Khái niệm về Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự Hội thẩm nhân dân là một chế định quan trọng trong pháp luật tố tụng hình sự,thể hiện quyền làm chủ của nhân dân trong hoạt động xét
Trang 1KHOA KHOA LU LU LUẬ Ậ ẬT T
���
LU LUẬ Ậ ẬN N N V V VĂ Ă ĂN N N T T TỐ Ố ỐT T T NGHI NGHI NGHIỆ Ệ ỆP P
NI NIÊ Ê ÊN N N KH KH KHÓ Ó ÓA: A: A: 2011 2011 2011 2015 2015
Đề Đề T T Tà à àiiii
ĐỊ ĐỊA A A V V VỊỊỊỊ PH PH PHÁ Á ÁP P P L L LÝ Ý Ý C C CỦ Ủ ỦA A A H H HỘ Ộ ỘIIII TH TH THẨ Ẩ ẨM M M NH NH NHÂ Â ÂN N
D DÂ Â ÂN N N TRONG TRONG TRONG T T TỐ Ố Ố T T TỤ Ụ ỤNG NG NG H H HÌÌÌÌNH NH NH S S SỰ Ự Ự VI VI VIỆ Ệ ỆT T T NAM NAM
Trang 2L LỜ Ờ ỜIIII C C CẢ Ả ẢM M M Ơ Ơ ƠN N
Gần bốn năm học trôi qua, cánh cửa trường Đại học Cần Thơ dần khép lại đối với trang vở đời tôi Nhìn lại quãng thời gian theo học tại trường tuy thật gian nan, vất vả nhưng đã trang bị cho tôi những vốn kiến thức, những kinh nghiệm sống quý báu làm hành trang bước vào đời Người ta vẫn thường nói không có thành công nào mà không có sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít dù nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp từ người khác Thật vậy, để đạt được kết quả như hôm nay - hoàn thành luận văn này, ngoài sự nổ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của thầy cô, gia đình, bạn bè.
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi đến cô hướng dẫn luận văn của tôi, Thạc
sĩ Mạc Giáng Châu, người đã chỉ dẫn, giúp đỡ tôi tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu để đạt kết quả như ngày hôm nay.
Tôi cũng xin cảm ơn bạn bè, gia đình đã luôn bên tôi, cổ vũ và động viên tôi những lúc khó khăn để có thể vượt qua và hoàn thành tốt luận văn này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài luận văn này nhưng chắc chắn vẫn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn sinh viên để luận văn được hoàn thiện hơn.
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
Người viết
Lê Thị Ngọc Quí
Trang 3NH NHẬ Ậ ẬN N N X X XÉ É ÉT T T C C CỦ Ủ ỦA A A GI GI GIẢ Ả ẢNG NG NG VI VI VIÊ Ê ÊN N N H H HƯỚ ƯỚ ƯỚNG NG NG D D DẪ Ẫ ẪN N
�
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
Giảng viên hướng dẫn
Mạc Giáng Châu
Trang 4NH NHẬ Ậ ẬN N N X X XÉ É ÉT T T C C CỦ Ủ ỦA A A GI GI GIẢ Ả ẢNG NG NG VI VI VIÊ Ê ÊN N N PH PH PHẢ Ả ẢN N N BI BI BIỆ Ệ ỆN N
�
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
Giảng viên phản biện
Trang 5NH NHẬ Ậ ẬN N N X X XÉ É ÉT T T C C CỦ Ủ ỦA A A GI GI GIẢ Ả ẢNG NG NG VI VI VIÊ Ê ÊN N N PH PH PHẢ Ả ẢN N N BI BI BIỆ Ệ ỆN N
�
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
Giảng viên phản biện
Trang 61.1.1 Khái niệm địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự 4
1.1.1.1 Khái niệm về Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự 4 1.1.1.2 Khái niệm địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình
1.2 1.2 C C Cơ ơ ơ ssssở ở ở llllý ý ý lu lu luậ ậ ận n n v v vềềềề đị đị địa a a v v vịịịị ph ph phá á áp p p llllý ý ý ccccủ ủ ủa a a H H Hộ ộ ộiiii th th thẩ ẩ ẩm m m nh nh nhâ â ân n n d d dâ â ân n n trong trong trong ttttố ố ố ttttụ ụ ụng ng
h hìììình nh nh ssssự ự ự Vi Vi Việệệệtttt Nam Nam Nam 13 13
1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân 131.2.2 Vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự 151.2.3 Những nguyên tắc cơ bản của hoạt động xét xử và sự tác động đến địa vịpháp lý của Hội thẩm nhân dân 18
1.2.3.1 Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia 18 1.2.3.2 Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật 20 1.2.3.3 Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số 22
1.3 1.3 M M Mố ố ốiiii quan quan quan h h hệệệệ gi gi giữ ữ ữa a a H H Hộ ộ ộiiii th th thẩ ẩ ẩm m m nh nh nhâ â ân n n d d dâ â ân n n v v vớ ớ ớiiii ccccá á ácccc ch ch chứ ứ ứcccc danh danh danh ttttư ư ư ph ph phá á áp p p kh kh khá á ácccc trong trong ho ho hoạ ạ ạtttt độ độ động ng ng ttttố ố ố ttttụ ụ ụng ng ng h h hìììình nh nh ssssự ự ự 24 24
1.3.1 Mối quan hệ giữa Hội thẩm nhân dân với Thẩm phán, Thư ký Tòa án 25
1.3.1.1 Mối quan hệ giữa Hội thẩm nhân dân với Thẩm phán 25 1.3.1.2 Mối quan hệ giữa Hội thẩm nhân dân và Thư ký phiên tòa 25
1.3.2 Mối quan hệ giữa Hội thẩm nhân dân với các chức danh tư pháp kháctrong hoạt động tố tụng 26
1.3.2.1 Mối quan hệ giữa Hội thẩm nhân dân và Điều tra viên 26 1.3.2.2 Mối quan hệ giữa Hội thẩm nhân dân và Kiểm sát viên 27
Trang 7h hìììình nh nh ssssự ự ự Vi Vi Việệệệtttt Nam Nam Nam 29 29
2.1.1 Hội thẩm nhân dân là người nhân danh Nhà nước thực hiện các hoạtđộng tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật 292.1.2 Hội thẩm nhân dân giữ vai trò trung tâm trong việc phát huy dân chủ,góp phần nâng cao uy tín, sức mạnh của Tòa án nhân dân 302.1.3 Hoạt động của Hội thẩm nhân dân góp phần quyết định trong việc bảo
vệ trật tự pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa 30
2.2 2.2 Đị Đị Địa a a v v vịịịị ph ph phá á áp p p llllý ý ý ccccủ ủ ủa a a H H Hộ ộ ộiiii th th thẩ ẩ ẩm m m nh nh nhâ â ân n n d d dâ â ân n n trong trong trong ccccá á ácccc m m mố ố ốiiii quan quan quan h h hệệệệ ttttố ố ố ttttụ ụ ụng ng
2.2.2 Địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân trong mối quan hệ với người thamgia tố tụng 36
2.2.2.1 Địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân trong mối quan hệ với bị cáo,
bị đơn dân sự, người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án 37 2.2.2.2 Địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân trong mối quan hệ với người
bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi liên quan đến vụ án 42
3.1.1 Một số tồn tại về mặt pháp lý và giải pháp hoàn thiện quy định của Bộluật tố tụng hình sự về sự độc lập của Hội thẩm nhân dân 46
3.1.1.1 Tồn tại 46 3.1.1.2 Giải pháp 49
Trang 83.1.2 Một số tồn tại và giải pháp hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự về trách nhiệm của Hội thẩm nhân dân trong việc khởi tố vụ án hình sự 50
3.1.2.1 Tồn tại 50 3.1.2.2 Giải pháp 51
3.1.3 Một số tồn tại và giải pháp hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự về trách nhiệm của Hội thẩm nhân dân trong trường hợp Viện kiểm sát rútquyết định truy tố 52
3.1.3.1 Tồn tại 52 3.1.3.2 Giải pháp 53
3.1.4 Một số tồn tại khác về mặt pháp lý liên quan đến địa vị pháp lý của Hộithẩm nhân dân trong Bộ luật tố tụng hình sự và giải pháp hoàn thiện luật 55
3.1.4.1 Tồn tại 55 3.1.4.2 Giải pháp 56
3.2 3.2 M M Mộ ộ ộtttt ssssố ố ố ttttồ ồ ồn n n ttttạ ạ ạiiii v v vềềềề m m mặ ặ ặtttt th th thự ự ựcccc ti ti tiễễễễn n n á á áp p p d d dụ ụ ụng ng ng v v và à à gi gi giả ả ảiiii ph ph phá á áp p p n n nâ â âng ng ng cao cao cao đị đị địa a a v v vịịịị
ph phá á áp p p llllý ý ý ccccủ ủ ủa a a H H Hộ ộ ộiiii th th thẩ ẩ ẩm m m nh nh nhâ â ân n n d d dâ â ân n n trong trong trong ttttố ố ố ttttụ ụ ụng ng ng h h hìììình nh nh ssssự ự ự 58 58
3.2.1 Tồn tại 58
3.2.1.1 Đảm bảo sự tham gia của Hội thẩm nhân dân trong các phiên tòa xét xử hình sự 58 3.2.1.2 Đảm bảo sự độc lập của Hội thẩm nhân dân tại các phiên tòa xét xử
vụ án hình sự 61
3.2.2 Giải pháp thực tiễn 64
3.2.2.1 Nâng cao năng lực, trình độ, trách nhiệm của Hội thẩm nhân dân 64 3.2.2.2 Tăng cường chế độ đãi ngộ đối với Hội thẩm nhân dân 66 3.2.2.3 Tăng cường giám sát đối với Hội thẩm nhân dân 66
K
KẾ Ế ẾT T T LU LU LUẬ Ậ ẬN N N 68 68 DANH
DANH M M MỤ Ụ ỤC C C T T TÀ À ÀIIII LI LI LIỆ Ệ ỆU U U THAM THAM THAM KH KH KHẢ Ả ẢO O
Trang 9L LỜ Ờ ỜIIII N N NÓ Ó ÓIIII ĐẦ ĐẦ ĐẦU U
1 L Lý ý ý do do do ch ch chọ ọ ọn n n đề đề đề ttttà à àiiii
Hội thẩm nhân dân là một trong hai chức danh được Nhà nước giao cho thẩmquyền xét xử Chức danh này có địa vị pháp lý quan trọng trong tố tụng hình sự,góp phần xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm,không làm oan người vô tội Đặc biệt, vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân trong tốtụng hình sự là một nội dung, là một mắt xích không thể thiếu trong việc đảm bảotính dân chủ trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân Nhận thấy được địa vịpháp lý quan trọng của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự, vì thế trong suốtquá trình đấu tranh và xây dựng đất nước, nền lập pháp nước ta trong quá trình banhành các văn bản pháp luật đều không quên xây dựng chế định Hội thẩm nhân dân
Ở mỗi thời kỳ, địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân ngày càng được hoàn thiệnnhằm phát huy dân chủ trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân
Cách mạng Tháng tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộnghòa ra đời Ở giai đoạn đầu khi mới giành được độc lập, mọi mặt đất nước đều gặprất nhiều khó khăn Để củng cố, xây dựng phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta
đã đề ra những chính sách phù hợp với từng lĩnh vực nhằm cải thiện đời sống ngườidân và giữ vững nền độc lập còn non yếu Đặc biệt, Nhà nước ta rất quan tâm tớixây dựng cơ quan xét xử của nhân dân Ngày 13 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch HồChí Minh đã ký Sắc lệnh số 33 thiết lập các Tòa án quân sự, đánh dấu sự ra đời củaTòa án nhân dân ở nước ta Tiếp theo đó, Người đã ký một loạt các Sắc lệnh về tổchức và hoạt động của Tòa án mà điển hình là Sắc lệnh số 13 - Sắc lệnh đầu tiên củaNhà nước ta về tổ chức và hoạt động của Tòa án Trong Sắc lệnh số 13 ngày 24tháng 01 năm 1946 đã ghi nhận rõ việc xét xử của Tòa án có Phụ thẩm nhân dântham gia Tuy nhiên, mức độ tham gia của Phụ thẩm nhân dân ở các phiên tòa tiểuhình và đại hình có khác nhau nhưng đều thể hiện tính nhân dân Đến khi Hiến phápnăm 1946 ra đời thì việc Phụ thẩm nhân dân tham gia xét xử đã trở thành mộtnguyên tắc hiến định Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm
1960 ra đời, Phụ thẩm nhân dân được đổi thành Hội thẩm nhân dân, quyền hạn vànghĩa vụ được quy định rõ hơn Đặc biệt, Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử cả ánhình sự và dân sự, được tham gia quyết định mọi vấn đề trong xét xử vụ án CácHiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001 và Luật
Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1992 ra đời đã cụ thể hóa địa vị pháp lý của Hội
Trang 10thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân Đến nay là Hiến phápnăm 2013, cùng với Hiến pháp còn có Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Luật Tổchức Tòa án nhân dân năm 2002, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhândân năm 2002 được sửa đổi, bổ sung năm 2011 đều có ghi nhận sự tham gia củaHội thẩm nhân dân Đặc biệt, để đề cao địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân, Bộluật tố tụng hình sự năm 2003 đã có quy định về quyền và nghĩa vụ của Hội thẩmnhân dân trong quá giải quyết vụ án hình sự.
Cùng với chiều dài xây dựng đất nước, sự phát triển của Tòa án nhân dân cũngnhư địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân ngày càng hoàn thiện và đã đạt đượcnhững thành quả thiết thực, nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều thiếu sót, bấtcập Việc xác định đúng đắn địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân trong tố tụnghình sự không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận, nhằm giúp ta hiểu rõ hơn, đầy đủ hơn
về vị trí, chức năng của Tòa án nhân dân trong bộ máy Nhà nước mà còn có ý nghĩathực tiễn to lớn Xác định rõ vấn đề này là điều kiện tiên quyết đảm bảo dân chủtrong hoạt động tố tụng hình sự, nâng cao hiệu quả tố tụng hình sự, khắc phục tìnhtrạng “chạy án” đang xảy ra hiện nay Tuy nhiên, vấn đề địa vị pháp lý của Hộithẩm nhân dân đến nay vẫn chưa được xác định rõ Đặc biệt, trong giai đoạn hiệnnay khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49/NQ/TW ngày 02/06/2005 về chiếnlược cải cách tư pháp đến năm 2020 là phải “nâng cao chất lượng hoạt động của các
cơ quan tư pháp, trọng tâm là xây dựng hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Tòa ánnhân dân, đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, trách nhiệmcủa người tiến hành tố tụng theo hướng đảm bảo tính công khai, dân chủ, nghiêmminh, nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử” thì vấn đề này đangmang tính thời sự Trong khi địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân chưa được xácđịnh rõ thì việc nâng cao chất lượng hoạt động của Tòa án nhân dân rất khó có thểthực hiện được Mặt khác, xác định rõ vấn đề này sẽ góp phần vào thành công củacông cuộc cải cách tư pháp ở nước ta Bên cạnh đó, vấn đề địa vị pháp lý của Hộithẩm nhân dân đang nhận được nhiều ý kiến đóng góp, trao đổi từ các cơ quan, banngành có liên quan Điều này chắc chắn sẽ đóng góp tích cực vào việc đưa ra nhậnthức đúng đắn về địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự trongthời gian tới
Đúc kết từ những vấn đề nêu trên cho thấy, việc nghiên cứu đề tài “Đị “Đị “Địa a a v v vịịịị ph
phá á áp p p llllý ý ý ccccủ ủ ủa a a H H Hộ ộ ộiiii th th thẩ ẩ ẩm m m nh nh nhâ â ân n n d d dâ â ân n n trong trong trong ttttố ố ố ttttụ ụ ụng ng ng h h hìììình nh nh ssssự ự ự Vi Vi Việệệệtttt Nam Nam Nam” ” ” là cấp thiết và
mang tính thời sự Đó cũng chính là lí do thúc đẩy người viết lựa chọn và nghiêncứu đề tài luận văn này
Trang 112 Ph Phạ ạ ạm m m vi vi vi nghi nghi nghiêêêên n n ccccứ ứ ứu u
Theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, tố tụng hình sự được phân chia thànhnăm giai đoạn: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Trong đó, Hội thẩmnhân dân chỉ tham gia vào giai đoạn xét xử mà không tham gia vào bốn giai đoạncòn lại Vì vậy, người viết chỉ nghiên cứu địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dântrong giai đoạn nói trên tại phiên tòa Đề tài luận văn này tập trung nghiên cứu về vịtrí, vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong giai đoạn xét xử tạiphiên tòa hình sự
3 M Mụ ụ ụcccc ti ti tiêêêêu u u nghi nghi nghiêêêên n n ccccứ ứ ứu u
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận
về địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự; vị trí, vai trò của Hộithẩm nhân dân trong các mối quan hệ tố tụng hình sự để làm bật lên địa vị pháp lýcủa Hội thẩm nhân dân trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Thông qua việcphân tích, làm rõ những hạn chế, bất cập về mặt pháp lý và thực tiễn áp dụng phápluật về địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao vịtrí, vai trò của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự
4 Ph Phươ ươ ương ng ng ph ph phá á áp p p nghi nghi nghiêêêên n n ccccứ ứ ứu u
Trong quá trình nghiên cứu, người viết sử dụng một số phương pháp như:phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu, sách vở; phương nghiên cứu và phântích luật viết; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp liệt kê, ví dụ, số liệu,đồng thời tham khảo những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu,sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà khoa học pháp lýViệt Nam để làm rõ nội dung nghiên cứu
Chươ ươ ương ng ng 3 3 3 Một số tồn tại và giải pháp nâng cao địa vị pháp lý của Hội thẩm
nhân dân trong tố tụng hình sự Việt Nam
Trang 12CH CHƯƠ ƯƠ ƯƠNG NG NG 1 1
C CƠ Ơ Ơ S S SỞ Ở Ở L L LÝ Ý Ý LU LU LUẬ Ậ ẬN N N V V VỀ Ề Ề ĐỊ ĐỊ ĐỊA A A V V VỊỊỊỊ PH PH PHÁ Á ÁP P P L L LÝ Ý Ý C C CỦ Ủ ỦA A A H H HỘ Ộ ỘIIII TH TH THẨ Ẩ ẨM M M NH NH NHÂ Â ÂN N N D D DÂ Â ÂN N
TRONG TRONG T T TỐ Ố Ố T T TỤ Ụ ỤNG NG NG H H HÌÌÌÌNH NH NH S S SỰ Ự Ự VI VI VIỆ Ệ ỆT T T NAM NAM
Hội thẩm nhân dân là một trong những người tiến hành tố tụng được quy địnhtrong Bộ luật Tố tụng hình sự, có địa vị pháp lý quan trọng trong việc đảm bảo tínhchính xác, khách quan, đặc biệt là quyền làm chủ của nhân dân trong hoạt động xét
xử của Tòa án nhân dân Việc tìm hiểu rõ và nắm vững những lý luận cơ bản về địa
vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân trong luật tố tụng hình sự ở nước ta có ý nghĩa vôcùng quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội thẩm nhân dântrong giai đoạn hiện nay
1.1 1.1 Nh Nh Nhữ ữ ững ng ng v v vấ ấ ấn n n đề đề đề ccccơ ơ ơ b b bả ả ản n n v v vềềềề đị đị địa a a v v vịịịị ph ph phá á áp p p llllý ý ý ccccủ ủ ủa a a H H Hộ ộ ộiiii th th thẩ ẩ ẩm m m nh nh nhâ â ân n n d d dâ â ân n n trong trong trong ttttố ố ttttụ ụ ụng ng ng h h hìììình nh nh ssssự ự ự Vi Vi Việệệệtttt Nam Nam
1.1.1 Khái niệm địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự
1.1.1.1 Khái niệm về Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự
Hội thẩm nhân dân là một chế định quan trọng trong pháp luật tố tụng hình sự,thể hiện quyền làm chủ của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân.Chế định này lần đầu tiên được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946 với tên "Phụ thẩm nhân dân" 1 (Nay là Hội thẩm nhân dân) Sự tham gia của Hội thẩm nhân dântiếp tục được ghi nhận trong các Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiếnpháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001 và Hiến Pháp năm 2013 là mộttrong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Tòa án Hội thẩmnhân dân tham gia vào hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân ở giai đoạn xét xử sơthẩm (bắt buộc) và giai đoạn xét xử phúc thẩm (trong trường hợp cần thiết) vụ ánhình sự, góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của công dân Điều này đã được ghi nhận tại khoản 1, Điều 103 Hiến phápnước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện hành với nội dung:"Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn".
Hiện nay, trong khoa học luật tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2003 (BLTTHS năm 2003) không đưa ra khái niệm Hội thẩm nhân dân nhưng đã có
1 Điều 65 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1946 quy định:"Trong khi xét xử việc hình thì phải
có phụ thẩm nhân dân hoặc để tham gia ý kiến nếu là việc tiểu hình, hoặc cùng quyết định với thẩm phán nếu là việc đại hình".
Trang 13những quy định về chủ thể, nhiệm vụ, quyền hạn, việc từ chối hoặc thay đổi Hộithẩm nhân dân cũng như các quy định về việc tham gia xét xử của Hội thẩm nhândân trong tố tụng hình sự Như chúng ta đã biết, Hội thẩm nhân dân tham gia xét xửtrong lĩnh vực dân sự lẫn lĩnh vực hình sự nên chức danh này không chỉ có trong tốtụng hình sự mà còn có trong tố tụng dân sự Tùy vào lĩnh vực xét xử, mà có chứcdanh Hội thẩm nhân dân tương ứng với từng lĩnh vực đó Cũng chính vì lý do đó,
mà BLTTHS năm 2003 không đưa khái niệm về Hội thẩm nhân dân
Căn cứ theo Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2002được sửa đổi, bổ sung năm 2011 (PLTP&HTND năm 2002), thì Hội thẩm nhân dân
là một chức danh nằm trong Hội thẩm Tòa án nhân dân (Hội thẩm), gồm Hội thẩmnhân dân Tòa án nhân dân cấp huyện2 và Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân cấptỉnh Hội thẩm nhân dân tham gia vào hoạt động của Tòa án nhân dân cấp huyện,Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định của pháp luật
Về khái niệm Hội thẩm, khoản 2 Điều 1 PLTP&HTND năm 2002 quy định:
"Hội thẩm là người được bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án" Hội thẩm đại diện cho Tòa án
thực hiện nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhằm giảiquyết vụ án hình sự, bao gồm Hội thẩm nhân dân và Hội thẩm quân nhân Theokhái niệm này thì Hội thẩm được tuyển chọn thông qua hai hình thức là "bầu" và
"cử" Điều 38 PLTP&HTND năm 2002 quy định, Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân
dân địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu theo sự giới thiệu của Ủy banMặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp; Hội thẩm quân nhân Tòa án quân sự cấp quânkhu do Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị quân đội nhân dân Việt Nam cử theo sự giớithiệu của cơ quan chính trị quân khu, quân đoàn, quân chủng, tổng cục hoặc cấptương đương; Hội thẩm quân nhân Tòa án quân sự khu vực do Chủ nhiệm chính trịquân khu, quân đoàn, quân chủng, tổng cục hoặc cấp tương đương cử theo sự giớithiệu của cơ quan chính trị sư đoàn hoặc cấp tương đương Theo quy định này, hìnhthức "bầu" được áp dụng đối với Hội thẩm nhân dân và "cử" được áp dụng đối với
Hội thẩm quân nhân Từ đó cho thấy, quan điểm về Hội thẩm được nêu ra trongPháp lệnh có nội dung bao quát và đầy đủ hơn Tuy nhiên, trên thực tế không có sựtách bạch Hội thẩm, Hội thẩm nhân dân hay Hội thẩm quân nhân, mà gọi chungchung là Hội thẩm
2 Theo Dự thảo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) năm 2013 thì "Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân cấp huyện"
đổi thành "Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực".
Trang 14Như vậy, có thể đưa ra khái niệm Hội thẩm nhân dân là người được bầu theoquy định của pháp luật làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa
án3 Khái niệm này thể hiện hai nội dung:
Thứ nhất, Hội thẩm nhân dân là người được bầu theo quy định của pháp luật.
Khi tham gia xét xử vụ án hình sự, Hội thẩm nhân dân giữ vị trí là thành viên Hộiđồng xét xử, trực tiếp đưa ra ý kiến phán quyết về vụ án có ảnh hưởng trực tiếp đếntính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của công dân Do đó, pháp luậtnước ta đặt ra những tiêu chuẩn nhất định cho chức danh này đảm bảo xét xử đúngngười, đúng tội, đúng pháp luật Những tiêu chuẩn đó được quy định tại khoản 2Điều 5 PLTP&HTND năm 2002, cụ thể là:
- Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
- Có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực;
- Có kiến thức pháp lý;
- Có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, kiên quyết đấutranh bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, có sứckhỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao;
Theo Quy chế về Tổ chức và hoạt động của Hội thẩm Tòa án nhân dân4
thì :"Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, kiên quyết đấu tranh bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân" là:5
- Không có bất kỳ hành vi nào gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, toàn vẹnlãnh thổ của Tổ quốc, nền quốc phòng toàn dân, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhànước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
- Chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật, các chủ trương của Đảng
và chính sách của Nhà nước, có cuộc sống lành mạnh và tôn trọng các quy tắc sinhhoạt cộng đồng;
3 Khoản 1 Điều 6 Quy chế về Tổ chức và hoạt động của Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2005.
4 Ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2005/NQLT/TANDTC-BNV-UBTWMTTQVN ngày 05/12/2005 của Tòa án nhân dân tối cao - Bộ nội vụ - Ban thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
5 Khoản 1 Điều 7 Quy chế về Tổ chức và hoạt động của Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2005.
Trang 15- Kiên quyết đấu tranh với những hành vi có hại đến Đảng, đến Tổ quốc vànhân dân;
- Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân,lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống thamnhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền;
- Có tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình, bảo vệ công lý;
- Chưa bao giờ bị kết án (kể cả trường hợp đã được xóa án tích);
Người có đủ các tiêu chuẩn theo quy định nêu trên có thể được bầu làm Hộithẩm nhân dân Hội thẩm nhân dân cấp nào do Hội đồng nhân dân cấp đó bầu theo
sự giới thiệu của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Ví dụ, Hội thẩm nhân dân Tòa
án nhân dân cấp huyện do Hội đồng nhân dân cấp huyện bầu, Hội thẩm nhân dânTòa án nhân dân cấp tỉnh do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh bầu theo sự giới thiệu của
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Thứ hai, Hội thẩm nhân dân làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm
quyền của Tòa án nhân dân Khi được tuyển chọn, Hội thẩm nhân dân làm nhiệm vụxét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân nhằm giải quyết đúngđắn, khách quan, toàn diện, kịp thời vụ án hình sự, trừng trị đúng người, đúng tội,không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm Trong tố tụng hình sự, những
vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân được quy định tại Chương XVI củaBLTTHS năm 2003 về Thẩm quyền của Tòa án các cấp
Đúc kết từ những phân tích trên thìHội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự là người được bầu theo quy định của pháp luật làm nhiệm vụ xét xử những vụ án hình
sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự.
1.1.1.2 Khái niệm địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình
sự Việt Nam
Để đảm bảo cho Hội thẩm nhân dân thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, đảmbảo đạt được mục tiêu chung của tố tụng hình sự là phát hiện chính xác, nhanhchóng và xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm,không làm oan người vô tội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp phápcủa cơ quan, tổ chức, cá nhân, BLTTHS năm 2003 có quy định địa vị tố tụng củaHội thẩm nhân dân
Trang 16TheoTừ điển luật học, "Địa vị pháp lý là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với các chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định pháp luật.
Địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật thể hiện thành tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của các chủ thể trong các hoạt động của mình".6
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dântrong tố tụng hình sự như sau: Địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự là tổng thể các quy định về quyền và nghĩa vụ pháp lý của Hội thẩm nhân dân trong quá trình giải quyết vụ án hình sự được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự Từ khái niệm trên, chúng ta có thể nhận thấy, nội hàm địa vị pháp lý của
Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự được phản ánh và thể hiện ở hai phươngdiện:
Một là, các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân
dân trong tố tụng hình sự Nhiệm vụ là những yêu cầu cụ thể do Nhà nước đặt ra đốivới chức danh Hội thẩm nhân dân Theo quy định tại khoản 1 Điều 40 BLTTHSnăm 2003, Hội thẩm nhân dân có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
- Nghiên cứu hồ sơ trước khi mở phiên tòa;
- Tham gia xét xử các vụ án hình sự theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm;
- Tiến hành các hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩmquyền của Hội đồng xét xử
Hai là, các quy định của pháp luật về trách nhiệm của Hội thẩm nhân dân
trong tố tụng hình sự Nhiệm vụ của Hội thẩm nhân dân còn được hiểu là tráchnhiệm, là nghĩa vụ pháp lý mà Hội thẩm nhân dân phải thực hiện trong hoạt quátrình giải quyết vụ án hình sự Đó là chịu trách nhiệm trước pháp luật về nhữnghành vi và quyết định của mình7 Về nguyên tắc, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩmnhân dân phải được xác định đầy đủ trên cơ sở vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụcủa Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự
Địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân còn thể hiện vị trí của Hội thẩm nhândân trong mối quan hệ với những người tiến hành tố tụng và những người tham gia
tố tụng trên cơ sở quy định của pháp luật tố tụng hình sự Thông qua địa vị pháp lý,
6 Bộ tư pháp, Viện khoa học pháp lý, Từ điển luật học, Nxb Từ điển bách khoa, Nxb Tư pháp, 2006, tr 244.
7 Khoản 2 Điều 40 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.
Trang 17có thể phân biệt Hội thẩm nhân dân với các chức danh khác, đồng thời, cũng có thểxem xét vị trí, tầm quan trọng của Hội thẩm nhân dân trong các mối quan hệ tố tụnghình sự.
Tóm lại, Địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự là tổng thể các quy định về quyền và nghĩa vụ pháp lý của Hội thẩm nhân dân trong quá trình giải quyết vụ án hình sự được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự.
1.1.2 Đặc điểm tố tụng, nhiệm vụ và quyền hạn của Hội thẩm nhân dân trong
tố tụng hình sự
1.1.2.1 Đặc điểm tố tụng của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự
Quá trình giải quyết vụ án hình sự là một quá trình liên tục, trải qua nhiều giaiđoạn tố tụng khác nhau như: Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Mỗigiai đoạn tố tụng đều có những đặc điểm đặc trưng và thể hiện nhiệm vụ nhất địnhcủa hoạt động tố tụng Hoạt động tố tụng ở mỗi giai đoạn lại do một cơ quan nhấtđịnh thực hiện chính Các cơ quan này được gọi là cơ quan tiến hành tố tụng (Cơquan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án) Khi tiến hành những hoạt động cụ thể trongviệc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự và thi hành các bản án, quyếtđịnh của Toà án, cơ quan tiến hành tố tụng phải thông qua những con người cụ thể,những người đó gọi là người tiến hành tố tụng Tương ứng với từng cơ quan tiếnhành tố tụng thì có người tiến hành tố tụng tương ứng
Theo quy định tại Điều 33 BLTTHS năm 2003 thì người tiến hành tố tụngtrong Cơ quan điều tra gồm có Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra vàĐiều tra viên; người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát gồm có Viện trưởng, PhóViện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên; người tiến hành tố tụng trong Toà ángồm có Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm (Hội thẩm nhân dân,Hội thẩm quân nhân) và Thư ký Toà án Như vậy có thể hiểu, người tiến hành tốtụng là những người đại diện cho cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện những nhiệm
vụ được pháp luật quy định nhằm giải quyết vụ án hình sự8 Trong đó, Hội thẩmnhân dân đại diện cho Tòa án nhân dân xét xử các vụ án hình sự theo pháp luật tốtụng hình sự Với vai trò là người tiến hành tố tụng, Hội thẩm nhân dân mang nhữngđặc điểm tố tụng sau:
- Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử sơ thẩm tất cả các vụ án hình sự theo
8 Mạc Giáng Châu - Nguyễn Chí Hiếu,Giáo trình luật Tố tụng hình sự Việt Nam - Những vấn đề chung của luật tố tụng hình sự, Trường Đại học Cần Thơ, 2010, tr 32
Trang 18quy định;
- Khi tiến hành tố tụng, Hội thẩm nhân dân phải thực hiện theo thủ tục tố tụnghình sự chặt chẽ;
- Hoạt động tố tụng của Hội thẩm nhân dân là hoạt động áp dụng pháp luật để
xử lý các hành vi vi phạm pháp luật hình sự, được xem là tội phạm;
- Phán quyết của Tòa án nhân dân, cụ thể là của Thẩm phán và Hội thẩm nhândân có ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm, các quyền
và lợi ích cơ bản của công dân;
- Hội thẩm nhân dân tiến hành tố tụng để xử lý công minh, kịp thời mọi hành
vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội nhằm bảo vệ quyền
và lợi ích hợp của công dân;
- Trong quá trình giải quyết vụ án vụ, Hội thẩm nhân dân phải đảm bảo tínhđộc lập, khách quan, chính xác
- Hội thẩm nhân dân phải chịu trách nhiệm cá nhân và chỉ tuân theo pháp luậttrong quá trình tham gia giải quyết vụ án hình sự
1.1.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân
Việc xét xử được tiến hành liên tục, trực tiếp, công khai (trừ trường hợp cầngiữ bí mật Nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thànhniên hoặc để giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì Tòa án xét
xử kín, nhưng khi tuyên án phải công khai) Để quá trình này diễn ra đúng pháp luật,bản án xử phạt đúng người, đúng tội đòi hỏi Hội thẩm nhân dân cũng như nhữngngười tiến hành tố tụng khác phải thực hiện nghiêm chỉnh nhiệm vụ, quyền hạn củamình theo quy định của pháp luật Hội thẩm nhân dân là một trong hai chức danhgiữ vai trò then chốt trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Do đó, để nâng caotính chủ động và trách nhiệm của họ trong việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự,BLTTHS năm 2003 đã quy định về nhiệm vụ, quyền hạn cũng như trách nhiệm củaHội thẩm nhân dân nhằm đề cao địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân trong tố tụnghình sự
Hội thẩm nhân dân làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh án Tòa án nơimình được bầu làm Hội thẩm nhân dân Trong khi thực hiện nhiệm vụ, chức năngcủa Tòa án nhân dân, Hội thẩm nhân dân có các quyền và nghĩa vụ sau:
Trước khi mở phiên tòa xét xử, Hội thẩm nhân dân có quyền nghiên cứu hồ sơ
Trang 19Hội thẩm nhân dân phải nghiên cứu hồ sơ để nắm đầy đủ các tình tiết về từng sựviệc, về từng tội của vụ án theo thứ tự hợp lý, nắm được toàn diện nội dung các tàiliệu có trong hồ sơ vụ án về những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự quyđịnh tại Điều 63 BLTTHS năm 2003 Hơn thế nữa, thông qua nghiên cứu hồ sơ, Hộithẩm nhân dân có thể phát hiện ra những thiếu sót trong hồ sơ, từ đó có cơ sở để đềnghị Thẩm phán trả hồ sơ để Cơ quan điều tra điều tra bổ sung Mặc dù, Hội thẩmnhân dân là những Thẩm phán không chuyên nhưng pháp luật nước ta quy định họngang quyền với Thẩm phán khi xét xử Nên, nghiên cứu hồ sơ được xem là mộtquyền đảm bảo sự ngang quyền đó Nghiên cứu hồ sơ là sự chuẩn bị tạo cơ sở đểHội thẩm nhân dân khi tham gia xét hỏi, tranh luận, nghị án đưa ra kết luận chínhxác, đúng đắn, đầy đủ và toàn diện về vụ án.
Tại phiên tòa, Hội thẩm nhân dân có quyền tham gia xét hỏi theo trình tự sau:chủ tọa phiên tòa hỏi trước, sau đó đến Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, ngườibào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự Trong quá trình xét hỏi, Hội thẩmnhân dân có quyền đặt ra những câu hỏi có liên quan để làm rõ vụ án Trong quátrình tham gia tranh luận tại phiên tòa, các Hội thẩm nhân dân cùng với chủ tọaphiên tòa phân tích, đánh giá chứng cứ của vụ án, tính chất, mức độ vi phạm của tộiphạm bị đưa ra xét xử và căn cứ vào các quy định của pháp luật để đưa ra kết luận
về vụ án Hội thẩm nhân dân còn có quyền tham gia nghị án và được quyền phánquyết tất cả những vấn đề liên quan đến vụ án hình sự Khi đưa ra quyết định, Hộithẩm nhân dân chỉ được căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tạiphiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sátviên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa Đểđảm bảo tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật của Hội thẩm nhân dân, pháp luật tốtụng hình sự quy định Thẩm phán là người biểu quyết sau cùng Như vậy, Hội thẩmnhân dân có quyền hạn ngang với Thẩm phán trong việc đưa ra ý kiến, quyết định
về từng vấn đề của vụ án trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự
Để tạo điều kiện cho Hội thẩm nhân dân làm nhiệm vụ, Hội thẩm nhân dânđược cấp trang phục, Giấy chứng minh Hội thẩm để làm nhiệm vụ xét xử, đượchưởng phụ cấp theo quy định (Điều 34 PLTP&HTND năm 2002) Hội thẩm nhândân được bồi dưỡng nghiệp vụ, tham gia hội nghị tổng kết công tác xét xử của Tòa
án (Điều 34 PLTP&HTND năm 2002)
Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Hội thẩm nhân dân có quyềnliên hệ với cơ quan nhà nước, Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thànhviên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân
Trang 20dân và công dân Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình các cơ quan, tổchức và công dân có trách nhiệm tạo điều kiện để Hội thẩm nhân dân làm nhiệm vụ.Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở Hội thẩm nhân dân thực hiện nhiệm vụ.9
Bên cạnh đó, Hội thẩm nhân dân vẫn phải chịu trách nhiệm nhất định trongquá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình Khi được Chánh án Tòa án phâncông làm nhiệm vụ xét xử thì Hội thẩm nhân dân có nghĩa vụ tham gia không được
từ chối nếu không có lý do chính đáng Khi xét xử, Hội thẩm nhân dân độc lập nênphải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn củamình Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà Hội thẩm nhân dân có thể bị xử lý kỷluật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Nếu trongkhi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà gây thiệt hại thì Tòa án nơi Hộithẩm đó thực hiện nhiệm vụ xét xử có trách nhiệm bồi thường và Hội thẩm đã gâythiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho Tòa án theo quy định của pháp luật10 Làthành viên Hội đồng xét xử, quyết định của Hội thẩm nhân dân có ảnh hưởng rất lớntới quyền lợi, nghĩa vụ của công dân nên họ có nghĩa vụ từ chối tham gia xét xử nếunhận thấy sự tham gia của mình có thể dẫn đến sự không vô tư, khách quan tronggiải quyết vụ án11 Bên cạnh đó, trong quá trình tham gia tố tụng, nếu Hội thẩmnhân dân có hành vi vi phạm pháp luật và phải chịu trách nhiệm hình sự nếu hành vi
vi phạm pháp luật của họ đủ yếu tố cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luậtHình sự12 Những quy định về trách nhiệm của Hội thẩm nhân dân khi tham gia xét
xử nhằm nhắc nhở Hội thẩm nhân dân phải có tinh thần trách nhiệm, phải thậntrọng và cân nhắc khi đưa phán quyết về vụ án
Trong quá trình làm nhiệm vụ, Hội thẩm nhân dân còn phải tuân thủ các quytắc đạo đức nghề nghiệp; giữ bí mật Nhà nước, bí mật công tác theo quy định củapháp luật; tôn trọng nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân
Những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn cũng như nghĩa vụ của Hội thẩmnhân dân trong pháp luật nước ta chính là các căn cứ quan trọng để Hội thẩm nhândân tham gia tố tụng thể hiện đúng vị trí, vai trò của mình, thông qua đó khẳng định
vị trí quan trọng của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự
9 Khoản 2 Điều 10 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2002 được sửa đổi, bổ sung năm 2011.
10 Điều 8 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2002 được sửa đổi, bổ sung năm 2011.
11 Điều 42, Điều 46 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.
12 Điều 295 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Trang 211.2 1.2 C C Cơ ơ ơ ssssở ở ở llllý ý ý lu lu luậ ậ ận n n v v vềềềề đị đị địa a a v v vịịịị ph ph phá á áp p p llllý ý ý ccccủ ủ ủa a a H H Hộ ộ ộiiii th th thẩ ẩ ẩm m m nh nh nhâ â ân n n d d dâ â ân n n trong trong trong ttttố ố ố ttttụ ụ ụng ng h
hìììình nh nh ssssự ự ự Vi Vi Việệệệtttt Nam Nam
1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân
Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữacác cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp13.Trong đó, Tòa án là trung tâm thực hiện quyền tư pháp mà trọng tâm là hoạt độngxét xử của Tòa án nhân dân Điều này đã được khẳng định trong Hiến pháp năm
2013, khoản 1 Điều 102 quy định "Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp" So với Hiến pháp
năm 1992 thì ngoài chức năng xét xử thì Tòa án nhân dân còn thực hiện quyền tưpháp, quy định này nhằm phân định quyền lực nhà nước theo hướng Tòa án nhândân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hànhpháp, Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập Hiến và lập pháp Như vậy, ngoàiTòa án không một cơ quan Nhà nước nào được thực hiện chức năng xét xử, tuyênmột người là có tội hay không Chính vì thế, Tòa án là nơi biểu hiện rõ nét nhất bảnchất của pháp luật nói chung và hoạt động tố tụng hình sự nói riêng, là nơi biểu hiệncông bằng trong xã hội
Theo điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 thì hệ thống Tòa án nhândân bao gồm: Tòa án nhân dân Tối cao; Tòa án nhân dân địa phương (các Tòa ánnhân dân cấp tỉnh, các Tòa án nhân dân cấp huyện) Các Tòa án này có chức năngxét xử các vụ án hình sự theo quy định của pháp luật Hoạt động xét xử của Tòa ánnhân dân trong tố tụng hình sự có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, Toà án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền nhân danh Nhà nước ra
tuyên bố một người phạm tội và áp dụng hình phạt đối với người bị tuyên bố có tội,
mà điển hình là Tòa án nhân dân Một người chỉ được coi là có tội và bị áp dụnghình phạt khi bị Tòa án tuyên bằng bản án kết tội và bản án kết tội đó đã có hiệu lựcpháp luật Chừng nào chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thìngười bị cáo vẫn được coi là không có tội Ngoài Tòa án, không có cơ quan nào cóquyền tuyên bố bị cáo có tội, không có cơ quan nào có quyền áp dụng hình phạt đốivới người phạm tội
Thứ hai, quá trình giải quyết vụ án hình sự phải tuân theo một trình tự thủ tục
nghiêm ngặt Khi giải quyết vụ án hình sự, Hội thẩm nhân dân và Thẩm phán bắt
13 Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
Trang 22buộc phải tuân thủ đúng các quy định của BLTTHS năm 2003 về trình tự, thủ tục.Thủ tục tố tụng tại phiên tòa được tiến hành theo trình tự từ thủ tục bắt đầu phiêntòa đến thủ tục xét hỏi tại phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa và cuối cùng là nghị án
và tuyên án14 Nếu thấy có tình tiết của vụ án chưa được xét hỏi hoặc xét hỏi chưađầy đủ thì Hội đồng xét xử có thể quay lại phần xét hỏi và tranh luận, sau đó đếnphần nghị án và tuyên án như trình tự trên Tất cả các vụ án hình sự khi giải quyếtđều được tiến hành theo đúng thủ tục như vậy, trừ trường hợp xét xử theo thủ tụcđặc biệt15 Nếu vi phạm các quy định về trình tự, thủ tục thì bản án, quyết định củaTòa án nhân dân có thể bị kháng cáo, kháng nghị và người có hành vi vi phạm sẽ bịtruy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật
Thứ ba, quyết định của Tòa án nhân dân là quyết định cuối cùng Hoạt động
xét xử của Tòa án nhân dân là nhằm đưa ra phán quyết cuối cùng dứt khoát đối vớinhững vấn đề liên quan trực tiếp đến các lĩnh vực quan trọng nhất như tính mạng, tự
do, danh dự, tài sản của công dân
Cụ thể hóa nguyên tắc Hiến định nêu trên, Điều 1 Luật Tổ chức Tòa án nhânnhân năm 2002 quy định:"Tòa án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật" Đây là nhiệm vụ quan trọng nhất trong số các nhiệm vụ của Tòa án
nhân dân, thể hiện chức năng đặc thù của Tòa án là xét xử Trong phạm vi chứcnăng của mình, Tòa án nhân dân có nhiệm vụ xét xử đúng người, đúng tội, đúngpháp luật các vụ án hình sự nhằm bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, chế độ xã hộichủ nghĩa, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, cácquyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân Cụ thể là16:
14 Xem Chương XVIII:Quy định chung về thủ tục tố tụng tại phiên tòa của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.
15 Xem phần thứ bảy:Thủ tục đặc biệt của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.
16 Trần Văn Độ,Giáo trình luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2011, tr 5758; Mạc Giáng Châu
-Nguyễn Chí Hiếu,Giáo trình luật Tố tụng hình sự Việt Nam - Những vấn đề chung về luật tố tụng hình sự, Trường Đại
học Cần Thơ, 2010.
Trang 23- Khi tiến hành xét xử, Tòa án nhân dân có nhiệm vụ làm rõ nguyên nhân vàđiều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan và tổ chức hữu quan áp dụng biện phápngăn ngừa; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự,
Ngoài ra, bằng chính hoạt động của mình, Tòa án nhân dân góp phần giáo dụccông dân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọngnhững nguyên tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tộiphạm, các vi phạm pháp luật khác
Tòa án nhân dân là cơ quan có chức năng đặc biệt trong bộ máy Nhà nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ quan quy nhất có quyền xét xử và chỉTòa án mới có quyền phán quyết một người có tội hay không có tội Gắn liền vớihoạt động của Tòa án nhân dân, Hội thẩm nhân dân tham gia vào quá trình giảiquyết vụ án nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân đảm bảoviệc xét xử dân chủ, khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tăng cườngpháp chế xã hội chủ nghĩa
1.2.2 Vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự
Xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa, của dân, do dân, vì dân nên việc tham gia của quần chúng vào công việcquản lý nhà nước cũng như công tác xét xử của Tòa án nhân dân là nhu cầu tất yếukhách quan Việc Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử là một trong những biểu hiện
rõ nét nhất, cụ thể nhất cho chế độ dân chủ Đồng thời, đây cũng là một hình thức
để "thu hút nhân dân tham gia một cách bình đẳng và ngày càng rộng rãi vào côngtác quản lý nhà nước và xã hội"17 Chính vì lẽ đó, mà Hiến pháp, Bộ luật Tố tụnghình sự, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm Tòa
án nhân dân đều có quy định cụ thể việc tham gia xét xử của Hội thẩm nhân dân.Trong quá trình xét xử sơ thẩm bất cứ vụ án hình sự đều có Hội thẩm nhân dântham gia (trừ các vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự) Đây là điều kiện bắtbuộc để phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự diễn ra đúng pháp luật So với cácthủ tục phi hình sự (dân sự, kinh tế, lao động, hành chính), có thể dễ dàng nhận thấy,
tố tụng hình sự có đặc điểm là liên quan trực tiếp đến tính mạng, tài sản, danh dựcủa con người Vì vậy, sự tham gia của Hội thẩm nhân dân có ý nghĩa hết sức quantrọng.18
17 Dương Ngọc Ngưu,Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động tố tụng - thực trạng và phương hướng đổi mới,
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, đặc san số 4 (tháng 3) năm 2003, tr 58.
18 Hoàng Văn Hạnh,Nâng cao vai trò của Hội thẩm nhân dân trong xét xử các vụ án hình sự, Tạp chí Dân chủ và pháp
Trang 24Trước hết, Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử các vụ án hình sự là sự giám sát
trực tiếp của nhân dân đối với hoạt động tư pháp hình sự thông qua việc xét xử côngkhai, dân chủ tại phiên tòa Ở nhà nước ta, nhân dân là cội nguồn của quyền lực nhànước, hay quyền lực nhà nước có cội nguồn từ nhân dân Tòa án nhân dân thực hiệnchức năng xét xử là thực hiện một bộ phận quyền lực của nhân dân, do đó, nhân dân
có quyền giám sát việc thực hiện quyền lực đó Quá trình tham gia xét xử cũng làquá trình Hội thẩm nhân dân đại diện nhân dân giám sát hoạt động của Tòa án nhândân
Thứ hai, đảm bảo dân chủ trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân Chế
định Hội thẩm nhân dân thể hiện tư tưởng "lấy dân làm gốc" bảo đảm nguyên tắcthực thi quyền lực của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án Vì Tòa án nhândân là cơ quan tư pháp nhân danh quyền lực Nhà nước, nhà nước thông qua Tòa án
để thực hiện quyền lực tư pháp Bằng sự tham gia của mình vào Hội đồng xét xử,Hội thẩm nhân dân đại diện Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp và thông qua
đó đại diện nhân dân tham gia một cách có hiệu quả vào công tác quản lý Nhà nướcnói chung, hoạt động của Tòa án nói riêng Nguyên tắc dân chủ cao nhất trong hoạtđộng xét xử là xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Có như vậy mới giữ gìnđược kỷ cương, trật tự pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổchức, cá nhân bị xâm phạm
Thứ ba, Hội thẩm nhân dân góp phần đảm bảo cho phán quyết của Tòa án nhân
dân được chính xác, khách quan, phù hợp nguyện vọng của quần chúng Hội thẩmnhân dân là những người am hiểu thực tế cuộc sống, nắm được tâm tư, nguyện vọngcủa quần chúng, từ đó giúp họ dễ dàng trong việc tìm ra nguyên nhân, điều kiệnphạm tội, tâm lý của người bị buộc tội để cùng với Thẩm phán ra phán quyết côngbằng, chính xác, nghiêm minh Bên cạnh đó, Hội thẩm nhân dân đại diện cho sựhiểu biết pháp luật và đánh giá các hiện tượng ở mức trung bình của nhân dân Họtiếp cận vụ án theo cách của những người không chuyên xét xử, mang lại cho phiêntòa hình sự những ý niệm đạo đức xã hội về các hành vi phạm tội thông qua nhữngphạm trù đạo đức như công bằng, thiện, ác, nghiêm minh, tốt, xấu mà Thẩm phánchuyên nghiệp cần quan tâm, tham khảo19 Hội thẩm nhân dân là những người cóthể bổ sung cho Thẩm phán chuyên nghiệp những vốn sống, kinh nghiệm xã hội, dưluận quần chúng để góp phần giải quyết vụ án hình sự chính xác hơn, toàn diện và
luật số 3 (144) năm 2004.
19 Hoàng Văn Hạnh,Nâng cao vai trò của Hội thẩm nhân dân trong xét xử các vụ án hình sự, Tạp chí Dân chủ và pháp
luật số 3 (144) năm 2004, tr 19.
Trang 25khách quan hơn Như vậy, khi tham gia xét xử, Hội thẩm vừa thực hiện quyền lựcNhà nước, đồng thời cũng thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân, bảo đảmcho hoạt động xét xử thực sự mang tính dân chủ20.
Thực tế, những người được bầu làm Hội thẩm nhân dân thường là những người
có uy tín trong xã hội, được quần chúng tín nhiệm và có ảnh hưởng nhất định trong
xã hội Họ thường là những người có lối sống gương mẫu, có phẩm chất đạo đức tốt,
là tấm gương trong lao động, công tác Nhân dân tin cậy vào sự công minh và vô tưcủa họ Qua việc tham gia xét xử của Hội thẩm nhân dân, uy tín của cơ quan xét xửngày càng được nâng cao và giữ vững lòng tin của nhân dân vào sự công minh củapháp luật
Thứ tư, Hội thẩm nhân dân là cầu nối giữa Tòa án nhân dân và quần chúng
nhân dân Sự tham gia của Hội thẩm nhân dân góp phần tăng cường quan hệ giữaTòa án và nhân dân bảo đảm công tác xét xử được chính xác để đấu tranh phòngngừa và chống tội phạm Kinh nghiệm cuộc sống của Hội thẩm nhân dân cùng vớikiến thức chuyên môn của Thẩm phán kết hợp và bổ sung cho nhau để xác định sựthật vụ án bảo đảm công tác xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Thôngqua hoạt động của Hội thẩm nhân dân, nhân dân tin vào sự công minh của Tòa án,
từ đó nâng cao tinh thần tự giác tôn trọng, chấp hành và bảo vệ pháp luật
Vai trò của Hội thẩm nhân dân không chỉ dừng lại ở tham gia hoạt động xét xử
và đưa ra phán quyết đúng pháp luật mà còn có ý nghĩa to lớn trong công tác tuyêntruyền, phổ biến pháp luật Sau quá trình giải quyết vụ án, Hội thẩm nhân dân cóđiều kiện phổ biến kết quả của phiên tòa, góp phần tuyên truyền giáo dục, nâng cao
ý thức pháp luật của quần chúng nhân dân Bằng vai trò cá nhân, Hội thẩm nhân dânđóng góp nhất định trong việc giữ gìn tình làng nghĩa xóm, ổn định xã hội, phòngchống tội phạm
Tóm lại, Hội thẩm nhân dân giữ vị trí, vai trò quan trọng trong quá trình giải
quyết vụ án hình sự, đặc biệt là ở giai đoạn xét xử sơ thẩm Bằng việc xét xửnghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật chẳng những có tác dụng trừngtrị, giáo dục, cải tạo người phạm tội mà còn góp phần phòng ngừa tội phạm Sựtham gia của Hội thẩm nhân dân vào hoạt động xét xử là rất cần thiết để đảm bảophán quyết của Tòa án nhân dân được chính xác, khách quan, toàn diện, hợp lý, hợptình
20 Xem: Hoàng Hùng Hải,Tôn trọng quyền bình đẳng của công dân trong phiên tòa xét xử hình sự, Tạp chí Tòa án nhân
dân, số 7 (tháng 4) năm 2012, tr 18.
Trang 261.2.3 Những nguyên tắc cơ bản của hoạt động xét xử và sự tác động đến địa vịpháp lý của Hội thẩm nhân dân
Hoạt động xét xử của Tòa án nói chung, Tòa án nhân dân nói riêng là hoạtđộng nhân danh quyền lực của Nhà nước để tuyên một bản án kết tội hay không kếttội bị cáo Phán quyết của Tòa án ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, tổchức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Do đó, yêu cầu tối cao vàcũng là cái mốc để đánh giá hiệu quả của công tác xét xử là phải khách quan, toàndiện, đầy đủ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không
xử oan người vô tội Do tính chất quan trọng của hoạt động xét xử nên pháp luậtquy định việc xét xử phải tuân theo những nguyên tắc nhất định
"Nguyên tắc" theo Từ điển tiếng Việt là "Điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo theo một loạt việc làm" 21 Đây được xem là thứ không thể thiếu trong hoạtđộng và thực tiễn của con người, đảm bảo cho những hoạt động đó đi đúng hướng
và đạt hiệu quả cao Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Lê Cảm cho rằng nhữngnguyên tắc được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự là nguyên tắc của luật tốtụng hình sự và được định nghĩa như sau:"Nguyên tắc của luật tố tụng hình sự là tư tưởng chủ đạo và định hướng cơ bản được thể hiện trong pháp luật tố tụng hình sự, cũng như trong việc giải thích và trong thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự thông qua một hay nhiều qui phạm (chế định) của nó - của nguyên tắc tương ứng
mà ta nghiên cứu" 22 Trong các nguyên tắc của luật tố tụng hình sự, những nguyêntắc được xem là kim chỉ nam, có ý nghĩa định hướng trong hoạt động của Hội thẩmnhân dân là nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia, nguyên tắcThẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật và nguyên tắc xét
xử tập thể và quyết định theo đa số
1.2.3.1 Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia 23
Để đảm bảo tính khách quan, toàn diện trong hoạt động xét xử của Tòa ánđòi hỏi việc xét xử không chỉ có Thẩm phán mà còn có đại diện từ phía nhân dân.Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia phản ánh tư tưởng kếthợp tính chuyên nghiệp của Thẩm phán và tính dân chủ, đảm bảo sự tham gia củacông dân vào giải quyết vụ án Nguyên tắc này có nội dung:"Việc xét xử của Tòa án
21 Từ điển tiếng Việt,Viện ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, 1996.
22 Nguyễn Ngọc Chí, Đại học Quốc gia Hà Nội,Các nguyên tắc cơ bản trong Luật Tố tụng Hình sự - những đề xuất sửa đổi, bổ sung, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế - Luật 24 (2008).
23 Xem: Trần Văn Độ,Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2011, tr 113-115.
Trang 27nhân dân có Hội thẩm nhân dân, của Tòa án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của Bộ luật này Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán"24.
Theo quy định này, việc xét xử của Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dântham gia Cụ thể là: Hội đồng xét xử sơ thẩm có hai Hội thẩm tham gia; đối với vụ
án nghiêm trọng, phức tạp có thể có ba Hội thẩm nhân dân tham gia; đối với vụ án
về tội có mức hình phạt cao nhất là tử hình thì Hội đồng xét xử có ba Hội thẩm nhândân tham gia Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể có hai Hội thẩm nhân dân tham gia.Giám đốc thẩm, tái thẩm không phải là cấp xét xử nên không có Hội thẩm nhân dântham gia
Nguyên tắc này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong xét xử, bởi việc tham giacủa Hội thẩm nhân dân giúp cho Tòa án nhân dân xét xử không chỉ đúng pháp luật
mà còn phù hợp với nguyện vọng của nhân dân Hội thẩm nhân dân là người đượcbầu hoặc cử tham gia vào hoạt động xét xử Hội thẩm nhân dân là người trực tiếplàm việc và tham gia sinh hoạt xã hội cùng quần chúng nhân dân, họ mang đếnphiên tòa những suy nghĩ và ý kiến quần chúng đối với vụ án góp phần giúp Tòa án
xử lý vụ án chính xác, khách quan
Khi xét xử, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán được hiểu là thẩmquyền pháp lý của các thành viên trong Hội đồng xét xử ngang nhau, ý kiến của mọithành viên trong Hội đồng xét xử đều được tôn trọng và có tính quyết định nhưnhau Khi xét xử vụ án hình sự, mọi vấn đề đều do Tòa quyết định (trừ việc điềuhành do Chủ tọa điều khiển theo quy định của pháp luật) đều phải được thảo luận vàthông qua tại phòng xét xử hoặc phòng nghị án Việc giải quyết các vấn đề phát sinhtrong quá trình xét xử cũng như khi quyết định bản án, Hội thẩm nhân dân ngangquyền với Thẩm phán
Bản chất của nguyên tắc này được thể hiện ở chỗ thu hút sự tham gia của nhândân vào hoạt động xét xử, tạo điều kiện để hoạt động xét xử được tiến hành mộtcách khách quan, công bằng, chính xác, là một trong những biểu hiện dân chủ tronghoạt động tư pháp Khi xét xử, Hội thẩm nhân dân giữ trọng trách quan trọng trongHội đồng xét xử, trong tố tụng hình sự, ngang quyền với Thẩm phán
24 Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.
Trang 281.2.3.2 Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Nguyên tắc "Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo phápluật" không những là một nguyên tắc Hiến định chủ đạo, mà còn là một nguyên tắc
cơ bản bảo đảm tính chính xác, khách quan của hoạt động tư pháp và tập trung nhất
là hoạt động xét xử của Tòa án Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã khẳng địnhnguyên tắc: "Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm" (Khoản 2 Điều 103) Trong BLTTHS năm 2003, nguyên tắc Hiến định
này cũng được khẳng định lại tại Điều 16 với nội dung tương ứng và thể hiện đúngtinh thần trong câu nói của C Mác: "Cấp trên của quan tòa là luật pháp" Khi xét
xử các vụ án hình sự, Hồi đồng xét xử căn cứ vào tình tiết của vụ án, căn cứ vào cácchứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các quy định của pháp luật
để phán quyết về vụ án Nguyên tắc này thể hiện ở hai nội dung là Hội thẩm vàThẩm phán độc lập khi xét xử và việc xét xử của họ chỉ tuân theo pháp luật
Sự độc lập của Hội thẩm nhân dân được thể chế hóa trong BLTTHS Có thểnói xét xử độc lập là một trong những điều kiện đảm bảo cho phán quyết của Tòa ánnói chung, của Tòa án nhân dân nói riêng được chính xác, khách quan Theo Từ điển tiếng Việt:"Độc lập là đứng một mình, không dựa vào ai, không nhờ cậy ai, không bị ai kiềm chế"25 Sự độc lập của Tòa án nhân dân thể hiện ở sự độc lập giữaThẩm phán và Hội thẩm nhân dân khi tiến hành tố tụng nói riêng được thể hiện dướihai khía cạnh là độc lập với các yếu bên ngoài và độc lập với các yếu tố bên trong
Một là, độc lập với các yếu tố bên ngoài được hiểu là, khi xét xử bất kỳ một vụ
án nào, ở bất kỳ cấp xét xử nào, nếu được phân công làm chủ tọa hay tham gia Hộiđồng xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không bị phụ thuộc vào bất cứ cánhân, cơ quan, tổ chức nào trong việc đưa ra ý kiến và phán quyết về vụ án, kể cả ýkiến cảu Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, của bị cáo và những người tham gia tốtụng khác Tuy nhiên, trong hoạt động xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân cóthể tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn, của bất kỳ ai và phải nắm bắt dưluận xã hội, nhưng khi quyết định, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải thể hiệnbản lĩnh nghề nghiệp của mình, xem xét mọi vấn đề một cách độc lập, không để cho
ý kiến bên ngoài làm ảnh hưởng tới tính khách quan của vụ án Đặc biệt là những áplực, tác động phức tạp từ phía cá nhân có chức vụ, quyền hạn trong hệ thống các cơ
25 Từ điển tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994, tr 316.
Trang 29quan Đảng, Nhà nước Đồng thời, không một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đượccan thiệp trái pháp luật vào hoạt động xét xử của Hội thẩm nhân dân và Thẩm phán.
Cá nhân Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trong quyết định của mình trên cơ sở xét
xử tập thể và quyết định theo đa số Nguyên tắc độc lập khi xét xử còn thể hiệntrong mối quan hệ giữa các cấp Tòa án với nhau Tòa án cấp trên hướng dẫn Tòa áncấp dưới về áp dụng thống nhất pháp luật, đường lối xét xử, nhưng không đượcquyết định hoặc gợi ý cho Tòa án cấp dưới trước khi xét xử một vụ án cụ thể.26
Hai là, độc lập với các yếu tố bên trong nghĩa là, khi xét xử, các thành viên của
Hội đồng xét xử độc lập với nhau trong việc nghiên cứu hồ sơ, xem xét, đánh giáchứng cứ và không bị chi phối, phụ thuộc vào quan điểm của các thành viên kháctrong Hội đồng xét xử Việc đánh giá chứng cứ, kết luận được thực hiện một cáchđộc lập, Thẩm phán không được phép chỉ đạo Hội thẩm nhân dân trong việc định tộidanh, quyết định hình phạt Hội thẩm cũng không được có thái độ ỷ lại Thẩm phán
mà phải tích cực, chủ động và có trách nhiệm trong hoạt động chứng minh tội phạm.Trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán tạo mọi điều kiện để Hội thẩm nhân dân nghiêncứu hồ sơ nhanh mà vẫn đầy đủ Trong trường hợp cần thiết, Thẩm phán phải cungcấp và hướng dẫn Hội thẩm xem những văn bản tài liệu liên quan đến việc giảiquyết vụ án Trong khi nghiên cứu hồ sơ, Thẩm phán không được đưa ra ý kiến,nhận định chủ quan của mình để có thể ảnh hưởng đến sự đánh giá chứng cứ củaHội thẩm nhân dân Tại phiên tòa, Thẩm phán điều khiển phiên tòa theo đúng trình
tự, thủ tục luật định (bắt đầu phiên tòa, xét hỏi, tranh luận, nghị án và tuyên án),đảm bảo hoạt động xét xử đi đúng trọng tâm, xác định những việc cần làm để chứngminh tội phạm và không được hạn chế việc xét hỏi của Hội thẩm nếu những câu hỏi
đó nhằm làm rõ các tình tiết khách quan của vụ án
Tuy nhiên, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập, không có nghĩa làtùy tiện, tách ra khỏi đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Độc lập xét xửkhông có nghĩa là không có sự kiểm sát và giám sát Hoạt động xét xử của Tòa ánluôn chịu sự giám sát của Viện kiểm sát và sự giám sát của Tòa án cấp trên Tòa áncấp trên có quyền kiểm tra những bản án và quyết định của Tòa án cấp dưới và hủy
bỏ chúng trong trường hợp thiếu căn cứ hoặc trái pháp luật
Nội dung không kém phần quan trọng của nguyên tắc là khi xét xử, Thẩm phán
và Hội thẩm chỉ tuân theo pháp luật Khi xét xử, Tòa án không có cấp trên, cấp trên
26 Xem thêm: Trần Duy Bình,Thực tiễn và một số kiến nghị nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc "Khi xét xử, Thẩm phán
và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật", Tạp chí Tòa án nhân dân số 11 (tháng 6) năm 2012.
Trang 30của Hội đồng xét xử chính là luật pháp Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhândân độc lập không có nghĩa là họ có thể ra bản án, quyết định trên cơ sở ý thích haythiên vị của mình mà phải tuân theo pháp luật Các phán quyết này chỉ và phải dựatrên cơ sở sự thật khách quan của vụ án và các quy định của pháp luật hiện hành.Trên cơ sở xác định đầy đủ, chính xác, khách quan các tình tiết vụ án, Thẩm phán
và Hội thẩm nhân dân căn cứ vào các quy định của pháp luật ra phán quyết về vụ án.Nói một cách khác, "pháp luật" là tối thượng, là căn cứ "duy nhất" để Thẩm phán vàHội thẩm nhân dân dựa vào đó mà quyết định Khi thực hành nhiệm vụ của mình,Thẩm phán và Hội thẩm "chỉ tuân theo Hiến pháp và pháp luật cũng như các quy phạm đạo đức được thừa nhận chung và quy tắc hành xử để góp phần khẳng định trong xã hội lòng tin vào công lý, sự không thiên vị và độc lập của Tòa án"27 Thẩmphán và Hội thẩm nhân dân phải tuân đúng pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình
sự, và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến vụ án cần giải quyết Đặc biệt,nguyên tắc này đòi hỏi Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân “không một bước xa rờikhỏi pháp luật, không có bất kỳ một sự lẩn tránh nào đối với pháp luật, không thathứ cho bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật dù lý do như thế nào đều không thể chấpnhận, đó là một đòi hỏi đối với tất cả mọi người”28 Đó là đòi hỏi có tính chất bắtbuộc đối với Hội thẩm nhân dânvà Thẩm phán để đảm bảo tính vô tư, khách quannhằm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Như vậy, "độc lập" và "chỉ tuân theo pháp luật" có quan hệ chặt chẽ với nhau.Độc lập là điều kiện cần thiết để Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử chỉ tuân theopháp luật Tuân theo pháp luật là cơ sở không thể thiếu để Thẩm phán và Hội thẩmnhân dân độc lập khi xét xử Độc lập không có nghĩa là thoát ra khỏi những quyđịnh của pháp luật mà độc lập trong sự thống nhất với việc tuân thủ pháp luật Độclập mà không tuân theo pháp luật thì độc lập trong xét xử không còn ý nghĩa vì sựxét xử tùy tiện, độc đoán, không tránh khỏi sự chủ quan, cảm tính khi đánh giá vấn
đề Độc lập thống nhất với việc tuân thủ pháp luật
1.2.3.3 Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số
Xét xử tập thể và quyết định theo đa số cũng là một trong những nguyên tắcbảo đảm tính chính xác, khách quan trong hoạt động tố tụng hình sự được Hiến
27 Bùi Ngọc Sơn,Sự độc lập của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 4 năm 2003, tr 43.
28 X.X.A-lếch-xây-ép,Pháp luật trong cuộc sống của chúng ta (người dịch: Đồng Ánh Quang, người hiệu đính: Nguyễn
Đình Lộc), Nxb Pháp lý, Hà Nội, 1986, tr.168.
Trang 31pháp, Bộ luật Tố tụng hình sự cũng như Luật tổ chức Tòa án nhân dân quy định29.Theo nguyên tắc này, việc xét xử ở các cấp Tòa án đều do một Hội đồng xét xử gồm
từ ba người trở lên thực hiện Khi giải quyết các vấn đề phát sinh tại phiên tòa vàkhi quyết định bản án, các thành viên của Hội đồng xét xử ngang quyền nhau vàquyết định theo đa số
Tính tập thể trong xét xử của nguyên tắc này được hiểu là việc xét xử bất cứcác vụ án hình sự nào, theo trình tự nào cũng do một Hội đồng tiến hành, đó là Hộiđồng xét xử, chứ không phải một cá nhân tiến hành nhằm đảm bảo việc xét xử vụ
án được khách quan, chính xác, tránh độc đoán Hội đồng xét xử gồm các Thẩmphán hoặc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân cùng tham gia Theo quy định củapháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự bắt buộc phải có sự tham gia củaHội thẩm nhân dân Trong trường hợp cần thiết, Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể
có Hội thẩm nhân dân tham gia Tùy theo tính chất của vụ án mà thành phần củaHội đồng xét xử được quy định khác nhau
Theo quy định của BLTTHS năm 2003 thì Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩmnhân dân Trong trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồngxét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân Đó là trườnghợp đối với những vụ án mà bị cáo bị đưa ra xét xử về tội theo khung hình phạt cómức cao nhất là tử hình thì Hội đồng xét xử gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩmnhân dân (Điều 185 BLTTHS năm 2003) Trong trường hợp này thì thành phần Hộiđồng xét xử phải có một Hội thẩm là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên Cộngsản Hồ Chí Minh tham gia (Điều 307 BLTTHS năm 2003)
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán và trong trường hợp cần thiết
có thể có thêm hai Hội thẩm nhân dân (Điều 244 BLTTHS năm 2003)
Việc xét lại bản án, quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật,thành phần Hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Tòa hình sự Tòa án nhân dân Tốicao hoặc Tòa án quân sự trung ương gồm có ba Thẩm phán Ủy ban Thẩm phán Tòa
án cấp tỉnh hoặc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao giám đốc thẩm hoặctái thẩm thì thành viên tham gia xét xử phải chiếm ít nhất hai phần ba tổng số thànhviên của Ủy ban Thẩm phán hoặc Hội đồng Thẩm phán (khoản 1 Điều 281BLTTHS năm 2003) Như vậy, khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự bắt buộc có Hội
29 Xem khoản 4 Điều 103 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013; Điều 17 Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2003; Điều 6 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002.
Trang 32thẩm nhân dân tham gia vào Hội đồng xét xử, còn ở cấp xét xử phúc thẩm sự thamgia này mang tính chất tùy nghi Đối với thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩmkhông có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân.
Để đảm bảo việc xét xử được khách quan, tất cả các quyết định của Tòa ánphải được tập thể thảo luận và quyết định theo đa số, không phụ thuộc vào ý kiếncủa cá nhân nào Mọi vấn đề của vụ án phải được đưa ra thảo luận và biểu quyết vềtừng vấn đề một Thẩm phán không được tự mình quyết định Để đảm bảo nguyêntắc độc lập xét xử, pháp luật quy định Thẩm phán là người biểu quyết sau cùng.Người có ý kiến thiểu số được quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản vàđược lưu trong hồ sơ vụ án
Tóm lại, những nguyên tắc cơ của hoạt động xét trong tố tụng hình sự là những
phương châm, những định hướng chi phối toàn bộ hoạt động của các Hội thẩm nhândân trong việc thực hiện chức năng xét xử của Tòa án nhân dân Sự tuân thủ đúngcác nguyên tắc xét xử cũng là nhằm mục đích bảo vệ quyền con người của công dân,tránh mọi sự lợi dụng quyền lực của chính các Hội thẩm nhân dân, cũng như để choHội thẩm nhân dân tránh được mọi áp lực từ phía cơ quan Nhà nước, đồng thời đềcao trách nhiệm của Hội thẩm nhân dân Do đó, trong quá trình tham gia tố tụng,Hội thẩm nhân dân phải chấp hành nghiêm chỉnh những nguyên tắc cơ bản của hoạtđộng xét xử cũng như những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự Đó là nềnmóng để từ đó hình thành nên địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân, góp phần giảiquyết đúng đắn, khách quan, truy cứu đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, khônglàm oan người vô tội, không để lọt tội phạm
1.3 1.3 M M Mố ố ốiiii quan quan quan h h hệệệệ gi gi giữ ữ ữa a a H H Hộ ộ ộiiii th th thẩ ẩ ẩm m m nh nh nhâ â ân n n d d dâ â ân n n v v vớ ớ ớiiii ccccá á ácccc ch ch chứ ứ ứcccc danh danh danh ttttư ư ư ph ph phá á áp p p kh kh khá á ácccc trong
trong ho ho hoạ ạ ạtttt độ độ động ng ng ttttố ố ố ttttụ ụ ụng ng ng h h hìììình nh nh ssssự ự
Những người tiến hành tố tụng có mối liên hệ mật thiết, thống nhất với nhaunhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành viphạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo vệ lợi ích củaNhà nước, lợi ích của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Trong quátrình xét xử, Hội thẩm nhân dân và Thẩm phán cần phải sử dụng toàn bộ kết quảcủa các giai đoạn tố tụng trước (khởi tố, điều tra, truy tố) Do đó, mối quan hệ giữaHội thẩm nhân dân với những người tiến hành tố tụng khác không chỉ tồn tại trongcùng một giai đoạn mà còn tồn tại trong các giai đoạn khác nhau của quá trình giảiquyết vụ án hình sự
Trang 331.3.1 Mối quan hệ giữa Hội thẩm nhân dân với Thẩm phán, Thư ký Tòa án
1.3.1.1 Mối quan hệ giữa Hội thẩm nhân dân với Thẩm phán
Mối quan hệ là sự gắn bó liền mặt nào đó giữa hai hoặc nhiều sự vật khác nhau,khiến sự vật này có biến đổi, thay đổi thì có thể tác động đến sự vật kia Như vậy,mối quan hệ giữa hai hoặc nhiều sự vật, hiện tượng trong xã hội thể hiện ở sự tácđộng lẫn nhau, có sự ảnh hưởng lẫn nhau trong sự tồn tại và phát triển Mối quan hệgiữa Hội thẩm nhân dân và Thẩm phán trong tố tụng hình sự cũng không nằm ngoàiquy luật đó
Mối quan hệ giữa Hội thẩm nhân dân và Thẩm phán chỉ xuất hiện khi cùng giảiquyết một vụ án hình sự cụ thể Họ tiến hành tố tụng với vai trò là thành viên Hộiđồng xét xử, giữ vai trò trung tâm trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Đứngtrước yêu cầu giải quyết vụ án hình sự nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi íchcủa xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mà Hội thẩm nhân dân cùngThẩm phán thực hiện những nhiệm vụ mà luật tố tụng hình sự đặt ra Chính vì thế,
có thể gọi đây là mối quan hệ tố tụng hình sự Mặc dù cùng nhau thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn trong cùng giai đoạn xét xử nhưng mối quan hệ giữa Hội thẩm nhândân và Thẩm phán không phải quan hệ chấp hành, điều hành, mà là quan hệ phốihợp nhằm chứng minh và xử lý tội phạm Cơ sở của mối quan hệ giữa hai chủ thểnày xuất phát từ nguyên tắc việc xét xử của Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dântham gia, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập khi xét xử đòi hỏi Thẩm phán và Hộithẩm nhân dân phải tuyệt đối tuân thủ Theo đó, Hội thẩm nhân dân có sự ngangquyền và tự chủ khi đưa ra quan điểm, kết luận luận của mình, không bị phụ thuộcvào ý chí của Thẩm phán khi xét xử nên giữ họ không tồn tại mối quan hệ chấphành, điều hành Không chỉ như vậy, Hội thẩm nhân dân còn thể hiện vai trò giámsát của mình đối với hoạt động tố tụng Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ ánhình sự
Như vậy, mối quan hệ giữa Hội thẩm nhân dân và Thẩm phán phát sinh khi họcùng tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự Đây là mối quan hệ phối hợp,
có sự giám sát trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được quy định trong luật tố tụnghình sự và chịu sự điều chỉnh của luật tố tụng hình sự
1.3.1.2 Mối quan hệ giữa Hội thẩm nhân dân và Thư ký phiên tòa
Thư ký phiên tòa là một trong những người tiến hành tố tụng và là một chứcdanh tư pháp để chỉ người có nhiệm vụ giúp đỡ Hội đồng xét xử trong phiên tòa(trong đó có Hội thẩm nhân dân) Trước khi mở phiên toà, Thư ký mời Hội thẩm
Trang 34nhân dân tham gia phiên toà theo yêu cầu của Thẩm phán và triệu tập những ngườitham dự phiên Toà trong sổ triệu tập phiên toà của Thẩm phán Bên cạnh đó, Thư kýphải liên hệ với các Hội thẩm nhân dân có tên trong quyết định đưa vụ án ra xét xử.Trường hợp Hội thẩm nhân dân được phân công không thể tham gia xét xử được thìThư ký Toà án phải báo cáo với Thẩm phán để thay đổi Hội thẩm nhân dân khác.Tại phiên toà, Hội thẩm nhân dân và Thư ký phiên tòa đều là những người tiến hành
tố tụng nhưng có vị trí, chức năng, nhiệm vụ khác nhau Hội thẩm nhân dân cóquyền xét hỏi, tranh luận, nghị án để đưa phán quyết về vụ án, Thư ký phiên tòakhông có các quyền này Sau phiên toà, Thư ký Toà án phải rà soát bản án để xinchữ ký của Hội thẩm nhân dân, làm các thủ tục để thanh toán tiền bồi dưỡng phiêntoà cho Hội đồng xét xử Mặc dù chức năng, nhiệm vụ của Thư ký phiên tòa và Hộithẩm nhân dân khác nhau nhưng cùng chung mục đích là hoàn thành nhiệm vụ xét
xử vụ án hình sự, do đó phải có sự phối hợp chặt chẽ, tạo điều kiện tốt nhất để Hộithẩm nhân dân hoàn thành nhiệm vụ
1.3.2 Mối quan hệ giữa Hội thẩm nhân dân với các chức danh tư pháp kháctrong hoạt động tố tụng
Mỗi cơ quan tiến hành tố tụng tham gia vào quan hệ tố tụng cụ thể cần phảithông qua những con người cụ thể Cốt lõi mối quan hệ giữa các cơ quan này chính
là mối quan hệ giữa những đại diện cho cơ quan đó Điều tra viên đại diện cho Cơquan điều tra, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát, Thẩm phán, Hội thẩm nhândân đại diện cho Tòa án nhân dân Như vậy, việc tìm hiểu mối quan hệ giữa Hộithẩm nhân dân với Điều tra viên và Kiểm sát viên được đặt trong mối quan hệ vớicác cơ quan mà họ đại diện
1.3.2.1 Mối quan hệ giữa Hội thẩm nhân dân và Điều tra viên
Điều tra viên và Hội thẩm nhân dân ở hai vị trí khác nhau, thực hiện nhữngnhiệm vụ riêng theo quy định của pháp luật Nhưng điều đó không có nghĩa là Hộithẩm nhân dân và Điều tra viên không có mối quan hệ với nhau Dễ nhận thấy nhất,phiên tòa chính là nơi kiểm tra công khai kết quả hoạt động điều tra của các Điều traviên trong Cơ quan điều tra Phải thừa nhận rằng, kết quả hoạt động của Cơ quanđiều tra trong thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm và người phạm tội (kết luậnđiều tra) không chỉ phục vụ trực tiếp cho Viện kiểm sát ra quyết định truy tố bị can,
mà còn giúp cho Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa quyết định đưa vụ
án ra xét xử Từ đó, Hội thẩm nhân dân chính thức tham gia vào quá trình giải quyết
vụ án Mối quan hệ giữa Điều tra viên và Hội thẩm nhân dân xuất phát từ nhiệm vụ
Trang 35bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Hộithẩm nhân dân và Điều tra viên thực hiện nhiệm vụ khác nhau trong hai giai đoạn tốtụng khác nhau, nhưng hoạt động của hai chủ thể này nằm trong một quá trình giảiquyết vụ án hình sự cụ thể Mặc dù cùng thực hiện chức năng tư pháp, nhưng mốiquan hệ giữa hai chủ thể này ở hai giai đoạn tố tụng khác nhau Điều này cho thấy,giữa Hội thẩm nhân dân và Điều tra viên không phản ánh mối quan hệ phụ thuộclẫn nhau, không có tính chế ước lẫn nhau trong hoạt động tố tụng hình sự Tòa án,
cụ thể là Hội thẩm nhân dân và Thẩm phán, không buộc Điều tra viên phải làm haykhông làm một việc trong hoạt động tố tụng Tất cả sự tác động qua lại giữa nhữngngười tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan điều tra và Tòa án đều phải thông qua Việnkiểm sát Tất nhiên trong giai đoạn xét xử, có những việc Tòa án yêu cầu Cơ quanđiều tra thực hiện thì Cơ quan điều tra phải thực hiện Ví dụ, tại phiên tòa, nếu bịcáo bỏ trốn thì Hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án và yêu cầu Cơ quan điều tra truy
nã bị cáo30; Hội đồng xét xử ra quyết định bắt bị cáo để tạm giam nhằm đảm bảo thihành án31 Nhưng việc thực hiện của Cơ quan điều tra không mang tính chấp hành,điều hành, mà là thực hiện các hành vi tố tụng theo quy định của BLtố tụng hình sự
Từ tất cả những đặc điểm nêu trên, có thể thấy giữa Hội thẩm nhân dân và Điều traviên có mối quan hệ phối hợp cùng nhau thực hiện những nhiệm vụ tố tụng đặt ra
1.3.2.2 Mối quan hệ giữa Hội thẩm nhân dân và Kiểm sát viên
Kiểm sát viên và Hội thẩm nhân dân là hai chức danh tư pháp mà BLTTHSquy định bắt buộc có sự tham gia của họ ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việctuân theo pháp luật của các cơ quan tư pháp khác, trong đó có Tòa án nhân dân.Trong khi đó, Hội thẩm nhân dân đại diện cho Tòa án nhân dân thực hiện việc xét
xử Mặc dù, Hội thẩm nhân dân và Kiểm sát viên đại diện cho hai Cơ quan khácnhau, thực hiện hai chức năng khác nhau nhưng họ cùng tham gia vào một phiên tòaxét xử để giải quyết vụ án hình sự Như vậy, giữa họ có sự phối hợp cùng nhau thựchiện các hoạt động tố tụng để giải quyết vụ án hình sự theo chức năng, nhiệm vụđược giao nhằm hướng đến mục tiêu chung là truy cứu đúng người, đúng tội, khônglàm oan người vô tội, không để lọt tội phạm Bên cạnh đó, giữa Hội thẩm nhân dân
và Kiểm sát viên còn tồn tại quan hệ chế ước lẫn nhau Quan hệ chế ước là sự tácđộng khống chế, kiềm chế lẫn nhau trong nhũng điều kiện nhất định, đảm bảo cho
30 Đoạn 3 khoản 1 Điều 187 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.
31 Điều 228 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.
Trang 36hoạt động tố tụng được khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật Trong hoạt động
tố tụng hình sự là sự tác động qua lại giữa hai chủ thể này được thể hiện qua việckiểm tra, giám sát, phát hiện các sai sót, thiếu sót để bổ sung, khắc phục Kiểm sátviên kiểm sát việc tuân thủ theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhândân, kiểm sát các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân theo quy định của phápluật Trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp,Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án nhân dân Ngượclại, Hội đồng xét xử có thể yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việcxét xử tại phiên tòa sơ thẩm mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mớicần phải điều tra Đồng thời, tham gia vào hoạt động xét xử, Hội thẩm nhân dân đạidiện nhân dân giám sát quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên.Hoạt động kiểm tra, giám sát lẫn nhau nhằm đảm bảo cho các hoạt động tố tụngdiễn ra đúng pháp luật, loại trừ các vi phạm pháp luật, góp phần bảo vệ pháp chế xãhội chủ nghĩa Như vậy, đây là mối quan hệ phối hợp - chế ước trong tố tụng hìnhsự
Mối quan hệ giữa Hội thẩm nhân dân với các chức danh tư pháp khác đều làmối quan hệ phối hợp cùng nhau thực hiện nhiệm vụ đấu tranh, phòng chống tộiphạm, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội và cùng có trách nhiệm là mọi hành viphạm tội phải được phát hiện điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, không để lọt tộiphạm và không làm oan người vô tội, tôn trọng và bảo vệ quyền và lợi ích của côngdân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự Tuy nhiên, mối quannày còn tồn tại sự chế ước lẫn nhau đảm bảo cho hoạt động tố tụng được kháchquan, có căn cứ và đúng pháp luật, do đó nếu thực hiện không tốt tất yếu sẽ ảnhhưởng đến chất lượng và hiệu quả hoạt động tố tụng của Tòa án nhân dân
Nhìn chung, pháp luật tố tụng hình sự quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Hội
thẩm nhân dân nhằm mục đích nâng cao địa vị pháp lý của họ trong hoạt động tốtụng hình sự đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Đặc biệt, Hộithẩm nhân dân vào hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân có ý nghĩa vô cùng quantrọng trong việc nâng cao tính dân chủ tại các phiên tòa hình sự, đặc biệt là phiêntòa hình sự sơ thẩm Từ những phân tích trên cũng như tìm hiểu về vị trí, vai trò củaHội thẩm nhân dân trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dâncùng những nguyên tắc có ý nghĩa định hướng cho Hội thẩm nhân dân góp phầnnâng cao hiệu quả hoạt động của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự
Trang 37CH CHƯƠ ƯƠ ƯƠNG NG NG 2 2
ĐỊ ĐỊA A A V V VỊỊỊỊ PH PH PHÁ Á ÁP P P L L LÝ Ý Ý C C CỦ Ủ ỦA A A H H HỘ Ộ ỘIIII TH TH THẨ Ẩ ẨM M M NH NH NHÂ Â ÂN N N D D DÂ Â ÂN N N TRONG TRONG
T
TỐ Ố Ố T T TỤ Ụ ỤNG NG NG H H HÌÌÌÌNH NH NH S S SỰ Ự Ự VI VI VIỆ Ệ ỆT T T NAM NAM
Trong chương này, tác giả tập trung phân tích về địa vị pháp lý của Hội thẩmnhân dân như căn cứ nào xác định địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân, quyền vànghĩa vụ của Hội thẩm nhân dân thể hiện trong các mối quan hệ tố tụng hình sự tạiphiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
2.1 2.1 C C Că ă ăn n n ccccứ ứ ứ x x xá á ácccc đị đị định nh nh đị đị địa a a v v vịịịị ph ph phá á áp p p llllý ý ý ccccủ ủ ủa a a H H Hộ ộ ộiiii th th thẩ ẩ ẩm m m nh nh nhâ â ân n n d d dâ â ân n n trong trong trong ttttố ố ố ttttụ ụ ụng ng h
hìììình nh nh ssssự ự ự Vi Vi Việệệệtttt Nam Nam
2.1.1 Hội thẩm nhân dân là người nhân danh Nhà nước thực hiện các hoạtđộng tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật
Hội thẩm nhân dân được Nhà nước giao thẩm quyền thực hiện các hành vi tốtụng trong hoạt động xét xử vụ án hình sự của Tòa án nhân dân Khoản 1 Điều 102Hiến pháp Việt Nam quy định: "Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hành quyền tư pháp" Quy định này khẳng
định rằng, Tòa án nhân dân là chủ thể có quyền nhân danh Nhà nước tiến hành việcxét xử, đưa ra bản án, quyết định giải quyết vụ án Sự phán quyết ấy có ý chí củaHội thẩm nhân dân và sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợi ích của Nhà nước, của
cá nhân, tổ chức, ảnh hưởng đến uy tính của quốc gia, dân tộc Đặc biệt, trong tốtụng hình sự, bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có ảnh hưởng đến tính mạng,sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của những người tham gia tố tụng Do tính chất quantrọng như vậy, trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Hội thẩm nhândân phải vô tư, không thiên vị để cùng với Thẩm phán giải quyết vụ án một cáchđúng đắn, bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của nhữngngười tham gia tố tụng
Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Hội thẩm nhân dân được Nhà nướcquy định trong BLTTHS và Nhà nước chỉ trao cho người mang chức danh này màkhông trao cho bất cứ chức danh nào khác trong bộ máy Nhà nước Trong tố tụnghình sự, khi được Chánh án Tòa án nhân dân phân công tham gia giải quyết vụ ánhình sự cụ thể, Hội thẩm nhân dân tham gia vào Hội đồng xét xử mang chức danhHội thẩm nhân dân thì mới có những quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm theo quy địnhcủa BLTTHS Cụ thể, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Hội thẩm nhân dânđược quy định tại Điều 40 BLTTHS năm 2003 Suy cho cùng, nhiệm vụ, quyền hạncủa Hội thẩm nhân dân xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân
Trang 382.1.2 Hội thẩm nhân dân giữ vai trò trung tâm trong việc phát huy dân chủ,góp phần nâng cao uy tín, sức mạnh của Tòa án nhân dân
Chế định Hội thẩm nhân dân là chế định tập trung sự tham gia của nhân dânvào hoạt động quản lý xã hội nói chung, động xét xử xử của Tòa án nhân dân nóiriêng Hội thẩm nhân dân tham gia vào hoạt động tố tụng hình sự đảm bảo nguyêntắc thực thi quyền lực Nhà nước của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa ánnhân dân, phát huy dân chủ
Hiệu quả hoạt động của Hội thẩm nhân dân và Thẩm phán chính là hiệu quảhoạt động của Tòa án nhân dân Trong Tòa án nhân dân có rất nhiều cán bộ, nhânviên, nhưng chỉ có Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân được phân công tham gia xét
xử mới có thẩm quyền tố tụng để đưa ra phán quyết về vụ án, những người còn lạichỉ thực hiện những công việc nhằm mục đích bổ trợ, phục vụ cho các hoạt động tốtụng đó Tòa án nhân dân mạnh hay yếu, hoạt động có hiệu quả hay không phụthuộc hoàn toàn vào hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân vì hầuhết các hoạt động của họ đều trực tiếp tác động đến quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân Do đó, hoạt động của họ có hiệu quả sẽ tạo nên dư luận xã hội tốt, tạodựng được uy tín của Tòa án nhân dân, cao hơn nữa là sự tin tưởng vào tính nghiêmminh, công bằng của pháp luật ở nhân dân Ngược lại, nếu hiệu quả hoạt động củangười tiến hành tố tụng kém, không bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của Nhànước, tổ chức và cá nhân sẽ gây nên dư luận bất bình của xã hội và mất lòng tin củanhân dân đối với Tòa án nhân dân nói riêng và đối với nhà nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam nói chung Hội thẩm nhân dân góp phần nâng cao uy tín, sứcmạnh của bộ máy Nhà nước mà đại diện là cơ quan bảo vệ pháp luật - Tòa án nhândân
2.1.3 Hoạt động của Hội thẩm nhân dân góp phần quyết định trong việc bảo
vệ trật tự pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Việc áp dụng đúng các quy định về trình tự, thủ tục trong hoạt động xét xử làyêu cầu quan trọng nhất đối với những người tiến hành tố tụng, trong đó có Hộithẩm nhân dân Vì khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng đúng pháp luật thìviệc phát hiện, xác định tội phạm và người phạm tội được chính xác, xử lý nghiêmminh, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo vệ các quyền và lợiích hợp pháp của công dân
Hội thẩm nhân dân là thành viên Hội đồng xét xử, trực tiếp đưa ra ý kiến trongbản án, quyết định của Tòa án nhân dân có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích
Trang 39hợp pháp của những người tham gia tố tụng Do đó, Hội thẩm nhân dân phải chấphành nghiêm chỉnh những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự nói chung,những nguyên tắc cơ bản của hoạt động xét xử nói riêng nhằm xét xử đúng người,đúng tội góp phần củng cố hiệu lực của pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủnghĩa.
Nhìn chung, các căn cứ xác định địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân dựa trên
hai yếu tố là vai trò và nhiệm vụ của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự Cáccăn cứ trên chính là cơ sở để xác định địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân, thôngqua đó để có nhìn nhận đúng về địa vị của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự
2.2 2.2 Đị Đị Địa a a v v vịịịị ph ph phá á áp p p llllý ý ý ccccủ ủ ủa a a H H Hộ ộ ộiiii th th thẩ ẩ ẩm m m nh nh nhâ â ân n n d d dâ â ân n n trong trong trong ccccá á ácccc m m mố ố ốiiii quan quan quan h h hệệệệ ttttố ố ố ttttụ ụ ụng ng h
hìììình nh nh ssssự ự
Địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự thể hiện vị trí củaHội thẩm nhân dân trong mối quan hệ với những người tiến hành tố tụng và nhữngngười tham gia tố tụng
2.2.1 Địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân trong mối quan hệ với người tiếnhành tố tụng
2.2.1.1 Địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân trong mối quan hệ với Thẩm phán
Quá trình giải quyết bất kỳ vụ án hình sự nào đều do một Hội đồng tiến hành.Đặc biệt, Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhândân bắt buộc có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân Do vậy, khi tham gia xét xử,Hội thẩm nhân dân luôn song hành với Thẩm phán để thực hiện nhiệm vụ cao cả là
để bảo vệ công lý, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa Sự hiện diện của Hội thẩm nhândân trong quá trình xét xử khẳng định rằng, nhân dân luôn phải có tiếng nói củamình trong hoạt động tư pháp, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân
Hội thẩm nhân dân và Thẩm phán tham gia tố tụng nhằm thực hiện mục đích
cơ bản của tố tụng hình sự là tìm ra sự thật khách quan về vụ án, trừng trị đúngngười, đúng tội, không làm oan, sai Vì vậy, hai chủ thể này có trách nhiệm xem xét
và giải quyết toàn diện vụ án theo quy định của pháp luật nhằm xác định hành viphạm tội, người thực hiện tội phạm và những tình tiết có liên quan đến vụ án, trên
cơ sở đó đưa ra bản án, quyết định phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án.Thông qua quá trình xem xét, đánh giá chứng cứ, chứng minh tội phạm nhằm khẳngđịnh bị cáo là có tội hay không có tội, nếu có tội thì Hội thẩm nhân dân cùng với
Trang 40Thẩm phán phải xác định đó là tội phạm gì, theo quy định tại điều nào, khoản nàocủa Bộ luật hình sự.
Hội thẩm nhân dân có thể bổ sung cho Thẩm phán những kiến thức xã hội cầnthiết để Thẩm phán đưa ra phán quyết vừa đúng pháp luật vừa hợp lòng dân Bản án,quyết định của Tòa án nhân dân có ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, tàisản, danh dự, nhân phẩm của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác Để đưa
ra phán quyết giải quyết vụ án đúng pháp luật, hợp lẽ công bằng, xử phạt đúngngười, đúng tội đòi hỏi Thẩm phán phải có kiến thức pháp luật, kiến thức xã hội, lậptrường và nghiệp vụ vững chắc Cũng chính vì lẽ đó, pháp luật nước ta quy định,việc xét xử của Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân tham gia để Hội thẩm nhândân đại diện quần chúng nhân dân, đem tiếng nói, tâm tư nguyên vọng của nhân dân
và những hiểu biết thực tế của mình đến phiên tòa Bởi họ là những người am hiểuthực tế cuộc sống, nắm được tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, từ đó giúp họ dễdàng trong việc tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội, tâm lý của người bị buộctội Thông qua đó, Thẩm phán đưa ra phán quyết thấu tình, đạt lý
Hội thẩm nhân dân dân có quyền hạn ngang với Thẩm phán trong toàn bộ quátrình giải quyết vụ án Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán trong việchỏi, Thẩm phán không được ngắt lời Hội thẩm nhân dân đang hỏi Sau khi Thẩmphán - chủ tọa phiên tòa hỏi, Hội thẩm nhân dân có quyền hỏi thêm những ngườiđược triệu tập tham gia tố tụng về những vấn đề có liên quan đến vụ án, góp phầnlàm sáng tỏ các tình tiết của vụ án, nhưng Thẩm phán chưa hỏi Bên cạnh đó, khiqua mỗi thủ tục tại phiên tòa, Thẩm phán phải hỏi ý kiến của Hội thẩm nhân dânxem có bổ sung gì không mới được chuyển sang phần khác
Hội thẩm nhân dân độc lập xét hỏi bị cáo và những người tham gia tố tụngkhác Hội thẩm nhân dân tự mình quyết định phải hỏi ai, hỏi như thế nào, theo thứ
tự như thế nào mà không phụ thuộc vào ý chí của Thẩm phán Sự độc lập giữ vai tròquan trọng hơn nữa khi Hội thẩm nhân dân đưa ra ý kiến phán quyết về vụ án Tạiphiên tòa, tuy Hội thẩm nhân dân và Thẩm phán cùng chung Hội đồng xét xử nhưngHội thẩm nhân dân tự đưa ra quyết định trên cơ sở các quy định của pháp luật, cácchứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận bình đẳng, dân chủ Các cơ
sở đó là kết quả của việc điều tra chính thức công khai toàn bộ các tình tiết của vụ
án, thẩm tra các chứng cứ đã thu thập được trong gia đoạn điều tra, xem xét cácchứng cứ mới, nghe tranh luận của các bên tham gia tranh tụng, của Hội thẩmnhân dân và Thẩm phán