1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh trà vinh

93 858 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc quy định như vậy có ý nghĩa trong đấu tranh phòng chống tội phạm, cũng như thể hiện sự nghiêm khắc của Nhà nước trong việc xử lý các hành vi xâm phạm trật tự quản lý hành chính chỉ

Trang 1

VỤ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH

Lớp: Tư pháp 1- K37

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

  

Cần thơ, ngày…tháng…năm…

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

  

Cần thơ, ngày…tháng…năm…

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đề tài 2

3 Phương pháp nghiên cứu đề tài 2

4 Cấu trúc đề tài 3

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH 4

1.1 KHÁI QUÁT VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH 4

1.1.1 Khái niệm về tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính 4

1.1.2 Dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính 7

1.1.2.1 Khách thể của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính 7

1.1.2.2 Chủ thể của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính 8

1.1.2.3 Khách quan của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính 8

1.1.2.4 Chủ quan của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính 8

1.2 KHÁI QUÁT VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ 9

1.2.1 Khái niệm về tội chống người thi hành công vụ 9

1.2.1.1 Khái niệm “người thi hành công vụ” 9

1.2.1.2 Khái niệm “tội chống người thi hành công vụ” 10

1.2.2 Đặc điểm của tội chống người thi hành công vụ 11

1.3 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 13

1.3.1 Giai đoạn trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 13

1.3.2 Giai đoạn ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 13

1.3.3 Giai đoạn ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay 14

Trang 5

1.4 Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH

CÔNG VỤ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 15

CHƯƠNG II TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH 17

2.1 TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH 17

2.2 DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ THEO LUẬT HÌNH SỰ 1999 18

2.2.1 Khách thể của tội phạm chống người thi hành công vụ 18

2.2.2 Chủ thể của tội phạm chống người thi hành công vụ 20

2.2.3 Mặt khách quan của tội phạm chống người thi hành công vụ 21

2.2.4 Mặt chủ quan của tội phạm chống người thi hành công vụ 25

2.3 CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ VÀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ 29

2.3.1 Trách nhiệm hình sự của tội chống người thi hành công vụ không có tình tiết định khung tăng nặng 29

2.3.2 Trách nhiệm hình sự của tội chống người thi hành công vụ có tình tiết định khung tăng nặng 30

2.3.2.1 Phạm tội có tổ chức 30

2.3.2.2 Phạm tội nhiều lần 35

2.3.2.3 Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội 36

2.3.2.4 Gây hậu quả nghiêm trọng 37

2.3.2.5 Tái phạm nguy hiểm 38

2.4 PHÂN BIỆT TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ VỚI MỘT SỐ TỘI KHÁC 39

2.4.1 Phân biệt tội chống người thi hành công vụ và tội giết người quy định tại điểm d khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự 39

2.4.1.1 Về khái niệm 39

Trang 6

2.4.1.2 Về dấu hiệu pháp lý 40

2.4.2 Phân biệt tội chống người thi hành công vụ và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khoẻ của người khác quy định tại điểm k khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự 42

2.4.2.1 Về khái niệm 42

2.4.2.2 Về dấu hiệu pháp 42

CHƯƠNG III THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH 45

3.1 VÀI NÉT VỀ THỰC TRẠNG, DIỄN BIẾN CỦA TỘI PHẠM CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRÊN ĐỊA BÀN CẢ NƯỚC 45

3.2 THỰC TRẠNG VÀ DIỄN BIẾN CỦA TỘI PHẠM CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH 48

3.3 DỰ BÁO TÌNH HÌNH TỘI PHẠM CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH TRONG THỜI GIAN TỚI 62

3.4 NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH 62

3.4.1 Những hạn chế của quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng pháp luật 62

3.4.1.1 Những bất cập của quy định pháp luật hiện hành 62

3.4.1.2 Bất cập trong áp dụng pháp luật 65

3.4.2 Các nguyên nhân và điều kiện khác 66

3.4.2.1 Nguyên nhân và điều kiện liên quan đến vấn đề kinh tế xã hội 66

3.4.2.2 Nguyên nhân và điều kiện liên quan tới vấn đề quản lý xã hội 68

3.4.2.3 Nguyên nhân và điều kiện liên quan đến vấn đề văn hóa giáo dục và ý thức pháp luật của người dân 70

3.4.2.4 Nguyên nhân và điều kiện liên quan đến hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật 71

Trang 7

3.5 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM CHỐNG

NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH 72

3.5.1 Hoàn thiện những quy định của pháp luật hiện hành và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật 72

3.5.1.1 Hoàn thiện những quy định của pháp luật hiện hành 72

3.5.1.2 Nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật để phòng chống và xử lý tội phạm chống người thi hành công vụ .75

3.5.2 Một số giải pháp khác 76

3.5.2.1 Giải pháp kinh tế - xã hội 76

3.5.2.2 Những giải pháp về tổ chức quản lý xã hội 78

3.5.2.3 Biện pháp về văn hóa và giáo dục 79

3.5.2.4 Giải pháp về hoạt động của cơ quan bảo vệ pháp luật 80

KẾT LUẬN 82 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 được coi là: “Đại hội đổi mới tư duy”, tạo nền thuận lợi cho các kỳ đại hội sau này, đã đề ra đường lối đổi mới đất nước một cách toàn diện, sâu sắc Đại hội xác định xoá bỏ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước Nhờ đó mà trong những năm tiếp theo đất nước ta không ngừng phát triển về mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội…

Trong công cuộc đổi mới của đất nước, không chỉ thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh….mà các tỉnh khác cũng không ngừng phấn đấu phát triển để trở thành những trung tâm kinh tế, văn hóa của đất nước, trong đó có tỉnh Trà Vinh Trà Vinh nằm trong khu vực đồng bằng Sông Cửu Long, với diện tích 2 215km2, dân số 1.015 triệu người (2012) tuy vị trí địa lí không thật sự thuận lợi nhưng tỉnh Trà Vinh vẫn có một số lợi thế nhất định so với các tỉnh khác trong khu vực như: Dự án đầu tư công trình Luồng cho tàu biển có trọng tải lớn vào sông Hậu (kênh Quan Chánh Bố), Trung tâm điện lực Duyên Hải công suất dự kiến 4.400 MW, Dự án nâng cấp mở rộng các tuyến quốc lộ 53-54-60 rút ngắn thời gian và khoảng cách giữa Trà Vinh với Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh khác trong khu vực,…tất cả các công trình trên đang được thực hiện một cách khẩn trương và khi những công trình đó hoàn thành sẽ tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các mặt của đời sống kinh tế xã hội

Tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế cũng kéo theo những tiêu cực đáng kể Đó

là sự thiếu kinh nghiệm, kém ổn định của trật tự kỷ cương xã hội Đây chính là điều kiện thuận lợi cho các loại tội phạm phát sinh, phát triển, gây cản trở cho sự phát triển của đất nước, trong đó phải kể đến nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính Điển hình trong nhóm tội phạm này là tội phạm chống người thi hành công vụ Loại tội phạm này đang diễn ra với quy mô rộng ở khắp nơi trên toàn quốc nói chung và tỉnh Trà Vinh nói riêng

Tại địa bàn tỉnh Trà Vinh trong những năm gần đây, diễn biến của loại tội phạm này hết sức phức tạp, tính chất và mức độ của tội phạm ngày càng nghiêm trọng, gây nguy hại to lớn cho ổn định trật tự xã hội, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các

cơ quan nhà nước, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, của nhân viên cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội

Trang 9

Từ những lí do trên đã tác động người viết chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Trà Vinh” làm đề

tài nghiên cứu để cung cấp một số thông tin hữu ích về diễn biến và tình hình của loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh nhà, đồng thời thông qua đề tài này tác giả cũng muốn góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào việc hoàn thiện các chế định pháp luật và đề ra một số biện pháp khắc phục để hạn chế sự phát triển của loại tội phạm này đảm bảo an ninh trật tự trên địa bản tỉnh nói riêng cũng như trên địa bàn cả nước nói chung

2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đề tài

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏa các dấu hiệu pháp lý của tội phạm chống người thi hành công vụ qua đó tìm ra những điểm khác biệt của hành vi chống người thi hành công vụ với một số hành vi cùng loại là dấu hiệu của một số tội danh khác, phân biệt giữa tội chống người thi hành công vụ và một số tội phạm khác có liên quan Đồng thời đề tài đi sâu vào việc tìm hiểu và phân tích thực trạng, lý giải các nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Trà Vinh gắn liền với những đặc thù kinh tế, chính trị, xã hội ở đây Từ đó đưa ra một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Trà Vinh

Đề tài tập trung làm rõ các mặt lý luận về khái niệm, đặc điểm, tính chất, dấu hiệu pháp lý của tội chống người thi hành công vụ Đồng thời tập trung phân tích các yếu tố thực trạng, nguyên nhân điều kiện phát sinh của tội chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Trà Vinh từ đó đề ra một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế tội phạm này trên địa bàn tỉnh nhà

3 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau để hoàn thành luận văn được tốt hơn:

Luận văn sử dụng lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam làm nền tảng lý luận để đưa ra các quan điểm, lập luận của chính bản thân để về tội chống người thi hành công vụ

Sử dụng các phương pháp thống kê hình sự, phương pháp so sánh, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp phân tích các luận cứ khoa học để làm sáng tỏ vấn đề được nghiên cứu

Trang 10

Kết hợp các phương pháp phân tích luật viết để tìm hiểu quy định của pháp luật hiện hành, phương pháp so sánh đối chiếu các văn bản quy phạm pháp luật

Bên cạnh đó tác giả cũng tìm hiểu và tham khảo một số loại sách báo, tạp chí, giáo trình, các trang thông tin điện tử,…để hoàn thành luận văn

vì thế tác giả rất mong nhận được ý kiến đánh giá, nhận xét từ quý Thầy, Cô và các bạn sinh viên để bài viết được hoàn thiện tốt hơn, có khả năng áp dụng vào thực tiễn, nhằm góp phần hạn chế cũng như đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội chống người thi hành công vụ nói riêng một cách hiệu quả hơn

Trang 11

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH

1.1 KHÁI QUÁT VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

1.1.1 Khái niệm về tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính

Quản lý hành chính Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và ổn định kinh tế xã hội của đất nước Quản lý hành chính nhà nước đảm bảo hoạt động bình thường của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và của công dân Chính vì vậy để hoạt động quản lý hành chính thật sự mang lại hiệu quả, đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới của đất nước, Luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội

chủ nghĩa Việt Nam quy định chương “Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính”

nhằm ngăn ngừa và chống lại những hành vi gây khó khăn cho công tác quản lý xã hội, làm giảm hiệu lực và hiệu quả thực thi pháp luật của các cơ quan Nhà nước

Quản lý hành chính là bộ phận quan trọng trong quản lý xã hội của Nhà nước Việc

xử lý về mặt hình sự các hành vi xâm phạm trật tự quản lý hành chính là cần thiết góp

phần ổn định trật tự, kỉ cương xã hội Theo luật hình sự Việt Nam, các tội xâm phạm trật

tự quản lý hành chính là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm hoạt động bình thường của nhà nước và xã hội trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước 1

Cũng có quan điểm khác cho rằng “tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính” là:

những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, xâm phạm vào những quy định của Nhà nước về trật tự quản lý hành chính, gây khó khăn cho công tác quản lý xã hội và làm giảm hiệu lực của cơ quan quản lý nhà nước 2

Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính nhà nước có các đặc điểm cơ bản sau

Trang 12

thiệt hại đến tài sản, tính mạng, sức khỏe, của con người, an ninh quốc gia, an ninh quốc phòng

Nhiều tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính có cấu thành tội phạm hình thức Việc quy định như vậy có ý nghĩa trong đấu tranh phòng chống tội phạm, cũng như thể hiện sự nghiêm khắc của Nhà nước trong việc xử lý các hành vi xâm phạm trật tự quản lý hành chính (chỉ cần có hành vi vi phạm không đòi hỏi phải có hậu quả xảy ra thì đã bị xử

lý về hình sự).3

Từ những quan điểm và phân tích trên người viết xin đưa ra khái niệm “tội xâm

phạm trật tự quan lý hành chính”: Các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý hành chính là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, biểu hiện qua hình thức lỗi cố ý hay vô ý, những hành vi này xâm phạm hoạt động đúng đắn, bình thường của các cơ quan nhà nước gây khó khăn cho công tác xã hội hoặc làm giảm hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước

Chính sách hình sự của Nhà nước ta đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính về cơ bản vẫn kế thừa những tư tưởng chỉ đạo của Bộ luật hình sự năm 1985 bên cạnh đó bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi bổ sung 2009) cũng có những thay đổi: Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính được quy định tại chương XX Bộ luật hình sự năm

1999 gồm các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính quy định định tại Mục C, Chương VII và một số tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Mục B, Chương I, phần các tội phạm Bộ luật hình sự 1985 Ngoài ra do tình hình kinh tế, xã hội có nhiều thay đổi nên nhà làm luật quy định thêm hai tội phạm mới mà Bộ luật hình sự năm 1985 chưa quy định, đó là: “Tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ” (Điều 260) và

“Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới” (Điều 273)

So với Mục C, Chương VIII và Mục B, Chương I phần các tội phạm của Bộ luật hình sự năm 1985 thì các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính quy định tại Chương

XX Bộ luật hình sự năm 1999 có những điểm mới và bổ sung sau đây:

Mục C, Chương VIII, phần các tội phạm Bộ luật hình sự 1985 có 14 điều (từ Điều

205 đến Điều 217) quy định về các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính, còn chương

XX Bộ luật hình sự 1999 có 20 điều (từ Điều 257 đến Điều 276) quy định các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính với 20 tội danh tương ứng Tuy nhiên trong đó đã có 14 tội được qui định tại Mục C, Chương VIII phần các tội phạm của Bộ luật hình sự 1985, 4

3

Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Tập 2, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, tr

259

Trang 13

tội được quy định tại Mục B, Chương I phần các tội phạm Bộ luật hình sự năm 1985 và

bổ sung hai tội mới đó là: “Tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ” (Điều 260) và “Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới” (Điều 273)

Chương XX Bộ luật hình sự 1999 quy định về các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính, một số tội trước đây thuộc nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia như: (tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép; tội xuất nhập cảnh trái phép) được tách ra đưa vào chương này Bên cạnh đó do sự thay đổi của tình hình kinh tế, xã hội cũng như chính sách của nhà nước một số hành vi trước đây không bị coi là tội phạm thì giờ đã bị coi là tội phạm và ngược lại một số hành vi trước đây bị coi là tội phạm thì nay không bị coi là tội phạm nữa: Ví dụ: hành vi không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ trước đây chưa bị coi là tội phạm nay được quy định là tội phạm trong Bộ luật hình sự 1999 (Điều 206) Ngược lại, hành vi trốn tránh nghĩa vụ lao động công ích trước đây bị coi là tội phạm nay không bị coi là tội phạm nữa

và bị loại bỏ khỏi Bộ luật hình sự 1999

Tên tội danh trong các điều luật của Bộ luật hình sự 1999 cũng có những bổ sung và thay đổi nhất định, một số tội danh được quy định thêm những tình tiết mới hoặc sửa đổi cho phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội Ví dụ: Điều 215 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định: “tội vi phạm các quy định về xuất bản và phát hành sách, báo, ấn phẩm khác”, thì điều 271 Bộ luật hình sự năm 1999 lại quy định: “tội vi phạm các quy định về xuất bản, phát hành sách, báo, đĩa âm thanh, băng âm thanh, đĩa hình, băng hình, hoặc các ấn phẩm khác”; một số tội danh được tách từ một hoặc một số tình tiết là yếu tố định khung hình phạt Ví dụ: tình tiết “làm giả con dấu, giấy tiêu đề hoặc giấy tờ khác của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc sử dụng con dấu, giấy tờ đó nhằm lừa dối cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc công dân” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 211 Bộ luật hình

sự năm 1985 nay được quy định thành tội “làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” tại Điều 267 Bộ luật hình sự năm 1999

Các tình tiết là yếu tố định tội ở một số tội danh cũng được sửa đổi, bổ sung theo hướng phi hình sự hóa một số hành vi hoặc quy định các tình tiết làm ranh giới để phân biệt thành vi phạm tội với hành vi chưa tới mức là tội phạm Ví dụ: người có hành vi xuất cảnh, nhập cảnh trái phép, trước đây không cần “đã bị xử lý hành chính về hành vi xuất cảnh, nhập cảnh trái phép” cũng đã cấu thành tội phạm, nay nếu chưa bị xử lý hành chính thì chưa cấu thành tội phạm Cùng với những thay đổi trên thì Bộ luật hình sự năm 1999 cũng có một số thay đổi khác: hầu hết các tội phạm đều bổ sung nhiều tình tiết là yếu tố

Trang 14

định khung hình phạt; hình phạt bổ sung đối vời từng tội phạm được qui định trong cùng một điều luật.4

Có thể thấy rằng, việc thay đổi một số chính sách hình sự là một điều tất yếu phù hợp với quy luật phát triển của kinh tế, xã hội Kinh tế và xã hội luôn vận động theo chiều hướng đi lên từ thấp đến cao Tuy vậy, cùng với sự phát triển đó thì những mặt tiêu cực của kinh tế và xã hội cũng bộc lộ ở mức độ nhiều hơn mà cụ thể là hành vi của tội phạm Khi trình độ văn hóa của những người dân được nâng cao thì trình độ nhận thức của họ về phát luật cũng sâu sắc hơn, họ ý được quyền lợi cũng như nghĩa vụ của mình từ

đó điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với chuẩn mực của xã hội Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực như vậy thì những biểu hiện tiêu cực cũng xuất hiện ngày một nhiều hơn, bởi do đã am hiểu pháp luật, trình độ nhận thức được nâng cao, nhìn thấy được kẻ hở của luật pháp nên một số tội phạm đã lợi dụng chính khe hở đó để phạm tội,

và cùng với đó thì sự phát triển nhanh của xã hội làm xuất hiện nhiều hành vi mà trước đây các nhà làm luật chưa lường trước được hết tính nguy hiểm của nó đối với xã hội nên làm cho chính sách hình sự của nhà nước ta trở nên lạc hậu và không còn phù hợp với thực tế Từ những lý do đó, nên chính sách hình sự phải có thay đổi để phù hợp với quy luật vận động, phát triển của kinh tế - xã hội là một điều hợp lý

1.1.2 Dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính

1.1.2.1 Khách thể của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính

Các tội phạm này không chỉ xâm phạm trật tự quản lý hành chính nói chung, mà trong nhiều trường hợp còn trực tiếp xâm phạm và gây thiệt hại về tính mạng, thiệt hại nghiêm trọng về sức khỏe của nhân dân, tài sản Nhà nước, của tổ chức hoặc của công dân Việc quy định các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính trong Bộ luật hình sự không chỉ nhằm bảo đảm hoạt động quản lý hành chính của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa đạt hiệu quả mà còn bảo vệ tính mạng, sức khỏe của nhân dân, tài sản của nhà nước, của các tổ chức và của công dân

Trật tự quản lý hành chính là trật tự trong hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước đối với các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Giữ gìn trật tự trong lĩnh vực này cũng đồng thời nhằm đảm bảo sự an toàn về tính mạng, sức khỏe cho những người thực hiện nhiệm vụ quan lý hành chính

4

Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học bộ luật hình sự phần các tội phạm, Tập 8- Các tội xâm phạm trật tự quản lý

hành chính và các tội phạm về môi trường, NXB Tổng Hợp, Tp HCM, 2005, tr 9- tr.11

Trang 15

1.1.2.2 Chủ thể của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính

Chủ thể của các tội quy định tại Chương XX Bộ luật hình sự hiện hành là những người đạt độ tuổi nhất định và có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12

và Điều 13 Phần lớn các tội trong Chương này là tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng

Vì vậy, chủ thể của các loại tội phạm này có thể là bất cứ người nào từ đủ mười sáu tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự Chỉ có một số ít tội phạm có thể là những người từ đủ mười bốn tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự (các khoản 2, 3 của Điều 263 và Điều 275) Một số tội phạm trong Chương này thuộc nhóm tội có chủ thể đặc biệt, đó là những người có thẩm quyền nhất định (về đăng ký nghĩa vụ quân sự - Điều 261) hoặc có trách nhiệm về một lĩnh vực nào đó (bí mật nhà nước - Điều 263 và Điều 264) hoặc phải là người có trách nhiệm thực hiện những nghĩa vụ nhất định (nghĩa vụ quân sự, nhập ngũ - Điều 259 và Điều 260)

1.1.2.3 Khách quan của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính

Mặt khách quan của đa số các tội phạm quy định trong Chương XX Bộ luật hình

sự hiện hành được thể hiện ở tất cả các dạng hành động và không hành động một số tội phạm chỉ được thể hiện ở dạng hành động như: tội chống người thi hành công vụ; tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước, chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy tài liệu bí mật nhà nước; tội sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và các tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội lam giả con dấu, tài liệu cảu cơ quan, tổ chức…

Hậu quả nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của đa số các tội phạm thuộc Chương này Ngoài

ra, đối với một số tội (thuộc các điều 270, điều 272, điều 273, điều 274), dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm còn là “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” Chỉ đối với một số rất ít các tội (Điều 266, Điều 272), hậu quả thiệt nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm

1.1.2.4 Chủ quan của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính

Đa số các hành vi phạm tội được quy định tại Chương XX Bộ luật hình sự hiện hành được thực hiện với lỗi cố ý Chỉ có một số ít hành vi được thực hiện với lỗi vô ý (các điều 264, 271, 272, 273) Mục đích và động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của các loại tội phạm này Đối với một số tội (Điều 263,

Trang 16

Điều 275,…), mục đích và động cơ phạm tội là một trong những căn cứ để phân biệt các tội này với các tội xâm phạm an ninh quốc gia (Điều 80, Điều 91).5

1.2 KHÁI QUÁT VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ

1.2.1 Khái niệm về tội chống người thi hành công vụ

1.2.1.1 Khái niệm “người thi hành công vụ”

“Người thi hành công vụ” là thuật ngữ thường được sử dụng khi nhắc đến “công vụ” Thuật ngữ “Công vụ” trong tiếng Việt là hoạt động do công chức nhân danh nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm thực hiện lợi ích của nhân dân và xã hội Công vụ cũng có thể được định nghĩa là hoạt động phục vụ lợi ích công do Nhà nước đại thọ hoặc tạo điều kiện, hoặc công việc được thực hiện vì Chính phủ Từ khái niệm “Công vụ” như trên, có thể hiểu “Người thi hành công vụ” là người thực hành việc công Theo quy định của pháp luật, có thể phân chia người thi hành công vụ theo những nhóm người chính sau đây:

Thứ nhất, người thi hành công vụ là những người đại diện quyền lực Nhà nước Thứ hai, người thi hành công vụ là những người có chức vụ, quyền hạn có liên

quan đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, tổ chức điều hành, quản lý hành chính trong các cơ quan hoặc các tổ chức chính trị xã hội trong bộ máy của Đảng, Mặt trận Tổ quốc,…

Thứ ba, đó là nhóm những người giữ chức vụ quyền hạn có liên quan đến việc

thực hiện chức năng, nhiệm vụ, tổ chức sản xuất kinh doanh trong các cơ quan và tổ chức kinh tế, doanh nghiệp Nhà nước

Thứ tư, người thi hành công vụ còn là nhóm những người dân được giao nhiệm

vụ tuần tra, canh gác giữ gìn an ninh trật tự xã hội (thanh niên cờ đỏ, thanh niên xung phong, dân quân tự vệ, dân phòng được huy động làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh,…) Dựa trên những quan điểm đã phân tích, thì tại khoản 1, Điều 3 Luật Trách nhiệm bồi thường

nhà nước đưa ra khái niệm “Người thi hành công vụ” như sau: “Người thi hành công vụ

là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người

5

Nguyễn Đức Mai (chủ biên), Bình luận khoa học bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009- Phần các tội phạm,

NXB Chính Trị Quốc Gia- Sự Thật, 2010, tr 653- tr 655

Trang 17

khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án”.6

1.2.1.2 Khái niệm “tội chống người thi hành công vụ”

Khi xã hội phát triển đến một mức độ nào đó thì các quan hệ xã hội ngày một phức tạp, thì tất yếu sẽ có những hành vi chống người thi hành công vụ của những người muốn lựa chọn cách thức thỏa mãn nhu cầu trái với lợi ích xã hội Qua nghiên cứu, hành

vi chống người thi hành công vụ tuy đa dạng nhưng điều có đặc điểm chung như sau:

Thứ nhất, hành vi chống người thi hành xâm hại tới một hoặc nhiều quan hệ xã

hội được Nhà nước, pháp luật bảo vệ

Thứ hai, hành vi chống người thi hành công vụ được thực hiện với lỗi cố ý và

được người thực hiện với nhiều động cơ khác nhau để thực hiện được mục đích của mình

Thứ ba, hành vi chống người thi hành công vụ là hành vi gây nguy hiểm cho xã

hội, đi lệch với chuẩn mực của xã hội vì chủ thể đã thực hiện hành vi bị nhà nước, pháp luật nghiêm cấm

Thứ tư, các hình thức của chống người thi hành công vụ rất phong phú và đa

dạng, tất cả những động cơ, mục đích đều được thực hiện thông qua những hành vi sau:

uy hiếp đe dọa, cản trở và chống đối người thi hành công vụ

Thứ năm, chủ thể của hành vi chống người thi hành công vụ là những người mà

quyền lợi của họ bị mất mác hoặc thiệt hại bởi người thi hành công vụ, hoặc vì lý do công vụ, hoặc họ là người đang ra sức bảo vệ một lợi ích bất hợp pháp tránh khỏi sự can thiệp của những người thực thi công vụ

Từ các phân tích trên, có thể định nghĩa về “tội chống người thi hành công vụ”

như sau: “Chống người thi hành công vụ là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật” 7

6

Nguyễn Anh Thu, Trung tâm thông tin- thư viện, Đại học quốc gia Hà Nội, Dấu hiệu “chống người thi hành công

vụ” trong luật hình sự Việt Nam, http://dl.vnu.edu.vn/handle/11126/941?mode=simple, [truy cập ngày 15- 9- 2014]

7

Phạm Văn Beo, Luật hình sự Việt Nam, Quyển 2- Phần các tội phạm, NXB Chính Trị Quốc Gia- Sự Thật, Hà Nội,

2012, tr 534

Trang 18

1.2.2 Đặc điểm của tội chống người thi hành công vụ

Mỗi tội phạm đều mang những đặc điểm riêng biệt nhưng nhìn chung thì tội phạm nào cũng có những đặc điểm cơ bản, đó là:

 Hành vi được thực hiện là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội

 Tính trái pháp luật hình sự

 Tính có lỗi của tội phạm

 Tính chịu hình phạt của tội phạm

Tội phạm chống người thi hành công vụ cũng mang những đặc điểm cơ bản trên nhưng cũng có vài nét khác biệt để phân biệt với các loại tội phạm khác:

Thứ nhất, Hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi đã gây ra hoặc đe dọa gây thiệt

hại đáng kể đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Các quan hệ đó là: độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Nếu thiệt hại gây ra hoặc đe dọa gây ra không đáng kể thì không phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội và không bị coi là hành vi phạm tội Có thể thấy tội phạm chống người thi hành công vụ là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, về mặt khách quan nó gây thiệt hại cho khách thể là trật tự quản lý hành chính được pháp luật hình sự bảo vệ Tuy nhiên, tội chống người thi hành công vụ cũng có đặc điểm riêng biệt khác với các loại tội phạm khác thể hiện qua các yếu tố sau:

Người thực hiện công vụ phải thực hiện công vụ từ khi bắt đầu thực hiện công vụ và chưa kết thúc thực hiện công vụ

Người thực hiện công vụ phải là người do bổ nhiệm, do bầu cử do hợp đồng hoặc hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao nhiệm vụ và quyền hạn nhất định trong thực hiện nhiệm vụ Trong thực tế người thi hành công vụ có đặc điểm dễ nhận biết như: trang phục, thẻ cán bộ, quân hàm,…Tuy nhiên do đặc trưng của nghành hay công việc nên rất khó nhận biết từ đặc điểm bên ngoài: tình báo, cảnh sát hình sự làm trinh sát,…

Đối tượng tác động của tội phạm phải là người đang thi hành công vụ, chứ không phải là đối tượng nào khác được quy định trong bộ luật hình sự Và đây cũng là điểm

Trang 19

khác biệt nhất về bản chất của tội phạm này với tội phạm khác được quy định trong Bộ luật hình sự Việt Nam.8

Thứ hai, Việc nhà làm luật quy định chỉ những hành vi nguy hiểm cho xã hội được

quy định trong Bộ luật hình sự mới là tội phạm nhằm gạt bỏ việc áp dụng nguyên tắc tương tự Chỉ có Bộ luật hình sự mới được quy định tội phạm, ngoài Bộ luật hình sự không

có văn bản pháp luật nào khác được quy định tội phạm

Tính trái pháp luật hình sự là dấu hiệu biểu hiện hình thức pháp lý của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Tính trái pháp luật hình sự là dấu hiệu kèm theo của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Tuy nhiên, dù một hành vi có tính chất nguy hiểm đến đâu nhưng chưa được quy định trong luật hình sự thì cũng chưa bị coi là tội phạm,9

và hành vi chống người thi hành công vụ cũng tuân theo quy luật đó Với hành vi của tội phạm chống người thi hành công vụ là dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, được xem là hành vi trái với quy định tại điều 257 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) Do nhìn nhận được sự nguy hiểm của hành vi chống người thi hành công vụ nên các nhà làm luật đã quy định hành vi này trong một điều luật cụ thể, đó là: Điều 257 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009)

Thứ ba, đặc điểm của tội chống người thi hành công vụ còn thể hiện ở tính lỗi của

tội phạm Lỗi là thái độ tâm lý của người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả của hành vi đó dưới hình thức cố ý hoặc vô ý Đối với tội chống người thi hành công

vụ, lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp Người phạm tội nhận thức được hành vi trái pháp luật của mình là đang chống lại người thi hành công vụ và mong muốn thực hiện việc chống lại này khiến cho người thi hành công vụ không hoàn thành được nhiệm

vụ Tuy nhiên, để xem xét hành vi chống người thi hành công vụ có lỗi hay không cần phải xem xét hai điều kiện sau:

Người thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ phải có năng lực trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi của mình, tức là không bị rơi vào tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 13 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009)

8

Đinh Văn Quế, Một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng,

NXB Công An Nhân Dân, 2007, tr 12

9

Phạm Văn Beo, Luật hình sự Việt Nam, Quyển 1- Phần chung, NXB Chính Trị Quốc Gia- Sự Thật, Hà Nội, 2009,

tr.120

Trang 20

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2, Điều 257 là người

từ đủ 16 tuổi trở lên

Thứ tư, ngoài ba yếu tố tính nguy hiểm cho xã hội, tính trái pháp luật hình sự, tính

có lỗi thì tính chịu hình phạt không thể thiếu khi phân tích tội phạm nói chung và tội phạm chống người thi hành công vụ nói riêng Tính chịu hình phạt của tội phạm chống người thi hành công vụ là trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải gánh chịu khi thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ và thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại điều 257 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009)

1.3 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG

VỤ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.3.1 Giai đoạn trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985

Trong bất kì thời kì nào thì hành vi chống người thi hành công vụ cũng diễn ra, bởi

vì trong bất kì hoàn cảnh nào thì cũng có người để bảo vệ lợi ích cho riêng mình mà đi ngược lại với lợi ích của toàn xã hội Tuy nhiên, trong giai đoạn này không có một văn bản nào quy định về một tội phạm riêng, cụ thể cho hành vi chống người thi công vụ, mà nằm rải rác trong các văn bản quy định về một nhóm tội nào đó Hành vi chống người thi hành công vụ được thể hiện trong các quy định của các văn bản như Sắc lệnh số 26-SL ngày 25/02/1946 trừng trị tội phá hoại cộng sản; Sắc lệnh số 27-SL ngày 28/02/1946 trừng trị các tội bắt cóc, tống tiền và ám sát, Sắc lệnh số 133-SL ngày 20/01/1953 trừng trị những tội phạm xâm phạm an ninh đối nội và an toàn đối ngoại của nhà nước; Sắc lệnh số 151-SL ngày 12/04/1953 trừng trị địa chủ chống pháp luật và thông tư số 442-TT ngày 19/01/1955 về tổng kết án lệ một số tội phạm thông thường,…

1.3.2 Giai đoạn ban hành Bộ luật hình sự năm 1985

Trong lời nói đầu của Bộ luật hình sự năm 1985 có đoạn viết như sau: “Trong hệ thống pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật hình sự có vị trí rất quan trọng Nó là một công cụ sắc bén của Nhà nước chuyên chính vô sản để bảo vệ những thành quả của cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh chống và phòng ngừa mọi hành vi phạm tội, góp phần hoàn thành hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” Qua lời nói đầu trên, có thể thấy vai trò và tầm quan trọng của

Bộ luật hình sự 1985 đối với đời sống kinh tế - chính trị cũng như xã hội của nước ta là

Trang 21

rất lớn Bộ luật hình sự 1985 đã cụ thể hóa đường lối và chính sách của Đảng và nhà nước ta, góp phầnngăn ngừa và phòng chống tội phạm, đồng thời nó là một lời răng đe mạnh mẽ với những người phạm tội, từ đó góp phần ổn định an ninh trật tự, đời sống xã hội và tạo điều kiện cho đất nước phát triển

Bộ luật hình sự năm 1985 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VII, kỳ họp thứ 9, nhất trí thông qua ngày 27 tháng 6 năm 1985 tại Hà Nội, có hiệu lực thi hành ngày 01/01/1986 gồm 12 chương và 280 điều Trong đó “tội chống người thi hành công vụ” được quy định tại Điều 205, mục C, Chương VIII: các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng và trật tự quản lý hành chính Điều 205 Bộ luật hình sự

1985 quy định như sau:

“1- Người nào dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực chống người thi hành công vụ cũng như dùng mọi thủ đoạn cưỡng ép họ thực hiện những hành vi trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 101 và Điều 109, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm

2- Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm”

Theo Bộ luật hình sự năm 1985 quy định, nếu người phạm tội chống người thi hành công vụ rơi trường hợp quy định tại khoản 2, điều 205 thì có thể bị xử phạt đến mười năm - thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng Đây là một điều rất hợp lý bởi lúc này đất nước ta mới thống nhất, chính quyền hợp nhất hai miền Bắc - Nam còn non trẻ vì thế việc răng đe những hành vi chống người thi hành công vụ, để thực hiện việc công cũng như thực thi pháp luật được một cách nhanh chóng và hiệu quả là đều hết sức cần thiết

1.3.3 Giai đoạn ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay

Trải qua quá trình xây dựng và phát triển sau nhiều năm, nước ta đã đạt được không

ít thành tựu cũng như có những bước tiến quan trọng về chính trị, kinh tế và xã hội Do

đó, để đáp ứng kịp thời với sự thay đổi của tình hình thực tế ngày 21/12/1999 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, tại kỳ họp thứ 6 đã thông qua Bộ luật hình sự mới thay cho Bộ luật hình sự năm 1985, Bộ luật hình sự mới gồm 24 chương và

344 điều, có hiệu lực từ ngày 01/07/2000 Trong đó, “tội chống người thi hành công vụ

được quy định tại Điều 257, Chương XX: Các tội xâm phạm trật tư quản lý hành chính Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định như sau:

“1 Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái

Trang 22

pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm :

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

đ) Tái phạm nguy hiểm”

Có thể thấy điểm khác biệt cơ bản của Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999 so với Điều 205 Bộ luật hình sự năm 1985 là: Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999 có bổ sung

thêm hành vi “dùng thủ đoạn khác” Có sự thay đổi như thế là một điều dễ hiểu bởi qua

thực tiễn và kinh nghiệm xét xử cho thấy, nhiều trường hợp người phạm tội không dùng

vũ lực, cũng không đe dọa dùng vũ lực nhưng vẫn cản trở được người thi hành công vụ thực hiện công vụ của mình nhưng vẫn không bị xử phạt vì không được quy định trong điều 205 Bộ luật hình sự năm 1985 Vì thế các nhà làm luật đã bổ sung thêm hành vi

“dùng thủ đoạn khác” vào Điều 257 Bộ luật hình sự 1999, đây cũng một quy định tiến

bộ của Bộ luật hình sự năm 1999 so với bộ luật hình sự năm 1985 Sau này, cũng xuất phát từ nhu cầu thay đổi các văn bản pháp luật để phù hợp hơn với tình hình thực tiễn kinh tế - xã hội của đất nước thì Bộ luật hình sự năm 1999 cũng được sửa đổi, bổ sung năm 2009 nhưng tội chống người thi hành công vụ vẫn được giữ nguyên không bị sửa đổi, bổ sung

1.4 Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Với tốc độ phát triển của nền kinh tế thị trường, đã đem lại cho đất nước và xã hội nhiều lợi ích to lớn Tuy nhiên, cùng với đó là những tiêu cực xuất hiện ngày một nhiều hơn, các tội phạm trên những lĩnh vực khác nhau cũng không ngừng phát triển và tội phạm trong lĩnh vực quản lý hành chính cũng không nằm ngoài xu thế đó mà đặc biệt là tội phạm chống người thi hành công vụ Tội phạm chống người thi hành công vụ xảy ra ngày một tăng, tính chất và mức độ một nguy hiểm cũng cao hơn Các hành vi chống người thi hành công vụ diễn ra ngày một liều lĩnh, manh động hơn trực tiếp đe dọa đến

Trang 23

sức khỏe, tính mạng của người thi hành công vụ cũng như an toàn xã hội Bên cạnh đó với đặc điểm nổi bậc của nhóm tội phạm xâm phạm quản lý hành chính, thì hành vi chống người thi hành công vụ cũng làm giảm luôn hiệu quả quản lý xã hội của các cơ quan nhà nước Bộ luật hình sự với vai trò quan trọng là công cụ quản lý xã hội của nhà nước phải giữ được vị thế của mình, nó là một trong những công cụ hiệu quả để răng đe tội phạm Vì thế, việc quy định tội chống người thi hành công vụ trong bộ luật hình sự là hết sức cần thiết, nó góp phần bảo vệ sức khỏe, tính mạng của người thi hành công vụ, đảm bảo hoạt động hiệu quả của các cơ quan nhà nước từ đó giữ vững được an ninh, trật

tự và an toàn xã hội

Trang 24

CHƯƠNG II TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRONG LUẬT HÌNH

SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH

2.1 TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH

Tội chống người thi hành công vụ được quy định tại Điều 257 bộ luật hình sự năm

1999 như sau:

1 Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

e) Tái phạm nguy hiểm;

Theo khoản 1 Điều 8 Luật Hình sự Việt Nam hiện hành thì “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hau vô ý ” Tuy nhiên, những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không được xem là tội phạm Trong luật Hình sự Việt Nam hiện hành bất cứ một hành vi nào khi đã kết luận là tội phạm thì đều phải chịu hình phạt nhất định nào đó, tùy vào mỗi mức độ phạm tội, mức độ thành khẩn, những trường hợp tăng nặng, giảm nhẹ, mà quyết định hình phạt một cách hợp lý và công bằng luôn lấy quy định pháp luật làm căn cứ Như vậy, “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước nhằm tước bỏ hoăc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội”.10

10

Uông Chung Lưu (chủ biên), Bình luận khoa học bộ luật Hình sự Việt Nam 1999 (Tái bản có sửa chửa bổ sung),

NXB Chính trị Quốc Gia-Sự Thật, 2008, tr 92

Trang 25

2.2 DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ THEO LUẬT HÌNH SỰ 1999

2.2.1 Khách thể của tội phạm chống người thi hành công vụ

Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại

Khách thể của tội phạm này là xâm phạm đến trật tự công cộng, gây trở ngại cho hoạt động bình thường của những người đang thực hiện nhiệm vụ do cơ quan nhà nước hay tổ chức giao cho.11

Đối tượng tác động của tội phạm chống người thi hành công vụ là người đang thi hành công vụ, thông qua việc xâm phạm đến người thi hành công vụ mà xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ công Người thi hành công vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử,

do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không có hưởng lương, được giao nhiệm vụ và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ của mình Ví dụ: cảnh sát giao thông, bộ đội biên phòng, cán bộ thu thuế, cán bộ thi hành án

Người đang thi hành công vụ nói tại Điều 257 Bộ luật hình sự rất đa dạng Có thể họ

là những người được Nhà nước giao cho công việc nhất định để thực hiện theo pháp luật, cũng có thể do người có thẩm quyền phân công trong từng trường hợp cụ thể Cá biệt có những trường hợp là công dân bình thường nhưng được điều động thực hiện một công vụ cấp bách nào đó vì lợi ích chung cũng được xem là người đang thi hành công vụ Tội phạm này chỉ bảo vệ những người có trách nhiệm, nhiệm vụ thực hiện “công vụ” Vì vậy,

dù công chức đang thực hiện công việc nhưng công việc này vì lợi ích hoặc động cơ cá nhân thì không được xem là phạm vi của tội phạm này nếu có hành vi chống lại công chức thực hiện công vụ đó.12

Ví dụ: anh A là cảnh sát trật tự của Công an quận, trên đường tuần tra anh A phát

hiện anh B đang chạy xe gắn máy trên đường (không có hành vi phạm luật giao thông) là người có cải vã với mình trong quán cà phê hôm trước, anh A liền ra hiệu lệnh bảo anh

B tấp vô lề đường để kiếm chuyện trả đũa việc hôm trước trong quán cà phê Khi anh B điều khiển xe dừng lại trên lề đường thì anh A không kiểm tra giấy tờ hay các hoạt động

Trang 26

khác liên quan tới việc điều kiển phương tiện giao thông mà chỉ đề cập đến chuyện riêng Không giữ được bình tĩnh anh B liền chống cự lại với anh A

Trong trường hợp này, có thể thấy B đã có hành vi chống lại người thi hành công

vụ, nhưng do anh A thực hiện công vụ vì mục đích cá nhân nên hành vi của B không bị xem là chống người thi hành công vụ

Người thi hành công vụ là người đã bắt đầu thực hiện nhiệm vụ và chưa kết thúc, nếu chưa bắt đầu hoặc đã kết thúc nhiệm vụ mà họ bị xâm phạm thì không thuộc trường hợp chống người thi hành công vụ và tùy vào trường hợp cụ thể để xác định một tội khác

có tình tiết là vì lý do công vụ của nạn nhân

Ví dụ: Sơn Sa P là Trưởng công an xã đã tổ chức bắt Trần Tuấn L, Nguyễn Bá N và

Nguyễn Văn Q tổ chức chọi gà ăn tiền Vài ngày sau, vì uất ức con mình bị bắt giam ở trụ

sở công an huyện nên Trần Văn T là cha của Trần Tuấn T đã đón đường đánh ông P gây thương tích với tỉ lệ thương tật là 10%

Qua ví dụ có thể thấy hành vi của T là hành vi phạm tội cố ý gây thương tích thuộc trường hợp quy định tại điểm k, khoản 1, Điều 104 bộ luật hình sự (vì lý do công vụ của nạn nhân), chứ không phải là hành vi chống người thi hành công vụ vì việc thi hành công

vụ bắt giữ nhóm người tổ chức chọi gà đã được ông Sơn Sa P thực hiện hoàn thành từ vài ngày trước

Người đang thi hành công vụ phải là người thi hành một công vụ hợp pháp, phải thực hiện công vụ theo một trình tự nhất định, mọi thủ tục phải tuân theo pháp luật Nếu người thi hành công vụ thực hiện công vụ một cách trái pháp luật mà bị xâm phạm thì hành vi của người xâm phạm không bị coi là hành vi chống người thi hành công vụ

Ví dụ: Tòa án nhân dân huyện D kết án Dương Văn E về tội trộm cấp tài sản và

buộc E phải bồi thường cho anh Huỳnh Văn K 3.500.000 đồng Sau khi xét xử sơ thẩm, Dương Văn E kháng cáo xin tòa án giảm nhẹ hình phạt và giảm mức bồi thường, Tòa án nhân dân tỉnh V chưa xét xử phúc thẩm vụ án trên Vì muốn thi hành ngay khoảng tiền bồi thường trên cho anh họ của mình nên Nguyễn Quốc T là Chấp hành viên của cơ quan thi hành án huyện D đã đến nhà của E, lấy danh nghĩa là Chấp hành viên yêu cầu E phải nộp số tiền 3.500.000 đồng Dương Văn E không đồng ý vì cho rằng mình đang kháng cáo bản án sơ thẩm nên không thể bị thi hành án được Hai bên đã có lời qua tiếng lại và dẫn đến xô xát, E đã đẩy T ra khỏi nhà nên T bỏ ra về Do chưa xem xét một cách đầy đủ, lại cho rằng E là đối tượng hình sự, có tiền án, tiền sự nên Cơ quan điều tra công an

Trang 27

huyện D đã khởi tố vụ án , khởi tố bị can Dương Văn E về tội chống người thi hành công

vụ Sau khi xem xét một cách toàn diện và đầy đủ, viện kiểm sát huyện D đã không phê chuẩn và yêu cầu Cơ quan điều tra đình chỉ vụ án đối với Dương Văn E, vì hành vi của Dương Văn E không phải là hành vi chống người thi hành công vụ

Từ ví dụ trên có thể thấy rằng: tuy Dương Văn E có thực hiện hành vi chống lại Nguyễn Quốc T là cán bộ của cơ quan thi hành án nhưng do Nguyễn Quốc T thực hiện công vụ không đúng pháp luật nên hành vi của E không bị coi là chống người thi hành công vụ

2.2.2 Chủ thể của tội phạm chống người thi hành công vụ

Chủ thể của tội phạm là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định là tội phạm, có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định Chủ thể của tội phạm là một dấu hiệu bắt buộc, quan trọng và không thể thiếu trong cấu thành tội phạm

Chủ thể của tội phạm chống người thi hành công vụ là chủ thể thường không phải chủ thể đặc biệt, chỉ cần hội tụ đủ điều kiện theo quy định của pháp luật là có thể trở thành chủ thể của tội phạm, tức là đạt đến độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự và không thuộc trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình

sự quy định tại Điều 13 Bộ luật hình sự

Tội chống người thi hành công vụ quy định tại Điều 257 Bộ luật hình sự có mức phạt cao nhất của khung hình phạt tại Khoản 1 là ba năm tù và tại Khoản 2, Điều 257 mức phạt cao nhất của khung hình phạt là bảy năm tù Căn cứ vào Khoản 3, Điều 8 Bộ luật hình sự thì chủ thể vi phạm Khoản 1, Điều 257 bị coi là tội phạm ít nghiêm trọng và

vi phạm Khoản 2, Điều 257 là tội phạm nghiêm trọng Điều 12 Bộ luật hình sự quy định:

“Người đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”

Như vậy, từ những phân tích trên có thể thấy chủ thể của tội chống người thi hành công vụ là người từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự và đã thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ quy định tại Điều 257 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này

Trang 28

2.2.3 Mặt khách quan của tội phạm chống người thi hành công vụ

Mặt khách quan của tội phạm là tổng hợp tất cả những biểu hiện của tội phạm diễn

ra và tồn tại bên ngoài thế giới khách quan.13 Thông qua những biểu hiện bên ngoài đó

mà con người có thể trực tiếp nhận biết được tội phạm Những biểu hiện bên ngoài của mặt khách quan của tội phạm bao gồm:

 Hành vi nguy hiểm cho xã hội

 Hậu quả nguy hiểm cho xã hội

 Mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả

 Các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội

Như vậy, theo quy định tại Điều 257 bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) thì hành vi chống người thi hành công vụ được biểu hiện tập trung ở những dạng hành vi sau đây:

* Hành vi dùng vũ lực chống người thi hành công vụ

Dùng vũ lực chống lại người thi hành công vụ là hành vi mà người phạm tội dùng sức mạnh vật chất để tấn công người đang thi hành công vụ nhằm mục đích cản trở người thi hành công vụ Hành vi dùng vũ lực có thể là: dùng tay hoặc chân đấm, đá, bóp cổ, trói người thi hành công vụ hoặc sử dụng công cụ, phương tiện để tấn công người thi hành công vụ như: con dao, mã tấu, búa, súng

Ví dụ: Đêm 29 rạng sáng 30/01/2014, tức đêm 29 rạng 30 Tết, tổ tuần tra của Công

an xã Đại Phước, huyện Càng Long gồm 06 người do anh Nguyễn Văn Trung, Trưởng Công an xã làm tổ trưởng tuần tra đảm bảo an ninh trật rự và trật tự an toàn giao thông trên địa bàn, khi đến đoạn thuộc ấp Rạch Sen, xã Đại Phước phát hiện Nguyễn Văn Cường đang cầm một cây búa và Nguyễn Văn Thành sinh năm 1990, ở ấp Dừa Đỏ, xã Nhị Long Phú cầm một ống tuýp sắt đang đứng trên đường chờ nhóm thanh niên khác để đánh nhau do có mâu thuẫn từ trước Tổ tuần tra yêu cầu Cường và Thành giao nộp hung khí; chẳng những không chấp hành, mà Cường còn dùng búa và giựt luôn ống tuýp

13

Phạm Văn Beo, Luật Hình Sự Việt Nam, Quyển 1- Phần chung, NXB Chính Trị Quốc Gia- Sự Thật, Hà Nội,

2012, tr 175- tr.176

Trang 29

của Thành đang cầm rồi hung bạo tấn công lực lượng làm nhiệm vụ Tổ tuần tra đã khống chế bắt giữ Cường 14

Qua những diễn biến và các tình tiết của vụ án trên có thể thấy việc truy cứu trách nhiệm hình sự Nguyễn Văn Cường và Nguyễn Văn Thành về tội chống người thi hành công vụ là hoàn toàn có căn cứ Thông qua việc xem xét những biểu hiện chống đối của của Cường và Thành thì có thể dễ dàng nhận thấy hành vi của hai đối tượng đã dùng vũ lực để chống lại người đang thi hành công vụ Khi những người thực thi công vụ là lực lượng tuần tra của Công an xã đến Cường và Thành biết rõ nhưng cố tình chống đối không chấp hành lệnh giao nộp vũ khí mà còn hung hãn dùng búa và ống tiếp tấn công lực lượng Công an xã Hành vi của hai đối tượng rất nguy hiểm đặc biệt là đối tượng Nguyễn Văn Cường

* Hành vi đe dọa dùng vũ lực chống lại người đang thi hành công vụ

Hành vi đe dọa dùng vũ lực chống lại người thi hành công vụ là việc dùng lời nói,

cử chỉ có tính răng đe, uy hiếp khiến người thi hành công vụ sợ hãi, phải chấm dứt việc thi hành công vụ, Sự đe dọa là thực tế có cơ sở để người bị đe dọa tin rằng lời đe dọa đó

sẽ biến thành hiện thực.15

Ví dụ: Chiều ngày 03/04/2014, Nguyễn Anh K sau tiệc nhậu cùng với nhóm bạn bè

ở quán nhậu Đường Trăng trở về nhà nhưng không thấy vợ, con ở nhà và cơm chiều cũng chưa có nên cảm thấy cáu gắt trong người Khi vợ và con của K về đến nhà, K lên tiếng chửi rủa vợ con mình Trong lúc hai bên cải nhau có lời qua tiếng lại và do có rượu, không kiềm chế được mình nên K đã có hành vi đánh vợ và phá hoại một số tài sản trong nhà Hàng xóm của K thấy sự việc ngày càng phức tạp nên đã gọi điện báo Công

an xã đến giải quyết Khi hai đồng chí là trưởng công an xã và một công an viên đến nhà

A mời K về trụ sở làm việc thì K đang cầm cây búa thường dùng để chặt củi trong nhà lên và bảo: “Tao đang dạy vợ con tao, thằng nào vô tao chém thằng đó” Một lúc sau, nhờ sự khuyên can của hàng xóm và biện pháp nghiệp vụ nên các đông chí công an đã mời được K về trụ sở làm việc

Qua ví dụ trên có thể thấy việc K cầm búa và dọa chém các đồng chí công an xã khiến các đồng chí này hoàn toàn có căn cứ để tin rằng việc đe dọa trên sẽ trở thành hiện

14

L.T, Công an Trà Vinh, Chống người thi hành công vụ bị phạt hai năm tù,

http://www.travinh.gov.vn/wps/portal/congan/!ut/cong+an+tra+vinh/tin+tuc/tin+an+ninh+tra+vinh/chong+nguoi+th i+hanh+cong+vu+bi+phat+2+nam+tu , [truy cập ngày 20- 9- 2014]

15

Phạm Văn Beo, Luật Hình Sự Việt Nam, Quyển 2- Phần các tội phạm, NXB Chính Trị Quốc Gia- Sự Thật, Hà

Nội, 2012, tr.535- tr 536

Trang 30

thực, sự chống đối của của K đối các đồng chí công an xã đã gây khó khăn cho việc thực hiện nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự tại địa phương của của các đồng chí này

Trong tội chống người thi hành công vụ, hành vi đe dọa dùng vũ vực có thể ngay tức khắc (như rút dao dí vào cổ người đang thi hành công vụ) nhưng cũng có thể có khoảng cách về mặt thời gian như ví dụ trên Ở ví dụ này, sức mãnh liệt của sự đe dọa chưa đến mức làm tê liệt ý chí kháng cự của người bị dọa, Người bị đe dọa còn có điều kiện và thời gian để suy nghĩ cân nhắc và quyết định hành động

* Hành vi ép buộc người thi hành công vụ phải thực hiện hành vi trái pháp luật Cưỡng ép người thi hành công vụ làm trái pháp luật là khống chế, ép buộc người thi hành công vụ phải làm những điều trái chức năng, quyền hạn của họ (trả lại tang vật phạm pháp, hủy hóa đơn xử phạt, ) hoặc không làm những việc thuộc chức năng, quyền hạn của họ (để xe hàng lậu đi qua trạm gác, ).16

Trên thực tế, biểu hiện của hành vi ép buộc người thi hành công vụ làm trái pháp luật thường là sử dụng những thông tin gây ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm hay uy tín của người thi hành công vụ như bí mật đời tư hoặc có thể là hành vi vi phạm pháp luật của người đang thi hành công vụ , ép buộc người thi hành công vụ phải thỏa mãn yêu cầu trái pháp luật của các đối tượng đưa ra trong khi người thi hành công vụ phải thực hiện và có đủ điều kiện để thực hiện công vụ đó

Ví dụ: Sáng ngày 08/02/2010 sau khi phát hiện một xe trở gỗ trái phép, hai đồng

chí cán bộ kiểm lâm Trà Vinh đã kịp thời đuổi theo và ngăn lại, yêu cầu đưa xe về trụ sở

cơ quan kiểm lâm làm việc Chủ xe là Nguyễn Tuấn V rút tiền ra nhưng mua chuộc nhưng không được Sau đó V liền rút ra một sắp ảnh trong đó có ảnh hai đồng chí cán bộ kiểm lâm này đang có những hành động không đẹp mắt với mấy cô tiếp viên trong quán Karaoke và nói: “nếu không để xe đi thì ngày mai sắp ảnh này sẽ nằm trên bàn làm việc của sếp tụi bây” Trước lời đe dọa đó, hai đồng chí cán bộ kiểm lâm nhận lại sắp ảnh và cho xe gỗ của V đi qua trạm gác

Qua ví dụ trên, có thể thấy hành vi của V mặc dù không sử dụng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực để chống lại hai đồng chí cán bộ kiểm lâm nhưng y đã dùng những bức ảnh chụp được cảnh không hay của hai đồng chí này và dùng lời nói để đe dọa, ép buộc hai đồng chí này làm trái với quy định của pháp luật là cho xe trở gỗ của V đi qua trạm gác,

16

Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Tập 2, NXB Công An Nhân Dân, Hà Nội, 2007, tr

261

Trang 31

hai đồng chí này cũng đồng ý mặc dù họ phải thực hiện nhiệm vụ và có đủ điều kiện để thực hiện nhiệm vụ của mình

* Dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ

Các thủ đoạn khác chống người thi hành công vụ là hành vi bôi nhọ, vu khống, đe dọa sẽ cung cấp những những tin tức bất lợi của người thi hành công vụ 17

Các thủ đoạn khác mà người phạm tội dùng để ngăn cản người thi hành công vụ để

họ không thực hiện được nhiệm vụ của mình hết sức đa dạng và phong phú, những thủ đoạn này có thể là hành vi hành động hoặc không hành động Khoản 1, Điều 205 Bộ luật hình sự 1985 không quy định tình tiết này

Việc các nhà làm luật quy định thêm hành vi khách quan này trong Điều 257 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi,bổ sung 2009) là hoàn toàn hợp lý, xuất phát từ thực tiễn đấu tranh phòng chống loại tội phạm này Thực tiễn đã chứng minh các dạng hành vi chống người thi hành công vụ ngày càng phức tạp với nhiều thủ đoạn khác nhau Thực tiễn xét

xử cũng phản ánh cho chúng ta nhiều trường hợp người phạm tội không dùng vũ lực, không đe dọa dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ nhưng vẫn cản trở được việc thi hành công vụ của họ

Ví dụ: Chiều ngày 15/06/2011 sau khi nhận được điện báo của người dân đang có

vụ đánh bạc ăn thua số tiền lớn tại nhà của Nguyễn Thị L, đồng chí Phan Minh C là trưởng công an huyện cùng bốn đồng chí khác tiến hành bao vây bắt quả tang Các đồng chí khác ở ngoài canh trừng, các đồng chí C vào trong để ra đọc lệnh bắt khẩn cấp các đối tượng Thấy đồng chí C vào phòng, để tạo điều kiện cho các đối tượng khác chạy chốn ra ngoài thông qua của sổ nhà, L đã chốt cửa lại, tự cởi bỏ quần áo ôm chặt lấy C rồi kêu lớn tiếng “có người muốn cưỡng bức tôi”, anh C chi hô các đồng chí còn lại vào bắt nhưng các đối tượng khác đã thoát được Sau khi được tăng cường lực lượng thì các đồng chí này đã bắt được các đối tượng còn lại

Như ví dụ trên, có thể thấy hành vi tự cởi bỏ quần áo của của L trước mặt chiến sĩ công an đang làm nhiệm vụ và ôm chặt chiến sĩ công an của L tuy không sử dụng vũ lực,

đe dọa dùng vũ lực hay dùng lời lẽ ép buộc người thi hành công vụ nhưng hành động của

L đã khiến cho việc thi hành công vụ của các chiến sĩ công an gặp khó khăn

17

Phạm Văn Beo, Luật Hình Sự Việt Nam, Quyển 2- Phần các tội phạm, NXB Chính Trị Quốc Gia- Sự Thật, Hà

Nội, 2012, tr.536

Trang 32

Tất cả các hành vi trên được người phạm tội thực hiện đối với người thi hành công

vụ nhằm mục đích cản trở người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ công hay ép buộc người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật nhưng có lợi cho người phạm tội Tội phạm chống người thi hành công vụ được hoàn thành khi người phạm tội thực hiện một trong những hành vi nêu trên để cản trở người thi hành công vụ thực hiện công

vụ của mình hoặc buộc người thi hành công vụ làm trái pháp luật Việc người thi hành công vụ có thực hiện hay không thực hiện hành vi theo sự cưỡng ép của người phạm tội hay việc công vụ được hoàn thành hoặc không được hoàn thành không có ý nghĩa định tội đối với hành vi phạm tội này

Ngoài ra, khi người phạm tội thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ mà gây thương tích hoặc làm chết người đang thi hành công vụ thì còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích theo điểm k, Khoản 2, Điều 104 hoặc tội giết người theo quy định tại điểm d, Khoản 1, Điều 93 Bộ luật hình sự hiện hành

2.2.4 Mặt chủ quan của tội phạm chống người thi hành công vụ

Tội phạm là sự thống nhất của hai mặt khách quan và chủ quan Nếu mặt khách quan là những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm thì mặt chủ quan là hoạt động tâm lý bên trong của tội phạm Trong luật hình sự khi nghiên cứu về một tội phạm bất kì thì chúng ta không thể tách rời hai mặt khách quan và chủ quan được, đối với tội chống người thi hành công vụ cũng thế

Mặt chủ quan của tội phạm là diễn biến bên trong, phản ánh trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả nguy hiểm do hành vi đó gây ra Mặt chủ quan của tội chống người thi hành công vụ là diễn biến bên trong, phản ánh trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi chống người thi hành công vụ và hậu quả phát sinh từ hành vi chống người thi hành công vụ gây ra

Cũng như các tội phạm khác nói chung và tội chống người thi hành công vụ nói riêng thì dấu hiệu của mặt chủ quan của tội phạm là những biểu hiện tâm lý bên trong bao gồm: Dấu hiệu lỗi, động cơ và mục đích

 Dấu hiệu lỗi

Trang 33

“Lỗi là thái độ tâm lí của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức là cố ý hoặc vô ý”.18

Lỗi được phản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm, hoạt động của con người là hoạt động có ý thức vì mọi biểu hiện của con người bằng hành vi cụ thể bao giờ cũng phản ánh trạng thái tâm lý bên trong dưới sự điều kiển của lý trí, ý trí và mong muốn đạt được mục đích nhất định

Trong luật hình sự Việt Nam, nguyên tắc “lỗi” được coi là nguyên tắc cơ bản Việc thừa nhận nguyên tắc có lỗi chính là sự thừa nhận và tôn trọng tự do thực sự của con người Đó là cơ sở đảm bảo cho trách nhiệm hình sự có khả năng khách quan thực hiện mục đích: không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người

có ích cho xã hội cho đất nước, có ý thức tuân thủ pháp luật, quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật và đấu tranh phòng chống tội phạm

Một hành vi gây thiệt hại cho xã hội sẽ bị coi là có lỗi nếu hành vi đó là kết quả lựa chọn của chủ thể, trong khi chủ thể có đủ điều kiện khách quan, chủ quan để lựa chọn và thực hiện một xử sự khác phù hợp với yêu cầu của xã hội Lỗi bao giờ cũng đi liền với một hành vi nguy hiểm cho xã hội, lỗi trong luật hình sự Việt Nam là lỗi cá nhân, lỗi của một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội

Trong tất cả các dấu hiệu thì “lỗi” là dấu hiệu không thể thiếu được và bắt buộc phải

có trong tất cả các cấu thành tội phạm Điều đó thể hiện tính thống nhất giữa ý trí và hành động của một người gắn liền giữa hai yếu tố bên trong là “lỗi” và biểu hiện bên ngoài là

“hành vi”

Đối với tội chống người thi hành công vụ thì lỗi được xác định trong mặt chủ quan của cấu thành tội phạm là lỗi cố ý trực tiếp Nghĩa là người phạm tội ý thức được đầy đủ hành vi trái pháp luật của mình là đang chống lại người thi hành công vụ và mong muốn việc thực hiện hành vi này khiến cho người đang thi hành công vụ không thể hoàn thành được công vụ mà họ đang thực hiện Dấu hiệu chủ quan của người thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ thể hiện ở mặt lý trí và ý trí như sau:

+ Lý trí: Người thực hiện hành vi nhận thức rõ tính chất nguy hiểm trong hành vi của mình, thấy được hậu quả nguy hiểm Trong tội phạm chống người thi hành công vụ, người thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ nhận thức rõ tính chất nguy hiểm

18

Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự (Phần chung), Bình luận chuyên sâu, Nxb TP Hồ Chí Minh,

TP Hồ Chí Minh, 2006, tr 63

Trang 34

trong hành vi của mình, thấy trước được hậu quả nguy hiểm do hành vi của mình gây ra Tội chống người thi hành công vụ có cấu thành tội phạm hình thức nên không cần đặt ra vấn đề thấy trước hay không thấy trước hậu quả xảy ra

Ví dụ: Sau khi trộm được một chiếc xe đạp tại nhà của A, B đem đi tiêu thụ và lấy

tiền tiêu xài Khi thực hiện hành vi trộm chiếc xe đạp không bị ai phát hiện nên B nghĩ rằng không ai biết nên sau khi tiêu thụ tài sản trộm được B quay về nhà nghĩ ngơi nhưng việc B trộm chiếc xe đạp đã bị hành xóm của A phát hiện và báo với công an xã Trong lúc ở nhà B nhìn thấy trên đường đến nhà mình có ba đồng chí Công an đang đi bộ hướng tới, biết mọi chuyện đã bị phát hiện nên B chuẫn bị sẵn gạch, đá để sẵn trong nhà Khi các chiến sĩ công an tiến gần đến nhà của B, B khóa cửa cố thủ trong nhà và ném gạch, đá đã chuẩn bị sẵn vào chiến sĩ Công an định tẩu thoát Hành động của B không thể ngăn cản được lực lượng công an và B bị bắt

Qua ví dụ trên có thể thấy B nhận thức rõ hành vi ném đá của mình vào lực lượng công an đang làm nhiệm vụ là hết sức nguy hiểm, có thể gây thương tích cho các đồng chí công an nhưng B vẫn quyết tâm thực hiện

+ Ý trí: Người thực hiện hành vi tội phạm dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp bao giờ cũng mong muốn hậu quả xảy ra mặc dù hậu quả đó có thể chưa xảy ra hoặc không xảy

ra Sự mong muốn này trùng hợp với mục đích cần đạt được khi thực hiện hành vi phạm tội Đối với tội phạm chống người thi hành công vụ thì người phạm tội nhận thức rõ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi chống lại người thi hành công vụ, thấy trước được hành vi này sẽ cản trở, gây khó khăn cho việc thực thi công vụ của người đang thi hành công vụ và người phạm tội mong muốn điều đó xảy ra Cũng theo ví dụ trên thì có thể thấy B biết rằng hành vi ném đá vào lực lượng công an có thể gây khó khăn và cản trở cho lực lượng công an nếu muốn bắt được mình và B cũng mong muốn điều đó xảy ra

19

Phạm Văn Beo, Luật Hình Sự Việt Nam, Quyển 1- Phần chung, NXB Chính Trị Quốc Gia- Sự Thật, Hà Nội,

2009, tr 222

Trang 35

Trong luật hình sự Việt Nam động cơ phạm tội nói chung không được phản ánh trong cấu thành tội phạm cơ bản là dấu hiệu định tội Tuy nhiên, trong một số trường hợp như “sử dụng tài sản” (Điều 142 Bộ luật hình sự) động cơ được phản ánh là dấu hiệu định tội Động cơ phạm tội cũng có thể được phản ánh trong các cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc giảm nhẹ

Động cơ phạm tội của người chống người thi hành công vụ rất phong phú và đa dạng nhưng thường mang tính tư lợi cá nhân hoặc vì lợi ích vật chất cụ thể mà người phạm tội bị mất nếu bị thi hành công vụ như: tiền phạt, hàng hóa bị tịch thu,…nên người phạm tội mới có hành vi chống lại người thi hành công vụ

Trong khi đó, mục đích phạm tội là điểm đến cuối cùng mà người phạm tội đặt ra cho hành vi phạm tội phải đạt tới (kết quả mà người phạm tội mong muốn đạt được).20Mục đích là cái cần đạt được và người phạm tội luôn luôn mong muốn đạt được những mục đích đạt ra Mục đích phạm tội chỉ xảy ra với những hành vi phạm tội cố ý trực tiếp

vì chỉ trong trường hợp phạm tội cố ý trực tiếp người phạm tội mới có sự mong muốn gây

ra tội phạm để đạt được những mục đích nhất định

Đối với tội phạm chống người thi hành công vụ thì mục đích của tội phạm là chống lại người thi hành công vụ hay cụ thể hơn là tội phạm mong muốn việc thực thi công vụ của người thi hành công vụ không được hoàn thành Tuy nhiên, nếu căn cứ vào mục đích phạm tội của người phạm tội với người thi hành công vụ thì người này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội khác mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chống người thi hành công vụ Ví dụ: dùng dao uy hiếp người đang thi hành công vụ để cướp tài sản, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản Hay trường hợp người phạm tội có hành vi chống lại nhân viên nhà nước, cán bộ đang thi hành công vụ nhưng nhằm mục đích chống lại chính quyền nhân dân thì có thể phạm tội khủng bố hoặc tội phá rối

an ninh Như vậy, trong tội chống người thi hành công vụ thì dấu hiệu mục đích trong mặt chủ quan của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc để phân biệt tội này với một số tội khác.Tóm lại, việc nghiên cứu, phân tích và xem xét các yếu tố cấu thành tội phạm nói chung và tội chống người thi hành công vụ nói riêng mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng và đặc biệt cần thiết bởi vì chúng là căn cứ pháp lý duy nhất để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội khi họ thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ Các hành vi chống người thi hành công vụ nếu thỏa mãn các yêu tố cấu thành

20

Phạm Văn Beo, Luật Hình Sự Việt Nam, Quyển 1- Phần chung, NXB Chính Trị Quốc Gia- Sự Thật, Hà Nội,

2009, tr 224

Trang 36

của tội phạm giúp ta định tội danh chính xác không để loạt tội phạm cũng như xử oan người vô tội, góp phần tích cực vào công tác phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm chống người thi hành công vụ nói riêng

2.3 CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ VÀ TRÁCH NHIỆM HÌNH

SỰ CỦA TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ

2.3.1 Trách nhiệm hình sự của tội chống người thi hành công vụ không có tình tiết định khung tăng nặng

Đây là cấu thành tội phạm cơ bản của tội chống người thi hành công vụ, được quy định tại Khoản 1, Điều 257 Bộ luật hình sự Người phạm tội nếu rơi vào trường hợp được quy định tại Khoản 1, Điều 257 thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm, đây là trường hợp thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng Đối với các loại tội phạm khác nhau khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội thì Tòa án phải căn cứ theo các quy định về quyết định hình phạt tại Chương VII Bộ luật hình sự (từ Điều 45 đến Điều 54) Với tội chống người thi hành công vụ cũng thế, khi xem xét quyết định hình phạt đối với người phạm tội chống người thi hành công vụ thì Tòa án cũng phải tuân theo các quy tắc về quyết định hình phạt nêu trên

Về hình phạt, khi người phạm tội rơi vào trường hợp quy định tại Khoản 1, Điều

257 thì có thể bị áp dụng một trong hai hình phạt đó là: cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm Nếu người phạm tội chống người thi hành công vụ nhưng có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hay có tình tiết tăng nặng nhưng mức độ không đáng kể thì

có thể được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc áp dụng tù giam dưới sáu tháng nhưng không được dưới ba tháng tù vì đối với hình phạt tù thì mức thấp nhất là ba tháng Nếu người phạm tội chống người thi hành công vụ có nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự nhưng không có tình tiết giảm nhẹ hay tình tiết giảm nhẹ không đáng kể thì có thể bị phạt tù lên đến ba năm Như vậy, so với quy định về tội chống người thi hành công vụ quy định tại Điều 205

Bộ luật hình sự 1985 “người nào dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực chống người thi hành công vụ cũng như dùng mọi thủ đoạn cưỡng ép họ thực hiện những hành vi trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 101 và Điều 109 thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm” thì quy định

Trang 37

Khoản 1, Điều 257 bộ luật hình sự năm 1999 nặng hơn khi quy định hình phạt cải tạo không giam giữ lên đến ba năm (giữ nguyên mức hình phạt tù)

2.3.2 Trách nhiệm hình sự của tội chống người thi hành công vụ có tình tiết định khung tăng nặng

Điều 257 Bộ luật hình sự 1999 đã kế thừa tình tiết tăng nặng định khung “gây hậu quả nghiêm trọng” của Điều 205 Bộ luật hình sự 1985, đồng thời với sự kế thừa đó là việc quy định thêm một số tình tiết tăng nặng định khung như: Phạm tội có tổ chức; phạm tội nhiều lần; xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; gây hậu quả nghiêm trọng Việc quy định như thế nhằm mục đích phản ánh một cách đầy đủ hơn tính nguy hiểm của các hành vi mà người phạm tội thực hiện để chống lại người thi hành công vụ,

từ đó đề ra các hình phạt tương ứng với mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi của người phạm tội gây ra

2.3.2.1 Phạm tội có tổ chức

Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.21 Phạm tội chống người thi hành công vụ có tổ chức là trường hợp nhiều người cố ý cùng bàn bạc, câu kết chặt chẽ với nhau, vạch ra kế hoạch

để thực hiện việc chống người thi hành công vụ, dưới sự điều khiển thống nhất của người cầm đầu.22

Trong những vụ án chống người thi hành công vụ thì phụ thuộc vào quy mô và tính chất của hành động chống người thi hành công vụ mà có thể có những người giữ những vai trò khác nhau như: người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức

Người tổ chức: Người tổ chức trong tội phạm chống người thi hành công vụ là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm chống người thi hành công vụ

và chỉ trong trường hợp phạm tội có tổ chức thì mới có người tổ chức Người tổ chức thường có những hành động như: khởi xướng ý tưởng phạm tội; vạch kế hoạch thực hiện tội phạm cũng như che giấu tội phạm khi thực hiện xong hành vi chống người thi hành công vụ; rủ rê, lôi kéo người khác cùng thực hiện hành chống người thi hành công vụ; phân công trách nhiệm cho những người đồng phạm để thống nhất hành động thực hiện chống lại người thi hành công vụ; điều khiển hành động của những người người đồng

21

Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009), điều 20 , khoản 3

22

Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học bộ luật hình sự phần các tội phạm, Tập 8- Các tội xâm phạm trật tự quản lý

hành chính và các tội phạm về môi trường, NXB Tổng Hợp, TP HCM, 2005, tr 24

Trang 38

phạm chống người thi hành công vụ; đôn đốc thúc đẩy những người đồng phạm thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ

Người thực hành: Người thực hành trong tội phạm chống người thi hành công

vụ là người trực tiếp thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ Hành vi mà người thực hành có thể thực hiện là: dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ, dùng thủ đoạn để cản trở người thi hành công vụ hoặc là người trực tiếp dùng thủ đoạn khác để ép buộc người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật Người thực hành là người có vai trò quyết định việc thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ, vì họ là người trực tiếp thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ Nếu không có người thực hành thì tội chống người thi hành công vụ chỉ dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, mục đích của tội phạm chưa được thực hiện; hậu quả vật chất của tội phạm chưa xảy ra và trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm khác trong tội phạm chống người thi hành công vụ sẽ được xem xét theo Điều 17 Bộ luật hình

sự (chỉ chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự) Rõ ràng, trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm trong tội chống người thi hành công vụ phụ thuộc rất nhiều vào hành vi của người thực hành

Thực tiễn xét xử cho thấy, không phải bao giờ người thực hành cũng thực hiện đúng những hành vi do các đông phạm khác đặt ra, có trường hợp người thực hành tự ý không thực hiện tội phạm hoặc tự ý nửa chừng chấm dứt việc tội phạm, nhưng thực tế cũng không ít trường hợp người thực hành tự ý thực hiện những hành vi vượt quá yêu cầu của các đồng phạm khác đặt ra Khoa học luật hình sự gọi đó là hành vi thái quá của người thực hành trong vụ án có đồng phạm Luật hình sự của nhiều nước ghi rõ chế định

“thái quá” của người thực hành trong Bộ luật hình sự hoặc trong các văn bản luật hình

sự Ở nước ta chế định này chưa được ghi nhận trong Bộ luật hình sự, nhưng về lý luận cũng như thực tiễn xét xử đều thừa nhận chế định này khi cần phải xem xét đến trách nhiệm hình sự của người thực hành cũng như những người đồng phạm khác trong một vụ

án có đồng phạm Hiện nay, đa số ý kiến cho rằng khi Bộ luật hình sự của nước ta được sửa đổi, bổ sung, cần quy định chế định “hành vi thái quá của người thực hành” cùng với chế định đồng phạm đã được quy định tại Điều 17 Bộ luật hình sự hiện hành Về lý luận cũng như thực tiễn xét xử đã khẳng định, hành vi thái quá của người thực hành trong vụ

án có đồng phạm và hậu quả do hành vi thái quá đó gây ra, chỉ người thực hành phải chịu

trách nhiệm hình sự còn những người đồng phạm khác không phải chịu về việc “thái

Trang 39

quá” đó.23 Như vậy, có thể khẳng định rằng chỉ người thực hành mới phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi thái quá do mình gây ra còn những người đồng phạm còn lại

không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi “thái quá” do người thực hành gây

ra

Ví dụ: Nguyễn Văn K thành lập một nhóm tội phạm chuyên thực hiện những vụ

trộm, cướp sản trên địa bàn tỉnh Z Nhóm của K bao gồm: Phùng Quốc L, Nguyễn Trần

E và hai anh em ruột là Đinh Văn B và Đinh Văn Đ trong đó K là người cầm đầu.Trước khi tiến hành các vụ trộm, cướp tài sản chúng luôn vạch ra kế hoạch chu đáo, chuẩn bị kĩ lưỡng công cụ và phương tiện phạm tội Sau một thời gian nghĩ ngơi để lẫn trốn công an chúng quyết định đột nhập tiệm vàng Kim Cương để trộm tài sản Trước khi thực hiện hành vi trộm tài sản ở tiệm vàng Kim Cương chúng đã bàn bạc kế hoạc kĩ lưỡng, K phân công L và E cắt cửa sắt và đột nhập vào trong để trộm tài sản và K sẽ canh trừng bên ngoài, hai anh em B và Đ có nhiệm vụ canh gác ở hẻm đối diện của tiệm vàng vì đường hẻm này sẽ là nơi bọn chúng tẩu thoát nếu bị truy đuổi, khi phân công nhiệm vụ K dặn dò

B và Đ như sau: “Hai đứa bây không được manh động, không cần gây thương tích cho người truy đuổi bọn mình, chỉ cần cản đường không cho họ đuổi theo là được”.Đêm 24/07/2014 chúng thực hiện kế hoạch trộm tài sản ở tiệm vàng Kim Cương, bọn chúng thực hiện như kế hoạch đã bàn nhưng không may cho bọn chúng khi bị lực lượng Cảnh sát trật tự đi tuần tra phát hiện, khi bị lực lượng tuần tra đuổi bắt K, L và E chạy vào đường hẻm mà B và Đ đang chờ sẵng Khi thấy đồng bọ bị truy đuổi B và Đ đã dùng một

số gỗ và bàn ghế đã chuẩn bị sẵn văng ra đường để ngăn chặn lực lượng tuần tra, do không chú ý và nhóm trộm tài sản có chuẩn bị trước nên một đồng chí chạy xe dẫn đầu

đã bị ngã, thấy đồng chí này bị ngã B và Đ đã dùng thanh sắt đánh vào người của đồng chí này gây tỉ lệ thương tật 15% Có thể thấy hành vi tự ý đánh vào đầu cảnh sát là hành

vi thái quá của B và Đ vì thế chỉ B và Đ mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích đối với người thi hành công vụ mà thôi

Người xúi giục: Trong đồng phạm của tội chống người thi hành công vụ thì

người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện các hành vi chống lại người thi hành công vụ Hành vi kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện hành vi chống lại người thi hành công vụ chỉ được coi là người đồng phạm trong vụ

án có tổ chức, khi hành vi xúi giục có liên quan trực tiếp đến toàn bộ hoạt động của tội chống người thi hành công vụ của những người đồng phạm khác và người thực hiện tội

23

Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học bộ luật hình sự phần các tội phạm, Tập 8- Các tội xâm phạm trật tự quản lý

hành chính và các tội phạm về môi trường, NXB Tổng Hợp, TP HCM, 2005, tr 25- tr 26

Trang 40

phạm trước khi bị xúi giục chưa có ý định phạm tội, vì có người khác xúi giục nên họ mới nảy sinh ý định phạm tội Nếu việc xúi giục không liên quan trực tiếp đến hoạt động chống người thi hành công vụ của những người đồng phạm khác và người thực hiện đã

có sẵn ý định thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ, thì không phải là người xúi giục trong vụ án có đồng phạm

Người xúi giục thường là người giấu mặt trong các vụ án đồng phạm Tuy nhiên nếu xúi giục trẻ em chưa đủ 14 tuổi, người không có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ, thì hành vi xúi giục đó bị coi là hành vi thực hành thông qua hành vi của người không chịu trách nhiệm hình sự trở thành công cụ, phương tiện để người xúi giục thực hiện tội phạm Nếu xúi giục trẻ em từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội thì người xúi giục còn phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “xúi giục người chưa thành niên phạm tội” được quy định tại điểm n, Khoản 2, Điều 48 Bộ luật hình sự

Trong trường hợp người xúi giục vừa là người tổ chức và cũng là người thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ, thì họ trở thành người tổ chức trong vụ án chống người thi hành công vụ có đồng phạm và nếu xúi giục người chưa thành niên phạm tội thì họ còn phải chịu tình tiết tăng nặng

Hành vi xúi giục phải cụ thể, thực tế nghĩa là người xúi giục thực hiện hành vi xúi giục phải nhằm vào mục đích chống người thi hành công vụ, nếu một người có những lời nói mang tính chất chung chung hoặc có tính thông báo, gợi ý thì họ không phải là người xúi giục và cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của người thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ

Ví dụ: Tiêu Văn N là người làm việc trong ủy ban xã nên N biết được thông tin

khu chợ tự phát gần nhà mình ở sẽ bị giải tỏa Trên đường đi làm về ngang qua khu chợ

N thông báo cho những người buôn bán trong chợ biết ngày mai sẽ có đoàn cưỡng chế của xã xuống giải tỏa khu chợ này, mọi người tranh thủ mà đối phó Ngày hôm sau khi đoàn cưỡng chế xuống thi hành nhiệm vụ đã có một số người đã có hành vi chống đối, cản trở lực lượng giải tỏa Trong trường hợp này tuy N có thông báo chủ trương giải tỏa

khu chợ của xã nhưng N chỉ dặn dò mọi người tranh thủ đối phó nhìn thì có vẻ là xúi giục nhưng việc làm của N không phải là nguyên nhân trực tiếp dấn đến việc chống lại cán bị

giải tỏa của những người buôn bán trong chợ

Người giúp sức: Là người tạo điều kiện vật chất hoặc điều kiện tinh thần cho

việc chống lại người thi hành công vụ Trong vụ án chống người thi hành công vụ có

Ngày đăng: 03/10/2015, 05:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1.1:  Tình hình  tội phạm  và  tội  chống  người  thi  hành  công  vụ  trên  địa bàn  tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2007 – 2011 - thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh trà vinh
ng 1.1: Tình hình tội phạm và tội chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2007 – 2011 (Trang 57)
Bảng 1.2: Bảng tổng hợp hành vi chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh  Trà Vinh (2007 – 2011) - thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh trà vinh
Bảng 1.2 Bảng tổng hợp hành vi chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Trà Vinh (2007 – 2011) (Trang 58)
Bảng 1.3 Biểu đồ thực trạng tình hình tội chống người thi hành công vụ trên địa  bàn tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2007 – 2011 - thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh trà vinh
Bảng 1.3 Biểu đồ thực trạng tình hình tội chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2007 – 2011 (Trang 59)
Bảng 1.5. Biểu đồ diễn biến tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ trên  địa bàn tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2007 – 2011 - thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh trà vinh
Bảng 1.5. Biểu đồ diễn biến tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2007 – 2011 (Trang 60)
Bảng 1.4. Sự tăng trưởng của tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ trên  địa bàn tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2007- 2011 - thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh trà vinh
Bảng 1.4. Sự tăng trưởng của tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2007- 2011 (Trang 60)
Bảng 1.6 Cơ cấu số bị cáo trên số vụ án giữa tội chống người thi hành công vụ với - thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh trà vinh
Bảng 1.6 Cơ cấu số bị cáo trên số vụ án giữa tội chống người thi hành công vụ với (Trang 63)
Bảng 1.7. Cơ cấu theo mức độ của tình hình tội phạm chống người thi hành công - thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh trà vinh
Bảng 1.7. Cơ cấu theo mức độ của tình hình tội phạm chống người thi hành công (Trang 64)
Bảng 1.8. Cơ cấu hình phạt của tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ  trên địa bàn tỉnh Trà Vinh - thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh trà vinh
Bảng 1.8. Cơ cấu hình phạt của tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Trà Vinh (Trang 65)
Bảng  1.9.  Cơ  cấu  nhân  thân  (dân  tộc,  giới  tính,  độ  tuổi) của  tình  hình  tội phạm  chống  người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Trà Vinh giai đoạn từ năm 2007 – 2011. - thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh trà vinh
ng 1.9. Cơ cấu nhân thân (dân tộc, giới tính, độ tuổi) của tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Trà Vinh giai đoạn từ năm 2007 – 2011 (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w