1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khám xét người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm trong tố tụng hình sự lý luận và thực tiễn

83 1,5K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của biện pháp khám xét trong hoạt động tố tụng hình sự cũng như sự ảnh hưởng của biện pháp này đối với quyền lợi ích hợp pháp của công dân, song

Trang 1

TỐ TỤNG HÌNH SỰ - LÝ LUẬN VÀ

THỰC TIỄN

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Th.S Mạc Giáng Châu Trương Công Nguyên

Trang 2

LỜI CÁM ƠN

Trải qua bốn năm học tập dưới mái trường Đại học Cần Thơ đã trang bị cho tôi những vốn kiến thức, những trải nghiệm và bài học quý báu làm hành trang bước vào tương lai Để đạt được những kết quả như ngày hôm nay cũng như để hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp thì ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến:

Quý Thầy, Cô trường Đại học Cần Thơ, quý Thầy, Cô Khoa Luật đã tận tình truyền đạt cho tôi những vốn kiến thức quý giá trong suốt quá trình học tập tại trường

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến cô Mạc Giáng Châu, cô đã hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp Cô đã giúp tôi có những định hướng nghiên cứu, phương pháp tiếp cận và giải quyết vấn

đề một cách hoàn chỉnh

Dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài nhưng chắc chắn vẫn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy, Cô và các bạn sinh viên để đề tài luận văn được hoàn thiện hơn

Cuối lời tôi xin kính chúc quý Thầy, Cô và các bạn sinh viên thật nhiều sức khỏe và thành công trong công việc

Cần Thơ, ngày tháng năm

Người viết

Trương Công Nguyên

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Cần Thơ, ngày tháng năm

Giảng viên hướng dẫn

Trang 4

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN

Cần Thơ, ngày tháng năm

Giảng viên phản biện

Trang 5

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KHÁM XÉT TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 5

1.1 Khái quát chung về hoạt động khám xét trong tố tụng hình sự 5

1.1.1 Khái niệm chung về hoạt động khám xét 5

1.1.1.1 Khái niệm khám xét 5

1.1.1.2 Khái niệm về khám xét người 8

1.1.1.3 Khái niệm về khám xét chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm 8

1.1.2 Bản chất của hoạt động khám xét 9

1.1.2.1 Khám xét là hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự 9

1.1.2.2 Khám xét là hoạt động tìm kiếm chứng cứ, lục soát có định hướng, có kĩ thuật 10

1.1.3 Mục đích khám xét 10

1.1.3.1 Phát hiện, thu thập những tài liệu, chứng cứ có ý nghĩa đối với công tác điều tra vụ án hình sự 10

1.1.3.2 Phát hiện, thu giữ những đồ vật, tài sản phục vụ cho việc bồi thường thiệt hại hoặc những đồ vật, tài liệu thuộc loại cấm tàng trữ, lưu hành 12

1.1.3.3 Phát hiện tội phạm 13

1.2 Cơ sở lý luận về hoạt động khám xét trong tố tụng hình sự 15

1.2.1 Nguyên tắc cơ bản của hoạt động khám xét 15

1.2.1.1 Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự 15

1.2.1.2 Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân 15

1.2.2 Nguyên tắc cụ thể của hoạt động khám xét 17

1.2.2.1 Nghiêm chỉnh tuân theo pháp luật 17

1.2.2.2 Bảo đảm yêu cầu về nghiệp vụ 17

1.2.2.3 Đảm bảo tính khách quan của hoạt động khám xét 18

1.2.2.4 Trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng 19

1.2.2.5 Bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân bị khám xét 20

Trang 6

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

1.2.2.6 Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư

tín, điện thoại, điện tín của công dân 21

1.2.2.7 Đảm bảo người tiến hành khám người không được khám người khác giới và có người cùng giới chứng kiến 22

1.2.2.8 Đảm bảo người tiến hành khám xét không lạm dụng quyền trong hoạt động khám xét 22

CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ KHÁM XÉT NGƯỜI, CHỖ Ở, CHỖ LÀM VIỆC, ĐỊA ĐIỂM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 23

2.1 Khám người 23

2.1.1 Đối tượng bị khám xét 23

2.1.1.1 Khám người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp 23

2.1.1.2 Khám người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang 24

2.1.1.3 Khám người bị bắt trong trường hợp đang bị truy nã 26

2.1.1.4 Khám người trong trường hợp bắt bị can, bị cáo để tạm giam 27

2.1.1.5 Những người có mặt nơi khám xét khi có căn cứ cho rằng người đó đang che giấu những đồ vật, tài liệu cần thu giữ 27

2.1.2 Căn cứ khám xét người 28

2.1.2.1 Căn cứ để nhận định trong người có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có 28

2.1.2.2 Căn cứ nhận định trong người có đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án 29

2.1.3 Thẩm quyền ra lệnh khám xét người 30

2.1.3.1 Thẩm quyền ra lệnh khám xét trong mọi trường hợp 30

2.1.3.2 Thẩm quyền ra lệnh khám xét trong trường hợp không thể trì hoãn 31

2.1.4 Trình tự, thủ tục khám xét người 33

2.1.4.1 Trình tự, thủ tục khám xét người theo lệnh 33

2.1.4.2 Trình tự, thủ tục khám xét người không cần có lệnh 38

2.2 Khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm 40

2.2.1 Đối tượng bị khám xét 40

2.2.1.1 Chỗ ở 40

2.2.1.2 Chỗ làm việc 41

Trang 7

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

2.2.1.3 Địa điểm 42

2.2.2 Căn cứ khám xét 43

2.2.2.1 Căn cứ nhận định chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm của một người có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án 43

2.2.2.2 Tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã 43

2.2.3 Thẩm quyền ra lệnh khám xét 44

2.2.3.1 Thẩm quyền ra lệnh khám xét trong mọi trường hợp 44

2.2.3.2 Thẩm quyền ra lệnh khám xét trong trường hợp không thể trì hoãn 44

2.2.4 Trình tự, thủ tục khám xét chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm 44

2.2.4.1 Trình tự, thủ tục khám xét chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm trong điều kiện bình thường 45

2.2.4.2 Trình tự, thủ tục khám xét chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm trong trường hợp không thể trì hoãn 49

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ TỒN TẠI VÀ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO, HOÀN THIỆN BIỆN PHÁP KHÁM XÉT NGƯỜI, CHỖ Ở, CHỖ LÀM VIỆC, ĐỊA ĐIỂM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 51

3.1 Một số tồn tại về mặt pháp lý và giải pháp đề xuất hoàn thiện luật 51

3.1.1 Biện pháp khám xét người 51

3.1.1.1 Đối tượng bị khám xét 51

3.1.1.2 Thẩm quyền ra lệnh khám xét 53

3.1.1.3 Trình tự, thủ tục khám xét 58

3.1.2 Biện pháp khám xét chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm 59

3.1.2.1 Thẩm quyền ra lệnh khám xét 59

3.1.2.2 Trình tự, thủ tục khám xét 59

3.2 Những tồn tại trong thực tiễn áp dụng và giải pháp đề xuất 61

3.2.1 Về việc áp dụng biện pháp khám xét người 61

3.2.1.1 Tồn tại 61

3.2.1.2 Giải pháp 63

3.2.2 Về việc áp dụng biện pháp khám xét chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm 65

3.2.2.1 Tồn tại 65

3.2.2.2 Giải pháp 69

Trang 8

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

KẾT LUẬN 71

Trang 9

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khám xét là một biện pháp trong hoạt động điều tra được pháp luật tố tụng

hình sự ghi nhận với mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động điều tra,

giúp quá trình giải quyết vụ án hình sự được diễn ra chính xác và khách quan, đồng

thời góp phần tích cực vào việc thắng lợi mục tiêu phòng chống tội phạm, không để

lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng

của biện pháp khám xét trong hoạt động tố tụng hình sự cũng như sự ảnh hưởng của

biện pháp này đối với quyền lợi ích hợp pháp của công dân, song song với quá trình

xây dựng và bảo vệ đất nước, công tác lập pháp ở nước ta luôn chú trọng và xây

dựng các quy định của pháp luật về hoạt động điều tra vụ án hình sự nói chung và

biện pháp khám xét nói riêng cũng như việc bảo đảm về quyền và lợi ích hợp pháp

của công dân Tùy vào giai đoạn, tình hình của đất nước mà các quy định của pháp

luật về biện pháp khám xét có sự thay đổi khác nhau để phù hợp với yêu cầu của đất

nước tình hình hiện tại

Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ

Cộng hòa ra đời, đây là mốc son chói lọi in đậm trong lịch sử dựng nước của dân

tộc ta Để củng cố, xây dựng và phát triển đất nước, bảo vệ quyền lợi của nhân dân

cũng như phù hợp với bối cảnh tình hình đất nước mới thành lập nền dân chủ còn

non trẻ lúc bấy giờ, Nhà nước ta đã ban hành các Sắc lệnh quy định về bảo đảm các

quyền tự do cá nhân Nhận định được tầm quan trọng đó, Hiến pháp năm 1946 đã

chú trọng đặc biệt đến việc bảo đảm quyền lợi dân chủ cho nhân dân Trong luật số

103/SL/L.005 ngày 20 tháng 5 năm 1957 về “đảm bảo quyền tự do thân thể và

quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân”, biện pháp

khám xét lần đầu tiên được ghi nhận Tiếp đó, với sự ra đời của Hiến pháp 1959,

Hiến pháp 1980 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 thì biện pháp khám xét với tư

cách là biện pháp điều tra được quy định cụ thể tại Chương XXI, Bộ luật tố tụng

hình sự - Khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản Những quy định của pháp luật

về biện pháp khám xét đã góp phần tác động to lớn đến công tác điều tra phát hiện,

thu thập đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều

tra và giải quyết các vụ án hình sự

Trang 10

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

Sau Hiến pháp 1980 là Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001

cùng với Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, các quy định về biện pháp khám xét

tiếp tục được hoàn thiện, được quy định cụ thể hơn so với tình hình thực tế và ngày

càng khẳng định vị trí, vai trò của biện pháp này trong quá trình điều tra vụ án Hiện

nay, Hiến pháp 2013 cũng tiếp tục quy định cụ thể hơn về các quyền con người

trong đó có các quyền bất khả xâm phạm về thân thể, chỗ ở, chỗ làm việc của công

dân

Tuy nhiên, bên cạnh các thành quả đạt được việc áp dụng biện pháp khám

xét hiện nay vẫn còn gặp một số thiếu sót, hạn chế Vẫn còn tình trạng khám xét trái

pháp luật, khám xét không có căn cứ, khám xét không đúng trình tự, thủ tục xâm

phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị khám xét Việc nắm vững

những quy định của pháp luật cũng như có những nhận thức đúng đắn về việc áp

dụng biện pháp khám xét có ý nghĩa rất quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn, tạo

điều kiện thuận lợi cho công tác điều tra giải quyết vụ án hình sự qua việc phát hiện,

thu thập các công cụ, phương tiện phạm tội hoặc đồ vật tài liệu liên quan đến vụ án

Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, tình hình diễn biến tội phạm đang diễn ra một

cách tinh vi và phức tạp Trước tình hình đó, biện pháp khám xét đang đứng trước

những yêu cầu và thách thức mới phải hoàn thiện cho phù hợp với tình hình mới, là

biện pháp đắc lực hỗ trợ cho hoạt động điều tra, giải quyết vụ án hình sự và thể hiện

đúng vai trò của biện pháp khám xét

Từ những vấn đề nêu trên, việc nghiên cứu đề tài “Khám xét người, chỗ ở,

chỗ làm việc, địa điểm trong tố tụng hình sự - Lý luận và thực tiễn” là cấp thiết

và mang tính thời sự Đó cũng chính là lí do để người viết lựa chọn và nghiên cứu

đề tài luận văn này

2 Phạm vi nghiên cứu

Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, việc áp dụng biện

pháp khám xét phải tuân thủ các quy định về căn cứ áp dụng, đối tượng bị áp dụng,

thẩm quyền ra lệnh khám xét, trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp khám xét Bên

cạnh đó, còn phải chú trọng bảo vệ các quyền và lợi ích của người bị khám xét,

người có đối tượng bị khám xét chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm theo pháp luật trong

giai đoạn điều tra Theo pháp luật tố tụng hình sự hiện nay biện pháp khám xét bao

gồm: khám xét người; khám xét chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm; khám xét đồ vật, thư

tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm Tuy nhiên, đứng trên khía cạnh áp dụng biện pháp

khám xét, người viết chỉ tập trung nghiên cứu về căn cứ áp dụng, đối tượng bị khám

Trang 11

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

xét, thẩm quyền ra lệnh khám xét, trình tự, thủ tục khám xét khi áp dụng biện pháp

khám xét người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm theo quy định của pháp luật tố tụng

hình sự hiện hành mà không nghiên cứu về biện pháp khám xét đồ vật, thư tín, điện

tín, bưu kiện, bưu phẩm

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu đề tài “Khám xét người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa

điểm trong tố tụng hình sự - Lý luận và thực tiễn” là nhằm làm sáng tỏ về mặt lý

luận cũng như thực tiễn về việc áp dụng biện pháp khám xét Về mặt lý luận, biện

pháp khám xét là một trong những biện pháp của hoạt động điều tra được quy định

trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 nhằm mục đích phát hiện, thu thập chứng

cứ có ý nghĩa cho việc điều tra, giải quyết vụ án hình sự Bên cạnh đó, hiện nay

chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể về khái niệm khám

xét Các khái niệm khám xét theo khoa học pháp lý vẫn chưa được hiểu một cách

thống nhất và toàn diện Vì thế, trong thời gian tới các nhà nghiên cứu luật học, các

nhà làm luật cần thống nhất đưa ra khái niệm khám xét một cách toàn diện và có

hiệu lực pháp lý Thực tiễn áp dụng biện pháp khám xét này cũng không thống nhất,

chính xác và đồng bộ Xuất hiện tình trạng khám xét trái pháp luật xâm phạm đến

các quyền và lợi ích cơ bản của công dân Giải pháp đề ra là cần xây dựng hoàn

hiện các quy định của pháp luật về biện pháp khám xét đáp ứng yêu cầu của tình

hình mới Có như vậy, biện pháp khám xét mới thực sự là biện pháp hữu hiệu phục

vụ cho hoạt động điều tra và giải quyết vụ án hình sự trong giai đoạn hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài luận văn này, người viết đã sử dụng các phương pháp nghiên

cứu như sau: phương pháp nghiên cứu và phân tích luật viết; phương pháp nghiên

cứu trên tài liệu, sách vở; phương pháp sưu tầm số liệu thực tế và tổng hợp các

thông tin thông qua các bài viết, giáo trình, các văn bản pháp luật có liên quan, một

số sách và tạp chí chuyên ngành

5 Cấu trúc đề tài

Đề tài nghiên cứu luận văn này gồm có ba chương:

- Chương 1: Lý luận chung về hoạt động khám xét trong tố tụng hình sự

- Chương 2: Những quy định của pháp luật về khám xét người, chỗ ở, chỗ

làm việc, địa điểm trong tố tụng hình sự

- Chương 3: Một số tồn tại và giải pháp đề xuất nhằm nâng cao, hoàn thiện

biện pháp khám xét người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm trong tố tụng hình sự

Trang 12

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

Đề tài nghiên cứu “Khám xét người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm trong

tố tụng hình sự - Lý luận và thực tiễn” là vấn đề khá phức tạp Đề tài này đòi hỏi

người viết cần có kiến thức sâu rộng và nắm bắt được các vấn đề cốt lõi cả về lý

luận lẫn thực tiễn về biện pháp khám xét này Để từ đó nhận thức được những tồn

tại và vướng mắc còn gặp phải và đề xuất giải pháp giải quyết Là một sinh viên

năm cuối, lần đầu tiên được tiếp cận với một đề tài nghiên cứu khoa học cũng như

vốn kiến thức hiểu biết có giới hạn Vì vậy, có những thiếu sót hay sai lầm trong đề

tài nghiên cứu này là điều không tránh khỏi Người viết rất mong nhận được sự

đóng góp ý kiến đánh giá, phê bình của Thầy, Cô và các bạn sinh viên

Trang 13

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KHÁM XÉT

TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1 Khái quát chung về hoạt động khám xét trong tố tụng hình sự

1.1.1 Khái niệm chung về hoạt động khám xét

1.1.1.1 Khái niệm khám xét

Biện pháp khám xét trong tố tụng hình sự là một chế định quan trọng trong

các hoạt động điều tra vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Bởi vì, điều tra

vụ án hình sự là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự do cơ quan có thẩm

quyền điều tra vụ án hình sự tiến hành nhằm thu thập đầy đủ chứng cứ chứng minh

về tội phạm.1 Bên cạnh đó, khám xét là một trong những hoạt động điều tra nhằm

phát hiện và thu thập những đồ vật, công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu có liên

quan đến vụ án Chính hoạt động này đã góp phần hiệu quả, kịp thời cho quá trình

điều tra vụ án hình sự trở nên khách quan, toàn diện và đầy đủ những chứng cứ xác

định tội phạm

Với tính chất là một hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự nhưng khái niệm

pháp lý về khám xét không được quy định cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự năm

2003 Mặc dù các hoạt động điều tra khám xét đã được quy định trong pháp luật tố

tụng hình sự, được các cơ quan trong tố tụng hình sự thực hiện thường xuyên trong

cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, nhưng khoa học pháp lý và thực tiễn hiện

nay có những quan điểm khác nhau, chưa thống nhất nhận thức về hoạt động điều

tra khám xét Có lẽ vì thế mà Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 không đưa ra một

khái niệm cụ thể về biện pháp khám xét

Theo Đại từ điển tiếng Việt, khám xét là lục tìm cái đang che giấu.2 Khái

niệm khám xét theo Đại từ điển tiếng Việt được hiểu một cách đơn thuần nhất về

mặt ngữ nghĩa, chỉ đơn thuần là lục tìm những cái đang bị che giấu mà người cần

khám xét cần tìm Cũng dễ hiểu vì đây không phải là một khái niệm pháp lý mà chỉ

đơn thuần là các diễn giải từ ngữ để người đọc có cái nhìn đơn giản thấy ra bản chất

1 Mạc Giáng Châu, Nguyễn Chí Hiếu, Giáo trình luật Tố tụng Hình sự Việt Nam, học phần 2,

Trường Đại học Cần Thơ, năm 2010, tr.16

2Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb, Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1998,

tr.887.

Trang 14

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

mộc mạc mà bất cứ ai cũng có thể hiểu về khám xét Từ những cái đơn giản ấy có

thể là một bước đệm góp phần hiểu được bản chất về các khái niệm pháp lý khám

xét hiệu quả hơn

Khám xét với tính chất là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự lần đầu

tiên được quy định tại các Điều 9, 10, 11, 12, 13 Luật số 103-SL/L.005 ngày

20-5-19573 về bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở,

đồ vật, thư tín của nhân dân Điều 9 Luật này quy định : “Trừ những trường hợp

quy định ở Điều 10 và Điều 11, khám người, đồ vật hoặc nhà ở, thư tín của tư nhân

thì phải có lệnh viết của Cơ quan tư pháp từ cấp tỉnh hoặc thành phố trở lên hoặc

của Tòa án binh, tùy tính chất vụ phạm pháp” Điều 10 quy định: “Trong những

trường hợp phạm pháp quả tang hoặc tiến hành điều tra vụ án mà can phạm đang

bị tạm giữ hoặc tạm giam, hoặc được ủy quyền điều tra toàn bộ vụ phạm pháp, Tư

pháp, Công an, Tòa án binh có thể khám người, đồ vật, nhà ở, thư tín của người

phạm pháp và những người có liên quan đến vụ án” Điều 11 quy định: “Trong

những trường hợp khẩn cấp hoặc có triệu chứng phạm pháp, Công an có thể khám

người, đồ vật, nhà ở, thư tín” Có thể nói biện pháp khám xét đã được coi trọng

trong công tác điều tra vụ án đã từ rất lâu từ đó khẳng định vai trò của biện pháp

khám xét trong giai đoạn điều tra

Hiện nay trong khoa học luật tố tụng hình sự, có nhiều quan điểm khác nhau

về khái niệm khám xét:

Quan điểm thứ nhất: “Khám xét là biện pháp điều tra được tiến hành bằng

cách tìm tòi, lục soát cưỡng chế người, chỗ ở, địa điểm, thư tín, điện tín, bưu kiện,

bưu phẩm nhằm phát hiện, thu giữ công cụ, phương tiện phạm tội; đồ vật, tài sản

do phạm tội mà có, đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án hoặc phát hiện xác

chết hay người đang bị truy nã.” 4

Quan điểm thứ hai: “Khám xét là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự

do cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng, hạn chế quyền tự do thân thể, quyền bất

khả xâm phạm về chỗ ở, bí mật thư tín, điện tín của người bị áp dụng bằng cách tìm

tòi, lục soát người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện,

bưu phẩm nhằm phát hiện, thu thập công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản

3 Trần Quang Tiệp, Về bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong

Tố tụng Hình sự, Nxb Chính trị quốc gia- Sự thật, năm 2009, tr.135

4 Bùi Kiên Điện, Giáo trình khoa học điều tra hình sư, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an

nhân dân, năm 2005, tr.85

Trang 15

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

do phạm tội mà có, đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án hoặc phát hiện, bắt

người đang truy nã.” 5

Quan điểm thứ ba: “Khám xét là hoạt động điều tra nhằm tìm kiếm dấu vết

tội phạm, vật chứng hoặc những đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án.” 6

Quan điểm thứ tư: “Khám xét là biện pháp điều tra bằng cách tìm tòi, lục

soát có định hướng người, chỗ ở, chỗ làm việc, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện,

bưu phẩm nhằm phát hiện, thu thập công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu

vết của tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm hoặc những vật, tài liệu có liên

quan đến vụ án đang giải quyết.” 7

Nhìn chung, quan điểm thứ nhất, thứ hai và thứ ba đều có những điểm hợp lý

khi nói về biện pháp khám xét Quan điểm thứ nhất đã nêu lên được bản chất pháp

lý của biện pháp khám xét: “Khám xét là biện pháp điều tra” Quan điểm thứ hai

nêu lên chủ thể áp dụng của biện pháp khám xét: “do cơ quan, người có thẩm quyền

áp dụng” Quan điểm thứ ba cũng nêu lên bản chất của biện pháp khám xét là:

“Khám xét là hoạt động điều tra” Mặc dù các quan điểm trên đã thể hiện được bản

chất, mục đích của biện pháp khám xét nhưng các quan điểm trên vẫn thật sự chưa

bao quát và đầy đủ về biện pháp khám xét trong tố tụng hình sự

Nhìn chung quan điểm thứ tư là mang tính chất khái quát nhất về biện pháp

khám xét Quan điểm này đã nói lên rõ bản chất pháp lý, đối tượng bị khám xét

cũng như mục đích, vai trò khi áp dụng biện pháp điều tra này Việc nắm rõ khái

niệm cũng như bản chất pháp lý của biện pháp khám xét có ý nghĩa vô cùng quan

trọng, giúp cho việc áp dụng biện pháp này trở nên hiệu quả hơn

Từ những quan điểm và sự phân tích ở trên, có thể đưa ra kết luận về khái

niệm khám xét như sau: khám xét là biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự bằng

các hoạt động tìm kiếm, lục soát có định hướng người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa

điểm, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm nhằm phát hiện, thu thập công

cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết của tội phạm hoặc những đồ vật, tài liệu

khác liên quan đến vụ án và phát hiện tội phạm

5 Trần Quang Tiệp, Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự, Nxb Chính trị quốc

gia- Sự thật, Hà Nội, năm 2011, tr.187

6 Hoàng Thị Minh Sơn(chủ biên), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật

Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, năm 2007, tr.304

7Mạc Giáng Châu, Nguyễn Chí Hiếu, Giáo trình luật Tố tụng Hình sự Việt Nam, học phần 2,

Trường Đại học Cần Thơ, năm 2010, tr.24

Trang 16

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

Như vậy, biện pháp khám xét trong tố tụng hình sự có đối tượng là người,

chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, mỗi loại

có trình tự, thủ tục tố tụng riêng

1.1.1.2 Khái niệm về khám xét người

Khám xét người là một trong những hoạt động khám xét điều tra vụ án hình

sự được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự nên khám xét người mang bản

chất đặc trưng của khám xét là biện pháp điều tra Khám xét người là một biện pháp

điều tra được tiến hành trong tố tụng hình sự và đối tượng bị khám xét này phải tuân

theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành Theo khoa học tố tụng hình sự

có thể hiểu khái niệm khám xét người như sau: “Khám người là biện pháp điều tra

được thực hiện bằng việc lục soát, tìm kiếm trong người, trong quần áo đang mặc

và đồ vật hoặc các tài sản khác mang theo người nhằm phát hiện, thu thập những

đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án”.8 Với tính chất là biện pháp điều tra khám

xét nên đối tượng bị khám xét là những đối tượng được quy định trong Bộ luật tố

tụng hình sự năm 2003

1.1.1.3 Khái niệm về khám xét chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm

Đối tượng bị khám xét trong biện pháp khám xét này cụ thể là: chỗ ở, chỗ

làm việc, địa điểm Mỗi đối tượng bị khám xét trên có đặc điểm riêng nên trình tự,

thủ tục áp dụng khi khám xét là không giống nhau tùy thuộc vào trường hợp cụ thể

Chỗ ở là nơi một hộ hay một người đang cư trú Chỗ ở có thể là nhà riêng

hoặc buồng, khu vực riêng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị doanh ngiệp đã phân cho

cá nhân làm chỗ ở riêng hoặc buồng nhà trọ, khách sạn đã được cá nhân thuê để ở

riêng hoặc là phương tiện giao thông vận tải như xe, tàu, thuyền… đang được cá

nhân đó sử dụng

Chỗ làm việc là phòng hoặc buồng làm việc trong cơ quan, tổ chức, đơn vị,

doanh nghiệp mà người đó phục vụ công tác hoặc nơi người đó tiến hành các hoạt

động sản xuất, nghiên cứu, học tập

Địa điểm là ruộng, vườn, ao, hồ, những khu vực nằm ngoài chỗ ở nơi có công

cụ, phương tiện, đồ vật, tài liệu cần thu giữ hoặc có người bị truy nã đang lẩn trốn

Từ những phân tích các đối tượng trên, có thể đưa ra khái niệm về khám xét

chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm là biện pháp điều tra được thực hiện bằng việc lục

soát, tìm kiếm có định hướng trong phạm vi khu vực chỗ ở, chỗ làm việc của người

8 Phạm Văn Lợi( chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Nxb Tư pháp

Hà Nội, năm 2005, tr.312

Trang 17

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

bị khám xét hoặc địa điểm có liên quan đến người bị khám xét nhằm phát hiện, thu

thập những đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án hoặc phát hiện người đang bị truy

1.1.2 Bản chất của hoạt động khám xét

1.1.2.1 Khám xét là hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự

Khám xét được quy định trong chương XII của Bộ luật tố tụng hình sự năm

2003 tại các Điều 140, Điều 141, Điều 142, Điều 143, Điều 144, Điều 145, Điều

148, Điều 149 Những quy định đó đã nói lên rõ căn cứ khám xét, thẩm quyền ra

lệnh khám xét, trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động khám xét cụ thể để tiến

hành biện pháp khám xét Tính chất tố tụng của khám xét được thể hiện như sau:

Khám xét là biện pháp điều tra theo pháp luật tố tụng hình sự Vì lẽ đó, khi

áp dụng biện pháp khám xét chỉ được tiến hành khi có đủ căn cứ và điều kiện do

pháp luật tố tụng hình sự quy định thì mới được tiến hành áp dụng biện pháp này để

đảm bảo hoạt động điều tra khám xét là hợp pháp và hiệu quả

Về phía cơ quan có thẩm quyền khi áp dụng biện pháp khám xét phải tuân

thủ những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 về quyền hạn và trình tự, thủ

tục khám xét Vì biện pháp khám xét có đối tượng khá rộng và riêng biệt mỗi đối

tượng có trình tự, thủ tục khám xét khác nhau nên việc tuân thủ trên là rất quan

trọng, góp phần nâng cao hiệu quả khám xét, tránh các hành vi vi phạm về trình tự,

thủ tục xâm phạm đến các quyền của công dân

Về đối tượng bị khám xét bắt buộc phải chấp hành và có trách nhiệm tạo điều

kiện cho người thi hành khám xét hoàn thành nhiệm vụ Trong trường hợp, đối

tượng bị khám xét có hành vi cản trở hoặc chống lại gây khó khăn cho việc tiến

hành khám xét, họ vẫn phải chịu sự khám xét khi cơ quan thẩm quyền có đầy đủ

căn cứ khám xét Đồng thời, họ cũng có thể chịu hậu quả pháp lý nhất định về hành

vi cản trở việc tiến hành khám xét một cách thuận lợi và hiệu quả, vì khám xét là

một trong những biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự hiện nay

Đối với kết quả khám xét thì những tài liệu, công cụ, phương tiện phạm tội,

đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án, tài sản thu được phục vụ cho công tác điều

tra bồi thường thiệt hại trong khi khám xét sẽ có giá trị pháp lý được pháp luật thừa

nhận Vì những tài liệu, công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài liệu, tài sản thu

được trong khi tiến hành khám xét góp phần làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án,

chứng minh tội phạm của Cơ quan điều tra

Trang 18

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

1.1.2.2 Khám xét là hoạt động tìm kiếm chứng cứ, lục soát có định hướng,

có kĩ thuật

Xuất phát từ thủ đoạn cất giấu, lẩn trốn để tránh bị phát hiện, trốn tránh pháp

luật khi phạm tội thường tìm mọi cách tinh vi, xảo quyệt để cất giấu công cụ,

phương tiện phạm tội gây ảnh hưởng đến hoạt động tìm kiếm chứng cứ của Cơ

quan điều tra nên phải có sự định hướng trong hoạt động điều tra cũng như khám

xét để tránh sự mất phương hướng trong công tác thu thập chứng cứ phục vụ công

tác điều tra án hình sự Tính định hướng là đặc tính góp phần cho hoạt động khám

xét có mục tiêu, phương hướng khi điều tra khám xét Điều này rất quan trọng khi

khám xét phải có định hướng về đối tượng cần khám xét, đồng thời kết hợp các kiến

thức nghiệp vụ về kĩ thuật khám xét hợp lý áp dụng trong từng trường hợp cụ thể

Vì các đối tượng bị khám xét tương đối đa dạng nên việc định hướng, kĩ thuật khám

xét cho hoạt động này phải đảm bảo nhanh chóng, chính xác trên từng đối tượng cụ

thể để thu về sự hiệu quả thu thập, phát hiện tài liệu, chứng cứ có ý nghĩa cho vụ án

hình sự

Đồng thời, khám xét mang bản chất là hoạt động tìm kiếm chứng cứ nên khi

tiến hành hoạt động phải tìm kiếm, lục soát các đối tượng bị khám xét để phát hiện

tội phạm và thu giữ những chứng cứ chứng minh tội phạm, hoạt động phạm tội

1.1.3 Mục đích khám xét

1.1.3.1 Phát hiện, thu thập những tài liệu, chứng cứ có ý nghĩa đối với

công tác điều tra vụ án hình sự

Khi tiến hành khám xét ở những đối tượng khác nhau, Cơ quan điều tra có

thể phát hiện, thu thập được những tài liệu, chứng cứ có ý nghĩa cho công tác điều

tra vụ án hình sự như vũ khí, công cụ, phương tiện phạm tội, những vật mang dấu

vết tội phạm hoặc những đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án mà các đối

tượng khi thực hiện tội phạm che giấu hay trốn tránh pháp luật Tài liệu, chứng cứ

có ý nghĩa đối với công tác điều tra là những tài liệu, đồ vật, phương tiện phạm

tội… có thật, phản ánh một cách trung thực những tình tiết của vụ án, có mối quan

hệ khách quan với những sự kiện cần chứng minh của vụ án và đồng thời những tài

liệu, chứng cứ đó phải là hợp pháp theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình

sự

Từ những tài liệu, chứng cứ đó là cơ sở để Cơ quan điều tra vạch ra kế hoạch,

phương hướng điều tra tiếp theo, tổ chức các biện pháp điều tra phù hợp Đây là

Trang 19

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

mục đích mang ý nghĩa vô cùng quan trọng và xuyên suốt của biện pháp khám xét

trong tố tụng hình sự hiện nay

Ví dụ như trong trường hợp, khám xét nhà nghi can giết người man rợ, cướp

vàng Người dân bàng hoàng khi thấy nhà hàng xóm bị cơ quan Công an khám xét,

thu được cả túi vàng tang vật trong vụ giết người man rợ, cướp tiệm vàng

Như An ninh Thủ Đô online đã đưa tin trưa ngày 29/08/2011, cơ quan Công

an đã xác định được một trong những nghi can "sát nhân máu lạnh" gây ra vụ giết

người man rợ, cướp tiệm vàng Ngọc Bích ở Lục Nam (Bắc Giang) là Lê Văn Luyện

(sinh năm: 1993, hộ khẩu thường trú: thôn Sân Đình, xã Thanh Lâm, huyện Lục

Nam, tỉnh Bắc Giang)

Khi các trinh sát ập vào nhà, nghi can này đã kịp bỏ trốn, bỏ lại một túi vàng

tang vật Ngay sau đó bố mẹ của Luyện là ông Lê Văn Miên (sinh năm: 1969) và bà

Trương Thị Thơm (sinh năm: 1970) được triệu tập về trụ sở Công an huyện Lục

Nam để điều tra, làm rõ Được biết ông Miên, bà Thơm làm nghề bán thịt lợn

Ngay sau khi xác định nghi can, lực lượng Công an đã tiến hành khám xét

nhà và phát hiện thấy một số tang vật liên quan đến vụ án Khi thấy ô tô cảnh sát

đến khám xét, đã có rất đông người dân tò mò kéo đến xem Khi phóng viên báo An

ninh Thủ đô có mặt tại thôn Sân Đình, xã Thanh Lâm, huyện Lục Nam, hàng nghìn

người dân vẫn vây kín khu vực ngôi nhà thủ phạm, nơi cơ quan Công an đang làm

các nghiệp vụ cần thiết.9

Theo vụ án trên, sau khi cơ quan Công an Bắc Giang đã xác định được một

trong những nghi can "sát nhân máu lạnh" gây ra vụ giết người man rợ cướp tiệm

vàng Ngọc Bích, lực lượng Công an đã tiến hành khám xét nhà đối tượng và phát

hiện thấy một số tang vật liên quan đến vụ án giết người cướp tài sản trên Từ việc

khám xét của cơ quan Công an đã mang lại hiệu quả trong việc xác minh tội phạm

từ những tang vật thu được khi tiến hành khám xét nghi can Cho thấy, việc áp dụng

biện pháp khám xét trong trường hợp này góp phần phát hiện, thu thập những tài

liệu, chứng cứ có ý nghĩa đối với công tác điều tra vụ án hình sự

Trang 20

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

1.1.3.2 Phát hiện, thu giữ những đồ vật, tài sản phục vụ cho việc bồi

thường thiệt hại hoặc những đồ vật, tài liệu thuộc loại cấm tàng trữ, lưu

hành

Trong quá trình khám xét, cần chú ý phát hiện và thu giữ những vật là đối

tượng của tội phạm hoặc những đồ vật, tài sản do mua bán, đổi chác những vật đó

mà có Khi đó người tiến hành khám xét cần linh hoạt để nhận ra những đồ vật, tài

sản do mua bán, đổi chác để thu giữ kịp thời để phục vụ cho công tác bồi thường

thiệt hại trong tố tụng hình sự Vì thực tế các đối tượng phạm tội thường dùng các

thủ đoạn che giấu, làm thay đổi trạng thái, bán, đổi chác các đồ vật, tài sản phạm tội

để làm lạc hướng Cơ quan điều tra khi tiến hành khám xét Phát hiện, thu giữ những

đồ vật, tài sản phục vụ cho việc bồi thường góp phần quan trọng trong việc khắc

phục hậu quả do người phạm tội gây ra Đây cũng là mục đích khá quan trọng của

Cơ quan điều tra khi tiến hành khám xét

Khi tiến hành khám xét nếu phát hiện được những đồ vật thuộc loại cấm tàng

trữ, lưu hành theo pháp luật hiện hành thì cơ quan, người tiến hành khám xét phải

thu giữ những đồ vật, tài liệu đó và chuyển ngay cho cơ quan có thẩm quyền

Những đồ vật, tài liệu thuộc loại cấm tàng trữ, lưu hành như: ma túy, thuốc nổ, chất

nổ, vũ khí…, các đồ vật, tài liệu khác bị cấm tàng trữ, lưu hành theo pháp luật hiện

hành Việc thu giữ những đồ vật, tài liệu thuộc loại hàng cấm tàng trữ, lưu hành góp

phần ngăn chặn những đồ vật, tài liệu đó gây ảnh hưởng đến an ninh xã hội

Ví dụ như trong trường hợp triệt phá đường dây buôn bán ma túy, vũ khí

xuyên quốc gia cực lớn Theo An ninh Thủ Đô - đường dây buôn bán trái phép ma

túy, vũ khí vừa bị triệt phá hoạt động xuyên quốc gia, có tính chất chuyên nghiệp

Ngày 29/10/2014, Phòng Phòng chống tội phạm ma túy - Bộ Tư lệnh Cảnh

sát biển (Bộ Quốc phòng) phối hợp với Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy

(Bộ Công an) và Công an tỉnh Quảng Ninh vừa khám phá chuyên án buôn bán, vận

chuyển trái phép ma túy, bắt 2 đối tượng, thu 20 bánh heroin, 8 khẩu súng và một

lượng lớn tiền mặt

Theo tin từ Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển, sau một thời gian dài điều tra, hồi

13h15 ngày 29/10, tại Km 106+700 Quốc lộ 18A, thuộc khu Đồn Điền, phường

Việt Hưng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, Ban chuyên án đã phục kích, bắt

quả tang đối tượng Nguyễn Văn Hải (sinh năm 1976, trú tại Cẩm Phú, Cẩm Phả,

Quảng Ninh) đang vận chuyển trái phép 20 bánh heroin Lực lượng chức năng đã

thu giữ 1 khẩu súng K59, 9 viên đạn, 1 xe ô tô Fortuner và 15 triệu đồng Ngay sau

Trang 21

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

đó, cơ quan chức năng đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn Hải, thu giữ

thêm 7 khẩu súng, trong đó có 4 khẩu súng bắn đạn ghém, 1 khẩu súng AK, 1 khẩu

súng ngắn RG88PTB, 1 khẩu súng dạng côn xoay tự chế, 171 viên đạn 1 gói ma túy

tổng hợp, 1 xe ô tô Toyota Camry và 250 triệu đồng

Đồng thời Ban chuyên án đã thực hiện lệnh bắt, khám xét khẩn cấp đối với

đồng phạm của Nguyễn Văn Hải là Hoàng Vĩnh Phúc (sinh năm 1965, trú tại khu 7,

phường Hải Yên, thành phố Móng Cái), qua đó thu giữ 2 gói ma túy tổng hợp, gần

1,4 tỉ đồng và 50.000 Nhân dân tệ

Theo đánh giá của Ban chuyên án, đây là đường dây mua bán, vận chuyển

trái phép chất ma túy, vũ khí xuyên quốc gia đặc biệt nghiêm trọng, có tính chất

chuyên nghiệp Các lực lượng chức năng đã tiếp tục phối hợp điều tra mở rộng

chuyên án.10

Từ vụ án trên cho thấy, việc khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn Hải

và đồng phạm Hoàng Vĩnh Phúc củaPhòng Phòng chống tội phạm ma túy - Bộ Tư

lệnh Cảnh sát biển (Bộ Quốc phòng) phối hợp với Cục Cảnh sát điều tra tội phạm

về ma túy (Bộ Công an) và Công an tỉnh Quảng Ninh qua đó đã phát hiện đường

dây mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy, vũ khí xuyên quốc gia đặc biệt

nghiêm trọng, có tính chất chuyên nghiệp Cho thấy việc áp dụng biện pháp khám

xét trong vụ án này đã góp phần quan trọng phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu thuộc

loại cấm tàng trữ, lưu hành theo pháp luật hiện hành

1.1.3.3 Phát hiện tội phạm

Xuất phát từ hành vi thực hiện tội phạm, người phạm tội dùng nhiều thủ đoạn

để che giấu hành vi phạm tội và trốn tránh pháp luật đòi hỏi phải tiến hành khám xét

để phát hiện kịp thời công cụ, phương tiện phạm tội, phát hiện những đồ vật, tài liệu

có liên quan đến vụ án để chứng minh tội phạm

Trong một số trường hợp cụ thể, khám xét được tiến hành tại chỗ ở, chỗ làm

việc, địa điểm của đối tượng nhằm mục đích phát hiện người đang bị truy nã đang

chạy trốn, ẩn nấp Đây là cơ sở có ý nghĩa cho công tác điều tra vụ án khi tiến hành

biện pháp khám xét để kịp thời phát hiện tội phạm, nâng cao hiệu quả của công tác

Trang 22

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

Ví dụ như trong trường hợp bắt giữ đối tượng tàng trữ hơn 2kg ma tuý tổng

hợp ở tỉnh Phú Thọ

Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh đã ra lệnh khám xét

nơi ở và bắt khẩn cấp đối với Tô Thị Nguyệt sinh năm 1978, hộ khẩu thường trú tại

phường Phố Mới, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai về hành vi tàng trữ trái phép chất

ma túy, thu giữ hơn 2kg ma túy tổng hợp

Tô Thị Nguyệt là một mắt xích quan trọng trong chuyên án ma túy MTH 614

được Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh xác lập ngày

17/6/2014 Đây là chuyên án đấu tranh với hoạt động mua bán trái phép chất ma túy

trên địa bàn tỉnh Phú Thọ do Ngô Minh Nam sinh năm 1980 ở phường Hùng Vương

(thị xã Phú Thọ) cầm đầu Đến thời điểm hiện tại, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm

về ma túy Công an tỉnh đã khởi tố và bắt tạm giam 41 đối tượng Khám xét nơi ở

của Nguyệt tại phường Trung Liệt, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội Quá trình

khám xét lực lượng Công an đã phát hiện và thu giữ 762 gam ma túy đá, 1.194,6

gam ketamin, 600 viên hồng phiến, 750 viên thuốc lắc Tổng trọng lượng số ma túy

tổng hợp bị thu giữ là 2.216 gam Để che giấu hoạt động mua bán trái phép chất ma

túy, Nguyệt đã thuê một cửa hàng tại số 4 ngõ 155 Đặng Tiến Đông, phường Trung

Liệt, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội để làm nghề cắt tóc, gội đầu nhưng thực chất

không hoạt động mà chỉ để tàng trữ, trao đổi, mua bán ma túy cho các đối tượng tại

thành phố Hà Nội và tỉnh Phú Thọ Hiện Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma

túy Công an tỉnh đang tiếp tục điều tra mở rộng vụ án.11

Từ vụ án trên, việc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh

Phú Thọ khám xét nơi ở Tô Thị Nguyệt đã phát hiện và thu giữ 762 gam ma túy đá,

1.194,6 gam ketamin, 600 viên hồng phiến, 750 viên thuốc lắc mà đối tượng này đã

có hành vi che giấu để hoạt động mua bán trái phép chất ma túy Những tang vật bị

thu giữ đó là chứng cứ quan trọng góp phần phát hiện hành vi phạm tội của Tô Thị

Nguyệt Qua đó cho thấy, biện pháp khám xét trong trong vụ án này góp phần phát

hiện tội phạm từ những chứng cứ thu thập được sau khi tiến hành biện pháp khám

Trang 23

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

1.2 Cơ sở lý luận về hoạt động khám xét trong tố tụng hình sự

1.2.1 Nguyên tắc cơ bản của hoạt động khám xét

1.2.1.1 Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự

Pháp chế là nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của công dân,

của những người có chức vụ, quyền hạn, các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội

Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự là một trong

những nguyên tắc Hiến định, bao trùm nhất được thể hiện trong tất cả các giai đoạn

tố tụng hình sự Điều 8 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Nhà nước được tổ chức và

hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp

luật” Trong pháp luật tố tụng hình sự, nguyên tắc này được cụ thể hóa trong việc

xác lập trật tự, trình tự tiến hành giải quyết vụ án hình sự và đòi hỏi mọi hoạt động

tố tụng hình sự phải được luật quy định chặt chẽ, cụ thể, được mọi công dân, tổ

chức chấp hành nghiêm minh

Các cơ quan, người tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh và triệt để tuân thủ

các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Các cơ quan này trong khi tiến

hành tố tụng phải tuân thủ theo các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn,

trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định Vì mọi vi phạm pháp luật của cơ quan tiến

hành tố tụng và người tiến hành tố tụng có thể dẫn đến vi phạm các quyền, lợi ích

hợp pháp của công dân

Từ góc độ áp dụng biện pháp khám xét trong tố tụng hình sự thì nguyên tắc

này đảm bảo sự kịp thời, hiệu quả đồng thời ngăn chặn các hành vi xâm hại đến các

quyền công dân trái pháp luật, ngăn chặn các hành vi nhằm cản trở việc khám xét vi

phạm pháp luật tố tụng hình sự Đồng thời, trong khi tiến hành biện pháp khám xét

thì cơ quan, người tiến hành phải nghiêm chỉnh chấp hành nghiêm túc những quy

định của pháp luật tố tụng hình sự về căn cứ khám xét, thẩm quyền ra lệnh khám

xét, trình tự, thủ tục khi tiến hành khám xét Từ đó, nguyên tắc này tạo nên tính

pháp lý, khuôn khổ nghiêm khắc của pháp luật tố tụng hình sự

1.2.1.2 Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân

Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân là một trong những

nguyên tắc cơ bản để đảm bảo quyền công dân, Điều 8 Tuyên ngôn thế giới về nhân

quyền năm 1948 có quy định: “Mọi người đều có quyền được các tòa án quốc gia

có thẩm quyền bênh vực theo pháp luật trước những hành vi vi phạm các quyền cơ

bản do hiến pháp hay luật pháp quy định” Nhà nước của ta vốn là nhà nước của

Trang 24

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

dân, do dân và vì dân, bản chất nhà nước ta là nhà nước dân chủ Chính vì lẽ đó mà

việc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân là một trong những nhiệm

vụ cơ bản của pháp luật tố tụng hình sự nói chung và pháp luật về khám xét nói

riêng

Nguyên tắc này có tính khái quát cao, các quyền cơ bản của công dân được

quy định trong Hiến pháp Đó là quyền bình đẳng trước pháp luật, bất khả xâm

phạm về thân thể, quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự và

nhân phẩm, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn thư tín, điện thoại, điện tín

Trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm việc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản

của công dân phải được quán triệt trong mọi hoạt động tố tụng hình sự Cụ thể hóa

thì các quyền này được quy định tại Điều 4 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 như

sau: “Khi tiến hành tố tụng, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều

tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó

Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm trong phạm vi trách nhiệm của mình phải

tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thường xuyên

kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời

hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc

không còn cần thiết nữ” Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật tố

tụng hình sự năm 2003 điều chỉnh mọi hoạt động tố tụng hình sự và trong đó có

biện pháp khám xét

Ở góc độ khám xét, áp dụng biện pháp khám xét chỉ khi có những căn cứ

nhất định theo quy định của pháp luật để tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của

công dân Biện pháp khám xét thực tế khi áp dụng sẽ ảnh hưởng đến các quyền cơ

bản trên nhưng khi áp dụng biện pháp khám xét buộc các chủ thể có thẩm quyền

tiến hành khám xét trong phạm vi trách nhiệm của mình nhằm tôn trọng và bảo vệ

các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Cần phải thường xuyên kiểm tra tính

hợp pháp và sự cần thiết khi áp dụng biện pháp khám xét để đồng thời hủy bỏ biện

pháp khám xét đó nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa

Trên tinh thần đó pháp luật tố tụng hình sự đã quy định chặt chẽ về căn cứ, thẩm

quyền, trình tự, thủ tục khi áp dụng biện pháp khám xét

Trang 25

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

1.2.2 Nguyên tắc cụ thể của hoạt động khám xét

1.2.2.1 Nghiêm chỉnh tuân theo pháp luật

Đây là nguyên tắc tuy không được cụ thể hóa thành điều luật trong pháp luật

tố tụng hình sự nhưng đây là nguyên tắc được định hình trong khi áp dụng biện

pháp khám xét phải tuân thủ Chỉ được tiến hành khám xét khi có đầy đủ các căn cứ

theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Căn cứ để tiến hành khám xét là những

tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra thu thập thông qua các hoạt động điều tra

hoặc bằng các biện pháp khác, các nguồn tin khác Mà các tài liệu, chứng cứ này

phải được kiểm tra, xác minh và bảo đảm tính tin cậy cao Qua đó, có đủ căn cứ

nhận định đối tượng bị khám xét có cơ sở để tiến hành khám xét

Tuân thủ những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về thẩm

quyền ra lệnh khám xét trong các trường hợp bình thường và không thể trì hoãn

được quy định cụ thể và chặt chẽ trong Điều 141 Bộ luật này Đảm bảo việc tiến

hành biện pháp khám xét trên thực tế không lạm dụng quyền hạn, khám xét không

đúng thẩm quyền gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của công dân khi bị áp dụng

biện pháp khám xét

Khi tiến hành khám xét phải tuân theo quy định của pháp luật về trình tự, thủ

tục khám xét các đối tượng cụ thể tại các Điều 142, Điều 143, Điều 144, Điều 145,

Điều 148 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Các đối tượng khám xét có trình tự, thủ

tục khám xét riêng và phù hợp với đặc điểm của mỗi đối tượng này

Trong quá trình khám xét, những người thi hành lệnh khám xét không được

có những hành vi xâm phạm đến các quyền cơ bản của công dân, nghiêm chỉnh tuân

theo pháp luật về hoạt động khám xét Điều đó góp phần nâng cao hiệu quả khám

xét hợp pháp và khách quan

1.2.2.2 Bảo đảm yêu cầu về nghiệp vụ

Hoạt động khám xét phải đảm bảo yêu cầu về nghiệp vụ là bí mật, bất ngờ

Bí mật, bất ngờ là yếu tố cơ bản để hoạt động khám xét khi tiến hành đạt được mục

đích của mình Do xuất phát hoạt động khám xét mang bản chất là hoạt động điều

tra vụ án trong tố tụng hình sự mà yếu tố bí mật, bất ngờ là vô cùng quan trọng Với

mục đích phát hiện kịp thời những tài liệu, chứng cứ có ý nghĩa cho cho công tác

điều tra vụ án hình sự thì yếu tố trên phải được đảm bảo Khi yêu cầu này được

nghiêm chỉnh thực hiện, người phạm tội sẽ không có điều kiện che giấu, tiêu hủy

chứng cứ hoặc chạy trốn Ngoài ra, trong quá trình khám xét Cơ quan điều tra cũng

Trang 26

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

không được để lộ bí mật phương tiện, biện pháp nghiệp vụ đã được áp dụng, tạo

điều kiện thuận lợi cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trước mắt cũng

như lâu dài sau này

Cơ quan điều tra phải đảm bảo yêu cầu về nghiệp vụ khi tiến hành khám xét

phải thực hiện nghiêm chỉnh và phối hợp một cách hợp lý các yếu tố nghiệp vụ để

phát hiện, thu giữ đầy đủ, kịp thời chính xác các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến

vụ án hoặc truy bắt tội phạm lẩn trốn

1.2.2.3 Đảm bảo tính khách quan của hoạt động khám xét

Khi áp dụng biện pháp khám xét phải đảm bảo tính khách quan của hoạt

động khám xét vì biện pháp khám xét thực tế va chạm đến các quyền công dân cơ

bản của công dân Chính vì lẽ đó mà tính khách quan có ý nghĩa góp phần bảo đảm

sự hợp pháp của hoạt động khám xét đang áp dụng Người tiến hành khám xét phải

đảm bảo sự vô tư khi tiến hành các hoạt động khám xét Khi đó những chủ thể có

thẩm quyền khám xét không tham gia tiến hành khám xét khi có lý do xác đáng cho

rằng họ không vô tư khi thực hiện nhiệm vụ trên

Chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp khám xét phải đảm bảo tính công

khai, minh bạch khi tiến hành khám xét Tính công khai, minh bạch của các hoạt

động khám xét cụ thể là cần thiết để bảo đảm sự dân chủ của các đối tượng bị khám

xét cụ thể Trong trường hợp tiến hành hoạt động khám xét người, chỗ ở, chỗ làm

việc, địa điểm nhất thiết phải tiến hành công khai có người chứng kiến, chính quyền

địa phương, những người đối tượng cần thiết theo từng hoạt động khám xét cụ thể

theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Bên cạnh đó, người tham gia

tiến hành khám xét phải chấp hành theo những quy định của pháp luật tố tụng hình

sự về khám xét và thực hiện một cách minh bạch các quy định pháp luật cho phép

áp dụng

Các hoạt động khám xét khi tiến hành có sự đảm bảo việc kiểm sát tuân theo

pháp luật tố tụng hình sự Viện kiểm sát kiểm sát việc khám xét tuân theo pháp luật

trong tố tụng hình sự góp phần phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan

có thẩm quyền khám xét về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, biên bản khám xét và các

vấn đề pháp luật có liên quan đến hoạt động khám xét đó để loại trừ các hành vi trái

luật của Cơ quan điều tra và các cá nhân tiến hành biện pháp này

Từ đó cho thấy, nguyên tắc bảo đảm tính khách quan của hoạt động khám xét

có ý nghĩa mang lại sự dân chủ, công bằng và hợp pháp cho hoạt động khám xét trở

Trang 27

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

nên hiệu quả và được nâng cao tầm quan trọng trong công tác điều tra vụ án hình

sự

1.2.2.4 Trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng

Để nâng cao trách nhiệm của các chủ thể tiến hành tố tụng và bảo vệ các

quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã quy

định trách nhiệm này tại Điều 12 Bộ luật này Có thể nói đây là một đảm bảo pháp

lý hết sức quan trọng giúp cho hoạt động tố tụng hình sự được tiến hành đúng pháp

luật Theo đó, nguyên tắc này đòi hỏi cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố

tụng phải nghiêm chỉnh thực hiện những quy định của pháp luật đảm bảo không tiến

hành sai đối tượng hoặc bỏ lọt tội phạm Bên cạnh đó, việc đảm bảo trách nhiệm

ràng buộc đối với cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng góp phần nâng

cao trách nhiệm trong khi thực hiện nhiệm vụ và đồng thời tránh các hành vi làm

trái pháp luật gây ảnh hưởng đến các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việc

thực hiện các hoạt động điều tra mà cụ thể là biện pháp khám xét phải đảm bảo tính

chính xác, có căn cứ, đúng đối tượng, đúng trình tự, thủ tục để bảo vệ quyền và lợi

ích hợp pháp của các đối tượng bị khám xét vì các đối tượng này rất dễ bị xâm

phạm

Cụ thể hóa nguyên tắc này, Điều 149 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy

định trách nhiệm của người ra lệnh và thi hành lệnh khám xét, kê biên tài sản, thu

giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm: “Người ra lệnh,

người thi hành lệnh khám xét, kê biên tài sản, thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu, thư

tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm trái pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi

phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự”

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ khám xét, cơ quan có thẩm quyền và

người tiến hành khám xét phải chịu trách nhiệm về những hành vi và quyết định của

mình trong quá trình thực hiện nhiệm vụ mà phát sinh vi phạm những quy định của

pháp luật Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi mà Bộ luật hình sự hiện hành

có những quy định cụ thể hơn về các tội phạm trong hoạt động tư pháp ở Chương

XXII, có thể kể đến như quy định tại khoản 1 Điều 296 Bộ luật hình sự hiện hành:

“Người nào có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án ra

quyết định mà mình biết rõ là trái pháp luật gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước,

quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ

đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm” Những quy định này, nhằm

Trang 28

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

đảm bảo thực hiện tốt hơn các quyền của công dân mà cụ thể ở đây là người bị

khám xét

Đối với một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động

điều tra khám xét như đơn vị Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng

Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân cũng

phải tuân theo nguyên tắc này

Bên cạnh đó, người có thẩm quyền tiến hành khám xét làm trái pháp luật

trong việc khám xét thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị kỉ luật hoặc truy

cứu trách nhiệm hình sự Mặc dù, pháp luật cho phép họ được tiến hành các hoạt

động khám xét khi cần thiết nếu có các căn cứ pháp lý nhưng trong trường hợp

những người này không tuân thủ các quy định của pháp luật trong quá trình thực

hiện nhiệm vụ thì họ phải chịu trách nhiệm về hành vi và quyết định của mình Nếu

các hành vi làm trái pháp luật chưa cấu thành tội phạm thì người vi phạm bị xử lý kỉ

luật theo các hình thức kỉ luật công chức Trong trường hợp hành vi làm trái pháp

luật cấu thành tội phạm thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của

Bộ luật hình sự hiện hành

1.2.2.5 Bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công

dân bị khám xét

Hiến pháp năm 2013 có quy định tại Điều 20 như sau: “Mọi người đều có

quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự

và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất cứ hình thức

đối xử nào khác xâm phạm đến thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã coi việc đảm bảo các quyền này của

công dân là một nguyên tắc quan trọng của tố tụng hình sự vì tính mạng, sức khỏe,

danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân phải được tôn trọng và bảo vệ trong quá

trình tố tụng nói chung và khám xét nói riêng cụ thể được quy định tại Điều 7 có

đoạn: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về

tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm

Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản đều

bị xử lý theo pháp luật”

Đồng thời, nguyên tắc này không cho phép những người tiến hành khám xét

có những việc làm trái pháp luật như: khám xét, thu giữ tài sản một cách trái pháp

luật khi tiến hành khám xét, khám xét người mà không có người cùng giới chứng

Trang 29

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

kiến, khám xét chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm không có đại diện chính quyền địa

phương hay người láng giềng chứng kiến và một số quy định khác nhằm đảm bảo

nguyên tắc trên

Bên cạnh đó, mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân

phẩm, tài sản khi tiến hành hoạt động khám xét của cơ quan có thẩm quyền đều bị

xử lý theo pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật khác có liên quan

1.2.2.6 Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư

tín, điện thoại, điện tín của công dân

Đây là quyền cơ bản về quyền công dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm

2013 Quyền bất khả xâm phạm về an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của

công dân được ghi nhận tại Điều 21, Điều 22 của Hiến pháp này Điều 21 khoản 1

có đoạn quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí

mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình” Điều

22 Hiến pháp năm 2013 có quy định tại khoản 2, khoản 3 như sau:

“2 Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở Không ai được tự ý vào

chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý

3 Việc khám chỗ ở do luật định”

Pháp luật tố tụng hình sự coi việc đảm bảo các quyền này của công dân là

một nguyên tắc chỉ đạo của hoạt động tố tụng hình sự và quy định cụ thể tại Điều 8

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003: “Không ai được xâm phạm chỗ ở, an toàn và bí

mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân

Việc khám xét chỗ ở, khám xét, tạm giữ và thu giữ thư tín, điện thoại, điện

tín, khi tiến hành tố tụng phải theo đúng quy định của Bộ luật này” Theo đó, mọi

hoạt động khám xét chỗ ở phải được tiến hành trên cơ sở tôn trọng quyền bất khả

xâm phạm về chỗ ở của công dân

Cơ quan có thẩm quyền có thể tiến hành khám xét chỗ ở, chỗ làm việc, địa

điểm để kịp thời ngăn chặn tội phạm, phát hiện tội phạm, thu thập chứng cứ có liên

quan đến vụ án nhưng phải đảm bảo tiến hành theo đúng quy định của Bộ luật tố

tụng hình sự năm 2003 để ngăn ngừa những việc làm tùy tiện của những người tiến

hành khám xét xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm của công dân Việc xâm

phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân như: khám xét trái pháp luật

chỗ ở của người khác, đuổi trái phép người khác ra khỏi chỗ ở của họ…tùy theo

mức độ sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật

Trang 30

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

1.2.2.7 Đảm bảo người tiến hành khám người không được khám người

khác giới và có người cùng giới chứng kiến

Khi áp dụng biện pháp khám xét người thì người tiến hành khám người phải

nam khám nam, nữ khám nữ và có người cùng giới chứng kiến Đây là nguyên tắc

góp phần đảm bảo quyền lợi chính đáng về thân thể, danh dự và nhân phẩm của

người bị khám xét và được cụ thể hóa tại khoản 2 Điều 142 Bộ luật tố tụng hình sự

năm 2003: “Khi khám người thì nam khám nam, nữ khám nữ và phải có người cùng

giới chứng kiến” Khi đó hoạt động khám xét người sẽ được tiến hành minh bạch

trên cơ sở tôn trọng các quyền về nhân thân cho đối tượng bị khám xét Đây là

nguyên tắc góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp mà công dân được pháp

luật thừa nhận

Khi tiến hành khám xét người thì không được khám xét người khác giới và

quy định của pháp luật phải có người cùng giới chứng kiến góp phần hạn chế khám

xét người trái pháp luật của những người tiến hành khám xét người Người chứng

kiến cùng giới sẽ là quy định cần thiết để giám sát trình tự, thủ tục khám xét người,

đúng thuần phong mỹ tục và phù hợp với đạo đức con người Việt Nam

1.2.2.8 Đảm bảo người tiến hành khám xét không lạm dụng quyền trong

hoạt động khám xét

Xuất phát từ thẩm quyền ra lệnh khám xét theo Bộ luật tố tụng hình sự hiện

hành đảm bảo người tiến hành khám xét không được lạm dụng quyền hạn của mình

gây bất lợi cho đối tượng bị khám xét là nguyên tắc cần thiết Không được lạm dụng

quyền là yếu tố then chốt của của cơ quan có thẩm quyền ra lệnh, người tiến hành

hoạt động khám xét Để đảm bảo nguyên tắc này, những người tiến hành các hoạt

động khám xét phải nghiêm chỉnh thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng hình

sự và pháp luật khác có liên quan

Khi tiến hành khám xét phải tiến hành đúng thẩm quyền ra lệnh khám xét,

đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật để đảm bảo tính hợp pháp của

hoạt động khám xét khi tiến hành trên thực tế Nguyên tắc này góp phần ngăn ngừa,

phòng chống các hành vi lạm dụng quyền hạn của những người có quyền, trách

nhiệm tiến hành các hoạt động khám xét trái pháp luật có thể xảy ra trên thực tế

Mặc dù, nguyên tắc này không được thể hiện rõ thành nguyên tắc cụ thể trong pháp

luật tố tụng hình sự nhưng có thể thấy đây là nguyên tắc mà khi tiến hành áp dụng

biện pháp khám xét phải chú ý đến

Trang 31

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

CHƯƠNG 2

NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ KHÁM XÉT NGƯỜI,

CHỖ Ở, CHỖ LÀM VIỆC, ĐỊA ĐIỂM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

2.1 Khám người

2.1.1 Đối tượng bị khám xét

2.1.1.1 Khám người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp

Ta có khái niệm bắt người trong trường hợp khẩn cấp như sau: “Bắt người

trong trường hợp khẩn cấp là biện pháp nhằm ngăn chặn người đang chuẩn bị thực

hiện tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc ngăn chặn người bị

tình nghi thực hiện tội phạm bỏ chốn, tiêu hủy chứng cứ”.12 Vì vậy, khi cơ quan,

người có thẩm quyền tiến hành bắt người trong trường hợp khẩn cấp thấy thật sự

cần thiết phải áp dụng biện pháp khám xét người đối tượng trong trường hợp này để

phục vụ cho công tác điều tra vụ án hình sự

Từ những đặc điểm của đối tượng trên mà pháp luật quy định người bị bắt

trong trường hợp khẩn cấp là đối tượng áp dụng của biện pháp khám xét người Đây

là quy định hợp lý của pháp luật vì đối tượng này có thể mang trên người các công

cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài liệu để chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm

trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc ngăn chặn người tình nghi thực hiện tội phạm tiêu

hủy chứng cứ có liên quan đến vụ án

Khám xét người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp nhằm mục đích phát hiện,

thu thập kịp thời công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết phạm tội, đồ vật,

tài liệu khác có liên quan đến vụ án hoặc ngăn chặn người đó tiêu hủy chứng cứ có

liên quan Điều đó mang lại ý nghĩa thiết thực đối với hoạt động điều tra án hình sự

khi cần phải thu thập chứng cứ để phục vụ công tác điều tra chứng minh tội phạm

Ví dụ như trong trường hợp ngăn chặn kịp thời một đối tượng mang lựu đạn

đi trả thù Do mâu thuẫn cá nhân trong công việc mà đối tượng Vũ Quang Vĩnh rủ

bạn cùng công ty mang theo lựu đạn và dao ra thị trấn Kỳ Anh tìm người trả thù

Khoảng 11h40 ngày 01/01/2012, Công an huyện Kỳ Anh phát hiện, bắt giữ

đối tượng Vũ Quang Vĩnh (sinh năm 1974), trú tại Thành phố Việt Trì - Phú Thọ,

hiện đang làm Công nhân tại nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1, đóng tại xã Kỳ Lợi,

12Mạc Giáng Châu, Nguyễn Chí Hiếu, Giáo trình luật Tố tụng Hình sự Việt Nam, học phần 1,

Trường Đại học Cần Thơ, năm 2010, tr.83

Trang 32

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

Kỳ Anh (Hà Tĩnh) về hành tội sử dụng vũ khí quân dụng trái phép Qua khám xét

người đối tượng lực lượng đã thu giữ 1 quả lựu đạn bằng vỏ sắt, 1 con dao bầu dài

khoảng 30cm

Tại Cơ quan điều tra đối tượng Vĩnh khai nhận: do có mâu thuẫn từ trước với

anh Trịnh Xuân Tâm (1987), ở xã Kỳ Châu, Kỳ Anh nên Vĩnh đã bàn với bạn, đồng

nghiệp cùng công ty tên là Vũ mang theo một quả lựu đạn và một con dao bầu ra thị

trấn Kỳ Anh tìm Tâm để trả thù Trên đường đi thì bị Công an phát hiện và bắt giữ

còn đối tượng Vũ đã bỏ trốn thoát khỏi địa phương

Xét thấy đây là vụ việc tính chất nghiêm trọng, có dấu hiệu của tội phạm

“Tàng trử trái phép vũ khí quân dụng”, Công an huyện Kỳ Anh đã lập hồ sơ chuyển

đối tượng và tang vật vụ án lên Phòng an ninh điều tra Công an tỉnh để tiếp tục điều

tra, xử lý theo quy định của pháp luật.13

Từ vụ án trên cho thấy, đối tượng Vĩnh vì mâu thuẫn đã bàn bạc với bạn

mang một lựu đạn và một con dao bầu để trả thù Đây là vụ việc mang tính chất

nghiêm trọng rất may là đã bị lực lượng Công an phát hiện, thu giữ ngăn chặn đối

tượng Vĩnh và bạn là Vũ thực hiện tội phạm Lực lượng Công an đã tiến hành biện

pháp khám xét người đối tượng đã phát hiện, thu giữ hai loại vũ khí đặc biệt nguy

hiểm trên để xem xét có dấu hiệu của tội phạm để tiếp tục điều tra, xử lý theo đúng

quy định của pháp luật Vì vậy, biện pháp khám xét người trong vụ án này là rất cần

thiết để chứng minh tội phạm

2.1.1.2 Khám người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang

Ta có khái niệm bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang: “Bắt người

trong trường hợp phạm tội quả tang là bắt người khi người đó đang thực hiện tội

phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hay đuổi bắt” 14 Xuất

phát từ đặc điểm người bị bắt trong trường hợp này đang thực hiện tội phạm, thực

hiện tội phạm xong thì bị phát hiện hay bị đuổi bắt nên sẽ không có đủ thời gian để

che giấu hoặc tiêu hủy chứng cứ phạm tội Vì vậy đây là trường hợp cần phải tiến

hành biện pháp khám xét trên đối tượng trong trường hợp này

14 Mạc Giáng Châu, Nguyễn Chí Hiếu, Giáo trình luật Tố tụng Hình sự Việt Nam, học phần 1,

Trường Đại học Cần Thơ, năm 2010, tr.85

Trang 33

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

Việc áp dụng biện pháp khám xét người đối với những người phạm tội quả

tang nhằm kịp thời thu thập những tài liệu, đồ vật, công cụ, phương tiện phạm tội

mà khi thực hiện xong hành vi phạm tội các đối tượng có thể mang theo bên mình

để sau đó che giấu hoặc tiêu hủy chúng Vì lẽ đó, người bị bắt trong trường hợp

phạm tội quả tang cũng có thể là đối tượng của biện pháp khám xét người

Ví dụ như trong trường hợp, cả gan vào trụ sở Công an phường trộm xe máy

Vì muốn kiếm tiền tiêu xài, nên Nguyễn Trọng Vũ đã nảy sinh ý định đi trộm tài

sản; tuy nhiên, tên này lại cả gan vào trụ sở Công an phường để trộm xe tay ga

Công an phường Tăng Nhơn Phú A, quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh cho

biết, đã bàn giao đối tượng Nguyễn Trọng Vũ (sinh năm 1978, ngụ đường 442, khu

phố 2, phường Tăng Nhơn Phú A, quận 9) cho đội Cảnh sát hình sự, Công an quận,

để làm rõ về hành vi “trộm cắp tài sản” Bước đầu tại cơ quan Công an, Vũ đã thừa

nhận hành vi phạm tội của mình

Theo đó, vào 8h15 sáng 5/4/2013, Vũ chuẩn bị 1 đoản phá khóa xe hình chữ

T rồi đem xe máy đến gửi tại bãi giữ xe tại trung tâm Thể dục Thể thao quận 9 (khu

phố 1, phường Tăng Nhơn Phú A) Sau đó Vũ đi bộ, lang thang với mục đích tìm ai

để xe máy sơ hở sẽ phá khóa nhằm trộm tài sản bán lấy tiền tiêu xài

Khi đi ngang qua trụ sở Công an phường Tăng Nhơn Phú A, quận 9, Vũ phát

hiện xe tay ga hiệu Click BKS 59X1- 067.53 của chị N.T.T.T (sinh năm 1991, ngụ

phường Long Thạnh Mỹ, quận 9) dựng trước phòng tiếp dân không có người trông

coi liền tiến tới lấy đoản phá khóa xe Chưa kịp dắt xe tẩu thoát, Vũ đã bị anh P.D.T

(sinh năm 1986, ngụ phường Bình Thọ, quận Thủ Đức) phát hiện bắt giữ cùng tang

vật giao Công an phường xử lý Khám xét người Vũ, Công an thu giữ thêm 2 đoản

phá khóa khác Chiếc xe máy đã được trao trả lại cho khổ chủ.15

Từ vụ án trên cho thấy, hành vi trộm cắp tài sản của đối tượng Vũ đã bị anh

P.D.T phát hiện và bắt giữ trong trường hợp phạm tội quả tang Qua việc tiến hành

biện pháp khám xét người đối tượng Vũ đã thu giữ thêm hai đoản phá khóa khác là

công cụ phạm tội của đối tượng trên Từ đó, khám xét người bị bắt trong trường hợp

phạm tội quả tang có ý nghĩa quan trọng trong việc thu giữ tang vật phạm tội phục

vụ cho công tác điều tra chứng minh tội phạm

Trang 34

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

2.1.1.3 Khám người bị bắt trong trường hợp đang bị truy nã

Ta có khái niệm người bị bắt trong trường hợp đang bị truy nã như sau:

“Người bị bắt trong trường hợp đang bị truy nã là bắt người có hành vi phạm tội

đang trốn tránh việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và đã bị các cơ quan có

thẩm quyền ra quyết định truy nã”.16 Đối tượng bị bắt trong trường hợp này là đối

tượng đã có hành vi phạm tội nhưng đã trốn tránh pháp luật và đang bị truy nã theo

quyết định truy nã của các cơ quan có thẩm quyền Từ đặc điểm đó, người bị bắt

trong trường hợp đang bị truy nã cũng là đối tượng có thể bị áp dụng biện pháp

khám xét người theo pháp luật tố tụng hình sự hiện hành

Khám xét người bị bắt trong trường hợp đang bị truy nã trên thực tế nhằm

mục đích phát hiện, thu giữ những đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án mà người

đang bị truy nã che giấu mang theo người Bên cạnh đó, khám xét người trong

trường hợp này cũng góp phần phát hiện người đang bị truy nã Việc khám xét

người đối tượng này góp phần chứng minh việc phạm tội phục vụ cho công tác điều

tra, xét xử

Ví dụ trong trường hợp sau đây,bắt đối tượng truy nã đặc biệt mang theo ma

túy đá Vào lúc 9 giờ ngày 22/6/2014, Đồn Biên phòng cửa khẩu Quốc tế Hoa Lư,

tỉnh Bình Phước đã bắt giữ đối tượng đang bị Công an Nghệ An truy nã về hành vi

buôn bán, tàng trữ và sử dụng ma túy Trước đó, trong lúc làm nhiệm vụ, các cán bộ

Trạm kiểm soát liên hợp Cửa khẩu Quốc tế Hoa Lư đã phát hiện hành khách xuất

cảnh có nhiều dấu hiệu khả nghi Tiến hành cách ly và bằng các pháp nghiệp vụ đã

xác minh đối tượng là một mắt xích quan trọng trong đường dây mua bán ma túy

mới được phá trong thời gian gần đây và đang có lệnh truy nã đặc biệt của Công an

tỉnh Nghệ An Đối tượng trên là Bùi Văn Vãng, sinh năm 1970, hộ khẩu thường trú

tại xã Minh Hòa, Kinh Môn, Hải Dương, hiện đang tạm trú tại Thị xã Dĩ An, Bình

Dương

Khám xét hành lý của đối tượng tại hiện trường, các cán bộ điều tra còn phát

hiện và thu giữ 1 gói bột màu trắng, đối tượng khai là ma túy đá và các vật dụng để

16 Mạc Giáng Châu, Nguyễn Chí Hiếu, Giáo trình luật Tố tụng Hình sự Việt Nam, học phần 1,

Trường Đại học Cần Thơ, năm 2010, tr.85

Trang 35

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

sử dụng ma túy đá Hiện Đồn biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Hoa Lư đang tiến hành

hoàn tất hồ sơ để tiếp tục xử lý theo pháp luật17

Từ vụ án trên, việc khám xét đối tượng Bùi Văn Vãng đang bị Công an Nghệ

An truy nã về hành vi buôn bán, tàng trữ và sử dụng ma túy phát hiện và thu giữ 1

gói bột màu trắng, đối tượng khai là ma túy đá và các vật dụng để sử dụng ma túy

đá Từ đó cho thấy, khám xét người bị bắt trong trường hợp đang bị truy nã góp

phần thu thập chứng cứ có ý nghĩa cho công tác điều tra vụ án hình sự

2.1.1.4 Khám người trong trường hợp bắt bị can, bị cáo để tạm giam

Bắt bị can, bị cáo để tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự,

do người có thẩm quyền của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng tạm

thời hạn chế tự do thân thể đối với người đã bị khởi tố về hình sự hoặc người đã bị

Tòa án quyết định đưa ra xét xử nhằm đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử và

thi hành án

Theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì bị can, bị cáo có thể là đối tượng

bị áp dụng biện pháp khám xét người Với tính chất đặc điểm của đối tượng bị can,

bị cáo là một nhóm đối tượng cần thiết khi tiến hành bắt trong trường hợp này thì cơ

quan có thẩm quyền có quyền tiến hành khám xét người là hợp lý

Trên thực tế, đối tượng bị khám xét trong trường hợp này đã bị khởi tố hình

sự hoặc đã bị đưa ra xét xử, đã mang dấu hiệu tội phạm hoặc đã thực hiện tội phạm

đã bị cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người Khám xét

người bị can, bị cáo trong trường hợp bắt người nhằm thu thập đồ vật, tài liệu có

liên quan đến vụ án và hạn chế việc tiêu hủy, cất giấu chứng cứ gây khó khăn cho

hoạt động điều tra và quá trình xét xử của các cơ quan có thẩm quyền sau này

2.1.1.5 Những người có mặt nơi khám xét khi có căn cứ cho rằng người đó

đang che giấu những đồ vật, tài liệu cần thu giữ

Đối tượng bị khám xét người không phải là người bị bắt như các trường hợp

người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả

tang, người bị bắt trong trường hợp đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam

Đối tượng bị khám xét này là những người có mặt nơi khám xét khi người có thẩm

quyền tiến hành khám xét người có căn cứ cho rằng người đó đang che giấu những

Trang 36

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

đồ vật, tài liệu cần thu giữ vì những người có mặt tại nơi khám xét là những người

tiếp xúc với đối tượng mà những người có thẩm quyền muốn tiến hành khám xét

Họ có thể che giấu những đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án mà những người tiến

hành khám xét muốn phát hiện, thu giữ phục vụ cho công tác điều tra vụ án hoặc

chứng minh việc phạm tội

Từ đó, những người có mặt tại nơi khám xét khi cơ quan tiến hành khám xét

cũng có thể là đối tượng bị khám xét khi có căn cứ cho rằng người đó đang che giấu

những đồ vật, tài liệu cần thu giữ Đây là quy định cần thiết và góp phần cho việc

thu giữ những đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án Vì mục đích cuối cùng khi áp

dụng biện pháp khám xét người trong trường hợp này là nhằm phát hiện đồ vật, tài

liệu có liên quan đến vụ án đã bị che giấu

2.1.2 Căn cứ khám xét người

Khám xét là một trong những biện pháp trong hoạt động điều tra của tố tụng

hình sự có sự đụng chạm đến các quyền tự do về thân thể, bất khả xâm phạm về

thân thể của công dân nên chỉ được khám xét khi có những căn cứ do pháp luật quy

định Vì lẽ đó, biện pháp khám xét người trong trường hợp này khi tiến hành khám

xét khi có các căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 140 Bộ luật tố tụng hình sự

năm 2003 cụ thể như sau: “Việc khám người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm chỉ

được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa

điểm của một người có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội

mà có hoặc đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án” Từ quy định đó, căn cứ

khám xét người có thể chia thành hai căn cứ như sau:

2.1.2.1 Căn cứ để nhận định trong người có công cụ, phương tiện phạm

tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có

Việc khám xét người được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người

có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có Tài sản do

phạm tội mà có là vật, tiền bạc là đối tượng của tội phạm như tội buôn lậu, tội vận

chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới hoặc là vật, tiền bạc do mua bán, trao đổi

những thứ ấy mà có Đồng thời, tài sản do phạm tội mà có cũng có thể là tiền bạc,

tài sản được sinh lời từ việc sử dụng tài sản, tiền, bạc vào việc phạm tội hay tài sản,

tiền bạc chiếm đoạt được của người khác như trộm cắp tiền của người khác, sau đó

gửi ngân hàng, số lãi từ khoản tiền gửi này được coi là tiền bạc do phạm tội mà có;

dùng tiền trộm cắp được mua vé số và trúng thưởng, khoản tiền trúng số là tài sản

Trang 37

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

do phạm tội mà có; mua bán ma túy có được lợi nhuận, dùng lợi nhuận đó mua bất

động sản thì bất động sản là tài sản do phạm tội mà có Căn cứ để tiến hành khám

xét trên là những tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được để có cơ

sở nhận định rằng trong người đối tượng bị khám xét có những dấu hiệu theo quy

định của pháp luật

Bên cạnh đó, căn cứ nhận định này có thể xác định bằng những nguồn tin do

quần chúng nhân dân cung cấp hoặc các nguồn tin do người phạm tội khai Đây là

những nguồn tin quan trọng cho công tác điều tra vụ án hình sự nói chung và góp

phần tạo căn cứ cho biện pháp khám xét người nói riêng Nhưng ngược lại đây là

những nguồn tin chưa được xác thực, độ tin cậy không phải là tuyệt đối nên phải

kiểm tra kĩ căn cứ trước khi ra lệnh khám xét

Để áp dụng biện pháp khám xét người phải có căn cứ nhận định như trên chứ

không phải là sự nghi ngờ, tưởng tượng, suy đoán về khả năng trong người có công

cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có Nếu chỉ là sự nghi ngờ,

tưởng tượng, suy đoán chưa đủ căn cứ để nhận định trong người có công cụ,

phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có thì không được tiến hành

khám xét người Theo đó, tính nhận định của căn cứ này càng có cơ sở bao nhiêu,

thì hiệu quả của việc áp dụng biện pháp khám xét người càng cao và tránh được sự

lạm dụng tùy tiện gây thiệt hại cho các quyền công dân của người bị khám xét

2.1.2.2 Căn cứ nhận định trong người có đồ vật, tài liệu khác có liên quan

đến vụ án

Việc khám xét người có thể tiến hành khi có căn cứ nhận định trong người có

đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án Căn cứ này thể hiện mối quan hệ khách

quan giữa đồ vật, tài liệu đến vụ án cần chứng minh Như vậy, đồ vật, tài liệu này

phải có tính liên quan đến vụ án cần chứng minh Điều này đòi hỏi cơ quan, người

có thẩm quyền khi áp dụng biện pháp khám xét người phải xem xét toàn diện các

mối quan hệ có liên quan đến vụ án Tuy nhiên, không phải cứ đồ vật, tài liệu nào

nghi ngờ có liên quan đến vụ án cũng có thể tiến hành ra lệnh khám xét mà phải

thỏa mãn điều kiện cơ quan, người có thẩm quyền phải có các tài liệu, chứng cứ đủ

để nhận định trong người đối tượng bị khám xét có đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ

án

Tương tự, để áp dụng biện pháp khám xét người phải có căn cứ nhận định

như trên chứ không phải là sự nghi ngờ, tưởng tượng, suy đoán Nếu là sự nghi ngờ,

Trang 38

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

tưởng tượng, suy đoán chưa đủ căn cứ để nhận định trong người có đồ vật, tài liệu

liên quan đến vụ án thì không được tiến hành khám xét người

2.1.3 Thẩm quyền ra lệnh khám xét người

2.1.3.1 Thẩm quyền ra lệnh khám xét trong mọi trường hợp

Thẩm quyền ra lệnh khám xét trong mọi trường hợp được quy định tại khoản

1 Điều 141 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 như sau: “Những người được quy

định tại khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét trong mọi

trường hợp Lệnh khám xét của người được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 80

của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành”

Thẩm quyền ra lệnh khám xét trong trường hợp này được áp dụng không chỉ cho

biện pháp khám xét người mà còn được áp dụng chung cho các biện pháp khám xét

còn lại như khám xét chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm Như vậy, có 4 nhóm chủ thể có

quyền ra lệnh khám xét trong trường hợp này như sau:

 Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát

quân sự các cấp

 Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp

 Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa phúc thẩm Tòa án

nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử

 Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp

Việc pháp luật quy định những người có quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để

tạm giam thì có quyền khám xét người là hợp lý Vì đây là những người có thẩm

quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam theo Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành

Chính vì lẽ đó, những người này khi thực hiện nhiệm vụ bắt người trên có thể áp

dụng biện pháp khám xét người của bị can, bị cáo khi cần thiết có căn cứ theo pháp

luật để phát hiện, thu thập các đồ vật tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ án

Trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 80 Bộ luật này khi Cơ quan

điều tra ra lệnh khám xét phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi

hành Điều đó có nghĩa, Cơ quan điều tra phải gửi hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc

khám xét cùng với lệnh khám xét đến Viện kiểm sát cùng cấp để xem xét phê

chuẩn Qua nghiên cứu và xem xét hồ sơ, tài liệu trên, nếu thấy quyết định ra lệnh

khám xét của Cơ quan điều tra là có căn cứ theo quy định tại Điều 140 Bộ luật tố

tụng hình sự năm 2003, thì Viện kiểm sát quyết định phê chuẩn lệnh khám xét thì

Trang 39

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

mới có hiệu lực thi hành Ngược lại, nếu thấy việc khám xét đó không có căn cứ thì

Viện kiểm sát quyết định không phê chuẩn lệnh khám xét của Cơ quan điều tra và

lệnh khám xét đó sẽ không được thi hành Tuy nhiên, pháp luật tố tụng hình sự chưa

quy định rõ về thời hạn việc xem xét, phê chuẩn của Viện Kiểm sát đối với lệnh

khám xét của Cơ quan điều tra cùng cấp

Từ quy định trên cho thấy, Cơ quan điều tra từ cấp huyện trở lên mới có thẩm

quyền ra lệnh khám xét Chính quyền, Công an cấp xã, phường, thị trấn không có

quyền ra lệnh khám xét theo pháp luật tố tụng hình sự Với quy định này thì khi

khám xét đối tượng bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã

thì Công an cấp xã, phường, thị trấn cũng không được ra lệnh khám xét người trong

trường hợp này

2.1.3.2 Thẩm quyền ra lệnh khám xét trong trường hợp không thể trì hoãn

Theo quy định tại khoản 2 Điều 141 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003:

“Trong trường hợp không thể trì hoãn, những người được quy định tại khoản 2

Điều 81 của Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét Trong thời hạn 24 giờ, kể từ

khi khám xong, người ra lệnh khám phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát

cùng cấp” Thẩm quyền ra lệnh khám xét trong trường hợp này được áp dụng

không chỉ cho biện pháp khám xét người mà còn được áp dụng chung cho các biện

pháp khám xét còn lại như khám xét chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm Như vậy có 3

nhóm chủ thể ra lệnh khám xét:

 Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp

 Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương,

người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới

 Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay,

bến cảng

Như vậy, những người có thẩm quyền ra lệnh khám xét bao gồm Thủ trưởng,

Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an nhân dân, Cơ quan điều tra trong Quân

đội nhân dân, Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra

của Viện kiểm sát quân sự trung ương

Từ quy định đó, Cơ quan điều tra từ cấp huyện trở lên mới có thẩm quyền ra

lệnh khám xét trong trường hợp không thể trì hoãn Chính quyền, Công an cấp xã,

phường, thị trấn không có quyền ra lệnh khám xét theo pháp luật tố tụng hình sự

Trang 40

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu SVTH: Trương Công Nguyên

Việc pháp luật quy định những người có quyền ra lệnh bắt người trong

trường hợp khẩn cấp có quyền ra lệnh khám xét là hợp lý, vì những người bị bắt

trong trường hợp này là những đối tượng đang chuẩn bị thực hiện tội phạm nguy

hiểm hoặc bị tùy nghi thực hiện tội phạm bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ Chính vì lẽ đó,

việc trao quyền khám xét trong trường hợp này cho các chủ thể có quyền ra lệnh bắt

người trong trường hợp khẩn cấp là cần thiết để phát hiện, thu thập công cụ, phương

tiện phạm tội hoặc các đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chưa đưa ra định nghĩa pháp lý của khái

niệm “trường hợp không thể trì hoãn” mà khoản 2 Điều 141 Bộ luật này quy định

Tuy nhiên, trường hợp không thể trì hoãn trong trường hợp này có thể hiểu là

trường hợp có căn cứ nhận định trong người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm có công

cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, tài liệu có

liên quan đến vụ án, người đang có lệnh truy nã, nếu không tiến hành khám xét

ngay thì những đồ vật, tài liệu đó có thể bị tẩu tán, tiêu hủy, người đang bị truy nã

có thể lẩn trốn hoặc có thể sẽ sử dụng những công cụ, phương tiện đó để tiếp tục

phạm tội Vì tính không thể trì hoãn đó mà lệnh khám xét của những người có thẩm

quyền trong trường hợp này được thi hành ngay mà không cần có sự phê chuẩn

trước của Viện kiểm sát cùng cấp

Pháp luật tố tụng hình sự cho phép Cơ quan điều tra tiến hành khám xét mà

không có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát trước khi thi hành nhưng trong 24 giờ

phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát theo quy định tại khoản 2 Điều 141

Bộ luật này Hoạt động kiểm sát việc khám xét được thực hiện theo quy định của

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Khi Cơ quan điều tra tiến hành khám xét trong

trường hợp không thể trì hoãn, qua kiểm tra hồ sơ, tài liệu do Cơ quan điều tra

chuyển đến Nếu Viện kiểm sát thấy việc khám xét là không có căn cứ và không

hợp pháp, thì Viện kiểm sát có trách nhiệm yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục hậu

quả, đồng thời ra quyết định hủy bỏ kết quả khám xét đó

Bên cạnh đó, việc tiến hành hoạt động điều tra khám xét của Bộ đội biên

phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công

an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động

điều tra theo quy định tại khoản 3 Điều 111 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 phải

có lệnh khám xét của những người có thẩm quyền tại khoản 1, khoản 2 Điều 141 Bộ

luật này đã nêu ở trên

Ngày đăng: 03/10/2015, 05:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w