1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật việt nam lý luận và thực tiễn

84 3,4K 16

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo khoản 2 điều 8 thì: “kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn”, và tại khoản 14 điều 8 “quan hệ hôn nh

Trang 1

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

ThS: Bùi Thị Mỹ Hương Nguyễn Thị Hồng Đang

Bộ môn Luật Thương mại MSSV: 5115969

Lớp Luật Hành chính – K37

Cầ n Thơ, thá ng 12 năm 2014

Trang 2

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

……….………

………

Cần Thơ, ngày… tháng … năm 2014

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Phạm vi nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục của đề tài 3

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VẤN ĐỀ KẾT HÔN CÓ YÊU TỐ

NƯỚC NGOÀI 4

1.1 Khái niệm về kết hôn, kết hôn có yếu tố nước ngoài 4

1.1.1 Khái niệm về kết hôn 4

1.1.2 Khái niệm về kết hôn có yếu tố nước ngoài 5

1.2 Lịch sử phát triển của pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam 7

1.2.1 Giai đoạn từ trước năm 1986 7

1.2.1.1 Giai đoạn trước cách mạng tháng Tám năm 1945 7

1.2.1.2 Giai đoạn năm 1946 đến năm 1959 8

1.2.1.3 Giai đoạn năm 1959 đến năm 1986 9

1.2.2 Giai đoạn từ năm 1986 đến nay 11

1.2.2.1 Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2000 11

1.2.2.2 Giai đoạn từ năm 2000 đến nay 12

1.3 Phương pháp điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài 13

1.3.1 Phương pháp xung đột 14

1.3.2 Phương pháp thực chất 15

1.4 Nguồn luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài 16

1.4.1 Pháp luật quốc gia 16

1.4.2 Điều ước quốc tế 18

1.5 Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài 18

1.5.1 Yếu tố chủ thể 19

1.5.2 Yếu tố khách thể của quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài 21

1.5.3 Yếu tố sự kiện pháp lý làm xác lập quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài 21

Trang 4

1.6.1 Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài 22

1.6.2 Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài 23

1.6.3 Nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài 25

1.6.4 Nguyên tắc áp dụng pháp luật Việt Nam 27

1.7 Các nguyên tắc đặc thù điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài 27

1.7.1 Nguyên tắc Luật quốc tịch 27

1.7.2 Nguyên tắc Luật nơi cư trú 28

1.7.3 Nguyên tắc Luật nơi thực hiện hành vi 29

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUAN HỆ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 31

2.1 Điều kiện kết hôn đối với việc kết hôn có yếu tố nước ngoài 31

2.1.1 Điều kiện về độ tuổi kết hôn đối với việc kết hôn có yếu tố nước ngoài 32

2.1.2 Điều kiện về sự tự nguyện của các bên đối với việc kết hôn có yếu tố nước ngoài 33

2.1.3 Việc kết hôn không thuộc các trường hợp cấm kết hôn 34

2.2 Các trường hợp từ chối đăng kí kết hôn có yếu tố nước ngoài 39

2.2.1 Vi phạm điều kiện kết hôn 39

2.2.2 Vi phạm mục đích kết hôn 41

2.3 Tổ chức và hoạt động của trung tâm tư vấn, hỗ trợ kết hôn có yếu tố

nước ngoài 42

2.3.1 Địa vị pháp lý của Trung tâm tư vấn, hỗ trợ kết hôn có yếu tố

nước ngoài 42

2.3.2 Thủ tục đăng kí hoạt động của Trung tâm, cấp lại giấy hoạt động của Trung tâm 43

2.3.3 Quyền hạn, nhiệm vụ của Trung tâm tư vấn, hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài 44

2.4 Thẩm quyền đăng kí kết hôn có yếu tố nước ngoài 48

2.4.1 Thẩm quyền đăng kí kết hôn của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) 48

2.4.2 Thẩm quyền đăng kí kết hôn của cơ quan đại diện Việt Nam ở

nước ngoài 49

Trang 5

nước ngoài 50

2.5 Giải quyết việc đăng kí kết hôn có yếu tố nước ngoài 51

2.5.1 Hồ sơ đăng kí kết hôn có yếu tố nước ngoài 51

2.5.2 Thời hạn giải quyết việc đăng kí kết hôn có yếu tố nước ngoài 53

2.6 Trình tự, thủ tục giải quyết việc kết hôn có yếu tố nước ngoài 54

2.6.1 Trình tự, thủ tục giải quyết việc kết hôn có yếu tố nước ngoài tại

Việt Nam 54

2.6.1.1 Nộp, tiếp nhận hồ sơ đăng kí kết hôn có yếu tố nước ngoài tại

Việt Nam 54

2.6.1.2 Giải quyết việc đăng kí kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam 55

2.6.1.3 Lễ đăng kí kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam 57

2.6.2 Trình tự, thủ tục giải quyết việc kết hôn có yếu tố nước ngoài tại cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài 58

2.6.2.1 Nộp, tiếp nhận hồ sơ đăng kí kết hôn có yếu tố nước ngoài tại cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài 58

2.6.2.2 Xem xét, giải quyết hồ sơ đăng kí kết hôn có yếu tố nước ngoài tại cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài 59

2.6.2.3 Tổ chức lễ đăng kí kết hôn 60

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VỀ VẤN ĐỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỔ NƯỚC NGOÀI 62

3.1 Thực trạng về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài 62

3.1.1 Tác động của quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài 62

3.1.1.1 Tác động tích cực của quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài 62

3.1.1.2 Tác động tiêu cực của quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài 63

3.1.2 Một số thuận lợi của quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài 64

3.1.2.1 Đơn giản hóa các thủ tục trong quan hệ kết hôn có yếu tố

nước ngoài 64

3.1.2.2 Quyền lợi của phụ nữ được bảo vệ hơn trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài 65

3.1.3 Một số bất cập trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài 66

3.1.3.1 Bất cập trong việc xác nhận tình trạng hôn nhân có yếu tố

nước ngoài 67

Trang 6

kết hôn có yếu tố nước ngoài 68

3.1.3.3 Bất cập trong việc chờ đợi các Trung tâm tư vấn, hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài 68

3.2 Giải pháp hoàn thiện về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài 69

3.2.1 Tạo điều kiện để mọi người nâng cao ý thức, tuyên truyền những tác hại của kết hôn không đúng mục đích 69 3.2.2 Mở rộng việc ủy quyền xác nhận tình trạng hôn nhân 70 3.2.3 Quy định cụ thể giấy xác nhận của tổ chức y tế trong khi làm thủ tục kết hôn

có yếu tố nước ngoài 71 3.2.4 Thành lập các Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài 71

KẾT LUẬN 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Gia đình – là hạt nhân cốt lõi của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn con người,

là môi trường quan trọng để hình thành và phát triển nhân cách, góp phần tích cực và quan trọng trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Sự tác động qua lại và chi phối lẫn nhau giữa gia đình và xã hội được khẳng định rõ nét trong hôn nhân Trong thời đại ngày nay, xu thế hội nhập – quốc tế hóa là xu hướng khách quan của các nước đang mở rộng thì hòa vào sự phát triển của nền kinh tế, quan hệ hôn nhân cũng được hình thành dưới nhiều góc độ khác nhau của xã hội dựa trên những nguyên tắc, cơ sở nhất định Hôn nhân giữa công dân Việt Nam với nhau, giữa người Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ trên nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng và

vợ chồng bình đẳng Quan hệ hôn nhân của người Việt Nam với người nước ngoài ngày càng phổ biến và tăng nhanh về số lượng

Do tính chất phức tạp của quan hệ này, nhà nước đã kịp thời thừa nhận và bảo vệ bằng cách thông qua hình thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh và bổ sung sửa đổi để hoàn thiện nội dung của chế định này trên thực tế Có những văn bản ra đời trước như Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật Hôn nhân và gia đình năm

2000, Pháp lệnh Hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về quan hệ Hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài, Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 7 năm 2006 sửa đổi,

bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP và hiện nay là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi, bổ sung năm 2010, sắp tới là Luật Hôn nhân và gia đình năm

2014 có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2015, Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28 tháng 03 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Thông tư 22/2013/TT-BTP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28 tháng 03 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ban hành ngày 31 tháng 12 năm 2013 Đây là cơ sở pháp lý vững chắc hướng các chủ thể trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài phát huy tối đa quyền tự do kết hôn và đảm bảo trật tự ổn định xã hội Tuy nhiên hệ thống pháp luật hiện hành vẫn còn tồn tại những thiếu sót, những bất cập trong quá trình áp dụng, ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của chủ thể kết hôn và những giá trị đạo đức truyền thống của xã hội Qua đó việc không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về kết hôn có yếu

tố nước ngoài nói riêng là nhiệm vụ quan trọng ở nước ta

Trang 8

GVHD: ThS: Bùi Thị Mỹ Hương Trang 2 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đang

Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài trên thực tế đã mang lại rất nhiều giá trị và ý nghĩa tích cực trong các lĩnh vực của đời sống, góp phần tích cực vào việc hợp tác giữa các nước trong khu vực và trên thế giới Tuy nhiên, kết hôn có yếu tố nước ngoài cũng có những hạn chế, tiêu cực trong xã hội Kết hôn có yếu tố nước ngoài có nơi người phụ nữ

đã trở thành “hàng hóa” để kinh doanh, những “bà mai” đã thừa cơ hội để thực hiện hành

vi môi giới, lừa đảo, làm ảnh hưởng trầm trọng đến xã hội Có trường hợp khi kết hôn sẽ

vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục của người Việt Nam, không nhằm mục đích xây dựng gia đình Có trường hợp còn đau lòng hơn bởi nó xâm phạm nghiêm trọng đến nhân cách và phẩm giá của người phụ nữ Việt Nam, đó không phải là những trường hợp phổ biến nhưng nó đã gây nên làn sóng phẫn nộ trong lòng của người dân, sự xúc phạm lòng

tự tôn dân tộc của người Việt Hiện nay công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, đặc biệt là phụ nữ Việt Nam kết hôn với công dân Đài Loan, Hàn Quốc và mới đây nhất đó là công dân Malaysia đang được dư luận hết sức quan tâm, vấn đề này đặt ra

để pháp luật nước ta và xã hội chung tay giải quyết đảm bảo quyền tự do kết hôn, đảm bảo quan hệ đối ngoại với các quốc gia trên thế giới không bị ảnh hưởng xấu, đồng thời đảm bảo trật tự xã hội trong nước, hạn chế và ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực trong kết hôn có yếu tố nước ngoài

Vì những lý do trên nên Người viết chọn đề tài “Vấn đề kết hôn có yếu tố nước

ngoài theo pháp luật Việt Nam – Lý luận và thực tiễn” làm luận văn tốt nghiệp của mình

Đề tài này đề cập đến những quy định của pháp luật và tình trạng kết hôn có yếu tố nước ngoài ở nước ta hiện nay Cùng với thực trạng nghiên cứu được, đề tài này sẽ đưa ra một

số giải pháp nhằm đóng góp ý kiến cho các quy định hiện hành Thông qua đề tài này người đọc sẽ nhìn nhận vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài một cách bao quát và bên cạnh đó sẽ hiểu rõ hơn về vấn đề đáng quan tâm hiện nay ở một số vùng nông thôn còn thiếu thốn ở nước ta

2 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi của luận văn, Người viết nghiên cứu những lý luận chung về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài: các khái niệm cơ bản, lịch sử phát triển, phương pháp điều chỉnh, nguồn luật điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh, các nguyên tắc chung và các nguyên tắc đặc thù điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Người viết tìm hiểu những quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài: điều kiện kết hôn, các trường hợp cấm kết hôn, tổ chức và hoạt động của Trung tâm tư vấn hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài, thẩm quyền đăng kí kết hôn, hồ sơ, thời hạn giải quyết, trình tự thủ tục giải quyết việc kết hôn có yếu tố nước ngoài Từ những lý luận chung và những quy định của pháp luật, Người viết tìm hiểu thực trạng cũng như giải pháp hoàn thiện về vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài, tuy nhiên Người viết chỉ tìm hiểu thực trạng kết hôn giữa nữ công dân Việt Nam với nam công dân nước ngoài

Trang 9

3 Mục đích nghiên cứu

Là một sinh viên năm cuối sắp rời khỏi giảng đường đại học, Người viết mong bản thân có thể tìm hiểu kĩ hơn về kết hôn có yếu tố nước ngoài, đặc biệt trong giai đoạn giao lưu quốc tế trên mọi phương diện của cuộc sống

Vì vậy, mục đích nghiên cứu của Người viết là nhằm giúp chúng ta hiểu rõ hơn về quy định của pháp luật Việt Nam: áp dụng pháp luật, thẩm quyền giải quyết các vấn đề liên quan như điều kiện kết hôn, trình tự thủ tục tiến hành đăng kí kết hôn, giải quyết những mâu thuẩn trong việc áp dụng pháp luật, xung đột pháp luật giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế Ngoài ra, Người viết còn đưa ra những biện pháp và hướng giải quyết nhằm hoàn thiện pháp luật trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài này

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết đã thực hiện các phương pháp sau: + Phương pháp phân tích luật viết: phân tích những quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài, sau đó đánh giá, tổng hợp cùng với việc hệ thống hóa các cơ sở lý luận để có thể nhìn một cách đầy đủ diễn biến của quan hệ pháp luật kết hôn có yếu tố nước ngoài

+ Phương pháp đối chiếu, so sánh: đối chiếu lý luận với thực tiễn, sau đó đút kết từ thực tiễn tinh thần chung theo luật và đề ra hướng hoàn thiện trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

+ Ngoài ra, Người viết còn tiến hành tìm hiểu trên sách báo, các trang thông tin điện

tử, giáo trình của một số trường đại học có liên quan đến Song song với các phương pháp nêu trên Người viết còn sử dụng các phương pháp như: phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp liệt kê, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch… để người viết hoàn thành luận văn một cách nhanh chóng, chính xác và hiệu quả

5 Bố cục của đề tài

Đề tài được chia thành 3 chương, nội dung của các chương như sau:

+ Chương 1: Khái quát chung về vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài

+ Chương 2: Pháp luật Việt Nam về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

+ Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề kết hôn có yếu

tố nước ngoài

Trang 10

GVHD: ThS: Bùi Thị Mỹ Hương Trang 4 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đang

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Trước thời kỳ đổi mới, ở Việt Nam hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là loại quan hệ ít phổ biến Tuy nhiên trong quá trình hội nhập quốc tế, khi mà Việt Nam tham gia ngày càng sâu, rộng vào các quan hệ quốc tế, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài không còn là hiện tượng hiếm gặp trong đời sống xã hội nữa mà ngày càng phát triển một cách đa dạng và phức tạp cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Việc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trở thành một yêu cầu cấp bách và quan trọng, đó không chỉ góp phần ổn định và phát triển giao lưu dân sự quốc tế

mà còn là nhu cầu thiết yếu của xã hội, hướng đến bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân khi tham gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

1.1 Khái niệm về kết hôn, kết hôn có yếu tố nước ngoài

Ngày nay xu thế toàn cầu hóa ngày càng mở rộng, sự hợp tác của các quốc gia ngày càng trở nên phổ biến, do đó sự hình thành quan hệ hôn nhân cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tuy nhiên đó chỉ là những quan điểm được truyền lại từ xa xưa Từ những quan điểm đó Luật của nước ta đã có định nghĩa rõ ràng về hôn nhân và cả hôn nhân có yếu tố nước ngoài để hạn chế việc hiểu sai nghĩa và áp dụng không đúng

1.1.1 Khái niệm về kết hôn

Theo quan điểm của Mác – Lênin, gia đình là đơn vị tổ chức nhỏ nhất của xã hội, là

tế bào của xã hội, có tác động tích cực thúc đẩy sự phát triển của xã hội nên gia đình gắn liền với đời sống của xã hội, hạnh phúc của mỗi cá nhân, góp phần quan trọng vào sản xuất, đào tạo con người

Trong bài nói chuyện tại Hội nghị thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân - gia đình

(tháng 1-1959), Hồ Chủ Tịch đã nói: “Rất quan tâm đến gia đình là đúng, vì nhiều gia

đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới

quan tâm của nhiều người, tất cả tiền đề của gia đình chính là hôn nhân

Hôn nhân, trong chừng mực nào đó, được hiểu là sự kết hợp giữa hai người, một nam và một nữ để chung sống, giúp đỡ và hỗ trợ cần thiết cho nhau Ở các nước Hồi giáo, họ công nhận chế độ đa thê, ở vài bộ tộc lại sống theo chế độ đa phu Mặt khác, ở một số nước xuất hiện xu hướng cho rằng sự khác biệt giới tính không phải là điều kiện bắt buộc của hôn nhân: những người cùng giới tính vẫn có thể chung sống với nhau và tạo thành một gia đình

1

Huyền Trang, Tư tưởng Hồ Chí Minh về gia đình và giáo dục gia đình, Ban quản lý lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh,

minh-v-gia-dinh-va-giao-d-c-gia-dinh.html, [ngày truy cập: 11/7/2014]

Trang 11

http://www.bqllang.gov.vn/chu-tich-ho-chi-minh/nghien-cuu-hoc-tap-tu-tuong-ho-chi-minh/1397-tu-tu-ng-h-chi-“Hôn nhân là quan hệ vợ chồng sau khi đã kết hôn”2 Vậy kết hôn là điểm khởi đầu cho đời sống vợ chồng, cho quá trình làm việc, sản xuất của gia đình và con người

Theo quan điểm truyền thống thì kết hôn là việc nam và nữ được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới và họ hàng thừa nhận Khi đó, hai bên nam nữ bắt đầu cuộc sống vợ chồng, cùng nhau sản xuất, tạo dựng một gia đình không hề có sự điều chỉnh của pháp luật mà chỉ được xác lập theo phong tục, tập quán Nhưng từ khi có pháp luật điều chỉnh thì quan

hệ kết hôn phải tuân theo những quy định, qua nhiều góc độ khác nhau thì kết hôn được hiểu theo nhiều cách khác nhau

Theo góc độ Luật học thì “kết hôn là sự liên kết giữa một người đàn ông và một

người đàn bà thành vợ chồng được pháp luật công nhận”3 Việc kết hôn là sự kết hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà cùng mục đích xác lập quan hệ vợ chồng Kết hôn là một mối quan hệ cơ bản trong gia đình và sau đó là được sự bảo vệ và điều chỉnh của pháp luật

Quy định tại điều 8 khoản 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi, bổ sung

năm 2010 “kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp

luật về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn” Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 là đạo

luật Hôn nhân và gia đình đầu tiên của nước ta không có định nghĩa về kết hôn, nhà nước

ta nắm bắt tình hình thực tế đã ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, lần đầu tiên đã ghi nhận định nghĩa về kết hôn Và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi

bổ sung năm 2010 lần thứ hai ghi nhận định nghĩa kết hôn để khi áp dụng pháp luật và thực hiện pháp luật trở nên dễ dàng Việc xác lập quan hệ kết hôn tuân theo những quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn Kết hôn là sự thừa nhận của

Cơ quan có thẩm quyền về việc xác lập quan hệ vợ chồng giữa những người khác giới, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa họ với nhau

1.1.2 Khái niệm về kết hôn có yếu tố nước ngoài

Hiện nay do sự giao lưu của nước ta và các nước trên thế giới là do kết quả của quá

trình thực hiện “nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình hữu nghị, hợp

tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên

2

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010, điều 8, khoản 6

3

Trang 12

GVHD: ThS: Bùi Thị Mỹ Hương Trang 6 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đang

thế giới”4 của Đảng và Nhà nước ta thì các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài phát triển mạnh mẽ Nhờ vào hành lang pháp lý ở nước ta ngày càng thông thoáng để thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước, người nước ngoài đến với Việt Nam đầu tư phát triển kinh tế, họ làm ăn, sinh sống, ngược lại, công dân Việt Nam được ra nước ngoài học tập, làm việc và nghiên cứu

Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài hiện đang là vấn đề cấp bách, vì vậy việc điều chỉnh vấn đề nhằm đảm bảo quyền lợi cho người Việt Nam cũng như công dân của các nước tham gia vào quan hệ này là cần thiết Việc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài không chỉ phụ thuộc vào pháp luật quốc gia mà còn phụ thuộc vào pháp luật nước ngoài, các điều ước quốc tế mà các nước kí kết hoặc gia nhập

Để điều chỉnh được vấn đề này thì pháp luật hôn nhân và gia đình của nước ta đã định nghĩa trên cơ sở vận dụng điều 758 Bộ luật Dân sự 2005 về quan hệ dân sự có yếu

tố nước ngoài và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010 Theo

khoản 2 điều 8 thì: “kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định

của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn”, và tại khoản 14 điều 8 “quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình:

a) Giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài;

b) Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam;

c) Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.”

Bên cạnh đó tại khoản 4 điều 100 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010 quy định quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ giữa công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài

Từ những quy định trên, kết hôn có yếu tố nước ngoài được xác định với các chủ thể: Công dân Việt Nam với người nước ngoài; người nước ngoài với nhau nhưng thường trú tại Việt Nam; giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ xác lập theo pháp luật nước ngoài, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài

Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài chịu sự tác động qua lại của pháp luật quốc gia và các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia kí kết hoặc đã là thành viên nhằm đảm bảo cho quan hệ này phù hợp với ý chí và quyền lợi của mình, đời sống và xã hội

4

Hiến pháp năm 2013, điều 12

Trang 13

1.2 Lịch sử phát triển của pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam

Khi nghiên cứu pháp luật về điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thì chúng ta cần nghiên cứu sự hình thành và phát triển của pháp luật điều chỉnh quan hệ này

để lấy đó làm cơ sở phân giai đoạn lịch sử, qua đây cho thấy sự phát triển của pháp luật Việt Nam về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài cùng với sự hợp tác phát triển kinh tế giữa các nước trong khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung Để làm rõ vấn đề Người viết chia làm hai mốc lịch sử: Giai đoạn trước năm 1986 và giai đoạn từ năm 1986 đến nay

1.2.1 Giai đoạn từ trước năm 1986

1.2.1.1 Giai đoạn trước cách mạng tháng Tám năm 1945

Từ trước năm 1945 nước ta là nước thuộc địa nữa phong kiến, quan hệ dân sự trong giai đoạn này được quy định trong Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long

Bộ luật Hồng Đức gọi là Quốc triều hình luật, ban hành dưới triều thời Hậu Lê Bộ luật Hồng Đức là công trình luật học vĩ đại đã kế thừa các di sản pháp luật của các đời vua trước, đồng thời tiếp thu có sàng lọc Bộ luật nhà Đường ở Trung Quốc mà vẫn giữ được nét độc đáo của nền luật cổ Việt Nam

Bộ luật Gia Long gọi là Hoàng Việt luật lệ, ban hành dưới triều nhà Nguyễn và soạn thảo theo quy trình chặt chẽ dưới sự kiểm soát của Hoàng đế Năm 1815, bộ luật in thành sách ban hành trên phạm vi toàn quốc, và là lần đầu tiên trong lịch sử một bộ luật thống nhất từ Đàng Trong đến Đàng Ngoài Tuy nhiên ngay từ khi ban hành Bộ luật này có nhiều quy định lạc hậu hơn so với Bộ luật Hồng Đức

Dưới thời Pháp thuộc đất nước bị chia cắt làm ba kì: Nam kì, Trung Kì, Bắc Kì Ở Nam Kì, thực dân Pháp ban hành Bộ dân luật giản yếu Nam Kì Ở Bắc Kì, Bộ dân luật Bắc Kì năm 1931 được thay thế cho Bộ luật Gia Long theo Nghị định của Thống sứ Bắc

Kì Ở Trung Kì, thực dân Pháp ban hành Hoàng Việt Trung Kì hộ luật năm 1939 Tuy nhiên pháp luật dân sự trong thời kì này có những mặt hạn chế nhất định: hạn chế về hôn nhân và gia đình, kết hôn, ly hôn… mang nặng tư tưởng phong kiến, đề cao nho giáo, trọng nam khinh nữ

Trong thời kì này tuy có ba bộ luật điều chỉnh các quan hệ xã hội nhưng không hề

có quy định cụ thể nào về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, nhưng việc kết hôn giữa công dân An Nam và người Pháp vẫn diễn ra thường xuyên

Trang 14

GVHD: ThS: Bùi Thị Mỹ Hương Trang 8 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đang

Như vậy, có thể thấy:

Thứ nhất, trong thời kì phong kiến, nước ta thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng”

nên các bộ luật trong thời kì này không thực sự có quy định về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Thứ hai, trong thời kì Pháp thuộc, nước ta có mối quan hệ với các nước như Trung

Quốc, các nước Đông Nam Á, các nước Phương Tây, tuy nhiên các mối quan hệ này còn rất hạn chế Pháp luật thời kì này bắt đầu có một số quy định về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhưng chủ yếu là điều chỉnh các quan hệ về quốc tịch

1.2.1.2 Giai đoạn năm 1946 đến năm 1959

Sau Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 02 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mở ra lịch sử chính thể cộng hòa dân chủ nhân dân ở nước ta Tuyên ngôn độc lập là văn kiện chính trị - pháp lý cơ bản đầu tiên của Nhà nước dân chủ nhân dân Việt Nam

Trong giai đoạn này, chỉ một tháng sau khi giành được chính quyền, Chính phủ lâm thời đã ra Sắc lệnh ngày 20 tháng 9 năm 1945 thành lập Ban dự thảo Hiến pháp Ngày 02 tháng 03 năm 1946, Quốc hội tại kì họp thứ nhất chính thức thông qua Ủy ban dự thảo Hiến pháp Ngày 9 tháng 01 năm 1946, Quốc hội thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước dân chủ nhân dân Việt Nam Hiến pháp năm 1946 mở ra lịch sử lập hiến ở nước ta, và Hiến pháp 1946 hợp hiến hóa Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và là cơ

sở pháp lý cơ bản để củng cố tổ chức Nhà nước Hiến pháp năm 1946 vừa là đạo luật cơ bản vừa là cương lĩnh chính trị đại đoàn kết dân tộc chống kẻ thù chính của đất nước, đó chính là tác động thực tế lớn lao, có ý nghĩa lịch sử lâu dài và là điểm lý thú nhất của

Hiến pháp Điều 9 Hiến pháp quy định: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi

phương diện”, từ đây người phụ nữ Việt Nam đã có quyền thực hiện mọi công việc như

nam giới

Sắc lệnh 97/SL ngày 22 tháng 5 năm 1950 sửa đổi một số luật lệ của dân sự cũ Sắc lệnh này khẳng định nguyên tắc những quyền dân sự được sử dụng đúng với luật pháp và phù hợp với quyền lợi chung của nhân dân Sắc lệnh 97/SL không quên điều chỉnh những vấn đề liên quan đến hôn nhân và gia đình, sắc lệnh xóa bỏ những quy định trái với các nguyên tắc tiến bộ trong quan hệ hôn nhân và gia đình Các quy định tiến bộ và khá chi

tiết: “người con đã thành niên không bắt buộc phải có cha mẹ bằng lòng mới kết hôn

được” (điều 2 Sắc lệnh 79/SL) hoặc xóa bỏ tục lệ phong kiến cấm kết hôn trong thời gian

có tang, bảo vệ quyền lợi của con ngoài giá thú Sự ra đời của sắc lệnh này đã bãi bỏ những quy định lạc hậu trong Bộ ba dân luật, thay vào đó là những quy định tiến bộ điều chỉnh quan hệ kết hôn Trong giai đoạn này, các vấn đề liên quan đến kết hôn đều phải

Trang 15

tuân theo sắc lệnh này nhưng trong văn bản lại không có quy định nào quy định về kết hôn có yếu tố nước ngoài

Tuy chưa có văn bản cụ thể nào điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nhưng trong một số văn bản điều chỉnh các quan hệ pháp luật khác đã có đề cập tới vấn

đề này Điều 5 và điều 6 sắc lệnh 53/SL ngày 20 tháng 10 năm 1945 về Quốc tịch Việt Nam công nhận thực tế là có quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, nhưng sau đó sắc lệnh 051/SL ngày 14 tháng 12 năm 1959 đã bãi bỏ điều 5 và điều 6 sắc lệnh 53/SL Hiến pháp năm 1959 ra đời là cơ sở pháp lý quan trọng để điều chỉnh quan hệ hôn nhân nói chung và quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng trong giai đoạn này Tuy có quy định nhưng để tìm một quy định cụ thể và trực tiếp về kết hôn có yếu tố nước ngoài thì chưa có

Nhìn chung, pháp luật về hôn nhân có yếu tố nước ngoài còn nhiều hạn chế, chưa tập hợp thành một hệ thống, chưa có văn bản pháp luật riêng để điều chỉnh mà chỉ ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946 Đó là cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng chế độ hôn nhân mới, tiến bộ ở nước ta Ngoài ra quan hệ hôn nhân còn được điều chỉnh theo một số sắc lệnh, bãi bỏ những quy định lạc hậu, góp phần giải phóng phụ nữ, thúc đẩy xã hội phát triển Bên cạnh đó, quan hệ của nước ta với các nước xã hội chủ nghĩa mới bắt đầu hình thành và dần được củng cố, ở thời kì này phát triển con người là rất quan trọng, các nước tiếp nhận công dân nước ta với nhiều ngành nghề khác nhau, Việt Nam bắt đầu gửi công dân của nước mình qua các nước để học tập, nghiên cứu, đồng thời Việt Nam tiếp nhận nhiều chuyên gia, cán bộ các nước đến cộng tác, giúp đỡ và huấn luyện cho cán bộ Việt Nam Trong bối cảnh như thế, các quan hệ nước ngoài bắt đầu phát sinh, do đó đòi hỏi phải có pháp luật điều chỉnh Tuy nhiên, vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài vẫn chưa là vấn đề được quan tâm và cấp bách Bởi pháp luật thời này là pháp luật thời chiến, pháp luật chỉ mang tính dân chủ nhân dân, phục vụ kịp thời những công việc cấp bách và thiết yếu của cách mạng Nhưng chính giai đoạn này đã góp phần nảy sinh ra các quan hệ tiềm tàng cho sự phát triển tiếp tục ở các giai đoạn sau

1.2.1.3 Giai đoạn năm 1959 đến năm 1986

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, thực dân Pháp phải kí Hiệp định Giơ-ne-vơ (20 tháng 7 năm 1954), miền Bắc được giải phóng nhưng đất nước còn tạm chia làm hai miền Nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới này là: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở

miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà Hiến pháp năm 1946 "đã hoàn thành sứ

mệnh của nó Nhưng so với tình hình mới và nhiệm vụ cách mạng mới hiện nay thì nó không thích hợp nữa Vì vậy, chúng ta phải sửa đổi Hiến pháp ấy" (Hồ Chí Minh: Báo

cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi năm 1959) Ngày 23 tháng 01 năm 1957 tại kỳ họp thứ

6 Quốc hội khóa I ra nghị quyết về việc sửa đổi Hiến pháp và thành lập Ban sửa đổi Hiến

Trang 16

GVHD: ThS: Bùi Thị Mỹ Hương Trang 10 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đang

pháp đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh Ngày 01 tháng 4 năm 1959 Dự thảo Hiến pháp sửa đổi công bố để nhân dân thảo luận, đóng góp ý kiến Tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa I, ngày 31 tháng 12 năm 1959 Hiến pháp sửa đổi được thông qua và ngày 01 tháng

01 năm 1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh công bố Hiến pháp này, Hiến pháp tiếp tục khẳng định sự bình đẳng của nam và nữ, ghi nhận được sự quan trọng của vấn đề, đây

là đạo Luật Hôn nhân và gia đình đầu tiên của nước ta Luật này quán triệt bốn nguyên tắc cơ bản: Hôn nhân tự do và tiến bộ, một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ và quyền lợi hợp pháp của con cái nhưng Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 lại không có quy định về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài Pháp luật trong nước đã điều chỉnh một số vấn đề liên quan tới quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài:

Ở miền Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị định 04 ngày 16 tháng 01 năm 1961 kèm theo điều lệ về đăng kí hộ tịch, trong đó quy định về vấn đề sinh, tử, kết hôn Tiếp đến Bộ Nội vụ ban hành thông tư 05 ngày 21 tháng 6 năm 1961 hướng dẫn thi hành Điều

lệ trên Trong văn bản này chưa quy định cụ thể về vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài nhưng nó là tiền đề cơ bản để giải quyết quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

Ở miền Nam, dưới sự cai trị của Ngụy quyền miền Nam, các hôn nhân trong thời kì này vẫn chịu sự điều chỉnh của Pháp qui giản yếu năm 1883 cho đến năm 1959 Vì lý do

đó nên ngày 02 tháng 01 năm 1959, luật Gia đình của chính quyền họ Ngô được ban hành Về mặt pháp lý, Luật Gia đình này chấm dứt sự điều chỉnh của Pháp qui giản yếu năm 1883 đối với các quan hệ hôn nhân trong khu vực tạm thời nằm trong sự cai trị của ngụy quyền miền Nam Chính quyền họ Ngô bị lật đổ vào tháng 11 năm 1963, chính quyền bù nhìn mới lên thay đã ban hành Sắc luật 15/64 thay cho Luật Gia đình năm

1959 Ngày 20 tháng 12 năm 1972, Bộ dân luật được ban hành Bộ luật này ra đời đã thay thế Sắc luật 15/64 cùng với những văn bản bổ sung, sửa đổi sắc luật này trước đó

Về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài được quy định như sau: “Trong trường

hợp hôn thú lập ở ngoại quốc, trong vòng ba tháng sau khi trở về lãnh thổ Việt Nam, người có quốc tịch Việt Nam phải xuất trình một bản sao chứng thư hôn thú cũ nhất là ba tháng gửi cho biện lý tòa án nơi trú ngụ Biện lý sẽ ra lệnh đăng ký vào sổ giá thú đương niên và ghi chú vào lề chứng thư khai sinh của đương sự, ở sổ chánh cũng như ở sổ kép” 5

Nhìn chung các văn bản pháp luật dưới chế độ ngụy quân, ngụy quyền miền Nam là các văn bản có nội dung đi ngược với lợi ích quốc gia và dân tộc Mặc dù đã xóa bỏ chế

độ đa thê nhưng vẫn còn thể hiện nguyên tắc bất bình đẳng giữa vợ và chồng, cấm ly hôn giữa vợ và chồng

5

Bộ dân luật, chương III, điều 125

Trang 17

Sau khi thống nhất đất nước, quan hệ hợp tác giữa nước ta và các nước ngày càng

mở rộng, do đó công dân của các nước được phép qua lại để học tập, nghiên cứu, truyền đạt kinh nghiệm cho nhau nên việc liên quan đến yếu tố nước ngoài cũng theo đó tăng lên, vì vậy cần phải có quy định của pháp luật để điều chỉnh vấn đề này Để giải quyết được vấn đề này, nước ta đã kí kết nhiều Hiệp định tương trợ tư pháp (HĐTTTP) với các nước như: Liên Xô (1981), Tiệp Khắc (1982), Cu Ba (1984), Hunggari (1985), Bungari (1986) Các hiệp định này đã tạo ra một khung pháp lý khá hoàn chỉnh để điều chỉnh các quan hệ hôn nhân giữa các nước với nhau Ngoài quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam dần mở rộng quan hệ với tất cả các nước, từ đó, quan hệ hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài trở nên phức tạp hơn

1.2.2 Giai đoạn từ năm 1986 đến nay

1.2.2.1 Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2000

Ngày 29 tháng 12 năm 1986 Luật Hôn nhân và gia đình được Quốc hội thông qua bao gồm 10 chương và 57 điều Luật này phù hợp với tình hình lúc bấy giờ - thời kì chuyển dần sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Luật dành riêng một chương để điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài và quy định như sau:

“Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên tuân theo

những quy định của pháp luật nước mình về kết hôn Nếu việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài tiến hành ở Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định ở Điều 5, Điều 6, Điều 7 của Luật này Thủ tục kết hôn do Hội đồng bộ trưởng quy định.”6 Ngoài ra ở giai đoạn này “trong trường hợp đã có hiệp định tương

trợ tư pháp và pháp lý về hôn nhân và gia đình giữa Việt Nam và nước ngoài, thì tuân theo những quy định của hiệp định đó”7 Dành riêng một chương để điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài thấy được sự quan tâm đối với nhân dân và tầm nhìn xa trông rộng của Nhà nước ta trong xu thế lúc bấy giờ, cùng với sự phát triển dần của hệ thống pháp luật và công cuộc lập pháp ở nước ta

Năm 1993, pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 02 tháng 02 năm 1993 và có hiệu lực ngày 01 tháng 03 năm 1994 Đây là văn bản chuyên biệt đầu tiên điều chỉnh một phần quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trong đó lần đầu tiên quy định áp

dụng tập quán quốc tế để điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài “ở nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ phù hợp với các quy định của Hiến pháp, Luật Hôn nhân và gia đình, Pháp lệnh này và các quy định khác của pháp luật Việt

6

Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, chương IX, điều 52

7

Trang 18

GVHD: ThS: Bùi Thị Mỹ Hương Trang 12 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đang

Nam, cũng như các quy định về hôn nhân và gia đình trong các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc tham gia”8

“Trong quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước

ngoài tại Việt Nam, người nước ngoài được hưởng quyền và có nghĩa vụ như pháp luật Việt Nam quy định cho công dân Việt Nam

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình với người nước ngoài, phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật và tập quán quốc tế.”9

Việt Nam xây dựng một hệ thống pháp luật khá đầy đủ, tương đối ổn định về quy định điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, các văn bản này góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng đất nước tiến bộ, ngoại giao, chính sách đối ngoại mở rộng, tăng cường các mối quan hệ hữu nghị, ổn định lâu dài trong thời kì mới

1.2.2.2 Giai đoạn từ năm 2000 đến nay

Trước tình hình thực tế có nhiều mối quan hệ phát sinh trong lĩnh vực hôn nhân nên ngày 9 tháng 6 năm 2000 ra đời Luật Hôn nhân và gia đình có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2001 thay thế cho Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 và Pháp lệnh Hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài năm 1993 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có 13 chương và 110 điều, Luật này dành một chương để điều chỉnh quan

hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài gồm 7 điều từ điều 100 đến điều 106, các điều luật xác định rõ nguyên tắc, cách giải quyết các xung đột pháp luật và xung đột thẩm quyền trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Sự ra đời của các văn bản điều chỉnh các vấn đề liên quan đến yếu tố nước ngoài phần nào giải quyết được những quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài một cách rõ ràng và thuận tiện cho người dân, sự thực thi pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền không bị gập ghềnh như trước

Điểm chung nhất của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 trong điều chỉnh quan

hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là xu hướng áp dụng pháp luật Việt Nam giải quyết các xung đột pháp luật Thẩm quyền giải quyết hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài rõ ràng, khả thi hơn so với luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 và Pháp lệnh Hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài năm 1993

Ngày 10 tháng 7 năm 2002 Nghị đinh 68/2002/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về quan hệ hôn nhân

và gia đình có yếu tố nước ngoài được thông qua bao gồm 84 điều Ngày 16 tháng 12

Trang 19

năm 2002, Bộ Tư pháp ra Thông tư 07/2002/TT-BTP hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 68/2002/NĐ-CP Thời gian sau, ngày 21 tháng 7 năm 2006 Nghị định 69/2006/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 68/2002/NĐ-

CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Các văn bản pháp lý này ra đời đã tạo tiền đề cho việc áp dụng dể dàng và một cách thống nhất của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi, bổ sung năm 2010 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010 không có thay đổi mà do sự hợp nhất của Luật Nuôi con nuôi và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

Ngày 28 tháng 03 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 24/2013/NĐ-CP Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan

hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Nghị định ra đời bãi bỏ Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một

số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Nghị định 69/2006/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Cùng với nghị định 24/2013/NĐ-CP thì ngày 31 tháng 12 năm 2013 Bộ Tư pháp ban hành Thông tư 22/2013/TT-BTP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28 tháng 03 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và mới nhất là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2015

1.3 Phương pháp điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Phương pháp điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là phương pháp xung đột và phương pháp thực chất Cả hai phương pháp này cùng áp dụng đồng thời nhưng trong những trường hợp nhất định chỉ cần áp dụng một phương pháp đó là phương pháp thực chất

Các quốc gia không chỉ dừng lại ở việc thể hóa quy phạm thực chất mà còn thống nhất hóa quy phạm xung đột Trong các điều kiện về kinh tế, trình độ phát triển và lợi ích của các quốc gia còn khác biệt thì việc thống nhất hóa các quy phạm thực chất là khó khăn, nhưng thống nhất hóa các quy phạm xung đột lại dễ hơn, thống nhất hóa các quy phạm xung đột góp phần củng cố việc nhất thể hóa quy phạm thực chất

Trang 20

GVHD: ThS: Bùi Thị Mỹ Hương Trang 14 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đang

1.3.1 Phương pháp xung đột

Phương pháp xung đột không trực tiếp giải quyết quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, mà chỉ có nhiệm vụ dẫn chiếu tới luật thực chất của quốc gia mà ở đó có các quy định phân định quyền và nghĩa vụ của các bên, nó được xây dựng trên cơ sở hệ thống các quy phạm xung đột của quốc gia, kể cả các quy phạm xung đột trong các điều ước quốc

tế mà quốc gia đó là thành viên Tính gián tiếp của phương pháp xung đột thể hiện ở việc dẫn chiếu đến hệ thống pháp luật áp dụng, còn việc áp dụng phụ thuộc vào pháp luật của nước mà được quy phạm xung đột dẫn chiếu đến

Khoản 1 điều 103 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm

2010 quy định: “trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi

bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn.” Ví dụ trên không quy

định quyền và nghĩa vụ các bên tham gia vào quan hệ này mà chỉ quy định chọn pháp luật áp dụng Theo quy định, việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài phải tuân theo pháp luật của nước mà họ mang quốc tịch về điều kiện kết hôn, ngoài ra nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Việt Nam về điều kiện kết hôn

Thông thường các quy phạm pháp luật cấu thành từ ba bộ phận: giả định, quy định

và chế tài Tuy nhiên quy phạm xung đột cấu thành từ 2 bộ phận: phần phạm vi (trường hợp đặt ra) và phần hệ thuộc (hệ thống lựa chọn) và không thể thiếu đi phần nào Trong

đó, phần phạm vi chỉ ra những mối quan hệ sẽ được giải quyết ở phần hệ thuộc, phần hệ thuộc thường không trực tiếp xác định hình thức thưởng phạt mà chỉ nêu lên các văn bản quy phạm hoặc hệ thống pháp luật được áp dụng trong phần phạm vi

Hiện nay có các quy phạm xung đột: quy phạm xung đột một bên là quy phạm áp dụng pháp luật của chính quốc gia ban hành ra nó; quy phạm xung đột nhiều bên là loại quy phạm quy định có thể áp dụng pháp luật nước này, có thể áp dụng pháp luật nước kia tùy vào từng trường hợp cụ thể Quy phạm xung đột được ghi nhận trong các văn bản pháp luật như: Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi

bổ sung năm 2010 và các văn bản khác

Phương pháp xung đột có tính chất đặc thù và riêng biệt và có những hạn chế Phương pháp xung đột rất trừu tượng, phải có chuyên môn sâu và chắc trong lĩnh vực pháp luật mới hiểu Phương pháp xung đột luôn được hoàn thiện, bổ sung và quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài được phương pháp xung đột điều chỉnh khá hiệu quả

Trang 21

1.3.2 Phương pháp thực chất

Phương pháp thực chất được xây dựng trên cơ sở hệ thống các quy phạm thực chất, trực tiếp phân định quyền và nghĩa vụ rõ ràng giữa các bên tham gia quan hệ này Trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, quy phạm thực chất áp dụng để giải quyết:

Thứ nhất, khi quy phạm thực chất được pháp luật quy định áp dụng để điều chỉnh

quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thì các quy định điều chỉnh về quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam cũng sẽ được áp dụng cho người nước ngoài tại Việt Nam

Khoản 2 điều 100 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010

“trong quan hệ hôn nhân và gia đình với công dân Việt Nam, người nước ngoài tại Việt

Nam được hưởng các quyền và nghĩa vụ như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác”, quan hệ hôn nhân và gia đình với công dân Việt Nam

nói chung và quan hệ kết hôn với công dân Việt Nam nói riêng, người nước ngoài được hưởng quyền và nghĩa vụ như công dân Việt Nam Ví dụ không quy định vấn đề chọn luật để điều chỉnh mà quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam cũng sẽ được áp dụng cho người nước ngoài tại Việt Nam

Thứ hai, trường hợp có quy phạm xung đột dẫn chiếu đến, khi phát sinh quan hệ kết

hôn có yếu tố nước ngoài, vấn đề chọn luật điều chỉnh được đặt ra Nếu quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật của nước nào thì pháp luật của nước đó được áp dụng

Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010: “trong

trường hợp Luật này, các văn bản pháp luật khác cảu Việt Nam có quy định hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc tham gia viện dẫn thì pháp luật nước ngoài được áp dụng, nếu việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc quy định trong Luật này; trong trường hợp pháp luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt Nam thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam.” Việc dẫn chiếu

các quy phạm xung đột để chọn luật áp dụng bao gồm dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba: Trường hợp dẫn chiếu ngược là pháp luật của nước thứ nhất

có quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ hai, pháp luật của nước thứ hai lại có quy phạm xung đột dẫn chiếu ngược lại pháp luật của nước thứ nhất, khi đó pháp luật của nước thứ nhất được áp dụng Trường hợp dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba là pháp luật của thứ nhất có quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ hai, pháp luật của nước thứ hai lại có quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba thì pháp luật của nước thứ ba được áp dụng Trong trường hợp dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba, các quy phạm pháp luật quy định trong pháp luật được các quy phạm xung đột dẫn chiếu đến để điều chỉnh quan hệ kết hôn

có yếu tố nước ngoài là quy phạm thực chất

Trang 22

GVHD: ThS: Bùi Thị Mỹ Hương Trang 16 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đang

Quy phạm thực chất còn được xây dựng trong điều ước quốc tế còn gọi là quy phạm thực chất thống nhất, các quy phạm thực chất được xây dựng trong các văn bản pháp quy của mỗi nhà nước được gọi là quy phạm thực chất trong nước Các loại quy phạm này tồn tại và hỗ trợ lẫn nhau điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Phương pháp này có ưu điểm là giải quyết trực tiếp các quan hệ và chỉ áp dụng trong quan hệ cụ thể Phương pháp này giúp cho việc giải quyết các xung đột nhanh chóng, do không phải trải qua giai đoạn chọn hệ thống pháp luật và các quy phạm của hệ thống đó để giải quyết Phương pháp này chỉ sử dụng đối với các bên tham gia quan hệ

cụ thể và đôi khi chỉ áp dụng cho một đối tượng cụ thể nên các chủ thể thường biết trước các điều kiện pháp lý để hợp tác với nhau trong quan hệ tránh xảy ra xung đột Phương pháp này điều chỉnh trực tiếp bằng cách các quốc gia kí các điều ước quốc tế, trong các điều ước quốc tế đó có các quy phạm thực chất thống nhất, vì vậy nó đã làm tăng khả năng điều chỉnh hữu hiệu của luật pháp, loại bỏ sự khác biệt, mâu thuẫn trong luật pháp giữa các nước Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm phương pháp này còn tồn tại những hạn chế: các quy phạm thực chất do tính cụ thể và trực tiếp của phương pháp mà đôi khi

nó không thể dự liệu được hết các quan hệ pháp sinh trong các lĩnh vực; phần lớn các quốc gia có điều kiện khác nhau, do đó việc xây dựng một quy phạm thực chất thống nhất chung giữa các quốc gia không đơn giản, và đi đến việc thống nhất ý chí giữa các bên tốn rất nhiều thời gian và công sức

1.4 Nguồn luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Tìm hiểu một hệ thống pháp lý một trong những vấn đề quan trọng đó là nguồn pháp luật điểu chỉnh, nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là các hình thức chứa đựng các nguyên tắc, các quy phạm điều chỉnh quan hệ này Quan hệ kết hôn thông thường chỉ chịu sự điều chỉnh bởi quy định trong pháp luật quốc gia nhưng quan hệ kết hôn kết hôn có yếu tố nước ngoài còn chịu sự điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong các loại nguồn pháp luật khác Căn cứ vào cơ sở hình thành và giá trị pháp lý của các nguồn luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, người ta chia thành hai loại nguồn: pháp luật quốc gia và điều ước quốc tế

1.4.1 Pháp luật quốc gia điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Pháp luật quốc gia là hệ thống các quy phạm pháp lý, thành văn hoặc không thành văn do nhà nước đặt ra hoặc công nhận nhằm điều chỉnh quan hệ pháp lý giữa các chủ thể của pháp luật

Pháp luật quốc gia là loại nguồn khá phổ biến so với các loại nguồn khác, pháp luật quốc gia với tư cách là nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

là các hình thức chứa đựng các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật trong nước nhằm

Trang 23

điều chỉnh quan hệ này Hình thức được coi là nguồn của pháp luật phụ thuộc vào từng

hệ thống pháp luật của từng quốc gia quy định

Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các vấn đề về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài quy định trong các văn bản: Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Đây là văn bản có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống pháp luật của nước ta, ban hành bởi cơ quan quyền lực cao nhất - Quốc hội Trong mọi trường hợp các quy định tại các văn bản khác không được trái với quy định của Hiến pháp Quyền kết hôn được xem là quyền cơ bản của công dân, pháp luật thừa nhận và bảo vệ được ghi nhận trong các Hiến pháp của nước ta,

theo điều 36 Hiến pháp năm 2013 quy định: “nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn Hôn

nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau; nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ

và trẻ em”

Bộ luật Dân sự năm 2005: quan hệ dân sự nói chung và quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng được quy định trong phần quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Những nguyên tắc được quy định trong phần này kết hợp với những quy định về hôn nhân và gia đình nói chung trong Bộ luật Dân sự đã tạo nên những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010: Luật Hôn nhân và gia đình là văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình, trong đó có quan

hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, và quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài được quy định

từ điều 100 đến điều 106 Và lịch sử trải qua các giai đoạn đã hình thành nên Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Quá trình hình thành nên các văn bản quy định về hôn nhân và gia đình luôn có những bước tiến vượt bậc, sắp tới đây là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2015

Ngoài các văn bản nêu trên, nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các nghị định, quyết định, thông tư,… nhằm quy định hoặc chi tiết hóa và hướng dẫn việc thi hành các luật, giải quyết các vấn đề về địa vị pháp lý của người nước ngoài như: Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một

số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Nghị định 69/2006/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Ngày 28 tháng 03 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 24/2013/NĐ-

CP Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về

Trang 24

GVHD: ThS: Bùi Thị Mỹ Hương Trang 18 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đang

quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Ngày 31 tháng 12 năm 2013 Bộ Tư pháp ban hành Thông tư 22/2013/TT-BTP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28 tháng 03 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

1.4.2 Điều ước quốc tế điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Trong quan hệ của Việt Nam với các nước, nhất là các nước trong khu vực Đông Nam Á, điều ước quốc tế điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài đóng vai trò quan trọng Điều ước quốc tế là văn bản pháp lý quốc tế do các quốc gia cùng nhau thỏa thuận xây dựng nên, nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau thông qua các quy phạm được gọi là quy phạm điều ước

Khoản 1 điều 100 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm

2010: “ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu

tố nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc tham gia”

Pháp luật quốc gia và điều ước quốc tế được Việt Nam công nhận và tôn trọng, khi tham gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, công dân Việt Nam phải tuân theo quy định của pháp luật quốc gia và không trái với các quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia

Để đảm bảo sự công bằng và bảo vệ cho công dân của các nước khi ở trên nước sở tại, Việt Nam đã kí kết với nhiều nước điều chỉnh các mối quan hệ đa dạng của nước ta với nước ngoài Trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, Việt Nam đã kí kết với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự và hình sự

có hiệu lực năm 2000, Việt Nam kí kết với Mông Cổ hiệp định số 39/LPQT ngày 17 tháng 4 năm 2000 về tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự có hiệu lực từ ngày 13 tháng 6 năm 2002, Việt Nam kí kết với nước Cộng hòa Belarus hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình, lao động và hình sự có hiệu lực năm 2001 Các hiệp định này công nhận và bảo đảm việc thực hiện tôn trọng các quyền nhân thân và tài sản của công dân các quốc gia kí kết này trên lãnh thổ quốc gia nước kí kết kia trên cơ sở nguyên tắc tôn trọng bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia với nhau, tạo tiền đề cho sự hợp tác sâu rộng

1.5 Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

“Yếu tố nước ngoài” trong quan hệ kết hôn đã làm cho việc điều chỉnh này có sự

khác biệt so với việc điều chỉnh quan hệ kết hôn trong nước Và để giải quyết được vấn

đề phức tạp này người ta dựa vào ba dấu hiệu sau đây để xác định có yếu tố nước ngoài,

Trang 25

các dấu hiệu đó là: yếu tố chủ thể, yếu tố khách thể, yếu tố sự kiện pháp lý làm xác lập quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Thứ nhất, khi quan hệ đó có chủ thể là công dân Việt Nam, người nước ngoài Thứ hai, khách thể đó quyền nhân thân được thực thi ở nước ngoài hoặc được đặt

dưới sự bảo hộ của pháp luật nước ngoài

Thứ ba, sự kiện pháp lý làm xác lập quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

1.5.1 Yếu tố chủ thể

Vấn đề xác định chủ thể trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thường căn cứ vào hệ thuộc Luật nhân thân của đương sự, tức là dựa vào yếu tố cư trú của đương sự hoặc dựa vào yếu tố quốc tịch của đương sự

Khoản 14 điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010, chủ thể trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài bao gồm hai chủ thể: công dân Việt Nam (bao gồm công dân Việt Nam ở trong nước và công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài), người nước ngoài (bao gồm công dân nước ngoài và người không quốc tịch) Yếu

tố chủ thể được chia làm hai trường hợp:

Trường hợp thứ nhất, chủ thể là công dân Việt Nam

Khoản 1 điều 17 Hiến pháp năm 2013 thì: “công dân nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam” Cơ sở pháp lý quan trọng để xác định

tư cách chủ thể trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài đó là quốc tịch của các bên Quốc tịch là trạng thái pháp lý ràng buộc xác định mối quan hệ giữa nhà nước với cá nhân có quốc tịch Ở Việt Nam quốc tịch được quy định trong Luật quốc tịch năm 2008, theo quy định của Luật này người mang quốc tịch Việt Nam là người: được sinh ra trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam mà có cha và mẹ đều là công dân Việt Nam (điều 15); được sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người không quốc tịch hoặc có mẹ là công dân Việt Nam mà cha không ghi

rõ là ai (khoản 1 điều 16); được sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ vào thời điểm đăng kí khai sinh cho con, trường hợp được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con (khoản 2 điều 16); được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh có cha mẹ đều là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam (khoản 1 điều 17); được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam có

mẹ là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam, con cha không rõ là

ai (khoản 2 điều 17) Ngoài ra, theo quy định của Luật quốc tịch năm 2008 xác định quốc tịch Việt Nam còn được nhập, trở lại quốc tịch…

Trang 26

GVHD: ThS: Bùi Thị Mỹ Hương Trang 20 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đang

Khi tham gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, công dân Việt Nam phải có năng lực chủ thể theo quy định của pháp luật Việt Nam Năng lực chủ thể gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi được xác định trên cơ sở pháp luật Việt Nam tại điều 14 và điều 17 Bộ luật Dân sự năm 2005 Đây là những thuộc tính pháp lý, những đặc trưng không thể thiếu của các chủ thể pháp luật

Trường hợp thứ hai, chủ thể là người nước ngoài

Trong sự phát triển của các quốc gia trên thế giới, công dân nước này nước kia cùng chung sống trên lãnh thổ một quốc gia do nhiều nguyên nhân khác nhau Ngoài công dân Việt Nam là chủ thể cơ bản trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, người nước ngoài cũng là chủ thể cơ bản và quan trọng trong quan hệ này Trước đó, Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một

số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài và hiện nay nghị định 138/2006/CĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài:

“người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm người có quốc tịch

nước ngoài và người không quốc tịch”10 Quy định tại khoản 1 điều 3 Luật quốc tịch năm

2008 thì: “quốc tịch nước ngoài là quốc tịch của một nước khác không phải là quốc tịch

Việt Nam” Người có quốc tịch nước ngoài có thể có một quốc tịch nước ngoài hoặc có

hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài Quy định tại khoản 2 điều 3 của Luật quốc tịch năm

2008 “người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có

quốc tịch nước ngoài” Chủ thể là người nước ngoài khi tham gia vào quan hệ kết hôn có

yếu tố nước ngoài phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự Theo điều 761 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch nếu người nước ngoài không cư trú trên lãnh thổ Việt Nam; người nước ngoài có năng lực pháp luật pháp luật dân sự tại Việt Nam như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác, nếu người nước ngoài cư trú trên lãnh thổ Việt Nam Theo quy định tại điều 762 của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì năng lực hành vi dân sự của cá nhân là người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước

mà người đó là công dân, trừ trường hợp pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác; trong trường hợp người nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài được xác lập theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Pháp luật Việt Nam luôn tôn trọng và bảo vệ các giao dịch dân sự của người nước ngoài khi họ tham gia vào các quan

hệ dân sự với công dân Việt Nam, trong đó có quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Việt

10

Nghị định 138/2006/NĐ-CP ngày 15/11/2006 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, điều 3, khoản 2

Trang 27

Nam cho phép áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch để xác định năng lực hành vi dân sự và năng lực pháp luật dân sự để đảm bảo được sự công bằng giữa công dân Việt Nam và công dân nước ngoài, đồng thời tạo mối liên kết hữu nghị giữa các quốc gia khi công dân của họ được đối xử như nhau trên nước sở tại

1.5.2 Yếu tố khách thể

Khách thể chính là quyền nhân thân của các đương sự khi tham gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Khách thể là lợi ích vật chất hoặc tinh thần mà chủ thể mong muốn đạt đến khi tham gia vào quan hệ pháp luật Khách thể là một yếu tố bắt buộc, đó là động cơ, nguyên nhân để phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các chủ thể Yếu tố tình cảm là nét đặc trưng, yếu tố quyết định để xác lập kết hôn, đảm bảo cho một cuộc hôn nhân lâu dài Các quy định về nhân thân của đương sự không giống nhau, cho nên khi có một quan

hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài sẽ dẫn đến xung đột pháp luật Để giải quyết xung đột này, pháp luật đa số các nước nghiêng về nguyên tắc luật nhân thân của các bên dương sự

để giải quyết Song có thể áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch, có nước lại áp dụng nguyên

tắc luật nơi cư trú của đương sự để giải quyết xung đột pháp luật xãy ra

Trong pháp luật Việt Nam, xung đột pháp luật phát sinh đối với quyền nhân thân của đương sự tham gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thường được giải quyết theo các nguyên tắc trên nhưng việc lựa chọn luật nào để điều chỉnh xung đột pháp luật

về quyền nhân thân của chủ thể còn phụ thuộc vào tình hình thực tế hiện nay, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể Cùng với sự phát triển của quá trình giao lưu quốc tế, các quan hệ hôn nhân và gia đình phát sinh nhiều, việc giải quyết xung đột pháp luật trong các mối quan hệ đó trở thành một yêu cầu quan trọng đối với mỗi quốc gia Việc giải quyết xung đột trong lĩnh vực này thực hiện bằng cách xây dựng và

áp dụng các quy phạm xung đột do từng nước xây dựng và các quy phạm xung đột thống nhất trong các điều ước quốc tế do các nước thỏa thuận kí kết

1.5.3 Yếu tố sự kiện pháp lý

Theo lý luận về nhà nước và pháp luật “sự kiện pháp lý là những sự kiện thực tế mà

sự xuất hiện hay mất đi của chúng được pháp luật gắn với việc hình thành, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật Sự kiện pháp lý có thể coi là cầu nối giữa quy phạm pháp luật và quan hệ pháp luật”11 Quy phạm pháp luật và chủ thể có năng lực pháp luật là những điều kiện cần còn sự kiện pháp lý là điều kiện đủ Trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thì sự kiện pháp lý có thể là một sự biến pháp lý hoặc là một hành vi pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ đó Sự kiện pháp lý trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài phải là sự kiện pháp lý xảy ra ở nước ngoài

11

PGS.TS Lê Minh Tâm, Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật, trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Tư pháp,

Trang 28

GVHD: ThS: Bùi Thị Mỹ Hương Trang 22 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đang

Có thể nêu một ví dụ như sau: hai công dân Việt Nam kết hôn với nhau ở nước ngoài trước cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài, trong trường hợp này pháp luật để áp dụng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan như xác định điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn của các bên sẽ là pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài Tuy nhiên pháp luật Việt Nam sẽ điều chỉnh về điều kiện kết hôn đối với công dân Việt Nam dựa trên nguyên tắc luật quốc tịch, còn pháp luật nước ngoài sẽ điều chỉnh về nghi thức kết hôn dựa trên nguyên tắc nơi thực hiện hành vi, tức là nơi tiến hành kết hôn Hôn nhân này sẽ được công nhận khi các chủ thể có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của nước mà người đó mang quốc tịch và phù hợp về nghi thức kết hôn theo quy định của nước nơi tiến hành kết hôn

1.6 Các nguyên tắc chung điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Nguyên tắc chung điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là những nguyên lý, những quy định, những tư tưởng chủ đạo điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Ở Việt Nam, các nguyên tắc chung quy định trong Hiến pháp, các văn bản quy phạm pháp luật và vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi, bổ sung năm 2010, ngoài những nguyên tắc quy định ở điều 2 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi, bổ sung năm 2010 còn

có các nguyên tắc chung quy định về vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài

1.6.1 Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Khoản 1 điều 100 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi, bổ sung năm

2010: “ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu

tố nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia.” Điều ước quốc tế có giá trị ưu tiên hơn pháp luật quốc gia trong trường hợp Việt

Nam kí kết hoặc tham gia vào điều ước quốc tế mà qui định của điều ước quốc tế có khác

so với pháp luật quốc gia thì áp dụng điều ước quốc tế

Trong Bộ luật hình sự Việt Nam quy định về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình từ điều 146 đến điều 152 tùy theo mức độ nghiêm trọng của các tội danh mà có

các khung hình phạt khác nhau Điều 146 của Bộ luật hình sự Việt Nam: “Người nào

cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt

tù từ ba tháng đến ba năm”

Việc quy định pháp luật hình sự liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình là những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ quyền và lợi

Trang 29

ích hợp pháp của công dân, duy trì trật tự an ninh xã hội đảm bảo cho việc thực thi về quan hệ hôn nhân và gia đình một cách nghiêm chỉnh

Ngoài các biện pháp xử lý hình sự nêu trên thì Nghị định 110/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24 tháng 9 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã Nghị định ra đời có những quy định cụ thể các hành vi vi phạm pháp luật, mức xử phạt, hình thức xử phạt và người có thẩm quyền xử phạt nhằm phân định rõ ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự Việc phân định rõ nhằm tránh được tình trạng bỏ sót các hành vi vi phạm pháp luật mà không bị xử lý Các bên tham gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nếu vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật, hoặc trường hợp các chủ thể tham gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài mà bị vi phạm thì các chủ thể này có quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ

1.6.2 Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Điều 100 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010:

“1 Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia

2 Trong quan hệ hôn nhân và gia đình với công dân Việt Nam, người nước ngoài tại Việt Nam được hưởng các quyền và có nghĩa vụ như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác

3 Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế

4 Các quy định của Chương này cũng được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài.”

Quy định này quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, vừa là cơ sở pháp lý để Tòa án vận dụng nhằm giải quyết các vụ việc cụ thể Nội dung các quy phạm này có một số điểm lưu ý:

Thứ nhất, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố thừa nhận, tôn

trọng và bảo vệ quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc

Trang 30

GVHD: ThS: Bùi Thị Mỹ Hương Trang 24 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đang

tham gia Có hai trường hợp kết hôn: kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, kết hôn giữa người nước ngoài với nhau trên lãnh thổ Việt Nam

Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được nhà nước tôn trọng và bảo vệ, tạo điều kiện để công dân có thể kết hôn mà không bị ngăn cản; kết hôn giữa người nước ngoài với nhau trên lãnh thổ Việt Nam được nhà nước bảo vệ và tôn trọng phù hợp với pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia nếu việc kết hôn của họ không trái với các nguyên tắc hôn nhân và gia đình ở Việt Nam

Thứ hai, trong quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa

người nước ngoài với nhau trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được hưởng các quyền và nghĩa vụ như công dân Việt Nam và được pháp luật bảo vệ, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác: trong một số trường hợp liên quan đến chính sách của Đảng, lợi ích của nhà nước, hoặc để đảm bảo vấn đề an ninh quốc gia mà người nước ngoài tại Việt Nam

sẽ không được hưởng các quyền và lợi ích ngang bằng với công dân Việt Nam trong quan hệ kết hôn

Thứ ba, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền, lợi ích hợp

pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước sở tại, điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc kí kết

Điều 17 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân Việt Nam ở nước ngoài được

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ” Những năm qua, công tác bảo

hộ công dân Việt Nam có những chuyển biến về chất và đạt được những thành tựu vượt bậc, người Việt Nam ở nước ngoài làm ăn, sinh sống ổn định và có địa vị pháp lý

Quy định có ý nghĩa quan trọng, tạo cơ sở pháp lý thống nhất để nhà nước tiến hành bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Báo cáo của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tăng nhanh về số lượng và mở rộng địa bàn cư trú Đến

nay, “đã có hơn 4.5 triệu người Việt đang sinh sống, lao động, học tập tại 109 nước và

vùng lãnh thổ”12 Địa vị pháp lý của họ được nước sở tại quy định, quy định trong pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia, việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp được thực hiện thông qua cơ quan đại diện ngoại giao

Điều 18 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là

một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam; Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước

12

Thứ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn, Kết quả 10 năm triển khai Nghị quyết 36/NQ-TW của Bộ Chính

trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Báo KBCHN Online, 2014,

http://kbchn.net/ket-qua-10-nam-trien-khai-nghi-quyet-36-nq-tw-cua-bo-chinh-tri-ve-cong-tac-doi-voi-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai-9053.html, [ngày truy cập: 22/7/2014].

Trang 31

ngoài gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước.” Khái niệm người Việt

Nam định cư ở nước ngoài được quy định trong Luật quốc tịch năm 2008: “người Việt

Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”13 Luật quốc tịch quy định người gốc Việt Nam: “người gốc

Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”14 Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, Đảng và Nhà nước luôn tạo mọi điều kiện để những kiều bào đó giữ được các mối quan hệ với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng đất nước, tạo điều kiện để những người mất quốc tịch Việt Nam được trở lại quốc tịch Việt Nam

Khoản 2 điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010

quy định: “cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài

thực hiện việc đăng kí kết hôn, giải quyết các việc về nuôi con nuôi và giám hộ có yếu tố nước ngoài theo quy định của Luật này, các quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia, nếu việc đăng kí, giải quyết đó không trái với pháp luật của nước sở tại, có trách nhiệm thực hiện việc bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam trong quan

hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài”.Trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước

ngoài, nhà nước ta luôn tôn trọng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam, bảo vệ và cho công dân nước ngoài những quyền, lợi ích như công dân trong nước phù hợp với những quy định pháp luật trong nước, pháp luật nước sở tại và điều ước quốc

tế mà Việt Nam tham gia hoặc ký kết Ngoài ra, Việt Nam luôn bày tỏ thái độ kiên trì phòng trừ các hoạt động môi giới hôn nhân, mua bán người trái phép, bốc lột sức lao động, xâm phạm tình dục đối với phụ nữ và các hoạt động vì mục đích trục lợi khác

1.6.3 Nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài

Nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài là hoạt động thi hành pháp luật quốc gia thông qua việc áp dụng quy định của pháp luật nước ngoài nhằm điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, không trái với pháp luật của Việt Nam

Quy định tại điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm

2010: “trong trường hợp Luật này, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam có quy định

hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia viện dẫn thì pháp luật nước ngoài được áp dụng, nếu việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc quy định trong Luật này; trong trường hợp pháp luật nước ngoài dẫn chiếu

13

Luật quốc tịch năm 2008, điều 3, khoản 3

14

Trang 32

GVHD: ThS: Bùi Thị Mỹ Hương Trang 26 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đang

trở lại pháp luật Việt Nam thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam.” Để

hài hòa giữa các hệ thống pháp luật, các quốc gia phải xây dựng quy phạm xung đột trong hệ thống pháp luật nước mình và điều ước quốc tế mà quốc gia kí kết hoặc tham gia Khi có quy phạm xung đột dẫn chiếu đến hệ thống pháp luật nước ngoài điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam áp dụng pháp luật của nước được viện dẫn để điều chỉnh Khi quy phạm xung đột dẫn chiếu đến luật pháp nước ngoài là dẫn chiếu tới toàn bộ hệ thống pháp luật của nước đó nên quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài phải được giải thích cụ thể, xác định nội dung và cách thức

áp dụng để giải quyết theo đúng quy định của quốc gia đã ban hành

Căn cứ vào điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình, nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài khi:

Thứ nhất, trong trường hợp Luật Hôn nhân và gia đình, các văn bản pháp luật khác

của Việt Nam có quy định thì pháp luật nước ngoài được áp dụng Điển hình như: “trong

việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn”15 Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài thì người nước ngoài ngoài việc tuân thủ pháp luật của Việt Nam thì họ còn phải tuân theo quy định của nước họ về điều kiện kết hôn

Thứ hai, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc

tham gia viện dẫn thì pháp luật nước ngoài được áp dụng Điều ước quốc tế có thể là song phương hoặc là đa phương thì thường trong các điều ước quốc tế sẽ có những quy định thực chất nhằm làm nền tảng cho các quy phạm xung đột, từ đó sẽ đưa ra sự lựa chọn pháp luật giải quyết cho quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Thứ ba, việc áp dụng pháp luật nước ngoài không trái với các nguyên tắc quy định

trong Luật Hôn nhân và gia đình Quy định đang làm rõ cho việc coi trọng quy định của quốc gia, đồng thời tôn lên vẻ đẹp văn hóa, việc kết hôn không được trái với đạo đức,nét

cổ truyền trong đời sống hôn nhân và gia đình Quy định này đã phần nào làm giảm đi hiệu lực của quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài cần được áp dụng

Thứ tư, trong trường hợp pháp luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt Nam

thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam Pháp luật Việt Nam chấp nhận với trường hợp dẫn chiếu ngược, khi áp dụng pháp luật nước ngoài phải tuân theo toàn bộ

hệ thống pháp luật của nước ngoài, nếu pháp luật nước ngoài không dẫn chiếu đến pháp luật của Việt Nam mà dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba, pháp luật của nước thứ

Trang 33

1.6.4 Nguyên tắc áp dụng pháp luật Việt Nam

Quy định điều 7 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010:

“các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp Luật này có quy định khác; trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với quy định của Luật này, thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế.” Vấn đề về quan hệ kết hôn có yếu tố

nước ngoài không quy định ở chương XI của Luật Hôn nhân và gia đình sẽ áp dụng những quy định của Luật Hôn nhân và gia đình để điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Ngoài ra những quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 liên quan đến quan hệ

hôn nhân cũng sẽ được áp dụng nếu Luật Hôn nhân và gia đình không có quy định

Đất nước càng phát triển, hợp tác quốc tế đang mở rộng, công nghiệp hóa – hiện đại hóa diễn ra theo hướng tích cực, quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài trở nên phức tạp,

do đó có những trường hợp mà nhà làm luật không thể dự liệu hết, có trường hợp chưa có

pháp luật điều chỉnh nên điều 3 của Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “trong trường

hợp pháp luật không quy định và các bên không thỏa thuận thì có thể áp dụng tập quán; nếu không có tập quán thì áp dụng quy định tương tự pháp luật của pháp luật Tập quán

và quy định tương tự của pháp luật không được trái với các nguyên tắc quy định trong

Bộ luật này” Tập quán có thể áp dụng nếu luật không có quy định

1.7 Các nguyên tắc đặc thù điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Ngoài các nguyên tắc chung điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài còn

có các nguyên tắc đặc thù điều chỉnh vấn đề này Nguyên tắc đặc thù là các nguyên tắc riêng biệt để điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Nhờ có các nguyên tắc này mà quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài được thực thi một cách hiệu quả và đảm bảo một trật tự trong quan hệ quốc tế

1.7.1 Nguyên tắc Luật quốc tịch

Nguyên tắc Luật quốc tịch hay còn gọi là luật bản quốc được hiểu là luật của quốc gia mà đương sự là công dân, nguyên tắc luật quốc tịch là những quy định của nước mà các bên mang quốc tịch được áp dụng nhằm giải quyết quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Dựa vào nguyên tắc này khi đương sự tham gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài đương sự phải tuân theo quy định mà đương sự mang quốc tịch, điển hình

theo khoản 1 điều 103: “trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước

ngoài, mỗi bên phải tuân theo quy định của nước mình về điều kiện kết hôn”, cụm từ

“phải tuân theo quy định của nước mình” cho thấy việc công dân của nước nào phải tuân

theo quy định của nước mà họ mang quốc tịch về điều kiện kết hôn

Trang 34

GVHD: ThS: Bùi Thị Mỹ Hương Trang 28 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đang

Pháp luật quy định khi công dân nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam đương

sự phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự đầy đủ, quy định tại

khoản 1 điều 762 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì “năng lực hành vi dân sự của người nước

ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó là công dân”, như vậy để

được kết hôn với công dân Việt Nam thì năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài phải được xác định theo pháp luật của nước mà họ mang quốc tịch

Nguyên tắc Luật quốc tịch được sử dụng và trở thành nguyên tắc quan trọng trọng các hiệp định tương trợ tư pháp quốc tế mà Việt Nam kí kết các hiệp định tương trợ trước đây như: Cuba, Hungari, Tiệp Khắc và gần đây với các nước Lào, Mông cổ, Belarus

Theo quy định của Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Mông Cổ: “năng lực

hành vi của một người được xác định theo luật pháp của Bên kí kết mà người đó là công

được coi trọng và được áp dụng để giải quyết xung đột về hành vi dân sự

1.7.2 Nguyên tắc Luật nơi cư trú

Ở Việt Nam ngoài việc công nhận nguyên tắc Luật quốc tịch, còn công nhận và áp dụng nguyên tắc Luật nơi cư trú để điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Nguyên tắc Luật nơi cư trú là chọn luật của nước mà đương sự cư trú để giải quyết và kiểu hệ thuộc này cũng được áp dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới

Việc kết hôn giữa người nước ngoài với nhau ngoài việc họ tuân thủ quy định của nước họ mang quốc tịch về những quy định của kết hôn thì họ còn phải tuân thủ theo những quy định của Việt Nam về kết hôn nếu họ đang cư trú trên lãnh thổ Việt Nam Đối với người nước ngoài là người có một quốc tịch thì việc áp dụng pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài dễ dàng hơn, tuy nhiên đối với người nước ngoài là người không quốc tịch và người có hai hay nhiều quốc tịch thì việc áp dụng không thể phụ thuộc vào quốc tịch mà phụ thuộc vào nơi họ cư trú Quy định tại điều 760

Bộ luật dân sự năm 2005:

“1 Trong trường hợp Bộ luật này hoặc các văn bản pháp luật khác của nước Cộng

hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật của nước mà người nước ngoài là công dân thì pháp luật áp dụng đối với người không quốc tịch là pháp luật của nước nơi người đó cư trú; nếu người đó không có nơi cư trú thì áp dụng pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

2 Trong trường hợp Bộ luật này hoặc các văn bản pháp luật khác của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật của nước mà người nước ngoài là công dân thì pháp luật áp dụng đối với người nước ngoài có hai hay

16

Hiệp định số 39/LPQT ngày 17 tháng 4 năm 2000 về tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Mông Cổ, khoản 1 điều 22

Trang 35

nhiều quốc tịch nước ngoài là pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự; nếu người đó không cư trú tại một trong các nước mà người đó có quốc tịch thì áp dụng pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch

và có quan hệ gắn bó nhất về quyền và nghĩa vụ công dân.”

Thứ nhất, nếu pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam dẫn chiếu

đến việc áp dụng pháp luật của nước mà người nước ngoài là công dân thì pháp luật áp

dụng đối với người không quốc tịch là pháp luật của nước nơi người đó cư trú; nếu người

đó không có nơi cư trú thì áp dụng pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài là người không quốc tịch thì ngoài việc áp dụng pháp luật Việt Nam thì người không quốc tịch sẽ áp dụng pháp luật của nước nơi mà người đó cư trú, nếu không có nơi cư trú thì sẽ áp dụng pháp luật Việt Nam

Thứ hai, nếu pháp luật Việt Nam dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật của nước mà

người nước ngoài là công dân thì việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài là người có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài thì ngoài việc tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam thì người có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài còn phải tuân theo quy định pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ kết hôn; nếu người đó không cư trú tại một trong các nước mà người đó có quốc tịch thì áp dụng pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và có quan hệ gắn bó nhất về quyền và nghĩa vụ công dân Việc đương sự có nghĩa vụ chứng minh nơi nào là nơi có mối quan hệ gắn bó nhất về quyền và nghĩa vụ vô cùng quan trọng và cần thiết Đối với đương sự là người không quốc tịch hoặc có hai hay nhiều quốc tịch thì việc áp dụng pháp luật dựa vào nguyên tắc luật nơi cư trú càng rõ rệt hơn

Việc áp dụng nguyên tắc Luật nơi cư trú đã phần nào hạn chế được các quy phạm xung đột phát sinh giữa các quốc gia để điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài bởi thông thường nơi mà đương sự cư trú cũng là nơi mà đương sự là công dân, tuy nhiên vẫn có những trường hợp nơi cư trú khác nơi đương sự là công dân, vì vậy nghĩa vụ chững minh của đương sự góp phần thành công cho việc áp dụng pháp luật của các nước

1.7.3 Nguyên tắc Luật nơi thực hiện hành vi

Nguyên tắc nơi thực hiện hành vi là khi một hành vi được thực hiện ở nước nào thì pháp luật nước đó sẽ điều chỉnh hành vi này Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa

đổi bổ sung năm 2010 nguyên tắc này được quy định tại khoản 1 điều 103: “trong việc

kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn Việc kết hôn giữa những người nước ngoài với nhau

Trang 36

GVHD: ThS: Bùi Thị Mỹ Hương Trang 30 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đang

tại Việt Nam trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn” Vậy khi kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước

ngoài hoặc giữa những người nước ngoài với nhau trên lãnh thổ Việt Nam, họ không chỉ tuân theo quy định của nước họ mang quốc tịch mà còn phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn, nơi họ thực hiện hành vi

Như vậy, những nguyên tắc nêu trên điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài luôn gắn bó chặt chẽ bổ sung cho nhau, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo vệ lợi ích của đương sự, góp phần thúc đẩy quá trình giao lưu, hợp tác quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc

tế

Trang 37

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUAN HỆ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ

NƯỚC NGOÀI

Sự phát triển của quá trình giao lưu quốc tế, quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài phát sinh đa dạng, việc giải quyết các xung đột pháp luật trở thành yêu cầu quan trọng đối với mỗi quốc gia Các nước trên thế giới có nhiều cách hiểu về kết hôn có yếu tố nước ngoài, ở Việt Nam quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài được quy định tại khoản

14 điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010 để khẳng định

sự phát triển về lý luận của pháp luật Việt Nam trong việc điều chỉnh quan hệ này

Ở Chương này, Người viết nêu lên cơ sở pháp lý, những quy định cụ thể của pháp luật về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thông qua các văn bản: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010, Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28 tháng 03 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Thông tư 22/2013/TT-BTP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28 tháng 03 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ban hành ngày 31 tháng 12 năm 2013, một số văn bản khác có liên quan Kết hôn là việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa nam và nữ, muốn xác lập hai bên nam nữ phải tiến hành thủ tục kết hôn theo quy định của pháp luật Ở đề tài này Người viết tìm hiểu về điều kiện kết hôn, trình tự thủ tục giải quyết việc kết hôn, thẩm quyền giải quyết quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài của công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài tại Việt Nam và tại Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài 2.1 Điều kiện kết hôn đối với việc kết hôn có yếu tố nước ngoài

Theo pháp luật Việt Nam việc chọn luật áp dụng và điều kiện kết hôn được quy định

khoản 1 điều 103 Luật Hôn nhân và gia đình: “trong việc kết hôn giữa công dân Việt

Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn Việc kết hôn giữa những người nước ngoài với nhau tại Việt Nam trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn” Điều 103 quy định về điều kiện kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước

ngoài và dẫn chiếu đến việc chọn luật áp dụng, như vậy sẽ áp dụng toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam mà điều kiện về kết hôn đối với công dân Việt Nam được quy định tại điều

9 và điều 10 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010, vậy khi kết hôn người Việt Nam sẽ tuân theo quy định của Việt Nam, người nước ngoài sẽ tuân

Trang 38

GVHD: ThS: Bùi Thị Mỹ Hương Trang 32 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đang

theo quy định của người nước ngoài về điều kiện kết hôn, tuy nhiên, việc kết hôn tiến hành tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân thủ theo các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình của Việt Nam về điều kiện kết hôn Việc kết hôn ngoài việc tuân theo quy định của nước mà đương sự mang quốc tịch còn phải tuân theo quy định của nước mà đương sự tiến hành kết hôn tại đó

Điều kiện kết hôn là những chuẩn mực pháp lý quy định, thừa nhận việc kết hôn giữa nam và nữ, chỉ khi nào đáp ứng đủ các điều kiện thì hôn nhân đó được coi là hợp

pháp, được pháp luật bảo vệ “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo

quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn”17 Sự kết hợp căn bản và tất yếu giữa điều kiện cần và điều kiện đủ cho một quan hệ kết hôn hợp pháp

2.1.1 Điều kiện về độ tuổi kết hôn đối với việc kết hôn có yếu tố nước ngoài

Tuổi kết hôn là điều kiện đầu tiên cho kết hôn Một người chỉ được kết hôn khi đã đạt được một độ tuổi nhất định Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung

năm 2010 quy định tại khoản 1 điều 9: “nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi

trở lên” Theo quy định này “không bắt buộc nam phải từ đủ hai mươi tuổi trở lên, nữ phải từ đủ mười tám tuổi trở lên mới được kết hôn; do đó, nam đã bước sang tuổi hai mươi, nữ đã bước sang tuổi mười tám mà kết hôn là không vi phạm về điều kiện kết hôn”18 Khi nam và nữ đạt đến độ tuổi trưởng thành họ sẽ có thể tự lựa chọn và quyết định việc kết hôn đảm bảo sự tự nguyện của nam nữ khi kết hôn Một số nước trên thế giới quy định khác nhau về độ tuổi kết hôn như Tây Ban Nha, Chi lê, một số bang của Mỹ: tuổi kết hôn đối với nam là 14, đối với nữ là 12; Hà Lan, Pháp: tuổi kết hôn đối với nam là 18, nữ là 16; ở Anh tuổi 16 là tuổi kết hôn cho cả nam và nữ; Trung Quốc: tuổi kết hôn đối với nam là 22, nữ là 20…

Vậy các điều kiện về độ tuổi kết hôn có yếu tố nước ngoài được quy định như sau:

Thứ nhất, người Việt Nam kết hôn với nhau ở cơ quan đại diện của Việt Nam ở

nước ngoài thì nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên

Thứ hai, công dân Việt Nam kết hôn với công dân nước ngoài trước cơ quan có

thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài thì độ tuổi kết hôn là nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên

Thứ ba, công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, người nước ngoài kết

hôn với nhau tại Việt Nam trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì ngoài việc phải tuân thủ theo những quy định của nước mình về độ tuổi kết hôn mà còn phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam về độ tuổi kết hôn: nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên

Trang 39

Hiện nay, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ra đời và có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2015 quy định về độ tuổi là nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên Quy định phù hợp với kinh tế, đồng thời quy định này cho thấy sự nhất quán giữa các quy định Khi kết hôn chưa đủ tuổi sẽ sinh ra nhiều hệ lụy, cho nên việc quy định độ tuổi tròn (đủ) là cần thiết Với quy định độ tuổi theo luật hiện hành là không có sự nhất quán giữa các luật có liên quan, gây cản trở cho việc thực hiện và áp dụng pháp luật Các luật Việt Nam về năng lực hành vi luôn quy định độ tuổi tròn chỉ có Luật Hôn nhân và gia đình là quy định độ tuổi bước sang So với pháp luật một số nước, độ tuổi kết hôn theo pháp luật Việt Nam tương đối cao nhưng điều này thể hiện được trình độ văn hóa, phát triển của xã hội, nhận thức của con người giữa các nước khác nhau là khác nhau

2.1.2 Điều kiện về sự tự nguyện của các bên đối với việc kết hôn có yếu tố nước ngoài

Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đều

quy định: “việc kết hôn do nam nữ tự nguyên quyết định, không bên nào được ép buộc

bên nào, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở”, khoản 2 điều 9 Luật Hôn nhân và gia

đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010: “việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết

định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở”, quy định hành động “lừa dối” là quy định mới so với trước bởi tình hình thực tế khi

kết hôn có nhiều mục đích vụ lợi nên việc quy định như thế hạn chế đi nhiều

Sự tự nguyện kết hôn là hai bên nam nữ tự quyết định việc kết hôn và thể hiện ý chí thành vợ chồng với nhau, không bị tác động bởi bất kì ai, bởi một hành động nào khiến

họ kết hôn trái với ý chí, không đúng nguyện vọng Sự tự nguyện là cơ sở vững chắc cho một cuộc hôn nhân lâu dài và hạn chế được những vụ ly hôn không đáng có

Để xác định sự tự nguyện trong hôn nhân, pháp luật quy định: “Thực hiện phỏng

vấn trực tiếp tại trụ sở Sở Tư pháp đối với hai bên nam, nữ để kiểm tra, làm rõ về nhân thân, sự tự nguyện kết hôn và mức độ hiểu biết nhau của hai bên nam, nữ.”19, “khi phỏng

vấn, cán bộ Sở Tư pháp cần làm rõ sự tự nguyện, mục đích kết hôn của cả hai bên”20, và

“lễ đăng ký kết hôn được tổ chức trang trọng tại trụ sở Sở Tư pháp Khi tổ chức lễ đăng

ký kết hôn phải có mặt hai bên nam, nữ Đại diện Sở Tư pháp chủ trì hôn lễ, yêu cầu hai bên cho biết ý định lần cuối về sự tự nguyện kết hôn Nếu hai bên đồng ý kết hôn thì đại diện Sở Tư pháp ghi việc kết hôn vào Sổ đăng ký kết hôn, yêu cầu từng bên ký tên vào Giấy chứng nhận kết hôn, Sổ đăng ký kết hôn và trao cho mỗi bên vợ, chồng 01 bản

Trang 40

GVHD: ThS: Bùi Thị Mỹ Hương Trang 34 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Đang

chính Giấy chứng nhận kết hôn 21 ” Qua đó điều kiện về sự tự nguyện trong quan hệ kết

hôn có yếu tố nước ngoài rất quan trọng

Quyền kết hôn là quyền nhân thân không thể chuyển giao, vì vậy pháp luật quy định không thể đại diện đăng kí kết hôn, không cho phép sự vắng mặt của hai bên nam nữ nhằm đảm bảo cho ý chí và tình cảm của họ khi kết hôn Để bảo vệ hôn nhân không bị

gượng ép, lừa dối “người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ,

cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm”22

Kết hôn có yếu tố nước ngoài không phải là trường hợp ngoại lệ, vấn đề này lại càng thắc chặt hơn Đa phần các cuộc hôn nhân có yếu tố nước ngoài họ không có sự tự nguyện trên cơ sở là tình yêu và mục đích xây dựng gia đình mà sự tự nguyện này được xây dựng trên mục đích vụ lợi, vì vậy dù có sự tự nguyện nhưng sự tự nguyện đó không

vì mục đích xây dựng gia đình thì sẽ không được pháp luật công nhận

Quy định về sự tự nguyện trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài đã phần nào hạn chế được tình trạng hôn nhân vụ lợi, sự áp đặt của cha mẹ như trong thời kì phong kiến trước đó, góp phần quan trọng trong việc xây dựng một gia đình hạnh phúc, thế hệ tương lai được giáo dục hoàn thiện hơn

2.1.3 Việc kết hôn không thuộc các trường hợp cấm kết hôn

Ngoài những điều kiện được phép kết hôn, có những trường hợp không được phép kết hôn quy định tại điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm

2010, những quy định trong điều này là những điều kiện quan trọng trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài lẫn quan hệ kết hôn trong nước

 Điều kiện về tình trạng hôn nhân

Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “nam, nữ có

quyền kết hôn, ly hôn Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng,

vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau”23 Theo tinh thần chung của Hiến pháp thì Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010 khẳng định nguyên tắc trên

Điều 4 và khoản 2 điều 10 của Luật này: “cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn

hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng

mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”24, việc

Ngày đăng: 03/10/2015, 11:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm