1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đề tài: quyền tham gia quản lý nhà nước của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực lập

62 636 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 757,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng hợp những lí do trên, người viết tìm hiểu về “Quyền tham gia quản lý Nhà nước của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực lập pháp” để hoàn thành luận văn tốt nghiệp với mong muốn đ

Trang 1

KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

NIÊN KHÓA: 2011-2015

Đề tài:

QUYỀN THAM GIA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA

NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG LĨNH VỰC LẬP

PHÁP

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện :

Lớp: HG1165A1

Cần Thơ, Tháng 12/2014

Trang 2



Như chúng ta đã biết, không có sự thành công đi đến bước cuối cùng nào trong quá trình học tập mà không gắn liền với sự hỗ trợ từ thầy cô, gia đình và bạn bè Bản thân người viết cũng vậy, thời gian qua người viết đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp

đỡ, động viên từ đó người viết có động lực hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, người viết xin gởi lời cảm ơn chân thành đến thầy Thạch Huôn, người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho người viết rất nhiều trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn Nhờ có sự hướng dẫn và giúp đỡ từ thầy hôm nay người viết mới hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp của mình Đồng thời, người viết xin gởi lời cảm ơn đến quý thầy cô Khoa Luật, Khoa Phát Triển Nông Thôn nơi người viết gắn bó, học tập trong suốt thời gian khó khăn nhất khi về Hòa An, đã được thầy cô chỉ bảo, chăm lo rất nhiều Bên cạnh đó, người viết xin đặc biệt cảm ơn đến quý thầy cô trong Hội đồng bảo vệ luận văn tốt nghiệp đã cung cấp thêm cho người viết những kiến thức mới để người viết có thể phát hiện ra sai sót và hoàn thiện bài luận văn tốt nghiệp của mình Bởi, do kiến thức có hạn và thời gian hoàn thành đề tài nghiên cứu không nhiều vì thế không tránh khỏi những thiếu sót, nên người viết rất mong nhận được sự thông cảm từ quý thầy cô và xin ghi nhận những ý kiến đóng góp quý báo từ phía thành viên Hội đồng để người viết bổ sung kiến thức tốt hơn trong cuộc sống cũng như trong công việc sau này

Lời sau cùng, người viết xin chúc quý thầy cô Khoa Luật, Khoa Phát Triển Nông Thôn cùng các bạn sinh viên nhiều sức khỏe và nhiều thành công trong cuộc sống

Xin chân thành cảm ơn

Cần Thơ, ngày 10 tháng 12 năm 2014 Sinh viên thực hiện

Danh Thị Hồng Ngoan

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN



Cần Thơ, ngày 10 tháng 12 năm 2014

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN



Cần Thơ, ngày 10 tháng 12 năm 2014

Trang 5

PHỤ LỤC

Bảng thống kê số lượng Đại biểu Quốc Hội là người dân tộc thiểu số từ khóa I đến khóa

IX

TT Dân tộc Tổng số dân Đại biểu các khóa

I II III IV V VI VII VIII IX

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu đề tài 2

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN THAM GIA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 3

1.1 Khái niệm chung về người dân tộc thiểu số tham gia quản lý Nhà nước 3

1.1.1 Khái niệm quyền con người 3

1.1.2 Khái niệm dân tộc thiểu số 5

1.1.3 Khái niệm quyền của người dân tộc thiểu số 6

1.1.4 Khái niệm quyền tham gia quản lý Nhà nước 8

1.2 Sự phát triển của chế định quyền con người dân tộc thiểu số 11

1.2.1 Sự phát triển chế định quyền của con người thiểu số trên thế giới 12

1.2.2 Sự phát triển chế định quyền con người thiểu số ở Việt Nam 16

1.2.3 Mối liên hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về quyền con người 21

1.3 Khái quát về tình hình tham gia quản lý Nhà nước của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam 22

1.4 Mục đích, ý nghĩa của việc bảo vệ quyền của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam 25

1.4.1 Mục đích bảo vệ quyền của người dân tộc thiểu số 25

1.4.2 Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền của người dân tộc thiểu số 26

CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN THAM GIA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG LĨNH VỰC LẬP PHÁP 27

Trang 8

2.1.1 Quyền tham gia bầu cử, ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân các

cấp 28

2.1.2 Quyền giám sát hoạt động của Bộ máy Nhà nước 31

2.1.3 Quyền tiếp cận thông tin 33

2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật 38

2.2.1 Quyền tham gia bầu cử, ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp 38

2.2.2 Quyền giám sát hoạt động của Bộ máy Nhà nước 40

2.2.3 Quyền tiếp cận thông tin 41

2.3 Một số hạn chế và giải pháp nhằm phát huy quyền dân tộc thiểu số 44

2.3.1 Hạn chế và một số nguyên nhân 44

2.3.1.1 Hạn chế trong quy định của pháp luật 44

2.3.1.2 Hạn chế trong thực hiện pháp luật 46

2.3.1.3 Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại 46

2.3.2 Giải pháp 48

2.3.2.1 Rà soát và hệ thống hóa thường xuyên và có chất lượng các văn bản pháp luật liên quan đến các quyền cơ bản của các dân tộc thiểu số 48

2.3.2.2 Sửa đổi, bổ sung những quy định của pháp luật chưa phù hợp trong thực tế nhằm đảm bảo quyền tham gia quản lý Nhà nước của dân tộc thiểu số. 48

2.3.2.3 Có biện pháp chống hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử 49

2.3.2.4 Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức về các dân tộc thiểu số và các quyền của người thiểu số 50

KẾT LUẬN 51 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong lịch sử quyền con người đã từng là vấn đề xuyên suốt của các cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc và cho đến nay nó vẫn là một trong những vấn đề nỗi bật của thời đại chúng ta Trước hết, quyền con người được hiểu là những quyền cho mỗi cá nhân, quyền làm chủ bản thân, quyền khẳng định mình là một chủ thể với những quyền lợi, nghĩa vụ như mọi khác Trong số những quyền con người thì quyền chính trị, quyền được tham gia quản lý Nhà nước luôn được đề cập đầu tiên và dĩ nhiên đó cũng là quyền

vô cùng quan trọng đối với mỗi người

Đặc biệt hơn đối với một quốc gia đa dân tộc, các dân tộc có mối quan hệ chung sống gắn bó lâu đời bên nhau và có những đóng góp hết sức to lớn vào công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm để giành và giữ gìn độc lập, xây dựng tổ quốc như Việt Nam Muốn giữ gìn và phát triển truyền thống tốt đẹp trong suốt tiến trình hàng nghìn năm lịch

sử đó trước sự nghiệp đổi mới hiện nay, các dân tộc thiểu số cùng sát cánh dân tộc đa số phấn đấu vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” thì quyền tham gia quản lý Nhà nước cần phải được đảm bảo hơn đối với các dân tộc thiểu

số

Nhận thức rõ điều đó, nên ngay khi bản Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam ta năm

1946 được ban hành đã lập tức ghi nhận các dân tộc đều có quyền ngang nhau về mọi phương diện cũng như đảm bảo sự bình đẳng trước pháp luật của các dân tộc Tuy nhiên, mặc dù đã ghi nhận quyền bình đẳng giữa các dân tộc, có thể là do nhiều nguyên nhân lịch sử để lại và trên thực tế một số người vẫn tồn tại những định kiến xấu đối với dân tộc thiểu số và còn ảnh hưởng nặng nề, đã gây trở ngại, khó khăn đến đời sống chính trị, kinh

tế, văn hóa và xã hội Ngoài ra, một phần do sự phân hóa giàu nghèo giữa các dân tộc vẫn còn ở khoảng cách khá xa, đặc biệt là giữa dân tộc đa số và các dân tộc thiểu số Vì vậy, nhận thức của phần lớn các dân tộc thiểu số về những quyền cụ thể của mình, đặc biệt là quyền chính trị còn rất hạn chế Từ đó, cơ bản là ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của đất nước, đòi hỏi Nhà nước phải thay đổi kịp thời cũng như sự hoàn thiện của Hiến pháp và pháp luật về quyền của các dân tộc thiểu số cụ thể là quyền tham gia quản lý Nhà nước, đó là một trong những bước đi quan trọng nhất

Tổng hợp những lí do trên, người viết tìm hiểu về “Quyền tham gia quản lý Nhà

nước của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực lập pháp” để hoàn thành luận văn tốt

nghiệp với mong muốn được góp một phần nhỏ vào công tác xây dựng hệ thống pháp luật về quyền con người, những quan niệm cũng như thái độ, cách ứng xử của người dân

Trang 10

tộc thiểu số về vấn đề “quyền” mà mình được hưởng đồng thời, hiểu biết một cách đúng đắn và sâu sắc về quyền của các dân tộc thiểu số mà pháp luật quy định

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích người viết nghiên cứu về quyền tham gia quản lý Nhà nước của người dân

tộc thiểu số trong lĩnh vực lập pháp là mong muốn được góp chút hiểu biết của mình để

làm rõ thêm quy định của pháp luật về những quyền vốn có của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực chính trị Đồng thời qua đó người viết cũng muốn rút ra được những tồn tại, thiếu sót cần được khắc phục và đề xuất phương hướng giải pháp nhằm đổi mới việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở trong nước Việt Nam ta

3 Phạm vi nghiên cứu

Trong giới hạn thời gian để hoàn thành luận văn tốt nghiệp cho phép, ngoài đi khái quát chung về quyền con người và dân tộc thiểu số thì khi xem xét quyền của dân tộc thiểu số trong hệ thống pháp luật Việt Nam người viết chỉ tập trung chủ yếu vào những quyền mà người dân tộc thiểu số được tham gia quản lý Nhà nước theo pháp luật quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật cho lĩnh vực cụ thể này, sau đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy và đảm bảo quyền của dân tộc thiểu số trong hệ thống pháp luật Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu thông qua những chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, cùng với phương pháp phân tích luật viết, phương pháp nghiên cứu tổng hợp từ các tạp chí, sách báo cũng như những tài liệu nghiên cứu từ các thông tin pháp lý trên Internet… Bên cạnh đó, người viết còn tham khảo một số sự kiện xảy ra thực

tế trong lĩnh vực tham gia quản lý Nhà nước của người dân tộc thiểu số trên các phương tiện thông tin đại chúng để phục vụ cho việc nghiên cứu

Chương 2 Những quy định của pháp luật về quyền tham gia quản lý Nhà nước của

người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực lập pháp

Trang 11

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN THAM GIA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA

NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1.1 Khái niệm chung về người dân tộc thiểu số tham gia quản lý Nhà nước

1.1.1 Khái niệm quyền con người

Quyền con người là những yếu tố cơ bản, là nền tảng của một xã hội dân chủ, văn minh Tư tưởng về quyền con người đã hình thành từ rất sớm trong lịch sử nhân loại Nhưng không phải trong bất cứ hình thái kinh tế - xã hội nào, trong bất cứ kiểu Nhà nước nào nó cũng tồn tại và được thừa nhận một cách đầy đủ Vì thế, quyền con người là một phạm trù lịch sử và là kết quả của cuộc đấu tranh không ngừng của toàn nhân loại vươn tới những lý tưởng, giải phóng hoàn toàn con người nhằm xây dựng một xã hội thật sư công bằng, dân chủ, nhân đạo

Chính vì quyền con người được sinh ra từ khác vọng bảo vệ nhân phẩm của con người và để hàng triệu con người sinh ra có thể biết được quyền của mình bao gồm những quyền gì nên hàng loạt những khái niệm, định nghĩa về quyền con người được nêu

ra

Một trong số đó có định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hiệp Quốc về quyền con

người “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá

nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người” 1 Đây là định nghĩa được

nhìn nhận ở cấp độ quốc tế với nội dung quyền được công nhận trên phạm vi toàn cầu và một điều rõ ràng ở đây chính là những giá trị cao cả của mọi thành viên trong nhân loại luôn được tôn trọng, bảo vệ Bởi quyền con người là một vấn đề khá phức tạp liên quan đến nhiều lĩnh vực như đạo đức, chính trị, pháp lý…vì vậy một định nghĩa khác rất phổ

biến thường được trích dẫn bởi các học giả theo học thuyết quyền tự nhiên: “Quyền con

người là những quyền cơ bản, không thể tước bỏ mà một người vốn được thừa hưởng đơn giản vì họ là con người”, nhằm khẳng định mọi người khi sinh ra đều có quyền được

bình đẳng như mọi người khác và tạo hóa đã ban cho họ những quyền cơ bản nhất như quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc… họ được quyền sử dụng quyền của chính mình để bảo đảm cuộc sống của bản thân, họ được làm bất cứ điều gì mà mình cho là đúng đắn hợp lý mà không ai có quyền tước đi những quyền đó

Một số định nghĩa về quyền con người khác cũng được nêu ra tại Việt Nam do một

số chuyên gia, cơ quan nghiên cứu Tuy không hoàn toàn giống nhau nhưng nhìn chung

Trang 12

quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con

người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc

tế 2 Ngoài ra, theo Từ điển bách khoa Việt Nam “Quyền con người, tổng hợp các quyền

và các tự do cơ bản để đánh giá về địa vị pháp lí của cá nhân Các quyền kinh tế - xã hội

là cốt lõi của quyền con người…”.3

Hay “Quyền con người là nhân phẩm, các nhu cầu

(vật chất và tinh thần), lợi ích cùng với nghĩa vụ của con người được thể chế hóa trong các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia”.4

Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng cơ bản nhất thì quyền con người chính là quyền không bị phân biệt quốc tịch, nơi cứ trú, giới tính, nguồn gốc quốc gia hay dân tộc, màu da, tôn giáo, ngôn ngữ hay bất kỳ một thân phận nào khác Mọi người được hưởng các quyền của mình một cách bình đẳng và không phân biệt đối xử Những quyền

này có mối quan hệ, phụ thuộc lẫn nhau và không thể tách rời Dưới bình diện đạo đức,

quyền con người là giá trị xã hội cơ bản, vốn có (những đặc quyền) của con người như

nhân phẩm, bình đẳng xã hội, tự do ; dưới bình diện pháp lý, để trở thành quyền, những

đặc quyền phải được thể chế hóa bằng các chế định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia

Từ các định nghĩa nêu trên ta thấy những người theo quan niệm của học thuyết về tự

nhiên (natural rights112) mà tiêu biểu là các tác giả như Zeno (333-264 TCN), Thomas

Hobbes (1588- 1679), John Locke (1632-1704), Thomas Paine (1731- 1809) thì cho rằng quyền con người là bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng, chỉ đơn giản bởi họ là thành viên của gia đình nhân loại.5 Nó không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay nhà nước nào Vì vậy, không một chủ thể nào, kể cả các nhà nước, có thể ban phát hay tước bỏ các quyền con người bẩm sinh, vốn có của các cá nhân Ngược lại, những người theo quan niệm của học thuyết về pháp lý (legal rights) trong đó có các tác giả như Edmund Burke (1729- 1797), Jeremy Bentham (1748 -1832) lại cho rằng, các quyền con người không phải là những gì bẩm sinh, vốn có một cách tự nhiên mà phải do các nhà nước xác định và pháp điển hóa thành các quy phạm pháp luật hoặc xuất phát từ truyền thống văn hóa Như vậy, theo học thuyết về pháp lý, phạm vi, giới hạn và ở góc độ nhất định, cả thời hạn hiệu lực của các quyền con người phụ thuộc vào ý chí của tầng lớp thống trị và các yếu tố như phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa của các xã hội

3 Từ điển bách khoa Việt Nam tập 3, Nxb từ điển bách khoa, Hà Nội, 2003, tr 77

Nội, 2009, tr.19

Đại học quốc gia Hà Nội, 2009, tr 39-40

Trang 13

Cho đến nay, cuộc tranh luận về tính đúng đắn của hai học thuyết trên vẫn còn xảy

ra Việc phân định tính chất đúng, sai, hợp lý hay không hợp lý của hai học thuyết này là không đơn giản do chúng liên quan đến một phạm vi rộng lớn các vấn đề triết học, chính trị, xã hội, đạo đức, pháp lí… Mặc dù vậy, dường như quan điểm cực đoan phủ nhận hoàn toàn bất cứ học thuyết nào trong hai học thuyết kể trên đều không phù hợp, bởi lẽ trong khi về hình thức, hầu hết các văn kiện pháp luật của các quốc gia đều thể hiện các quyền con người là các quyền pháp lý, thì trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 và một số văn kiện pháp luật ở một số quốc gia, quyền con người được khẳng định một cách rõ ràng là các quyền tự nhiên, vốn có và không thể tước bỏ được của mỗi cá nhân Cụ thể, ở góc độ quốc tế, Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người

(đoạn 1, Lời mở đầu) nêu rằng: …thừa nhận phẩm giá vốn có và các quyền bình đẳng và

không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại Ở góc độ quốc gia,

Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1776) nêu rằng: …mọi người sinh ra

đều có quyền bình đẳng Tạo hóa ban cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc… 6

Dù nhìn dưới góc độ nào, ở cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như

là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ Những chuẩn mực này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con người, cho tất

cả mọi người Nhờ có những chuẩn mực này, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới được bảo vệ nhân phẩm và mới có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người

Khái niệm quyền con người là một khái niệm năng động và thay đổi mở rộng Tuy nhiên cần phải duy trì bản chất của khái niệm này đó là mỗi cá nhân đều có những quyền nhất định không thể chuyển nhượng và có thể được thi hành một cách hợp pháp

1.1.2 Khái niệm dân tộc thiểu số

Trên thế giới ngày nay thường dùng các thuật ngữ như dân tộc bản địa, dân tộc thiểu

số bản địa, bộ lạc, bộ tộc, sắc tộc, tộc người, dân tộc thiểu số, dân tộc ít người… Sự tồn tại của nhiều thuật ngữ này là do nhiều nguyên nhân khác nhau qua các thời kỳ lịch sử của từng quốc gia và mỗi quốc gia có thể là có định nghĩa khác nhau tùy theo từng bộ môn nghiên cứu hay quan điểm của mỗi quốc gia

Trong đó “Dân tộc thiểu số” là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay Các học giả phương Tây quan niệm rằng, đây là một thuật ngữ chuyên ngành dân tộc học (minority ethnic) dùng để chỉ những dân tộc có dân số ít Trong một số

Đại học quốc gia Hà Nội, 2009, tr 40-41

Trang 14

trường hợp, người ta đánh đồng ý nghĩa “dân tộc thiểu số” với “dân tộc lạc hậu”, “dân tộc chậm tiến”, “dân tộc kém phát triển”, “dân tộc chậm phát triển”… Có nhiều nguyên nhân, trong đó có sự chi phối bởi quan điểm chính trị của giai cấp thống trị trong mỗi quốc gia Còn theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc thì khái niệm “dân tộc thiểu số” không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc mà chỉ mang ý nghĩa đơn thuần

về mặt số lượng

Như vậy, khái niệm “dân tộc thiểu số” dùng để chỉ những dân tộc có số dân ít, chiếm tỉ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc gia đa dân tộc Khái niệm “dân tộc thiểu số” cũng không có ý nghĩa biểu thị tương quan so sánh về

số dân giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới Một dân tộc có thể được quan niệm là “đa số” ở quốc gia này, nhưng đồng thời có thể là “thiểu số” ở quốc gia khác Chẳng hạn người Việt (Kinh) được coi là “dân tộc đa số” ở Việt Nam, nhưng lại được coi là “dân tộc thiểu số” ở Trung Quốc (vì chỉ chiếm tỉ lệ 1/55 dân tộc thiểu số của Trung Quốc); ngược lại người Hoa (Hán), được coi là “dân tộc đa số” ở Trung Quốc, nhưng lại là dân tộc thiểu số ở Việt Nam (người Hoa chiếm tỉ lệ 1/53 dân tộc thiểu số của Việt Nam).7

Mặc dù, cho đến thời điểm này, vẫn chưa có một định nghĩa nào về “dân tộc thiểu số” (minorities) được chính thức xác nhận trong bất cứ văn kiện quốc tế nào của Liên Hiệp Quốc nhưng qua những điều phân tích trên hiện tại ở Việt Nam ta đã có khái niệm

thống nhất về dân tộc thiểu số, đó là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số

trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 8

1.1.3 Khái niệm quyền của người dân tộc thiểu số

Cho đến thời điểm này, vẫn chưa có một định nghĩa nào về “dân tộc thiểu số” (minorities) được chính thức xác nhận trong bất cứ văn kiện quốc tế nào của Liên Hiệp Quốc.9 Tuy nhiên, những quyền dành cho các dân tộc thiểu số được thể hiện rất nhiều qua điều Công ước và tuyên bố Chẳng hạn như điều 27 của Công ước quốc tế về dân sự, chính trị nêu rõ “ở các quốc gia có các nhóm thiểu số về sắc tộc, tôn giáo và ngôn ngữ, những thành viên của các nhóm thiểu số đó, cùng với các thành viên khác của cộng đồng mình, không bị khước từ quyền có đời sống văn hóa riêng, quyền được theo và thực hành tôn giáo riêng, hoặc quyền được sử dụng ngôn ngữ riêng của họ”… Hay ngay Trong

7 Lô Quốc Toản: Quan niệm về “dân tộc thiểu số” và “cán bộ dân tộc thiểu số” hiện nay,

http://www.mattran.org.vn/home/TapChi/so%2047/diendanddkdt1.htm#4, [truy cập ngày 12-8-2014 ]

khoản 2

9 Võ Khánh Vinh: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về các quyền mới xuất hiện trong quá trình phát triển, Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội, 2012, tr 35

Trang 15

Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa trước đây và của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày nay, việc khẳng định quyền bình đẳng của các dân tộc thiểu số đều được ghi tại các chương đầu: Chương I (Hiến pháp năm 1959, 1992) hoặc Chương II (Hiến pháp năm 1946, 1980, 2013) sau khi khẳng định: Nước Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, là một khối thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, không thể chia cắt, mỗi công dân Việt Nam có quyền, nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc Qua văn bản, dễ nhận thấy các bản Hiến pháp đã bám sát các mục tiêu, nhiệm vụ mà lịch sử dân tộc đang đòi hỏi ở những giai đoạn cách mạng khác nhau nhưng đều nhất quán nêu bật tinh thần: Các dân tộc thiểu số có quyền bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau để cùng tiến bộ Mặc dù đã được đề cập với ý nghĩa là chủ thể của các quyền con người nói chung, song có những đặc trưng riêng, dân tộc thiểu số được coi là một trong các nhóm xã hội rất dễ bị tổn thương, cần phải được bảo vệ đặc biệt

Từ khi Liên hợp quốc được thành lập, người thiểu số đã được thừa nhận là những chủ thể bình đẳng trong việc hưởng thụ các quyền con người như những nhóm, cộng đồng khác trong gia đình nhân loại Người thiểu số cũng là những chủ thể bình đẳng trong việc hưởng thụ các quyền con người, tức là đã được bảo vệ bằng các cơ chế, văn kiện quốc tế trên lĩnh vực này Tuy nhiên, vẫn phải thiết lập các cơ chế văn kiện về quyền của người thiểu số

Tuy chưa có định nghĩa chính thức chung nào đưa ra về quyền dân tộc thiểu số

nhưng có một số quan điểm cho rằng quyền của dân tộc thiểu số chỉ được xem xét dưới góc độ cá nhân, bởi hầu hết các văn kiện quốc tế cơ bản nhất có liên quan đến bảo vệ người thiểu số như Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966 (Điều 27), Tuyên ngôn về quyền của những người thuộc nhóm thiểu số về chủng tộc hoặc dân tộc, ngôn ngữ hoặc tôn giáo năm 1992… đều đề cập đến vấn đề cá nhân, và thường với một cách diễn đạt là “… quyền của những người

thuộc nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ” (the rights of

persons belonging to national or ethnic, religious or linguistic minỏities), 10 chứ không

phải đề cập đến quyền của người thiểu số với ý nghĩa là các quyền của nhóm hoặc các quyền tập thể Quan niệm này phản ánh lo ngại của các quốc gia về những rắc rối có thể phát sinh như dẫn tới hành động đòi ly khai của các dân tộc thiểu số, đe dọa sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước nếu thừa nhận các quyền của dân tộc thiểu số với ý nghĩa là quyền tập thể Bên cạnh đó, cũng có quan điểm cho rằng: quyền dân tộc thiểu số không chỉ được xem xét thông qua các cá nhân, mà còn phải được xem xét như một nhóm (group), một cộng đồng (community) hoặc một dân tộc (people) và vì vậy, các quyền của người

số” trong luật quốc tế, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 10, 2002, tr 71

Trang 16

thiểu số cần được xem xét dưới cả hai góc độ các quyền cá nhân và các quyền của nhóm hay các quyền tập thể

Theo quan điểm của người viết thì quan điểm thứ hai mang nhiều yếu tố hợp lý hơn Trên thực tế, không nên và không thể chia tách vấn đề quyền của người thiểu số thành hai khía cạnh riêng biệt: quyền của cá nhân hay quyền của nhóm hoặc quyền của tập thể bởi

lẽ, con người tồn tại trong thể thống nhất giữa mặt cá nhân và mặt xã hội Không có con người riêng lẻ mà chỉ có con người với nghĩa là những thành viên của xã hội loài người Mặc dù cách diễn đạt trong hầu hết các văn kiện quốc tế liên quan đến người thiểu

số đúng là nhấn mạnh tính chất của các quyền cá nhân, tuy nhiên các văn kiện này cũng đồng thời xác định, các cá nhân thuộc nhóm các dân tộc thiểu số có thể thụ hưởng các quyền đó một mình hoặc cùng với thành viên khác của dân tộc mình Bên cạnh đó các văn kiện này cũng đồng thời thừa nhận một loạt các quyền của người thiểu số mà xét về cách thức thực hiện, hưởng thụ, chúng mang tính chất quyền của nhóm hoặc các quyền tập thể (ví dụ như quyền được hưởng thụ nền văn hóa, được thực hành tôn giáo, được sử dụng tiếng nói, chữ viết riêng…)

Tóm lại, dù xét dưới góc độ là quyền cá nhân hay quyền của nhóm thì quyền của dân tộc thiểu số cũng đều hướng đến nhu cầu và lợi ích của người thiểu số Tuy nhiên, cũng cần nhắc lại giới hạn của khái niệm này, mặc dù có lúc được diễn đạt bằng thuật ngữ “Các dân tộc thiểu số”, nhưng trong luật quốc tế về nhân quyền, các quyền của người thiểu số không bao gồm quyền độc lập, tự quyết về chính trị,11 với ý nghĩa là quyền của một quốc gia dân tộc – chủ thể cơ bản của công pháp quốc tế

1.1.4 Khái niệm quyền tham gia quản lý Nhà nước

Để hiểu rõ về khái niệm “quyền tham gia quản lý Nhà nước”, trước tiên chúng ta

nên lần lượt tìm hiểu về các khái niệm: Quyền là gì? Quản lý là gì? Nhà nước là gì? Và,

quản lý Nhà nước là gì?

Theo từ điển tiếng Việt, “Quyền” là những cái mà pháp luật, xã hội, phong tục hay

lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành… và, khi thiếu được yêu cầu để có, nếu

bị tước đoạt có thể đòi hỏi để giành lại…

Vậy quản lý là gì? Xét trên phương diện nghĩa của từ quản lý thường được hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó Mặt khác, quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luật khách quan Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa

trong luật quốc tế, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 10, 2002, tr 72

Trang 17

nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại,

xã hội, chế độ nghề nghiêp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau Bởi vai trò đặc biệt quan trọng của quản lý đối với sự phát triển kinh tế, xã hội đã xuất hiện rất nhiều công trình nghiên cứu về lý thuyết và thực hành quản lý với nhiều cách tiếp cận khác nhau Có thể nêu ra một số cách tiếp cận như sau: tiếp cận theo kinh nghiệm; tiếp cận theo hành vi quan hệ cá nhân; tiếp cận theo lý thuyết quyết định; tiếp cận toán học; tiếp cận theo các vai trò quản lý…

Từ những cách tiếp cận khác nhau đó, có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý như:

- Quản lý là nghệ thuật nhằm đạt mục đích thông qua nỗ lực của người khác

- Quản lý là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm đưa ra các quyết định

- Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những cộng sự trong cùng một tổ chức

- Quản lý là chức năng vốn có của mọi tổ chức, mọi hành động của các cá nhân, các

bộ phận trong tổ chức có sự điều khiển từ trung tâm, nhằm thực hiện mục tiêu chung của

tổ chức

- Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất

- Quản lý là quá trình phối hợp các nguồn lực nhằm đạt được những mục đích của

tổ chức, hoặc đơn giản hơn nữa, quản lý là sự có trách nhiệm về một cái gì đó…

Theo cách tiếp cận hệ thống, mọi tổ chức (cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp…) đều có thể được xem như một hệ thống gồm hai phân hệ: chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu

Từ đó có thể đưa ra khái niệm: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích

của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động

Khái niệm Nhà nước được hiểu là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một

bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt

Trang 18

nhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện mục đích bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị trong

xã hội Do đó quản lý nhà nước là khâu rất quan trọng trong quá trình phát triển nhà nước Hiểu theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của bộ máy nhà nước nghĩa là sự tác động, tổ chức quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp, tư pháp Hay nói cách khác, quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành

xã hội của các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền lực nhà nước, thông qua các văn bản quy phạm pháp luật Theo cơ chế này, quản lý nhà nước được đặt trong cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân lao động làm chủ" Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống

cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước

Giáo trình quản lý hành chính nhà nước đưa ra khái niệm: “Quản lý nhà nước là sự

tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội

và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN” 12

Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được

sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt

Tuy quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện nhưng, Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân và mục tiêu quản lý nhà nước là phục vụ Nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của toàn

xã hội nên Nhân dân có quyền tham gia quản lý nhà nước Do vậy, theo quan điểm của người viết không chỉ có các cơ quan quyền lực nhà nước có quyền tham gia quản lý nhà nước mà quyền tham gia quản lý nhà nước ở đây còn là quyền của mọi công dân Việt Nam

Mặc dù chưa có khái niệm cụ thể nào đưa ra về quyền tham gia quản lý nhà nước nhưng qua các khái niệm và những phân tích nêu trên theo cách hiểu của người viết thì:

Quyền tham gia quản lý nhà nước là quyền tham gia xây dựng bộ máy nhà nước và các

tổ chức xã hội; tham gia bàn bạc, tổ chức thực hiện, giám sát và đánh giá các hoạt động của Nhà nước và xã hội

12 Học viện hành chính quốc gia, Giáo trình quản lý hành chính nhà nước tập 1, Nxb H : Lao động, 2011, tr 407

Trang 19

Bên cạnh đó, một định nghĩa trong Từ điển Luật học do nhà xuất bản Từ điển Bách

Khoa của Việt Nam ấn hành năm 1999 cho rằng, quyền chính trị là: “quyền tham gia

quản lý nhà nước của công dân” tức đồng nghĩa với quyền tham gia quản lý nhà nước là

một phần của quyền chính trị, hay nói cách khác quyền tham gia quản lý nhà nước là một tập con của quyền chính trị Đó là quyền quan trọng nhất của công dân, đảm bảo cho công dân thực hiện quyền làm chủ nhà nước, làm chủ xã hội, được thực hiện bằng nhiều

hình thức khác nhau như: quyền bầu cử, quyền ứng cử vào các cơ quan quyền lực nhà

nước; quyền đóng góp ý kiến vào việc xác định các chính sách để xây dựng và phát triển mọi mặt kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng, đối nội, đối ngoại của đất nước; quyền tham gia xây dựng pháp luật, tham gia giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội; kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý… 13

1.2 Sự phát triển của chế định quyền con người dân tộc thiểu số

Ý thức về nhân quyền và thực hiện nhân quyền là một quá trình lịch sử lâu dài gắn với lịch sử phát triển loài người và giải phóng con người qua các hình thái kinh tế - xã hội và các giai đoạn đấu tranh giai cấp qua đó quyền con người trở thành giá trị chung của toàn nhân loại

Jacques Mourgon – một học giả nỗi tiếng thế giới đã cho rằng “…quyền con người

không có lịch sử… vì lịch sử, nếu có, thì hình như rất hỗn độn Nó pha lẫn những lập lại, những xen kẽ, những tương phản và những đứt đoạn giữa những bước tiến triển và những bước thụt lùi” 14 Thế nhưng quyền con người nói chung không phải là điều gì siêu

nhiên xa rời thực tế, có lẽ tư tưởng về quyền con người được khởi tạo từ nền văn minh cổ đại của xã hội loài người chúng ta và chế định quyền con người thiểu số cũng vậy Sự phát triển của nó hoàn toàn phụ thuộc vào hình thái xã hội loài người, bước qua từng thời

kỳ, nhân quyền ngày càng được hoàn thiện hơn

1.2.1 Sự phát triển chế định quyền của con người thiểu số trên thế giới

Được chính thức pháp điển hóa trong luật quốc tế kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, quyền con người hiện đã trở thành một hệ thống các tiêu chuẩn pháp luật quốc tế có tính chất bắt buộc với mọi quốc gia, và việc tôn trọng, bảo vệ các quyền con người hiện

đã trở thành thước đo căn bản về trình độ văn minh của các nước và các dân tộc trên thế giới Thúc đẩy, bảo vệ quyền con người, cả trong pháp luật và thực tiễn, là nghĩa vụ và cần sự đóng góp của tất cả các quốc gia, dân tộc, giai cấp, tầng lớp và cá nhân, chứ không phải chỉ riêng của một quốc gia, dân tộc, giai cấp hay nhóm người nào Để đạt được

13

Từ điển Luật học Việt Nam, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội - năm 2004

Chí Minh, Hà Nội, năm 1995, tr 11

Trang 20

những mục tiêu trong lĩnh vực này, nhân loại đang hướng tới xây dựng một “nền văn hóa nhân quyền” ở mọi cấp độ, trong đó kết hợp hài hòa những đặc thù và giá trị truyền thống tốt đẹp của các dân tộc với các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế được thừa nhận chung về nhân phẩm và giá trị của con người

Trong luật nhân quyền quốc tế, phần nội dung về quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương chiếm vị trí rất quan trọng Kể từ khi Liên Hợp Quốc thành lập (1945), nhiều văn kiện quốc tế về nhân quyền đã được tổ chức này thông qua, trong đó có một số lượng ngày càng nhiều văn kiện đề cập đến quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương, bao gồm cả quyền của người dân tộc thiểu số Sau đây là một số văn kiện tiêu biểu thể hiện quyền của người dân tộc thiểu số mà người viết tìm hiểu

* Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 (ICCPR)

Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966 là một công ước quốc tế do Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 16 tháng 12 năm 1966 và có hiệu lực từ ngày 23 tháng 3 năm 1976, nêu tổng quan các quyền dân sự và chính trị cơ bản của con người Theo những nguyên tắc nêu trong Hiến chương Liên Hợp Quốc, công ước tiếp tục công nhận phẩm giá vốn có và những quyền bình đẳng bất di dịch của mọi thành viên trong cộng đồng nhân loại là nền tảng cho tự do, công lý và hoà bình trên thế giới Bên cạnh đó, nhận thấy được vẫn còn một số nhóm người yếu thế trong xã hội mặc dù hiện tại

đã có nhiều văn kiện nêu cao giá trị quyền con người như đã nêu trên, bao gồm cả “người thiểu số” một trong những nhóm người dễ bị tổn thương trên thế giới đang cần lắm sự quan tâm ủng hộ từ phía cộng đồng quốc tế

Chính vì thế, tại điều 27 công ước đã ghi nhận quyền cụ thể của nhóm người này như sau: “Ở những quốc gia có nhiều nhóm thiểu số về sắc tộc, tôn giáo và ngôn ngữ, những cá nhân thuộc các nhóm thiểu số đó, cùng với những thành viên khác của cộng đồng mình, không bị khước từ quyền có đời sống văn hoá riêng, quyền được theo và thực hành tôn giáo riêng, hoặc quyền được sử dụng ngôn ngữ riêng của họ” Như vậy, Điều 27 ICCPR đã ấn định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong việc bảo vệ các quyền liên quan đến bảo tồn phong tục tập quán; bảo tồn ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết); bảo tồn tôn giáo, tín ngưỡng của các nhóm thiểu số Tất cả các khía cạnh này, thực chất chỉ nhằm vào một vấn đề chung là bảo tồn bản sắc theo nghĩa rộng nhằm chống sự đồng hoá các nhóm thiểu số Liên quan đến quy định của Điều 27, Uỷ ban nhân quyền – cơ quan giám sát thực hiện ICCPR - trong Nhận định chung số 23 thông qua tại phiên họp lần thứ 55 năm

Trang 21

1994 đã giải thích thêm một số khía cạnh, mà có thể tóm tắt những điểm quan trọng như sau:15

- Thứ nhất: Điều 27 ICCPR đã xác lập một quyền của riêng các nhóm thiểu số (quyền của nhóm), mà có tính chất khác với các quyền cá nhân được ghi nhận trong Công ước Tuy nhiên, quyền của người thiểu số không trùng lặp với quyền tự quyết dân tộc được nêu ở Điều 1 cũng như với quyền bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo

vệ một cách bình đẳng như nêu ở Điều 26 ICCPR (các đoạn 1 và 2)

- Thứ hai: Sự khác nhau giữa quyền tự quyết dân tộc nêu ở Điều 1 và các quyền của người thiểu số nêu ở Điều 27 là ở chỗ, quyền tự quyết dân tộc là quyền tập thể của cả dân tộc, được quy định trong một phần riêng của ICCPR, và không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định thư tùy chọn của Công ước; trong khi các quyền nêu ở Điều 27 là quyền của các cá nhân thành viên của các nhóm thiểu số, được quy định trong phần chung về các quyền cá nhân của ICCPR, và thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định thư tùy chọn của Công ước (đoạn 3)

- Thứ ba: Việc bảo đảm các quyền của người thiểu số nêu ở Điều 27 không làm tổn hại đến chủ quyền hay toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia thành viên Một hoặc nhiều khía cạnh của các quyền của cá nhân được bảo vệ theo Điều 27 – cụ thể như quyền được hưởng nền văn hóa riêng của cộng đồng - có thể bao gồm cả những khía cạnh về cách sống của cộng đồng đó mà gắn liền với một vùng lãnh thổ và việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở trên đó Điều này đặc biệt đúng với các thành viên của các cộng đồng người bản địa mà đồng thời là một nhóm thiểu số (đoạn 3)

- Thứ tư: Các quyền được bảo vệ theo Điều 27 cũng không đồng nhất với những quyền được bảo vệ theo Điều 2(1) và Điều 26 Cụ thể, quyền không bị phân biệt đối xử quy định trong Điều 2(1) và quyền bình đẳng trước pháp luật quy định ở Điều 26 được áp dụng cho tất cả các cá nhân ở trong lãnh thổ hoặc nằm trong phạm vi tài phán của một quốc gia, bất kể họ thuộc vào cộng đồng thiểu số hay không, trong khi các quyền quy định ở Điều 27 chỉ áp dụng với những cá nhân thuộc các nhóm thiểu số Liên quan đến vấn đề này, một số quốc gia thành viên tuyên bố rằng, họ không phân biệt về các lĩnh vực dân tộc, ngôn ngữ hay tôn giáo khi áp dụng các Điều 2(1) và Điều 26 và nhầm lẫn rằng như vậy có nghĩa là, họ không có vấn đề gì cần làm thêm liên quan đến quyền của các nhóm thiểu số (đoạn 4)

- Thứ năm: Các thuật ngữ được sử dụng trong Điều 27 chỉ rõ rằng, những người cần được bảo vệ là những người thuộc một nhóm và có cùng một nền văn hóa, tín ngưỡng và

Đại học quốc gia Hà Nội, 2009, tr 321-323

Trang 22

cùng một ngôn ngữ Thêm vào đó, những thuật ngữ này cũng chỉ rõ rằng, các cá nhân cần được bảo vệ không nhất thiết phải là công dân của một quốc gia thành viên Về mặt này, nghĩa vụ quốc gia phát sinh từ Điều 2(1) cũng là thích hợp, vì một quốc gia thành viên ICCPR được yêu cầu bảo đảm các quyền ghi nhận trong Công ước được áp dụng với tất

cả các cá nhân đang ở trong lãnh thổ và thẩm quyền tài phán của họ, ngoại trừ các quyền chỉ áp dụng cho các công dân nước sở tại, ví dụ như: các quyền bầu cử và ứng cử nêu ở Điều 25 Vì vậy, một quốc gia thành viên không thể tự giới hạn việc áp dụng các quyền trong Điều 27 cho những cá nhân thuộc các nhóm thiểu số là công dân của nước mình Nói cách thành viên phải bảo đảm các quyền quy định trong Điều 27 được áp dụng với các nhóm thiểu số khác như người lao động di trú, khách du lịch nước ngoài (đoạn 5)

- Thứ sáu: Quyền của các cá nhân thuộc một nhóm thiểu số được sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng mình không đồng nhất với các quyền khác về ngôn ngữ được ghi nhận trong ICCPR Đặc biệt, quyền này phải được phân biệt với quyền tự do ngôn luận nêu ở Điều 19 Quyền tự do ngôn luận ở Điều 19 áp dụng cho tất cả mọi người, bất kể họ thuộc

về nhóm thiểu số nào hay không, trong khi quyền về ngôn ngữ trong Điều 27 chỉ áp dụng với thành viên của các nhóm thiểu số cụ thể Quyền sử dụng ngôn ngữ thiểu số trong Điều 27 cũng không đồng nhất với quyền sử dụng ngôn ngữ trước Tòa án nêu ở Điều 14 (3,f) Theo Điều 14 (3,f), không phải bất cứ trường hợp nào cũng cho phép người bị buộc tội có quyền sử dụng ngôn ngữ họ lựa chọn trong quá trình xét xử, trong khi Điều 27 không giới hạn việc sử dụng ngôn ngữ thiểu số ở trong bất cứ môi trường nào (đoạn 5)

- Thứ bảy: Bản chất của các quyền được bảo vệ theo Điều 27 là các quyền cá nhân,

và khả năng thực hiện chúng phụ thuộc vào việc các nhóm thiểu số có thể giữ gìn được nền văn hóa, ngôn ngữ hay tôn giáo của họ hay không Do vậy, các quốc gia thành viên cũng cần có các biện pháp tích cực, chủ động để bảo vệ bản sắc của các nhóm thiểu số Khi thực hiện các biện pháp tích cực như vậy, cần phải tôn trọng quy định ở các Điều 2(1) và Điều 26 và phải bảo đảm mối quan hệ bình đẳng giữa các nhóm thiểu số với nhau

và giữa các nhóm thiểu số với bộ phận dân cư còn lại (đoạn 6)

- Thứ tám: Quyền về văn hóa nêu ở Điều 27 thể hiện dưới nhiều hình thức, bao gồm

cả cách sống và đặc biệt liên quan tới cách sử dụng tài nguyên đất, nhất là trong trường hợp áp dụng với những nhóm người bản địa Cụ thể, quyền đó có thể bao gồm cả các hoạt động truyền thống như đánh bắt cá, săn bắn thú rừng và quyền được sống trong các khu bảo tồn riêng biệt được pháp luật bảo vệ (đoạn 7)

- Thứ chín: Điều 27 đặt ra những trách nhiệm cụ thể đối với các quốc gia thành viên nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển nền văn hóa, tôn giáo và bản sắc của các nhóm thiểu số, qua đó làm phong phú bộ mặt của toàn xã hội Vì vậy, việc bảo vệ các quyền

Trang 23

trong Điều 27 không được đồng nhất với việc bảo vệ các quyền cá nhân khác nêu ở trong ICCPR (đoạn 9)

Qua sự phân tích trên, Ủy ban cho rằng, việc bảo vệ các quyền theo Điều 27 là trực tiếp nhằm bảo đảm sự sống còn và phát triển của nền văn hóa, tôn giáo và bản sắc của các nhóm thiểu số, qua đó làm phong phú nền văn hóa của cả quốc gia Vì vậy, Ủy ban cho rằng các quyền theo Điều này phải được bảo vệ riêng, không được lẫn lộn với các quyền cá nhân khác được quy định trong Công ước Đồng thời khẳng định Điều 27 thiết lập và công nhận một quyền của các nhóm thiểu số khác với các quyền khác, mà với tư cách cá nhân giống như bao người khác, được hưởng theo Công ước

* Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm 1992

Bên cạnh Điều 27 ICCPR, Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm 1992 được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc công bố theo Nghị quyết 47/135 ngày 18 tháng 12 năm 1992 là một văn kiện quan trọng về quyền của người thiểu số Văn kiện này cụ thể hoá và mở rộng nội dung Điều 27 của ICCPR cả về phạm vi chủ thể và nội hàm các quyền

Về mặt chủ thể, Điều 2 (khoản 1) Tuyên bố kể trên đề cập đến thành bốn dạng người thiểu số: thiểu số về sắc tộc (ethnic), tôn giáo (religious), ngôn ngữ (linguistic) và dân tộc (national) (trong khi Điều 27 ICCPR chỉ đề cập ba dạng đầu)

Về mặt nội hàm của quyền, các khoản 2,3,4,5 Điều 2 Tuyên bố bổ sung một số quyền với người thiểu số, bao gồm: (i) Quyền được tham gia vào đời sống chính trị, văn hóa, tôn giáo, xã hội, kinh tế của quốc gia; và (ii) Quyền thiết lập và duy trì các mối quan

hệ giữa các thành viên của nhóm mình và nhóm khác Điểm đáng ghi nhận ở đây chính là quyền được tham gia vào đời sống chính trị của người thiểu số Trước đây tại công ước ICCPR chỉ mới đề cập đến quyền có đời sống văn hoá riêng, quyền được theo và thực hành tôn giáo riêng, hoặc quyền được sử dụng ngôn ngữ riêng của họ chứ chưa mở rộng thêm quyền tham gia chính trị Điểm nỗi bật này đã nâng cao được vị thế của người thiểu

số trong Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm 1992, đồng thời nhấn mạnh lại một trong những mục tiêu

cơ bản của Liên Hợp Quốc, như đã được nêu rõ trong Hiến chương Liên Hợp Quốc, là thúc đẩy và khuyến khích sự tôn trọng các quyền con người và tự do cơ bản của tất cả mọi người, không phân biệt về chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo, tức khẳng định lại quyền con người cơ bản và phẩm giá của con người là ngang nhau, sự bình đẳng giữa nam và nữ, giữa dân tộc lớn hay bé, giữa đa số hay thiểu số đều như một Và, bình đẳng về quyền tham gia vào đời sống chính trị, văn hóa, tôn giáo, xã hội, kinh tế của

Trang 24

quốc gia đối với dân tộc thiểu số là hiển nhiên Vì thế, việc thúc đẩy và bảo vệ quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo hay ngôn ngữ là góp phần vào sự ổn định chính trị và xã hội ở các quốc gia mà họ sống

1.2.2 Sự phát triển chế định quyền con người thiểu số ở Việt Nam

Từ khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, việc tôn trọng quyền của các dân tộc thiểu số trong sự đa dạng bản sắc và quan điểm cần quan tâm hỗ trợ đồng bào các dân tộc thiểu số khắc phục các điều kiện khó khăn để cùng cả nước phát triển kinh tế - xã hội

đã được nhấn mạnh trong Hiến pháp đầu tiên (năm 1946) Qua những chặng đường cách mạng Việt Nam, quan điểm này luôn nhất quán trong bốn bản Hiến pháp đã có, đặc biệt, Hiến pháp sửa đổi năm 2013 vừa được Quốc hội thông qua, quyền của các dân tộc thiểu

số càng được thể hiện rõ hơn

* Quyền con người thiểu số trong Hiến Pháp 1946

Với 70 điều được chia làm 7 chương bản Hiến pháp của cuộc cách mạng dân chủ nhân dân Việt Nam, cũng là Hiến pháp dân chủ và tiến bộ đầu tiên ở Đông Nam Á đã ghi nhận 3 nguyên tắc cơ bản, đó là: đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo; đảm bảo các quyền lợi dân chủ; thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân Đây là một bước tiến lớn trong lịch sử phát triển của Nhà nước Việt Nam, lần đầu tiên một Nhà nước dân chủ nhân dân được thành lập ở nước ta, với hình thức chính thể là cộng hoà “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa”,16 “đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình”.17

Hai quyền trên được cho là quyền cơ bản nhất mang tính nguyên tắc của người dân Việt Nam trong một nước độc lập, tự do Bên cạnh đó, quyền của các dân tộc thiểu số cũng được ghi nhận: “những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung”.18

Với quy định này đã tạo nên một bước ngoặt lớn trong sự phát triển của tư tưởng dân chủ, rút ngắn khoảng cách phân biệt đối xử giữa các dân tộc và thực hiện chính sách ưu đãi với đồng bào dân tộc thiểu số trên thực tế

Đã là công dân Việt Nam không phân biệt bất cứ thành phần nào trong xã hội, ai cũng như ai, mọi người đều có quyền con người như nhau bất kể gái trai, giống nòi, là dân tộc đa số hay thiểu số… Hiến pháp 1946 đã ghi nhận quyền của công dân trong từng lĩnh vực cụ thể, mọi lĩnh vực đều thể hiện quyền bình đẳng của công dân, như trong lĩnh vực chính trị là “Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt trai gái, đều có quyền bầu cử, trừ những người mất trí và những người mất công quyền Người

16

Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946, điều 6

17 Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946, điều 7

18 Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946, điều 8

Trang 25

ứng cử phải là người có quyền công dân, phải ít ra là 21 tuổi”,19 “nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu mình bầu ra”20 và “có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia”.21 Những quy định trên, lần đầu trong lịch sử dân tộc, quyền bình đẳng của công dân nói chung và các dân tộc thiểu số nói riêng đã được ghi nhận trong đạo luật có hiệu lực pháp lí cao nhất của Nhà nước Chính nội dung quy định này đã tạo tiền đề pháp lí quan trọng cho những thay đổi về địa vị của các dân tộc thiểu

số trên các văn bản pháp luật trong lĩnh vực chính trị nói riêng cũng như trong thực tiễn

* Quyền con người thiểu số trong Hiến pháp 1959

Không chỉ dừng lại ở những quy định trong bản Hiến pháp cũ, điểm mới trong Hiến pháp năm 1959 về quyền con người thiểu số còn được ghi nhận một cách rõ ràng hơn tại điều 3 “Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa

vụ Nhà nước có nhiệm vụ giữ gìn và phát triển sự đoàn kết giữa các dân tộc Mọi hành vi khinh miệt, áp bức chia rẽ dân tộc đều bị nghiêm cấm Đặc biệt, các dân tộc có quyền duy trì hoặc sữa đổi phong tục tập quán, dùng tiếng nói chữ viết, phát triển văn hóa dân tộc mình Những địa phương có dân tộc thiểu số tập trung thì có thể thành lập khu vực tự trị Khu vực tự trị là bộ phận không thể tách rời được của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Nhà nước ra sức giúp đỡ các dân tộc thiểu số mau tiến kịp trình độ kinh tế và văn hóa chung.”

Bên cạnh đó, quyền tham gia quản lý nhà nước của người thiểu số còn được thể hiện

rõ qua điều 93: “Trong những khu vực tự trị có nhiều dân tộc sống xen lẫn, Hội đồng nhân dân sẽ có số đại biểu thích đáng của các dân tộc”.22 Với những quy định tiến bộ về quyền của người thiểu số thì Hiến pháp 1959 đã một lần nữa khẳng định tư tưởng xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta là luôn đặt vấn đề bảo vệ các quyền con người lên hàng đầu, là một mục tiêu quan trọng trong suốt quá trình lập Hiến của mình

* Quyền con người thiểu số trong Hiến pháp 1980

Kế thừa và phát huy nội dung của hai bản Hiến pháp 1946 và 1959, Hiến pháp 1980 ghi nhận đầy đủ các quyền cơ bản của con người đã được ghi nhận trong hai bản Hiến pháp trước đó Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định từ điều 53 đến điều 81, Hiến pháp 1980 đã xác định thêm một số quyền và nghĩa vụ mới, phù hợp với giai đoạn mới của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa như: “Công dân có quyền tham gia quản

lý công việc của Nhà nước và của xã hội”,23

“Quyền được khám và chữa bệnh không

21

Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946, điều 21

Trang 26

phải trả tiền”,24 “Quyền có nhà ở”,25 “Quyền được học tập không phải trả tiền”,26 “Quyền của các xã viên hợp tác xã được phụ cấp sinh đẻ”27 và bổ sung các quyền về quốc tịch, quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm

Về quyền của dân tộc thiểu số tiếp tục được ghi nhận tại điều 5 Hiến pháp năm 1980: “ Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt nam, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ; Nhà nước bảo vệ, tăng cường và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi miệt thị, chia rẽ dân tộc; Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình; Nhà nước có

kế hoạch xoá bỏ từng bước sự chênh lệch giữa các dân tộc về trình độ phát triển kinh tế

và văn hoá” Nhưng những địa phương có dân tộc thiểu số tập trung thì không phải thành lập khu vực tự trị nữa (Hiến pháp 1959) mà thay vào đó là một số điểm mới như: Hội đồng dân tộc được bầu ra để giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, “Quốc hội bầu ra Hội đồng dân tộc; Hội đồng dân tộc nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội và Hội đồng Nhà nước những vấn đề dân tộc; giúp Quốc hội và Hội đồng Nhà nước giám sát việc thi hành chính sách dân tộc”.28

Điểm ghi nhận đáng quan tâm hơn nữa là “Tòa án nhân dân đảm bảo cho công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc các dân tộc quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trước Tòa án”.29

Qua điểm mới này ta thấy được sự tiến bộ rõ rệt trong quá trình lập pháp cũng như

sự chú ý, quan tâm của Nhà nước đến đồng bào các dân tộc thiểu số Một lần nữa điểm mới nỗi bậc này thêm khẳng định tầm quan trọng của người dân tộc thiểu số trong việc góp phần tham gia quản lý nhà nước và xây dựng xã hội ngày một tiến bộ hơn

* Quyền con người thiểu số trong Hiến Pháp 1992

So với Hiến pháp năm 1980 thì pháp luật Hiến pháp năm 1992 có sự mở rộng hơn trong lĩnh vực quản lý nhà nước của người DTTS như: “Trước khi ban hành các quyết định về chính sách dân tộc, Chính phủ phải tham khảo ý kiến của Hội đồng dân tộc Chủ tịch Hội đồng dân tộc được tham dự các phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, được mời tham dự các phiên họp của Chính phủ bàn việc thực hiện chính sách dân tộc”.30 Hội đồng dân tộc còn có những nhiệm vụ, quyền hạn khác như các Uỷ ban của Quốc hội quy định tại Điều 95 chẳng hạn như nghiên cứu, thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật, dự án

24

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, điều 61

28

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, điều 91

Trang 27

pháp lệnh và dự án khác liên quan đến vấn đề dân tộc; Giám sát việc thực hiện Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết của Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội thuộc lĩnh vực dân tộc chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng có đồng bào dân tộc thiểu số và việc thực hiện ngân sách trong lĩnh vực này; Kiến nghị với Quốc hội những vấn đề thuộc chính sách dân tộc, về phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng có dân tộc thiểu số; Trình ý kiến về chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh; trình dự án Luật, dự

án Pháp lệnh và các dự án khác có liên quan đến vấn đề dân tộc và miền núi, theo sáng kiến của mình ra trước Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; Tham gia ý kiến về các quyết định của Chính phủ về chính sách dân tộc trước khi văn bản được ban hành; Kiến nghị việc bổ sung, thay đổi thành viên của Hội đồng Dân tộc Ngoài ra, “Hội đồng dân tộc có quyền yêu cầu thành viên Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và viên chức Nhà nước hữu quan khác trình bày hoặc cung cấp tài liệu về những vấn đề cần thiết Người được yêu cầu có trách nhiệm đáp ứng yêu cầu đó Các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời những kiến nghị của Hội đồng dân tộc”.31

Qua những phân tích trên ta thấy, ngoài những quyền tự mình trực tiếp tham gia quản lý nhà nước như quyền bầu cử, ứng cử… bình đẳng như dân tộc đa số là công dân trong nước đất nước Việt Nam thì quyền tham gia quản lý nhà nước của người dân tộc thiểu số số còn được thể hiện một cách gián tiếp thông qua cơ quan quyền lực của Quốc hội là Hội đồng dân tộc

* Quyền con người thiểu số trong Hiến pháp 2013

Hiến pháp tiếp tục làm rõ nội dung quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và trách nhiệm của Nhà nước và xã hội trong việc tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người Bổ sung một số quyền mới thể hiện rõ hơn trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân Cụ thể: Đó là quyền sống (Điều 19), quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người, hiến xác (Điều 20), quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư (Điều 21), quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34), quyền kết hôn và ly hôn (Điều 36), quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ

sở văn hóa (Điều 41), quyền xác định dân tộc (Điều 42), quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43),

Riêng đối với quyền người dân tộc thiểu số Hiến pháp tiếp tục khẳng định “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi

kỳ thị, chia rẽ dân tộc Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt Các dân tộc có quyền dùng tiếng

Trang 28

nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện

để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”.32 Thể hiện rõ hơn

tư tưởng phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, coi đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực, nguồn sức mạnh to lớn để xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Tức là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc, cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết giúp đỡ nhau cùng phát triển, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Có quy định về ngôn ngữ chung của quốc gia đó là tiếng Việt Nhưng các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết để giữ gìn bản sắc, phát huy phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc mình Ở đây, ngôn ngữ chung quốc gia và ngôn ngữ của từng dân tộc được bảo đảm Chính sách của nhà nước cũng quy định rất rõ, Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện, tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực cùng phát triển đất nước Hiến pháp lần này thể hiện

rõ hơn chủ quyền của nhân dân Bên cạnh đó, Lĩnh vực dân tộc, công tác dân tộc còn được quy định cụ thể trong các Điều 42, 58, 60, 61, 75 của Hiến pháp 2013

Đặc biệt, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng và Chủ tịch Hội đồng Dân tộc cũng như quyền tham gia quản lý nhà nước của dân tộc thiểu số được làm rõ hơn, đề cao vai trò và trách nhiệm, quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 75 Hiến pháp: “Hội đồng Dân tộc nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội về công tác dân tộc; thực hiện quyền giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số”,33 “Chủ tịch Hội đồng Dân tộc được mời tham dự phiên họp của Chính phủ bàn về việc thực hiện chính sách dân tộc Khi ban hành quy định thực hiện chính sách dân tộc, Chính phủ phải lấy ý kiến của Hội đồng Dân tộc”,34

“Hội đồng dân tộc có những nhiệm vụ, quyền hạn khác như Ủy ban của Quốc hội quy định tại khoản 2 Điều 76”.35

Từ những phân tích trong 5 bản Hiến pháp trên ta thấy Nhà nước luôn quan tâm tới quyền của các dân tộc thiểu số trong đời sống vật chất - tinh thần để tiến tới đạt mặt bằng chung của cả nước, quan tâm, bảo vệ, hỗ trợ quyền tự do và bình đẳng về mọi mặt của các cộng đồng dân tộc thiểu số Phát huy tích cực tư tưởng: “Chính sách dân tộc của chúng ta là nhằm thực hiện sự bình đẳng giúp nhau giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

33

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, điều 75, khoản 2

Trang 29

1.2.3 Mối liên hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về quyền con người

Ngày nay, khi quá trình toàn cầu hóa và khu vực diễn ra mạnh mẽ thì các quốc gia không còn là ốc đảo riêng biệt mà ngày càng gắn bó với nhau một cách chặt chẽ hơn, thông qua vô vàn các mối liên kết khác nhau từ kinh tế, chính trị, văn hóa đến xã hội, không một quốc gia nào có thể tự mình phát triển mà không có quan hệ với các quốc gia khác Trong mối liên kết và quan hệ quốc tế này ngay cả khi chúng chỉ mang tính chất nội bộ mà cũng tạo ra các hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp đến các quốc gia khác Từ thực

tế đó, nhiều quốc gia đã ngồi lại, bàn bạc, đưa ra ý chí của từng quốc gia vào việc xây dựng pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ trên, pháp luật đó hiện nay gọi là pháp luật quốc tế Nhờ vậy, ngày nay thường thấy nhất khi một quốc gia muốn xây dựng một văn bản pháp luật nào đó cho quốc gia mình là đều xây dựng dựa trên pháp luật quốc tế và ngược lại, bởi vì, xây dựng như vậy là để dễ dàng thực thi pháp luật hơn hay nói cách khác pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia có mối liên hệ chặt chẽ với nhau

Pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia (pháp luật Việt Nam nói riêng và pháp luật quốc gia nói chung) đều chính là công cụ thực hiện chính sách đối nội và chính sách đối ngoại do chính quốc gia tiến hành xây dựng và bảo đảm thực hiện theo đúng như cam kết quốc tế Tất nhiên, các chính sách đó được các quốc gia đặt ra đòi hỏi phải được thống nhất trong quan hệ đối nội và đối ngoại Nhưng trên thực tế, vấn đề này vẫn còn xảy ra việc phát triển vẫn chưa tương thích, do đó, nhằm tạo điều kiện đảm bảo tốt nhất cho nhau trong quá trình thực hiện đòi hỏi phải có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa hai ngành luật này, đặc biệt là Luật quốc tế phải được chuyển hóa thành quy phạm pháp luật quốc gia, phải vậy mới có thể đảm bảo được thực thi hiệu quả trên lãnh thổ của các quốc gia đã tham gia hơn Hơn nữa, pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia có ảnh hưởng lẫn nhau,

là sự thực thi và nơi kiểm chứng cho pháp luật quốc tế

Trang 30

Khi thực hiện pháp luật quốc tế trên lãnh thổ quốc gia chính là nơi kiểm chứng tính phù hợp của pháp luật quốc tế với thực tiễn, từ đó sẽ biết được những mặt khiếm khuyết, sau đó thì hoàn thiện pháp luật quốc tế hơn

* Pháp luật quốc tế tác động tới sự phát triển và hoàn thiện pháp luật quốc gia

Tính chất tác động của Luật quốc tế tới luật quốc gia được thể hiện bằng thực tiễn thực thi nghĩa vụ thành viên Điều ước quốc tế của quốc gia, tức là sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của luật quốc gia sao cho phù hợp với cam kết quốc tế

Nội dung của các văn bản pháp luật Việt Nam hiện nay đều thể hiện được sự nghiêm chỉnh tuân thủ và tôn trọng các nghĩa vụ cũng như cam kết quốc tế mà Việt Nam

ở trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp hơn, thì chưa bao giờ được tham gia bộ máy quản lý bản mường Ngày nay nhân dân các dân tộc được tham gia ứng cử, bầu cử vào các cơ quan Nhà nước, từ hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã, huyện, tỉnh, đến cấp Trung ương và các cơ quan đoàn thể Trong bộ máy chính quyền, Đảng và các đoàn thể cách mạng các cấp đều có người thuộc các dân tộc thiểu số, hơn thế nữa, các thành phần dân tộc thiểu số lại giữ cương vị chủ chốt như chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, huyện, tỉnh,

bí thư đảng ủy xã, huyện ủy, tỉnh ủy, giám đốc sở, trưởng các ban ngành, ở các cấp xã, huyện, tỉnh và Trung ương Tiêu biểu là đồng chí Hoàng Văn Thụ - Uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng, đồng chí Nông Đức Mạnh – Chủ tịch Quốc hội, Uỷ viên Thường vụ

Bộ Chính Trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX Nhiều đồng chí người dân tộc thiểu số là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, là chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội, bộ trưởng, thứ trưởng hay Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Chủ tịch Trung ương Hội Phụ nữ Việt Nam,v.v

Nói đến quyền tham chính (quyền tham gia quản lý Nhà nước) của các dân tộc nước

ta, có lẽ điển hình hơn cả là nhìn lại danh sách các đại biểu Quốc hội là người thiểu số trong hơn nửa thế kỷ qua, từ nhiệm kỳ I cho đến nhiệm kỳ X

- Khóa I: 333 đại biểu Quốc hội có 34 đại biểu dân tộc thiểu số = 10% tổng số đại biểu, 14/53 dân tộc thiểu số

Trang 31

- Khóa II: 362 đại biểu Quốc hội có 60 đại biểu dân tộc thiểu số = 16% tổng số đại biểu, 15/53 dân tộc thiểu số

- Khóa III: 366 đại biểu Quốc hội có 60 đại biểu dân tộc thiểu số = 15% tổng số đại biểu, 15/53 dân tộc thiểu số

- Khoá IV: 462 đại biểu Quốc hội có 73 đại biểu dân tộc thiểu số = 16% tổng số đại biểu, 19/53 dân tộc

- Khoá V: 424 đại biểu Quốc hội có 71 đại biểu dân tộc thiểu số = 16% tổng số đại biểu, 19/53 dân tộc

- Khoá VI: 492 đại biểu Quốc hội có 64 đại biểu dân tộc thiểu số = 13% tổng số đại biểu, 26/53 dân tộc

- Khoá VII: 496 đại biểu Quốc hội có 79 đại biểu dân tộc thiểu số = 15% tổng số đại biểu, 33/53 dân tộc

- Khoá VIII: 466 đại biểu Quốc hội có 71 đại biểu dân tộc thiểu số = 15% tổng số đại biểu, 29/53 dân tộc

- Khoá IX: 395 đại biểu Quốc hội có 66 đại biểu dân tộc thiểu số = 16% tổng số đại biểu, 27/53 dân tộc

- Trong số đại biểu Quốc hội khóa X, có 78 đại biểu là người dân tộc, đáng chú ý là

có 5 dân tộc lần đầu tiên có đại biểu của mình tham gia vào cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước đó là dân tộc: Pà Thẻn, Si La, La Ha, Phù Lá, Chứt.36

- Trong số đại biểu Quốc hội khóa XI (2002 – 2007), có 86 đại biểu là người dân tộc thiểu số trên tổng 498 đại biểu = 17.3% tổng số đại biểu.37

- Đại biểu Quốc hội khóa XII (2007 – 2011), với tổng số 493 đại biểu có 87 đại biểu

là dân tộc thiểu số = 16,7% tổng số đại biểu.38

- Đại biểu Quốc hội khóa XIII (2007 – 2011), với tổng số 500 đại biểu có 78 đại biểu là dân tộc thiểu số = 15,6% tổng số đại biểu.39

Như vậy, từ khóa I đến khóa XIII, Quốc hội ta đều có sự tham gia của các đại biểu

là người dân tộc thiểu số Riêng 10 khóa Quốc hội đầu tiên, có 39 dân tộc có đại biểu

453

http://dbqh.na.gov.vn/thong-tin-bau-cu/XI.aspx , [ ngày truy cập 17-9-2014]

http://dbqh.na.gov.vn/thong-tin-bau-cu/XI.aspx , [ ngày truy cập 17-9-2014]

http://dbqh.na.gov.vn/thong-tin-bau-cu/XI.aspx , [ ngày truy cập 17-9-2014]

Ngày đăng: 03/10/2015, 11:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê số lượng Đại biểu Quốc Hội là người dân tộc thiểu số từ khóa I đến khóa - đề tài: quyền tham gia quản lý nhà nước của người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực lập
Bảng th ống kê số lượng Đại biểu Quốc Hội là người dân tộc thiểu số từ khóa I đến khóa (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm