khách quan và chủ quan khác nhau như: Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành nói chung chưa quy định đầy đủ, cụ thể và rõ ràng, các quy định về đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể tham gia
Trang 1TRANH LUẬN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
LÝ LUẬN – THỰC TIỄN
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Th.s Mạc Giáng Châu Lê Hoàng Vỉnh
Lớp: Luật Tư pháp 1 – K37
Cần thơ, 11/2014
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Trải qua bốn năm học tập dưới mái trường Đại học Cần Thơ đã trang bị cho tôi những vốn kiến thức, những trải nghiệm và bài học quý báu làm hành trang bước vào tương lai Để đạt được những kết quả như ngày hôm nay cũng như để hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp thì ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến:
Quý Thầy, Cô trường Đại học Cần Thơ, quý Thầy, Cô Khoa Luật đã tận tình truyền đạt cho tôi những vốn kiến thức quý giá trong suốt quá trình học tập tại trường
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến cô Mạc Giáng Châu, cô đã hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp Cô đã giúp tôi có những định hướng nghiên cứu, phương pháp tiếp cận và giải quyết vấn
đề một cách hoàn chỉnh
Dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài nhưng chắc chắn vẫn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy, Cô và các bạn sinh viên để đề tài luận văn được hoàn thiện hơn
Cuối lời tôi xin kính chúc quý Thầy, Cô và các bạn sinh viên thật nhiều sức khỏe và thành công trong công việc
Cần Thơ, ngày tháng năm
Người viết
Lê Hoàng Vỉnh
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Trang 4
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG TRONG TRANH LUẬN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 5
1.1 Khái quát chung về nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận 5
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 5
1.1.1.1 Khái niệm về nguyên tắc bình đẳng trong Tố tụng hình sự 5
1.1.1.2 Khái niệm về tranh luận trong Tố tụng hình sự 7
1.1.1.3 Khái niệm về nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận 8
1.1.2 Đặc điểm của nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận 10
1.1.2.1 Bình đẳng trong tranh luận là nguyên tắc đặc biệt của nguyên tắc
bảo đảm tranh tụng trong xét xử 10
1.1.2.2 Nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận chỉ áp dụng tại phiên tòa 13
1.1.2.3 Nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận có đối tượng tác động là các
chủ thể tham gia tranh luận 15
1.2 Cơ sở lý luận về nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận 17
1.2.1 Bình đẳng trong tranh luận là nguyên tắc Hiến định, được cụ thể hóa trong pháp luật tố tụng hình sự 17
1.2.2 Nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận là điều kiện cần của việc xét xử công bằng và khách quan. 18
CHƯƠNG 2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG TRONG TRANH LUẬN 20
2.1 Nội dung của nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận 20
2.1.1 Tranh luận công khai và dân chủ 20
2.1.1.1 Tranh luận phải diễn ra công khai 20
2.1.1.2 Tranh luận phải diễn ra dân chủ 23
2.1.2 Chủ tọa phiên tòa giữ vai trò là trọng tài trong tranh luận 25
2.1.2.1 Điều khiển sự tranh luận giữa bên buộc tội và bên bào chữa 25
Trang 52.1.2.2 Duy trì trật tự và đảm bảo cho các chủ thể tham gia tranh luận thực
hiện đầy đủ các quyền của mình 27
2.1.3 Bình đẳng quyền giữa chủ thể mang quyền lực nhà nước và chủ thể không mang quyền lực 28
2.2 Cơ chế đảm bảo thực hiện nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận 30
2.2.1 Bảo đảm về mặt pháp lý 30
2.2.1.1 Bảo đảm thực hiện nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận thông qua Hiến pháp 30
2.2.1.2 Bảo đảm thực hiện nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận thông qua pháp luật tố tụng hình sự 31
2.2.2 Bảo đảm về mặt tổ chức 32
2.2.2.1 Bảo đảm tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp 32
2.2.2.2 Bảo đảm tổ chức và hoạt động của các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp 34
2.2.3 Bảo đảm về trình độ hiểu biết pháp lý của hội đồng xét xử, kiểm sát viên và luật sư 34
2.2.3.1 Bảo đảm trình độ pháp lý của Hội đồng xét xử 34
2.2.3.2 Bảo đảm trình độ pháp lý của kiểm sát viên 36
2.2.3.3 Bảo đảm trình độ pháp lý của Luật sư 37
CHƯƠNG 3 NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG TRONG TRANH LUẬN THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 39
3.1 Một số tồn tại về mặt lý luận và pháp lý của Bộ luật Tố tụng hình sự trong quy định về nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận và các giải pháp đề xuất 39
3.1.1 Một số tồn tại về mặt lý luận 39
3.1.1.1 Về việc bình đẳng tại phiên tòa 39
3.1.1.2 Về việc bình đẳng tại các giai đoạn tố tụng khác 40
3.1.1.3 Về chức năng của Kiểm sát viên tại phiên tòa 41
Trang 63.1.2.1 Quy định về vai trò của Hội đồng xét xử trong việc điều khiển hoạt
động tranh luận bình đẳng 42
3.1.2.2 Quy định về vấn đề người bào chữa vắng mặt tại phiên tòa 43
3.2 Thực trạng vấn đề đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận theo Bộ luật Tố tụng hình sự và các giải pháp 44
3.2.1 Thực trạng vấn đề đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận theo Bộ luật Tố tụng hình sự 44
3.2.1.1 Vai trò của Hội đồng xét xử trong việc đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận 44
3.2.1.2 Vai trò của Kiểm sát viên trong việc đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận 47
3.2.1.3 Vai trò của Luật sư trong việc đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận 48
3.2.2 Các giải pháp cụ thể đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận trong Tố tụng hình sự 50
3.2.2.1 Đối với Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân 50
3.2.2.2 Đối với Kiểm sát viên 51
3.2.2.3 Đối với Luật sư tham gia bào chữa 52
3.2.2.4 Các giải pháp khác 53
KẾT LUẬN 55 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những năm qua, tình hình vi phạm pháp luật ở nước ta xảy ra khá nghiêm trọng, diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia tăng ảnh hưởng đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cùng với sự nỗ lực của toàn xã hội, các cơ quan tiến hành tố tụng đã có nhiều cố gắng trong công tác tư pháp nên đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh - chính trị, trật tự, an toàn xã hội Tuy nhiên, chất lượng công tác tư pháp nói chung và công tác xét xử nói riêng còn chưa ngang tầm với yêu cầu và nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, còn bộc lộ nhiều yếu kém,
bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của xã hội và công dân, gây nhiều hậu quả đáng tiếc cho người bị kết
án oan, người thân và xã hội, Những điều đó đã tạo nên dư luận xã hội không tốt, khiến nhân dân thiếu lòng tin vào tòa án và nền công lý xã hội chủ nghĩa
Tại Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/1/2002 “Về một số nhiệm vụ trọng
tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” của Bộ Chính trị đã chỉ rõ: “…Nâng cao
chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác …Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa,
bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp
để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định…” Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 “Về Chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020” của Bộ Chính trị tiếp tục xác định một trong
những nhiệm vụ cải cách tư pháp ở nước ta là “Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét
xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng đảm bảo tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lương tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp…”
Tuy nhiên, thực tiễn xét xử các vụ án hình sự những năm gần đây cho thấy nhìn chung chất luợng, hiệu quả xét xử nói chung và hoạt động tranh luận tại các phiên toà hình sự nói riêng chưa cao, còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta giai đoạn hiện nay Tình trạng này do nhiều nguyên nhân
Trang 9khách quan và chủ quan khác nhau như: Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành nói chung chưa quy định đầy đủ, cụ thể và rõ ràng, các quy định về đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể tham gia xét xử tại phiên tòa hình sự sơ thẩm nói chung và tranh luận tại phiên tòa nói riêng, đồng thời kỹ năng của đội ngũ Thẩm phán, Kiểm sát viên và Luật sư còn nhiều hạn chế, tinh thần trách nhiệm chưa cao,…
Liên quan đến vấn đề tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm đã có một số công trình khoa học quan tâm nghiên cứu ở phạm vi và mức độ khác nhau Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ đề cập đến một số khía cạnh nhất định của vấn đề tranh luận như: về kỹ năng và văn hóa khi tranh luận, địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia tranh luận, thủ tục tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm,…mà chưa có công trình nào nghiên cứu về lý luận và thực tiễn bình đẳng giữa các chủ thể khi tham gia tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm Vì vậy, việc nghiên cứu về bình đẳng trong tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm là cần thiết
Tất cả các luận cứ nêu trên chính là lý do để tác giả lựa chọn đề tài “Nguyên
tắc bình đẳng trong tranh luận trong Tố tụng hình sự lý luận – thực tiễn” để làm
đề tài tốt nghiệp của mình
2 Phạm vi nghiên cứu
Tranh luận tại phiên tòa là một vấn đề khá quan trọng trong quá trình xét xử tại phiên tòa hình sự sơ thẩm và bình đẳng trong tranh luận có thể xem là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động tố tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm Nên trong phạm vi nghiên cứu của mình tác giả chỉ tập trung nghiên cứu vào bình đẳng trong tranh luận giữa các chủ thể tham gia tố tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Với phạm vi nghiên cứu này tác giả sẽ tập trung nghiên cứu về sự bình đẳng giữa những chủ thể tham gia tố tụng trong tranh luận dưới góc độ lý luận, phân tích những quy định của pháp luật về bình đẳng trong tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, và chỉ ra những vướng mắc trong hoạt động thực tiễn của những chế định này Từ đó, đưa ra những quan điểm, giải pháp góp phần nâng cao chất lượng hoạt động xét xử nói riêng và của các cơ quan tư pháp nói chung
3 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận trong Tố tụng
hình sự lý luận – thực tiễn” tác giả hướng tới mục đích làm rõ thêm khái niệm, cơ
Trang 10
sở lý luận, bản chất, nội dung của sự bình đẳng trong tranh luận tại phiên tòa hình
sự sơ thẩm, đồng thời chỉ ra những bất cập của qui định pháp luật Tố tụng hình sự ở nước ta hiện nay, thông qua đó đề xuất những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm hiện nay, hướng tới xây dựng phiên tòa hình sự thực sự công bằng, bình đẳng và dân chủ góp phần vào công cuộc cải cách tư pháp
Về vấn đề lý luận, tác giả làm rõ các khái niệm, đặc điểm và cơ sở lý luận liên quan đến bình đẳng trong tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm Về pháp lý, tác giả sẽ phân tích làm rõ các điều luật về sự bình đẳng giữa các chủ thể tham gia tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm Đồng thời đưa ra các kiến nghị sửa đổi các điều luật để đảm bảo được sự bình đẳng trong vấn đề tranh luận tại phiên tòa và các giải pháp về con người trong công cuộc đổi mới hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài luận văn này, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau: phương pháp nghiên cứu trên tài liệu, sách vở, phương pháp nghiên cứu và phân tích luật viết, phương pháp sưu tầm số liệu và phương pháp tổng hợp các thông tin thông qua các bài viết, các văn bản pháp luật có liên quan, một số sách, các công trình nghiên cứu có giá trị và tạp chí chuyên ngành
Đề tài nghiên cứu “Nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận trong Tố tụng
hình sự lý luận – thực tiễn” là một vấn đề khá phức tạp, đòi hỏi người nghiên cứu
đề tài cần có kiến thức sâu rộng cả về lý luận lẫn thực tiễn về quá trình tranh luận tại
Trang 11phiên tòa Ngoài ra, nó còn đòi hỏi tác giả phải biết nắm bắt được những vấn đề cốt lõi, những tồn tại và vướng mắc còn gặp phải, để từ đó đề xuất giải pháp giải quyết
Là một sinh viên năm cuối, lần đầu tiên làm quen với một đề tài nghiên cứu khoa học mà thời gian nghiên cứu còn hạn chế cũng như vốn kiến thức hiểu biết có giới hạn Vì vậy, có những thiếu sót, khiếm khuyết hay sai lầm trong đề tài nghiên cứu này là điều không thể tránh khỏi Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến đánh giá, phê bình của thầy cô và các bạn sinh viên
Trang 12
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG
TRONG TRANH LUẬN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1 Khái quát chung về nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm về nguyên tắc bình đẳng trong Tố tụng hình sự
Quyền bình đẳng trước pháp luật là một quyền con người Đó là quyền được xác lập với tư cách con người trước pháp luật, không bị pháp luật phân biệt đối xử, quyền có vị thế ngang nhau trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ như nhau Quyền bình đẳng trước pháp luật được xem xét ở các cấp độ khác nhau Trước hết, quyền bình đẳng trước pháp luật được thể hiện là nhu cầu của một chủ thể tự nhiên với tư cách là một con người buộc phải có và cần phải có Thứ hai, quyền bình đẳng trước pháp luật là một giá trị của xã hội loài người Thứ ba, mọi người thực hiện quyền bình đẳng đó bằng công cụ pháp luật thông qua việc thể chế hóa và tạo ra cơ chế bảo vệ khi nó bị xâm phạm Nói cách khác, quyền bình đẳng trước pháp luật là sự bao quát gần như toàn bộ các quyền bình đẳng trong mọi lĩnh vực như: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội dưới sự điều chỉnh của pháp luật Điều này được quyết định bởi thuộc tính, vai trò của pháp luật trong xã hội với tư cách là các quy phạm do nhà nước ban hành, thừa nhận và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội
Bình đẳng và pháp luật là hai khái niệm có quan hệ mật thiết với nhau Nói cách khác, để đánh giá ở đâu đó có được sự bình đẳng hay không hãy nhìn vào pháp luật Bình đẳng trước pháp luật là bình đẳng về quyền và nghĩa vụ pháp lý Về mối
quan hệ giữa bình đẳng và pháp luật, Mác đã nói: “Về bản chất, pháp luật chỉ có
thể là sự vận dụng một đại lượng ngang bằng với những người khác nhau”.1
Đại lượng ngang bằng ở đây là pháp luật Bởi lẽ, các giá trị về bình đẳng trong mọi lĩnh vực của cuộc sống được xã hội thông qua nhà nước và thể chế hóa thành pháp luật Pháp luật trở thành thước đo mang tính chuẩn mực cho sự bình đẳng
1
K Mác, Sự khốn cùng của triết học, NXB Sự thật, Hà Nội năm 1971, tr 93
Trang 13Việc đánh giá có bình đẳng hay không bình đẳng trước pháp luật nhiều khi còn ở chỗ quan niệm thế nào là bình đẳng trước pháp luật và pháp luật ở đây là thứ pháp luật như thế nào? Bình đẳng là sự đối xử như nhau nhưng có lẽ không chỉ dừng ở đó Bình đẳng được hiểu theo chiều dọc và chiều ngang Đó là sự đối xử như nhau đối với những người có hoàn cảnh như nhau và đối xử khác nhau với những người có hoàn cảnh khác nhau Cùng một hành vi phạm tội như nhau nhưng những người chưa thành niên không phải chịu mức án tử hình… Đó là những biểu hiện của bình đẳng theo chiều dọc mà mới nhìn tưởng như là sự bất bình đẳng
Bình đẳng trước pháp luật là một trong những nguyên tắc được quy định xuyên suốt trong tất cả các bản Hiến pháp và được quy định tại Khoản 1, Điều 16
Hiến pháp 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2013 là “ mọi người điều bình đẳng trước
pháp luật” Vì vậy nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật không chỉ được cụ thể
hóa trong Hiến pháp mà còn được cụ thể hóa trong Tố tụng hình sự, điển hình là
Điều 5, Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 là “Tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc
mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội Bất cứ người nào phạm tội đều
bị xử lý theo pháp luật” Bình đẳng trong tố tụng hình sự có thể được hểu là:
Thứ nhất, Đó là sự bình đẳng của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố với
bị cáo, Luật sư và những người tham gia tố tụng khác Bình đẳng ở đây là bình đẳng trên cơ sở quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng Nói cách khác, sự bình đẳng giữa các bên tranh tụng không hẳn là sự bình đẳng thực tế về địa vị pháp
lý cũng như không có nghĩa là các bên có quyền và nghĩa vụ như nhau do bên bào chữa và bên buộc tội thực hiện các chức năng khác nhau trong tố tụng hình sự, nhất
là tại phiên toà Do đó, quyền bình đẳng giữa bên bào chữa và bên buộc tội được hiểu là bình đẳng về phương diện tố tụng khi cả hai đề có tư cách tố tụng là người tham gia phiên toà, đều được pháp luật quy định cho các quyền ngang nhau để thực hiện hiệu quả các chức năng của mình
Thứ hai, Đó là sự bình đẳng giữa Hội đồng xét xử với người tham gia tố tụng
như bị cáo, người bị hại, Luật sư, người bào chữa và các tổ chức cá nhân tham gia
tố tụng khác Tức là Hội đồng xét xử phải tạo điều kiện cho những người tham gia
tố tụng trình bày đầy đủ ý kiến của mình, không những thế Hội đồng xét xử phải
Trang 14
chú ý lắng nghe và tôn trọng lẽ phải của bên công tố qua lời luận tội và những căn
cứ buột tội và cả ý kiến phản biện của bị cáo, người bị hại, Luật sư …
Từ những lý lẽ trên có thể đưa ra khái niệm về nguyên tắc bình đẳng trong tố
tụng hình sự là “nguyên tắc không bị phân biệt đối xử trong việc hưởng các quyền
và thực hiện các nghĩa vụ tố tụng đối với các chủ thể tham gia tố tụng”
1.1.1.2 Khái niệm về tranh luận trong Tố tụng hình sự
Tranh luận là một thủ tục bắt buộc, là phần trọng tâm của toàn bộ quá trình xét xử vụ án hình sự Thông qua hoạt động tranh luận, đối đáp được tiến hành một cách dân chủ, công khai và không bị giới hạn về thời gian tại phiên tòa dưới sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa, trên cơ sở các chứng cứ đã được kiểm tra công khai tại phiên toà và các quy định của pháp luật, các chủ thể thuộc bên buộc tội và bên bào chữa đưa ra quan điểm, lập luận của mình về các tình tiết khách quan và hướng giải quyết vụ án nhằm thuyết phục Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của mình và bác
bỏ quan điểm, lập luận của phía bên kia
Có thể thấy rằng tranh luận tại phiên tòa hình sự có ý nghĩa và vai trò rất lớn đối với quá trình xét xử vụ án hình sự sơ thẩm, nó được thể hiện ở một số điểm sau đây:
Thứ nhất, Tranh luận tại phiên tòa thể hiện không chỉ tính minh bạch, công
khai và dân chủ của Tố tụng hình sự mà còn cả bản chất dân chủ của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân
Thứ hai, Việc tranh luận, đối đáp của Kiểm sát viên với bị cáo, người bào
chữa và những người tham gia tố tụng khác sẽ làm cho phiên tòa khách quan, sống
động hơn, đồng thời góp phần xóa bỏ tình trạng xét xử theo kiểu “án bỏ túi” đã tồn
tại trước đây mà dư luận xã hội đã từng phê phán và nâng cao uy tín của Viện kiểm sát, Tòa án cũng như củng cố niềm tin của nhân dân vào công lý
Tranh luận là một quá trình quan trọng của toàn bộ quá trình xét xử tại phiên tòa, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến phán quyết cuối cùng của Hội đồng xét xử vì qua quá trình tranh luận sẽ giúp cho Hội đồng xét xử có được đánh giá tổng thể về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các chứng cứ buột tội, gỡ tội một cách khách quan nhất
Trang 15Hiện nay, trong khoa học pháp lý đã có khá nhiều tác giả đã nghiên cứu và
đưa ra nhiều quan điểm của mình về tranh luận và tiêu biểu nhất là:
Thứ nhất là “Tranh luận trước Toà án là một phần xét xử vụ án tại phiên toà,
trong đó Công tố viên, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự hoặc người đại diện của
họ, người bào chữa (trường hợp không có người bào chữa thì bản thân bị cáo) phát
biểu, phân tích các chứng cứ được đưa ra xem xét, trình bày kết luận của mình về
vụ án”.2
Thứ hai là “Tranh luận tại phiên tòa hình sự bao gồm toàn bộ các quan
điểm, lập luận về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án hình sự mà các chủ thể của
bên buộc tội và bên bào chữa đưa ra tại phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử chấp
nhận hoặc bác bỏ khi ra phán quyết về vụ án” 3
Nói chung cả hai khái niệm trên điều có sự tương đồng với nhau, đó là tranh
luận chính là quá trình đối đáp, phân tích các chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên qua đến
vụ án và đưa ra những ý kiến của mình xung quanh lời buột tội của Kiểm sát viên
Từ những phân tích trên, có thể khái niệm tranh luận là: “Tranh luận trong tố tụng
hình sự là một thủ tục (một phần) bắt buộc của phiên tòa hình sự sơ thẩm , trong đó
các chủ thể của bên buộc tộ (Kiểm sát viên, người bị hại, bị đơn dân sự,…), bên bào
chữa (người bào chữa, bị cáo,…) và những người có liên quan khác đưa ra quan
điểm, lập luận của mình về các chứng cứ, các tình tiết của vụ án đã được làm rõ tại
phần xét hỏi và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của mình và bác bỏ
quan điểm của bên đối lập về hướng giải quyết các vấn đề trong vụ án giúp cho Hội
đồng xét xử ra phán quyết về vụ án đúng pháp luật.”
1.1.1.3 Khái niệm về nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận
Tranh luận là một quá trình quan trọng nhất của cả vụ án nên để việc tranh
luận được thực hiện và thực hiện có hiệu quả thì yêu cầu phải có các điều kiện nhất
định Một trong các điền kiện quan trọng là bên buột tội và bên bào chữa phải thực
sự bình đẳng với nhau và tòa án phải độc lập khách quan đảm bảo cho hai bên có
các điều kiện như nhau để thực hiện chức năng của mình Sẽ bất bình đẳng khi pháp
2
Hồ Đức Anh, Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 về phạm vi tranh luận và
chủ thể tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm hình sự, Tạp chí Kiểm sát số 20 năm 2007, Tr 31-38
3
Lê Đức Tiết , Kỹ năng và văn hoá tranh luận tại phiên toà , Tạp chí kiểm sát số 12 năm 2005, Tr
42 – 44.
Trang 16
luật dành cho một bên quá nhiều phương tiện còn bên kia thì lại quá ít Không nên quan niệm rằng vì bên buột tội (bên công tố) là đại diện cho Nhà nước còn bên kia chỉ là đại diện của quyền lợi của đương sự nên không thể bình đẳng được
Nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận bảo đảm quyền bình đẳng giữa các chủ thể tham gia vào quá trình tranh luận Khi tham gia vào quá trình tranh luận các chủ thể tham gia được bảo đảm quyền bình đẳng với nhau trong việc sử dụng các biện pháp để thực hiện một cách có hiệu quả chức năng của mình Nội dung của nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận được thể hiện rõ nét nhất trong Điều 19 Bộ
luật tố tụng hình sự 2003: “Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại ,
nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ
án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự điều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra các chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra các yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Tòa án” Sự bình đẳng giữa các bên trong tranh
luận có nghĩa là các bên được pháp luật dành cho các quyền và phương tiện ngang nhau để thực hiện các chức năng của mình chứ không phải bình đẳng về quyền hạn
và nghĩa vụ
Hiện tại vẫn chưa có khái niệm pháp lý chính thức nào định nghĩa về nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận trong Tố tụng hình sự, nhưng trong quá trình tranh luận tại phiên tòa thì vấn đề bình đẳng rất được xem trọng và đặt lên hàng đầu Nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận bảo đảm quyền bình đẳng giữa các chủ thể tham gia vào quá trình tranh luận Nội dung của nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận được thể hiện rõ nét nhất trong Điều 19 Bộ luật tố tụng hình sự 2003, ta có thể hiểu:
Thứ nhất, Bình đẳng trong tranh luận là sự bình đẳng giữa bên bào chữa và
bên công tố trong việc trình bày ý kiến và đối đáp dân chủ với nhau: đây là nội dung chính của nguyên tắc, việc tranh luận đối đáp giữa hai bên bào chữa và bên kiểm sát viên sẽ giúp cho Hội đồng xét xử đánh giá các chững cứ và đưa ra phán quyết đúng
pháp luật, tránh tình trạng “oan sai”
Thứ hai, Bình đẳng trong việc đưa ra yêu cầu của mình về những vấn đề mà
pháp luật quy định cho họ có quyền yêu cầu Đây là một nội dung cũng khá quan trọng trong tranh luận, trong quá trình tranh luận tại phiên tòa các chủ thể tham gia
Trang 17tranh luận có quyền yêu cầu Chủ tọa phiên tòa cho họ được quyền triệu tập người làm chứng, được quyền hỏi, nhằm làm các tình tiết liên quan đến vụ án
Từ những lý lẽ trên có thể đưa ra khái niệm cơ bản về nguyên tắc bình đẳng
trong tranh luận: “ Nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận là việc bảo đảm Kiểm sát
viên, bị cáo, người bào chữa và các chủ thể tham gia tố tụng tại phiên tòa có quyền phát biểu ý kiến, áp dụng pháp luật để bảo vệ quyền lợi của mình hay đưa ra quan điểm về cách giải quyết vụ án và phản bác ý kiến của người khác theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, mà không bị phân biệt hay đối xử”
1.1.2 Đặc điểm của nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận
1.1.2.1 Bình đẳng trong tranh luận là nguyên tắc đặc biệt của nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử
Trong những năm gần đây, đặc biệt là từ sau khi có Nghị quyết số
08-NQ/TW “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” năm
2002 và Nghị quyết số 49-TQ/TW Nghị quyết của Bộ Chính trị “Về chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020” năm 2005, thì “tranh tụng” là một thuật ngữ, một khái
niệm được sử dụng khá phổ biến trong khoa học pháp lý Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật của nước ta nói chung và trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 nói riêng điều không đề cập gì về khái niệm này, thuật ngữ “tranh tụng” chỉ mới được
đề cập trong Hiến Pháp 2013 tại Khoản 5, Điều 103 và xem nó như là một nguyên
tắc đặc biệt trong Tố tụng hình sự đó là “ Bảo đảm tranh tụng trong xét xử” Vì
vậy, trong khoa học luật Tố tụng hình sự đã có nhiều quan điểm nhận thức khác nhau về các khái niệm “tranh tụng” và “tranh luận” tại phiên toà Có thể phân các quan điểm này thành ba nhóm cơ bản sau đây:
Quan điểm thứ nhất cho rằng “Tranh tụng chính là quá trình tranh luận, trao
đổi giữa các bên Trong tranh tụng các quan điểm pháp lý khác nhau được cọ sát
và chân lý khách quan xuất hiện” 4
Theo quan điểm này thì “tranh tụng” và “tranh
luận” tại phiên tòa là hai khái niệm đồng nhất với sự tham gia đồng thời và đầy đủ của các chủ thể thuộc bên buộc tội, bên bào chữa và các chủ thể tham gia tố tụng khác
4
Tống Anh Hào, Bàn về vấn đề tranh tụng trong tố tụng hình sự, Tạp chí Tòa án nhân dân số 5
năm 2003, Tr 2-4
Trang 18
Quan điểm thứ hai cho rằng “Tranh tụng là hoạt động của những người tiến
hành tố tụng và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, tham gia vào việc làm
rõ sự thật của vụ án và cơ sở áp dụng pháp luật, làm căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định” Còn “tranh luận” là “Một thủ tục, một phần độc lập của phiên tòa sơ thẩm Thủ tục tranh luận thể hiện rõ nét nhất, tập trung nhất nội dung của nguyên tắc tranh tụng” Tranh luận có nội hàm hẹp hơn tranh tụng, là một phần của tranh tụng”.5 Theo hai quan điểm này tranh tụng bao gồm không chỉ phần tranh luận tại phiên tòa mà còn cả các phần khác (xét hỏi và nghị án) của hoạt động xét
xử, trong đó phần tranh luận công khai tại phiên tòa thể hiện một cách tập trung và
rõ nét nhất quá trình tranh tụng
Ngoài ra “tranh tụng” còn có nghĩa là “Sự kiện cáo nhau giữa hai bên có lập
trường tương phản yêu cầu Tòa án phân xử”.6
Tranh tụng là các hoạt động tố tụng được thực hiện bởi các bên tham gia tố tụng (bên buộc tội và bên bị buộc tội) có quyền bình đẳng với nhau trong việc thu thập, đưa ra chứng cứ để bảo vệ các quan điểm và lợi ích của mình, phản bác lại các quan điểm và lợi ích của phía đối lập Tranh tụng tại phiên tòa là những hoạt động tố tụng được tiến hành tại phiên tòa xét
xử bởi hai bên tham gia tố tụng, nhằm bảo vệ ý kiến, luận điểm của mỗi bên và bác
bỏ ý kiến, luận điểm của phía bên kia, dưới sự điều khiển, quyết định của Tòa án với vai trò trung gian, trọng tài Có nhiều quan điểm đã đồng tình với quan điểm này và cho rằng quá trình tranh tụng bao gồm toàn bộ quá trình xét xử vụ án tại phiên tòa hình sự bắt đầu từ thời điểm khai mạc phiên toà và kết thúc sau khi công
bố phán quyết của Toà án
Như vậy, có thể khẳng định rằng “tranh tụng” và “tranh luận” tại phiên tòa hình sự là các khái niệm không đồng nhất Giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, trong đó “tranh tụng tại phiên tòa” là “cái chung” (tổng thể) và “tranh luận tại phiên tòa” là “cái riêng” (bộ phân cấu thành) Vì vậy, khái niệm “tranh tụng tại phiên tòa” có nội hàm rộng hơn bao gồm không chỉ phần tranh luận mà cả các phần khác (thủ tục phiên toà, xét hỏi, nghị án và tuyên án) của quá trình xét xử vụ án hình
Trang 19sự, còn “tranh luận tại phiên toà” chỉ là một bộ phận cấu thành của tranh tụng và là
sự thể hiện một cách tập trung, rõ nét nhất của quá trình tranh tụng
Nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử là nguyên tắc Hiến định Chính
vì vậy, nó không chỉ được thể hiện và cụ thể hóa trong Hiến pháp mà còn được xem như là một nguyên tắc cơ bản trong pháp luật Tố tụng hình sự Việc hiến định nguyên tắc tranh tụng mang nhiều ý nghĩa, cụ thể:
Việc quy định nguyên tắc tranh tụng trong Hiến pháp đã thể chế hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp Từ trước tới nay vấn đề tranh tụng và nâng cao chất lượng tranh tụng được quan tâm và đề cập tới nhiều Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương về vấn đề này, cụ thể: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công
tác tư pháp trong thời gian tới đã quy định: "… Nâng cao chất lượng công tố của
Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác Việc phán quyết của Tòa án phải căn
cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng của phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời gian quy định" Tiếp
đó, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách
tư pháp đến năm 2020 khẳng định: "Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định
rõ hơn vị trí, quyền hạn trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia
tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp"
Pháp luật tố tụng hình sự hiện hành cũng có nhiều quy định chứa đựng nội dung của nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử như quy định nguyên tắc xác định sự thật vụ án, xét xử công khai, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, các quy định về quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, đặc biệt thì nguyên tắc tắc bình đẳng trong tranh luận thể khá đầy đủ tính chất của nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử Nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận
có thể xem là một nguyên tắc đặc biệt của nguyên tắc bảo đảm tranh tụng vì nó đảm bảo được các yếu tố về quyền của con người trong quá trình tranh luận:
Trang 20
Thứ nhất, là quyền không bị phân biệt đối xử trong quá trình tranh luận:
Quyền không phân biệt đối xử trong tranh luận được thể hiện rõ ở Điều 19 Bộ luật
Tố tụng hình sự 2003 “Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên
đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Toà án ” Điều 19 đã cho thấy được sự bình đẳng, không phân biệt đối
xử trong việc hưởng các quyền giữa các chủ thể, những chủ thể tham gia vào phiên tòa điều có quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, có quyền đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ
Thứ hai, là quyền được pháp luật bảo vệ trong quá trình tranh luận: Điều luật
thể hiện rõ nhất là Điều 218 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 “…Người tham gia tranh
luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác Chủ toạ phiên toà không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến, nhưng có quyền cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ án…” Đây
là điều luật đảm bảo quyền và lợi ích của các đương sự, việc quy định chủ tọa phiên tòa không có quyền hạn chế thời gian tranh luận góp phần cho các đương sự trình bày hết ý kiến của mình về vụ án, tạo cho Hội đồng xét xử có thể ra một phán quyết đúng pháp luật, tránh oan sai
Tóm lại, nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận là nguyên tắc đặc thù đảm bảo được vấn đề tranh tụng trong hoạt động xét xử và thực hiện một cách đầy đủ, tập trung nhất của quá trình tranh tụng
1.1.2.2 Nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận chỉ áp dụng tại phiên tòa
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự hoạt động tố tụng tại phiên toà là hoạt động trung tâm có tầm quan trọng đặc biệt, đó là việc Hội đồng xét xử nhân danh nhà nước để ban hành bản án, quyết định một người có tội hay không có tội, nếu có tội thì tội gì, mức hình phạt là bao nhiêu năm.Vì vậy phiên toà hình sự phải tuân thủ nghiêm chỉnh, triệt để những nguyên tắc mà pháp luật tố tụng hình sự Đó
là những nguyên tắc bảo đảm pháp chế Xã hội chủ nghĩa, tôn trọng bảo vệ quyền cơ bản của công tác bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, nguyên tắc: Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
Trang 21tụng, thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập chỉ tuân theo pháp luật, Toà án xét xử tập thể Xét xử công khai, bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận,
Trong xét xử, phiên tòa là giai đoạn có vai trò đặc biệt quan trọng và mang tính quyết định trong giải quyết vụ án, thực hiện các nhiệm vụ và mục đích tố tụng đặt ra Vai trò quyết định đó của phiên tòa thể hiện ở những điểm sau đây:
Thứ nhất, Phiên tòa là nơi mà Tòa án bằng thủ tục công khai, toàn diện thực
hiện cuộc điều tra chính thức để xác định sự thật khách quan của vụ án Tòa án ra bản án, quyết định trên cơ sở các chứng cứ được thu thập và kiểm tra công khai tại phiên tòa Việc chứng minh (bao gồm cả quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ) được các chủ thể có quyền và lợi ích khác nhau (bên buộc tội, bên bào chữa và các chủ thể tham gia tố tụng khác) thực hiện một cách bình đẳng, dân chủ tại phiên tòa khi xét hỏi cũng như tranh luận Việc chứng minh và từ đó xác định sự thật của vụ án được tòa án thực hiện trên cơ sở chứng cứ được thu thập, thẩm tra tại phiên tòa và cân nhắc, đánh giá của các bên tham gia tố tụng khác nhau
Thứ hai, Phiên tòa đảm bảo sự tham gia của những người tham gia tố tụng
Hơn ở đâu hết, tại phiên tòa quyền và nghĩa vụ tố tụng của những người tham gia tố tụng được quy định và được đảm bảo thực hiện đầy đủ nhất bằng thủ tục tố tụng trực tiếp, công khai Tại phiên tòa khó có thể xảy ra các trường hợp vi phạm pháp luật nghiêm trọng như bức cung, ép cung, dùng nhục hình,…
Thứ ba, Phiên tòa là nơi có điều kiện tốt nhất để thực hiện việc áp dụng đúng
đắn pháp luật Qua phân tích nội dung các đề xuất của các bên tham gia tố tụng về
áp dụng pháp luật, Tòa án lựa chọn cho mình phương án áp dụng pháp luật chính xác nhất để giải quyết đúng đắn vụ án
Như vậy, phiên tòa là giai đoạn trung tâm thể hiện đầy đủ nhất bản chất quá trình tố tụng nói chung và xét xử nói riêng Phiên tòa có sự tham gia đầy đủ của các
cơ quan tiến hành tố tụng (ngoại trừ cơ quan điều tra), những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng với địa vị pháp lý được xác định Thông qua phiên tòa, bằng thủ tục trực tiếp, công khai, qua nghe ý kiến và đề xuất của các bên tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử (với tư cách là chủ thể tham gia tố tụng quan
Trang 22ra một cách khách quan và dân chủ Nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận được sử dụng trong suốt quá trình tranh luận từ khi kiểm sát viên đọc bản luận tội cho đế khi kết thúc phần tranh luận tại phiên tòa và đây là quá trình thể hiện sự tập trung nhất của xét xử, quá trình xét xử tại phiên tòa có bình đẳng hay không, phán quyết của Hội đồng xét xử có dân chủ hay không, thì quá trình tranh luận ảnh hưởng rất nhiều
Tóm lại, nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận chỉ được áp dụng tại phiên
tòa, vì chỉ có tại phiên tòa thì vấn đề tranh luận mới được pháp luật bảo hộ một cách đúng nhất và cũng chỉ có ở phiên tòa thì vấn đề bình đẳng về tranh luận giữa các chủ thể tham gia tố tụng mới được đặc ra
1.1.2.3 Nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận có đối tượng tác động là các chủ thể tham gia tranh luận
Trong Tố tụng hình sự luôn luôn tồn tại 3 chức năng cơ bản là: buộc tội, bào chữa và xét xử Mặt khác, tham gia vào quá trình Tố tụng hình sự nói chung và tại phiên toà hình sự nói riêng có rất nhiều chủ thể với vai trò, vị trí và tư cách tố tụng khác nhau cùng với các quyền, nghĩa vụ nhất định được pháp luật quy định Mỗi chủ thể này có thể tham gia (ở một mức nhất định) vào việc thực hiện một trong các chức năng cơ bản trong Tố tụng hình sự Ngoài ra, còn một số chủ thể khác (người làm chứng, người giám định, người phiên dịch) tham gia tố tụng không phải để thực hiện một chức năng cơ bản nào trong Tố tụng hình sự mà chỉ là hoạt động bổ trợ cho các bên và Toà án trong quá trình giải quyết vụ án Vì vậy, theo căn cứ này có
thể phân các chủ thể tham gia Tố tụng hình sự thành các nhóm cơ bản sau đây:
- Các chủ thể tham gia thực hiện chức năng buộc tội (Kiểm sát viên, người bị hại, )
Trang 23- Các chủ thể tham gia thực hiện chức năng bào chữa (Luật sư tham gia bào chữa, bị cáo, )
- Các chủ thể tham gia thực hiện chức năng xét xử (Hội đồng xét xử)
- Các chủ thể tham gia tố tụng khác (người làm chứng, người giám định, người phiên dịch,…)
Tham gia vào quá trình tranh luận tại phiên toà bao gồm các chủ thể thuộc bên buộc tội, bên bào chữa và Hội đồng xét xử để thực hiện ba chức năng cơ bản tương ứng trong Tố tụng hình sự là buộc tội, bào chữa và xét xử Tuy nhiên, ở giai đoạn tranh luận chỉ có hai chức năng buộc tội và bào chữa là được thực hiện một cách đầy đủ Còn chức năng xét xử mới được thực hiện một phần (làm trọng tài giữa hai bên tranh tụng), phần còn lại của chức năng xét xử (ra phán quyết về vụ án) chỉ được thực hiện khi nghị án Trong quá trình tranh luận thì Hội đồng xét xử không tham gia trực tiếp vào quá trình tranh luận, mà là người trọng tài quan sát và điều khiển quá trình này diễn ra theo đúng pháp luật Đối với các chủ thể tham gia
tố tụng còn lại (người làm chứng, người giám định, người phiên dịch,…) thì các chủ thể này vẫn tham gia vào quá trình tranh luận, nhưng họ chỉ là chủ thể bổ trợ cho quá trình tranh luận
Để bảo đảm tính chất dân chủ và khách quan trong quá trình tranh luận hay không thì phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng quan trọng nhất vẫn là vai trò của các chủ thể tham gia tranh luận mà đặc biệt là của Kiểm sát viên, người bào chữa và bị cáo Trong phần tranh luận, sau khi Kiểm sát viên đọc lời luận tội tiếp theo đó sẽ là việc bào chữa của bị cáo hoặc là người bào chữa (Luật sư), muốn đảm bảo được tính dân chủ khách quan trong việc ra phán quyết cuối cùng thì đòi hỏi Hội đồng xét
xử phải đánh giá chứng cứ và cách tốt nhất để đánh giá, xem xét chứng cứ là vấn đề bào chữa của bị cáo hoặc người bào chữa, và đối đáp với Kiểm sát viên
Kết luận, Quá trình tranh luận của các chủ thể (kiểm sát viên, người bào chữa
và bị cáo) chính là đối tượng tác động đến nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận
Trang 24
1.2 Cơ sở lý luận về nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận
1.2.1 Bình đẳng trong tranh luận là nguyên tắc Hiến định, được cụ thể hóa trong pháp luật tố tụng hình sự
Theo Khoản 1 Điều 14 của ICCPR là: “Mọi người đều bình đẳng trước các
tòa án và cơ quan tài phán Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một tòa án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ
sở pháp luật để quyết định về lời buộc tội người đó trong các vụ án hình sự, …” 7
Trong pháp luật Việt Nam, quyền bình đẳng trước Tòa án là một nội dung của quyền bình đẳng trước pháp luật, một quyền đã được Hiến định Quyền bình đẳng trước Tòa án được hiểu là quyền bình đẳng trong việc đưa ra các chứng cứ, đưa ra các yêu cầu tranh luận trước Tòa án và phải được Tòa án tôn trọng, tạo điều kiện Điều 19 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 quy định về bảo đảm quyền bình đẳng
trước Toà án như sau: “Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên
đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Toà án Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền
đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án”
Để bảo đảm được quyền bình đẳng trước Tòa án, trong quá trình xét xử, người tiến hành tố tụng phải thực sự khách quan, điều khiển phiên tòa đúng quy định của pháp luật, không được thiên vị hay gây trở ngại cho bất cứ bên nào Để đảm bảo điều này, pháp luật tố tụng Việt Nam đã đặt ra các nguyên tắc để đảm bảo cho việc bình đẳng trước Tòa án như: Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân tại Điều 4, nguyên tắc giám đốc việc xét xử tại Điều 21, Nguyên tắc không ai có tội khi chưa có quyết định Tòa án tại Điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, và đặc biệt là nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận được quy định tại Điều
19, đây là nguyên tắc được cụ thể hóa từ quyền bình đẳng trước pháp luật được quy định tại Điều 16 của Hiến pháp 2013 Khi tham gia tố tụng hình sự người có địa vị pháp lý như nhau thì điều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau, không ai có thể được loại trừ hoặc được áp dụng những ưu đãi ngoài những trường hợp pháp luật quy định như việc quy định thủ tục tố tụng hình sự đối với một số người là Đại biểu
7
Công ước về các quyền Dân sự và Chính trị năm 1966
Trang 25Quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, các viên chức ngoại giao, Nhưng đây không phải là tạo ra những ưu tiên cho họ mà chỉ là một trong những bảo đảm cần thiết để họ thực hiện vai trò của mình
Bình đẳng trong tranh luận là một nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân
sự, người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án, những người đại diện hợp pháp của họ và người bảo vệ quyền lợi của đương sự trong việc đưa ra chứng
cứ, tài liệu đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước tòa án có ý nghĩa quan trọng để tìm ra sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ Quyền bình đẳng trong tranh luận còn là một nguyên tắc thể hiện những người tiến hành và tham gia tố tụng, về đưa ra chứng cứ, tài liệu đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước tòa án đòi hỏi tòa án không chỉ tôn trọng các quyền của những người đó trong tố tụng, không thể coi trọng quyền của người này hơn quyền của người kia mà còn có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện những quyền
đó nhất là phải đảm bảo cho bị cáo và người bào chữa không bị hạn chế trong việc trình bày trước tòa án mọi tình tiết của vụ án, các chứng cứ và lý lẽ để Hội đồng xét
xử xem xét và trên cơ sở đó có những phán quyết công minh, đúng pháp luật
Kết luận, Nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận là nguyên tắc góp phần tạo
sự bình đẳng của công dân bình đẳng trước pháp luật, một quyền được quy định xuyên suốt qua tất cả bản Hiến pháp
1.2.2 Nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận là điều kiện cần của việc xét xử công bằng và khách quan
Trong bộ máy nhà nước ta, vị trí của Tòa án nhân dân được thể hiện tại Điều
102 của Hiến pháp sửa đổi 2013: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” Tòa án nhân dân là
cơ quan duy nhất được Hiến pháp và pháp luật trao cho chức năng xét xử Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Tòa án nhân dân nhân danh nhà nước đưa ra các phán quyết
để quyết định trực tiếp tới vấn đề xã hội, chính trị, kinh tế của con người cụ thể, do
đó Tòa án đóng vai trò vô cùng quan trọng và trực tiếp trong việc bảo đảm các quy định về quyền con người không bị xâm phạm
Trang 26
Để việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lý nói chung và bảo vệ quyền con người nói riêng, trong hoạt động xét xử của mình, tòa án phải tuân theo những nguyên tắc nhất định mà hầu hết được quy định cụ thể trong Hiến pháp và pháp luật Đặc biệt trong quá trình tranh luận giữa kiểm sát viên với những người tham gia tố tụng khác thì vấn đề đảm bảo sự công bằng, khách quan nhất thiết phải được đảm bảo, vì vậy việc đưa ra một nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận là vấn đề cần thiết
Bình đẳng trong tranh luận tại phiên toà xét xử vụ án hình sự sơ thẩm là việc Kiểm sát viên và luật sư đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tranh luận dân chủ trước phiên tòa, và quá trình tranh luận giữa Kiểm sát viên với bị cáo, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác là quá trình đối đáp giữa các bên nhằm đánh giá và làm sáng tỏ các chứng cứ, tài liệu, đồ vật nhằm giúp cho Hội đồng xét xử đánh giá được các tình tiết vụ án và nhận thức quy định pháp luật trước khi ra phán quyết Bản án được Hội đồng xét xử đưa ra dựa trên cơ sở kết quả tranh luận dân chủ, công khai tại phiên toà theo quy định của Khoản 3, Điều 222 Bộ luật
Tố tụng hình sự 2003 là“Khi nghị án chỉ được căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu
đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát vên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa”
Tóm lại, Khi xét xử ở phiên tòa thì tranh luận là một giai đoạn trọng tâm của
cả vụ án, tranh luận sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyết định ra bản án của Hội đồng xét
xử Vì vậy việc đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận được thực hiện sẽ là điều kiện cần trong việc tạo sự công bằng và khách quan của bản án
Trang 27CHƯƠNG 2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
VỀ NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG TRONG TRANH LUẬN
2.1 Nội dung của nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận
2.1.1 Tranh luận công khai và dân chủ
2.1.1.1 Tranh luận phải diễn ra công khai
Nguyên tắc xét xử công khai là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Tố tụng hình sự Đảm bảo tính công khai trong hoạt động tố tụng là vấn đề rất được Nhà nước quan tâm Tư tưởng về tính công khai trong hoạt động tố tụng đã
được ghi nhận trong Hiến Pháp 2013 tại Khoản 3 Điều 103 như sau: “Tòa án nhân
dân xét xử công khai Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự, Tòa án nhân dân có thể xét xử kín”, ngoài
ra còn được cụ thể hóa trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 tại Điều 18 Bộ Luật Tố
Tụng Hình Sự năm 2003 quy định: “Việc xét xử của Tòa án được tiến hành công
khai, mọi người đều có quyền tham dự, trừ trường hợp do Bộ luật này qui định Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì Tòa án xét
xử kín, nhưng phải tuyên án công khai”
Hiến pháp đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất cũng như các văn bản luật chuyên ngành đều quy định: việc xét xử của Tòa án được tiến hành công khai, mọi công dân từ 16 tuổi trở lên đều có thể tham dự và Tòa án phải công bố tất cả các quyết định được thông qua trong quá trình xét xử vụ án Tòa án xét xử công khai ở trụ sở Tòa án nhưng trong trường hợp cần phát huy mạnh mẽ tác dụng giáo dục và phòng ngừa của công tác xét xử thì Tòa án có thể tiến hành các phiên tòa xét xử lưu động tại nơi xảy ra tội phạm Cụ thể hóa nguyên tắc xét xử công khai của tòa án thể hiện qua việc: Nội dung phiên tòa, thời gian, địa điểm mở phiên tòa phải được niêm yết công khai trước khi xét xử, kết quả xét xử tại phiên tòa có thể được công bố trên báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình hoặc bằng các phương tiện thông tin đại chúng khác để cho mọi người được biết
Trang 28
Tuy nhiên, đảm bảo nguyên tắc công khai không có nghĩa là trong tất cả mọi trường hợp, với mọi vụ án đều phải xét xử công khai, mà có những trường hợp đặc biệt cần giữ gìn bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc bí mật của đương sự thì Tòa án được phép xử kín Xử kín là một chế định đã được quy định ngay từ Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988 đầu tiên của nước ta và được khẳng định lại tại điều 18 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 Việc quy định về xử kín là hoàn toàn hợp lý, vì lợi ích của xã hội, vì lợi ích của đương sự, thể hiện sự tôn trọng của pháp luật đối với nhân phẩm, danh dự của đương sự trong vụ án
Quy định này cũng phù hợp với hầu hết với pháp luật tố tụng hình sự của các nước trên thế giới Tuy nhiên, cho đến nay hai khái niệm “thuần phong mỹ tục của dân tộc” và “bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ” vẫn chưa được các cơ quan có thẩm quyền giải thích một cách cụ thể, chi tiết để áp dụng được thống nhất Do vậy, trên thực tế để coi một vụ án có thuộc các trường hợp phải xử kín hay không chủ yếu dựa vào đánh giá của cơ quan xét xử Việc bảo đảm nguyên tắc xét xử công khai không chỉ thể hiện tính minh bạch trong xét xử mà còn nhằm thực hiện sự giám sát của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án, đặt Tòa án nhân dân và cơ quan tiến hành tố tụng dưới sự giám sát của người dân
Ngoài ra Luật tổ chức Tòa án năm 2002 cũng đã cụ thể hóa tư tưởng xét xử
công khai, được quy định ở Điều 7: “Toà án xét xử công khai, trừ trường hợp cần
xét xử kín để giữ gìn bí mật Nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ
bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ” Trên thực tế thì các vụ án
hiếp dâm, tội phạm liên quan đến tình dục thường được xét xử kín Bởi đối với các
vụ án hiếp dâm, người bị hại phải kể tỉ mỉ các tình tiết của vụ án, người giám định cần phải đưa ra kết luận về người bị hại, người làm chứng cũng phải trình bày những tình tiết mà họ biết về vụ án Nếu vụ án được xét xử công khai, với sự tham gia của nhiều người thì sẽ làm cho người bị hại không dám kể chi tiết về những tình tiết của vụ án xảy ra Tâm trạng đó có thể xảy ra đối với bị cáo, người làm chứng,
và như vậy việc xác định sự thật của vụ án sẽ gặp khó khăn Trường hợp này, Tòa
án có thể quyết định xử kín, nhưng phải tuyên án công khai Ví dụ, một vụ án điển hình làm xôn xao dư luận đó là vụ án xét xử Sầm Đức Xương (nguyên Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Việt Vinh, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang) năm
2010, Tòa án đã quyết định xử kín Vụ án này liên quan đến tình dục mà nạn nhân lại là các trẻ em gái chưa thành niên, những tình tiết của vụ án có thể sẽ rất nhạy
Trang 29cảm và riêng tư, thậm chí có thể phải tả lại cả những tình tiết tế nhị Nếu xét xử công khai vụ việc này, liệu các tình tiết của vụ án có thể được kể ra một cách chi tiết, đầy đủ không, đó là chưa kể đến việc ảnh hưởng đến nhân phẩm, danh dự cũng như tương lai của người bị hại Vì vậy, theo yêu cầu lợi ích chính đáng của đương
sự, cũng như để đảm bảo thuần phong mỹ tục của dân tộc, nên Tòa án nhân dân tỉnh
Hà Giang đã quyết định xét xử kín
Do tranh luận là một thủ tục đặc biệt của xét xử nên phần tranh luận cũng phải diễn ra công khai, tranh luận diễn ra công khai tại phiên được hiểu là tranh luận giữa bên buộc tội và bên bào chữa phải diễn ra trước sự chứng kiến của những người có mặt tại phiên tòa Trong trường hợp các vụ án được xét xử lưu động thì phần Tranh luận tại phiên tòa lưu động là việc tranh luận công khai không phải tại Tòa án mà thường là tại nơi tội phạm được thực hiện hoặc nơi có tranh chấp xảy ra ,
nơi bị cáo, các đương sự cư trú…Ví dụ: Vụ án “bắt cóc chiếm đoạt tài sản” và “tiêu
thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” được Tòa án nhân dân TP Cần Thơ xét
xử lưu động ở nhà văn hóa thông tin xã Đông Thuận, huyện Thới Lai, TP Cần Thơ, trong vụ án này phần tranh luận được diễn ra công khai tại nơi xét xử và Hội đồng xét xử đã tuyên phạt các bị cáo Nguyễn Phú Hải 16 năm tù, Thái Long Hồ 14 năm
tù, Nguyễn Thị Kim Chi 12 năm tù và Trương Hữu Luân 10 năm tù Bị cáo Nguyễn Thành Thắng bị tuyên phạt 6 năm 6 tháng tù về Riêng bị cáo Trần Hữu Gìn bị tuyên
phạt 2 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “không tố giác tội phạm”
Trong trường hợp vụ án được Tòa án quyết định xét xử kín thì phần tranh luận cũng sẽ được xét xử kín các chủ thể có thể tham gia vào phần tranh luận ở trong trường hợp vụ án được xử kín chỉ có Hội đồng xét xử (gồm thẩm phán, hội thẩm nhân dân), kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch được tham gia phiên tòa Các chủ thể khác như người thân của bị cáo, người thân của bị hại,… Người không có nhiệm vụ không được tham dự phiên tòa xét xử đối với toàn bộ hay một phần vụ án
Ý nghĩa của việc tranh luận công khai:
Thứ nhất, đối với các nguyên tắc bình đẳng trong tranh luận: Tranh luận
công khai nhằm bảo đảm cơ chế kiểm tra và giám sát của dân đối với hoạt động xét
Trang 30
xử trong tố tụng hình sự Sự kiểm tra giám sát của dân đối với hoạt động nhà nước nói chung và hoạt động xét xử nói riêng là đòi hỏi cấp bách của một xã hội dân chủ, phần nào đó hoạt động tranh luận công khai trước phiên tòa sẽ đảm bảo được sự bình đẳng giữa các chủ thể tham gia tranh luận, bởi sự giám sát của nhân dân Việc bảo đảm tranh luận công khai không chỉ thể hiện tính minh bạch trong xét xử mà còn nhằm thực hiện sự giám sát của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án, đặt Tòa án nhân dân và cơ quan tiến hành tố tụng dưới sự giám sát của người dân Đồng thời nâng cao tinh thần trách nhiệm của Thẩm phán và Hội thẩm
Thứ hai, đối với cơ quan tiến hành tố tụng: Việc tranh luận công khai là một
trong những bảo đảm cho hoạt động xét xử được tiến hành đúng đắn và nâng cao trách nhiệm của Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư bào chữa đối với việc thực hiện nghĩa vụ của mình và tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật Như đã nói ở trên, việc xét
xử công khai là một trong nhưng bảo đảm cho hoạt động tố tụng diễn ra cách dân chủ và minh bạch Toà án xét xử công khai có tác dụng duy trì tiến trình duyệt xét chứng cứ hiện hữu Về mặt tâm lí chủ quan, sự có mặt của nhân dân sẽ giảm thiểu khả năng khai man và bóp méo sự thật của người làm chứng Đồng thời, sự có mặt của quần chúng nhân dân sẽ khiến nhân chứng e sợ rằng lời khai man của họ có thể
bị những người biết rõ nội tình trong nhân dân vạch trần Về mặt cơ hội khách quan, toà án xét xử công khai tạo điều kiện cho những người biết rõ nội tình tham gia quan sát việc xét xử và qua đó có thể đứng ra làm chứng, cung cấp thêm thông tin (mà trước đây nguyên cáo, bị cáo cũng như toà án chưa biết) để làm sáng tỏ vấn đề hoặc để đối chất với kẻ khai man trước toà
Thứ ba, đối với nhân dân: Tranh luận diễn ra công khai sẽ nâng cao công tác
giáo dục ý thức pháp luật trong nhân dân , tạo điều kiện để người dân có cơ hội học hỏi về cơ chế vận hành của hệ thống tư pháp, thu hút đông đảo nhân dân tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác
2.1.1.2 Tranh luận phải diễn ra dân chủ
Trong vấn đề xét xử tại phiên tòa thì nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc bao trùm trong cả hoạt động xét xử của Tòa án và cũng là nguyên tắc thể hiện được tính dân chủ và khách quan của nhà nước đối với nhân dân, ngoài ra tính dân chủ còn được thể hiện ở nhiều quy định trong Hiến pháp sửa đổi 2013 điển hình
là quy định của Khoản 4 Điều 103: “Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định
Trang 31theo đa số trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn” Khi xét xử các thành viên
của Hội đồng xét xử ngang quyền với nhau và biểu quyết theo đa số đối với từng vấn đề, người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản
và được lưu trong hồ sơ vụ án Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng nhằm phát huy trí tuệ tập thể, đảm bảo hoạt động xét xử được khách quan, toàn diện, tránh độc đoán, chủ quan duy ý chí xâm phạm đến quyền được xét xử công bằng, ảnh hưởng tới quyền con người
Trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 cũng quy định về tính dân chủ trong khi xét xử nói chung và tranh luận nói riêng như sau: Thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia tại Điều 15, quyền của các tổ chức, công dân tham gia tố tụng hình sự tại Điều 25, bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tại Điều
31, sự giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại Điều 32 của Bộ luật Tố tụng hình sự
2003 Chế độ xét xử có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân được coi là một trong những biểu hiện của tính xã hội, tính nhân dân của Tòa án (cơ quan xét xử duy nhất), biểu tượng của nền công lý thuộc về nhân dân Vì vậy, tất cả các hệ thống tố tụng hình sự dù đó là hệ thống thẩm vấn hay hệ thống tố tụng tranh tụng, đều áp dụng chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia và với số lượng nhiều hơn Thẩm phán tại phiên tòa Tư tưởng về sự tham gia đại diện của dân vào quá trình xét xử trong tư cách “Thẩm phán không chuyên nghiệp” là một nguyên tắc thể hiện rõ nét nhất bản chất dân chủ của Tố tụng hình sự
Tranh luận tại phiên tòa là quá trình quan trọng trong việc quyết định ra bản
án, nên phần tranh luận diễn ra một cách dân chủ và có sự giám sát của các cơ quan tiến hành tố tụng là điều không thể thiếu, một trong những quy định thể hiện tính
dân chủ trong tranh luận của Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 là Điều 19 “ quyền
bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Tòa án.”, ngoài ra còn có quy định về tranh luận tại phiên tòa “ Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận ” ở Điều 218 Bộ luật Tố tụng hình sự
2003 Tranh luận tại phiên tòa phải bảo đảm tính dân chủ, chỉ khi đạt được yêu cầu
về dân chủ thì mới đảm bảo sự bình đẳng giữa các bên tham gia tranh luận Tranh luận dân chủ được thể hiện ở việc bình đẳng giữa Kiểm sát viên với các chủ thể khác tham gia tố tụng, Kiểm sát viên là chủ thể đại diện cho cơ quan nhà nước thực
Trang 32ra phán quyết trung thực nhất Ngoài ra sự có mặt của Hội thẩm nhân dân chính là
sự đại diện của nhân dân vào hoạt động xét xử tại phiên tòa
2.1.2 Chủ tọa phiên tòa giữ vai trò là trọng tài trong tranh luận
2.1.2.1 Điều khiển sự tranh luận giữa bên buộc tội và bên bào chữa
Một trong những nội dung của Nghị quyết số 08-NQ/TW là: “Bảo đảm tranh
tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác , việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà” 8 Một phiên toà nói chung và phiên toà sơ thẩm hình sự nói riêng có bảo đảm tính chất tranh tụng hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Vai trò của Hội đồng xét xử, của Kiểm sát viên, của Luật sư, của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng khác, nhưng vai trò của Chủ toạ phiên toà là quan trọng nhất Kết quả chủ yếu dựa vào sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa trong quá trình xét xử tại phiên tòa và phần tranh luận tại phiên tòa cũng không ngoại lệ
Theo quy định của Điều 39 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 thì tại phiên toà sơ thẩm hình sự chủ toạ phiên toà phải thực hiện đầy đủ, chính xác các công việc mà
Bộ luật tố tụng hình sự quy định đối với chủ toạ phiên toà, đồng thời chịu trách nhiệm chính về những vấn đề Bộ luật tố tụng hình sự quy định đối với chủ tọa phiên tòa
Các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về thủ tục tố tụng tại phiên toà sơ thẩm đối với chủ toạ phiên toà tương đối đầy đủ, nhưng những quy định có liên quan đến vấn đề tranh luận chỉ được quy định tại các điều từ Điều 217 đến Điều 221, việc vận dụng các quy định tại các điều luật này để điều khiển việc tranh luận được coi là kỹ năng xét xử của Thẩm phán chủ toạ phiên toà Trong phần tranh luận tại phiên tòa chủ toạ phiên tòa sẽ điều khiển thứ tự tranh luận theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 theo quy định của Điều 217 là:
8
Nghị quyết 08-NQ/TW, Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới,
năm 2002