1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM

52 968 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Vấn Đề Về Xuất Khẩu Lao Động Ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 384,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM

Trang 1

Mục lục

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG

I XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG GIỮA CÁC NƯỚC

1 KHÁI NIỆM XKLĐ

2 NGUYÊN NHÂN CỦA HOẠT ĐỘNG XKLĐ

II: TÌNH HÌNH TỔ CHỨC XKLĐ TRÊN THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC CHÂU Á- THÁI BÌNH DƯƠNG

1: TÌNH HÌNH XKLĐ TRÊN THẾ GIỚI

2: CÁC NƯỚC CHÂU Á- THÁI BÌNH DƯƠNG

CHƯƠNG II: MỘT SỐ VẤN XKLĐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

I: CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH XKLĐ Ở VIỆT NAM

IV: NHỮNG VẤN ĐỀ SAU XUẤT KHẨU

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XKLĐ LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM.

1: ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC VÀ CÁC BỘ NGÀNH LIÊN QUAN

2: ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP XKLĐ

3: ĐỐI VỚI CÁ NHÂN XUẤT KHẨU

4:ĐỐI VỚI CÁC CƠ QUAN THÔNG TIN- TUYÊN TRUYỀN

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỞ ĐẦU

Trang 2

1 Sự cần thiết của đề tài

Nước ta sau khi giành được độc lập, thống nhất Tổ Quốc (năm 1975) đã bắt tay ngayvào công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước,nền kinh tế nước ta vẫn kiên định phát triển theo con đường chủ nghĩa xã hội dưới hìnhthức là phát triển theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước Hiện nay, dưới sự tácđộng của toàn cầu hóa và khu vực hóa kinh tế, nền kinh tế Việt Nam đang có những bướcchuyển mình để phù hợp với điều kiện và tình hình mới Trong nền kinh tế cũng xuất hiệnnhiều xu thế nổi bật, trong đó có xu thế đưa người đi lao động ở nước ngoài, xu thế này chỉmới được bắt đầu từ những năm 80, nhưng đến nay việc xuất khẩu lao động đã trở thànhmột chủ trương lớn của nhà nước ta, nhằm giải quyết vấn đề lao động - việc làm và tăngnguồn thu cho đất nước

Xuất khẩu lao động (XKLĐ) là vấn đề bức thiết trong xã hội, nó có tác động đến đờisống nhân dân cũng như đến nền kinh tế quốc dân Nghiên cứu vấn đền XKLĐ sẽ giúphiểu rõ hơn về thực trạng di cư lao động nước ngoài và những lợi ích mà XKLĐ mang lại.Như chúng ta đã biết hàng năm XKLĐ góp phần giải quyết một lượng lớn lao động dưthừa, đặc biệt là lao động ở nông thôn với đặc điểm nổi bật là trình độ lao động thấp.Bêncạnh đó nguồn thu nhập mà người tham gia XKLĐ gửi về hàng năm đã cải thiện đáng kểđời sống cho gia đình họ về vật chất lẫn tinh thần, đây cũng là lực lượng có sự đóng gópkhông nhỏ vào gia tăng GDP hàng năm của nước ta Đi sâu vào tình hình XKLĐ chúng tacòn thấy được những mặt trái của nó để từ đấy khắc phục, tránh vấp phải những sai lầm cóthể, đồng thời đưa ra được những kiến nghị để nâng cao chất lượng XKLĐ hơn Mặt khácgiúp chúng ta có thể dự báo tình hình XKLĐ trong những năm tiếp theo Để XKLĐ đượchoàn thiện hơn thì Đảng và Nhà nước nên có những chính sách bảo vệ người lao động như:

kí hợp đồng chặt chẽ, ngăn chặn nạn lừa đảo đi XKLĐ cũng như có những ưu ái đến ngườilao động hơn trong việc loại bỏ bớt những thủ tục rườm rà trong vấn đề vay vốn đi XKLĐ.Với những tác động to lớn như vậy thì xuất khẩu lao động cần được quan tâm, chú ý đếnnhư một hướng phát triển kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế chung củađất nước

Hơn nữa, nước ta với đặc điểm là một nước đông dân, vì thế nguồn lao động nước taphần nào chiếm ưu thế hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới Để tranh thủ sựthuận lợi này thì nước ta cần chú trọng phát triển lực lượng lao động và hoạt động xuấtkhẩu lao động ra nước ngoài

Hiện nay xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa đã tác động mạnh đến nền kinh tế ViệtNam, vấn đề hội nhập kinh tế là xu thế tất yếu Việt Nam phải hội nhập trên mọi lĩnh vực,khi đẩy manh xuất khẩu lao động, Việt Nam cũng đã rút ngắn khoảng cách hội nhập vớilao động trong khu vực và trên thế giới, góp phần hội nhập toàn nền kinh tế

Trang 3

Như vậy xét cả tầm nhìn vi mô và vĩ mô thì vấn đền xuất khẩu lao động của Việt Namkhông phải là một vấn đề mới, nhưng hiện nay nó vẫn đóng vai trò quan trọng trong việcthực hiện những mục tiệu quan trọng của đất nước như: Giảm thất nghiệp, xóa đói giảmnghèo, tăng trưởng kinh tế…Vì vậy xuất phát từ thực trạng và tình hình đó chúng em đãnghiên cứu và tiến hành viết đề tài” MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM”

2 Đối tượng và mục đích nghiên cứu của đề tài

Như đã trình bày ở trên, xuất khẩu lao động đóng vai trò quan trọng trong phát triểnkinh tế, tự bản thân nó là một vấn đề phức tạp, phụ thuộc nhiều yêu tố như: Chính sách laođộng, công tác quản lý, đào tạo lao động…Vì vậy đề tài này chủ yếu đi sâu tìm hiểu kỹ vềvấn đề thực trạng hoạt động trong và sau xuất khấu Thông qua đó nêu lên xu thế vậnđộng của xuất khẩu lao động, những mặt tích cực và tiêu cực của nó và đưa ra một số giảipháp dể khắc phục những hạn chế, nhằm tăng hiệu quả và những đóng góp của xuất khẩulao động vào sự phát triển kinh tế nước nhà

Bằng phương pháp tiến hành điều tra đối tượng trên cơ sở tập hợp thu thập thông tin,phương pháp thống kê, tính toán Chúng tôi đã đưa ra những vấn đề cơ bản của XKLĐ vớinhững số liệu cụ thể về cơ cấu XKLĐ (cơ cấu thị trường, cơ cấu nghề, cơ cấu giới tính…)

và XKLĐ với những nội dung chủ yếu sau

Chương 1: Tổng quan về xuất khẩu lao động

Chương 2: Một số vấn đề XKLĐ ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nâng cao chất lượng XKLĐ ở Việt Nam

Đề tài nghiên cứu gặp rất nhiều khăn khó trong vấn đề điều tra vì lao động xuất khẩusau khi trở về nước không tập trung ở một chỗ.Dù đã có rất nhiều cố gắng,song bài viếtkhông thể không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định,mong được sự đóng góp nhiệttình và chỉ bảo cụ thể của những người cùng quan tâm

Qua đây chúng em xin gửi lời cám ơn chân thành nhất đến cô VŨ THỊ MAI đã giúp

đỡ và hướng dẫn chúng em hoàn thành tốt đề tài này.Đồng thời chúng em xin gửi lời cám

ơn chân thành đến các đối tượng điều tra đã giúp chúng em tìm kiếm thông tin quý báu.Xin cám ơn

Trang 4

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG

I XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG GIỮA CÁC NƯỚC

Hình thức di cư lao động chính thức (di cư lao động theo hợp đồng) là việc xuất khẩulao động thông qua các chính phủ, các tổ chức kinh tế hoặc các pháp nhân, các nhân dưới

sự đồng ý của chính phủ các nước xuất khẩu và nước nhập khẩu lao động Hình thức di cưnày là hợp pháp, do đó ngày càng tăng về số lượng và chủng loại

Ngày nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, xuất phát từ nước xuất khẩucũng như nhập khẩu thì hình thức di cư lao động chính thức ngày càng phát triển, mà biểuhiện nổI bật chính là hoạt động XKLĐ của các nước Trong tình hình mới XKLĐ cũng

được hiểu theo đầy đủ nghĩa của nó Ta có thể nói: Xuất khẩu lao động là hoạt động của

các chính phủ, tổ chức kinh tế, xã hội, các tổ chức pháp nhân nhằm đưa những người lao động của nước mình đến tham làm việc tại những nước có nhu cầu về lao động nước ngoài (gọi là nước XKLĐ và nước NKLĐ), nhằm đạt được những mục đích kinh tế, chính trị, xã hội nhất định, dưới sự hợp tác, đồng ý của chính phủ cả hai nước XKLĐ và NKLĐ.

2 NGUYÊN NHÂN CỦA HOẠT ĐỘNG XKLĐ

Nguyên nhân tạo ra hoạt động XKLĐ có nhiêu nguyên nhân, nguyên nhân đó xuấtphát từ vấn đề lịch sử, vấn đề văn hóa, chính trị, xã hội…Nhưng nguyên nhân quan trọngtác động mạnh mẽ đến hoạt động XKLĐ đó là xuất phát từ nguyên nhân kinh tế của cảnước XKLĐ và nước NKLĐ

Trang 5

Trước hết, xuất phát từ lợi ích thu được của nước XKLĐ như: XKLĐ giúp giải quyếtviệc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cả về vật chất và tinhthần của người tham gia XKLĐ Đây là một bộ phận có đóng góp quan trọng, chiếm tỷ lệlớn trong việc thu hút nguồn ngoại tệ, đóng góp lớn vào nguồn ngân sách quốc gia Bêncạnh đó XKLĐ còn giúp các nước tham gia tăng cường quan hệ ngoại giao của mình vớicác nước khác, trên cơ sở đó phát triển một mối quan hệ hòa bình, hợp tác, hữu nghị, đôibên cùng có lợi.

Ngoài ra, sự mất cân đối giữa cung và cầu về việc làm trong mỗi quốc gia cũng lànguyên nhân quan trọng dẫn đến XKLĐ quốc tế Tại một số nước phát triển có tỷ lệ tăngdân số hàng năm cao, nguồn nhân lực dồi dào trong khi sản xuất trong nước còn chậm pháttriển, chưa thu hút được nhiều lao động Do đó sức ép về việc làm tăng lên, đòi hỏi chínhphủ phải tìm đầu ra cho lượng lao động dư thừa để giảm tình trạng thất nghiệp và thiếuviệc làm Trong khi đó có nhiều nước đất rộng, người thưa, tài nguyên thiên nhiên phongphú, mức tăng dân số tự nhiên thấp nên có nhu cầu về lao động Đặc biệt là xu hướngXKLĐ tập trung vào các nước có mức thu nhập cao, yêu cầu không quá khắt khe

Tiếp theo, chính là do sự phát triển của nền thương mại quốc tế, mà đặc biệt là sự pháttriển của các doanh nghiệp XKLĐ Những doanh nghiệp này ngày càng phát triển cả vềquy mô, chất lượng và số lượng, xâm nhập rộng ra khắp thị trường quốc tế Đây chính lànhững tổ chức trung gian, giúp xúc tiến nhanh hơn hoạt động XKLĐ, cũng như giảm bớtchi phí về thời gian, tài chính, tránh những thủ tục hành chính phức tạp, rườm rà

Cuối cùng, do khoa học kỹ thuật và công nghệ đã đổi mới và ngày càng phát triển trêntoàn thế giới Nhiều quốc gia có nền khoa học công nghệ tiên tiến cần nhiều lao động cótay nghề cao để đáp ứng nhu cầu sử dụng những thành tựu khoa học và công nghệ đó

II: TÌNH HÌNH TỔ CHỨC XKLĐ TRÊN THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC CHÂU THÁI BÌNH DƯƠNG

Á-1: TÌNH HÌNH XKLĐ TRÊN THẾ GIỚI

XKLĐ là một hoạt động mang tính kinh tế - xã hội cao Vì vậy rất nhiều nước trên thếgiới tham gia XKLĐ Chính phủ nhiều nước coi XKLĐ là chiến lược, là quốc sách lâu dàinên đều có chương trình quốc gia về XKLĐ, coi đây là công việc thường xuyên của xã hội

và cũng khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia XKLĐ, kể cả hình thức di dân, đithăm thân nhân, tự tìm việc làm ở nước ngoài Như vậy XKLĐ đã mang tính xã hội hóa rấtcao Tất nhiên có nước chỉ nhập và có nước chỉ xuất, và cũng có một số nước vừa nhậpvừa xuất khẩu lao động Hoạt động XKLĐ trên thế giới, hay còn gọi là “di dân lao độngquốc tế” đã diễn ra nhiều thập kỷ nay, nhưng có xu hướng ngày càng tăng ở mấy thập kỷgần đây và sẽ còn tiếp tục tăng nhiều hơn nữa trong những năm tới Theo tổ chức lao độngthế giới (ILO) hiện nay có khoảng hơn 60 nước có di dân và đi lao động làm việc tại cácnước khác với gần 120 triệu người, trong đó các nước Châu Á chiếm 50% trong tổng số.Tất cả các quốc gia tham gia XKLĐ đều nhận thức được vai trò của XKLĐ trong chiến

Trang 6

lược phát triển của mình do đó họ đã xây dựng một hệ thống chính sách, luật lệ, quản lýnhà nước nhằm tăng cường XKLĐ trên quy mô lớn.

2: CÁC NƯỚC CHÂU Á- THÁI BÌNH DƯƠNG

Tình hình hoạt động XKLĐ ở các nước này ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam Bởi lẽ,

về mặt địa lý, các quốc gia Châu Á – Thái Bình Dương ở gần Việt nam, bên cạnh đó lại có

sự tương đồng về khí hậu, phong tục tập quán, lối sống…Các nước trong khu vực Châu Ánhư: Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia…đã và đang nhập khẩu lao động Việt Nam trên nhiềulĩnh vực, mang nhiều hình thức Đồng thời họ cũng nhận lao động của các nước khác như:Trung Quốc, Thái Lan, Philipin…cho nên sự cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu lao độngkhông thể tránh khỏi Các nước XKLĐ đều phát huy hết lợi thế của mình, khiến cho hìnhthức và cách tiến hành XKLĐ hết sức đa dạng, phong phú Một số nước yêu cầu nhập khẩulao động có trình độ cao, một số nước lại có nhu cầu sử dụng lao động dịch vụ, nhất là laođộng giúp việc gia đình, lao động giản đơn…Một số nước Châu Á vừa có chính sách nhậpkhẩu và xuất khẩu lao động, nhập lao động của nước này rồi lại xuất lao động của mìnhsang nước khác, tạo nên thị trường lao động thật sôi động nhưng cũng nhiều vấn đề mớiphát sinh Ví dụ: Thái Lan cho phép hàng chục ngàn dân Myanmar sang làm thuê cho nôngdân Thái Lan, trong khi đó nông dân Thái Lan tràn vào thành phố tìm việc, còn dân thànhthị lại đi tìm việc ở nước ngoài có thu nhập cao hơn Nhiều sinh viên, thanh niên Nhật Bản,Hàn Quốc, Đài Loan sang Mỹ, Newzeland, Úc để du học và tìm việc trong khi đất nước họlại tiếp nhận nhiều lao động của các nước khác đến làm việc

Các nước ở khu vực Thái Bình Dương, chủ yếu là có nhu cầu nhập khẩu lao động ởmột số ngành may mặc, xây dựng, lao động giản đơn…Tuy nhiên việc sử dụng lao độngcũng gặp nhiều khó khăn do sự khác biệt phong tục tập quán, bất đồng ngôn ngữ…

Trang 7

CHƯƠNG II: MỘT SỐ VẤN XKLĐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

I: CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH XKLĐ Ở VIỆT NAM

Việt Nam là một nước ở khu vực Đông Nam Á với đặc điểm xã hội là một nước nôngnghiệp với số dân đông đúc Theo thống kê, trung bình năm 2007 dân số nước ta khoảng84,089 triệu người mà với diện tích đất nước chỉ có khoảng 331.000 km2, mà đại bộ phậnnhân dân sống ở nông thôn và làm nông nghiệp (hơn 70%) (theo số liệu thống kê của bộ

LĐ – TB – XH) Với đặc điểm như vậy nước ta luôn đứng trước tình thế: tỷ lệ thất nghiệp

và thiếu việc làm cao, hàng năm lại có thêm hơn 1 triệu người bước vào tuổi lao động Đặcbiệt trong xu thế phát triển kinh tế toàn cầu hóa và khu vực hóa hiện nay, đòi hỏi nước taphải sắp xếp lại cơ cấu, tổ chức sản xuất vì vậy lượng lao động dư thừa ngày càng cao.Đứng trước những thách thức khó khăn như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã sớm có chủtrương cùng với việc giải quyết việc làm trong nước, là đẩy mạnh xuất khẩu lao động vàchuyên gia, và xác định đây là một chiến lược phát triển lâu dài – quan trọng trong pháttriển kinh tế

Sớm nhân thức được tầm quan trọng của việc xuất khẩu lao động và chuyên gia, ngay

từ những năm 80 vấn đề này đã được Bộ chính trị và Chính phủ đưa ra những quyết định,nghị định và chỉ thị rất quan trọng:

Quyết định của Hội đồng chính phủ số 46/CP ngày 11/12/1980 viết: “Trước yêu cầu,nhiệm vụ mới của cách mang nước ta là đòi hỏi phải nhanh chóng xây dựng một đội ngũcông nhân lành nghề và cán bộ kĩ thuật, nghiệp vụ, quản lý giỏi, phù hợp với nhiệm vụ xâydựng và phát triển kinh tế, văn hoá của đất nước Để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, điđôi với việc tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng ở trong nước, Hội đồng chính phủ chủtrương đưa một bộ phân công nhân và cán bộ đang công tác ở các xí nghiệp cơ quan nhànước sang các nước XHCN…” Quyết định này là chủ trương về việc đưa công nhân vàcán bộ đi bồi dưỡng nâng cao trình độ và việc làm có thời hạn tại các nước XHCH, thựchiện quyết định này nhà nước ta đã thu được một số kết quả nhất định

Cùng năm 1980, Hội đồng chính phủ đã phê duyệt Nghị quyết số 362/CP ngày29/11/1980 về việc sử dụng lao động với các nước XHCN, xác định 2 mục tiêu hợp tác laođộng là: giải quyết việc làm cho một bộ phận thanh niên, bồi dưỡng đào tạo một đội ngũlao động có tay nghề vững vàng, đáp ứng được yêu cầu phát triển nền kinh tế nước ta saunày

Đến năm 1983 – 1984, Chính phủ chủ trương tiếp tục đưa lao động đi làm việc ở cácnước ngoài hệ thống XHCN, mở rộng thị trường sang các nước Irắc, angeri

Tháng 12/1986 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã xác định “mở rộng việc đưa laođộng ra nước ngoài bằng nhiều hình thức thích hợp, coi đó là một bộ phận hữu cơ củachương trình lao động nói chung” Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, từ năm

1987 chính phủ đã cho phép ký các hiệp định, nghị định thư đưa hàng chục vạn lao động đi

Trang 8

Liên Xô, Đông Âu, LiBi, Irắc, đồng thời để phát triển thêm loại hình mới về XKLĐ, chínhphủ đã có Quyết định số 398/CT ngày 26/12/1987 giao cho bộ xây dựng chủ trì hợp tác laođộng kĩ thuật xây dựng với nước ngoài, nhằm tổ chức lực lượng xây dựng đồng bộ đi nhậnthầu ở nước ngoài và ban hành chỉ thị số 108/HĐBT ngày 30/06/1988 cho phép mở rộnghợp tác lao động và chuyên gia với nước ngoài theo các hình thức hợp tác trực tiếp.

Ngày 22/09/1998, Bộ chính trị ban chấp hành trung ương Đảng đã ban hành chỉ thị số41-CT/TW về xuất khẩu lao động và chuyên gia khẳng định: xuẩt khẩu lao động và chuyêngia là một hoạt động kinh tế - xã hội góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việclàm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, tăng nguồn thu ngoại

tệ cho đất nước và tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế giữa nước ta với các nước khác.Chủ trương về XKLĐ đã được quy định trong bộ luật lao động được Quốc hội thôngqua năm 1994, Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật lao động được Quốc hội thông qua năm 2002.Chính phủ đã cụ thể hóa Bộ luật lao động về xuất khẩu lao động bằng việc ban hành cácnghị định số 07/CP ngày 20/01/1995 và nghị định số 152/1999/NĐ-CP ngày 20/09/1999sau đó chính phủ đã ban hành nghị định số 81/2003 qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành

Bộ luật lao động về người lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài Đến năm 2005,Nghị định 141/2005/NĐ-CP được ban hành về việc quản lí lao động Việt Nam làm việc ởnước ngoài Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng ( LuậtXKLĐ) đã được ban hành năm 2006 và chính thức có hiệu lực vào ngày 01/07/2007.Trong năm 2007 Cục Quản lý Lao động Ngoài nước và Trung tâm Lao động Ngoài nước

đã soạn thảo 18 văn bản hướng dẫn thi hành Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ởnước ngoài theo hợp đồng, trong đó có 2 nghị định của Chính phủ, 1 quyết định của thủtướng Chính phủ, 5 thông tư liên tịch và 8 quyết định của Bộ; đến nay đã trình các cấp cóthẩm quyền ban hành được 11 văn bản chủ yếu, 7 văn bản đang được hoàn thiện để trìnhban hành trong quý I năm 2008

Bên cạnh việc đề ra những chủ trương để nhằm chỉ đạo hướng dẫn việc thực hiệnXKLĐ Nhà nước ta cũng nhanh chóng hoàn thiện hành lang pháp lý và ra nhiều chínhsách nhằm quy định, bảo vệ về lợi ích của những người tham gia XKLĐ cũng như hỗ trợ

họ trong những vấn đề: nguồn kinh phí đi lại, đào tạo, ứng trước

XKLĐ giải quyết khó khăn về việc làm cho một bộ phận cán bộ, công nhân viên chứctrong cơ quan nhà nước, trong các DN và một bộ phận thanh niên ngoài xã hội Đặc biệtchú ý đến các đối tượng chính sách, bộ độ phục viên, xuất ngũ Song song với việc giảiquyết việc làm là tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinhthần cho bản thân người lao động và gia đình họ

Người lao động đi làm việc ở nước ngoài trước năm 1991 được nhà nước bao cấpbằng nguồn kinh phí ngân sách Thực hiện chủ trương đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật

để sau này về xây dựng đất nước, chính phủ đã đầu tư ngân sách cho sự nghiệp XKLĐ từkhâu tuyển chọn đến tổ chức đưa đi, quản lý lao động ở nước ngoài và đưa họ về nước Từ

Trang 9

năm 1991 đến nay theo cơ chế mới, người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải tự trangtrải một phần chi phí về làm hồ sơ, khám sức khỏe, hộ chiếu, visa…và nộp cho doanhnghiệp đưa đi một khoản phí dịch vụ.

Các hiệp định và nghị định thư trước năm 1991 đã quy định cụ thể các chính sách, chế

độ cho người lao động Trong thời gian làm việc ở nước ngoài, người lao động được hưởngmọi quyền lợi như công dân sở tại, được nhà nước bảo hộ quyền lợi, đồng thời người laođộng có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội và đóng góp xây dựng Tổ Quốc

Chính phủ đã ban hành một số chính sách hỗ trợ người lao động như: Quyết định số26/2005/QĐ-BTC ngày 13/05/2005 về việc ban hành quy chế tài chính về quản lý, sử dụngquỹ hỗ trợ XKLĐ nhằm hỗ trợ về tài chính cho những người muốn làm việc ở nước ngoàinhưng không đủ kinh phí dưới hình thức cho vay với lãi suất thấp; quyết định 114 của thủtướng chính phủ ngày 31/08/2007 về việc thành lập, quản lý và sử dụng Quỹ hỗ trợ việclàm ngoài nước; rồi ban hành chính sách miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa mà ngườilao động mang về nước, khuyến khích lao động mang ngoại tệ về nước, giải quyết chế độtrợ cấp thôi việc theo chính sách mới quy định riêng cho lao đông đã làm việc ở nướcngoài

Như vậy, trong xu thế phát triển kinh tế mới hiện nay thì Đảng và Nhà nước ta cũngngày càng cải thiện, đổi mới để ngày càng hoàn chỉnh hệ thống cơ chế chính sách để đảmbảo công bằng và có lợi nhất cho những người làm việc ở nước ngoài, qua đó cũng khuyếnkhích nhiều người tham gia vào việc XKLĐ (đặc biệt là lao động nhàn rỗi) để từ đó cảithiện đời sống nhân dân, thực hiện được mục tiêu kinh tế của nhà nước

Trang 10

II: TÌNH HÌNH XKLĐ Ở NƯỚC TA

1: TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ XKLĐ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ

Trang 11

Cục quản lý lao động ngoài n ớc

Trang 12

Theo điều 18 nghị định số 152/CP/1999/NĐ-CP quy định Bộ Lao động - Thương binh

3 Nghiờn cứu cỏc chớnh sỏch, chế độ liờn quan đến việc đưa người lao động Việt Nam

đi làm việc cú thời hạn ở nước ngoài để trỡnh Chớnh phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩmquyền và hướng dẫn thực hiện cỏc chớnh sỏch, chế độ đú;

4 Nghiờn cứu thị trường lao động ngoài nước và quy định cỏc điều kiện làm việc, sinhhoạt cần thiết cho người lao động, quy định cỏc danh mục cỏc nghề cấm, cỏc khu vực cấmđưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài;

5 Hướng dẫn cụng tỏc bồi dưỡng nghề, tạo nguồn lao động đi làm việc ở nước ngoài;quy định cỏc chương trỡnh đào tạo, giỏo dục định hướng cho người lao động trước khi đilàm việc ở nước ngoài Thành lập cỏc trung tõm quốc gia đào tạo nguồn lao động cú kỹthuật, tay nghề cao và ngoại ngữ đỏp ứng yờu cầu của thị trường lao động ngoài nước;

6 Cấp, đỡnh chỉ và thu hồi giấy phộp hoạt động chuyờn doanh, nhận đăng ký hợpđồng và thu lệ phớ, phớ quản lý theo quy định;

7 Tổ chức cụng tỏc thanh tra, kiểm tra cỏc cơ quan và doanh nghiệp cú liờn quan đếnviệc thực hiện đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài; tạm đỡnh chỉ hoặcđỡnh chỉ thực hiện hợp đồng theo quy định tại khoản 3 Điều 6 và khoản 3 Điều 24 củaNghị định này;

8 Định kỳ bỏo cỏo với Thủ tướng Chớnh phủ về tỡnh hỡnh lao động Việt Nam làm việc

cú thời hạn ở nước ngoài;

9 Phối hợp với Bộ Ngoại giao và cỏc Bộ, ngành cú liờn quan giải quyết cỏc vấn đềphỏt sinh trong việc quản lý người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài ;

10 Phối hợp với Bộ Ngoại giao và Ban Tổ chức - Cỏn bộ Chớnh phủ nghiờn cứu tổchức bộ phận quản lý lao động trong cơ quan đại diện Việt Nam ở những nước và khu vực

cú nhiều lao động Việt Nam làm việc hoặc cú nhu cầu và khả năng nhận nhiều lao độngViệt Nam với số lượng biờn chế, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn phự hợp với Phỏp lệnh

về cơ quan đại diện nước Cộng hoà xó hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài

Theo điều 19: Nghị định số 152/1999/NĐ- CP quy định quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan nh sau

1 Bộ Tài chớnh chủ trỡ phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xó hội quy địnhchi tiết việc thu và sử dụng lệ phớ, phớ quản lý và phớ dịch vụ; mức và thể thức giữ tiền đặtcọc của người lao động

Trang 13

2 Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thực hiện quản lý Nhà nước đối với laođộng Việt Nam ở nước sở tại; thông qua Bộ Ngoại giao cung cấp kịp thời cho Bộ Lao động

- Thương binh và Xã hội thông tin về tình hình thị trường lao động ngoài nước và tình hìnhngười lao động Việt Nam ở nước sở tại; liên hệ với các cơ quan chức năng của nước sở tại

để giúp Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thiết lập quan hệ hợp tác sử dụng lao động;phối hợp với các tổ chức, cơ quan hữu quan của nước sở tại và các tổ chức quốc tế để giảiquyết các vấn đề phát sinh nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động và củadoanh nghiệp Việt Nam

3 Bộ Công an trong phạm vi trách nhiệm của mình phối hợp với Bộ Lao động Thương binh và Xã hội trong việc quản lý người lao động đi làm việc ở nước ngoài; tạođiều kiện để người lao động được cấp hộ chiếu một cách thuận lợi theo quy định của phápluật, đáp ứng yêu cầu về thời gian thực hiện hợp đồng với bên nước ngoài

-4 Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ, ngành trong phạm vi trách nhiệm của mình đưanội dung hợp tác lao động với nước ngoài vào các kế hoạch phát triển kinh tế đối ngoại,các chương trình hợp tác quốc tế, cùng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xác định chỉtiêu kế hoạch về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài hàng năm, 5 năm

5 Bộ Thương mại và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nghiên cứu trình Chính phủ banhành hoặc ban hành theo thẩm quyền các chính sách tạo điều kiện để người lao động vàdoanh nghiệp đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài thực hiệncác quyền quy định tại khoản 3 Điều 8, khoản 1 Điều 10 và Điều 17 của Nghị định này

Và theo điều 20, Các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương các Đoàn thể, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm :

1 Thống nhất với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định số lượng cácdoanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý được phép đưa người lao động đi làm việc có thời hạn

ở nước ngoài theo đúng quy định của pháp luật

2 Chỉ đạo, quản lý và chịu trách nhiệm về hoạt động của các doanh nghiệp đưa laođộng đi làm việc ở nước ngoài thuộc phạm vi quản lý, đồng thời phối hợp với các Bộ,ngành có liên quan giải quyết các vấn đề phát sinh;

3 Báo cáo tình hình đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài của các doanhnghiệp thuộc phạm vi quản lý; lập kế hoạch hàng năm, 5 năm về việc đưa lao động đi làmviệc ở nước ngoài gửi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để tổng hợp báo cáo Chínhphủ

Ngoài ra theo điều 20 : Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Bộ Kế

hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Nhà nước phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan quyđịnh chi tiết việc người lao động thuộc các đối tượng chính sách có công với nước vàngười lao động nghèo được vay tín dụng để nộp tiền đặt cọc và lệ phí trước khi đi làm việc

có thời hạn ở nước ngoài

Trang 14

Và theo điều21: Trong trường hợp bất khả kháng phải khẩn cấp đưa người lao động

Việt Nam về nước, cơ quan chủ quản của doanh nghiệp đưa lao động Việt Nam đi làm việc

ở nước ngoài có trách nhiệm chỉ đạo doanh nghiệp tổ chức đưa người lao động về nước;trường hợp vượt quá thẩm quyền và khả năng thì cơ quan chủ quản phối hợp với Bộ Ngoạigiao, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính lập phương án trình Thủtướng Chính phủ quyết định

Những năm gần đây, cùng với đà tăng trưởng kinh tế của đất nước, công tác XKLĐcũng đạt được nhiều thành tích đáng khích lệ Quy mô XKLĐ hàng năm liên tục gia tăngvới tốc độ nhanh Năm 2007, số lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài đạt đến con số85.020 người vượt 6.3% kế hoạch năm, so với nhiều quốc gia khác thì con số này là khiêmtốn song tự bản thân nó đã minh chứng cho những nỗ lực của các ngành các cấp, các doanhnghiệp XKLĐ Bên cạnh đó, hiện vẫn còn tồn tại hạn chế trong công tác quản lý hoạt độngXKLĐ, gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng XKLĐ

Trước hết là về công tác quản lý XKLĐ trong nước vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém.Doanh nghiệp không đủ năng lực khai thác thị trường, tuyển dụng và đào tạo lao động Đã

có những hợp đồng ký kết với nội dung không chặt chẽ gây bất lợi cho người lao động.Hợp đồng tuyển dụng lao động chưa được thực hiện đồng bộ, việc thực hiện hợp đồng còn

bị buông lỏng: Có trường hợp lao động không được làm việc theo đúng hợp đồng, trườnghợp lao động Việt Nam bị hành hung Tất cả nhưng rủi ro, thiệt thòi đó của người lao độngViệt Nam ở nước ngoài có thể ngăn chặn và xử lý kịp thời nếu như công tác quản lý laođộng được thực thi tốt tại nước ngoài Hiện tại Việt Nam mới chỉ có 5 cơ quan đại diện vềvấn đề XKLĐ ở Nga, Cộng Hòa Séc, Đức, Hàn Quốc và Đài Loan Còn ở các thị trườngkhác thì người lao động bị phó mặc cho doanh nghiệp các nước sở tại Thực tế ở Việt Namhiện nay, những vụ lừa đảo trong XKLĐ diễn ra rất phức tạp gây tâm lý hoang mang củangười lao động khi có nguyện vọng đi làm việc ở nước ngoài Đây chính là khuyết điểmtrong công tác quản lý XKLĐ

Bên cạnh đó, chúng ta cũng thấy được hoạt động XKLĐ của nước ta hiện nay đangbộc lộ một số vấn đề cần giải quyết để có thể tạo dựng một hình ảnh lành mạnh về laođộng Việt Nam Đó là vấn đề lao động Việt Nam tự ý phá vỡ hợp đồng, trốn khỏi nơi làmviệc để ra làm ăn bên ngoài với hy vọng có thu nhập cao hơn Trong thời gian gần đây, vấn

đề bỏ trốn đang diễn biến phức tạp, Tỷ lệ lao động Việt Nam bỏ trốn cao nhất là ở NhậtBản (chiếm 30-40%), tiếp đến là Hàn Quốc (25-30%), tại Đài Loan là 9%, trên thực tế con

số này còn cao hơn Điều này đã tác động xấu đối với hoạt động XKLĐ của Việt Nam Cónhiều nguyên nhân dẫn đến tình trang trên, trong đó phải kể đến nguyên nhân cơ bản làcông tác giáo dục, định hướng người lao động đi xuất khẩu còn yếu kém Nhiều doanhnghiệp quá thiên về tuyển dụng và tăng nhanh số lượng lao động xuất cảnh vì lợi nhuậnkinh tế mà không chú ý đến chất lượng lao động và vấn đề giáo dục ý thức Thậm chí cónhững đơn vị còn phó mặc cho đối tác Đài Loan tự thực hiện toàn bộ việc tuyển lao độngxuất cảnh, doanh nghiệp này chỉ cung cấp giấy phép Một nguyên nhân khác là ngay bản

Trang 15

thân các chế tải xử phạt hiện tại với việc lao động bỏ trốn chưa đủ mạnh để răn đe ngườilao động Nhiều khi các văn bản này lại nhằm vào các doanh nghiệp XKLĐ, cho rằng việclao động bỏ trốn là lỗi của doanh nghiệp chứ không phải lỗi của người lao động.

Qua nhìn nhận đánh giá trên, ta thấy công tác quản lý trong hoạt động XKLĐ là mộtvấn đề khó khăn phức tạp vì nó liên quan tới nhiều phía Việc đảm bảo đầy đủ quyền vànghĩa vụ chính đáng của người lao động phải được quan tâm hơn nữa Công tác quản lý làmột nhiệm vụ đóng vai trò then chốt trong toàn bộ các khâu của qua trình XKLĐ, vấn đềquản lý có hiệu quả cao sẽ là động lực mạnh mẽ thu hút ngày càng nhiều lao động thamgia, tạo được uy tín của XKLĐ Việt Nam trên trường quốc tế Vì vậy vấn đề này càng cần

sự quan tâm chỉ đạo cương quyết hơn nưa của Đảng và Nhà nước để ngày càng phát triểnchất lượng của XKLĐ

2: XKLĐ NHỮNG NĂM 1980- 1990

XKLĐ những năm 1980 – 1990 được thực hiện thông qua việc ký kết các hiệpđịnh hợp tác về lao động giữa Việt Nam với Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu, trêntinh thần hợp tác hữu nghị và cùng giúp đỡ lẫn nhau Ta giúp bạn giải quyết những khókhăn về thiếu hụt lao động, bạn giúp ta tạo việc làm, thu nhập và rèn luyện tay nghề chongười lao động, vừa đồng thời giải tỏa bớt những khó khăn về tài chính cho chính phủtrong chi tiêu và trả nợ

Mục tiêu XKLĐ của Việt Nam trong giai đoạn này không phải đặt hiệu quả kinh tếlên hàng đầu mà chỉ nhằm giải quyết vấn đề việc làm và đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình

độ chuyên môn người lao động, có thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước nhằm bù đắpmột phần những thiếu hụt trong nước và nợ đến hạn

Trong vòng 10 năm 1980 – 1990 nước ta đã đưa được 277.183 người đi lao động cóthời hạn ở nước ngoài, bình quân mỗi năm có trên 2.7 vạn người lao động Việt Nam đi làmviệc ở nước ngoài Đây là giai đoạn có quy mô lao động đi làm việc ở nước ngoài có quy

mô tương đối lớn Nhưng nó cũng mang những đặc trưng nhất định trong cơ cấu thịtrường, ngành nghề, giới tính…

Về thị trường, trong giai đoạn này nước ta chủ yếu đưa lao động sang Liên Xô và cácnước Đông Âu Ngày 01/02/1980, chính phủ đã ra quyết định số 46-CP chủ trương đưamột bộ phận lao động, kỹ thuật đi làm việc và bồi dưỡng tay nghề ở các nước XHCN Sau

đó các hiệp định về hợp tác lao động lần lượt được ký với các nước: CHDC Đức(14/04/1980), Bungari (03/10/1980) và Tiệp Khắc (27/11/1980)

Nước Liên Xô CHDC

Đức

Bungari Tiệp

Khắc

Tổng sốNgười 112.338 72.786 35.099 37.659 257.880

Bảng 1: Cơ cấu thị trường XKLĐ trong giai đoạn 1980 - 1990

Trang 16

Ngoài thị trường chủ yếu là Liên Xô và Đông Âu, trong giai đoạn này Việt Nam còn

ký hiệp định chính phủ về hợp tác chuyên gia với một số nước Châu Phi Trong tổng số277.183 người đi lao động ở giai đoạn này chủ yếu ở Liên Xô và Đông Âu là 257.880người chiếm 93% trong đó Liên Xô chiếm số lượng lớn 112.338 người, còn lại phân bổ ởcác nước như: CHDC Đức 72.186 người, Bungari 35.099 người, Tiệp Khắc 37.659 người

Số còn lại được phân bổ ở các nước Irắc, Angieri, Cônggô (19.301 người) Trong đó riêngIrắc đã chiếm 16.408 người

Về giới tính, trong giai đoạn này tỷ lệ lao động Nam chiếm tỷ trọng cao, trung bìnhtrong cả giai đoạn là lao động Nam chiếm 61,6% với số lượng là 148.063 người trong tổng

số 240.301 người, trong khi đó lao động nữ chỉ có 92.238 người chiếm 38,4% Nhìn chungqua các năm tỷ lệ lao động nữ đều thấp hơn nam, dao động từ 27,6% đến 60,7% Năm caonhất là năm 1985 chiếm 60,7% với lượng người 3.040 người Đây cũng là một đặc trưng

cơ bản của giai đoạn này, nguyên nhân là do yếu tố chủ quan là lao động nữ còn nhiều ràngbuộc về gia đình, sức khỏe, trình độ nên tỷ lệ đi lao động nước ngoài không cao Bên cạnh

đó còn có tác động do nhu cầu nghề nghiệp chủ yếu là các công việc nặng nhọc như: đánh

cá, xây dựng…Ngược lại, những đặc điểm này lại phù hợp với lao động là nam giới Vìvậy trong giai đoạn này ta thấy chủ yếu là lao động là nam giới tham gia XKLĐ Chúng tathấy rõ điều này qua bảng 2, thể hiện đầy đủ cơ cấu giới tính biến động cụ thể qua cácnăm

Trang 17

Năm Tổng số Nam Nữ

Sốlượng

Bảng 2: Cơ cấu giới tính XKLĐ trong giai đoạn 1980 – 1990

( không bao gồm 7.200 chuyên gia và gần 24.000 thực tập sinh, học nghề tại các nước Đông Âu.)

Nguồn: Một số điều cần biết về xuất khẩu lao động – NXB Thanh niên 2003.

Trong giai đoạn này ta thấy một đặc trưng nổi bật nữa là: Đối tượng đưa đi XKLĐchủ yếu là: Bộ đội phục viên, đây là lực lượng chiếm tỷ trọng lớn, vì trong những nămchiến tranh nước ta đã huy động một số lượng lớn người tham gia vào quân đội để phục vụcuộc chiến tranh vệ quốc Vì vậy sau chiến tranh yêu cầu giải quyết việc làm cho lực lượngnày là một yêu cầu cấp bách Tiếp theo là những lao động trong khu vực nhà nước thuộcdiện giảm biên và số thanh niên mới bước vào tuổi lao động – là con em của những đốitượng được ưu tiên (con thương binh liệt sỹ, anh hùng lực lượng vũ trang, gia đình có côngvới cách mạng) Đây chủ yếu là nguồn đáp ứng những nhu cầu lao động không cần taynghề, chuyên môn kỹ thuật, chủ yếu là lao động phổ thông

Còn để đáp ứng về cầu lao động trong khu vực II thì nguồn của nước ta chủ yếu tuyểnchọn những lao động có tay nghề, có kinh nghiệm, đã làm việc lâu năm trong nghề

Hình thức hợp tác lao động chủ yếu là làm xen ghép trong dây chuyền sản xuất với laođộng nước bạn Những năm 1983, 1984 có thêm hình thức nhận thầu công trình và hợp táctrực tiếp giữa các bộ, các ngành và các địa phương kết nghĩa của hai nước với nhau (HàNội – Matxcơva, Nghệ Tĩnh – Ulianop…) Lao động Việt Nam thường được tổ chức thànhcác đội (40 – 50 người), có một đội trưởng và phiên dịch phụ trách Trên cấp quản lý đội

Trang 18

lao động, có cán bộ quản lý vùng, quản lý khu, quản lý chung về mặt nhà nước đối vớiLĐXK.

Lao động Việt Nam thường được bố trí làm những công việc mà lao động nước bạnkhông thích làm (những công việc không đòi hỏi chuyên môn cao, có lương thấp) hoặcđược phân công đến vùng xa xôi, hẻo lánh Trong giai đoạn này cơ cấu lao động xuất khẩucủa Việt Nam được phân bổ vào các ngành: Hơn 40% vào công nghiệp nhẹ với 117.432người mà chủ yếu là các nghề dệt, da, may mặc; 25,3% vào cơ khí với 71.077 người Phân

bố vào ngành xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng 22,9% là 64.247 người; vào cácngành công nghiệp khác chiếm 4,2%, phân bố chủ yếu trong 2 ngành: ngành hóa chất 8329người, ngành công nghiệp thực phẩm 3.542 người Ngành nông nghiệp, lâm nghiệp 6.160người, chiếm 2,19%, các ngành khác gồm 10.119 người chiếm 3,58%

Lao động phân chia theokhu vực và ngành nghề

Cơ cấu

Số lượng người %

Bao gồmChuyên gia 7.200Lao động 280.906Chia theo ngành nghề 280.906

Công nghiệp nhẹ 117.432 41,8Công nghiệp thực phẩm 3.542 1,26Xây dựng và SXVL xây

dựng

Nông nghiệp, lâm nghiệp 6.160 2,19

Bảng 3: Cơ cấu ngành nghề và khu vực của LĐXK những năm 1980 – 1990

Nguồn: Một số điều cần biết về xuất khẩu lao động – NXB Thanh niên 2003.

Mức thu nhập bình quân của lao động Việt Nam ở các nước như sau:

- Liên Xô: 160 – 180 rúp/tháng

- Đức: 800 – 900 DM/tháng

Trang 19

Nhìn chung XKLĐ của nước ta trong giai đoạn 1980 – 1990, do những điều kiện kinh

tế, xã hội, do hạn chế của chính sách đối ngoại, do những ảnh hưởng của thị trường kinh tếquốc tế, nên XLKĐ có những nét đặc trưng nhất định: Thị trường chủ yếu là các nước phe

xã hội chủ nghĩa, tỷ trọng lao động không nghề lớn, phần lớn lao động trước khi đi khôngqua đào tạo, khi đến nước tiếp nhận, lao động được phân phối về các đơn vị sản xuất, đượckèm cặp đào tạo tại chỗ, được trang bị tay nghề phù hợp với các xí nghiệp, nhà máy bạnyêu cầu

3:XKLĐ TỪ NĂM 1990 ĐẾN NAY

Năm 1986 với tinh thần phê và tự phê, Đại hội VI của Đảng đã họp và thẳng thắnnhận ra sai lầm của mình và sớm đã có biện pháp khắc phục là chuyển từ cơ chế quan liêu,tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường cạnh tranh tự do Từ đại hội VI của Đảng ta cũng

đã có những thay đổi trong nhận thức về việc đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài Sauchỉ thị số 73-CT ngày 13/03/1990 của chủ tịch HĐBT về việc tạm ngừng XKLĐ để củng

cố, chấn chỉnh tổ chức hệ thống lao động ở nước ngoài Ngày 09/11/1991 Hội đồng bộtrưởng đã ra quyết định 370/HĐBT, ban hành quy chế về việc đưa người lao động ViệtNam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài Bản quy chế này đã trở thành kim chỉ namtrong hành động, mở ra một thời kỳ mới cho XKLĐ dưới thời “mở cửa”

XKLĐ dưới thời kỳ này không chỉ đơn thuần là giải quyết việc làm và học hỏi kinhnghiệm, nâng cao trình độ chuyên môn nữa Mà chính phủ Việt Nam coi XKLĐ: “Là mộthướng giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động và tăng nguồn thu ngoại tệ chođất nước góp phần tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế - văn hóa, khoa học kỹ thuật giữaViệt Nam với các nước sử dụng lao động theo nguyên tắc bình đẳng, hai bên cùng có lợi,tôn trọng pháp luật và truyền thống dân tộc của nhau”

Hình thức XKLĐ cũng được mở rộng, XKLĐ không chỉ được thực hiện thông qua cáchiệp định giữa 2 chính phủ mà còn được thực hiện theo các hợp đồng cung ứng lao độnggiữa các tổ chức kinh tế Việt Nam với các tổ chức hoặc các nhân người nước ngoài Chấpnhận các quy luật thị trường, quy luật cạnh tranh, chấp nhận qua hệ chủ - thợ…Việt Nam

mở rộng quan hệ, hợp tác lao động với tất cả các nước trong khu vực và trên thế giới Theo

cơ chế mới, Nhà nước giao quyền tự chủ cho các doanh nghiệp XKLĐ tìm kiếm, khảo sátthị trường lao động, trực tiếp tuyển chọn, bồi dưỡng đào tạo định hướng cho người lao

Trang 20

động phù hợp với yên cầu của bên sử dụng lao động Nhà nước (mà trực tiếp là Bộ laođộng thương binh và xã hộI) chỉ thị thực hiện chức năng quản lí, kiểm tra, giám sát, banhành các chủ trương, chính sách nhằm tạo điều kiện cho XKLĐ ngày càng có hiệu quảhơn.

Trong giai đoạn này nước ta đã đưa đi gần 600.000 người đi làm việc ở nước ngoài,trung bình mỗi năm nước ta đã đưa đi 40.000 người trong các năm 1992 đến 2007 Vớinhững đặc điểm mới của cơ chế đổi mới thì cơ cấu XKLĐ của nước ta cũng đã có nhiềuđổi khác từ năm 1990 đến giai đoạn này:

Thứ nhất là về cơ cấu thị trường Nếu như trước 1990 nước ta chủ yếu đưa lao động

sang các nước phe XHCN, các nước Châu Phi như: Irắc…thì đến nay thị trường XKLĐcủa nước ta đã được mở rộng thêm tới các thị trường như: Khu vực Đông Bắc Á, ĐôngNam Á, Trung Đông, Nam Thái Bình Dương, Úc, Khối EU, Mĩ Năm 1991 nước ta chỉtham gia XKLĐ ở 12 quốc gia và vùng lãnh thổ thì đến năm 2007 đã có gần 40 quốc gia vàvùng lãnh thổ tiếp nhận lao động Việt Nam đang làm việc, số lượng LĐXK này phân bốnhiều ở các nước như: Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Malaysia…

Những năm 1991, 1992 XKLĐ bắt đầu chuyển sang hoạt động theo cơ chế mới,vì cònthiếu nhiều kinh nghiệm trong việc tìm kiếm, khai thác thị trường mới và các nghiệp vụhoạt động kinh doanh XKLĐ nên số lao động đưa đi xuất khẩu còn hạn chế và không ổnđịnh, như vào năm 1992 chỉ có 816 lao động được đưa đi làm việc ở nước ngoài Nhưngđến năm 1993 đã là 3.968 lao động và tăng lên 9.228 lao động vào năm 1994 Những năm

từ 1992 – 1996, lao động Việt Nam được đưa sang thị trường Hàn Quốc chiếm tỷ trọnglớn, như vào năm 1993, 1994, 1995, 1996 số lao động đưa sang Hàn Quốc lần lượt là:1.352, 4.378, 5.674, 6.275 lao động

Năm Tổng

số

Hàn Quốc

Đài Loan

Nhật Bản

Malaysia Các

nước khác

Trang 21

22.932 2.656 8.501 1.201 4.898 5.676

Bảng 4: Cơ cấu thị trường XKLĐ giai đoạn 1991- 2008

Nguồn: Số liệu của cục quản lý lao động nước ngoài Bộ LĐ-TB và xã hội

Tạp chí nghiên cứu kinh tế

Ta thấy, sở dĩ lao động phần lớn được đưa sang Hàn Quốc ở giai đoạn này bởi vì đây

là một thị trường mới, nhiều tiềm năng, và điều kiện sống ở Hàn Quốc cũng gần với ViệtNam Là 1 nước Châu Á, Hàn Quốc thu hút nhiều lao động Việt Nam như năm 1997 con

số này lên tới 18.447 lao động Nhưng đến năm 1998 được coi là năm khó khăn choXKLĐ Việt Nam, lượng lao đông xuất khẩu giảm hẳn (từ 18.447 người năm 1997 xuốngcòn 12.184 người năm 1998), nguyên nhân là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tàichính - tiền tệ Châu Á Các nước Châu Á có sử dụng lao động Việt Nam như: Hàn Quốc,Nhật Bản…đều lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính, hàng loạt các doanh nghiệp bịphá sản và nan thất nghiệp gia tăng Trong vòng 2 năm 1997, 1998 tỷ lệ thất nghiệp củaHàn Quốc tăng từ 3,8% lên 7,8%; Nhật Bản tăng đến mức 5% - là kỷ lục về tỷ lệ thấtnghiệp trong vòng 3 thập kỷ qua ở các nước này Trước tình hình đó, năm 1998 Hàn Quốctạm dừng việc nhập khẩu lao động, hồi hương một bộ phận người lao động nước ngoài,trước hết là những người lao động bất hợp pháp Trong năm 1998, trong số 12.184 laođộng Việt Nam đang làm việc tại Hàn Quốc, đã có 4000 lao động bị buộc phải về nước.Lượng lao động Việt Nam xuất khẩu sang Hàn Quốc bình quân những năm trước khoảng

từ 3000 – 4000 người, năm 1998 hầu như không có một hợp đồng XKLĐ nào được ký kết

Trang 22

Xu hướng XKLĐ không chỉ tập trung ở thị trường Hàn Quốc mà còn phân bố sangcác thị trường khác như: Malaysia, Đài Loan…Năm 2007 cả nước đã đưa được 85.020 laođộng đi làm việc nước ngoài, vượt 6,3% kế hoạch cả năm Trong đó, đứng đầu là thịtrường Malaysia với 26.704 người, kế tiếp là Đài Loan 23.640 người, thị trường Nhật Bảncũng có sự tăng đáng kể với số lượng khoảng 5.500 lao động Trong giai đoạn 2003 - 2005

do sự xuất hiện của căn bệnh SARS (Việt Nam là một trong những nước có người mắcbệnh này) nên hoạt động XKLĐ đã bị ảnh hưởng xấu Từ 01/04/2003, Malaysia tạm ngừngcấp Visa cho lao động những nước có dịch SARS (trong đó có Việt Nam) Ước tính, cógần 2 vạn lao động Việt Nam đã bị mất cơ hội ra nước ngoài làm việc do ảnh hưởng củachiến tranh Irắc - Mỹ và căn bệnh SARS này Cho đến nay việc không chế thành côngbệnh SARS của ngành y tế Việt Nam đã tạo điều kiện cho hoạt động XKLĐ Việt Nam tiếptục có thể thực hiện mục tiêu đề ra Tuy nhiên gần đây, do thu nhập của người lao độngxuất khẩu sang Malaysia thấp và mặt khác chịu ảnh hưởng bởi những vấn đề tiêu cực như:nạn lao động bỏ trốn…nên số lượng lao động xuất khẩu sang Malaysia có xu hướng giảmcòn 26.704 người năm 2007, thị trường này trở nên kém hấp dẫn hơn đối với người laođộng

Tính đến nay lao động Việt Nam đang làm việc chủ yếu ở các thị trường Malaysiatrên 120.000 người, Đài Loan trên 90.000 người, Hàn Quốc trên 30.000 người, Nhật Bảnkhoảng 19.000 tu nghiệp sinh

Đến đầu năm 2008, bên cạnh giữ vững những thị trường truyền thống, Việt Nam đã

mở rộng được nhiều thị trường mới, đặc biệt đã kí bản ghi nhớ về hợp tác lao động với Man, kí kết Hiệp định hợp tác lao động với Quatar (1/2008), đang đàm phán để kí Hiệpđịnh với Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập thống nhất, Ba-ranh…Chúng ta cũng đang triểnkhai kế hoạch đưa lao động sang Makau, Balan, Litva, Romania, Cộng hòa séc, Úc,Bruney, Mĩ

Â-Như vậy quy mô XKLĐ của nước ta mấy năm gần đây liên tục tăng Â-Như năm 2007

số lượng lao động đưa đi xuất khẩu ở nước ta là 85.020 người, mục tiêu đến năm 2010 lànước ta sẽ đạt mức trung bình mỗi năm đưa được 100.000 lao động đi làm việc tại nướcngoài Như vậy ta thấy số lượng lao động dồi dào, phong phú đây là một lợi thế so sánhcủa lao động Việt Nam với các nước trong khu vực

Tuy vậy nhưng hiệu quả XKLĐ của nước ta lại kém hiệu quả hơn so với các nướckhác như: Thái Lan, Philipin, Malaysia…Vậy vấn đề cần quan tâm ở đây là: Tuy số lượngnhiều nhưng chất lượng kém

Xét về vấn đề chất lượng của lao động xuất khẩu của Việt Nam: Lao động Việt Namkhi tham gia XKLĐ cũng có những ưu điểm nhất định: Xuất phát từ những lao động củanền nông nghiệp lúa nước nên lao động nước ta có bản chất chăm chỉ, cần cù, ham họchỏi…chính những điều này cũng đã đáp ứng một phần nhu cầu lao động của nước bạn.Nhưng bên cạnh đó vấn đề chất lượng lao động vẫn nổi lên nhiều yếu kém, ảnh hưởng đến

Trang 23

hiệu quả của XKLĐ Thứ nhất về trình độ văn hóa: Việt Nam vẫn là một nước nghèo, hiện

nay cả nước chưa phổ cập hết phổ thông trung học, một số nơi tỷ lệ trẻ em không được đihọc vẫn cao mà tỷ lệ này rơi nhiêu ở nông thôn Mà đây lại là một lực lượng lao động thấtnghiệp chủ yếu, chính những đối tượng này lại có nhu cầu tham gia XKLĐ vì thị trườngtrong nước không đáp ứng được việc làm Nhìn chung lao động xuất khẩu của Việt Nam

có trình độ văn hóa thấp Từ vấn đề này đã gây ra một loạt khó khăn cho lao động ViệtNam khi tham gia lao động tại nước ngoài như: Hạn chế trong nhận thức, tốn kém trongvấn đề đạo tạo Đặc biệt là trình độ ngoại ngữ yếu kém gây khó khăn trong giao tiếp Vì

vậy không thu hút nhiều nhu cầu của những nhà tuyển dụng nước ngoài Thứ hai là trình

độ chuyên môn thấp, theo ước tính sơ bộ từ điều tra lao động việc làm năm 2006, tỷ lệ lao

động từ 15 tuổi trở lên qua đào tạo chỉ là 31,9%, riêng lực lượng lao động có chứng chỉnghề ngắn hạn trở lên cũng chỉ có 14,4%, một tỷ lệ còn quá thấp so với yêu cầu Như vậy,nhìn chung lao động Việt Nam có một trình độ kỹ thuật chuyên môn trung bình là thấp sovới các nước trong khu vực Sự thiếu hụt, yếu kém của lao động có trình độ chuyên môn,chưa đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp (nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài hay doanh nghiệp XKLĐ), điều này nói lên tính bức bách của việc nâng caohơn nữa hệ thống đào tạo theo các chuẩn mực quốc tế, với mục tiêu hướng tới xây dựngmột nên kinh tế tri thức, đòi hỏi từ bây giờ cần có một chiến lược giáo dục và đào tạo vớimột sự đầu tư thỏa đáng Ngân sách nhà nước dành cho các trường dạy nghề là rất nhỏ bé,chỉ chiếm 5% toàn bộ ngân sách dành cho giáo dục, đào tạo (năm 1999) mặc dù đã tăngđáng kể so với mức 3,8% của năm 1997 – 1998 Hơn một nửa thiết bị dạy nghề đã quá lạchậu, được sản xuất từ những năm 1970 trở về trước Về lâu dài, trong chiến lược nâng caochất lượng nguồn lao động phải được thực hiện có hiệu quả ngay, đáp ứng cho nhu cầuCNH – HĐH và XKLĐ: Người lao động cần phải được trang bị cả chuyên môn nghiệp vụ

và ngoại ngữ Việc dạy ngoại ngữ cho người lao động phải được thực hiện có hiệu quảngay từ các cấp học phổ thông, sao cho khi bước vào độ tuổi lao động họ có thể sử dụngđược một ngoại ngữ thông dụng trên thế giới Trong đào tạo nghề, cần xóa bỏ tình trạng

“thừa thầy, thiếu thợ” hiện nay (cơ cấu đào tạo đại học/trung cấp/CNKT của Việt Nam là1,0/0,25/0,18 trong khi của thế giới là 1,0/2,5/3,5).Vì vậy hàng năm nước ta đã đào tạo dưthừa một đội ngũ kỹ sư lớn trong khi đó lượng công nhân kỹ thuật có tay nghề thì thiếutrầm trọng Tóm lại trình độ chuyên môn thấp là nguyên nhân chính gây mất hiệu quảtrong vấn đề XKLĐ của Việt Nam, nó cũng hạn chế rất nhiều đến số lượng lao động xuấtkhẩu Để khắc phục được vấn đề này thì nhà nước ta cần phải có một chiến lược lâu dài,đầu tư vào hệ thống giáo dục, đào tạo nghề nhằm đáp ứng được yêu cầu của thị trường laođộng thế giới

Dù xuất khẩu lao động đã tăng về quy mô nhưng lại chỉ tập trung được ở những thịtrường với mức thu nhập xóa đói giảm nghèo, còn những thị trường có thu nhập cao vàđang cần lao động nước ngoài thì lao động Việt Nam vẫn rất khó tiếp cậnViệc mở rộng thịtrường xuất khẩu lao động là hướng đi đúng đắn, phù hợp lộ trình hội nhập, mở cửa, góp

Trang 24

phần giải quyết công ăn, việc làm cho lao động trong nước Tuy nhiên, yêu cầu việc xuấtkhẩu lao động ngày càng khắt khe, về kỹ năng tay nghề, nhất là làm việc trong côngxưởng, nhà máy Yêu cầu về chấp hành kỷ luật và ngoại ngữ cũng không kém, nhất là tạicác thị trường không thông dụng tiếng Anh Hiện lao động của ta ra nước ngoài cơ bản đápứng yêu cầu doanh nghiệp sở tại nhưng tay nghề, trình độ còn hạn chế, khi đưa ra các nước

có kinh tế phát triển còn khó khăn.Chính vì vậy đã làm giảm đi một phần sức cạnh tranhcủa nước ta trên thị trường lao động thế giới

Lao động Việt Nam thì chủ yếu tham gia vào những ngành như: Ngành khai thác mỏ,làm nông nghiệp, những nơi làm việc mà lao động bản địa không thích làm Còn một sốngành công nghiệp thì rất ít lao động Việt Nam đáp ứng đủ yêu cầu của nhà tuyển dụng,đặc biệt là ở một số thị trường khó tính như: Mỹ, Nhật Bản, Châu Âu…

Một trong những nguyên nhân của vấn đề trên chính là do công tác khai thác, tìmkiếm thị trường của ta còn nhiều hạn chế Ban đầu do hạn chế về số lượng doanh nghiệptham gia XKLĐ nên thông tin không được đầy đủ, không đáp ứng được hết các nhu cầucủa thị trường Việc xuất khẩu lao động và chuyên gia được thực hiện thông qua các hợpđồng kinh tế do các tổ chức kinh tế đã ký với bên nước ngoài Cho đến tháng 8/1998, nước

ta đã có 55 tổ chức kinh tế là doanh nghiệp nhà nước có giấy phép hoạt động XKLĐ.Trong giai đoạn 1996 – 1999, số lượng các doanh nghiệp được cấp giấy phép kinh doanhdịch vụ XKLĐ thực hiện nghị định 07/CP là 77 doanh nghiệp trong đó có 53 doanh nghiệpthuộc Bộ ngành và 24 doanh nghiệp địa phương Tính đến năm 2007, số lượng các doanhnghiệp kinh doanh dịch vụ XKLĐ là 145 doanh nghiệp, có 118 doanh nghiệp nhà nước, 11doanh nghiệp thuộc các tổ chức đoàn thể, 13 công ty cổ phần và 3 công ty trách nhiệm hữuhạn Như vậy ta thấy số lượng các doanh nghiệp tham gia XKLĐ đã tăng đáng kể, phầnnào đáp ứng được nhu cầu của thị trường rộng lớn Nhưng con số này cũng chưa phản ánhhết được thị trường XKLĐ thế giới Mà đặc biệt là ở những thị trường mới mà các doanhnghiệp Việt Nam chưa khai thác hay mới khai thác bước đầu

Hình thức quảng bá, tiếp cận với các thị trường mới cũng là một điều đáng bàn Cácdoanh nghiệp mới chỉ dừng lại ở hình thức ký kết các hợp đồng thông qua sự hợp tác củacác chính phủ Còn các hình thức hợp tác trực tiếp giữa 2 doanh nghiệp của 2 nước thì còn

bị hạn chế bởi những thủ tục hành chính phức tạp, gây tốn kém thời gian chi phí, tạo ra tâm

ly e ngại đối với các doanh nghiệp tuyển dụng Một lý do đáng lưu tâm đó là sự quảng báhình ảnh của lao động Việt Nam Nhiều quốc gia mới chỉ biết đến Việt Nam là một nướcnông nghiệp nghèo nàn lạc hậu, từng trải qua bao cuộc chiến tranh khốc liệt để bảo vệ TổQuốc Các nhà nhập khẩu lao động nước ngoài không có được nhiều thông tin về lao độngViệt Nam, chính vì vậy mà họ đã ngần ngại tuyển dụng lao động ta Vì thế, các doanhnghiệp XKLĐ cần tăng cường công tác quảng bá hình ảnh của lao động Việt Nam trên thịtrường thể giới, để các nước khác có cái nhìn nhận đúng đắn về con người Việt Nam, laođộng Việt Nam

Trang 25

Thứ hai là cơ cấu về giới tính Trong giai đoạn này lượng lao động nữ cũng đã

tăng đáng kể, vì trong xã hội lúc này đã giảm bớt sự bất bình đẳng nam nữ, người phụ nữcũng là lực lượng lao động đóng góp vào thu nhập chính của gia đình

Năm Tổng

số

Sốlượng

Bảng 5: Cơ cấu giới tính của LĐXK 1992-2007

Nguồn: Số liệu của cục hợp tác lao động nước ngoài Bộ LĐ-TB và xã hội

Nhìn chung tỷ lệ lao động nữ xuất khẩu trong giai đoạn này cũng đã tăng lên nhiều sovới thời kì trước, nhưng tỷ lệ này vẫn chưa cao bằng lao động nam Trong tổng số lao độnggiai đoạn này là 581.038 người thì có tới 381.559 lao động nam chiếm 65.67% Cũng tronggiai đoạn này cả lao động nữ và nam đều tăng lên đáng kể từ đầu kỳ đến cuối kỳ Như năm

1992 số lao động nữ chỉ là 100 người thì đến năm 2007 đã lên đến 39.075 người, con sốnày ở nhóm nam là 45.945 người.Qua số liệu về cơ cấu giới tính của XLKĐ trong thời kỳnày ta thấy cơ cấu giữa lao động Nam và nữ đã đỡ mất cân đối hơn, mặc dù lao động namvẫn chiếm ưu thế, nhưng điều đó đúng đặc trưng của từng giới, tỷ lệ này phù hợp với thực

tế lao động ở nước ta

Thứ ba về cơ cấu nghề nghiệp

Trang 26

Trong suốt quỏ trỡnh từ khi bắt đầu thực hiện đưa lao động đi làm việc (năm 1980) chođến nay thỡ cơ cấu nghề nghiệp trong XKLĐ đó cú sự thay đổi đỏng kể Sự thay đổi này là

sự tăng lờn cả về chất và về lượng Xột về mặt chất, cơ cấu nghề nghiệp đó cú sự đa dạng

và mở rộng ra nhiều ngành nghề mới Nếu như giai đoạn 1980 – 1990 lao động Việt Namchủ yếu làm việc trong cỏc ngành nghề như: Cơ khớ, cụng nghiệp nhẹ, húa chất, …thỡ đếnnay lao động Việt Nam vẫn phỏt huy ưu thế trong cỏc ngành trờn và cũn tham gia vào cỏcngành mới khỏc, đặc biệt là những ngành về cỏc dịch vụ xó hội như: Chăm súc người già,làm việc nội trợ, làm nụng nghiệp…Trong số 526.342 người đi làm việc ở nước ngoài tớnh

từ 1998 – 2007, cú nghề chiếm khoảng 25%; trong đú năm 1998 là 12.240 người (cú nghề4.884 người); năm 2003 78.489 người (cú nghề 12.133 người), riờng trong 2 năm 2006,

2007 ước tớnh tỉ lệ lao động cú nghề đi xuất khẩu lao động cũng chỉ chiếm khoảng dưới20% Chủ yếu làm việc tại cỏc nước trong khu vực như Đài Loan, Malaysia, Hàn Quốc,Nhật bản Năm 2007 đưa đi được trờn 85.000 lao động làm việc trong khoảng 30 nhúmngành nghề khỏc nhau như: Cơ khớ, chế tạo, xõy dựng, lắp rỏp điện tử, dệt may, thuyềnviờn tàu đỏnh cỏ và tàu vận tải, dịch vụ xó hội Như vậy là khụng chỉ tăng lờn về mặt chấttức là đa dạng húa ngành nghề, thị trường lao động mà cơ cấu XKLĐ cũn tăng lờn cả mặtlượng Số lượng lao động đi làm việc cú nghề ngày càng tăng Điều này cú nguyờn nhõnchớnh là do yờu cầu ngày càng tăng của thị trường lao động tại cỏc nước nhập khẩu laođộng Hiện nay do trỡnh độ khoa học, kỹ thuật đó phỏt triển và ngày càng được ỏp dụngnhiều ở cỏc nước trờn thế giới, nờn bờn cạnh nhu cầu cần những lao động phổ thụng, laođộng nụng nghiệp, thỡ cũn một nhu cầu lớn cỏc lao động cú trỡnh độ kỹ thuật, tay nghề cao

để thớch ứng được với những dõy chuyền sản xuất hiện đại

Tuy nhiên có một thực trạng là năm 2007 nớc ta đã có hơn 85 ngàn ngời đi xuất khẩulao động song theo báo cáo của Cục quản lý lao động ngoài nớc thì số lao động có nghềcủa nớc ta vẫn cha đạt

Nếu như năm 1998, tuy số lượng lao động đi XKLĐ chỉ cú 12.240 người, nhưng tỉ lệ

LĐ cú nghề chiếm tới 39,9%; trong khi năm 2003 tỉ lệ LĐ cú nghề giảm cũn 16,17%(trong số 75.000 người được đưa đi) Riờng trong 2 năm 2004 và 2005, ước tỉ lệ LĐ cúnghề đi XKLĐ cũng chỉ chiếm khoảng dưới 20% trong tổng số 140.000 người được đưa

đi

Năm 2006, tỷ lệ lao động cú nghề chuyờn mụn chiếm 27,5% Năm 2007, tỡnh hỡnh cúthể được cải thiện đụi chỳt song để đạt được đỉnh cao của năm 1998 chắc chắn là điềukhụng thể Mỗi năm một lực lượng rất lớn thanh niờn rời ghế nhà trường với con sốkhoảng 500.000 người Đõy là cỏc lao động đa phần chưa cú nghề Với khoảng 84,5 triệudõn, trong đú cú trờn 42 triệu người ở độ tuổi lao động nhưng tỷ lệ qua đào tạo ở VN chỉdừng ở 27% Con số này quỏ thấp so với cỏc nước đang phỏt triển trong khu vực (50% đến60%, đối với cỏc nước phỏt triển gần như 100% lực lượng lao động đều được đào tạo

Ngày đăng: 18/04/2013, 10:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình Kinh tế quốc tế - Khoa kinh tế ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế quốc tế
Nhà XB: Khoa kinh tế ĐHQGHN
10. Báo cáo tổng hợp giai đoạn 2000-2007, cục quản lý lao động ngoài nước-Bộ lao động thương binh và xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp giai đoạn 2000-2007
Nhà XB: Cục quản lý lao động ngoài nước-Bộ lao động thương binh và xã hội
11. Báo cáo tổng hợplao động xuất khẩu hàng năm 12. Giáo trình kinh tế lao động-TS.MAI QUỐC CHÁNH 13. Tạp chí công sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế lao động
Tác giả: TS.MAI QUỐC CHÁNH
Nhà XB: Tạp chí công sản
2. Một số vấn đề cần biết về xuất khẩu lao động – NXB Thanh Niên 2003 Khác
4. Tạp chí Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương 5. Tạp chí kinh tế phát triển Khác
9. Tạp chí Thương mại - Bộ thương mại Khác
14. Văn kiện đại hội toàn quốc lần thứ IX,X,XI 15. Các web site:www.vnexpress www.thanhnien.com www.vietnamnet www.dafel.gov.vn www.vneconomy www.danntri.com.vn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Cơ cấu thị trường XKLĐ trong giai đoạn 1980 - 1990 - MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
Bảng 1 Cơ cấu thị trường XKLĐ trong giai đoạn 1980 - 1990 (Trang 15)
Bảng 2: Cơ cấu giới tính XKLĐ trong giai đoạn 1980 – 1990 - MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
Bảng 2 Cơ cấu giới tính XKLĐ trong giai đoạn 1980 – 1990 (Trang 17)
Bảng 3: Cơ cấu ngành nghề và khu vực của LĐXK những năm 1980 – 1990 - MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
Bảng 3 Cơ cấu ngành nghề và khu vực của LĐXK những năm 1980 – 1990 (Trang 18)
Bảng 5: Cơ cấu giới tính của LĐXK 1992-2007 - MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
Bảng 5 Cơ cấu giới tính của LĐXK 1992-2007 (Trang 25)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w