1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

pháp luật việt nam về quyền của người chưa thành niên phạm tội

46 550 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 573,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, khi thực hiện hành vi phạm tội có nghĩa là các em vừa là người phạm tội vừa là nạn nhân của sự thiếu giáo dục, chăm sóc của gia đình, nhà trường và xã hội; hành động của các em

Trang 1

GVHD: Nguyễn Tống Ngọc Như 1 SVTH: Lý Thươl

ĐỀ TÀI

PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI

CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI

Trang 2

GVHD: Nguyễn Tống Ngọc Như 2 SVTH: Lý Thươl

LỜI CẢM TẠ

   Sau thời gian học tập, nghiên cứu và rèn luyện tại Khoa Luật - Trường Đại Học Cần Thơ, với sự dạy bảo nhiệt tình của các thầy cô trong khoa cũng như các thầy cô bộ môn đã giúp em có được nhiều kiến thức bổ ích và quan trọng trong lĩnh vực pháp luật Quá trình thu tập tài liệu, số liệu tại trung tâm học liệu, thư viện khoa luật, các cuốn sách liên quan, các trang thông tin điện tử hữu ích cùng với sự chỉ bảo, hướng dẫn nhiệt tình của các thầy cô đặc biệt là sự tận tình hướng dẫn của cô Nguyễn Tống Ngọc Như đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hệ thống lại những kiến thức đã được học ở trường và có thêm những kinh nghiệm thực tế trong cuộc sống Với lòng kính trọng sâu sắc em xin gửi lời cám ơn chân thành đến cô đã hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện việc nghiên cứu một công trình luận văn tốt nghiệp cử nhân luật

Tất cả sự nhiệt tình dạy bảo cũng như hướng dẫn của thầy, cô kết hợp với sự cố gắng của chính bản thân mình đã tạo điều kiện cho em được nâng cao sự hiểu biết về những kiến thức trong lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, với kiến thức, kinh nghiệm, khả năng phân tích tìm hiểu còn hạn chế và thời gian thực hiện tương đối ngắn nên đề tài này không thể hoàn hảo cũng như không thể tránh khỏi những thiếu sót ngoài ý muốn, mong các thầy, cô là giáo viên hướng dẫn và giáo viên phản biện đóng góp ý kiến để bài viết của em được hoàn thiện hơn

Cuối cùng em xin kính chúc quý thầy, cô luôn dồi dào sức khỏe và thành công trong công việc cũng như trong cuộc sống

Cần Thơ, ngày 17 tháng 11 năm 2014

Họ và tên sinh viên

Lý Thươl

Trang 3

GVHD: Nguyễn Tống Ngọc Như 3 SVTH: Lý Thươl

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Cần thơ, ngày tháng 12 năm 2014

Họ và tên

Nguyễn Tống Ngọc Như

Trang 4

GVHD: Nguyễn Tống Ngọc Như 4 SVTH: Lý Thươl

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

Trang 5

GVHD: Nguyễn Tống Ngọc Như 5 SVTH: Lý Thươl

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 01

1 Lý do chọn đề tài 01

2 Mục đích nghiên cứu 01

3 Phương pháp nghiên cứu 02

4 Phạm vi nghiên cứu 02

5 Bố cục đề tài 02

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ QUYỀN CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 03

1.1 Khái quát chung quyền của người chưa thành niên 03

1.1.1 Khái niệm “người chưa thành niên” 03

1.1.2 Khái niệm “quyền của người chưa thành niên” 03

1.1.3 Nguồn luật điều chỉnh về quyền của người chưa thành niên 04

1.1.3.1 Nguồn luật quốc tế 04

1.1.3.2 Nguồn luật quốc gia 06

1.1.4 Nội dung quyền của người chưa thành niên 09

1.2 Khái quát chung về quyền của người chưa thành niên phạm tội 10

1.2.1 Khái niệm “người chưa thành niên phạm tội” 10

1.2.2 Khái niệm “quyền của người chưa thành niên phạm tội” 11

1.2.3 Mối quan hệ giữa quyền của người chưa thành niên phạm tội và quyền con người 13

1.2.4 Sự cần thiết điểu chỉnh về quyền của người chưa thành niên phạm tội 14

1.2.5 Tính chất của quyền của người chưa thành niên phạm tội 15

1.2.5.1 Tính phổ biến (universal) 15

1.2.5.2 Tính không thể tước bỏ (inalienable) 15

1.2.5.3 Tính không thể phân chia (indivisible) 15

1.2.5.4 Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelated, interdependent) 16

1.2.6 Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội 16

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 18

2.1 Quyền của người chưa thành niên phạm tội khi bị bắt 18

2.1.1 Quyền của người chưa thành niên phạm tội khi bị bắt để tạm giam 18

2.1.2 Quyền của người chưa thành niên phạm tội bị bắt trong trường hợp khẩn cấp 20

Trang 6

GVHD: Nguyễn Tống Ngọc Như 6 SVTH: Lý Thươl

2.1.3 Quyền của người chưa thành niên phạm tội bị bắt trong trường hợp phạm tội

quả tang hoặc đang bị truy nã 21

2.2 Quyền của người chưa thành niên phạm tội khi bị tạm giữ 23

2.3 Quyền của bị can, bị cáo là người chưa thành niên khi bị tạm giam 24

2.4 Quyền của người chưa thành niên phạm tội khi bị hỏi cung 25

2.5 Quyền của người chưa thành niên phạm tội khi bị khám xét 26

2.5.1 Khám người 26

2.5.2 Khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm 27

2.6 Quyền của bị can là người chưa thành niên đối với kết quả giám định 27

2.7 Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên 27

2.8 Quyền được trình bày lời khai, ý kiến trong quá trình tham gia tố tụng 28

2.9 Quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng 28

CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN QUYỀN CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP 30

3.1 Những chủ thể có trách nhiệm bảo vệ quyền của người chưa thành niên phạm tội 30

3.2 Thực tiễn bảo vệ quyền của người chưa thành niên phạm tội thông qua việc áp dụng các quy định pháp luật 30

3.2.1 Vi phạm trong việc hỏi cung người chưa thành niên không có mặt của người giám hộ 31

3.2.2 Vi phạm trong việc bắt giữ, tạm giam người chưa thành niên phạm tội 32

3.2.3 Vi phạm trong khi áp dụng pháp luật xét xử đối với người chưa thành niên phạm tội 32

3.2.4 Vi phạm trong việc giam giữ người chưa thành niên 33

3.3 Những vướng mắc, hạn chế 34

3.4 Những đề xuất, kiến nghị 35

3.4.1 Hoàn thiện quy định pháp luật 35

3.4.2 Cách thức tổ chức thực hiện 35

KẾT LUẬN 36

Trang 7

GVHD: Nguyễn Tống Ngọc Như 7 SVTH: Lý Thươl

PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài

Người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội là một hiện tượng thực tế tồn tại trong xã hội Trong những năm qua và nhất là thời điểm hiện nay, tình trạng người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam diễn biến rất phức tạp Việc giải quyết vấn đề trên là hết sức cần thiết đễ giữ nghiêm ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, nhưng theo đó cũng

là một vấn đề đang được nhiều nước trên thế giới đặc biệt chú ý Trước hết, do xuất phát

từ đặc điểm tâm lý đang phát triển, nhân cách chưa được định hình, nhận thức chưa đầy

đủ dẫn đến một số em đã có hành vi phạm tội một cách không tự giác Mặt khác, khi thực hiện hành vi phạm tội có nghĩa là các em vừa là người phạm tội vừa là nạn nhân của sự thiếu giáo dục, chăm sóc của gia đình, nhà trường và xã hội; hành động của các em ít nhiều gì bị chi phối bởi hoàn cảnh khách quan hoặc bị xúi giục, lừa dối…

Chính vì vậy, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề giải quyết người chưa thành niên phạm tội là vấn đề không phải đơn giản như xét xử một vụ án, trừng phạt một tội phạm nào đó, điều quan trọng là phải tìm ra mọi cách để làm giảm bớt những hoạt động phạm pháp và tốt hơn hết là ngăn ngừa đừng để các việc làm trái pháp luật xảy ra, hơn thế là khi các em thực hiện tội phạm thì phải có những cơ chế nhất định để bảo vệ và đảm bảo cho các em thực hiện được những quyền cơ bản của mình trong quá trình tham gia tố tụng

Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng các quy định này đã nảy sinh những vướng mắc, bất cập cụ thể là việc xâm phạm những quyền cơ bản của người chưa thành niên phạm tội trong một số giai đoạn tố tụng hình sự Trước những đòi hỏi của cuộc đấu tranh ngăn chặn, phòng chống tội phạm cũng như đảm bảo cho người chưa thành niên thực hiện các quyền năng tố tụng cơ bản của mình khi phạm tội là hết sức cần thiết, việc nghiên cứu sâu về những vấn đề đảm bảo quyền cơ bản của người chưa thành niên phạm tội trong giai đoạn này có ý nghĩa sâu sắc cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật Trên cơ sở những vấn đề như đã phân tích, đã đưa người viết đi đến quyết định chọn đề

tài: “Pháp luật Việt Nam về quyền của người chưa thành niên phạm tội” cho luận văn

tốt nghiệp cử nhân của mình

1.2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đánh giá thực trạng của việc áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội người viết mong muốn thông qua đó rút ra những hạn chế về quyền của người chưa thành niên phạm tội, đồng thời mong muốn bảo vệ những quyền đó trên cơ sở đề xuất hướng giải quyết

Trang 8

GVHD: Nguyễn Tống Ngọc Như 8 SVTH: Lý Thươl

1.3 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn người viết đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, tình hình thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự tại các cơ quan tiến hành tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội để phục vụ cho quá trình nghiên cứu luận văn

1.4 Phạm vi nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu chủ yếu với các vấn đề như sau: Văn bản quy phạm pháp luật chính yếu trong công trình nghiên cứu này là Bộ luật hình sự Việt Nam 1999 sửa đổi bổ sung 2009 và Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003 Độ tuổi người chưa thành niên

ở đây chỉ đề cập đến những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi Trong các giai đoạn tố tụng, người viết chỉ đề cập đến quyền của người chưa thành niên phạm tội ở các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử

- Chương 2: Pháp luật điều chỉnh về quyền của người chưa thành niên phạm tội

- Chương 3: Tình hình thực hiện quyền của người chưa thành niên phạm tội và một

số giải pháp

Trang 9

GVHD: Nguyễn Tống Ngọc Như 9 SVTH: Lý Thươl

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ QUYỀN CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI

1.1 Khái quát chung quyền của người chưa thành niên

1.1.1 Khái niệm “người chưa thành niên”

Người chưa thành niên là những người chưa hoàn toàn phát triển đầy đủ về nhân cách, chưa có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân Pháp luật ở mỗi quốc gia quy định độ tuổi cụ thể của người chưa thành niên khác nhau

Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông

qua ngày 20/11/1989 có ghi: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn”

Ở Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên được xác định thống nhất là dưới 18

tuổi và quy định cụ thể là Điều 18 Bộ luật dân sự năm 2005 “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên”

Khái niệm người chưa thành niên khác với khái niệm trẻ em Theo Điều 1 Luật

Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em Việt Nam năm 2004: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” Tuy nhiên khái niệm người chưa thành niên lại đồng nghĩa với khái

niệm trẻ em trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em, bởi lẽ đều là những người dưới 18 tuổi Khái niệm người chưa thành niên được xây dựng dựa trên sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần của con người và được cụ thể hoá bằng giới hạn độ tuổi trong các văn bản pháp luật của từng quốc gia Theo đó, người ta quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của người chưa thành niên

Như vậy, có thể khái niệm: Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi, chưa

phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp

lý như người đã thành niên

1.1.2 Khái niệm “quyền của người chưa thành niên”

Để nắm được khái niệm về quyền của người chưa thành niên, trước tiên phải tìm hiểu những khái niệm giản đơn ban đầu về quyền con người, bởi vì ở mỗi quốc gia, việc bảo vệ quyền của người chưa thành niên sẽ không có ý nghĩa nếu như quyền con người nói chung không được tôn trọng

Quyền con người được hình thành và phát triển dần dần theo dòng lịch sử, được khẳng định trong các bản tuyên ngôn của các nước, các văn kiện của Liên hợp quốc và đến giai đoạn hiện nay quyền con người được hiểu là một chế định của pháp luật quốc tế hiện đại, bao gồm đầy đủ các quyền về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa Các quyền này bao trùm trên phạm vi toàn thế giới, áp dụng cho nhiều đối tượng khác nhau

Trang 10

GVHD: Nguyễn Tống Ngọc Như 10 SVTH: Lý Thươl

Quyền con người là một khái niệm chung bao gồm các vấn đề chống phân biệt chủng tộc, chống tội ác diệt chủng, bảo hộ nạn nhân chiến tranh, chống phân biệt đối xử với phụ nữ, quyền trẻ em1

Do độ tuổi người chưa thành niên theo quy định của pháp luật nước ta bằng với độ tuổi trẻ em theo công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 người viết xin đưa ra khái niệm quyền của người chưa thành niên như sau:

Quyền của người chưa thành niên là một bộ phận hợp thành của quyền con người

nói chung, đồng thời là một loại quyền đặc biệt dành cho người chưa thành niên Sở dĩ đặc biệt là vì người chưa thành niên là lớp người còn non nớt về thể chất và trí tuệ, còn ở trong độ tuổi thơ ngây, cần phải được cộng đồng nhân loại dành cho sự quan tâm đặc biệt trước khi đến tuổi trưởng thành Sự quan tâm này thể hiện trong việc ban hành pháp luật

và tổ chức hệ thống bộ máy thích hợp để đảm bảo quyền của người chưa thành niên được chăm sóc, bảo vệ và giúp đỡ đặc biệt

1.1.3 Nguồn luật điều chỉnh về quyền của người chưa thành niên

1.1.3.1 Nguồn luật quốc tế

a) Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989

Công ước quyền trẻ em là văn bản quốc tế đầu tiên đề cập đến quyền trẻ em theo

hướng tiến bộ, bình đẳng, toàn diện và mang tính pháp lý cao Công ước được Đại Hội

đồng Liên hợp quốc chính thức thông qua ngày 20 tháng 11 năm 1989, theo Nghị định

44/25 Công ước có hiệu lực và trở thành Luật quốc tế từ ngày 2 tháng 9 năm 1990, khi đã

có 20 nước phê chuẩn Nước đầu tiên trên thế giới phê chuẩn Công ước là Gana Tính đến

năm 2002 đã có 191 nước ký và phê chuẩn, tham gia Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới và là nước đầu tiên ở châu Á đã ký cam kết thực hiện Ngay sau khi ký cam kết, Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật cũng như xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy từ trung ương đến cơ sở bảo đảm cho sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được thực hiện ngày càng có hiệu quả Công ước gồm 54 điều khoản với nội dung quy định các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, nêu rõ các nguyên tắc, các quyền khác nhau, các cơ chế theo dõi và thực hiện Trong đó, 41 điều khoản đề ra các quyền của tất cả trẻ em, các quyền đó là không thể chia tách Các điều khoản bao gồm cả những nội dung các quyền về tự do dân sự, môi trường gia đình và các biện pháp thay thế trong chăm sóc sức khỏe, giáo dục, các hoạt động văn hóa giải trí, các biện pháp bảo

Trang 11

GVHD: Nguyễn Tống Ngọc Như 11 SVTH: Lý Thươl

b) Công ước La Hay về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong vấn đề nuôi con nuôi

Công ước La Hay 1993 là Công ước có tính toàn cầu về vấn đề nuôi con nuôi được cộng đồng quốc tế và các quốc gia có liên quan đánh giá cao Công ước gồm lời nói đầu,

7 chương và 48 điều với những nội dung cơ bản: mục đích và phạm vi áp dụng của Công ước, những điều kiện nuôi con nuôi giữa các nước, những yêu cầu về thủ tục cho – nhận nuôi con nuôi nước ngoài, công nhận và hậu quả của việc nuôi con nuôi, cơ chế hợp tác giữa các nhà chức trách trung ương Công ước là một tài liệu pháp lý quan trọng cho trẻ

em, gia đình sinh ra các em và những người nhận con nuôi nước ngoài Công ước quy định các nghĩa vụ của các cơ quan có thẩm quyền của các nước cho con nuôi và các nước nhận con nuôi Công ước này nhằm đảm bảo tính đạo đức mà minh bạch của quá trình cho và nhận con nuôi Công ước chủ yếu tính đến lợi ích tốt đẹp nhất của trẻ như đã được quy định trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em Công ước đảm bảo rằng việc cho và nhận con nuôi nằm trong thẩm quyền của những cơ quan có thẩm quyền và dựa trên sự hiểu biết thấu đáo và đồng thuận của các bên liên quan Công ước cũng nhằm đảm bảo việc cho và nhận con nuôi giữa các quốc gia được bảo vệ và tuân theo những tiêu chuẩn được áp dụng cho việc cho và nhận con nuôi ở trong nước, việc cho và nhận con nuôi không phải vì mục đích tài chính của các bên liên quan Điều này trước tiên là để bảo vệ trẻ em và cũng có tác dụng bảo vệ quyền của cha mẹ đẻ và đảm bảo cho các cha mẹ nuôi rằng trẻ mình nhận nuôi không phải là kết quả của một quá trình phạm pháp

c) Công ước điều chỉnh vấn đề lao động trẻ em

Hiện nay, cộng đồng quốc tế và nhiều quốc gia rất coi trọng việc ban hành pháp luật nhằm kiểm soát, điều chỉnh vấn đề lao động trẻ em Điều này bảo đảm cho các em có thể tham gia quan hệ lao động; mặt khác, nó bảo vệ tốt nhất quyền lợi cho trẻ em

Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) từ khi thành lập năm 1919 đến nay đã thông qua gần 200 công ước và cũng gần 200 khuyến nghị, trong đó có gần 30 công ước đề cập đến việc bảo vệ trẻ em khỏi các hình thức bóc lột và lạm dụng sức lao động Nổi bật trong số

đó là hai công ước cơ bản trực tiếp đề cập đến vấn đề ngăn ngừa, cấm và xoá bỏ lao động trẻ em là Công ước số 138 về Độ tuổi lao động tối thiểu năm 1973 (kèm theo Khuyến nghị số 146) và Công ước số 182 về Cấm và hành động ngay lập tức để xoá bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất năm 1999 (kèm theo Khuyến nghị số 190) Từ khi thông qua cho đến nay, đã có 155 quốc gia phê chuẩn Công ước số 138 và 171 quốc gia phê chuẩn Công ước số 1823

3

Trần Thắng Lợi, Pháp luật quốc tế về tuyển dụng, sử dụng lao động trẻ em, Bài viết, Cổng thông tin điện tử Tòa án

nhân dân tối cao,

http://www.toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?p_cateid=1751909&item_id=8607017&article_details=1 , [ngày truy cập 22/10/2014]

Trang 12

GVHD: Nguyễn Tống Ngọc Như 12 SVTH: Lý Thươl

1.1.3.2 Nguồn luật quốc gia

a) Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam

Với tính cách là một đạo luật cơ bản của Nhà nước, Hiến pháp quy định những vấn

đề quan trọng như bản chất Nhà nước, cách thức tổ chức quyền lực Nhà nước, nguyên tắc

tổ chức và hoạt động của cơ quan Nhà nước, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mang tính nguyên tắc và làm cơ sở cho các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam Trong lĩnh vực Hiến pháp, người chưa thành niên được xem như một công dân, hơn thế là một công dân đặc biệt Và vấn đề bảo vệ người chưa thành niên được điều chỉnh dưới góc độ là phạm trù của quyền con người Do vậy, Hiến pháp bảo vệ quyền người chưa thành niên bằng việc quy định các quyền cơ bản nhất của người chưa thành niên, bao gồm quyền được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục Đồng thời, Hiến pháp cũng quy định trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội trong việc bảo đảm thực hiện các quyền cơ bản

này, cụ thể là tại khoản 1 Điều 37: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình, xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, được tham gia vào các vấn đề về trẻ em Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” Tại khoản 2 Điều 58 đã quy định: “Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ người mẹ, trẻ em, thực hiện kế hoạch hoá gia đình” Như vậy,

trong Hiến pháp 2013 chăm sóc, bảo vệ trẻ em nói riêng cũng như người chưa thành niên nói chung đã được quan tâm sâu sắc hơn

b) Luật Quốc tịch

Luật Quốc tịch Việt Nam là một ngành luật thuộc hệ thống luật công, điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước và dân cư sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam Mối quan hệ này xác định địa vị pháp lý của cá nhân bao gồm quyền, nghĩa vụ và những đảm bảo pháp lý

để thực hiện quyền và nghĩa vụ đó Như vậy, quốc tịch là trạng thái pháp lý xác định mối quan hệ giữa một cá nhân với một Nhà nước nhất định Người có quốc tịch chịu sự tài phán tuyệt đối của Nhà nước, đồng thời được hưởng đầy đủ mọi năng lực pháp lý với sự bảo hộ của Nhà nước, không phân biệt phạm vi cư trú Do vậy, người chưa thành niên với

tư cách là một cá nhân, nên quyền có quốc tịch là một trong những quyền cơ bản và thiêng liêng nhất của người chưa thành niên Rõ ràng, Luật Quốc tịch có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền của người chưa thành niên

Trang 13

GVHD: Nguyễn Tống Ngọc Như 13 SVTH: Lý Thươl

đối tượng của luật Hành chính Mọi lĩnh vực mà khi người chưa thành niên tham gia như hoạt động học tập, vui chơi, giải trí hay các hoạt động chăm sóc sức khỏe, y tế, giáo dục đều chịu sự quản lý của Nhà nước Ngoài ra, luật Hành chính còn quy định trách nhiệm hành chính đối với người chưa thành niên đều có quy định riêng áp dụng đối với họ khi vi phạm cụ thể là giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng và các tổ chức, cơ sở4

,… nhằm giáo dục người chưa thành niên, đưa họ trở lại cuộc sống bình thường Như vậy, có thể nói luật Hành chính cũng góp phần quan trọng vào việc bảo vệ quyền của người chưa thành niên dưới góc độ quản lý Nhà nước, một đặc thù riêng của luật Hành chính

d) Luật Hình sự Việt Nam và luật Tố tụng Hình sự Việt Nam

Luật Hình sự là một ngành luật điều chỉnh mối quan hệ xã hội phát sinh giữa nhà nước và người phạm tội, khi người này thực hiện tội phạm5

Người chưa thành niên là một chủ thể đặc biệt của pháp luật hình sự Do đó, Pháp luật hình sự có nguyên tắc xử lý riêng đối với người chưa thành niên nhằm bảo vệ người chưa thành niên khi họ là đối tượng bị tội phạm xâm hại, đồng thời cũng quy định trách nhiệm hình sự nhưng theo hướng giảm nhẹ đối với người chưa thành niên khi họ chính là người thực hiện tội phạm Bên cạnh đó, luật Tố tụng hình sự - ngành luật hình thức quy định trình tự, thủ tục thực hiện các quy định của luật Hình sự - cũng bảo vệ quyền của người chưa thành niên theo tính chất đặc thù riêng của mình Đó là trao cho người chưa thành niên các quyền tố tụng để họ tự bảo

vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền lợi của mình

e) Luật Dân sự Việt Nam và Luật Tố tụng Dân sự Việt Nam

Luật Dân sự với đối tượng điều chỉnh là các quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân phát sinh trong quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông, tiêu dùng các sản phẩm hàng hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu hằng ngày của các thành viên trong xã hội Luật Dân sự coi người chưa thành niên như một thành viên của đời sống dân sự và có những quy định riêng nhằm xác định địa vị pháp lý của họ trong lĩnh vực dân sự, gồm quyền, nghĩa vụ và những đảm bảo pháp lý bảo vệ quyền của người chưa thành niên và được thực hiện ở các quy định về giám hộ đối với người chưa thành niên, về năng lực chủ thể dân sự của người chưa thành niên, về thừa kế, Luật dân sự cũng có một ngành luật hình thức tương ứng,

đó là Luật Tố tụng Dân sự Luật Tố tụng Dân sự cũng bảo vệ quyền của người chưa thành niên thông qua các quy định liên quan đối với họ khi tham gia các quan hệ tố tụng dân

Trang 14

GVHD: Nguyễn Tống Ngọc Như 14 SVTH: Lý Thươl

f) Luật Lao động Việt Nam

Luật Lao động điều chỉnh các quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động, pháp điển hóa các quyền và nghĩa vụ của người lao động, người sử dụng lao động, các tiêu chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng lao động và quản lý lao động Luật lao động coi người chưa thành niên là một đối tượng đặc biệt và đặt ra các quy định riêng đối với người lao động chưa thành niên7

nhằm đảm bảo quá trình thực hiện quan hệ lao động của người chưa thành niên diễn ra bình thường, tránh khỏi các công việc quá sức, độc hại, lạm dụng sức lao động của người chưa thành niên, đảm bảo cho quá trình phát triển bình thường của họ trong môi trường lao động

g) Luật Hôn nhân và Gia đình

Luật Hôn nhân và Gia đình bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ hôn nhân gia đình Đó là: các quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản giữa

vợ - chồng, giữa cha me – con cái, giữa các thành viên khác trong gia đình Với phạm vi điều chỉnh đặc thù của mình, luật Hôn nhân và Gia đình xem người chưa thành niên như

là một thành viên đặc biệt của gia đình cần có sự bảo hộ pháp lý đặc biệt Vấn đề bảo vệ quyền của người chưa thành niên thể hiện trong các quy định của luật Hôn nhân và Gia đình về quyền nhân thân và quyền tài sản, quyền được khai sinh,

h) Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam

Trong hệ thống pháp luật về trẻ em, đã có hẳn một đạo luật chuyên ngành điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản liên quan đến trẻ em - Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 Phạm vi điều chỉnh của pháp luật về trẻ em rộng lớn, liên quan đến các quyền, bổn phận của trẻ em, trách nhiệm của nhà nước, gia đình, xã hội, trong việc bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm quyền trẻ

em và đối với hành vi vi phạm của trẻ em Đây chính là cơ sở pháp lý thể chế hóa chính sách của Đảng, Nhà nước ta về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em phù hợp với Công ước về quyền trẻ em 1989 mà Nhà nước ta đã phê chuẩn

=> Qua phân tích những nét khái quát về sự điều chỉnh của một số ngành luật

thuộc hệ thống pháp luật Việt Nam về quyền của người chưa thành niên, có thể nhận thấy rằng rất nhiều ngành luật đều coi người chưa thành niên là một chủ thể đặc biệt và dành cho họ những quy định riêng theo đặc thù của ngành luật mình Điều này xuất phát trước tiên từ những đặc điểm riêng về độ tuổi cũng như sự phát triển chưa đầy đủ về tâm sinh

lý Sau nữa, xuất phát từ những quan niệm, tư tưởng nhân đạo, dân chủ, thấm nhuần nét tinh hoa của văn hóa, đạo lý truyền thống của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta Tất cả các quy định của pháp luật đều hướng tới bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa

7

Chương XI, Mục 1, Bộ luật Lao động năm 2012

Trang 15

GVHD: Nguyễn Tống Ngọc Như 15 SVTH: Lý Thươl

thành niên, đảm bảo cho họ phát triển bình thường trong sự đầy đủ về tình cảm và vật chất, trong một môi trường trong sạch, lành mạnh

1.1.4 Nội dung quyền của người chưa thành niên

Theo hệ thống pháp luật của nước ta thì chưa có một ngành luật cụ thể nào điều chỉnh về quyền của người chưa thành niên, tuy nhiên đã có hẳn một ngành luật cụ thể điều chỉnh về quyền của trẻ em cụ thể là luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm

2004 nhưng những quy định này chỉ điều chỉnh giới hạn độ tuổi của người dưới 16 tuổi

mà người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi Vì vậy dựa trên công ước về quyền trẻ

em 1989 có thể đưa ra nội dung cơ bản quyền của người chưa thành niên thành bốn nhóm quyền như sau:

Nhóm quyền sống còn: Quyền sống còn là quyền cơ bản của mỗi cá nhân, tiền đề

cho việc bảo vệ tất cả các quyền khác của con người Bảo vệ quyền này của người chưa thành niên cần dựa trên nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên Cần phải được thực hiện ngay không chậm trễ vì trẻ rất dễ bị tổn thương Khi những nguy cơ đe dọa quyền sống còn của người chưa thành niên như: gây ra những tai nạn thương tích, những tổn thương do người đã thành niên đem lại, thiếu sự chăm sóc yêu thương và hỗ trợ của gia đình, bị phân biệt đối xử Những nguy cơ đe dọa tới sự sống còn của người chưa thành niên là rất nhiều và có thể xảy ra ở bất cứ nơi nào, cộng đồng và quốc gia nào,

kể cả ngay tại gia đình Tất cả chúng ta phải có trách nhiệm đảm bảo quyền được sống ở mức cao nhất có thể được

Nhóm quyền bảo vệ: Quyền được bảo vệ là bảo vệ người chưa thành niên khỏi bị

phân biệt đối xử, thoát khỏi sự bóc lột về kinh tế, sự lạm dụng, xâm hại về thể xác và tinh thần, bị lơ là và bỏ rơi, bị đối xử tàn tệ, các em phải được bảo vệ trong tình trạng khẩn cấp, khủng hoảng Nghiêm cấm lạm dụng, bóc lột sức lao động của người chưa thành niên, bất kỳ một hành vi, hoặc yếu tố tình huống có chủ ý của cá nhân, tổ chức hay của cộng đồng như xâm phạm đến thể chất, tình cảm, nhân cách, lạm dụng tình dục, ngược đãi, xao nhãng, bỏ rơi, sử dụng quá mức sức lao động, hoặc khai thác thương mại, tước đoạt quyền và sự tự do của người chưa thành niên, gây nguy hại đến sự phát triển thể chất, tinh thần của người chưa thành niên Khi người chưa thành niên bị lâm vào tình trạng khủng hoảng khẩn cấp như tình trạng rối loạn, thiếu hụt, mất thăng bằng nghiêm trọng do những yếu tố bên ngoài tác động có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể chất, tinh thần của người chưa thành niên

Nhóm quyền phát triển: Bao gồm mọi hình thức giáo dục (chính quy và không

chính quy) và quyền được có mức sống đầy đủ cho sự phát triển về thể lực, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội của người chưa thành niên Quyền được chăm sóc sức khoẻ, được

Trang 16

GVHD: Nguyễn Tống Ngọc Như 16 SVTH: Lý Thươl

học tập và phát triển năng khiếu Quyền vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao, du lịch

Nhóm quyền tham gia: Bao gồm quyền được bày tỏ ý kiến trong mọi vấn đề có liên

quan tới bản thân, quyền được lắng nghe và được kết giao hội họp Quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội8

1.2 Khái quát chung về quyền của người chưa thành niên phạm tội

1.2.1 Khái niệm “người chưa thành niên phạm tội”

Luật hình sự của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đề cập người chưa thành niên dưới hai phương diện Một mặt, họ là đối tượng cần được bảo vệ đặc biệt bằng luật hình sự khỏi những hành vi bị coi là tội phạm Mặt khác, người chưa thành niên còn là chủ thể của tội phạm Khái niệm người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam chỉ bao gồm những người đã đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi Điều 12 Bộ luật

hình sự (BLHS) 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định:“1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; 2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ

16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”9

Ngoài ra còn có một khái niệm dễ bị nhầm lẫn đó là khái niệm tội phạm người chưa thành niên, khái niệm này xuất phát từ khái niệm tội phạm mà khái niệm tội phạm trong BLHS10 được các nhà nghiên cứu luật học khái niệm một cách khái quát như sau:

“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, có lỗi và phải chịu hình phạt” 11

Vậy dựa vào khái niệm tội phạm trong BLHS cũng như quan điểm của các nhà nghiên, có thể hiểu khái niệm tội phạm người chưa thành niên là hành vi nguy hiểm

cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự do người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi

có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý và người đó phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi và lỗi của mình theo phán xét của Tòa án

So sánh hai khái niệm chúng ta thấy khái niệm tội phạm người chưa thành niên không đồng nhất với khái niệm người chưa thành niên phạm tội nhưng hai khái niệm này

có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Khái niệm người chưa thành niên phạm tội là khái niệm dùng để chỉ một dạng chủ thể đặc biệt (người chưa thành niên) thực hiện hành vi phạm tội, còn khái niệm tội phạm là người chưa thành niên là khái niệm dùng để chỉ tội phạm

đã được thực hiện bởi một dạng chủ thể đặc biệt (người chưa thành niên)12

Trường hợp

Trang 17

GVHD: Nguyễn Tống Ngọc Như 17 SVTH: Lý Thươl

được gọi là tội phạm là khi người đó đã có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, nếu xét về mặt chủ thể thì người chưa thành niên phạm tội chưa được xác định là có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, tuy nhiên tội phạm là người chưa thành niên mặc nhiên đã được xem

là có năng lực trách nhiệm hình sự “Năng lực trách nhiệm hình sự là khả năng của một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và điều khiển được hành vi ấy, nếu một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng họ không nhận thức được hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội hoặc nhận thức được nhưng không đều khiển được hành vi đó là người không có năng lực trách nhiệm hình sự”13, tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự được quy định cụ thể tại Điều 13 BLHS 1999 sửa đổi bổ sung 2009 Hơn nữa được gọi là tội phạm thì phải có tính chịu hình phạt, đây là dấu hiệu của tội phạm bởi nó là một thuộc tính khách quan của tội phạm thuộc tính này chúng ta có thể hiểu rằng việc không áp dụng hình phạt trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự hay miễn hình phạt là không

áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, chứ không phải là tội phạm đó không có kèm theo hình phạt14

1.2.2 Khái niệm “quyền của người chưa thành niên phạm tội”

Theo Điều 40 của Công ước về quyền trẻ em yêu cầu các quốc gia thành viên phải

thúc đẩy việc thành lập một hệ thống tư pháp người chưa thành niên riêng và đặc biệt là ban hành các đạo luật quy định trình tự, thủ tục, các cơ quan và thể chế áp dụng riêng cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật hình sự Công ước đưa ra các quy định đảm bảo tối thiểu cho người chưa thành niên (các quy định đảm bảo tranh tụng) vào thời điểm bị bắt giữ, xét xử và kết án Công ước yêu cầu các quốc gia thành viên quy định độ tuổi tối thiểu chịu trách nhiệm hình sự, và các biện pháp xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật hình sự mà không phải áp dụng thủ tục tố tụng (xử lý chuyển hướng, thay thế) Các quốc gia thành viên cũng cần có nhiều biện pháp xử lý khác nhau đối với người chưa thành niên nhằm đảm bảo các em được xử lý một cách phù hợp với sự phát triển ở độ tuổi này Đồng thời có nêu ra một nguyên tắc chung định hướng hành động có liên quan tới người chưa thành niên phạm tội như sau: “Mọi trẻ bị cáo buộc, buộc tội hoặc bị coi là vi phạm luật hình sự đều có quyền được đối xử phù hợp với sự phát triển ý thức về nhân phẩm và phẩm chất của trẻ Sự phát triển ý thức đó giúp tăng thêm ý thức tôn trọng các quyền con người và quyền tự do cơ bản của người khác; giúp xem xét khía cạnh lứa tuổi

phạm tội, do-nguoi-chua-thanh-nien-gay-ra -co-so-co-tin -394, [21/11/2014]

http://www.pup.edu.vn/vi/Dien-dan-phap-luat/Khai-niem-nguoi-chua-thanh-nien-va-khai-niem-toi-pham-13

Mai Thị Thu Hà, Bàn về năng lực trách nhiệm hình sự của bị can bị cáo,

cua-bi-can-bi-cao-74/, [25/11/2014]

http://toaan.quangtri.gov.vn/index.php/vi/news/Trao-doi-nghiep-vu/Ban-ve-van-de-nang-luc-trach-nhiem-hinh-su-14

Phạm Văn Beo, Luật hình sự Việt Nam, Quyển 1, Nxb Chính trị Quốc gia Hà nội, năm 2009 Trang 125

Trang 18

GVHD: Nguyễn Tống Ngọc Như 18 SVTH: Lý Thươl

của trẻ và mong muốn của chúng về sự tái hoà nhập cộng đồng”15

Nguyên tắc chung này cần được coi là kim chỉ nam cho việc tiến hành xây dựng, áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội Quyền lợi cơ bản nhất của người chưa thành niên phải trở thành một yếu tố quan trọng trong các quyết định tố tụng đối với họ

Bên cạnh đó, Điều 37 của Công ước quy định người chưa thành niên phải được

bảo vệ tránh khỏi bị tra tấn, phân biệt đối xử hoặc trừng phạt tồi tệ, vô nhân đạo cũng như những hành vi làm mất phẩm giá Người chưa thành niên chỉ bị bắt, bị giam giữ và áp dụng hình phạt khi không thể áp dụng các biện pháp thay thế Trong trường hợp bị giam giữ, các em phải được đối xử nhân đạo và việc giam giữ theo chế độ riêng phù hợp với sự phát triển của lứa tuổi về cả tâm lý và sinh lý

Hiện nay, trong pháp luật hình sự Việt Nam, hàng loạt các chế định pháp luật mang tính cá biệt nhằm bảo đảm quyền của người chưa thành niên phạm tội Đó là các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người chưa thành niên; nghĩa vụ của các

cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng,… đối với người chưa thành niên phạm tội Toàn bộ những quy định đó thể hiện những tư tưởng, nguyên tắc của Đảng và Nhà nước ta mang tính nhân đạo và hướng tới mục tiêu chung bảo đảm cho quyền của người chưa thành niên không bị hạn chế hoặc tước bỏ một cách trái pháp luật

Do đặc điểm của người chưa thành niên mà pháp luật nước ta cũng đã quy định nguyên tắc khi xử lý người chưa thành niên phạm tội nhằm bảo đảm “tính đặc biệt” của nhóm đối tượng này như sau: Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên các cơ quan có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, điều kiện gây ra tội phạm16

Tóm lại, quyền của người chưa thành niên phạm tội là quyền mà khi người chưa

thành niên thực hiện hành vi phạm tội được pháp luật bảo vệ những quyền cơ bản của mình theo những nguyên tắc nhất định và được đảm bảo thực hiện thông qua các quy định của pháp luật về nội dung lẫn hình thức cũng như trình tự thủ tục “đặc biệt” trong hoạt động tố tụng hình sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên

Trang 19

GVHD: Nguyễn Tống Ngọc Như 19 SVTH: Lý Thươl

1.2.3 Mối quan hệ giữa quyền của người chưa thành niên phạm tội và quyền con người

Theo nghĩa rộng, cả thuật ngữ “quyền con người” và “quyền của người chưa thành niên phạm tội” đều là những phạm trù triết học dùng để biểu thị mối quan hệ của cá nhân con người với cộng đồng nhân loại (quyền con người) và với một hệ thống pháp luật riêng biệt điều chỉnh quan hệ xã hội về lĩnh vực hình sự mà đối tượng là người chưa thành niên khi thực hiện hành vi phạm tội (quyền của người chưa thành niên phạm tội) Quyền con người và quyền của người chưa thành niên phạm tội đều xoay quanh một chủ thể chung của quyền, đó là con người, và một chủ thể chung khác có nghĩa vụ là các cộng đồng nhân loại mà thể chế chính trị - pháp lý trung tâm của nó là Nhà nước Thêm vào đó, quyền con người và quyền của người chưa thành niên phạm tội, về bản chất đều là những

gì mà một cá nhân con người được phép làm và được thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ bởi các chủ thể khác Chính vì thế mà quyền con người và quyền của người chưa thành niên phạm tội là hai pha ̣m trù rất gần gũi

Các quyền con người, quyền của người chưa thành niên phạm tội, được pháp điển hóa vào Hiến pháp, các ngành luật khác của các nước trên thế giới theo những cách thức nhất định Tuy là hai phạm trù khác nhau, nhưng quyền con người và quyền của người chưa thành niên phạm tội hầu như không mâu thuẫn mà ngược lại, có sự thống nhất, bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau

Không chỉ quyền của người chưa thành niên phạm tội mà cả quyền con người cũng chịu sự quy định của sự giới hạn quyền, giới hạn của quyền nhằm bảo đảm sự hài hòa giữa các quyền của cá nhân và các quyền của tập thể (cộng đồng, quốc gia, dân tộc…), cũng như việc thụ hưởng quyền giữa các cá nhân với nhau Luật nhân quyền quốc tế quy định giới hạn áp dụng của một số quyền (limitation of rights) trong một số điều ước quốc

tế về quyền con người Bản chất của các quy định này là cho phép các quốc gia thành viên

áp đặt một số điều kiện với việc thực hiện, hưởng thụ một số quyền con người nhất định nhằm các mục đích như thúc đẩy phúc lợi chung của cộng đồng, bảo vệ an ninh quốc gia (national security), để bảo đảm an toàn cho cộng đồng (public safety), để bảo vệ sức khỏe hay đạo đức của cộng đồng (public health or moral), và để bảo vệ các quyền, tự do hợp pháp của người khác (rights and freedoms of others) Chẳng hạn Điều 4 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR, 1966) quy định rằng: trong những bối cảnh khẩn cấp đe dọa sự sống còn của đất nước (state of emergency), các quốc gia có thể

áp dụng những biện pháp hạn chế việc thực hiện các quyền nêu trong Công ước này (derogation of rights) Về bản chất, những quy định này là sự tạm đình chỉ thực hiện một

số quyền dân sự, chính trị trong một thời gian nhất định do bối cảnh khẩn cấp của quốc gia, thông qua một số biện pháp cụ thể như: thiết quân luật (trên cả nước, ở một khu vực

Trang 20

GVHD: Nguyễn Tống Ngọc Như 20 SVTH: Lý Thươl

hay một địa phương); cấm biểu tình, hội họp đông người; cấm hoặc hạn chế hoạt động của một số cơ quan thông tin đại chúng như truyền hình, phát thanh, báo,…; cấm đi lại ra, vào một khu vực hoặc xuất, nhập cảnh (với một số cá nhân hay nhóm),…

1.2.4 Sự cần thiết điểu chỉnh về quyền của người chưa thành niên phạm tội

Ở tất cả các quốc gia trên thế giới, người chưa thành niên đang phải trực tiếp tham gia các quan hệ pháp luật trong lĩnh vực tố tụng hình sự Quan hệ này diễn ra vào thời điểm mà người chưa thành niên vốn rất dễ bị tổn thương đang cần được giúp đỡ và hướng dẫn nhất Các thủ tục, các kỹ năng tố tụng đặc biệt hết sức quan trọng để bảo đảm rằng sự tiếp xúc với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thì các em được đối xử một cách công bằng, được tạo cơ hội và hướng dẫn để chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình và hơn thế nữa, được tạo một cơ hội tránh mắc phải những sai phạm như vậy trong tương lai để lớn lên thành những người có trách nhiệm Từ nhiều năm nay, vấn đề điều chỉnh về quyền của người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam đã được quan tâm, nghiên cứu và cho đến thời điểm hiện nay việc hoàn thiện pháp luật về quyền của người chưa thành niên phạm tội là thực sự cần thiết, xuất phát từ các lý do sau đây:

Một là, nhằm triển khai có hiệu quả các chủ trương, quan điểm của Đảng và pháp

luật của Nhà nước về bảo vệ, phát triển gia đình; bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em nói chung và xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật nói riêng, góp phần thực hiện những mục tiêu đề ra trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp, đặc biệt

là Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó có yêu cầu về đổi mới, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của

hệ thống Tòa án, hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao

Hai là, xuất phát từ những đặc thù về tâm sinh lý của người chưa thành niên đòi

hỏi phải có những biện pháp xử lý và những thủ tục tố tụng riêng biệt Mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự nước ta có một chương riêng quy định thủ tục tố tụng đặc biệt đối với người chưa thành niên phạm tội nhưng nhìn chung thủ tục đó thiếu toàn diện, nhiều quy định vẫn còn chưa rõ ràng hoặc còn mang tính hình thức, chưa mang lại hiệu quả như mong muốn Trên thực tế, từ tình hình người chưa thành niên phạm tội vẫn chiếm tỷ lệ cao, tái phạm và nghiêm trọng Bên cạnh đó vẫn còn có một số cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng lợi dụng sơ hở của pháp luật mà xâm phạm đến các quyền cơ bản của người chưa thành niên phạm tội

Ba là, nhằm thúc đẩy việc xây dựng hệ thống thu thập, lưu trữ các thông tin và số

liệu về các vụ việc liên quan đến gia đình và người chưa thành niên, giúp cho các cơ quan xây dựng pháp luật và hoạch định chính sách có những thông tin chính xác để đề ra những biện pháp thích hợp trong đấu tranh phòng ngừa người chưa thành niên vi phạm pháp

Trang 21

GVHD: Nguyễn Tống Ngọc Như 21 SVTH: Lý Thươl

luật, công tác chăm sóc, bảo vệ các quyền lợi chính đáng của người chưa thành niên cũng như công tác bảo vệ và phát triển gia đình Việt Nam

Bốn là, chính là bước đi cụ thể để thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam về

bảo vệ các quyền của trẻ em, quyền người chưa thành niên đã được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế mà Việt Nam là thành viên cũng như phù hợp với thông lệ của nhiều nước trên thế giới

Như vậy, việc điều chỉnh về quyền của người chưa thành niên phạm tội là hết sức

cần thiết bởi vì nó giúp cho chúng ta nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về sự phát triển của người chưa thành niên Từ đó, đảm bảo những nhu cầu của người chưa thành niên phạm tội để các em đạt được tối đa quyền năng tố tụng của mình, đảm bảo cho sự phát triển bình thường của trẻ em cả về thể chất lẫn tinh thần, đảm bảo an toàn và cuộc sống tốt đẹp trong tương lai cho người chưa thành niên phạm tội - “Trẻ em hôm nay, thế giơi ngày mai” Đó chính là sự cần thiết phải xây dựng một hệ thống pháp luật điều chỉnh quyền của người chưa thành niên phạm tội tại Việt Nam

1.2.5 Tính chất của quyền của người chưa thành niên phạm tội

1.2.5.1 Tính phổ biến (universal)

Tính phổ biến của quyền của người chưa thành niên phạm tội thể hiện ở chỗ quyền của ngươi chưa thành niên phạm tội là những gì bẩm sinh vốn có của con người Quyền này chỉ dành riêng cho đối tượng là người chưa thành niên phạm tội và phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật hình sự Tuy nhiên vẫn được đối xử sao cho có thể nâng cao nhận thức của các em về nhân cách và phẩm giá cá nhân

1.2.5.2 Tính không thể tước bỏ (inalienable)

Tính không thể tước bỏ của quyền của người chưa thành niên phạm tội thể hiện ở chỗ khi người chưa thành niên phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì sẽ bị hạn chế một số quyền tự do Tuy nhiên, quyền của người chưa thành niên phạm tội không bị tước quyền tự do mãi mãi và không bị tước bỏ quyền được sống Cụ thể là không được xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội17

1.2.5.3 Tính không thể phân chia (indivisible)

Tính không thể phân chia của quyền của người chưa thành niên phạm tội thể hiện

ở chỗ người chưa thành niên phạm tội có quyền được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục18

Điều này không có nghĩa là bởi các quyền được miễn trách nhiệm hình sự này được ưu tiên

Trang 22

GVHD: Nguyễn Tống Ngọc Như 22 SVTH: Lý Thươl

thực hiện có giá trị cao hơn các quyền khác như quyền bào chữa…, mà là bởi quyền đó trong thực tế đang bị đe dọa hoặc vi phạm nhiều hơn so với các quyền khác

1.2.5.4 Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelated, interdependent)

Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau của quyền của người chưa thành niên phạm tội thể hiện ở chỗ quyền của người chưa thành niên phạm tội khi bị khám xét, tất nhiên sẽ hạn chế đi quyền được đảm bảo danh dự, nhân phẩm, tự do thân thể… là một điều tất yếu Ngược lại quyền được áp dụng hình phạt có mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng thì sẽ đảm bảo được sự phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của người chưa thành niên tác động tích cực đến quyền được phát triển của người chưa thành niên

1.2.6 Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội

Người chưa thành niên, việc xác định một trường hợp cụ thể là họ thực hiện hành

vi phạm tội có thể trở thành tội phạm hay không phải căn cứ vào những quy định tại điều

69 BLHS

Một là, việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ

họ sữa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội Nguyên tắc này thể hiện tính nhân đạo XHCN, các biện pháp áp dụng với người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục họ, làm cho họ thấy được tính chất của tội phạm, sự nghiêm minh của pháp luật, bản chất nhân đạo của các biện pháp áp dụng Chỉ trong những trường hợp phạm tội có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội cao, ý thức phạm tội của người chưa thành niên sâu sắc mới cần thiết phải áp dụng các biện pháp trừng trị đối với họ

Hai là, người chưa thành niên có thể được miễn trách nhiệm hình sự (TNHS) nếu

người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục Đây là nguyên tắc miễn TNHS đối với người chưa thành niên phạm tội So sánh với quy định về miễn TNHS ở người thành niên19

ta thấy quy định trên đây có phạm vi rộng hơn Người chưa thành niên được miễn TNHS khi thỏa mãn bốn điều kiện sau20

:

- Tội phạm thực hiện là tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng;

- Chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

- Có nhiều tình tiết giảm nhẹ;

- Được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục

Ba là, việc truy cứu TNHS người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt

đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của

Trang 23

GVHD: Nguyễn Tống Ngọc Như 23 SVTH: Lý Thươl

hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm Nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội thì Tòa án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp là giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng Nguyên tắc này cũng thể hiện tính nhân đạo sâu sắc Không phải mọi trường hợp người chưa thành niên phạm tội đều bị truy cứu TNHS Việc truy cứu TNHS chỉ đặt ra khi nó thực sự cần thiết và phải xuất phát từ yêu cầu phòng ngừa tội phạm Kể cả khi người chưa thành niên phạm tội và bị truy cứu TNHS thì

họ vẫn có khả năng không bị áp dụng hình phạt Thay vào vị trí của hình phạt họ có thể được áp dụng các biện pháp tư pháp nếu biện pháp tư pháp này đủ tác dụng cải tạo họ thành công dân có ích cho xã hội21

Bốn là, không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên

phạm tội Hạn chế áp dụng hình phạt tù Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội Nguyên tắc này không cho phép áp dụng các hình phạt nghiêm khắc đối với người chưa thành niên phạm tội thể hiện nội dung nhân đạo, Điều 69 BLHS quy định: Không áp dụng hình phạt tiền đối với người ở độ tuổi từ đủ

14 tuổi đến dưới 16 tuổi là do độ tuổi này có thể chưa tạo ra thu nhập hoặc chưa có tài sản riêng22, không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội Trong trường hợp người chưa thành niên phạm tội tương đương với người đã thành niên

và bị xử phạt tù có thời hạn thì mức án áp dụng đối với họ phải thấp hơn so với người đã thành niên23

Năm là, án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi,

thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm Theo quy định tại Điều 49

BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009, tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được

xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm

trọng do vô ý; tái phạm nguy hiểm là trường hợp đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội

đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý hoặc đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội

do cố ý Nguyên tắc này được quy định nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường, không thành kiến đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi là trẻ em

Ngày đăng: 03/10/2015, 05:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Thị Minh Sơn, Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Trường Đại học luật Hà nội, Nxb Công an Nhân dân, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Hoàng Thị Minh Sơn
Nhà XB: Trường Đại học luật Hà nội
Năm: 2008
2. Nguyễn Đăng Dung – Vũ Công Giao – Lã Khánh Tùng, Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Đại học Quốc gia Hà nội, năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà nội
3. Nguyễn Ngọc Hòa, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, tập 1, Trường Đại học luật Hà nội, Nxb Công an Nhân dân, năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Công an Nhân dân
4. Mạc Giáng Châu, Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Trường Đại học Cần Thơ, học phần 1, năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Mạc Giáng Châu
Nhà XB: Trường Đại học Cần Thơ
Năm: 2010
5. Mạc Giáng Châu, Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Trường Đại học Cần Thơ, học phần 2, năm 2010.Tạp chí, bài viết Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam
1. Nguyễn Tiến Đạt, Bảo đảm quyền con người trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, Tạp chí Khoa học pháp luật số 3(34)/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền con người trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam
2. Trường Đại học Kiểm sát Hà nội, Áp dụng biện pháp đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí kiểm sát số 06/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng biện pháp đối với người chưa thành niên phạm tội
3. Võ Thị Kim Oanh – Nguyễn Ngọc Kiện, Hoàn thiện các quy định về bị tình nghi trong BLTTHS năm 2003, Bài viết của Tòa án nhân dân tối cao ngày 06/4/2011.Trang thông tin điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện các quy định về bị tình nghi trong BLTTHS năm 2003
Tác giả: Võ Thị Kim Oanh, Nguyễn Ngọc Kiện
Nhà XB: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2011
1. Trần Thắng Lợi - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Pháp luật quốc tế về tuyển dụng, sử dụng lao động trẻ em,http://www.toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?p_cateid=1751909&item_id=8607017&article_details=1, [ngày truy cập 22/10/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật quốc tế về tuyển dụng, sử dụng lao động trẻ em
Tác giả: Trần Thắng Lợi
Nhà XB: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
3. Đinh Văn Quế, Một số vấn đề về người bào chữa trong BLTTHS năm 2003, http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?p_page_id=1754190&p_cateid=1751909&article_details=1&item_id=14077018, [16/11/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về người bào chữa trong BLTTHS năm 2003
4. Đoàn luật sư thành phố Hà nội, Công ty luật Minh Khuê, Hỏi cung trẻ em không có mặt người giám hộ là sai, http://luatminhkhue.vn/hinh-su/hoi-cung-tre-em-khong-co-mat-nguoi-giam-ho-la-sai.aspx, [17/11/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi cung trẻ em không có mặt người giám hộ là sai
Tác giả: Đoàn luật sư thành phố Hà nội, Công ty luật Minh Khuê
Năm: 2014
2. Báo người lao động, http://nld.com.vn/phap-luat/lam-chet-mot-hoc-sinh-3-nguoi-lanh-an-20141114233017424.htm, ngày cập nhật [14/11/2014] Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm