoặc tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép lâm sản, gây thiệt hại lớn đến tài nguyên rừng hoặc đã bị xử phạt mà còn vi phạm thì sẽ bị truy tố trước Toà án nhân dân và có thể bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm và phạt tiền từ hai trăm đồng đến hai nghìn đồng, hoặc một trong hai hình phạt đó (Điều 22) Như vậy, Pháp lệnh quy định bảo vệ rừng 1972 đã quy định khá cụ thể và chi tiết các hành vi xâm hại đến tài nguyên thiên nhiên rừng
Bên cạnh đó, Chính phủ và các Bộ, Ngành đã ban hành hàng loạt các văn bản có liên quan về quản lý và BVMT như: Chỉ thị số 134-TTg ngày 21-06-1960 của Thủ tướng Chính phủ về việc cấm bắn voi; Nghị quyết số 36/CP ngày 11-03-1961 của Hội đồng Chính phủ về việc quản lý, bảo vệ tài nguyên dưới lòng đất; Chỉ thị số 127/CP ngày 24-05-1971 của Hội đồng Chính phủ về công tác điều tra cơ bản tài nguyên và điều kiện thiên nhiên; Thông tư số 24-TT/75 ngày 20-09-1975 của Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời về việc bảo vệ và phục hồi rừng…
Đánh giá một cách khái quát, pháp luật hình sự nước ta giai đoạn 1945 đến trước
1985 có thể thấy mặc dù chưa đầy đủ, nhưng ở mức độ nhất định đã có những quy định khá
cụ thể và chặt chẽ trong việc BVMT trong một số lĩnh vực nhất định Tuy nhiên, do những hạn chế Khách quan của điều kiện kinh tế xã hội mà trong lĩnh vực lập pháp, các quy định
về BVMT nói chung và pháp luật hình sự trong việc BVMT nói riêng chưa được nhận thức đầy đủ và khái quát thành một khách thể nhóm với tư cách là đối tượng được bảo vệ của pháp luật hình sự
1.3.2.2 Các quy định về tội phạm môi trường trong Bộ luật Hình sự 1985
Cùng với sự phục hồi và ngày càng phát triển của nền kinh tế xã hội, sức ép của vấn
đề ô nhiễm môi trường ngày càng tăng lên: quá trình đô thị hóa; thuốc bảo vệ thực vật được
sử dụng rộng rãi; nạn phá rừng tràn lan làm mất cân bằng sinh thái nghiêm trọng; công nghiệp phát triển ngày càng có nhiều chất thải độc hại thải ra môi trường; tầng ozon bị thủng
Trang 22đã làm cho nhiệt độ trái đất nóng lên… Vấn đề BVMT trở thành thách thức lớn của xã hội Nhận thức được việc BVMT là một nhiệm vụ chiến lược để đảm bảo cho sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước, trên cơ sở hiến định, Nhà nước ta đã quy định vấn đề BVMT trong BLHS năm 1985 BLHS năm 1985 đã coi một số hành vi xâm hại đến các yếu
tố của môi trường gây hậu quả nghiêm trọng là tội phạm và các cá nhân vi phạm sẽ bị truy cứu TNHS Một số tội phạm cụ thể về môi trường được ghi nhận trong Bộ luật, tại Chương
VII "Các tội phạm về kinh tế" và Chương VIII "Các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng
và trật tự quản lí hành chính", đó là: Điều 180 Tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo
vệ đất đai; Điều 181 Tội vi phạm và quản lý các quy định về quản lý và bảo vệ rừng; Điều
195 Tội vi phạm các quy định về BVMT gây hậu quả nghiêm trọng; Điều 216 Tội vi phạm
về bảo vệ và sử dụng các di tích lịch sử, văn hoá, danh lam, thắng cảnh gây hậu quả nghiêm trọng
Nhìn chung, Trong giai đoạn 1985 – 1999 các quy định này cùng với các quy định trong lĩnh vực chuyên nghành pháp luật về đất đai, tài nguyên thiên nhiên, về quản lý và bảo
vệ các thành tố khác nhau của môi trường… đã góp phần đáng kể trong việc răn đe và trừng trị các tội phạm xâm hại môi trường, góp phần nâng cao nhận thức về BVMT
1.3.2.3 Các quy định về tội phạm môi trường trong Bộ luật Hình sự 1999
Bước vào thời kì đổi mới, vấn đề BVMT càng được quan tâm hơn bao giờ hết Tuy nhiên các điều luật quy định về tội phạm môi trường trong BLHS 1985 do những hạn chế về mặt lập pháp và do sự thay đổi nhanh chóng của điều kiện kinh tế xã hội đã bộc lộ nhiều hạn chế và thiếu sót, bỏ loạt những tội phạm mới nảy sinh
Trước đòi hỏi cấp bách của tình hình hiện nay về việc BVMT là cần có một biện pháp mạnh để ngăn chặn sự suy thoái môi trường và ô nhiễm môi trường, phục hồi và phát triển môi trường sinh thái, đấu tranh phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường, cần thiết phải xây dựng một khung pháp luật hoàn chỉnh nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý các hành vi xâm hại tới môi trường góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh, phòng chống tội phạm môi trường, BLHS năm 1999 đã bổ sung thêm chương XVII – Các TPVMT, quy định 10 tội danh cụ thể: Tội gây ô nhiễm không khí (Điều 182); Tội gây ô nhiễm nguồn nước (Điều 183); Tôi gây ô nhiễm đất (Điều 184); Tội nhập khẩu công nghệ máy móc, thiết
bị, phế thải hoặc các chất không đảm bảo tiêu chuẩn BVMT (Điều 185); Tội lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người (Điều 186); Tội lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật (Điều 187); Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản (Điều 188); Tội hủy hoại rừng (Điều 189);
Trang 23Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm (Điều 190); Tội vi phạm chế độ bảo vệ đặc biệt đối với khu bảo tồn thiên nhiên (Điều 191)
Chương XVII – Các TPVMT – của BLHS 1999 đã thay thế cơ bản các quy định về các TPVMT trong BLHS 1985; đồng thời, bổ sung thêm một số tội danh mới xuất hiện trong thời gian gần đây Đây là thể hiện sự quan tâm đúng mức của Đảng và Nhà nước ta trước thực trạng môi trường tiếp tục bị suy thoái, ô nhiễm với mức độ cao; thể hiện thái độ kiên quyết, xử lý kịp thời, nghiêm khắc đối với các hành vi làm suy thoái, ô nhiễm môi trường, xâm hại đến các yếu tố của môi trường thiên nhiên
1.3.2.4 Các quy định về tội phạm môi trường trong Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009
Sau hơn 9 năm áp dụng BLHS năm 1999 vào thực tiễn đấu tranh, phòng chống tội phạm môi trường, cho thấy những quy định về tội phạm môi trường đã bộc lộ nhiều bất cập như: điều kiện để xử lý hình sự một số hành vi xâm phạm môi trường còn quá phức tạp, trong khi đó những quy định giữa pháp luật hành chính và pháp luật hình sự còn chưa thống
nhất; chưa có quy định chi tiết, rõ ràng thế nào là “hậu quả nghiêm trọng”, “hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”v.v…Do vậy, khả năng áp dụng BLHS năm 1999 và hiệu quả trong công
tác đấu tranh, phòng chống tội phạm môi trường chưa cao
Trước tình hình đó, ngày 19/06/2009 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của BLHS năm 1999 số 37/2009/QH12 theo hướng quy định đơn giản hơn về dấu hiệu của các TPVMT Sau khi sửa đổi, bổ sung các TPVMT gồm mười một tội được quy định tại Chương XVII BLHS Các tội đó là: Điều 182 Tội gây ô nhiễm môi trường; Điều 182a Tội vi phạm các quy định về quản lý chất thải nguy hại; Điều 182b Tội
vi phạm các quy định về phòng ngừa sự cố môi trường; Điều 185 Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam; Điều 186 Tội lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho con người; Điều 187 Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật; Điều 188 Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản; Điều 189 Tội hủy hoại rừng; Điều 190 Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; Điều 191 Tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên; Điều 191a Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại Sự thay đổi trong nhận thức của các nhà làm luật qua việc sửa đổi, bổ sung các TPVMT là công cụ pháp lý quan trọng trong việc đấu tranh, phòng chống các tội phạm môi trường hiện nay, tạo thuận lợi không chỉ trong nhận thức mà còn trong áp dụng quy định của Bộ luật của các cơ quan tiến hành tố tụng
Trang 241.4 Những quy định về tội phạm môi trường trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới
Nhằm có thêm căn cứ lý luận và thực tiễn cho việc tiếp tục hoàn thiện Chương các TPVMT, việc nghiên cứu để học hỏi kinh nghiệm thích hợp của một số nước ngoài trong
việc hình sự hóa các hành vi xâm phạm môi trường là hết sức cần thiết và hữu ích
1.4.1 Trung Quốc
Cũng giống như nhiếu nước đang phát triển khác, Trung Quốc đang đứng trước nhiều thách thức to lớn cần phải giải quyết trong đó có vấn đề môi trường Nền kinh tế phát triển với tốc độ cao cùng với dân số khổng lồ đã và đang là những nhân tố gây sức ép mạnh đối với môi trường sinh thái và tài nguyên thiên nhiên của quốc gia này.Trước tình hình đó Chính phủ Trung Quốc đã coi BVMT sinh thái là một nhiệm vụ chiến lược trong chính sách phát triển kinh tế xã hội của mình Một trong những biên pháp cứng rắn và hữu hiệu nhất là việc áp dụng những chế tài nghiêm khắc đối với những người vi phạm pháp luật về môi trường
Tại Tiết 6 “ Các tội xâm phạm việc bảo vệ tài nguyên môi trường” trong BLHS 1997
của Trung Quốc có chín điều luật từ Điều 338 đến Điều 346 Khác với cách quy định trong BLHS của Việt Nam và nhiều nước khác, các điều trong BLHS Trung Quốc không có ghi tên điều luật.Ví dụ, Điều 338 nói rằng: “người nào thải, chôn vùi hoặc xử lý các chất phóng
xạ, các chất thải chứa các vi trùng gây bệnh và các vật liệu độc hại hoặc các chất nguy hiểm khác vào đất, nước, khí quyển…”
Các tội quy định tại Tiết 6 bao gồm các tội có cấu thành hình thức (các Điều 339,
340, 341) và các tội có cấu thành vật chất ( các Điều 338, 342, 343) Tuy nhiên, trong cả hai loại vừa nêu , đều có chung một điểm là hình phạt nặng hay nhẹ đều được quy định căn cứ vào tính chất của hành vi loại dụng cụ, hậu quả gây ra Hầu hết các điều luật trong Tiết 6 đều coi yếu tố hậu quả là tình tiết định khung tăng nặng Ví dụ: Điều 345 quy định ba khung hình phạt khác nhau cho hành vi chặt cây rừng trái phép, cụ thể là:
Khung 1: Số lượng lớn có thể bị phạt đến ba năm tù giam
Khung 2: Số lượng rất lớn có thể bị phạt đến bảy năm tù giam
Khung 3: Số lượng đặc biệt lớn có thể bị phạt đến bảy năm trở lên
Như vậy, các TPVMT đã được quy định thành một Tiết riêng trong BLHS Trung Quốc Với cách thức quy định các tội danh hết sức đa dạng và linh hoạt, BLHS sự đã liệt kê được
Trang 251.4.2 Singapore
Ở Singapore TNHS đối với các hành vi vi phạm pháp luật môi trường không được quy định trong các văn bản pháp luật hình sự mà được quy định ngay tại các luật về môi trường như Luật không khí sạch; Luật về môi trường sức khỏe cộng đồng; Luật về xuất nhập khẩu, quá cảnh chất thải nguy hiểm…Các chế tài được áp dụng đối với các hành vi vi phạm pháp luật môi trường gồm: phạt tù, phạt tiền, bắt bồi thường và lao động bắt buộc Trong đó chế tài phạt tiền được xem là phổ biến nhất với nhiều mức độ phạt tiền khác nhau Ví dụ, theo Luật về môi trường sức khỏe cộng đồng (mục 108) của Singapore quy định “người nào
vi phạm hoặc thực hiện không đúng bất kỳ quy định nào của đạo luật này sẽ bị kết tội về vi phạm đó, nếu ở đó hình phạt tù không được quy định thì sẽ bị phạt tiền đến hai nghìn đôla sing và trong trường hợp tái phạm sẽ bị phạt tiền đến bốn nghìn đôla sing hoặc phạt tù đến
ba tháng hoặc cả hai hình phạt trên” Khác với Luật hình sự Việt Nam TNHS đối với các
hành vi vi phạm pháp luật môi trường ở Singapore không chỉ áp dụng đối với thể nhân mà
còn áp dụng đối với các pháp nhân
Nghiên cứu pháp luật hình sự của Việt Nam và một số nước trên thế giới như Trung Quốc, Singapore cho thấy TPVMT trong pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới có những quy định khác nhau Có nước quy định tại chương (tiết) các TPVMT, có nước lại tách
ra thành các điều luật cụ thể; có nước quy định hành vi vi phạm pháp luật về BVMT phải chịu trách nhiệm pháp lý về mặt hình sự ở các ngành luật cụ thể Tuy nhiên, dù cách thức quy định khác nhau, nhưng có điểm tương đồng là các hành vi xâm hại đến môi trường một cách nghiêm trọng đều bị xem là loại tội phạm cần phải trừng phạt nghiêm khắc
Trang 26CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ CÁC TỘI PHẠM MÔI TRƯỜNG TRONG
BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Việc xác định một hành vi nào đó xâm hại đến môi trường có bị truy cứu TNHS hay không là một vấn đề vô cùng quan trọng Để hiểu các TPVMT một cách rõ ràng và cụ thể nhằm áp dụng chính xác các quy định tương ứng của BLHS trong cuộc sống trong chương này, người viết tập chung phân tích các quy định chung và các quy định cụ thể của các TPVMT trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành
2.1 Các quy định chung về tội phạm môi trường trong Bộ luật Hình sự Việt Nam
2.1.1 Những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội phạm về môi trường
Căn cứ theo quy định tại Chương XVII – Các TPVMT của BLHS 1999 (sửa đổi,
bổ sung ngày 19/6/2009) có thể khái quát các yếu tố cấu thành tội phạm môi trường như sau:
2.1.1.1 Mặt Khách thể của tội phạm về môi trường
Khách thể của tội phạm môi trường là các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo
vệ và bị hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm Các TPVMT xâm hại đến sự bền vững ổn định của môi trường, xâm hại đến các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý và BVMT gây ra những hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng cho
môi trường sinh thái cũng như cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của con người Đối tượng tác động của các TPVMT là các yếu tố tạo thành môi trường gồm: không khí, đất, âm thanh,
ánh sáng, núi rừng, sông hồ, biển, sinh vật, các hệ sinh thái, khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác
2.1.1.2 Mặt Khách quan của tội phạm về môi trường
Hành vi Khách quan của các TPVMT là các hành vi đã gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể đến sự ổn định bền vững của môi trường, xâm hại đến các quan hệ xã hội
phát sinh trong lĩnh vực quản lý và BVMT
Các TPVMT có thể được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động vi phạm
các quy định của pháp luật về sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên, giữ gìn và BVMT Các hành vi TPVMT rất đa dạng như: Hành vi thải vào không khí khói bụi, khí độc, các chất độc hại vượt quá tiêu chuẩn cho phép ( Điều 182 BLHS hiện hành); vi phạm quy định về quản lí chất thải nguy hại gây ô nhiễm môi trường (Điều 182a BLHS hiện hành); lợi dụng việc nhập
Trang 27khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, phế liệu hoặc hóa chất… hoặc bằng thủ đoạn khác đưa vào lãnh thổ Việt Nam chất thải nguy hại hoặc chất thải khác với số lượng lớn ( Điều 185 BLHS hiện hành) Nhưng cũng có những hành vi làm lây lan dịch bệnh cho người và động vật, thực vật như đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác có khả năng truyền dịch bệnh cho người ( Điều 186 BLHS hiện hành); đưa vào hoặc mang ra khỏi khu vực hạn chế lưu thông động vật, sản phẩm đông vật, thực vật hoặc vật phẩm khác mang mầm bệnh ( Điều 187 BLHS hiện hành) Bên cạnh đó lại
có những hành vi sử dụng chất độc, chất nổ, các hóa chất khác, dòng điện hoặc phương tiện, ngư cụ khác bị cấm để khai thác thủy sản hoặc hủy hoại nguồn lợi thủy sản ( Điều 188 BLHS hiện hành); Đốt phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng ( Điều 189 BLHS hiện hành) hoặc săn bắt, giết, vận chuyển, nuôi nhốt, buôn bán trái phép động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ ( Điều 190 BLHS hiện hành);
cố ý nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại (Điều 191a BLHS hiện hành) v.v…
Một số cấu thành các TPVMT đều có quy định dấu hiệu đã bị xử phạt vi phạm hành chính có ý nghĩa trong việc xác định tội danh như tại các Điều 187, Điều 188, Điều 189 (BLHS hiện hành) Trong đó hành vi vi phạm đã bị xử phạt hành chính phải là hành vi vi
phạm pháp luật về môi trường cùng loại mới bị coi là căn cứ để xác định dấu hiệu này Ví dụ: Theo quy định tại Điều 187 Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động thực vật thì
“ Người nào có các hành vi sau đây làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm…”
Như vậy nếu như sau một năm kể từ ngày bị xử phạt vi phạm hành chính mà lại tiếp tục vi phạm, thì người đó cũng sẽ không bị xử lý hình sự về hành vi này
Dấu hiệu hậu quả nghiêm trọng cũng là dấu hiệu bắt buộc có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội danh của hầu hết các TPVMT Hậu quả do các TPVMT gây ra có thể là thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của con người trong đó thiệt hại về tài sản (bao gồm thiệt hại thực tế và chi phí khắc phục thiệt hại) Hay những thiệt hại về môi trường như diện tích đất, nước, khu vực không khí bị ô nhiễm, sự biến đổi khí hậu… Như vậy, trong mặt Khách quan của tội phạm môi trường dấu hiệu đã bị xử phạt vi phạm hành chính và gây hậu quả nghiêm trọng được coi là dấu hiệu có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội danh của hầu
hết các tội trong nhóm này
Hậu quả của tội phạm môi trường này gây ra cũng rất đa dạng như gây thiệt hại cho môi trường như: đất, nước, không khí ; gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe của con người; gây thiệt hại về tài sản bao gồm cả thiệt hại thực tế và chi phí để khắc phục hậu quả
Trang 282.1.1.3 Mặt Chủ quan của tội phạm về môi trường
Trong mặt Chủ quan của tội phạm thì lỗi là yếu tố quan trọng, nó thể hiện thái độ
tâm lý của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả của hành vi đó dưới hình thức cố ý hoặc vô ý “Trong quy định của BLHS hiện hành tại các điều của TPVMT không có một quy định trực tiếp hoặc một quy định ngụ ý nào để có thể khẳng định người vi phạm phải chịu TNHS trong trường hợp có lỗi do vô ý Hơn nữa phần lớn các trường hợp chịu TNHS sau khi đã từng bị xử phạt hành chính cho những hành vi vi phạm cùng loại, nên
có thể khẳng định mặt chủ quan của TPVMT được đặc trưng chỉ bằng lỗi cố ý Trong các tài liệu khoa học pháp lý cũng thể hiện quan điểm này”.7
Đối với các TPVMT tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý, người phạm tội nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, thấy trước được hậu quả của hành vi đó, thường là không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hành vi đó xảy ra Động cơ và
mục đích của người phạm tội tương đối đa dạng nhưng không có ý nghĩa trong việc định tội
2.1.1.4 Chủ thể của tội phạm về môi trường
Chủ thể của các TPVMT là tất cả những người từ đủ mười sáu tuổi trở lên và có năng
lực TNHS Tuy nhiên có thể nhận thấy tồn tại vấn đề chịu TNHS đối với tội phạm cụ thể về môi trường từ đủ mười bốn tuổi Chẳng hạn như, tại Khoản 3 Điều 189 BLHS hiện hành quy
định về tội “huỷ hoại rừng” Theo Khoản 3 Điều 8 BLHS hiện hành: “tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù” Trong khi đó, người từ đủ mười bốn tuổi trở lên, nhưng
chưa đủ mười sáu tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý.8 Khung hình phạt cao nhất của tội hủy hoại rừng quy định tại Khoản 3 Điều 189 đến mười lăm năm tù, đủ
để liệt các tội này vào tội phạm rất nghiêm trọng Đồng thời, những tội phạm này được thực
hiện do cố ý Dễ dàng nhận thấy việc người trên mười bốn tuổivẫn phải chịu TNHS
Trong một số TPVMT có Chủ thể đặc biệt Sự đặc biệt này thông thường nhất gắn với việc giữ chức vụ hoặc có quyền hạn của người vi phạm:
Đối với tội “đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam” tại Điều 185 BLHS hiện hành
người cho phép nhập khẩu hiển nhiên là người giữ chức vụ hoặc có thẩm quyền theo pháp luật trong các cơ quan Nhà nước Ngoài những người kể trên, chịu TNHS chỉ có thể là những người theo pháp luật có quyền kinh doanh hoạt động xuất, nhập khẩu
7 Xem: Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, NXB.Công an Nhân dân, Hà Nội, 2000, trang
Trang 29Chịu TNHS chỉ có thể là những người giữ chức vụ hoặc có quyền theo quy định của
pháp luật còn đối với các hành vi “cho phép đưa vào Việt Nam động vật, thực vật hoặc sản phẩm động vật, thực vật bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nguy hiểm có khả năng truyền cho người” tại Điều 186 hoặc “cho phép đưa vào Việt Nam động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật thuộc đối tượng kiểm dịch mà không thực hiện các quy định của pháp luật
về kiểm dịch” tại Điều 187 của BLHS hiện hành
Nhìn chung xác định Chủ thể của các TPVMT theo pháp luật Việt Nam như vậy là hợp
lý Việc gìn giữ và BVMT là trách nhiệm của mọi người Để có được ý thức đúng đắn về môi trường cần có sự giáo dục và tuyên truyền thường xuyên Những người chưa thành niên khả năng nhận thức còn có hạn, nhất là đối với một vấn đề phức tạp như môi trường Biện pháp hữu hiệu để giải quyết mâu thuẫn này chính là các biện pháp xã hội như: đưa vấn đề giáo dục môi trường vào nhà trường, phát triển các hình thức tuyên truyền trong cộng đồng
về môi trường v.v
2.1.2 Phân loại các tội phạm về môi trường
Căn cứ theo quy định tại Chương XVII – Các TPVMT của BLHS hiện hành các TPVMT có thể được chia thành bốn nhóm và sắp xếp theo trật tự sau đây: 9
Nhóm 1: Các hành vi gây ô nhiễm môi trường như: hành vi gây ô nhiễm môi trường
tại Điều 182; hành vi vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại tại Điều 182a; hành vi
vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường tại Điều 182b; hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam tại Điều 185
Nhóm 2: Các hành vi làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người tại Điều 186 và
động vật, thực vật tại Điều 187
Nhóm 3: Các hành vi hủy hoại tài nguyên môi trường như: hành vi huỷ hoại nguồn
lợi thuỷ sản tại Điều 188; hành vi huỷ hoại rừng tại Điều 189
Nhóm 4: Các hành vi xâm phạm chế độ bảo vệ đặc biệt đối với một số đối tượng môi
trường như: hành vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ tại Điều 190; hành vi vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên tại Điều 19 và hành vi nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại được quy định tại Điều 191a
Việc phân nhóm các TPVMT như trên tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu, áp
9 Xem: Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam tập 2, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, Hà
Nội, 2009, trang 158
Trang 30dụng pháp luật trên thực tế Trong đó có việc tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác định hành
vi nguy hiểm cho xã hội của từng nhóm tội, cho việc xác định tội danh cũng như xác định hình phạt đối với các TPVMT
2.1.3 Hình phạt đối với các tội phạm về môi trường
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước nhằm trừng trị người phạm tội, giáo dục ý thức tuân theo pháp luật và ngăn ngừa đấu tranh phòng chống tội phạm Đối với các tội phạm môi trường nhà làm luật quy định ba loại hình phạt chính đó là: hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ và phạt tù Trong đó hình phạt được áp dụng chủ yếu là hình phạt tiền, hình phạt tù chỉ được áp dụng như một biện pháp cuối cùng khi thấy xét thấy cần phải cách ly và cải tạo đối với họ
Hình phạt chính được quy định cho các TPVMT có nhiều loại khác nhau với những mức độ nghiêm khắc khác nhau Mười trong mười một TPVMT ( trừ tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người quy định tại Điều 186) được quy định trong chương XVII của BLHS hiện hành đều quy định hình phạt tiền là hình phạt chính và tất cả các tội đều quy
định hình phạt tiền là hình phạt bổ sung
Hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính đa số được quy định với mức tiền phạt
từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, có một tội được quy định từ hai trăm triệu đồng đến một tỉ đồng ( Khoản 1 Điều 185 BLHS hiện hành) Số tội còn lại quy định mức
tiền phạt từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng
Theo người viết, việc quy định hình phạt tiền là hình phạt chính trong hầu hết các tội
và là hình phạt bổ sung có trong tất cả các tội là rất hợp lý Vì chủ thể của các tội phạm môi trường chủ yếu phạm tội nhằm mục đích lợi nhuận; do vậy việc đánh vào kinh tế bên cạnh tác dụng răn đe phòng ngừa còn tạo nguồn vật chất khắc phục những thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra Các quy định về hình phạt đối với các TPVMT đã thể hiện đầy đủ chính sách
xử lý của Nhà nước ta đó là áp dụng biện pháp giáo dục là chủ yếu, chỉ xử lý bằng biện pháp hình sự trong những trường hợp cần thiết (hành vi mang tính nguy hiểm cao hoặc đã gây hậu quả nghiêm trọng)
Ngoài ra còn có các hình phạt bổ sung như: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một đến năm năm được áp dụng cho tất cả các tội được quy định trong chương các TPVMT
Trang 312.2 Các quy định cụ thể về tội phạm môi trường theo pháp luật hình sự hiện hành
2.2.1 Tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 182 BLHS hiện hành)
2.2.1.1 Định nghĩa:
Tội gây ô nhiễm môi trường là “hành vi cố ý thải vào không khí, nguồn nước, đất các chất gây ô nhiễm môi trường, phát tán bức xạ, phóng xạ vượt quá quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải ở mức độ nghiêm trọng hoặc làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng”10
2.2.1.2 Dấu hiệu pháp lý
Mặt Khách thể của tội phạm gây ô nhiễm môi trường: tội phạm này xâm phạm tình
trạng bình thường của môi trường, làm cho môi trường không còn trong sạch, ảnh hưởng trực hoặc gián tiếp đến sức khoẻ nhân loại Đối tượng tác động của tội phạm này là môi trường như: đất, nguồn nước, không khí
Mặt Khách quan của tội phạm này được thể hiện ở các dấu hiệu sau:
Hành vi thải vào không khí các loại khói, bụi, chất độc hoặc các yếu tố độc hại khác.Trong đó: Khói, bụi ở đây là khói bụi được thải ra từ bất cứ nguồn nào từ hoạt động của con người như: khói, bụi do hoạt động của các mà máy, lò gạch, công trường thải ra vi phạm các quy định của Nhà nước về BVMT Chất độc hại thể hiện dưới dạng khí như: SO2, NO2, CO Các yếu tố độc hại khác được thể hiện dưới dạng như gây tiếng ồn, mùi hôi thối…
Thải vào nguồn nước, đất các chất bị cấm thải quá tiêu chuẩn cho phép như dầu mỡ, hóa chất độc hại, chất phóng xạ, xác động vật, thực vật, vi khuẩn, siêu vi khuẩn độc hại và
gây dịch bệnh.Trong đó: Chất phóng xạ là chất ở thể rắn, lỏng hoặc khí có hoạt độ phóng xạ
riêng lớn hơn 7 kilo Beccơren (70Bq/kg).11 Các chất này được phát ra khi sử dụng, vận hành các lò phản ứng hạt nhân hoặc phát ra từ các địa điểm cất giữ vật liệu có nguồn bức xạ có
hại Phát bức xạ, phóng xạ vào không khí, nguồn nước, đất quá quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
cho phép Trong đó: Bức xạ bao gồm bức xạ ion hóa, không ion hóa mà khi tác động lên cơ thể sống với liều lượng vượt quá giới hạn cho phép có thể gây tổn thương và nguy hiểm cho
cơ thể Ví dụ: Tia Rownghen, tia X, bức xạ laze, sóng âm…Vượt quá quy chuẩn kỹ thuật
Trang 32quốc gia về chất thải là việc thải vào không khí, nguồn nước, đất các chất gây ô nhiễm môi
trường, phát tán bức xạ, phóng xạ vượt quá quy chuẩn quốc gia về chất thải được quy định trong các văn bản của nhà nước như: QCVN 08:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt; QCVN 09:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm; QCVN 15:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong đất v.v…12
Người thực hiện hành vi nói trên bị coi là tội phạm khi người này thải vào không khí, nguồn nước, đất các chất gây ô nhiễm môi trường, phát tán bức xạ, phóng xạ vượt quá quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải ở mức độ nghiêm trọng hoặc làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác
Mặt Chủ quan của tội phạm gây ô nhiễm môi trường: Tội gây ô nhiễm môi trường
được thực hiện do lỗi cố ý, người phạm tội nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, thấy trước được hậu quả của hành vi đó, thường là không mong muốn nhưng có
ý thức để mặc cho hành vi đó xảy ra Động cơ và mục đích của người phạm tội tương đối đa dạng nhưng không có ý nghĩa trong việc định tội
Mặt Chủ thể của tội phạm gây ô nhiễm môi trường: bất kỳ ai có năng lực TNHS theo
luật định Riêng Khoản 1 quy định tội ít nghiêm trọng và nghiêm trọng nên Chủ thể của các tội phạm quy định ở các khoản này là người từ đủ mười sáu tuổi trở lên Còn Khoản 2 do quy định khung hình phạt cao nhất là mười năm tù thuộc tội rất nghiêm trọng nên Chủ thể của các tội phạm quy định tại khoản này có thể là người từ đủ mười bốn tuổi đến chưa đủ mười sáu tuổi như đã phân tích ở phần trên
2.2.1.3 Hình phạt:
Điều 182 BLHS quy định 2 khung hình phạt:
Khung 1: là trường hợp người phạm tội gây ô nhiễm không khí, đất, nước không có
tình tiết định khung tặng nặng Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm cho những hành vi làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác Trong đó:
“Môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng” được hiểu là: khi hàm lượng của một hoặc
nhiều hoá chất, kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ ba lần trở lên
12
Trang 33hoặc hàm lượng của một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm khác vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ năm lần trở lên.13
Khung 2: Phạm tội có tổ chức; làm môi trường bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng hoặc
gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm Trong đó:
“Phạm tội có tổ chức”: là trường hợp nhiều người cố ý cùng bàn bạc, cấu kết chặt
chẽ với nhau, vạch ra kế hoặc để thực hiện việc pham tội (tội gây ô nhiễm môi trường), với
sự điều khiển thống nhất của người cầm đầu
“Môi trường bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng” là: khi hàm lượng của một hoặc
nhiều hoá chất, kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ năm lần trở lên hoặc hàm lượng của một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm khác vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ mười lần trở lên.14
Hiện tại vẫn chưa có văn bản hướng dẫn chính thức về “hậu quả nghiêm trọng”, “rất nghiêm trọng” hoặc “đặc biệt nghiêm trọng” cho một số điều luật được quy định tại chương
XVII của BLHS hiện hành Trong số mười một tội danh quy định về tội phạm môi trường mới chỉ có hai tội danh có văn bản hướng dẫn của Liên ngành (Điều 189 Tội hủy hoại rừng; Điều 190 Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ) Vì vậy, việc xác định hậu quả để xác định hình phạt cho các TPVMT này có thể tham khảo một số văn bản hướng dẫn đối với từng nhóm tội phạm trong từng lĩnh vực cụ thể Chẳng hạn, Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của BLHS năm 1999; Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-9-2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XV “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình” của BLHS năm 1999; Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17-4-2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS năm 1999; Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT/BNN & PTNT-BTP-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 08-3-2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số điều của
13 Khoản 2, Điều 92, Luật bảo vệ môi trường 2005
14 Khoản 3, Điều 92, Luật bảo vệ môi trường 2005
Trang 34BLHS năm 1999 về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm
sản “Tuy nhiên, không thể lấy “hậu quả” đã được hướng dẫn đối với các tội phạm trong
các lĩnh vực khác để áp dụng cho Tội gây ô nhiễm môi trường”15 mà cần phải ban hành những văn bản hướng dẫn cụ thể cho nhóm tội này Vấn đề này người viết phân tích và làm
rõ trong phần sau ( Chương 3)
Về hình phạt bổ sung, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một đến năm năm
2.2.2 Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại (Điều 182a BLHS)
2.2.2.1 Định nghĩa:
Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại là hành vi vi phạm quy định về hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lí, tiêu hủy, thải loại chất thải nguy hại gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác 16
2.2.2.2 Dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại:
Mặt Khách thể của tội phạm: Tội phạm này xâm phạm vào các quy định của Nhà
nước về BVMT, cụ thể vi phạm vào các quy định của nhà nước về việc quản lý các chất thải nguy hại gây ô nhiễm môi trường sống
“Chất thải nguy hại”:là chất có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc
tính gây nguy hại trực tiếp ( dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác) hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khỏe con người17, như18: Chất thải từ quá trình sản xuất hoặc chế biến than cốc hay nhựa đường từ dầu mỏ, Chì, Thuỷ ngân v.v Danh mục các chất thải nguy hại do cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cấp trung ương quy định;
Mặt Khách quan của tội phạm: Mặt Khách quan của tội này được thể hiện bằng hành
vi vi phạm quy định trong hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sử
dụng, tái chế, xử lí, tiêu hủy, thải loại chất thải nguy hại
15 Một số suy nghĩ về tội gây ô nhiễm môi trường,
http://tks.edu.vn/portal/detail/4702_66_0_Mot-so-suy-nghi-ve-toi-gay-o-nhiem-moi-truong.html?TabId=&pos, [ngày truy cập ngày 20/10/2014]
16 Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam tập 2, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, Hà Nội,
2009, trang 164
17 Xem: Khoản 2, Điều 3, Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg ngày 16-01-1999 của Thủ Tướng Chính Phủ về việc ban hành Quy chế quản lý chất thải nguy hại
18
Trang 35Mặt Chủ quan của tội phạm: Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý Người phạm tội
nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, thấy trước được hậu quả của hành vi đó, thường là không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hành vi đó xảy ra Động cơ, mục đích phạm tội rất đa dạng nhưng không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của tội này
Mặt Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm này là bất kì người nào đạt độ tuổi
theo luật định và có năng lực TNHS, ngoài ra phải là người có trách nhiệm trong việc quản
lý các chất thải nguy hại Cụ thể Khoản 1 và Khoản 2 quy định tội ít nghiêm trọng và nghiêm trọng nên Chủ thể của các tội phạm quy định ở các khoản này là người từ đủ mười sáu tuổi trở lên Còn Khoản 3 do quy định khung hình phạt cao nhất là mười năm tù thuộc tội rất nghiêm trọng nên Chủ thể của các tội phạm quy định tại khoản này có thể bao gồm người từ đủ mười bốn tuổi đến chưa đủ mười sáu tuổi
2.2.2.3 Hình phạt:
Điều 182a BLHS quy định 3 khung hình phạt:
Khung 1: Gây ô nhiễm không khí, nước, đất không có tình tiết định khung tăng nặng,
người phạm tội có thể bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm
Khung 2: Gây ô nhiễm không khí nước, đất có thể bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm
khi: Phạm tội có tổ chức; Gây hậu quả rất nghiêm trọng; Tái phạm nguy hiểm
Theo Điều 49 của BLHS hiện hành quy định thì : Tái phạm là trường hợp đã bị kết
án, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc
biệt nghiêm trọng do vô ý; Còn những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:
Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án
tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý hoặc đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý
Khung 3: Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến
Trang 362.2.3 Tội vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường (Điều 182b BLHS)
Mặt Khách thể của tội phạm: Tội phạm này xâm phạm tình trạng bình thường của
môi trường không khí, nước, đất làm cho không khí, nước, đất không còn trong sạch, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe của nhân loại Đối tượng tác động của tội phạm này là không khí, nước, đất.19
Mặt Khách quan của tội phạm: Tội phạm này thể hiện ở hai dạng hành vi:20
Hành vi thứ nhất: là quy phạm các quy định về phòng ngừa sự cố môi trường: Phòng
ngừa là các hoạt động nhằm không để sự cố môi trường xảy ra, hoặc ngăn chặn, hạn chế sự
cố môi trường trong lĩnh vực, ngành nghề nhất định Vi phạm các quy định về phòng ngừa
sự cố môi trường là không chuẩn bị hoặc không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy
đủ các công tác phòng ngừa sự cố môi trường như các phương án BVMT, cơ sở vật chất, bảo hộ phòng độc, hệ thống xử lý khí thải, nước thải, rác thải nguy hại.v.v
Hành vi thứ hai: là vi phạm quy định về ứng phó sự cố môi trường: khi có sự cố môi trường xảy ra việc ứng phó kịp thời, hiệu quả có tác dụng ngăn chặn hoặc hạn chế đến mức thấp nhất tác hại do sự cố gây ra Tội phạm này thể hiện ở hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về ứng phó với sự cố môi trường nên gây hậu quả làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng.v.v
Mặt Chủ quan của tội phạm: Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý Người phạm tội
nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, thấy trước được hậu quả của hành vi đó, thường là không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hành vi đó xảy ra Động cơ, mục đích phạm tội rất đa dạng nhưng không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của tội này
Mặt Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm này là bất kì người nào đạt độ tuổi
19 Phạm Văn Beo, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Quyễn 2) – Phần các tội phạm, Nxb CTQG, 2012, Tr 361
20
Trang 37theo luật định và có năng lực TNHS, ngoài ra phải là người có trách nhiệm trong việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa sự cố môi trường hoặc ứng phó sự cố môi trường… Cụ thể Khoản 1 và Khoản 2 quy định tội ít nghiêm trọng và nghiêm trọng nên Chủ thể của các tội phạm quy định ở các khoản này là người từ đủ mười sáu tuổi trở lên Còn Khoản 3 do quy định khung hình phạt cao nhất là mười năm tù thuộc tội rất nghiêm trọng nên Chủ thể của các tội phạm quy định tại khoản này có thể bao gồm người từ đủ mười bốn tuổi đến chưa đủ mười sáu tuổi
2.2.3.3 Hình phạt:
Điều 182b BLHS quy định 3 khung hình phạt:
Khung 1: Gây ô nhiễm không khí, nước, đất không có tình tiết định khung tăng nặng,
người phạm tội có thể bị phạt tiền từ phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm
Khung 2: Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai đến bảy năm Khung 3: Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến
2.2.4 Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam (Điều 185 BLHS hiện hành)
2.2.4.1 Định nghĩa:
Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam là “hành vi lợi dụng việc nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, phế liệu hoặc hóa chất, chế phẩm sinh học hoặc bằng thủ đoạn khác đưa vào lãnh thổ Việt Nam chất thải nguy hại hoặc chất thải khác với số lượng lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng”21
Trang 38nhập khẩu, đưa vào lãnh thổ Việt Nam các chất thải như công nghệ, máy móc, hóa chất gây
ô nhiễm môi trường
Mặt Khách quan của tội phạm: tội này được thể hiện bằng hành vi lợi dụng việc nhập
khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, phế liệu hoặc hóa chất, chế phẩm sinh học hoặc bằng thủ đoạn khác đưa vào lãnh thổ Việt Nam chất thải nguy hại hoặc chất thải khác với số lượng lớn Trong đó:
Máy móc, thiết bị công nghệ bao gồm tất cả các loại quy trình công nghệ, máy móc, thiết bị bất kì mới hay cũ được sản xuất ở đâu “Các chế phẩm sinh học hoặc hóa học bao gồm các chế phẩm hữu cơ hoặc vô cơ được sản xuất hoặc điều chế tổng hợp từ bất kì nguyên liệu nào, bất kì phương pháp nào và được dùng cho bất kì mục đích nào”.22
Cùng với hành vi lợi dụng việc nhập khẩu để phạm tội, điều luật còn quy định hành vi phạm tội có thể được thực hiện bằng thủ đoạn khác để đưa vào Việt Nam chất thải gây ô nhiễm môi trường Hành vi khác ở đây là ngoài những hành vi nhập khẩu qua các cửa khẩu đường không, đường biển, đường bộ chính thức, người phạm tôi có thể đưa vào Việt Nam bằng các thủ đoạn khác như nhập lậu, đưa qua các con đường tiểu ngạch để chuyển chất thải vào Việt Nam, quá cảnh các chất nguy hại vào Việt Nam
Mặt Chủ quan của tội phạm: Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý Người phạm tội
nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, thấy trước được hậu quả của hành vi đó, thường là không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hành vi đó xảy ra Động cơ, mục đích phạm tội rất đa dạng nhưng không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu
thành tội phạm của tội này
Mặt Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm này vừa là Chủ thể đặc biệt, vừa
không phải là Chủ thể đặc biệt “Là Chủ thể đặc biệt nếu đó là hành vi cho nhập khẩu, vì chỉ những người có chức vụ, quyền hạn trong việc cho nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, các chế phẩm sinh học, các chất độc hại hoặc phế thải mới có thể cho phép nhập khẩu được Không là Chủ thể đặc biệt nếu đó là hành vi trực tiếp nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết
bị, các chế phẩm sinh học, các chất độc hại hoặc phế thải, vì người không có chức vụ, quyền hạn vẫn có thể thực hiện được”23
Tương tự như Điều 182b người từ đủ mười bốn tuổi trở lên nhưng chưa đủ mười sáu tuổi chỉ phải chịu TNHS về tội phạm này thuộc trường hợp quy định tại Khoản 3 của điều
22 Xem: Tài liệu Hội nghị tập huấn chuyên sâu BLHS 1999, Hà Nội, 6/2000, Tr.207
23