1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghĩa vụ hoàn trả và liên đới thực hiện nghĩa vụ hoàn trả trong trường hợp gây ra oan trong tố tụng hình sự

109 460 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc khác trong nhiều trường hợp, việc xác định trách nhiệm liên đới bồi thường giữa các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự và Hội đồng xét xử là chưa được quy định, dẫn đến khó khăn cho c

Trang 1

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

ThS Mạc Giáng Châu Họ và Tên: Lê Văn Phi

MSSV: 5115832

Lớp: Luật Thương Mại – K37

Cần Thơ, 11/2014

Trang 2

Trải qua những năm tháng học tập và rèn luyện tại trường Đại học Cần Thơ, và giờ đây là sinh viên sắp ra trường, em cũng có rất nhiều điều muốn gửi đến quý Thầy, Cô Điều đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn đến tất cả quý Thầy,

Cô trường Đại học Cần Thơ nói chung và quý Thầy, Cô đang công tác tại Khoa Luật nói riêng đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báo trong suốt quá trình em theo học tại trường

Đặc biệt, em xin chân thành gởi lời cảm ơn nhất đến cô Mạc Giáng Châu

đã tận tình giúp đỡ trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài luận văn Sự tận tâm của cô luôn theo sát hành trình nghiên cứu, đã tạo cho em niềm tin và động lực nhiều hơn để hoàn thành tốt nhiệm vụ mình

Ngoài ra, em còn xin gửi lời cảm ơn đến các Thẩm phán ở tỉnh Sóc Trăng, Giảng viên dạy bộ môn Tố tụng hình sự trường Đại học Cần Thơ và cùng quý thầy, cô đang công tác tại trung tâm học liệu trường Đại học Cần Thơ, Thư viện Khoa Luật trường Đại học Cần Thơ, đã hết lòng giúp em trong việc cung cấp thông tin, tài liệu và những kinh nghiệm để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài luận văn của mình Bên cạnh đó, em cũng gửi lời cám ơn tất cả những bạn bè

đã chia sẽ những kiến thức, thông tin bổ ít trong suốt thời gian qua

Cuối cùng, con xin cảm ơn Ba, Má đã nuôi dưỡng và tạo điều kiện tốt nhất để cho con vững tâm thực hiện ước mơ theo học tại trường Đại học Cần Thơ

Xin gửi đến Ba, Má, Thầy, Cô và bạn bè lời chúc sức khỏe, chúc tất cả mọi người luôn thành công trong công tác, trong học tập và hạnh phúc trong cuộc sống

Sinh viên

LÊ VĂN PHI

Trang 3

Cần Thơ, ngày….tháng….năm Giảng viên nhận xét

Trang 4

Cần Thơ, ngày….tháng….năm Giảng viên nhận xét

Trang 5



1 BLDS: Bộ luật dân sự năm 2005

2 BLHS: Bộ luật hình sự năm 1999 được sủa đổi, bổ sung năm 2009

3 BLTTHS: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003

4 CAND: Công an nhân

5 CQĐT: Cơ quan điều tra

13 TAND: Tòa án nhân dân

14 TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao

Trang 6

MỤC LỤC



LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOÀN TRẢ VÀ LIÊN ĐỚI HOÀN TRẢ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 4

1.1 Khái quát chung về oan trong tố tụng hình sự và liên đới hoàn trả trong tố tụng hình sự 4

1.1.1 Khái quát chung về oan trong tố tụng hình sự 4

1.1.1.1 Khái niệm oan trong tố tụng hình sự 4

1.1.1.2 Đặc điểm của oan trong tố tụng hình sự 7

1.1.2 Khái quát chung về hoàn trả trong tố tụng hình sự 8

1.1.2.1 Khái niệm hoàn trả trong tố tụng hình sự 8

1.1.2.2 Đặc điểm của hoàn trả trong tố tụng hình sự 12

1.1.3 Khái quát chung liên đới hoàn trả trong tố tụng hình sự 12

1.1.3.1 Khái niệm liên đới hoàn trả trong tố tụng hình sự 12

1.1.3.2 Đặc điểm của liên đới bồi thường oan trong tố tụng hình sự 15

1.2 Cơ sở lý luận về hoàn trả và liên đới hoàn trả trong tố tụng hình sự 17

1.2.1 Cơ sở lý luận về hoàn trả trong tố tụng hình sự 17

1.2.1.1 Cơ sở lý luận chế định hoàn trả trong hoạt động tố tụng hình sự và các nguyên tắc giải quyết bồi thường oan trong tố tụng hình sự 17

1.2.1.2 Tầm quan trọng của chế định bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong tố tụng hình sự 21

1.2.1.3 Ý nghĩa về chế định hoàn trả trong tố tụng hình sự 24

1.2.2 Cơ sở lý luận về liên đới hoàn trả trong tố tụng hình sự 25

1.2.2.1 Cơ sở lý luận chế định liên đới hoàn trả trong hoạt động tố tụng hình sự 25

1.2.2.2 Tầm quan trọng của việc chịu trách nhiệm liên đới hoàn trả trong tố tụng hình sự 26

1.2.2.3 Ý nghĩa của việc liên đới hoàn trả trong tố tụng hình sự 27

Trang 7

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ BỒI THƯỜNG OAN VÀ LIÊN ĐỚI HOÀN TRẢ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 29 2.1 Bồi thường oan và liên đới bồi thường oan giữa các cơ quan tiến hành tố tụng 29

2.1.1 Trách nhiệm bồi thường của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc gây

ra oan 29

2.1.1.1 Trách nhiệm bồi thường của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành điều tra 29 2.1.1.2 Trách nhiệm bồi thường của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động

tố tụng hình sự 31 2.1.1.3 Trách nhiệm bồi thường của Tòa án nhân dân trong hoạt động tố tụng hình sự 35

2.1.2 Liên đới bồi thường oan giữ các cơ quan tiến hành tố tụng 39

2.1.2.1 Liên đới bồi thường oan giữa Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành điều tra và Viện kiểm sát nhân dân 40 2.1.2.2 Liên đới chịu trách nhiệm giữa Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân 42 2.1.2.3 Liên đới bồi thường giữa Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành điều tra, Viện Kiểm Sát nhân dân và Tòa án nhân dân 45

2.2 Hoàn trả và liên đới hoàn trả giữa các thành viên trong Hội đồng xét xử………… ……….47

2.2.1 Nghĩa vụ liên đới hoàn trả của các thành viên trong Hội đồng xét xử 47

2.2.1.1 Nghĩa vụ liên đới hoàn trả của các thành viên trong Hội đồng xét xử

sơ thẩm 47 2.2.1.2 Nghĩa vụ liên đới hoàn trả của các thành viên trong Hội đồng xét xử phúc thẩm 52

2.2.2 Liên đới hoàn trả giữa các thành viên trong Hội đồng xét xử 55

2.2.2.1 Liên đới hoàn trả giữa các thành viên của Hội đồng xét xử sơ thẩm55 2.2.2.2 Liên đới hoàn trả giữa các thành viên của Hội đồng xét xử phúc thẩm .59

Trang 8

CHƯƠNG 3 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOÀN TRẢ VÀ LIÊN ĐỚI HOÀN TRẢ TỐ TỤNG HÌNH SỰ, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN

THIỆN 63

3.1 Một số tồn tại về mặt pháp lý, các giải pháp hoàn trả và liên đới hoàn trả trong tố tụng hình sự 63

3.1.1 Trách nhiệm liên đới bồi thường trong tố tụng hình sự 63

3.1.1.1 Về liên đới trách nhiệm bồi thường giữa các cơ quan tiến hành tố tụng 63

3.1.1.2 Về liên đới thực hiện nghĩa vụ hoàn trả giữa các thành viên trong Hội đồng xét xử 71

3.1.2 Trách nhiệm chứng minh thiệt hại và thủ tục bồi thường 77

3.1.2.1 Về trách nhiệm chứng minh thiệt hại phải bồi thường 77

3.1.2.2 Về thủ tục yêu cầu bồi thường 80

3.1.2.3 Về thực hiện nghĩa vụ hoàn trả 82

3.2 Một số tồn tại về thực tiễn áp dụng vấn đề hoàn trả và liên đới hoàn trả trong tố tụng hình sự 84

3.2.1 Áp dụng pháp luật về hoàn trả và liên đới hoàn trả trong tố tụng hình sự84 3.2.1.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật 84

3.2.1.2 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên 87

3.2.2 Những kiến nghị, đề xuất nhằm bảo đảm hoàn trả trong tố tụng hình sự………

……88

3.2.2.1 Những thực tiễn về liên đới hoàn trả trong tố tụng hình sự 89

3.2.2.2 Những thực tiễn hoàn trả trong tố tụng hình sự 91

KẾT LUẬN 95 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Một trong những nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền là mọi chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật Điều này cũng có nghĩa là cơ quan Nhà nước cũng phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do cán bộ, công chức của cơ quan tiến hành

tố tụng gây ra cho chủ thể khác trong xã hội

Trong lĩnh vực tố tụng hình sự nói riêng và trong các lĩnh vực đời sống xã hội nói chung, quá trình Nhà nước thực hiện các công việc thuộc thẩm quyền của mình thông qua hành vi của cán bộ, công chức Một số cán bộ, công chức có năng lực chuyên môn còn hạn chế, bộ phận cán bộ, công chức cậy quyền, tình trạng lạm dụng chức vụ quyền hạn dẫn đến các hành vi trái pháp luật gây ra oan trong tố tụng hình sự Việc giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan còn nhiều bất cập, thiệt hại của người bị oan chưa được bù đắp thỏa đáng, quyền và lợi ích của họ chậm được khắc phục đã tác động tiêu cực đến đời sống xã hội

Thực tiễn ở nước ta qua các thời kỳ phát triển đã có các văn bản quy phạm pháp luật quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước và các văn bản này ngày càng được quy định theo hướng hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với điều kiện phát triển về mặt kinh tế - xã hội của từng thời kì Trong quá trình tiến hành tố tụng các vụ án hình sự do nhiều nguyên nhân khác nhau mà có thể có những vụ án oan Để khắc phục hậu quả hành vi gây oan từ phía người thi hành công vụ các cơ quan tiến hành tố tụng, pháp luật Việt Nam có quy định riêng về vấn đề này và LTNBTCNN năm 2009 ra đời đánh dấu bước tiến bộ vượt bậc so với Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đã phát sinh nhiều hạn chế bất cập điển hình là luật chưa quy định cụ thể trách nhiệm bồi thường liên đới, dẫn đến tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm của mỗi cơ quan trong tiến hành tố tụng hình sự Mặc khác trong nhiều trường hợp, việc xác định trách nhiệm liên đới bồi thường giữa các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự và Hội đồng xét xử

là chưa được quy định, dẫn đến khó khăn cho công tác giải quyết bồi thường, gây bất công cho người có trách nhiệm hoàn trả và thiệt hại cho ngân sách nhà nước

Hoạt động người thi hành công vụ của cơ quan tiến hành tố tụng có khả năng gây ra thiệt hại là tương đối phổ biến Trong quá trình tiến hành tố tụng, việc các cơ quan thực hiện hành vi của người có thẩm quyền đều có khả năng gây ra oan Tuy nhiên việc xác định trách nhiệm liên đới bồi thường chưa được quy định cụ thể và

Trang 10

các vấn đề bồi thường oan trong tố tụng hình sự cũng có nhiều phát sinh Vì vậy, để giải quyết bồi thường liên đới trong tố tụng hình sự còn có nhiều vướng mắc, bộc lộ nhiều bất cập cần được điều chỉnh và hoàn thiện hơn nữa các quy định pháp luật

trong vấn đề này Từ đó người viết chọn đề tài: “Nghĩa vụ hoàn trả và liên đới thực hiện nghĩa vụ hoàn trả trong trường hợp gây ra oan trong tố tụng hình sự” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình

2 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu

Luận văn đi vào nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về “Nghĩa vụ hoàn trả và liên đới thực hiện nghĩa vụ hoàn trả trong trường hợp gây ra oan trong tố tụng hình sự” Đề tài tập trung phân tích các quy định của pháp luật về

hoàn trả và liên đới hoàn trả, thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết hoàn trả và liên đới hoàn trả trong tố tụng hình sự, kiến nghị giải pháp khắc phục khó khăn, vướng mắc, góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật giúp cho việc giải quyết bồi thường của cơ quan nhà nước, người có trách nhiệm bồi thường được thuận lợi hơn, bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, và công bằng trong việc xử lý trách nhiệm của người có thẩm quyền trong việc xảy ra oan sai Qua bài viết này người viết hi vọng người đọc có thể biết thêm về vấn đề người bị oan, vấn đề liên đới bồi thường trong tố tụng hình sự, quyền của người bị oan trong tố tụng hình sự, qua đó giúp cái nhìn khái quát hơn, sâu sắc hơn cũng như cũng cố những kiến thức pháp lý cho bản thân trong quá trình học tập, và gợi mở những kiến nghị hoàn thiện hơn chế

định này tạo thêm một nguồn tài liệu tham khảo

3 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi đề tài người viết tập chung đến các vấn đề liên quan đến các quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường oan trong tố tụng hình sự và liên đới bồi thường oan trong tố tụng hình sự, cụ thể là nghiên cứu về: Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật dân sự năm

2005, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, Thông tư liên tịch số 05/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT và một số văn bản liên quan Bên cạnh tìm hiểu một số tồn tại thì người viết cũng giải thích những hạn chế, thiếu xót oan trong tố tụng hình

sự và liên đới bồi thường oan trong tố tụng hình sự Đồng thời người viết đưa ra một số đề xuất và kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần nâng cao hơn nữa đảm bảo quyền của người bị oan trong tố tụng hình sự, cũng như kiến nghị hoàn thiện về vấn

đề liên đới bồi thường oan trong tố tụng hình sự

Trang 11

Mặc khác đề tài người viết đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề trách nhiệm liên đới bồi thường giữa các cơ quan trong tiến hành tố tụng và vấn đề liên đới bồi thường (liên đới hoàn trả) giữa các thành viên Hội đồng xét xử sơ thẩm và phúc thẩm Điều đặc biệt, phần nghiên cứu của tác giả có thể hiểu trách nhiệm bồi thường oan của người thi hành công vụ là trách nhiệm hoàn trả trong tố tụng hình sự Ngoài

ra, việc nghiên cứu đề tài này người viết cũng được tiến hành đối với các văn bản pháp luật khác để đối chiếu, tham khảo cũng như việc nghiên cứu còn được tiến hành đối với vấn đề trách nhiệm bồi thường cho người bị oan do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra để làm cơ sở cho việc nghiên cứu trách nhiệm liên đới bồi thường oan trong tố tụng hình sự

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này, người viết sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp Trong đó

có phương pháp tổng hợp từ những nguồn tài liệu tham khảo chính thống kết hợp với phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu…với các quy định của pháp luật qua các giai đoạn điều chỉnh về vấn đề trách nhiệm bồi thường oan trong tố tụng hình sự

và qua đó cũng tiếp cận, làm sáng tỏ các nội dung cần nghiên cứu của đề tài như vấn đề liên đới bồi thường oan trong tố tụng hình sự, người viết cũng sử dụng một

số phương pháp nữa như: Sưu tầm tài liệu, đọc và phân tích tài liệu, liệt kê, tổng hợp và xử lý tài liệu

Trang 12

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOÀN TRẢ VÀ LIÊN ĐỚI

HOÀN TRẢ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.1 Khái quát chung về oan trong tố tụng hình sự và liên đới hoàn trả trong

tố tụng hình sự

Trong một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh, Nhà nước cũng như một

tổ chức hay một công dân đều là các chủ thể trong quan hệ pháp luật (Nhà nước là một chủ thể pháp lý công), mọi hoạt động của Nhà nước phải tuân theo Hiến pháp

và pháp luật Quyền được bồi thường khi xâm phạm là quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật Điều đó đặt ra trách nhiệm cho nhà nước khi Nhà nước gây ra thiệt hại cho công dân thì phải bồi thường; Đó là quyền

cơ bản của công dân, mọi chủ thể điều phải bình đẳng trước pháp luật Trong một Nhà nước pháp quyền, Nhà nước cũng thực hiện các hành vi pháp lý và có khả năng gây thiệt hại cho công dân khi thực hiện các hành vi trái pháp luật hoặc vượt quá thẩm quyền Chính vì vậy, khi thực hiện các hành vi gây thiệt hại cho công dân hoặc chủ thể khác, thì Nhà nước có nghĩa vụ bồi thường và liên đới bồi thường oan

trong tố tụng hình sự

1.1.1 Khái quát chung về oan trong tố tụng hình sự

1.1.1.1 Khái niệm oan trong tố tụng hình sự

Khái niệm “oan” trong tố tụng hình sự hay nói cách khác, những trường hợp

được coi là bị oan trong tố tụng hình sự hiện chưa được quy định cụ thể hoặc giải

thích thống nhất LTNBTCNN năm 2009 sử dụng khái niệm “người bị thiệt hại” để chỉ chung các đối tượng được bồi thường, việc chưa đưa ra cách giải thích về “oan trong tố tụng hình” theo quy định tại Điều 29 BLTTHS năm 2003 vừa gây khó

khăn trong việc áp dụng nguyên tắc, vừa dễ dẫn tới sự nhầm lẫn giữa đối tượng được bồi thường thiệt hại theo chế định này với đối tượng được bồi thường thiệt hại theo nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại do cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự gây ra quy định tại Điều 30 BLTTHS năm 2003

Trong quan hệ xã hội Nhà nước được xem là một chủ thể, trước pháp luật nhà nước bình đẳng với các cá nhân, tổ chức khác trên cơ sở tôn trọng các quyền, lợi ích hợp pháp về dân sự Do đó, khi Nhà nước làm sai, gây ra oan cho người vô tội thì Nhà nước phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại đó Theo Từ điển Tiếng

Trang 13

Việt, oan “là ức, trái với lẽ công bình”1 hay “là bị quy cho tội mà bản thân không

khoa học, khái niệm “oan” được hiểu là trường hợp không có sự việc phạm tội,

hành vi không cấu thành tội phạm, do bị vu cáo, dựng vụ án giả hoặc hành vi do người khác thực hiện, nhưng một người vẫn bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc kết tội

Trường hợp các cơ quan hoặc người tiến hành tố tụng đã làm không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục, yêu cầu khi ban hành các quyết định tố tụng hay thực hiện hành vi tố tụng hoặc chưa áp dụng đúng pháp luật về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội thì dẫn đến oan người

vô tội Có quan điểm cho rằng “oan là hiện tượng các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng do nhiều lý do chủ quan và khách quan khác nhau có những đánh giá, nhận định, kết luận không phản ánh đúng thực tế khách quan từ đó dẫn đến những quyết định không bảo đảm công bằng, công lý gây tổn thất về tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm và các quyền lợi khác của cá nhân hoặc tài sản, uy tín,

Oan trong tố tụng hình sự bao gồm: Việc làm oan người vô tội luôn luôn là

hệ quả của hành vi trái (sai) pháp luật Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp hành vi sai pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng không dẫn đến việc làm oan người vô tội Khái quát từ những trường hợp người bị khởi tố, tạm giam, truy tố, xét xử, kết

án oan trong tố tụng hình sự Việt Nam như sau:

Thứ nhất: Người bị khởi tố, tạm giam, tạm giữ nhưng sau đó cơ quan tiến

hành tố tụng ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án, trả tự do vì hết hạn tạm giữ mà không chứng minh được người đó đã thực hiện hành vi phạm tội, hoặc người đó chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự hoặc chứng minh được hành vi của người đó không cấu thành tội phạm

Thứ hai: Người đã bị truy tố ra Tòa án để xét xử nhưng Tòa án tuyên bố bị

cáo không có tội hoặc bản án kết tội của Tòa án cấp dưới bị Tòa án cấp trên hủy tuyên bị cáo không có tội

1 TS Nguyễn Trung Xô (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Trẻ, Hà Nội, 2001, tr.545

2 GS Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học, 2006, tr.749

3 GS Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại Từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1998, tr.1269

4 GS TS Hồ Trọng Ngũ, Oan sai trong tố tụng hình sự - Một số vấn đề từ thực tiễn, Kỷ yếu Hội thảo “Vấn

đề cải cách tư pháp và phòng chống oan sai trong tố tụng hình sự” do Liên đoàn Luật sư Việt Nam tổ chức,

Trang 14

Thứ ba: Người bị truy tố, xét xử, kết án theo một tội danh nặng hơn so với

tội danh trên thực tế đã phạm và bản án đã được Tòa án cấp trên sửa theo hướng nhẹ hơn

Theo quy định tại Điều 1 BLTTHS năm 2003: “Xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội” Đây có

thể xem là tư tưởng chủ đạo và định hướng quan trọng thể hiện ở tất cả các quy định của BLTTHS năm 2003 trong quá trình giải quyết vụ án: Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, tạo thành hệ thống các quy phạm làm cơ sở của việc bảo vệ quyền con người

Hiện nay, hàng loạt vấn đề như “làm oan người vô tội”, “bỏ loạt tội phạm” hay “oan, sai”, “minh oan”, “cơ chế minh oan” trong tố tụng hình sự được đề cập

đến nhiều trong quá trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền, đặc biệt là việc sửa đổi BLTTHS 2003.5 Bởi lẽ, đúng như GS TSKH Đào Trí Úc,

“cùng với cải cách tư pháp nói chung và cải cách tư pháp hình sự nói riêng có nhiều mục đích quan trọng, nhưng khâu đột phá của cuộc cải cách đó có lẽ là vấn

là hoạt động duy trì và bảo vệ công lý, bảo vệ các lợi ích của Nhà nước, của xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp và chính đáng của công dân và vấn đề chống oan, sai

và rộng hơn nữa là bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự

Như vậy, khái niệm “oan” được hiểu là trường hợp không có sự việc phạm

tội, hành vi không cấu thành tội phạm, do bị vu cáo, dựng vụ án giả hoặc hành vi do người khác thực hiện, nhưng một người vẫn bị điều tra, truy tố, xét xử và kết tội Trong trường hợp các cơ quan hoặc người tiến hành tố tụng đã làm không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục, yêu cầu khi ban hành các quyết định tố tụng hay thực hiện hành vi tố tụng hoặc chưa áp dụng đúng pháp luật về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội

Hà Tú Cầu, Bàn về khái niệm oan sai và căn cứ pháp lý xác định oan sai trong tố tụng hình sự, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 7/2001; TS Vũ Văn Nhiêm, Nguyên tắc không để lọt tội phạm, không làm oan

người vô tội trong tố tụng hình sự nhìn từ góc độ bảo vệ quyền con người, quyền công dân, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Quyền con người trong hoạt động tư pháp”, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, ngày

24/10/2009; v.v

6 GS TSKH Đào Trí Úc, Cải cách tư pháp hình sự và vấn đề phòng, chống oan, sai, Tạp chí Nhà nước và

pháp luật, số 4/2005, tr.3

Trang 15

1.1.1.2 Đặc điểm của oan trong tố tụng hình sự

Bồi thường của nhà nước là việc Nhà nước chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị oan về vật chất, tổn thất về tinh thần do lỗi của người thi hành công vụ gây

ra trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ được Nhà nước giao Điều 1

BLTTHS năm 2003 nước ta quy định: “Bộ luật Tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; Chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và mối quan hệ của các cơ quan tiến hành tố tụng; Quyền và nghĩa

vụ của người tham gia tố tụng; Của các cơ quan, tổ chức và công dân; Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xữ lý công minh kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội”

Như vậy, nhiệm vụ của BLTTHS năm 2003 là nhằm chủ động phòng ngừa ngăn ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người

vô tội Nói một cách ngắn gọn, một trong những nhiệm vụ của Bộ luật Tố tụng hình

sự là nhằm không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Oan trong tố tụng hình sự việc làm oan người vô tội luôn luôn là hệ quả của hành vi trái với quy định của pháp luật Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp hành vi sai pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng không dẫn đến việc làm oan người vô tội Trong tố tụng hình

sự, một người được coi là bị oan khi bản thân họ là người vô tội nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng, bằng các quyết định tố tụng đặc trưng của mình khẳng định họ là người có tội, thực hiện các hành vi tố tụng, thậm chí áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng hoặc hình phạt đối với họ và do đó gây thiệt hại cho họ về mặt vật chất, thể chất hoặc tinh thần hay đồng thời cả ba loại thiệt hại đó

Hành vi trái pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự là những hành vi không thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự Hành

vi của các chủ thể này không tuân theo yêu cầu đòi hỏi của các quy phạm pháp luật,

đã thể hiện ra bên ngoài sự sai lầm trong hoạt động đánh giá chứng cứ của các chủ thể khi tiến hành tố tụng Hành vi trái pháp luật của người tiến hành tố tụng được thực hiện chủ yếu bằng hành động cụ thể như quyết định, phê chuẩn quyết định tạm giữ, tạm giam, không có căn cứ, ra quyết định truy tố người không phạm tội, xét xử tuyên án áp dụng hình phạt cho người không có tội, xét xử tuyên án áp dụng hình phạt cho người không có tội, giam giữ lâu hơn Đồng thời các hành động này diễn

ra theo nhiều chiều hướng khác nhau, với tính chất mức độ nhiêm trọng khác nhau

Trang 16

Tuy nhiên, trong căn cứ pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại chúng

ta thấy rằng chỉ có các hành vi trái pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự được thực hiện theo hướng truy cứu trách nhiệm oan cho người vô tội hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự thiếu căn cứ mới phát sinh trách nhiệm bồi thường Trong trường hợp ngược lại hành vi của người có thẩm quyền tố tụng cũng

là hành vi trái pháp luật ví dụ như bỏ lọt tội phạm, truy cứu trách nhiệm thấp hơn so với tính chất mức độ nguy hiểm phạm tội mà bị cáo đã phạm Song những hành vi này không thuộc phạm vi cơ sở pháp lí của trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà các loại trách nhiệm pháp lí khác Hành vi trái pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cũng được thực hiện bởi chủ thể đa dạng hành vi trái pháp luật của Điều tra viên, của Kiểm sát viên, của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân Qua đó hành

vi trái pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hành vi thực hiện không đúng và đầy đủ yêu cầu đòi hỏi của quy phạm pháp luật hình sự và tố tụng hình sự hoặc vượt quá công vụ, quyền hạn nhiệm vụ, làm oan sai gây thiệt hại cho người bị oan

Người bị oan thường là cá nhân thiệt hại về vật chất, tổn thất về tinh thần trong các trường hợp quy định Điều 2 LTNBTCNN năm 2009 đối tượng được bồi thường bao gồm: Cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, tổn thất về tinh thần (sau đây gọi chung là người oan) trong các trường hợp quy định tại luật này thì được Nhà nước bồi thường

Như vậy, theo quy định của LTNBTCNN năm 2009 thì bất kỳ cá nhân, tổ chức nào, không phân biệt cá nhân, tổ chức của Việt Nam hay cá nhân, tổ chức nước ngoài, cũng đều có thể trở thành đối tượng được bồi thường Tuy nhiên trong bối cảnh của BLTTHS năm 2003, thì người bị tình nghi - tức người bị nghi ngờ thực hiện một tội phạm luôn luôn là một cá nhân, một con người cụ thể Vì vậy, khả năng gây ra oan trong tố tụng hình sự luôn luôn là khả năng gây ra thiệt hại cho một

cá nhân Tóm lại, cần khẳng định rằng đối tượng của bồi thường thiệt hại do oan

trong tố tụng hình sự là một con người, chứ không phải là cơ quan, tổ chức

1.1.2 Khái quát chung về hoàn trả trong tố tụng hình sự

1.1.2.1 Khái niệm hoàn trả trong tố tụng hình sự

Trong thực tiễn hình thành và phát triển của xã hội, hành vi gây thiệt hại thì phải bồi thường là chân lý cốt yếu nếu bên bị xâm phạm và bị thiệt hại là lợi ích được cộng đồng và được Nhà nước bảo vệ Do vậy, bồi thường (hay bồi thường thiệt hại) là một trong những chế định pháp lý xuất hiện sớm trong lịch sử pháp luật

Trang 17

Trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, ở những quốc gia khác nhau thì việc bồi thường thiệt hại được quy định khác nhau về chủ thể, điều kiện, mức bồi thường, hình thức và phương thức bồi thường LTNBTCNN 2009 ra đời năm 2009, là một bước tiến quan trọng trong quá trình lập pháp của Việt Nam Luật ra đời là sự cụ thể hóa Nghị quyết 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện

hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Hiến pháp năm 2013 về bảo vệ quyền con người và công dân trong lĩnh vực bồi thường Luật đã thừa nhận trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là một trách nhiệm về vật chất đối với người bị thiệt hại khi cán bộ, công chức nhà nước có hành vi sai trái gây thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần cho chủ thể bị xâm phạm phải chịu trách nhiệm hoàn trả Vấn đề hoàn trả của người thi hành công vụ trong tố tụng hình sự được điều chỉnh một cách cụ thể trong LTNBTCNN năm 2009

Nhà nước là chủ thể quyền lực công Quan hệ Nhà nước với công dân là các quan hệ được điều chỉnh bởi pháp luật công Tuy nhiên các vấn đề về thiệt hại và bồi thường thiệt hại mang bản chất của dân sự (tức là bồi thường hay đền bù) Như vậy các trường hợp quan hệ hành chính, hay tư pháp diễn ra giữa Nhà nước và công dân, một bên (có thể là Nhà nước) gây thiêt hại cho bên kia thì việc xác định thiệt hại cũng như việc xác định mức bồi thường đều mang bản chất của quan hệ dân sự

và được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật tư

Như vậy có thể thấy, trường hợp trong quan hệ Nhà nước với công dân, nếu Nhà nước gây thiệt hại và bồi thường cho công dân thì việc giải quyết bồi thường

đó không thể xử lý bằng luật công Việc xác định thiệt hại, mức độ thiệt hại mang bản chất dân sự, tức là bình đẳng và thực tế, trên cơ sở của pháp luật LTNBTCNN

năm 2009 Tóm lại, “Bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm dân sự nhằm ràng buộc bên có hành vi gây thiệt hại phải bù đắp, đền bù những tổn thất về vật chất, tinh thần cho bên bị vi phạm”.7

Chủ thể thiệt hại được nhà nước bồi thường, mà trách nhiệm xuất phát từ người thi hành công vụ trong khi thi hành nhiệm vụ được Nhà nước giao đã gây thiệt hại chứ không xuất phát từ bất kì từ một hợp đồng nào Bồi thường thiệt hại oan trong tố tụng hình sự là trách nhiệm của nhà nước phải bồi thường cho người bị oan do người thi hành công vụ gây ra, trách nhiệm bồi thường này được pháp luật

dự liệu qua các quy định của Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước

Trang 18

Vì vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tố tụng hình sự là một trách nhiệm pháp lý Theo đó Nhà nước phải bồi thường cho cá nhân bị thiệt hại do hành

vi trái pháp luật của cán bộ, công chức gây ra trong khi thi hành công vụ

Trách nhiệm hoàn trả là vấn đề mà pháp luật của tất cả các nước đều có quy định, chỉ khác chăng là trách nhiệm này được quy định như một nghĩa vụ tự thân của người thi hành công vụ hay là một quyền từ phía Nhà nước - chỉ khi nào Nhà nước yêu cầu thì người thi hành công vụ mới phải hoàn trả lại một khoản tiền cho Nhà nước.8

Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành thì trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ được quy định tại Điều 56 LTNBTCNN năm 2009.9 Vậy, có thể hiểu hoàn trả là loại trách nhiệm dân sự mà theo đó khi người thi hành công vụ gây ra oan cho người khác thì phải bồi thường những tổn thất do mình gây ra dựa trên nghĩa vụ hoàn trả Như vậy, theo quan điểm LTNBTCNN năm 2009 đã quy định một cách toàn diện về nghĩa vụ hoàn trả, căn cứ xác định mức hoàn trả, trình

tự, thủ tục quyết định việc hoàn trả, thực hiện hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại

Theo đó, người thi hành công vụ có lỗi gây ra thiệt hại có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân sách nhà nước một khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự, do đặc thù của hoạt động tố tụng hình sự

và yêu cầu của việc đấu tranh và phòng chống tội phạm, đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải đưa ra các quyết định một cách nhanh chóng, chính vì vậy, khó có thể gây thiệt hại cho người khác Khoản 2, Điều 56 LTNBTCNN năm 2009 quy định trong trường hợp gây thiệt hại mà do lỗi

vô ý thì người có thẩm quyền không phải chịu trách nhiệm hoàn trả Căn cứ xác định mức hoàn trả Điều 57 LTNBTCNN năm 2009 bao gồm: Mức độ lỗi của người thi hành công vụ; Mức độ thiệt hại đã gây ra; Điều kiện kinh tế của người thi hành

8 Lê Thái Phương, Nguồn: Cục Bồi thường nhà nước, Kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia trên thế

giới về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và đối chiếu với quy định của pháp luật Việt Nam,

http://www.moj.gov.vn/btnn/tdnv/Lists/QuanLyHanhChinh/View_Detail.aspx?ItemID=12, [16-11-2014]

9 Điều 56 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2009 Nghĩa vụ hoàn trả và xử lý trách nhiệm của người thi hành công vụ

1 Người thi hành công vụ có lỗi gây ra thiệt hại có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân sách nhà nước một khoản tiền

mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền

2 Người thi hành công vụ có lỗi vô ý gây ra thiệt hại quy định tại Điều 26 của Luật này không phải chịu trách nhiệm hoàn trả

3 Người thi hành công vụ ngoài việc phải hoàn trả khoản tiền quy định tại khoản 1 Điều này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm còn phải bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật

Trang 19

công vụ Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định việc xác định mức hoàn trả của người thi hành công vụ Trường hợp nhiều người thi hành công vụ gây ra thiệt hại thì những người đó có nghĩa vụ liên đới hoàn trả; cơ quan có trách nhiệm bồi thường chủ trì, phối hợp với các cơ quan quản

lý những người thi hành công vụ gây ra thiệt hại thống nhất xác định mức hoàn trả cho từng cá nhân có nghĩa vụ hoàn trả

Trường hợp người thi hành công vụ có trách nhiệm hoàn trả không đồng ý với ý kiến quyết định hoàn trả theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính Điều 60 LTNBTCNN năm

2009 Trường hợp người thi hành công vụ không khiếu nại, khởi kiện quyết định hoàn trả thì sau 15 ngày, quyết định hoàn trả có hiệu lực pháp luật và cơ quan đã quyết định có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định này Điều 61 LTNBTCNN năm 2009

Mặc dù thiệt hại do cá nhân người thi hành công vụ gây ra, nhưng trách nhiệm bồi thường là trách nhiệm Nhà nước Tiền bồi thường được lấy từ ngân sách nhà nước, mà ngân sách nhà nước là do người dân đóng góp Nếu Nhà nước lấy tiền của người dân bồi thường cho dân thì sẽ không còn ý nghĩa nữa, do đó, LTNBTCNN năm 2009 quy định người thi hành công vụ có lỗi gây ra oan cho người vô tội có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân sách nhà nước một khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị oan

Trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ trong tố tụng hình sự là từ hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân là trách nhiệm pháp lý được xác định với mọi chủ thể Vì vậy, khi Nhà nước thực hiện công quyền gây thiệt hại cho cá nhân người bị oan thì cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước không chỉ nhằm khôi phục các tổn thất tài sản mà còn phải bù đắp những tổn thất tinh thần cho các cá nhân bị oan; Mà là hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại Mặc khác, bồi thường thiệt hại có thể hiểu là trách nhiệm khôi phục lại tình trạng ban đầu của sự vật hiện tượng

Việc Nhà nước bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự là trách nhiệm khôi phục những tổn thất về tài sản, bù đắp những tổn thất về tinh thần trong trường hợp cán bộ, công chức nhà nước có hành vi trái pháp luật trong khi thi hành công vụ gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm

Trang 20

của người bị oan Trong khi đó, nghĩa vụ hoàn trả của người gây ra oan là trách nhiệm vật chất của cán bộ công chức đối với thiệt hại về ngân sách nhà nước do mình gây ra

1.1.2.2 Đặc điểm của hoàn trả trong tố tụng hình sự

Thứ nhất, nghĩa vụ hoàn trả là nghĩa vụ vật chất Trong việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong tố tụng, bao gồm bồi thường thiệt hại về tinh thần

và bồi thường thiệt hại về vật chất Tuy nhiên việc hoàn trả của người gây ra oan được quy định tại LTNBTCNN năm 2009 thì người gây ra oan chỉ có nghĩa vụ thực hiện trách nhiệm vật chất với Nhà nước mà không phải chịu trách nhiệm tinh thần đối với Nhà nước hay đối với người bị oan

Thứ hai, nghĩa vụ hoàn trả của người gây ra oan được thực hiện trực tiếp với Nhà nước, không thực hiện đối với người bị oan Theo quy định của pháp luật

về bồi thường thiệt hại do oan, người bị oan được Nhà nước thực hiện việc bồi thường một lần (hoặc nhiều lần nếu có thỏa thuận) bằng ngân sách nhà nước (Điều

19 LTNBTCNN năm 2009) Sau đó, căn cứ vào thiệt hại và mức độ lỗi của người gây ra oan, cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét mức hoàn trả của người này và người này sẽ có trách nhiệm hoàn trả lại một khoản tiền nhất định lại cho ngân sách nhà nước (Điều 57 LTNBTCNN năm 2009) Quy định này nhằm khắc phục phần nào vào sự thiếu hụt của ngân sách Nhà nước, đồng thời nâng cao tính trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự

Thứ ba, nghĩa vụ hoàn trả không áp dụng mặc nhiên với tất cả các chủ thể gây ra oan cho người bị tình nghi Nghĩa vụ hoàn trả chỉ được tính toán toán và áp dụng đối với trường hợp việc gây ra oan được thực hiện với lỗi cố ý của người thi hành công vụ; và điều kiện kinh tế của người thi hành công vụ (Điều 56 và khoản 1 Điều 57 LTNBTCNN năm 2009) Trong trường hợp không thỏa một trong hai điều kiện này, người gây ra oan không bị buộc phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả

1.1.3 Khái quát chung liên đới hoàn trả trong tố tụng hình sự

1.1.3.1 Khái niệm liên đới hoàn trả trong tố tụng hình sự

Trong xã hội dân chủ, cùng với sự phát triển vượt bậc về kinh tế - xã hội thì quyền con người cũng được quan tâm đặc biệt Nhà nước được xem là một chủ thể, trước pháp luật Nhà nước bình đẳng với người bị oan trên cơ sở tôn trọng các quyền, lợi ích hợp pháp về dân sự nên khi Nhà nước làm sai, gây thiệt hại cho chủ thể dân sự khác thì nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do mình

Trang 21

gây ra (Mặc khác các chủ thể này còn chịu trách nhiệm liên đới chịu trách nhiệm với nhau)

Thực tiễn tình hình cho thấy rõ một thiệt hại có thể do hành vi của một người hay của nhiều người, trực tiếp hay không trực tiếp gây ra; Có trường hợp người bị gây thiệt hại cũng có lỗi Do đó, cần phân biệt các loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại của một người và của nhiều người hoặc các cơ quan chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại với nhau

Theo từ điển tiếng việt: “Liên đới là cùng liên kết và chịu chung trách nhiệm

Như vậy, có thể hiểu: Trách nhiệm liên đới có nghĩa là nhiều người cùng chung gây thiệt hại do thống nhất ý chí với nhau, thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại do họ gây nên

Bên cạnh đó cũng có thể hiểu, trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng có lỗi cố ý gây ra hoặc những trường hợp khác do luật định.11

Theo quy định Điều 616 BLDS năm 2005 thì trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cũng là một loại nghĩa vụ liên đới; các chủ thể trong trách nhiệm liên đới là những chủ thể cùng gây thiệt hại cho phía người bị hại Điều 616 BLDS

năm 2005 chỉ quy định chung chung là “cùng gây thiệt hại” mà không nói rõ thế nào là “cùng gây thiệt hại” Điều đó đã dẫn đến có hai cách hiểu khác nhau trong thực tiễn nhận thức và áp dụng pháp luật “cùng gây thiệt hại” chứ không trực tiếp chỉ rõ là “cố ý” hay “vô ý” nên trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại vẫn đặt

ra đối với trường hợp trên Tại khoản 2 Điều 57 LTNBTCNN năm 2009 có quy

định: “Trường hợp nhiều người thi hành công vụ gây ra thiệt hại thì những người

đó có nghĩa vụ liên đới hoàn trả; Cơ quan có trách nhiệm bồi thường chủ trì, phối hợp với các cơ quan quản lý những người thi hành công vụ gây ra thiệt hại thống nhất xác định mức hoàn trả cho từng cá nhân có nghĩa vụ hoàn trả” Theo Điều 51

LTNBTCNN năm 2009 thì người thi hành công vụ lỗi cố ý phải chịu trách nhiệm hoàn trả, lỗi vô ý gây ra thiệt hại tại Điều 26 thì không phải chịu trách nhiệm hoàn trả

Trang 22

Tóm lại, từ những phân tích trên có thể nhận định: trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại oan trong tố tụng hình sự là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhiều người hoặc nhiều cơ quan tiến hành tố tụng hình sự cùng có lỗi cố ý gây ra Trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh trong trường hợp những

người có hành vi trái pháp luật đều “cùng cố ý” gây ra thiệt hại, hoặc những trường

hợp khác do pháp luật quy định Tuy nhiên trong trường hợp tố tụng hình sự thì phải xác định theo khoản 2 Điều 6 LTNBTCNN năm 2009 để xác định trách nhiệm

bồi thường của nhà nước: “Có bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định thiệt hại được bồi thường quy định tại Điều 26 của luật này; Có thiệt hại thực tế do người tiến hành tố tụng hình sự gây ra đối với người bị thiệt hại”

Qua đó có thể hiểu rằng, lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhiều

người cùng gây ra:

Thứ nhất: Nhiều người gây thiệt hại được hiểu là một thiệt hại tối thiểu phải

do hai người cùng gây ra Khi nhiều cùng gây thiệt hại, giữa họ có quan hệ phụ thuộc như người này sai khiến người kia, người này chỉ định người kia thực hiện các hành vi nhất định hoặc cùng thỏa thuận, có tổ chức trong việc gây thiệt hại

Thứ hai: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhiều người hay các cơ quan

tiến hành tố tụng cùng gây thiệt hại là trách nhiệm liên đới Phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người gây thiệt hại phải bồi thường không làm triệt tiêu trách nhiệm dân sự liên đới của nhiều người hay nhiều cơ quan tiến hành tố tụng cùng gây thiệt hại

Như vậy, trách nhiệm liên đới là của nhiều người cùng gây ra thiệt hại hay nhiều cơ quan, trong tố tụng hình sự thì bao gồm ba cơ quan: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án cùng gây ra thiệt hại dẫn đến hàm oan người vô tội, gây thiệt hại

về thể chất, tinh thần và nhiều thiệt hại khác Qua đó có thể nhận định rằng, khi cơ quan nào làm không đúng dẫn đến vi phạm pháp luật làm oan người vô tội, thì cơ quan có liên quan trực tiếp dẫn đến vô tội người bị oan đó cũng phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường Mặc khác người thi hành công vụ trong trường hợp này

là các thành viên Hội đồng xét xử sơ thẩm và thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm khi nhiều người thi hành công vụ gây ra thiệt hại những người đó có nghĩa vụ liên đới hoàn trả bồi thường do làm oan người vô tội theo Điều 56 LTNBTCNN năm

2009

Trang 23

Tóm lại, bồi thường thiệt hại liên đới được hiểu là trách nhiệm nhiều người

mà theo đó thì mỗi người trong số những người có trách nhiệm phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ thiệt hại, cũng như các cơ quan tiến hành tố tụng gây ra thiệt hại cùng có lỗi và dẫn đến hàm oan người vô tội thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường

1.1.3.2 Đặc điểm của liên đới bồi thường oan trong tố tụng hình sự

Thứ nhất: Liên đới bồi thường thiệt hại trong tố tụng hình sự là một loại

trách nhiệm pháp lý nên ngoài những đặc điểm của trách nhiệm pháp lý nói chung như do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật, luôn mang đến hậu quả bất lợi cho người bị áp dụng, đảm bảo bàng sự cưỡng chế của Nhà nước, thì khi đó trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này có những đặc điểm như:

Một là: Trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại là một dạng trách nhiệm

dân sự và chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự mà cụ thể là LTNBTCNN năm

2009 và các văn bản khác như: Thông tư liên tịch số 05/2012 hay Nghị định số 16/2010/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Hai là: Khi nhiều người cùng gây ra tổn thất cho người khác thì họ phải liên

đới bồi thường thiệt hại, và theo quy định tại Điều 26, 45 và Điều 56, 57 LTNBTCNN năm 2009

Trách nhiệm bồi thường chỉ đặt ra khi thỏa mãn các điều kiện tại khoản 2 Điều 6 Luật TNBTCNN năm 200912, đây là điều kiện chung nhất để xác định trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại oan gây ra Tuy nhiên trong một số trường hợp khác trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể phát sinh không đủ các điều kiện tại khoản 3 Điều 6 LTNBTCNN năm 2009.13

b) Có thiệt hại thực tế do người tiến hành tố tụng hình sự gây ra đối với người bị thiệt hại

13 Khoản 3 Điều 6 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2009 Nhà nước không bồi thường đối với thiệt hại xảy ra trong các trường hợp sau đây:

a) Do lỗi của người bị thiệt hại;

b) Người bị thiệt hại che dấu chứng cứ, tài liệu hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật trong quá trình giải quyết vụ việc;

Trang 24

Thứ hai: Trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại luôn mang đến một hậu

quả bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại Trong trường hợp, khi một người gây

ra tổn thất cho người khác thì tổn thất đó phải được tính toán được bằng tiền hoặc phải được pháp luật quy định là một đại lượng vật chất nhất định nếu không sẽ không thể thực hiện được bồi thường Do đó, những thiệt hại về tinh thần mặc dù không thể tính toán được nhưng cũng sẽ được xác định theo quy định của pháp luật

để bù đắp lại tổn thất cho người bị thiệt hại Cũng chính vì vậy thực hiện trách nhiệm bồi thường sẽ giúp khôi phục lại thiệt hại cho người bị oan

Thứ ba: Về chủ thể chịu trách nhiệm liên đới bồi thường trong trường hợp

này là cơ quan Nhà nước và chủ yếu là cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, các thành viên trong hội đồng xét xử

Giữa các chủ thể có mối liên hệ mật thiết với nhau, cùng chịu trách nhiệm liên đới Đặc điểm của hành vi này là do các chủ thể này cùng gây thiệt hại, hay sự nối kết với nhau trong giải quyết vụ án hình sự, giữa Cơ quan điều tra với Viện kiểm sát hay giữa Viện kiểm sát với Tòa án, hoặc cả ba cơ quan trên, ngoài ra cũng

có thể là người trong cơ quan đó chịu trách nhiệm liên đới đối với hành vi gây ra oan của mình Mặc khác trong trường hợp này các thành viên Hội đồng xét xử cũng

có mối quan hệ mật thiết với nhau giữa các Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử tại phiên tòa và cho ra phán quyết chung và dẫn đến oan thì trách nhiệm liên đới bồi thường giữa các chủ thể theo quy định pháp luật

Trong tố tụng hình sự, LTNBTCNN năm 2009 chưa quy định về trách nhiệm liên đới hoàn trả cụ thể mà chỉ quy định chung chung về trách nhiệm liên đới hoàn trả của người thi hành công vụ, đó là vấn đề nan giải hiện nay Tuy nhiên BLDS năm 2005, có quy định về trách nhiệm liên đới, bao gồm tất cả các chủ thể không loại trừ ai Điều này dẫn đến nguyên tắc dân chủ trong pháp luật của nhà nước không thiên vị một ai, nghĩa là khi vi phạm pháp luật các chủ thể điều chịu trách nhiệm như nhau Có thể thấy một trong những nội dung nổi bật của chế định này đó

là luôn có từ hai người trở lên phải liên đới cùng chịu trách nhiệm thực hiện một nghĩa vụ nào đó đối với bên có quyền (hoặc từ hai cơ quan tố tụng hình sự trở lên

có trách nhiệm liên đới bồi thường) Những người này phải cùng có một mối liên hệ nào đó trong việc làm phát sinh nghĩa vụ đối với bên có quyền Mối liên hệ này có thể là do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định

LTNBTCNN năm 2009 quy định khi cơ quan Nhà nước có lỗi gây thiệt hại trong hoạt động công vụ thì phải bồi thường Người thi hành công vụ gây ra thiệt

Trang 25

hại cũng phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường Trong vụ việc này quy trách nhiệm cho cán bộ, công chức là do lỗi của những người này và khi làm sai dẫn đến oan người vô tội thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường dựa vào tính chất mức độ lỗi của cán bộ, công chức đó

Cuối cùng, trách nhiệm hình sự chỉ có thể là cá nhân, và cá nhân là chủ thể chủ yếu của quyền yêu cầu cầu bồi thường trong các vụ án oan và trách nhiệm liên đới bồi thường oan luôn có từ hai chủ thể trở lên phải liên đới cùng chịu trách nhiệm bồi thường khi xảy ra oan Những chủ thể này phải cùng có một mối liên hệ nào đó trong việc làm phát sinh nghĩa vụ đối với bên có quyền

1.2 Cơ sở lý luận về hoàn trả và liên đới hoàn trả trong tố tụng hình sự

1.2.1 Cơ sở lý luận về hoàn trả trong tố tụng hình sự

1.2.1.1 Cơ sở lý luận chế định hoàn trả trong hoạt động tố tụng hình sự và các nguyên tắc giải quyết bồi thường oan trong tố tụng hình sự

* Cơ sở lý luận chế định hoàn trả trong hoạt động tố tụng hình sự

Nhà nước là một chủ thể của quyền lực công, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, mọi công dân phải tuân theo pháp luật của nước mình (pháp luật do Nhà

nước đặt ra) Như vậy, quan hệ giữa Nhà nước với công dân là mối quan hệ “mệnh lệnh - phục tùng”, mối quan hệ này được điều chỉnh bởi hệ thống luật công Tuy

nhiên, một nguyên tắc không thể phủ nhận, trong nhà nước dân chủ pháp quyền Khi một người xâm phạm và gây ra những thiệt hại về tài sản cũng như thân thể và danh dự của người khác thì người có hành vi xâm hại đó phải bù đắp những tổn thất

mà mình đã gây ra cho người bị hại Xét trên góc độ pháp lý thì đó là sự công bằng,

là quyền được bồi thường của người bị thiệt hại, không phân biệt người gây thiệt hại là ai

Cơ sở của chế định bồi thường nhà nước chính là dựa trên các quyền của công dân, các quyền này được pháp luật ghi nhận, bảo hộ và được bảo đảm thực hiện bởi Nhà nước Hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức nhà nước khi thi hành công vụ mà gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân thì trước hết Nhà nước với tư cách là người sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại Trong Bộ luật tố tụng hình sự, những nguyên tắc cơ bản cũng đã đưa ra hai nguyên tắc về việc bồi thường thiệt hại Cụ thể: Điều 29, Điều 30 BLTTHS năm

2003.14 Thông qua điều này luật đặt ra các vấn đề bồi thường là người bị oan Trong

Trang 26

quá trình tiến hành tố tụng trải qua rất nhiều giai đoạn như điều tra, truy tố, xét xử, cho nên việc có sự sai sót là không thể tránh khỏi, một khi bị thiệt hại hay đặc biệt hơn là bị kết tội oan thì thiệt hại về vật chất và tinh thần đối với một cá nhân là rất lớn Chính vì vậy mà nhà làm luật đặt ra vấn đề bồi thường là rất hợp lý nhằm bù đắp lại những sai sót mà người hoặc cơ quan tiến hành tố tụng gây ra

Mặc dù thiệt hại do cá nhân người thi hành công vụ gây ra, nhưng trách nhiệm bồi thường là trách nhiệm của nhà nước Tiền bồi thường được lấy từ ngân sách nhà nước, mà ngân sách nhà nước là do người dân đóng góp Nếu Nhà nước lấy tiền của dân để bồi thường cho dân thì không có ý nghĩa gì Do đó,

LTNBTCNN năm 2009 quy định: “Người thi hành công vụ có lỗi gây ra thiệt hại

có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân sách nhà nước một khoản tiền mà Nhà nước đã bồi

Về mặt lý luận, thiệt hại do người của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự gây

ra thuộc trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng mà chủ thể chịu trách nhiệm là chủ thể đặc biệt - Nhà nước Vấn đề trách nhiệm này cũng đã được đặt ra trong đường lối, chính sách về cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự thực chất là trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự đối với hành vi gây oan trong hoạt động tố tụng hình

sự

Cơ chế bồi thường của nhà nước được quy định trên nguyên tắc và bản chất bồi thường thiệt hại trong quan hệ pháp luật dân sự: Người bị thiệt hại có thể yêu cầu bồi thường hoặc không bồi thường, việc yêu cầu bồi thường về nguyên tắc không được cao hơn thiệt hại thực tế xảy ra Việc xác định mức độ thiệt hại cũng như mức bồi thường đều mang bản chất của quan hệ dân sự, tức là bình đẳng và trên cơ sở thương lượng, thỏa thuận, bình đẳng giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại Nhưng trên thực tế, giữa hai chủ thể này có sự khác biệt chênh lệch Một bên là Nhà nước vừa nắm quyền lập pháp (quy định những chế định bồi thường

Người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi

Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã làm oan phải bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị oan; người đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

Điều 30 Bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại do cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự gây ra

Người bị thiệt hại do cơ quan hoặc người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại

Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự phải bồi thường cho người bị thiệt hại; người đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

15 Khoản 1 Điều 56 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009

Trang 27

thiệt hại) lại là chủ thể gây thiệt hại cho chủ thể khác Khi đó, nếu xảy ra mâu thuẫn thì bên chủ thể cơ quan Nhà nước sẽ chiếm ưu thế hơn, lúc đó họ biết làm gì để bồi thường ở mức hạn chế nhất và khi đó chủ thể bị oan luôn bị thiệt thòi

Như vậy, bản chất quan hệ Nhà nước và công dân là mối quan hệ công, nhưng nếu Nhà nước gây thiệt hại cho công dân thì Nhà nước phải bồi thường và việc giải quyết quan hệ bồi thường từ mối quan hệ công này mang bản chất của quan hệ dân sự (quan hệ tư) Trong trường hợp Nhà nước đóng vai trò quan hệ tư, không có quyền hành chính mà chỉ là một chủ thể quan hệ bình đẳng với bên bị thiệt hại trong việc giải quyết bồi thường thiệt hại (trong trường hợp này Nhà nước

và công dân bình đẳng ngang nhau trong mối quan hệ bồi thường thiệt hại, người bị hại là người bị oan còn chủ thể đặc biệt là Nhà nước)

Tóm lại, cơ sở của chế định bồi thường nhà nước chính là dựa trên các quyền của công dân, các quyền này được pháp luật ghi nhận, bảo hộ và được bảo đảm thực hiện bởi Nhà nước Hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức nhà nước khi thi hành công vụ mà gây thiệt hại cho người bị oan thì trước hết Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường và sau đó người thi hành công vụ có nghĩa vụ hoàn trả số tiền đó lại cho cơ quan nhà nước

* Các nguyên tắc giải quyết bồi thường oan trong tố tụng hình sự

Trong đời sống xã hội, khi xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ, mỗi người phải tôn trọng và không được xâm phạm tới lợi ích của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước và phải tuân thủ pháp luật Pháp luật tôn trọng và bảo

vệ các quyền dân sự của mọi người và mỗi người Khi các quyền dân sự bị xâm phạm thì chủ thể có quyền tự bảo vệ hay yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Nguyên tắc bồi thường kịp thời, công khai, đúng pháp luật: Khoản 1 Điều 7

LTNBTCNN năm 2009 quy định: “Kịp thời, công khai, đúng pháp luật”

Yêu cầu bồi thường thiệt hại là một yêu cầu chính đáng, yêu cầu đó chỉ có thể được thực hiện khi mà việc giải quyết bồi thường của nhà nước mà trực tiếp là cơ

Trang 28

quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ bồi thường được thực hiện một cách nhanh chóng, kịp thời, công khai Việc bồi thường kịp thời nhằm đảm bảo khôi phục lại tình trạng ban đầu trước khi bị thiệt hại, đảm bảo cuộc sống ổn định cho người bị thiệt hại như trước khi bị xâm phạm

Nguyên tắc công khai thể hiện sự bình đẳng dân chủ trong việc giải quyết bồi thường Công khai về cơ quan gây thiệt hại, người trực tiếp gây thiệt hại trong tố tụng hình sự, ai là người được hưởng tiền bồi thường

Có như vậy mới kịp thời khôi phục các quyền và lợi ích của người bị hại Có bồi thường nhanh chóng kịp thời mới thể hiện được tính dân chủ, công bằng của Nhà nước và cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thực hiện trách nhiệm sửa chửa sai lầm của mình

Nguyên tắc thỏa thuận, thương lượng: Khoản 2 Điều 7 LTNBTCNN năm

2009 quy định “Được tiến hành trên cơ sở thương lượng giữa cơ quan có trách nhiệm bồi thường với người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ”

Nguyên tắc này bảo đảm quyền tự do định đoạt ý chí của bên bị thiệt hại và cơ quan giải quyết bồi thường thiệt hại của nhà nước, một mặt nó bảo đảm quyền bình đẳng của các chủ thể trong quan hệ bồi thường nhà nước, mặt khác nhằm giải quyết thỏa đáng việc bồi thường cho người bị thiệt hại, đồng thời cũng nhằm giảm thiểu tối

đa việc khiếu nại, yêu cầu nhiều lần của bên bị thiệt hại gây ra những hậu quả không đơn giản chỉ về mặt kinh tế Trong hoạt động tố tụng hình sự, các cơ quan tiến hành

tố tụng và người có thẩm quyền của cơ quan này được xác định là một bên của quan

hệ pháp luật, đại diện và nhân danh quyền lực nhà nước Vì vậy, có sự bất bình đẳng giữa họ và các bị can, bị cáo Tuy nhiên, trong quan hệ pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại thì ngược lại, địa vị pháp lý của các bên hoàn toàn bình đẳng với nhau

Người bị thiệt hại có quyền đưa ra các yêu cầu của mình, đưa ra các chứng cứ

để khẳng định lỗi và mức bồi thường của bên kia mà không bị hạn chế về tự do ý chí Kết quả bồi thường có được phải là sự thống nhất ý chí của hai bên trên cơ sở chấp nhận những yêu cầu của nhau dựa trên các quy định của pháp luật Trong trường hợp người bị thiệt hại không chấp nhận đề nghị của cơ quan có nghĩa vụ bồi thường thì họ

có quyền yêu cầu tòa án giải quyết Việc giải quyết của Tòa án sẽ theo quy định của pháp luật Tòa án giải quyết tranh chấp bồi thường nhà nước là một thủ tục tố tụng quan trọng nhưng được hiểu biện pháp này chỉ là biện pháp cuối cùng và không phải là duy nhất để giải quyết việc bồi thường thiệt hại của nhà nước

Trang 29

Nguyên tắc được trả một lần bằng tiền, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận

khác: Khoản 3 Điều 7 LTNBTCNN năm 2009 quy định: “Được trả một lần bằng tiền, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”

Bồi thường thiệt hại xét về bản chất là nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản như trước khi nó bị gây thiệt hại Trên cơ sở thương lượng giữa cơ quan

có trách nhiệm bồi thường với người bị thiệt hại; Phần thiệt hại về nguyên tắc được định giá bằng tiền và được trả một lần cho người bị thiệt hại Tuy nhiên, xét về bản chất thì đây có thể xem như là một quan hệ dân sự giữa cơ quan nhà nước với một cá nhân, cho nên hai bên hoàn toàn có thể thỏa thuận bồi thường bằng một tài sản vật chất khác hoặc bằng bất cứ thứ gì mà hai bên mong muốn mà có thể không phải là tiền Đối với những người bị oan, việc chi trả khoản tiền bồi thường một lần là hết sức quan trọng Bởi lẽ, sau thời gian họ bị oan, họ không những phải chịu những tổn thất nặng nề về tinh thần, thể chất mà những thiệt hại về vật chất cũng không thể khắc phục được hoàn toàn Từ đó góp phần bù đắp lại những thiệt hại về vật chất, tinh thần

mà những người hay những cơ quan nhân danh nhà nước đã gây ra, tạo được niềm tin cho người dân vào Đảng và chính sách pháp luật của nhà nước

Như vậy, trong trường hợp các bên có thỏa thuận thì việc bồi thường không nhất thiết phải tuân theo nguyên tắc bồi thường bằng tiền mặt Sự thỏa thuận trong quan hệ dân sự được tôn trọng một cách tuyệt đối nếu không vi phạm các quy định pháp luật, không vi phạm các chuẩn mực đạo đức xã hội

1.2.1.2 Tầm quan trọng của chế định bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong tố tụng hình sự

* Đối với người bị oan

Trước khi ban hành LTNBTCNN năm 2009, Nhà nước ta đã ban hành một

hệ thống pháp luật về bồi thường thiệt hại NQ388/32003/NQ-UBTVQH11 Bước đầu đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của quản lý nhà nước đối với mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có pháp luật về trách nhiệm bồi thường của cơ quan nhà nước đối với các thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước gây ra trong khi thi hành

công vụ Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật”

Trang 30

Trong tố tụng hình sự, người bị oan đóng vai trò quan trọng trong các thành phần những người tham gia tố tụng Việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị oan khi tham gia tố tụng hình sự là một yêu cầu đang được đặt ra Hiện nay, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng nói chung, người bị oan nói riêng là một trong những nội dung quan trọng trong định hướng cải thiện tư pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hình sự ở nước ta hiện nay Nghị quyết 48-NQ/TW về việc chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 Và tiếp tục được khẳng

định tại nghị quyết - NQ/TW ngày 02/6/2005 như: “Tôn trọng quyên con người”,

“tạo điều kiện cho người tham gia tố tụng” Việc tham gia tố tụng của người bị oan

không chỉ nhằm bảo vệ, khôi phục những quyền và lợi ích hợp pháp của họ đã bị oan mà còn xác định sự thật khách quan của vụ án Xác định đúng tư cách người bị oan, sẽ đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong tố tụng hình sự là một trong những đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hình sự được chính xác, khách quan

và toàn diện

Người bị oan là người mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm hại nặng

nề nhất, là người chịu thiệt thòi nhiều nhất trong số những người tham gia tố tụng

Vì thế, người bị oan cần phải được bảo vệ kịp thời, một trong những công cụ pháp

lý quan trọng để bảo vệ người bị oan đó là pháp luật tố tụng hình sự và Luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước và các văn bản có liên quan Thực tế cho thấy, vì nhiều lí do khác nhau mà quyền và lợi ích hợp pháp của người bị oan chưa được bảo vệ tốt và kịp thời; Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự dường như cơ quan có thẩm quyền chưa xem người bị oan như một bên của quá trình tố tụng để có

sự quan tâm cần thiết

Đối tượng được bồi thường là cá nhân người bị oan, thiệt hại về vật chất, tổn thất về tinh thần mà thuộc các trường hợp đã được quy định LTNBTCNN năm 2009 thì được Nhà nước bồi thường Về các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trước hết điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được hiểu là tổng hợp các yếu tố cấu thành nên trách nhiệm bồi thường thiệt hại Quan điểm chính thống hiện nay cho rằng các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm: có thiệt hại xảy ra, có hành vi vi phạm pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và thiệt hại đã xảy ra, người gây thiệt hại phải

có lỗi Trong quan hệ bồi thường thiệt hại của Nhà nước thì các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm: Có thiệt hại xảy ra; Có hành vi trái pháp

Trang 31

luật trong quá trình thi hành công vụ; Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra

Theo quy định tại Điều 4 LTNBTCNN năm 2009 thì quyền này chỉ phát sinh khi có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật hoặc có bản án, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc các trường hợp được bồi thường Việc quy định như vậy là thể hiện rõ một trong những nguyên tắc xuyên suốt của LTNBTNN năm 2009 là phải bảo đảm sự kết hợp hài hoà giữa mục tiêu bảo vệ lợi ích của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại và lợi ích của Nhà nước, tức là LTNBTNN năm 2009 được ban hành là nhằm bảo vệ lợi ích của cá nhân, tổ chức người bị thi hành công vụ gây thiệt hại nhưng đồng thời cũng phải bảo đảm sự hoạt động ổn định, có hiệu quả của các cơ quan công quyền

* Đối với cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng

Nâng cao chất lượng tố tụng, tránh để oan, bỏ lọt tội phạm là một số nội dung chính trong phiên chất vấn của đại biểu Quốc hội đối với Chánh án TANDTC

(Tòa án nhân dân tối cao) Trương Hòa Bình Trả lời đại biểu, Chánh án TANDTC

Trương Hòa Bình cho biết: Mỗi năm các cơ quan tố tụng thụ lý khoảng 100 ngàn vụ

án hình sự Khối lượng công việc lớn, nhiều áp lực, thậm chí phải đối mặt với hy

sinh, khủng bố, đe dọa, vì vậy thực tế có thể xảy ra oan sai

Đành rằng trong thực tế thì bất cứ nền tư pháp nào thì cũng khó tránh việc oan sai Nhưng ép cung, nhục hình oan sai tới mức 20 năm, chung thân, tử hình là không thể chấp nhận được, Chánh án nhấn mạnh

Đối với thông tin có oan sai, ép cung, nhục hình trong vụ ông Nguyễn Thanh Chấn, Chánh án khẳng định, việc xác định có oan sai hay không phải chờ đợi kết luận của cơ quan có thẩm quyền Các cơ quan chức năng sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Quốc hội và trước nhân dân để xác minh, làm rõ những vấn

đề này

Đối với tòa án, Hội đồng xét xử dựa trên tài liệu chứng cứ, hồ sơ của các cơ quan có trách nhiệm truy tố Tòa thụ lý và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật Với trách nhiệm của Hội đồng xét xử dù không phát hiện được ép cung trong điều tra, nhưng xét xử để xảy ra oan sai thì vẫn có liên đới trách nhiệm Trong năm

Trang 32

2013 toàn ngành Tòa án đã xử lý 71 cán bộ vi phạm, số lượng này là nhiều nhất trong các cơ quan tư pháp, Chánh án TANDTC Trương Hòa Bình cho biết.16

1.2.1.3 Ý nghĩa về chế định hoàn trả trong tố tụng hình sự

Trong xã hội dân chủ, công bằng và văn minh, Nhà nước cũng như một số tổ chức hay công dân và đều là chủ thể trong quan hệ pháp luật, mọi hoạt động của nhà nước phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Nhu cầu bồi thường thiệt hại cho

công dân, các tổ chức là nghĩa vụ, trách nhiệm của một Nhà Nước dân chủ, “Nhà nước của dân do dân và vì dân”, thể hiện sự bình đẳng, đối xử công bằng của pháp

luật đối với các cơ quan Nhà nước, cán bộ, công chức và mọi công dân

Việc ban hành LTNBTCNN năm 2009 đã thiết lập một cơ chế pháp lý đồng

bộ, hiệu quả, thuận lợi cho người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình, cụ thể là:

Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là văn bản quy định đầy đủ và toàn diện về các vấn đề có liên quan về trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người

bị oan trong hoạt tố tụng hình sự của nhà nước

Thông qua việc nhất thể hoá pháp luật, quy định chung về thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường trong các lĩnh vực khác nhau, xác định cơ chế và cơ quan có trách nhiệm trong quản lý nhà nước về bồi thường, LTNBTCNN năm 2009 đã tạo điều kiện tốt hơn cho người dân trong việc thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình; Và đã nhất thể hoá pháp luật về bồi thường thiệt hại do người thi hành công

vụ gây ra, khắc phục tình trạng tồn và ở các văn bản quy phạm pháp luật trước đó

Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã quy định các loại thiệt hại được bồi thường; Cơ quan có trách nhiệm bồi thường; Nguyên tắc giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan, nghĩa vụ hoàn trả và các vấn đề khác Qua đó, góp phần bảo đảm tính khả thi của luật trong thực tiễn

Chế định trách nhiệm bồi thường nhà nước trong lĩnh vực tố tụng hình sự là

cơ sở xác định trách nhiệm bồi thường cho người bị oan trong tố tụng hình sự của nhà nước, cùng với chế định nghĩa vụ hoàn trả đã góp phần ngăn chặn tình trạng tham nhũng, quan liêu vẫn còn tồn tại ở một số cơ quan tiến hành tố tụng hình sự ở nước ta hiện nay; Đồng thời khắc phục tình trạng yếu kém về trình độ và năng lực chuyên môn, nâng cao ý thức trách nhiệm và đạo đức của đội ngũ cán bộ, điều quan

16 Nguyên Linh, Báo điện tử, Nếu để xảy ra án oan sai, phải bồi thường,

http://baodientu.chinhphu.vn/Tin-noi-bat/Neu-de-xay-ra-an-oan-sai-phai-boi-thuong/186432.vgp, [Ngày truy cập 03-10-2014]

Trang 33

trọng là khôi phục được quyền lợi cho người bị oan, bồi thường thiệt hại hợp lý và giúp người đó hòa nhập vào cộng đồng Điều đó thể hiện chế định bồi thường nhà nước là cơ sở pháp lý, là công cụ hữu hiệu để Nhà nước thể hiện được trách nhiệm bồi thường nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu về tài sản và động viên tinh thần, lợi ích hợp pháp đối với người bị oan

1.2.2 Cơ sở lý luận về liên đới hoàn trả trong tố tụng hình sự

1.2.2.1 Cơ sở lý luận chế định liên đới hoàn trả trong hoạt động tố tụng hình

sự

Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã làm oan có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị oan Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, quy định cụ thể phạm vi trách nhiệm bồi thường của các cơ quan tiến hành tố tụng trong hoạt động tố tụng hình sự Cơ quan được xác định có trách nhiệm bồi thường phải bồi thường cả những thiệt hại

đã phát sinh trong các giai đoạn tố tụng trước đó, thực hiện việc xin lỗi, cải chính đối với người bị oan

Trách nhiệm liên đới trong trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại nhiều người thi hành công vụ hay nhiều cơ quan tiến hành tố tụng cùng gây ra thiệt hại dẫn đến

oan người vô tội Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra

được quy định Điều 616 BLDS năm 2005 căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nguyên tắc bồi thường thiệt hại được quy định cụ thể tại Bộ luật Dân sự Nghị quyết 03/2006 xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi hội tụ đủ bốn yếu

tố đó là: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi trái pháp luật, mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật; Lỗi cố ý hoặc vô ý của người gây thiệt hại

Qua thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết các vụ án đồng phạm khi phát sinh trách nhiệm liên đới trong trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hiện nay còn có nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau Riêng trong tố tụng hình sự thì việc xác định trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự

phải có các căn cứ sau đây khoản 2 Điều 6 LTNBTCNN năm 2009: “Có bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc các trường hợp được bồi thường quy định tại Điều

26 của Luật này; Có thiệt hại thực tế do người tiến hành tố tụng hình sự gây ra đối với người bị thiệt hại”, và Điều 57 LTNBTCNN năm 2009: “Trường hợp nhiều người thi hành công vụ gây ra thiệt hại thì những người đó có nghĩa vụ liên đới

Trang 34

hoàn trả” bên cạnh đó nghĩa vụ hoàn trả được quy định tại Điều 56 LTNBTCNN

năm 2009

1.2.2.2 Tầm quan trọng của việc chịu trách nhiệm liên đới hoàn trả trong tố tụng hình sự

Trước khi ban hành Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Nhà nước ta

đã ban hành một hệ thống pháp luật, bước đầu đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của quản lý nhà nước đối với mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có pháp luật về trách nhiệm bồi thường của cơ quan Nhà nước đối với các thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước gây ra trong khi thi hành công vụ Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy

định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự”

Đối tượng được bồi thường quy định tại Điều 2 LTNBTCNN năm 2009, theo

đó, đối tượng được bồi thường là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, tổn thất

về tinh thần trong các trường hợp quy định tại luật Tuy nhiên trong tố tụng hình sự chỉ quy định về trách nhiệm là cá nhân chứ không phải là tổ chức cho nên trong trường hợp này bồi thường trong tố tụng hình sự chỉ là cá nhân bị oan về vật chất, tinh thần…

Hiện nay LTNBTCNN năm 2009 cũng như một số văn bản khác chưa quy định về trách nhiệm liên đới bồi thường của Nhà nước, nhưng bước vào thời kì quá

độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, nước ta cần phải hoan thiện pháp luật hơn nữa để đảm bảo quyền của con người và các vấn đề liên quan đến bồi thường thiệt hại xảy ra hiện nay Trong đời sống việc liên đới chịu trách nhiệm bồi thường diễn ra hàng ngày, thực tế hiện nay việc nhiều chủ thể cùng gây ra thiệt hại và phải liên đới bồi thường là khá phổ biến, nhất là hiện nay xu hướng bạo lực trong giới trẻ, các vụ đánh hội đồng, gây hậu quả nghiêm trọng thường xuyên xảy ra; Tuy nhiên trong tố tụng hình sự trách nhiệm liên đới giữa các cơ quan tiến hành tố tụng hay người tiến hành tố tụng lại ít được biết đến mà chỉ quy định từng trường hợp về chủ thể bồi thường, còn phần liên đới hoàn trả của người thi hành công vụ trách nhiệm liên đới chỉ quy định chung chung kho giải quyết được các yêu cầu bồi thường thực tế đặt

ra Vấn đề liên đới bồi thường rất quan trọng đảm bảo các chủ thể chịu trách nhiệm phải liên đới bồi thường

Hiện nay trong tố tụng hình sự khi một chủ thể nào đó gây thiệt hại dẫn đến oan sai, trong quá trình xử lý vụ án phức tạp có nhiều cơ quan tham gia, không thể

Trang 35

đùng đẩy trách nhiệm cho một cơ quan hay một người thi hành công vụ nào đó được Trong thực tiễn không thể một cơ quan hay cá nhân đó giải quyết vụ án được

mà cần có sự tham gia, hỗ trợ lẫn nhau Vì vậy có thể khẳng định vấn đề liên đới bồi thường sẽ tạo ra mạng lưới nhằm quy trách nhiệm liên đới với nhau, thể hiện tinh thần trách nhiệm của từng cơ quan đối với vấn đề đó, từ đó đảm bảo hiệu quả hoạt động và gắn kết hơn nữa trong hoạt động tố tụng của mình Qua đó làm cho quá trình bồi thường trong xác định cơ quan hay cá nhân có trách nhiệm bồi thường

dể dàng hơn, đảm bảo tính khả thi của luật

1.2.2.3 Ý nghĩa của việc liên đới hoàn trả trong tố tụng hình sự

Điều 29 BLTTHS năm 2003, Việt Nam đã thể hiện rõ tư tưởng “lấy dân làm gốc”, đáp ứng yêu cầu bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, phát triển nền dân chủ Xã

hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thông qua quy định:

“Người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã làm oan phải bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị oan; Người đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật”, tạo cơ sở pháp lý rõ

ràng cho nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra Ngoài ra, trong Nhà nước pháp quyền, mọi công dân, mọi chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước cũng thực hiện hành vi pháp lý và có khả năng gây thiệt hại cho các chủ thể khác khi hành xử trái pháp luật hoặc vượt quá thẩm quyền Khi có hành vi gây thiệt hại cho các chủ thể khác, thì Nhà nước cũng có nghĩa vụ bồi thường một cách bình đẳng như các chủ thể khác trong xã hội Để điều chỉnh vấn đề bồi thường cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra thiệt hại

là hết sức cần thiết trong xã hội ngày nay

Trách nhiệm bồi thường của nhà nước là “sản phẩm” tất yếu của xã hội dân

chủ, công bằng và văn minh, xuất phát từ các nguyên tắc cơ bản của nhà nước pháp quyền và xã hội dân chủ Một trong những nguyên tắc quan trọng của pháp quyền là nhà nước chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép Nhà nước cũng như một tổ chức hay một công dân và đều là một chủ thể trong quan hệ pháp luật (Nhà nước là một chủ thể pháp lý công), mọi hoạt động của nhà nước phải tuân theo Hiến pháp

và pháp luật Quyền được bồi thường khi bị xâm phạm là quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật

Trang 36

Chế định bồi thường của nhà nước góp phần ngăn chặn tình trạng tham nhũng, quan liêu, sách nhiễu người dân vẫn còn tồn tại ở một số cơ quan hành chính nhà nước trong một bộ phận cán bộ, công chức

Việc liên đới chịu trách nhiệm hoàn trả trong tố tụng hình sự của nhà nước

có vai trò rất quan trọng đối với đời sống xã hội, là yêu cầu tất yếu ở nước ta hiện nay trong quá trình hiện đại hóa đất nước, một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh, xuất phát từ các nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, góp phần ngăn chặn tình trạng quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu người dân vẫn còn tồn tại ở một số cơ quan hành chính nhà nước, trong một bộ phận cán bộ, công chức, đồng thời khắc phục tình trạng yếu kém về năng lực chuyên môn, nâng cao ý thức, trách nhiệm và đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức, từ đó hạn chế rủi

ro đem lại cho người dân từ hoạt động công vụ, đồng thời động viên tinh thần đối với người bị oan trong tố tụng hình sự, thể hiện tôn trọng quyền và lợi ích của công dân

Trang 37

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ BỒI THƯỜNG OAN VÀ LIÊN ĐỚI

HOÀN TRẢ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2.1 Bồi thường oan và liên đới bồi thường oan giữa các cơ quan tiến hành tố tụng

2.1.1 Trách nhiệm bồi thường của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc gây

ra oan

Cơ chế bồi thường nhà nước có hiệu quả hay không một phần phụ thuộc vào việc xác định đúng cơ quan có trách nhiệm bồi thường Do đó, khi thực hiện quyền yêu cầu bồi thường người bị thiệt hại trước hết cần căn cứ vào các quy định của pháp luật về cơ quan có trách nhiệm bồi thường để gửi yêu cầu của mình tới đúng địa chỉ Thật vậy, không phải trong mọi trường hợp người bị thiệt hại đều có thể xác định được cơ quan có trách nhiệm bồi thường Cho nên để bảo đảm việc thực hiện quyền yêu cầu bồi thường được thuận lợi, LTNBTCNN năm 2009 đã quy định về hoạt động quản lý nhà nước về công tác bồi thường (Điều 11) và một trong những nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác bồi thường là xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường

Tại khoản 4 Điều 3 và khoản 1 Điều 14 LTNBTCNN năm 2009 đã quy định nguyên tắc chung về xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường, theo đó cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại là

cơ quan có trách nhiệm bồi thường

2.1.1.1 Trách nhiệm bồi thường của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành điều tra

Có thể thấy kết quả đạt được cũng như những sai lầm mắc phải trong quá trình giải quyết vụ án hình sự như bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội thường bắt

nguồn từ Cơ quan điều tra Theo từ điển Luật học giải thích: “Điều tra là công tác trong tố tụng hình sự được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khác quan, toàn diện đầy đủ”.17 Có thể thấy hoạt động điều tra là hoạt động đầu tiên, đặc biệt quan trọng trong quá trình tố tụng hình sự vì mục đích của hoạt động này nhằm thu thập, củng cố, kiểm tra chứng cứ nhằm xác định sự thật vụ án Với vai trò hết sức to lớn nếu Cơ quan điều tra không hoàn thành trách nhiệm thì hậu quả sẽ khôn lường và dẫn đến oan là điều khó tránh khỏi trong tố tụng hình sự Nếu

Cơ quan điều tra nhìn nhận vụ án không dựa trên những yếu tố khách quan, phiến

17 Bư-cốp-xki L.E, Sự phát triển của các quy định của Luật Tố tụng hình sự về hoạt động điều tra, Hà Nội,

Trang 38

diện và không đầy đủ thì đưa ra kết luận không đúng về vụ án đó và dẫn đến oan người vô tội

Theo Điều 30 LTNBTCNN năm 2009, Điều 4 Thông tư liên tịch số 05/2012 thì Cơ quan điều tra và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (theo Điều 111 BLTTHS năm 2003 thì Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) có trách nhiệm bồi thường trong các trường hợp:

“Đã ra quyết định tạm giữ người nhưng Viện kiểm sát có thẩm quyền đã có quyết định huỷ bỏ quyết định tạm giữ đó vì người bị tạm giữ không có hành vi vi phạm pháp luật;

Đã ra quyết định khởi tố bị can nhưng Viện kiểm sát có thẩm quyền không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can vì người bị khởi tố không thực hiện hành vi phạm tội;

Đã ra quyết định tạm giữ người, nhưng sau đó tự hủy quyết định tạm giữ người đó vì người bị tạm giữ không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật”

Ví dụ: Tối ngày 21/07/1991, đường dây dẫn điện của ấp 1, xã Hiệp Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Long An bị mất điện, nghi có kẻ gian cắt trộm nên người dân trong ấp đi tuần tra Cùng lúc đó hai em Phan Văn Tân (15 tuổi) và Phan Văn Châu (13 tuổi) đang đi soi cá, sợ bị thu bình điện nên Tân bỏ chạy mang theo bình điện về nhà anh Trọng (ngụ xã Vĩnh Công, huyện Châu Thành) gửi rồi mượn xe đạp của anh Trọng quay lại Hiệp Thạnh thì bị bắt cùng với Châu

Trong quá trình điều tra, Tân và Châu không nhận tội nhưng buộc phải khai

ra người thực hiện hành vi cắt trộm dây điện Do bị đánh nên Tân đã khai anh ruột mình là ông Lá có tham gia, mặc dù vào thời điểm nói trên, ông Lá đang ngủ ở nhà.18 Chuyện ông Phan Văn Lá bị CQĐT bỏ lửng vụ án và thân phận bị can suốt

21 năm Hiện ông Lá đã được các cơ quan tố tụng địa phương xác nhận bị oan nhưng chưa rõ cơ quan nào phải bồi thường, xin lỗi CQĐT và VKS bảo tòa, tòa lại nói CQĐT Về chuyện này, các chuyên gia cũng chia làm nhiều quan điểm khác

nhau nhưng tất cả đều thống nhất rằng trước mắt các cơ quan tố tụng phải “thống

18 Lâm Hoàng, Báo điện tử, 21 năm chờ được bồi thường do bị kết án oan,

http://baophapluat.vn/cau-chuyen/21-nam-cho-duoc-boi-thuong-do-bi-ket-an-oan-174673.html, [Ngày truy cập 18-10-2014]

Trang 39

nhất cử ra một cơ quan giải quyết bồi thường thiệt hại ngay cho người bị oan, còn trách nhiệm thì nội bộ tính sau”

Vụ việc của ông Phan Văn Lá hơi khác so với trường hợp luật định trên: Sau khi TAND tỉnh Long An hủy án sơ thẩm của TAND huyện Châu Thành để điều tra lại, hồ sơ được chuyển về cho cơ quan điều tra (CQĐT) Công an huyện Châu Thành Thay vì tiến hành điều tra lại, cơ quan này lại bỏ lửng vụ án Sau 21 năm, khi ông Lá khiếu nại, CQĐT Công an huyện Châu Thành mới ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án.19

Giả sử, trong trường hợp này Cơ quan điều tra chịu trách nhiệm bồi thường oan cho ông Phan Văn Lá Cơ quan điều tra bỏ lửng vụ án không điều tra lại sau khi

án sơ thẩm bị hủy dẫn đến hết thời hạn điều tra để điều chỉnh cho thật sát Giả thiết nếu cơ quan này cứ tiến hành điều tra lại bình thường rồi thấy không đủ căn cứ buộc tội thì ra quyết định đình chỉ điều tra vì ông Lá không thực hiện hành vi phạm tội Tuy nhiên, Cơ quan điều tra lại không làm như vậy mà bỏ lửng vụ án suốt nhiều năm Cơ quan điều tra có lỗi trong chuyện này nên phải chịu trách nhiệm bồi thường Vì Cơ quan điều tra này không hoàn thành trách nhiệm của mình bỏ lửng

vụ án dẫn đến oan người vô tội, và gây ra thiệt hại không đáng có trong tố tụng hình

sự

Theo điểm a khoản 1 Điều 32 LTNBTCNN năm 2009, tòa cấp sơ thẩm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp tòa này tuyên bị cáo có tội nhưng tòa cấp phúc thẩm hủy án để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội Cơ quan điều tra không tiến hành điều tra lại, cơ quan này lại bỏ lửng vụ án theo điểm c khoản 1 Điều 4 Thông

tư liên tịch số 05/2012.20 Bên cạnh đó người viết cho rằng trường hợp này Tòa án

và Cơ quan Điều tra cũng phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông Phan Văn Lá vì đã vi phạm pháp luật và dẫn đến oan cho ông

2.1.1.2 Trách nhiệm bồi thường của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động

tố tụng hình sự

Bản cáo trạng của Viện kiểm sát được thực hiện dựa trên những kết luận của Cơ quan điều tra, vì vậy nếu Cơ quan điều tra kết luận sai và Viện kiểm sát

19 ThS Lưu Đức Quang, Trường ĐH Luật TP.HCM, Vụ “quên bị can suốt 21 năm”: Phải bồi thường ngay

cho người bị oan,

http://www.baomoi.com/Vu-quen-bi-can-suot-21-nam-Phai-boi-thuong-ngay-cho-nguoi-bi-oan/58/14660672.epi, [Ngày truy cập 18-10-2014]

20 Điểm c khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch BNNPTNT: Đã ra quyết định tạm giữ người, nhưng sau đó tự hủy bỏ quyết định tạm giữ đó vì người bị tạm

Trang 40

05/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BQP-BTC-không nhận ra được điều đó thì bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố ra trước Tòa

án là không đúng Hiến pháp năm 2013 quy định Viện kiểm sát Nhân dân là một trong bốn cơ quan quan trọng tạo nên bộ máy nhà nước Viện kiểm sát Nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp Hoạt động truy tố là hoạt động đặc trưng của Viện kiểm sát và chỉ có Viện kiểm sát mới có quyền truy tố một

cá nhân mà Viện kiểm sát cho là có tội ra trước tòa án Thực hiện quyền năng mà pháp luật cho phép thông qua bản cáo trạng đối với người được Viện kiểm sát cho

Toà án cấp sơ thẩm trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhưng sau đó có quyết định của cơ quan có thẩm quyền đình chỉ điều tra vì người đó không thực hiện hành

vi phạm tội;

Đã có quyết định truy tố bị can nhưng Toà án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội và bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật”

Theo khoản 5 Điều 31 LTNBTCNN năm 2009: “Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội” Trường hợp này tương tự với trường hợp được quy

định tại khoản 4 Điều 31 LTNBTCNN năm 2009 ở chỗ: Viện kiểm sát có thể phải bồi thường cho người bị hại theo LTNBTCNN năm 2009 vì Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội Thông thường, cơ quan tiến hành tố tụng đã có bản án, quyết định sai trước khi có bản án, quyết định khẳng định một người bị oan sẽ phải bồi thường cho người bị thiệt hại Tuy nhiên trong trường hợp này, Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm khẳng định một người oan, sai nhưng không phải là Tòa án cấp sơ thẩm phải bồi thường vì Tòa án cấp

Ngày đăng: 03/10/2015, 05:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm