Giải pháp phát triển bền vững nuôi trồng thuỷ sản ở các tỉnh Bắc Trung Bộ đến năm 2015
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
I Vai trò của ngành Thủy sản đối với phát triển Kinh tế - Xã hội 4
1 Một số khái niệm liên quan 4
1.1 Nuôi thủy sản nước ngọt 5
1.2 Nuôi thủy sản nước lợ 6
1.3 Nuôi trồng động thực vật nước mặn 6
1.3.1 Nuôi thủy sản nước mặn 6
1.3.2 Trồng rau câu, rong sụn 7
2 Đặc điểm ngành Thủy sản 7
2.2 Là ngành sản xuất vật chất hỗn hợp và phức tạp 7
3 Vai trò và vị trí của ngành Thủy sản trong nền kinh tế quốc dân 8
3.1 Tạo nên sự tăng trưởng mạnh mẽ và thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước 8
3.2 Thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế của đất nước 9
3.3 Đảm bảo an ninh lương thực quốc gia 10
3.4 Góp phần giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo 10
II Vị trí của nuôi trồng thủy sản trong cơ cấu ngành 11
1 Vai trò của nuôi trồng thủy sản 11
1.1 Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thủy sản và thương mại quốc tế thủy sản 11
1.2 Giải quyết việc làm và tăng thu nhập 12
1.3 Cung cấp thực phẩm đáp ứng nhu cầu nội địa 12
1.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 12
1.5 Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 13
2 Tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh Bắc Trung Bộ 13
2.1 Giới thiệu tổng quan về các tỉnh Bắc Trung Bộ 13
2.2 Tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản 16
2.2.1Về diện tích nuôi trồng 16
2.2.2 Về giống loài thủy sản 17
2.2.3 Về điều kiện thời tiết và khí hậu 18
III Sự cần thiết của việc phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản 19
1 Khái niệm về phát triển bền vững 19
2 Các tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững 21
3 Sự cần thiết phải phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản 22
Trang 2IV Một số bài học kinh nghiệm cho sự phát triển nuôi trồng thủy sản ở các
tỉnh Bắc Trung Bộ 26
1 Kinh nghiệm từ các nước trên thế giới 26
2 Kinh nghiệm từ các vùng khác trong nước 26
Chương II: THỰC TRẠNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở CÁC TỈNH BẮC TRUNG BỘ GIAI ĐOẠN 2001 – 2007 28
I Tình hình phát triển nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn 2001 – 2007 28
1 Diện tích và sản lượng nuôi trồng 28
1.1 Sử dụng diện tích nuôi 28
1.2 Sản lượng thủy sản nuôi trồng 29
2 Đối tượng nuôi trồng 30
2.1 Nuôi thủy sản nước lợ 31
2.2 Nuôi, trồng thủy sản nước mặn 31
2.3 Nuôi thủy sản nước ngọt 32
3 Công tác sản xuất giống 34
3.1 Tình hình sản xuất giống thủy sản nuôi nước lợ, mặn 34
3.2 Sản xuất giống cá nuôi nước ngọt 34
4 Hiệu quả Kinh tế - Xã hội của nuôi trồng thủy sản 35
4.1 Hiệu quả Kinh tế 35
4.2 Hiệu quả xã hội 36
5 Những hạn chế và nguyên nhân 37
5.1 Hạn chế 37
5.2 Nguyên nhân 38
6 Những thách thức trong thời gian tới 39
II Đánh giá sự bền vững trong nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn 2001 – 2007 40
1 Sự bền vững về kinh tế 41
2 Sự bền vững về xã hội 42
2.1 Những thành tựu trong phát triển xã hội 42
2.2 Những hạn chề còn tồn tại 44
3 Sự bền vững về môi trường 44
4 Nguyên nhân của những hạn chế trong việc phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản 45
Chương III: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN ĐẾN NĂM 2015 47
Trang 3I Quan điểm của Nhà nước về phát triển nuôi trồng thủy sản đến năm 2015 47
1 Dự báo xu hướng phát triển thủy sản thế giới 47
2 Định hướng phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản của Việt Nam 48
2.1 Quan điểm của Việt Nam về phát triển bền vững 48
2.2 Định hướng phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản 48
3 Phương hướng và mục tiêu của Nhà nước về phát triển nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2001 – 2015 50
3.1 Phương hướng phát triển nuôi trồng thuỷ sản 50
3.2 Mục tiêu phát triển nuôi trồng thuỷ sản đến năm 2015 50
II Các giải pháp phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh Bắc Trung Bộ 51
1 Giải pháp về môi trường 51
2 Giải pháp về giống 52
3 Giải pháp về thủy lợi 53
4 Hoạt động Khoa học công nghệ và Khuyến ngư 55
4.1 Định hướng hoạt động Khoa học công nghệ 55
4.2 Công tác Khuyến ngư 57
5 Giải pháp hoàn thiện công tác quy hoạch 58
5.1 Quy hoạch nuôi trồng thủy sản 58
5.2 Quy hoạch các nhóm sản phẩm 60
5.3 Công tác quản lý, chỉ đạo thực hiện quy hoạch ở các tỉnh 60
6 Giải pháp về đầu tư phát triển nuôi trồng thủy sản 61
6.1 Mục tiêu đầu tư 61
6.2 Các giải pháp về đầu tư phát triển 61
7 Giải pháp phát triển và ổn định thị trường đầu ra 63
8 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 64
III Một số kiến nghị 65
1 Đối với phía Nhà nước 66
2 Đối với các tỉnh, thành phố trong khu vực 66
KẾT LUẬN 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, sự khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên đãdẫn đến sự ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng Đây chính là kết quảcủa sự theo đuổi tăng trưởng kinh tế mà không chú trọng tới hai vấn đề xã hội
và môi trường Sự tăng nhanh về thu nhập bình quân đầu người, tổng giá trịsản xuất hàng hoá đã làm cho chúng ta lầm tưởng về một sự phát triển toàndiện của kinh tế - xã hội để rồi tiếp tục gây ra sự cạn kiệt tài nguyên, huỷ hoạimôi trường và gây gia tăng khoảng cách giàu nghèo Đã đến lúc chúng ta cầnphải có sự phân biệt rõ ràng giữa tăng trưởng và phát triển, qua đó thấy được
sự nguy hiểm của việc tăng trưởng kinh tế trong thời gian qua đem lại
Trước tình hình này, một loạt những Hội nghị Quốc tế đã được tổ chứcnhằm xác định cho nhân loại một con đường phát triển nhằm đáp ứng sự pháttriển toàn diện của xã hội Từ giữa thập kỷ 80 đến nay, quan điểm về “pháttriển bền vững” đã trở thành một ý niệm thời thượng Nó là khẩu hiệu củahàng trăm tổ chức quốc tế, là đề tài của các cuộc hội nghị, hội thảo toàn cầu
và là một tiêu chuẩn quan trọng trong chiến lược phát triển của hầu hết mọiquốc gia Ý niệm “phát triển bền vững” nhấn mạnh đến khả năng phát triểnkinh tế liên tục lâu dài, không gây ra những hậu quả tai hại khó khôi phục ởcác lĩnh vực khác, nhất là môi trường Phát triển mà làm huỷ hoại thiên nhiên,phát triển mà chỉ dựa vào những tài nguyên có thể cạn kiệt là một sự pháttriển không bền vững Như vậy, phát triển bền vững là sự phát triển có lồngghép, phối hợp hài hoà của ba mặt: tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội vàbảo vệ môi trường
Tại Việt Nam, phát triển bền vững đã trở thành quan điểm chỉ đạotrong các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Từ những bài học thực tiễnquý báu đã trải qua như: việc phá các khu rừng tràm ở đồng bằng sông CửuLong để trồng lúa đã làm cho vùng này trong những năm qua phải gánh chịu
Trang 5tình trạng lũ lụt nặng nề, hay như việc sử dụng bừa bãi phân bón, thuốc trừsâu nhập lậu từ Trung Quốc về, kể cả những thứ bị cấm dùng do độc hại đãgây ảnh hưởng lớn đến nguồn nước, ô nhiễm môi trường Chính vì vậy,chúng ta đã xây dựng con đường phát triển bền vững dưới sự chỉ đạo củaĐảng và Nhà nước, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước.
Trong những năm qua, nhờ phát huy tốt lợi thế của đất nước, con ngườitại khu vực các tỉnh Bắc Trung Bộ, nuôi trồng thuỷ sản đã thể hiện vai trò củamình trong sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng Nuôi trồng thuỷ sản đã gópphần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy chuyển dịch kinh tế của vùngthông qua xuất nhập khẩu các mặt hàng liên quan đến lĩnh vực này Trongnhững năm qua, thu nhập bình quân đầu người của nhân dân trong vùng đãtăng lên rõ rệt, tình trạng đói nghèo giảm hẳn Tỷ lệ thất nghiệp của người laođộng trong vùng không còn nhiều, chất lượng cuộc sống được nâng cao Từ
đó, chúng ta có thể thấy sự phát triển nuôi trồng thuỷ sản đã hướng tới mụctiêu phát triển bền vững Tuy nhiên, để những mục tiêu này trở thành thực tếchúng ta sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức Do đó, chúng tacần phải tìm hiểu, nghiên cứu kỹ nhằm đưa ra những nhìn nhận khách quan
và qua đó đưa ra những giải pháp kiến nghị hợp lý, tạo nền tảng cho sự pháttriển bền vững nuôi trồng thuỷ sản của vùng
Trong thời gian thực tập tại Vụ kinh tế Nông nghiệp – Bộ kế hoạc vàĐầu tư, nhận thức được sự cần thiết phải phát triển bền vững, cũng như vaitrò quan trọng của nuôi trồng thuỷ sản đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ởcác tỉnh Bắc Trung Bộ, em đã chọn đề tài nghiên cứu cho chuyên đề thực tập
tốt nghiệp của mình là: “Giải pháp phát triển bền vững nuôi trồng thuỷ
sản ở các tỉnh Bắc Trung Bộ đến năm 2015”.
Bài viết sẽ được nghiên cứu trên phương pháp chính là: dựa trên nhữngquan điểm, lý luận về phát triển bền vững và vai trò của nuôi trồng thuỷ sản
Trang 6trong sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng, bài viết sẽ đi vào phân tíchnhững kết quả đạt được trong thời gian qua, so sánh và đối chiếu với các tiêuchí của phát triển bền vững, qua đó đánh giá và đưa ra nhận xét về tình hìnhthực tế, đồng thời căn cứ vào những quan điểm của Đảng và Nhà nước để đưa
ra những giải pháp cụ thể và kiến nghị
Bố cục của đề tài sẽ được chia thành 3 chương:
- Chương I: Cơ sở lý luận cho sự phát triển bền vững nuôi trồng thuỷsản
- Chương II: Thực trạng nuôi trồng thuỷ sản ở các tỉnh Bắc Trung Bộgiai đoạn 2001 – 2007
- Chương III: Các giải pháp phát triển bền vững nuôi trồng thuỷ sảnđến năm 2015
Để hoàn thành bài viết này, em đã được sự giúp đỡ nhiệt tình của cácchuyên viên Vụ kinh tế Nông Nghiệp – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đặc biệt làchú Chu Văn Tý đã tạo điều kiện cho em tìm tài liệu phục vụ cho việc nghiêncứu đề tài này Em cũng cảm ơn thầy giáo Th.S Phạm Xuân Hoà đã tận tìnhhướng dẫn em trong thời gian thực hiện chuyên đề tốt nghiệp
Tuy nhiên do lượng thời gian có hạn, lượng kiến thức của bản thân vềthực tế còn ít Mặc dù bản thân em đã có nhiều cố gắng nhưng bài viết khôngthể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đánh giá và phêbình thẳng thẳn của các thầy cô giáo trong khoa để thực hiện tốt hơn những
đề tài sau này
Trang 7Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
I Vai trò của ngành Thủy sản đối với phát triển Kinh tế - Xã hội.
1 Một số khái niệm liên quan.
Trong suốt thời gian dài phát triển của đất nước ta, con người ViệtNam, văn hóa Việt Nam luôn gắn liền với sông nước, với những hoạt độngtrên bến dưới thuyền, quăng chài thả lưới Ngay từ thưở khai sinh, con người
đã biết đánh bắt cá để đáp ứng nhu cầu ăn uống hàng ngày của chính mình.Theo thời gian, nghề cá ngày càng phát triển khẳng định tầm quan trọng củamình, không chỉ trong việc đáp ứng nhu cầu lương thực thực phẩm của ngườidân ven biển mà còn là ngành kinh tế đóng góp lớn cho sự phát triển của đấtnước
Ngành Thủy sản được coi là ngành sản xuất vật chất dựa trên nhữngkhả năng tiềm tàng về sinh vật trong môi trường nước để sản xuất ra nhữngsản phẩm phục vụ cho nhu cầu con người
Theo điều 2 của Luật Thủy sản được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hộiChủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua: Hoạt động thủy sản làviệc tiến hành khai thác, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản, dịch vụ trong hoạtđộng thủy sản; điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản
Giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, ngành Thủy sảnhoạt động trên nhiều lĩnh vực, trong đó chủ yếu là:
Trang 8Căn cứ vào môi trường nuôi - trồng người ta chia thành 3 bộ phậnchính:
1.1 Nuôi thủy sản nước ngọt.
Là hoạt động kinh tế khai thác con giống trong vùng nước ngọt tựnhiên, sản xuất giống nhân tạo và ương nuôi các loài thủy sản (mà nơi sinhtrưởng cuối cùng của chúng là trong nước ngọt) để chúng đạt tới kích cỡthương phẩm Ở đây nước ngọt được hiểu là môi trường nước có độ mặn thấphơn 5‰
Một số loại hình nuôi thủy sản nước ngọt:
Nuôi thủy sản ao hồ nhỏ:
Các loài cá trắm, chép, trôi, mè, mè Vinh, trê lai, rô phi, tra, basa,…lànhững đối tượng ổn định trong nghề nuôi thủy sản ao hồ nhỏ Nguồn giốngsinh sản nhân tạo hoàn toàn chủ động, năng suất bình quân đạt hơn 3tấn/ha.Riêng cá tra nuôi trong ao hầm, với những ứng dụng kỹ thuật tiên tiến, có thểcho năng suất tới 300 tấn/ha Gần đây, một số loài mới nhập nuôi hoặc mớitạo ra như cá trôi Ấn Độ (rohu), mrigala, cá chép lai ba máu …đang đượcphát triển nhanh
Nuôi cá mặt nước lớn (nuôi trong hồ tự nhiên, hồ chứa):
Hình thức nuôi lồng, bè trong sông, suối, hồ chứa rất phát triển với cácđối tượng có giá trị kinh tế cao như cá tra, basa, rô phi, trắm cỏ, chép lai, trôi
Ấn Độ, v.v…
Nuôi cá ruộng trũng và vùng ngập lũ:
Được tiến hành theo mô hình nuôi cá – lúa, tôm – lúa, luân canh hoặcxen canh Đây chính là hướng chuyển đổi cơ cấu trong nông nghiệp, tăng thunhập cho người lao động, xóa đói giảm nghèo ở nông thôn
Đối tượng nuôi chủ lực trong ruộng và các vùng ngập lũ hiện nay là cácloài cá nước ngọt và tôm càng xanh Phát triển nuôi thủy sản trong ruộng
Trang 9trũng đã trở thành một hướng quan trọng để điều chỉnh cơ cấu canh tác, làmtăng giá trị trên một đơn vị diện tích canh tác, cải thiện điều kiện kinh tế nôngnghiệp, nông thôn và nâng cao giá trị xuất khẩu Các đối tượng khác là lươn,ếch, baba, cá sấu,… cũng đang được nuôi ở nhiều nơi.
1.2 Nuôi thủy sản nước lợ.
Là hoạt động kinh tế ương, nuôi các loài thủy sản trong vùng nước lợcửa sông, ven biển Ở đây, nước lợ được hiểu là môi trường nước có độ mặnthay đổi theo mùa
Đối tượng nuôi các loài tôm chủ yếu: Tôm sú (P.monodon), tôm he(Penaeus merguiensis), tôm bạc thẻ (P.indicus), tôm nương (P orientalis),tôm rảo (Metapenaeus ensis) và một số loài như cá vược (chẽm), cá mú(song), cá chình…
Hình thức nuôi gồm chuyên canh một đối tượng và xen canh, luân canhgiữa nhiều đối tượng hoặc nuôi trong rừng ngập mặn Gần đây, mô hình nuôihữu cơ (nuôi tôm trong điều kiện gần như tự nhiên, không sử dụng hóa chất,kháng sinh, thuốc kích thích) bắt đầu được áp dụng và mở rộng ở Đồng bằngSông Cửu Long
1.3 Nuôi trồng động thực vật nước mặn.
1.3.1 Nuôi thủy sản nước mặn.
Là hoạt động kinh tế ương nuôi các loài thủy sản mà nơi sinh trưởngcuối cùng của chúng là ở biển Hình thức nuôi chủ yếu là lồng bè hoặc nuôitrên bãi triều
Đối tượng nuôi chính là tôm, tôm hùm, cá biển (cá mú, cá gió, cá hú, cácam…), nhuyễn thể (nghêu, sò huyết, ốc hương, trai ngọc…)
Trang 101.3.2 Trồng rau câu, rong sụn.
Những tỉnh trồng rau câu chủ yếu là Hải Phòng, Thừa Thiên Huế, BếnTre Rong sụn là loài mới được nhập và có kết quả, đang được nhân rộng ởnhiều địa phương miền Trung và Nam Bộ
2 Đặc điểm ngành Thủy sản.
2.1 Ngành Thủy sản là ngành sản xuất vật chất độc lập.
Ngành Thủy sản được coi là ngành sản xuất vật chất độc lập do cónhững điều kiện hoạt động sau:
Có đối tượng lao động riêng
Có công cụ và phương pháp lao động riêng
Có lực lượng chuyên môn hóa thể hiện đó là một nghề nhất định
2.2 Là ngành sản xuất vật chất hỗn hợp và phức tạp.
Ngành Thủy sản mang tính chất sản xuất hỗn hợp bởi cũng giống nhưngành sản xuất Nông nghiệp, đối tượng của ngành là các sinh vật sống dướinước có khả năng tái sinh tự nhiên Chúng có những chu kỳ tăng trưởng, chu
kỳ sinh sản, có môi trường sống riêng theo từng loài, theo thời tiết rất đa dạng
và phong phú Vì vậy, đi đôi với việc khai thác các nguồn thủy hải sản tựnhiên cần phải nghiên cứu và thực hiện bảo vệ, duy trì và tái tạo nguồn lợi.Như vậy về mặt sản xuất thì ngành vừa mang tính công nghiệp vừa mang tínhchất nông nghiệp và việc quản lý sản xuất trong ngành thủy sản mang tínhchất hỗn hợp
Ngành Thủy sản mang tính chất sản xuất vật chất phức tạp do đốitượng sau khi khai thác có tính chất nhanh hỏng, chất lượng và giá trị dinhdưỡng của sản phẩm sau khi đưa ra khỏi môi trường sống nhanh bị giảm sút
và biến đổi Điều này đòi hỏi sản xuất thủy sản phải được tổ chức liên hoàn,khép kín từ khâu đầu đến khâu cuối, từ việc khai thác, nuôi trồng cho đến việcchế biến, kinh doanh tiêu thụ sản phẩm và đầu tư tái tạo nguồn lợi
Trang 113 Vai trò và vị trí của ngành Thủy sản trong nền kinh tế quốc dân.
Vai trò của ngành Thủy sản được khẳng định trong Nghị quyết củaChính phủ ngày 15/6/2000 về “ Một số chủ trương và chính sách về chuyểndịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm Nông nghiệp ” với vai trò là Ngànhsản xuất sản phẩm đạm động vật có nhu cầu ngày càng tăng ở thị trường trongnước và xuất khẩu lớn, có khả năng trở thành ngành sản xuất có lợi thế lớnnhất trong nền Nông nghiệp của Việt Nam, sản lượng thủy sản đạt 3 đến 3,5triệu tấn/năm, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước, nâng kim ngạch xuấtkhẩu vươn lên hàng đầu khu vực Châu Á
Mặt khác, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, GDP của ngành Thủysản giai đoạn 1995 – 2003 tăng từ 6.664 tỷ đồng lên 24.125 tỷ đồng NgànhThủy sản có tốc độ tăng trưởng rất nhanh so với các ngành kinh tế khác Tỷtrọng của ngành Thủy sản trong tổng giá trị GDP toàn quốc liên tục tăng, từ2,9%(năm 1995) lên 3,4%(năm 2000) và đạt 3,93% vào năm 2003
3.1 Tạo nên sự tăng trưởng mạnh mẽ và thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Là một đất nước đang phát triển, con đường thuận lợi để đưa Việt Namtiến lên trở thành một nước công nghiệp là phải phát huy những lợi thế củađất nước Trong đó, ngành Thủy sản là một trong những ngành khai thác lợithế so sánh hiệu quả nhất
Từ cuối thập kỷ 80 đến năm 2000, ngành Thủy sản đã có những bướctiến kô ngừng Các chỉ tiêu chủ yếu đề ra trong Chiến lược phát triển Kinh tế -
Xã hội ngành Thủy sản thời kỳ 1991 – 2000 đã hoàn thành vượt mức
Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thủy sản tương đương với các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Điều đó chứng tỏ ngành Thủy sản đang chuyển dân từ sản xuất mang nặng tính công nghiệp sang sản xuất kinh doanh theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua bảng số liệu sau:
GIÁ TRỊ XUẤT KHẨU (triệu USD)
Trang 12Năm Toàn quốc
Công nghiệp Xây dựng Dịch vụ
Nông – Lâm – Thủy sản Tổng số Riêng Thủy
Nguồn: Niên giám thống kê Nông – Lâm – Thủy sản.
Bảng 1: Giá trị của ngành Thuỷ sản trong cơ cấu xuất khẩu.
3.2 Thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế của đất nước.
Từ đầu những năm 1980, ngành Thủy sản đã đi đầu trong cả nước về
mở rộng quan hệ thương mại sang những khu vực thị trường mới trên thếgiới Năm 1996, ngành Thủy sản mới chỉ quan hệ với 30 nước và vùng lãnhthổ trên thế giới Đến năm 2001 quan hệ này đã được mở rộng ra 60 nước vàvùng lãnh thổ, năm 2003 là 75 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới
Đối với các nước và vùng lãnh thổ có quan hệ thương mại, ngành Thủysản đã tạo dựng được uy tín lớn Những nước công nghiệp phát triển như Mỹ,Nhật và các nước trong khối EU đã chấp nhận làm bạn hàng lớn và thườngxuyên của ngành Năm 2003 xuất khẩu thủy sản chính của Việt Nam vào 4 thịtrường chính là: Mỹ, Nhật Bản, EU và Trung Quốc chiếm trên 75% tổng giátrị kim ngạch, phần còn lại trải rộng ra 60 nước và vùng lãnh thổ
Có thể thấy rằng, sự mở rộng mối quan hệ thương mại quốc tế củangành Thủy sản đã góp phần mở ra những con đường mới và mang lại nhiềubài học kinh nghiệm để nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộnghơn vào khu vực thế giới
3.3 Đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.
Trang 13Thủy sản được đánh giá là nguồn cung cấp chính đạm động vật chongười dân Năm 2001, mức tiêu thụ trung bình mỗi mặt hàng thủy sản củamỗi người dân Việt Nam là 19,4 kg, cao hơn mức trung bình tiêu thụ sảnphẩm thịt lợn (17,1 kg/người) và thịt gia cầm (3,9 kg/người) Cũng giống nhưmột số nước châu Á khác, thu nhập tăng đã khiến người dân có xu hướngchuyển sang tiêu dùng nhiều hơn mặt hàng thủy sản Có thể nói ngành Thủysản có đóng góp không nhỏ trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.
3.4 Góp phần giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo.
Ngành Thủy sản với sự phát triển nhanh của mình đã tạo ra hàng loạtviệc làm và thu hút một lực lượng lao động đông đảo tham gia vào tất cả cáccông đoạn của quá trình sản xuất, làm giảm sức ép của nạn thiếu việc làm trênphạm vi cả nước
Số lao động của ngành Thủy sản tăng liên tục từ 3,12 triệu người (năm1996) lên 3,8 triệu người năm 2001 (kể cả lao động thời vụ), như vậy mỗinăm tăng thêm hơn 100.000 người Tỷ lệ tăng bình quân số lao động thườngxuyên của ngành Thủy sản là 2,4%/năm, cao hơn mức tăng bình quân của cảnước là 2%/năm
Đặc biệt do sản xuất của nhiều lĩnh vực như khai thác, nuôi trồng thủysản chủ yếu ở quy mô là hộ gia đình nên đã thu hút mọi lực lượng lao động,tạo nên nguồn thu nhập quan trọng góp phần vào sự nghiệp xóa đói, giảmnghèo Các hoạt động phục vụ như: vá lưới, cung cấp thực phẩm, tiêu thụ sảnphẩm…chủ yếu do lao động nữ thực hiện, đã tạo ra thu nhập đáng kể, cảithiện vị thế kinh tế của người phụ nữ, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, miềnnúi Riêng trong các hoạt động bán lẻ thủy sản, nữ giới chiếm đến hơn 90%
Thông qua việc thực hiện các chương trình kinh tế lớn của ngành vềphát triển thủy sản, với sự hỗ trợ của các tổ chức Quốc tế và của Nhà nước,nhiều cơ sở hạ tầng của ngành đã được xây dựng và cải tạo Những cơ sở này
Trang 14thường được hình thành ở những vùng chài ven biển hoặc những địa phươnglàm nông nghiệp có mức sống thấp, bước đầu đã tạo những nguồn lực vật chấtthiết yếu như vốn, công nghệ, thông tin, tàu bè, cảng cá, hệ thống thủy lợi…,tạo điều kiện cho người dân, đặc biệt là những hộ nghèo có cơ hội tham giaphát triển sản xuất, tăng thu nhập, giảm nghèo.
II Vị trí của nuôi trồng thủy sản trong cơ cấu ngành.
1 Vai trò của nuôi trồng thủy sản.
1.1 Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thủy sản và thương mại quốc tế thủy sản.
Là một nước xuất khẩu thủy sản lớn trong khu vực và Quốc tế, nhu cầu
về nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thủy sản của Việt Nam hiện nay làrất lớn Nguồn nguyên liệu này được cung cấp từ hai nguồn chính là khai thác
và nuôi trồng thủy sản Trong xu thế hạn chế khai thác thủy sản nhằm bảo vệmôi trường như hiện nay, nuôi trồng thủy sản đóng vai trò chủ đạo trong việccung cấp từ nuôi trồng cũng đảm bảo sự ổn định và phù hợp với nhu cầu củathế giới nhờ thực hiện tốt công tác khuyến ngư và phát triển giống mới Nhưvậy nuôi trồng thủy sản đã đáp ứng một cơ cấu mặt hàng xuất khẩu đa dạnghơn, góp phần phát triển thương mại thủy sản
1.2 Giải quyết việc làm và tăng thu nhập.
Cùng với nghề khai thác, nuôi trồng thủy sản hàng năm tạo ra mộtlượng lớn công ăn việc làm Nuôi trồng thủy sản là nghề được phát triển ởhầu hết các địa phương trong cả nước, giải quyết một lượng lớn lao độngnông nghiệp hàng năm Bên cạnh đó, do hiệu quả của nuôi trồng thủy sản caohơn nhiều so với các lĩnh vực nông nghiệp khác, nên cùng với việc thực hiệnchuyển đổi sản xuất, chuyển đổi diện tích từ trồng lúa, làm muối kém hiệu
Trang 15quả sang nuôi trồng thủy sản đã tạo nguồn thu nhập lớn góp phần nâng caomức sống dân cư.
1.3 Cung cấp thực phẩm đáp ứng nhu cầu nội địa.
Việt Nam với dân số đông thứ 2 Đông Nam Á và có tốc độ tăng dân sốtrên 1,3%/năm, đã trở thành một thị trường tiêu thụ thủy sản tiềm năng Tronggiai đoạn hiện nay, mức sống của người dân đang dần được cải thiện, nhu cầu
về thực phẩm chất lượng cao, giàu protein, có lợi cho sức khỏe ngày mộttăng Khi mà khai thác đang có xu thế chững lại và tập trung cho xuất khẩu thìnuôi trồng thủy sản trở thành nguồn cung cấp chính cho thị trường nội địa
1.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Phát triển nuôi trồng thủy sản là một trong những biện pháp nhằm thựchiện chuyển dịch cơ cấu Nông nghiệp – Nông thôn nói chung, trong toàn nềnkinh tế nói riêng Xu hướng chuyển đổi diện tích trồng trọt kém hiệu quả sangviệc sử dụng có hiệu quả hơn bằng cách phát triển nuôi trồng thủy sản đã vàđang diễn ra mạnh mẽ Bên cạnh đó phát triển nuôi trồng thủy sản cũng đã thuhút sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế như doanh nghiệp Nhà nước,doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn và đặc biệt là sựtham gia của các hộ gia đình nông thôn, thúc đẩy sự phát triển kinh tế tưnhân Nuôi trồng thủy sản phát triển cũng kéo theo sự phát triển của cácngành Dịch vụ và Công nghiệp như các cơ sở sản xuất thức ăn, các công tychế biến thủy sản Như vậy, phát triển nuôi trồng thủy sản đã góp phần đưanền kinh tế Việt Nam tiến tới một cơ cấu lành mạnh hơn, tiến bộ hơn
1.5 Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Đóng góp của nuôi trồng thủy sản trong sự tăng trưởng của nền kinh tếViệt Nam là không thể phủ nhận Sản phẩm thủy sản xuất khẩu ngày càng cógiá trị cao trên thị trường thế giới, đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn chođất nước, là nguồn lực cơ bản cho công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Trang 16đất nước, thực hiện các mục tiêu kinh tế đã đặt ra Nuôi trồng thủy sản gópphần tạo việc làm cho người lao động, tăng thu nhập, hạn chế các tệ nạn xãhội, thúc đẩy sự phát triển của các ngành có liên quan Đây là những điều kiệnquan trọng thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế nước ta.
2 Tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh Bắc Trung Bộ.
2.1 Giới thiệu tổng quan về các tỉnh Bắc Trung Bộ.
Điều kiện tự nhiên:
Bắc Trung Bộ là một phần phía bắc của Trung Bộ Việt Nam có địa bàndài từ nam dãy núi Tam Điệp tới bắc đèo Hải Vân Vùng Bắc Trung Bộ làmột trong 8 vùng kinh tế được Chính phủ giao lập quy hoạch tổng thể xã hội.Vùng Bắc Trung Bộ nằm kề bên vùng KTTĐ Bắc bộ và KTTĐ miền Trung,trên trục giao thông Bắc – Nam về đường sắt bộ; nhiều đường ô tô hướngĐông Tây (7,8,9,29)nối Lào với biển Đông, có hệ thống sân bay (Vinh, ĐồngHới, Phú Bài), bến cảng (Nghi Sơn, Cửa Lò, Cửa Hội, Cửa Gianh, Nhật Lệ,Cửa Việt, Thuận An…) tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng giao lưu kinh tếgiữa các tỉnh, các vùng quốc tế, đặc biệt với Lào, Đông bắc Thái Lan,Myanma…
Lãnh thổ kéo dài, hành lang hẹp, tây giáp Trường Sơn và Lào, phíaĐông là biển Đông, đồng bằng hẹp, cũng có cả trung du và miền núi, venbiển, hải đảo dọc suốt lãnh thổ, có thể hình thành cơ cấu kinh tế đa dạngphong phú Địa hình phân dị phức tạp, thời tiết khắc nghiệt, nhiều biến độngcần phải lợi dụng hợp lý Nhiều vũng nước sâu và cửa sông có thể hình thànhcảng lớn nhỏ phục vụ việc giao lưu trao đổi hàng hóa giữa các tỉnh trong vùngvới các vùng trong nước và quốc tế
Tài nguyên phong phú và đa dạng:
- Đất: 80% là đồi núi, 20% đồng bằng có nhiều cồn cát, bãi bồi; đấtdùng cho nông nghiệp không lớn song có nhiều mặt bằng sử dụng cho phát
Trang 17triển công nghiệp, đô thị Tổng quỹ đất 5117,4 ngàn ha, đã sử dụng 2791,2ngàn ha (54,4%), chưa sử dụng 2362,2 ngàn ha (45,6%) Đất nông nghiệp693,3 ngàn ha (13,5%).
- Rừng: Lâm nghiệp quản lý 3436,86 ngàn ha, đất có rừng 1633,0 ngàn
ha, trữ lượng gỗ 134737 m3 gỗ, 1466,49 triệu cây tre nứa Đứng sau TâyNguyên về tài nguyên rừng song chủ yếu là rừng nghèo Đất không có rừng1599,8 ngàn ha (không kể 204011 ha núi đá), đây là đối tượng phát triển kinhdoanh nghề rừng
- Biển: có 670km bờ biển, 23 cửa sông nhiêu bãi tắm đẹp, nhiều đầmphá, thềm lục địa rộng nhiều tài nguyên, thuận lợi phát triển du lịch và kinh tếtổng hợp (trữ lượng cá khoảng 620.000 tấn, tôm 2750 tấn, mực 5000 tấn…)
- Nước: Tổng trữ lượng nước mặt 154,3 km3/năm (18,29km3/ năm/người) song phân bố không đồng đều theo thời gian nên gây lũ và hạn cục bộ
Dân số bằng 13,3% cả nước, tốc độ tăng trưởng trên tốc độ trung bình cả nước (2,26%) trong khi đó tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp hơn tốc độ tăng trung bình của cả nước nên đời sống của người dân còn thấp Có 50,4% dân số trong tuổi lao động, 25 dân tộc, dân tộc ít người chiếm 9,4%, chủ yếu phân bố ở phía Tây, đời sống nghèo, mù chữ nhiều Mật độ dân cư 186 ng/km2, tỷ lệ đô thị hóa xấp xỉ 12%, nông thôn chiếm 88% dân
số, có 3 thành phố, 7 thị xã và 61 thị trấn Tỷ lệ biết chữ 7,87% bằng mức trung bình cả nước.
Trang 18Dân số trung bình Diện tích
(km2)
Mậtđộ(người/km2)
Nguồn: Niên giám thống kê 2006.
Bảng 2: Dân số các tỉnh Bắc Trung Bộ.
Có 4,9 triệu lao động, sản xuất chưa phát triển, lao động gia tăng 3,1%/năm, sức ép việc làm lớn, hàng năm hàng chục ngàn người ra khỏi vùng lậpnghiệp Trong lao động, có 35,7% trẻ song học vấn không cao, trình độ taynghề kém, thiếu nghiêm trọng đội ngũ cán bộ chuyên môn khoa học kỹ thuật
để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa Tỷ lệ thất nghiệp5,96%, phần lớn là nông thôn Cơ cấu lao động nông lâm nghiệp chiếm đến73,4%, trong khi đó công nghiệp và dịch vụ chỉ có 26,6%, năng suất lao độngthấp
Mức thu nhập thành thị gần 2 lần nông thôn, số hộ rất giàu 0,57%, giàu1,17%, dưới trung bình 26,07%, nghèo và rất nghèo 24,88%
2.2 Tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản.
Bắc Trung Bộ là vùng có tiềm năng rất lớn về nuôi trồng thủy sản xéttrên cả mặt diện tích nuôi trồng và nguồn lợi về giống loài
2.2.1Về diện tích nuôi trồng.
Bắc Trung Bộ bao gồm 6 tỉnh đều có ranh giới hành chính giáp vớibiển Đông Vùng đặc quyền kinh tế trên biển có diện tích khá rộng, vùng
Trang 19kinh tế Bắc Trung Bộ là vùng có diện tích mặt biển cao so với các vùngkhác trong nước Khu vực Bắc Trung Bộ có tổng diện tích mặt nước tiềmnăng để nuôi trồng thuỷ sản là 144.858 (ha) với diện tích mặt nước nuôitrồng là 50.515 (ha) Vùng Bắc Trung Bộ chỉ có 6 tỉnh, thành phố nhưng đãchiếm một tỉ lệ lớn về diện tích tiềm năng và diện tích nuôi trồng thuỷ sảncủa cả nước Bảng số liệu sau sẽ giúp chúng ta so sánh tỷ lệ diện tích mặtnước tiềm năng và diện tích nuôi trồng thuỷ sản của vùng với cả nước:
Bảng 3: Diện tích mặt nước và diện tích nuôi trồng thuỷ sản.
Bắc Trung Bộ cũng rất phong phú về diện tích nuôi trồng thuỷ sảnnước ngọt và nước lợ Hệ thống sông ngòi, kênh rạch của Bắc Trung Bộ rất
đa dạng và chằng chịt trong đó có các sông lớn như: sông Mã, sôngHồng Đây là nguồn cung cấp các loài thuỷ sản nước ngọt rất đa dạng, chủyếu phục vụ cho nhu cầu nội địa và một phần cho chế biến xuất khẩu Tuynhiên, lượng nước trên những sông ngòi này phân bổ không đều theo khônggian và theo các mùa trong năm Vì vậy để phát huy tốt lợi thế này, ngành
và các địa phương cần có quy hoạch tốt hệ thống thuỷ lợi, góp phần khaithác tốt những tiềm năng về mặt nước phục vụ cho nuôi trồng thuỷ sản nướcngọt và nước lợ
2.2.2 Về giống loài thủy sản.
Trang 20Nằm trong vùng nhiệt đới, ở vị trí tiếp xúc giữa nhiều hệ thống tựnhiên, Bắc Trung Bộ có nhiều lợi thế về giống loài Theo đánh giá, VùngBắc Trung Bộ có nhiều loại thuỷ sản nước ngọt, lợ quý hiếm, có thể nuôitrồng được nhiều loài có giá trị kinh tế cao Hơn nữa với vị thế địa lý nằmgần các thị trường tiêu thụ lớn, khả năng giao lưu hàng hoá bằng đường bộ,đường thuỷ, đường hàng không đều rất thuận lợi, tạo cho ngành kinh tể thuỷsản ở đây có những điều kiện để phát triển nhanh và bền vững.
Vùng Bắc Trung Bộ cũng sở hữu một hệ sinh thái biển đa dạng, phục
vụ tốt cho mục tiêu phát triển nuôi trồng thuỷ sản bền vững Qua khảo sát vànghiên cứu của Bộ Thuỷ sản cùng với sự phối hợp của các chuyên gia trongvùng năm 1996, đến nay đã phát hiện được khoảng 9.000 loài động vật vàthực vật biển, trong đó: Thực vật nổi có 537 loài và biến loài; rong biển có
653 loài, 24 biến loài và 20 dạng; cỏ biển có 15 loài; cây ngập mặn có 77loài; động vật nổi có 660 loài Như vậy nếu tỉnh bình quân theo chiều dài
bờ biển thì mỗi cây số chứa đựng gần 3 loài Tuy nhiên trong đó cá tạpchiếm tỷ lệ khá cao và những loài này không phân bổ đều mà thường tậptrung trong những vùng đa dạng về sinh cảnh và nơi ở, và những nơi có điềukiện sống thuận lợi (những vùng nước nông biển) Do đó, để phát triển nuôitrồng thuỷ sản một cách bền vững thì cần phải kết hợp chặt chẽ giữa nuôitrồng và bảo vệ, phát triển các giống loài và môi trường cư trú của chúng,đặc biệt là các khu rừng ngập mặn, các đai cỏ biển và rong tảo, các rạn sanhô
2.2.3 Về điều kiện thời tiết và khí hậu.
Nuôi trồng thuỷ sản ở các tỉnh Bắc Trung Bộ phát triển tốt nhờ khí hậu
Á nhiệt nóng ẩm và có pha một chút ôn đới Tài nguyên khí hậu quan thực sựquan trọng, đã trở thành một yếu tố đầu vào thuận lợi cho các hoạt động sảnxuất kinh doanh thuỷ sản giống như một món quà tặng của tự nhiên cho con
Trang 21người ở đây Chế độ thuỷ văn ở hầu hết các sông, đặc biệt là vùng hạ lưu củasông đều thích hợp cho nhiều loài thuỷ sản sinh sống và phát triển, tạo thànhmột vùng sinh thái đặc trưng về nhiệt độ, dòng chảy, tính chất thuỷ lý hoá vànguồn thức ăn tự nhiên cho thuỷ sinh vật.
Độ phì nhiêu kinh tế của các loại hình thuỷ vực, ao, hồ, ruộng…là khácao, có thể phát triển nuôi trồng thuỷ sản Độ phì nhiêu kinh tế bao gồm độphì nhiêu tự nhiên do đất phong hoá lâu đời mà có và độ phì nhiêu nhân tạo
do con người tạo ra khi cải tạo vùng nước, bón thêm các loại phân xanh, phânchuồng, phân vô cơ…làm tăng hàm lượng chất hữu cơ, các thức ăn tự nhiêncho nuôi trồng thuỷ sản
Người lao động của vùng đều biết nuôi trồng thuỷ sản như một nghềtruyền thống và hơn nữa, trong những năm gần đây nuôi trồng thuỷ sản đãđược coi là một nghề chính, có khả năng làm giàu Lao động nông ngư dânvới kinh nghiệm và kiến thức nuôi trồng thuỷ sản của mình đang là yếu tốthuận lợi để phát triển nuôi trồng thuỷ sản
Trang 22III Sự cần thiết của việc phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản.
1 Khái niệm về phát triển bền vững.
Để hiểu rõ được khái niệm phát triển bền vững chúng ta cần nhìn nhậnlại 2 khái niệm mà nhiều khi sự phân biệt chúng không thật sự chính xác, đólà: Tăng trưởng kinh tế và Phát triển kinh tế
Tăng trưởng kinh tế được xem là một trong những vấn đề hấp dẫn nhấtkhi nghiên cứu kinh tế phát triển và cùng với thời gian, quan niệm về vấn đềnày cũng ngày càng hoàn thiện hơn
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong mộtkhoảng thời gian nhất định (thường là một năm) Sự gia tăng được thể hiện ởquy mô và tốc độ Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còntốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh
sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ Thu nhập của nền kinh tế có thểbiểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị Thu nhập bằng giá trị phản ánh quacác chỉ tiêu GDP, GNI và được tính cho toàn thể nền kinh tế hoặc tính bìnhquân đầu người Như vậy, bản chất của tăng trưởng là phản ảnh sự thay đổi vềlượng của nền kinh tế
Hiện nay, mọi quốc gia đều phấn đấu vì mục tiêu phát triển và trải quathời gian, khái niệm về phát triển bền vững cũng đã đi đến thống nhất Pháttriển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế Pháttriển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất, nó là
sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế và
xã hội ở mỗi quốc gia Theo cách hiểu như vậy, phát triển phải là một quátrình lâu dài và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định Nội dungcủa phát triển kinh tế được khái quát theo ba tiêu thức: Một là, sự gia tăngtổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình quân trênmột đầu người Đây là tiêu thức thể hiện quá trình biến đổi về lượng của nền
Trang 23kinh tế, là điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất của một quốc gia vàthực hiện những mục tiêu khác của phát triển Hai là, sự biến đổi theo xu thếcủa cơ cấu kinh tế Đây là tiêu thức phản ảnh sự biến đổi về chất của nền kinh
tế một quốc gia Để phân biệt các giai đoạn phát triển kinh tế hay so sánhtrình độ phát triển kinh tế giữa các nước với nhau, người ta thường, dựa vàodấu hiệu về dạng cơ cấu ngành kinh tế mà quốc gia đạt được Ba là, sự biếnđổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội Mục tiêu cuối cùng của sự pháttriển kinh tế trong các quốc gia không phải là tăng trưởng hay chuyển dịch cơcấu kinh tế, mà là việc xóa bỏ nghèo đói, suy dinh duỡng, sự tăng lên của tuổithọ bình quân, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, nước sạch, trình độ dân trígiáo dục của quảng đại quần chúng nhân dân,…Hoàn thiện các tiêu chí trên là
sự thay đổi về chất xã hội của quá trình phát triển
Như vậy tăng trưởng và phát triển có quan hệ chặt chẽ với nhau Tăngtrưởng là một phương tiện cơ bản để có thể đạt được phát triển nhưng bảnthân nó chỉ là một đại diện, chưa phản ánh đầy đủ bản chất của sự phát triển.Tăng trưởng thể hiện sự tiến bộ về kinh tế còn phát triển là sự tiến bộ toàn bộ
về mặt kinh tế xã hội, văn hóa, môi sinh Tăng trưởng diễn tả động thái củanền kinh tế, còn phát triển phản ánh sự biến đổi về chất lượng của nền kinh tế
và xã hội để phân biệt các trình độ khác nhau trong sự tiến bộ Xã hội của cácquốc gia
Từ những thập niên 70, 80 của thế kỷ trước, khi tăng trưởng kinh tế củanhiều nước trên thế giới đã đạt được một tốc độ khá cao, người ta bắt đầu cónhững lo nghĩ đến ảnh hưởng tiêu cực của sự tăng trưởng nhanh đó đến tươnglai con người và vấn đề phát triển bền vững được đặt ra Theo thời gian, quanniệm về phát triển bền vững ngày càng được hoàn thiện Năm 1987, vấn đề vềphát triển bền vững được Ngân hàng Thế giới (WB) đề cập lần đầu tiên, theo
đó phát triển bền vững là “…Sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà
Trang 24không làm nguy hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu thế hệ tương lai” Quanniệm này chủ yếu nhấn mạnh khía cạnh sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyênthiên nhiên và bảo đảm môi trường sống cho con người trong quá trình pháttriển Ngày nay, quan điểm về phát triển bền vững được đề cập một cách đầy
đủ hơn, bên cạnh yếu tố môi trường tài nguyên thiên nhiên, yếu tố môi trường
xã hội được đặt ra với ý nghĩa quan trọng Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới vềPhát triển bền vững tổ chức ở Johannesbug (Cộng hòa Nam Phi) năm 2002 đãxác định: Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ,hợp lý, hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: tăng trưởng kinh tế, cảithiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường
2 Các tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững.
Sự phát triển bền vững của một xã hội có thể được đánh giá bằngnhững tiêu chí nhất định trên ba phương diện kinh tế, xã hội, tài nguyên vàmôi trường như sau:
Sự bền vững về kinh tế:
Có tăng trưởng của GDP và GDP/người cao Những quốc gia có thunhập trong thời gian trước càng thấp thì tăng trưởng ngày càng phải cao.Trong điều kiện hiện nay, nước có thu nhập thấp phải có tăng truởngGDP/người khoảng 5% mới có thể xem là bền vững về kinh tế Nếu tăngtrưởng thấp hơn thì nền kinh tế đó là không bền vững
Có GDP, GDP/người không thấp hơn mức trung bình hiện nay của cácnước đang phát triển thu nhập trung bình Nếu tăng trưởng GDP cao nhuưngmức GDP/người thấp thì coi như chưa đạt mức bền vững
Cơ cấu GDP lành mạnh nhằm đảm bảo cho tăng trưởng GDP ổn địnhlâu dài Tỷ lệ đóng góp của Công nghiệp và Dịch vụ trong GDP phải cao hơnNông nghiệp
Trang 25 Sự bền vững về xã hội:
Được đánh giá qua một số tiêu chí như chỉ số phát triển con người(HDI), chỉ số phát triển giới (GDI), hệ số bình đẳng thu nhập, các tiêu chỉgiáo dục, dịch vụ y tế, hoạt động văn hóa
Sự bền vững về môi trường:
Trong quá trình sử dụng các yếu tố chất lượng môi trường sống của conngười, như sự trong sạch của không khí, nước, đất, không gian vật lý, cảnhquan…không được làm giảm chất lượng các yếu tố xuống dưới cho phép theocác quy định của Nhà nước hoặc của xã hội
Chật lượng các yếu tố môi trường sau sử dụng không được nhỏ hơn chỉtiêu quy định
Lượng sử dụng phải nhỏ hơn hoặc bằng lượng thay thế
Lượng thay thế phải nhỏ hơn khả năng tái sử dụng
3 Sự cần thiết phải phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản.
Như chúng ta đã thấy, phát triển bền vững đang là một xu thế tất yếu,một sự lựa chọn sống còn của mọi quốc gia Đây là con đường duy nhất giúpcon người thoát khỏi những rủi ro về mọi mặt kinh tế, xã hội và môi trường,
mà hầu hết trong đó, cần phải thực hiện đồng loạt trên mọi lĩnh vực, mọithành phần của nền kinh tế Vì vậy không có lý do nào Ngành Thủy sản nóichung và hoạt động nuôi trồng thủy sản nói riêng cần phải phát triển bềnvững, đặc biệt khi hoạt động của nuôi trồng thủy sản gắn liền với môi trườngsinh thái và con người Sự cần thiết phải phát triển bền vững nuôi trồng thủysản cũng bắt nguồn từ chính đặc điểm hoạt động và vai trò của nó đối với sựphát triển
Theo dự báo, đến năm 2025 dân số thế giới sẽ đạt tới con số 8,5 tỷngười trong đó có tới 83% sống ở các nước đang phát triển Với cách thứcphát triển như hiện nay có lẽ nạn đói sẽ vẫn là một mối đe dọa thường xuyên
Trang 26đối với nhiều người, và khả năng cung cấp lương thực thực phẩm của trái đất
sẽ không đáp ứng được một cách lâu dài và đầy đủ cho những nhu cầu ngàymột tăng Khí hậu ngày một khắc nghiệt, đất đai dành cho nông nghiệp khôngcòn nhiều và bị thoái hóa, bức xạ tử ngoại gia tăng do tầng ô-zôn bình lưu bịmỏng đi Ngay lúc này đây năng suất ở các vùng sản xuất lương thực lớn đã
và đang bị giảm sút Một thách thức đặt ra cho trái đất là phải đảm bảo mộtcách bền vững khả năng đáp ứng nhu cầu thực phẩm đang ngày một gia tăng.Với vai trò là ngành cung cấp thực phẩm chủ đạo cho dân cư, ngành Thủy sảnđặc biệt là hoạt động nuôi trồng thủy sản cần phải duy trì và có những biệnpháp đảm báo sự phát triển của mình một cách bền vững
Sự tổn thất về đa dạng sinh học đang tiếp diễn trên toàn thế giới và ở cảViệt Nam, chủ yếu là do sự phá hủy, làm ô nhiễm môi trường sinh sống và dohoạt động khai thác quá khứ Chỉ trong chưa đầy ½ thế kỷ tập trung khai thác,nhiều nguồn tài nguyên đã ở trong tình trạng báo động, có nguy cơ bị cạn kiệt
và biến mất vĩnh viễn, trong đó có tài nguyên sinh vật, một dạng tài nguyên
có khả năng tái tạo Sự khai thác quá mức các nguồn tài nguyên đã làm thayđổi lớn đến môi trường sống của trái đất hiện tại và nhiều thế hệ mai sau Quakhảo sát và phân tích, tuy mới ở trong giai đoạn đẩu của sự phát triển, ngànhThủy sản Việt Nam những năm qua nhìn chung đã khai thác tới trần các tiềmnăng thiên nhiên về nguồn lợi thủy sản ở mức bền vững Thậm chí ở một sốvùng gần bờ đã khai thác quá giới hạn cho phép 10 – 12%, dù chỉ chiếm diệntích 17% tổng diện tích thềm lục địa nhưng phải chịu áp lực khai thác rất cao,chiếm 70% lượng hải sản khai thác toàn vùng biển Nguồn lợi hải sản gần bờ
và xa bờ đều giảm nhiều so với 10 năm trước Số lượng loài động vật thủy sảnquý, hiếm, có giá trị kinh tế bị đe dọa đã tăng 9 lần so với trước năm 1990,hiện có trên 240 loài Tỉ lệ thủy sản chưa trưởng thành khai thác được trongmột mẻ lưới chiếm 25 – 40% sản lượng khai thác, trong khi tỷ lệ cho phép chỉ
Trang 27lả 15% Nguồn lợi thủy sản nước ngọt tự nhiên ở các thủy vực thuộc các tỉnhphía Bắc và miền Trung hầu như cạn kiệt, đối với Nam Bộ sản lượng khaithác được hàng năm chỉ còn 50% so với trước năm 1975 Diện tích rừng ngậpmặn đã thu hẹp khoảng 40 – 45% sovới trước năm 1954 Tỷ lệ rạn san hô giàugiảm từ 35% xuống còn 5 – 7% Hậu quả của việc khai thác quá mức đã làmgiảm thiểu sự đa dạng sinh học của vùng nước Việt Nam, dẫn tới năng suấtcủa một số nghề khai thác hải sản đã giảm từ 30 – 60% so với trước năm
1986 Trước tình hình đó, cần phải hạn chế và đi đến giảm dần cường lực khaithác các nguồn lợi nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành Và mộttrong nhứng biện pháp là đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản để giảm dần tổng sảnlượng khai thác Nuôi trồng thủy sản sẽ là một hướng đi hữu hiệu trong việcbảo vệ sự đa dạng sinh học vủa môi trường nước, duy trì và tái tạo tốt cácnguồn giống có giá trị cao Điều này tất yếu cũng đòi hỏi nuôi trồng thủy sảnphải phát triển một cách bền vững
Một lý do khác cũng khẳng định sự cần thiết phải phát triển bền vữngnuôi trồng thủy sản đó là vấn đề môi trường Hiện nay vấn đề này đang rấtđược sự quan tâm của cộng đồng quốc tế, là trọng tâm của phát triển bềnvững Môi trường trong nuôi trồng thủy sản có ý nghĩa to lớn bởi nuôi trồngthủy sản sản xuất trực tiếp trên môi trường, lợi dụng và phát huy những lợithế của môi trường để nâng cao năng suất Các yếu tố của môi trường đượcnuôi trồng thủy sản tận dụng như những đối tượng sản xuất và tư liệu sảnxuất Hiện nay nuôi trồng thủy sản đã sử dụng nguồn nước, các khu rừngngập mặn, các bãi cát, các nguồn gen… trong môi trường để tiến hành nuôitrồng các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao như tôm sú và các loại cá Hàngloạt nguy cơ đối với môi trường có thể xảy ra nếu khi nuôi trồng thủy sảnchúng ta chỉ hướng tới mục tiêu kinh tế mà quên mất môi trường Điều này sẽdẫn tới sự suy giảm hệ gen, cạn kiệt và làm nhiễm mặn nguồn nước ngọt, thu
Trang 28hẹp các khu rừng ngập mặn Bên cạnh đó chất lượng môi trường cũng bị ảnhhưởng xấu do việc sử dụng thức ăn và chất hóa học trong quá trình nuôitrồng Như vậy nuôi trồng thủy sản có tác động rất lớn đến môi trường.
Ngược lại, nuôi trồng thủy sản cũng phụ thuộc gần như hoàn toàn vàomôi trường Chất lượng môi trường, sự ổn định của môi trường tác động trựctiếp đến năng suất và chất lượng của ngành này Như vậy, sự phát triển bềnvững nuôi trồng thủy sản đối với môi trường có ý nghĩa hai chiều: một mặtphát triển bền vững nuôi trồng thủy sản sẽ là một biện pháp tốt để bảo vệ môitrường, tránh cho môi trường bị khai thác, sử dụng quá mức, trở thành nơichứa rác thải của nền sản xuất Mục tiêu bảo vệ môi trường sẽ được xem xétngang hàng và hợp lý với mục tiêu tăng trưởng Mặt khác, phát triển bền vữngnuôi trồng thủy sản hướng tới môi trường làm cho chất lượng môi trườngđược cải thiện sẽ là nền tảng cho sự phát triển của nuôi trồng thủy sản bềnvững một cách lâu dài và ổn định hơn
Sự cần thiết phải phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản cũng xuấtphát từ thực tế của hoạt động này trong những năm qua Quan điểm phát triểnbền vững đã được Đảng và Nhà nước quan tâm tới nhưng kết quả đạt được làchưa nhiều Trong khi đó xu hướng thủy sản thế giới đang ngày một biến đổi,đưa đến cho ngành những cơ hội mới và cũng là những thách thức, rủi ro mới.nếu tự ban thân ngành Thủy sản nói chung và nuôi trồng thủy sản nói riêngkhông tự nhận định một cách đúng đắn về mục tiêu phát triển bền vững và cónhững bước đi vững chắc từ bây giờ thì sẽ khó có được những kết quả ổn địnhtrong tương lai
Trên đây là mốt số những lý do cơ bản nhất cho thấy sự cần thiết phảiphát triển bền vững nuôi trồng thủy sản trong giai đoạn tới Sự phát triển bềnvững không phải là ý muốn chủ quan của một ngành, một đất nước, mà đã trởthành xu thế của thời đại, là đòi hỏi của cá nhân hiện nay
Trang 29IV Một số bài học kinh nghiệm cho sự phát triển nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh Bắc Trung Bộ.
1 Kinh nghiệm từ các nước trên thế giới.
Trên thế giới, nuôi trồng thủy sản đã phát triển qua một thời gian dài và
đã đạt được những kết quả đáng kể Tuy nhiên cùng với đó là những khó khăngặp phải mà nó chính là những bài học kinh nghiệm quý báu để cho nhữngquốc gia, vùng kinh tế nào muốn phát triển tốt nuôi trồng thủy sản vận dụng
Để việc áp dụng những mô hình, những kinh nghiệm này một cách hiệu quảnhất thì cần phải chọn cho mình một quốc gia có nhiều nét tương đồng, màgần chúng ta nhất chính là Trung Quốc
Là một trong số 9 quốc gia đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu thủy sảnlớn nhất châu Á Đây cũng là quốc gia có quy mô dân số lớn nhất Thế giới,
dự báo đến năm 2025 sẽ là 1,6 tỷ người Nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩmtrong nước, đồng thời duy trì vị thế đứng đầu khu vực về thủy sản, nhữngnăm qua ngành Thủy sản Trung Quốc đã đẩy mạnh nuôi trồng, hạn chế khaithác nhằm đảm bảo tính bền vững cho sự phát triển của mình
2 Kinh nghiệm từ các vùng khác trong nước.
Để việc áp dụng những bài học kinh nghiệm từ các vùng trong nước đểphát triển bền vững nuôi trồng thuỷ sản cho các tỉnh Bắc Trung Bộ, chúng tacần chọn một vùng có nhiều điều kiện tương đồng về khí hậu, con người
mà phù hợp nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long Vùng này được thiênnhiên ban tặng nhiều yếu tố thuận lợi cho sự phát triển nuôi trồng thuỷ sản.Với một đường bờ biển dài, khí hậu ôn hoà nuôi trồng thuỷ sản của vùngtrong những năm qua đã phát triển rất nhanh, đóng góp lớn cho sự phát triểnkinh tế - xã hội toàn vùng Tuy nhiên, song song với những kết quả đạt đượcnày là sự phát triển quá mức, không có định hướng cụ thể đã làm cho môitrường sinh thái bị ảnh hưởng nặng, số lượng nguồn gen bị giảm đáng kể Từ
Trang 30đó, chúng ta có thể thấy rõ được một số bài học kinh nghiệm từ sự phát triển ởđây Chính do sự theo đuổi về tăng trưởng kinh tế, nhìn thấy cái lợi trước mắt
mà bỏ qua hậu quả về lâu dài đã gây ra điều này Mặt khác, sự quản lý thiếuđồng bộ của các cán bộ lãnh đạo, công tác quy hoạch còn nhiều yếu kém đãkhông định hướng đúng đắn cho người dân ở đây về con đường phát triểnnuôi trồng thuỷ sản
Trang 31Chương II: THỰC TRẠNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở CÁC TỈNH
BẮC TRUNG BỘ GIAI ĐOẠN 2001 – 2007.
I Tình hình phát triển nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn 2001 – 2007.
1 Diện tích và sản lượng nuôi trồng.
1.1 Sử dụng diện tích nuôi.
Nuôi trồng thuỷ sản phát triển mạnh mẽ khắp các tỉnh trong vùng trên
cả 3 loại hình nước ngọt, nước mặn, nước lợ, Diện tích nuôi trồng thuỷ sảncủa các tỉnh Bắc Trung Bộ năm 2001 là 30,600 nghìn ha (năm 2000), 2002 là36,3 nghìn ha (tăng 18,62%), năm 2003 tăng lên 39,8 nghìn ha (tăng 9,64%),năm 2004 tăng lên 45,5 nghìn ha (tăng 14,07%), năm 2005 tăng lên 48,4nghìn ha (tăng 6,37%), năm 2006 tăng lên 50, 0 nghìn ha (tăng 3,3%) và năm
2007 tăng lên 52 nghìn ha (tăng 7,4%) Kết quả chuyển đổi cơ cấu sản xuấttrong những năm qua tại các tỉnh Bắc Trung Bộ cũng tăng lên đáng kể Cáctỉnh Bắc Trung Bộ có tổng diện tích chuyển đổi là 13.279 ha (3,52% diện tíchchuyển đổi của cả nước), trong đó từ đất trồng lúa là 8.749 ha (chiếm 65,9%),
từ cát là 836 ha, từ đất làm cói 708 ha, từ đất làm muối 295 ha, từ đất hoanghoá và đất khác là 2.691 ha Tỉnh Hà Tĩnh có diện tích chuyển đổi lớn nhấttrong vùng với 3.659 ha, trong đó có 2.429 ha từ đất trồng lúa, 600 ha từ đấtcát Các tỉnh Nghệ An chuyển đổi 3.635 ha (từ lúa 2.800 ha) chủ yếu chuyểnsang nuôi thuỷ sản nước ngọt, Thừa Thiên Huế chuyển đổi 2.123 ha, ThanhHoá: 1.888 ha, Quảng Bình 1.187 ha Từ đó, chúng ta thấy được sự chuyểnđổi diện tích sản xuất ở các tỉnh Bắc Trung Bộ là nhanh, nhưng có một số tỉnh
do công tác chỉ đạo còn yếu kém, khâu quy hoạch còn chậm nên người dânkhông có định hướng rõ ràng như ở Thanh Hoá, Quảng Trị
Chúng ta có thể thấy rõ sự tăng nhanh về diện tích nuôi trồng thuỷ sảncủa các tỉnh Bắc Trung Bộ qua bảng số liệu sau:
Trang 32Đơn vị: Nghìn ha.
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007Bắc Trung Bộ 30,6 36,3 39,8 45,4 48,4 50 52Thanh Hoá 10,6 12 12,2 12,9 13,0 13,0 13,0Nghệ An 12,2 13,7 14,7 17,4 18,8 19,3 19,8
Quảng Bình 1,4 2,0 2,1 2,7 3,1 3,9 4,3Quảng Trị 0,9 1,2 1,6 1,9 2,2 2,2 2,5Thừa Thiên - Huế 2,7 3,9 4,6 5,1 5,2 5,3 5,4
Nguồn: Niên giám thống kê.
Bảng 4: Diện tích nuôi trồng thuỷ sản các tỉnh Bắc Trung Bộ.
1.2 Sản lượng thủy sản nuôi trồng.
Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng của các tỉnh Bắc Trung Bộ liên tục tăng,năm 2001 sản lượng là 28.109 tấn, năm 2002 tăng lên 388.818 tấn (tăng38,1%), năm 2003 đạt 53.317 tấn (tăng 37,7%), năm 2004 tăng lên 57759 tấn(tăng 8,38%), năm 2005 tăng lên 65.508 tấn (tăng13,4%), năm 2006 đạt71.883 tấn (tăng 9,73%) và năm 79.502 tấn (tăng 10,6%) Trong suốt giaiđoạn 2001 – 2007, tốc độ tăng trưởng về tổng giá trị sản xuất của nuôi trồngthuỷ sản ở khu vực đều tăng cả về sản lượng và tốc độ Tuy nhiên trongnhững năm đầu của thời kỳ này thì tốc độ tăng nhanh hơn hẳn những nămsau Từ đây ta có thể thấy được sự tăng trưởng ban đầu này chủ yếu là do mởrộng diện tích nuôi trồng tạo nên là chủ yếu hay đây chính là sự tăng trưởngtheo chiều rộng Trong những năm cuối của giai đoạn thì tốc độ tăng trưởngchậm hẳn, chính là do diện tích nuôi trồng đã đến giới hạn nên sự tăng trưởngbây giờ là phụ thuộc vào năng suất Vì vậy, chúng ta cần có những giải pháphiệu quả để có thể thúc đẩy sự phát triển nuôi trồng thuỷ sản cho giai đoạntiếp theo
Trang 33Đơn vị: Tấn.
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007Bắc Trung Bộ 28109 38818 53317 57759 65508 71883 79502Thanh Hoá 12448 15401 16714 17427 19143 21123 23089Nghệ An 8335 11352 18378 19771 22101 24008 25568
Hà Tĩnh 3120 4743 7236 7686 9569 10489 10639Quảng Bình 1995 2658 3678 4226 4962 5297 5514Quảng Trị 744 1422 2310 3002 3437 3715 4136Thừa Thiên Huế 1467 3242 5001 5647 6296 7251 10556
Nguồn: Bộ Thuỷ sản.
Bảng 5: Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng các tỉnh Bắc Trung Bộ.
2 Đối tượng nuôi trồng.
Căn cứ điều kiện tự nhiên, chế độ thời tiết, khí hậu thuỷ văn, tình hìnhthị trường, khả năng đầu tư vốn, cơ sở hạ tầng, nguồn cung cấp con giống,trình độ khoa học công nghệ, các địa phương đã xác định đối tượng nuôi đadạng Bên cạnh các đối tượng truyền thống, nhiều đối tượng nuôi có giá trịkinh tế cao và xuất khẩu được đưa vào nuôi và tạo sản phẩm hàng hoá cungcấp cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và tham gia xuất khẩu như: cá chép lai,
cá rô phi dòng GIFT, cá mè trắng, cá trắm cỏ, cá trôi, nhóm cá chép Ấn Độ,
cá bỗng, cá he, cá lóc, cá rô đồng, cá sặc rằn, cá mùi, cá bống tượng, cá tra, cábasa, cá song, cá giò, tôm càng xanh, tôm sú, tôm chân trắng, tôm hùm,nghêu, ngọc trai, điệp, ốc hương, bào ngư, cua, ghẹ và một số loài cá nhập nộikhác,
Trang 342.1 Nuôi thủy sản nước lợ.
Đối tượng nuôi nước lợ chiếm tỷ trọng lớn nhất là tôm sú và các loàitôm nước lợ khác như tôm he, tôm rảo, tôm chân trắng và một số loài tôm bảnđịa khác Ngoài tôm ra còn có nhiều đối tượng khác được phát triển nuôi chosản lượng khá cai như nhuyễn thể, rong biển
Tôm nước lợ trong đó tôm sú được xác định là đối tượng nuôi chủ lực ởnước ta được nuôi khắp các tỉnh ven biển Ngoài các vùng triều có nguồnnước lợ cung cấp tương đối thường xuyên, tôm nước lợ còn được nuôi ở cácvùng chuyển đổi từ đất trồng cói, làm muối, đất hoang hoá, bãi cát ven biển,đất trồng lúa năng suất thấp, bấp bênh, đất hoang hoá, đất vườn Phươngthức nuôi phong phú, đa dạng: nuôi chuyên canh tôm, nuôi luân canh tôm –lúa, nuôi tôm – rừng, với các hình thức nuôi thâm canh, bán thâm canh, nuôiquảng canh cải tiến, nuôi quảng canh, nuôi hữu cơ
Các tỉnh Bắc Trung Bộ có sản lượng nuôi tôm năm 2005 là 12.390 tấn,tăng hơn năm 1999 là 11.025 tấn, gấp 8,1 lần so với năm 1999 Tuy vậy năngsuất tôm nuôi ở đây không cao, năm 2005 năng suất bình quân là 905 kg/ha,trong đó tỉnh Quảng Trị có năng suất nuôi tôm bình quân lớn nhất các tỉnhkhu vực này là 1.487 kg/ha
2.2 Nuôi, trồng thủy sản nước mặn.
Nuôi trồng thuỷ sản nước mặn trong đó chủ yếu là cá biển ở Bắc Trung
Bộ trong thời gian qua đã có sự phát triển mạnh Nuôi cá biển phát triểnchậm, sản lượng nuôi cả vùng năm 2005 là 135,1 (nghìn tấn), bao gồm nuôi
cá trong lồng bè, nuôi trong ao nước mặn Nuôi cá lồng trong biển chủ yếuphát triển với quy mô nông hộ, quy mô nhỏ Phương thức nuôi phổ biến tronglồng lưới, quy cỡ lồng lưới là 3x3x3 m Đối tượng nuôi chủ yếu là các giốngloài cá song, cá giò, cá hồng Mỹ, cá tráp, cá vược, cá chẽm Việc nuôi cálồng chủ yếu vẫn là thu gom giống từ tự nhiên, cho ăn bằng thức ăn là cá tạp
Trang 35tươi sống do vậy dể gây ô nhiễm môi trường và dịch bệnh, hiệu quả nuôikhông cao Đầu tư cho nuôi cá biển tương đối lớn, dễ gặp rủi ro, mặt khácnuoi cá biển chủ yếu là tạo sản phẩm phục vụ nhu cầu ăn cá tươi, sống (ăngỏi) nên thị trường hẹp; cá đông lạnh giá bán thấp, chính vì vậy nghề nuôi cálồng biển phát triển chậm, không tương xứng với tiềm năng về mặt biển hiện
có Lượng cá biển ở các tỉnh Bắc Trung Bộ phát triển mạnh trong những nămqua thể hiện trong bảng số liệu sau:
Đơn vị: Tấn
2001 2002 2003 2004 2005 2006Bắc Trung Bộ 96,4 107,8 119,2 128,2 131,3 135,1Thanh Hoá 24,2 27,3 31,3 35,0 38,1 40,2
Bảng 6: Sản lượng cá biển khai thác các tỉnh Bắc Trung Bộ.
2.3 Nuôi thủy sản nước ngọt.
Nuôi thuỷ sản nước ngọt phát triển mạnh khắp các tỉnh trong Vùng,hình thức nuôi nuôi đa dạng như nuôi trong ao hồ nhỏ, nuôi trong lồng bè trênsông, hồ chứa, nuôi luân canh xen canh thuỷ sản – lúa Đối tượng nuôiphong phú, trong đó có nhiều đối tượng nuôi tạo sản phẩm hàng hoá lớn chothị trường tiêu dùng trong nước, một số đối tượng nuôi tạo nguyên liệu quantrọng cho chế biến xuất khẩu
Vùng Bắc Trung Bộ nuôi chủ yếu là cá rô phi, bởi vì cá tra và cá ba sathích hợp hơn với điều tự nhiên ở các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long
Cá rô phi là một trong những loài cá ăn tạp, thích ứng rộng trong môi trường
Trang 36nước ngọt, nước lợ, dễ nuôi, tốc độ tăng trưởng khá nhanh, thịt thôm ngon,không có xương dăm Giá cá rô phi tương đối cao, sản phẩm có thị trườngxuất khẩu ở nhiều nước trên thế giới nên nuôi cá rô phi mang lại hiệu quảkinh tế cao Kích cỡ cá nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu yêu cầu từ500gr/con trở lên Cá rô phi thành thục sinh dục sớm, cá đực trưởng thànhmuộn và có kích cỡ lớn hơn cá cái Vì vậy để nuôi cá rô phi đạt kích cỡ lớnthương phẩm và xuất khẩu thì phải nuôi toàn cá đực được tạo giống bằngphương pháp sử dụng hooc môn chuyển đổi giới tính quần đàn.
Phong trào nuôi cá rô phi đơn tính đực được nuôi trong ao, trong lồng,trong bè, hồ chứa tạo sản phẩm hàng hoá cho nhu cầu tiêu dùng tại vùng vàbước đầu đã cung cấp nguyên cho chế biến xuất khẩu Sản lượng cá rô phicủa vùng Bắc Trung Bộ năm 2005 là 4357 tấn trên tổng sản lượng cá rô phicủa cả nước là 600.388,5 tấn
Sản lượng cá nuôi ở các tỉnh Bắc Trung Bộ tăng nhanh trong nhữngnăm qua.Sản lượng cá nuôi của các tỉnh Bắc Trung Bộ năm 2001 là 20.524tấn tăng lên đến 48.770 tấn, thể hiện tốc độ phát triển nhanh về sản lượng tạolợi thế phát triển bền vững cho vùng
Đơn vị: Tấn
2001 2002 2003 2004 2005 2006Bắc Trung Bộ 20524 26234 36744 39666 44885 48770Thanh Hoá 7472 9450 10135 11092 12716 13865Nghệ An 8185 9952 16523 17880 19827 21308