1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quyền im lặng của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự việt nam

74 1,3K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành chưa quy định trực tiếp về quyền im lặng, nhưng những quy định mang tính gián tiếp dẫn chiếu về quyền im lặng trong tố tụng thì vẫn có thông qu

Trang 1

QUYỀN IM LẶNG CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO

TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Trang 2

GVHD: Trần Hồng Ca SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Như

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN



Trang 3

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu của đề tài 3

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN IM LẶNG CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.1 Một số khái niệm 4

1.1.1 Khái niệm bị can, bị cáo 4

1.1.2 Khái niệm quyền im lặng 9

1.1.3 Khái niệm quyền im lặng của bị can, bị cáo 11

1.1.3.1 Quyền im lặng trong pháp luật nước ngoài 11

1.1.3.2 Quyền im lặng trong tố tụng hình sự Việt Nam 13

1.2 Vai trò của quyền im lặng trong tố tụng hình sự 14

1.2.1 Quyền im lặng đối với bị can, bị cáo 14

1.2.2 Quyền im lặng đối với cơ quan tiến hành tố tụng 15

1.3 Mối quan hệ giữa quyền im lặng và nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự 17

1.3.1 Khái niệm nguyên tắc suy đoán vô tội 17

1.3.2 Mối tương quan giữa quyền im lặng và nguyên tắc suy đoán vô tội 18

CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH GIÁN TIẾP VỀ QUYỀN IM LẶNG CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 2.1 Quyền im lặng trong Hiến pháp 23

2.1.1 Giới thiệu về quyền im lặng theo tinh thần của luật Hiến pháp 23

2.1.2 Một số quy định liên quan gián tiếp đến quyền im lặng 24

2.1.2.1 Quyền con người 24

2.1.2.2 Quyền bình đẳng 26

2.2 Quyền im lặng trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam 30

2.2.1 Giới thiệu về quyền im lặng trong Bộ luật tố tụng hình sự 30

2.2.2 Một số quy định liên quan gián tiếp đến quyền im lặng 33

2.2.2.1 Bị can, bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh về sự vô tội của mình 33

2.2.2.2 Quyền trình bày lời khai của bị can, bị cáo 35

Trang 4

2.2.2.3 Quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa 37

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI QUYỀN IM LẶNG CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO 3.1 Thực tiễn áp dụng quyền im lặng của bị can, bị cáo 40

3.1.1 Một số vụ việc cụ thể về quyền im lặng của bị can, bị cáo 40

3.1.2 Đánh giá về thuận lợi và khó khăn trong việc áp dụng quyền im lặng để giải quyết vụ án hình sự 45

3.1.2.1 Thuận lợi 45

3.1.2.2 Khó khăn 48

3.2 Một số bất cập và giải pháp hoàn thiện quyền im lặng 50

3.2.1 Chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định trực tiếp quyền im lặng 50

3.2.1.1 Bất cập 50

3.2.1.2 Giải pháp 52

3.2.2 Áp dụng nguyên tắc xác định sự thật của vụ án 55

3.2.2.1 Bất cập 55

3.2.2.2 Giải pháp 57

3.2.3 Người bào chữa tham gia vào buổi hỏi cung của vụ án 59

3.2.3.1 Bất cập 59

3.2.3.2 Giải pháp 61

KẾT LUẬN 64

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xã hội ngày càng phát triển, đòi hỏi quyền con người ngày càng được quan tâm

và chú trọng Hiện nay trên thế giới hầu hết các quốc gia phát triển đều quy định trong pháp luật rằng công dân của họ có quyền im lặng và quyền có luật sư khi tham gia quan hệ pháp luật hình sự Không phân biệt đó là vụ án hình sự bình thường hay phức tạp, nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng, có liên quan đến an ninh chính trị hay không Quyền im lặng từ lâu được áp dụng tại rất nhiều nước Hiến pháp nhiều nước quy định khi bắt giữ một người phải có luật sư chứng kiến hoặc phải giải thích quyền được mời luật sư Ở Việt Nam đến thời điểm hiện tại thì quyền im lặng vẫn chưa được quy định trực tiếp và rõ ràng trong Bộ luật tố tụng hình sự Dù vậy, trong Điều 49 và Điều 50

Bộ luật Tố tụng hình sự quy định bị can, bị cáo có quyền trình bày hoặc không trình bày lời khai, và trình bày ý kiến của mình do luật đã cho rằng trình bày lời khai và trình bày ý kiến là quyền chứ không phải là nghĩa vụ Đồng thời, tại Điều 209 của Bộ

luật tố tụng hình sự hiện hành có quy định “ Nếu bị cáo không trả lời các câu hỏi thì Hội đồng xét xử, kiểm sát viên, người bào chữa tiếp tục hỏi những người khác và xem xét vật chứng, tài liệu có liên quan đến vụ án” Quy định này tuy không trực tiếp thể

hiện bị can, bị cáo có quyền im lặng trước câu hỏi của các cơ quan tiến hành tố tụng nhưng lại gián tiếp khẳng định nên rằng sự im lặng của bị can, bị cáo là hoàn toàn hợp pháp Bị can, bị cáo không bị ép phải trả lời những câu hỏi của cơ quan tiến hành tố tụng Mặc dù luật có gián tiếp nhắc đến quy định này nhưng nhìn chung kiến thức pháp luật của người dân còn kém, chưa thật sự biết được quyền lợi của mình khi tham gia quan hệ tố tụng hình sự Bên cạnh đó việc nôn nóng giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng đã làm cho quyền im lặng bị xâm phạm nghiêm trọng dẫn đến oan sai trong nhiều vụ án hình sự gần đây Song song đó thì, pháp luật tố tụng hình sự

nước ta còn quy định tại Điều 10 như sau: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc

về các cơ quan tiến hành tố tụng Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội” Đây là nguyên tắc rất quan trọng, thể hiện thái độ của

Nhà nước đối với quyền của công dân Dù với tư cách là bị can hay bị cáo thì họ cũng

cần phải được đối xử một cách công bằng và nhân đạo Điều luật quy định về “ quyền”

chứng minh vô tội đối với bị can, bị cáo mà không quy định nó là nghĩa vụ đã thể hiện

sự tôn trọng quyền con người và đây là biểu hiện sự tồn tại của quyền im lặng Kết hợp với việc luật đã quy định trình bày lời khai là quyền chứ không là nghĩa vụ càng thể hiện rõ hơn về việc bị can, bị cáo có quyền giữ im lặng Việc bị can và bị cáo thực hiện quyền im lặng là hoàn toàn hợp pháp và chúng ta cần có những quy định cụ thể để hoàn thiện quyền này nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích cho bị can, bị cáo

Trang 6

Giữa lý luận và thực tiễn áp dụng quyền im lặng ở nước ta còn có nhiều bất cập tranh cải như luật vẫn chưa có quy định cụ thể về quyền im lặng mặt dù luật đã có những quy định gián tiếp về quyền này, và chưa có nhiều giải pháp hữu hiệu để áp dụng Bên cạnh đó, người bào chữa vẫn chưa thể tham gia vào quá trình hỏi cung của

bị can, bị cáo, và việc áp dụng nguyên tắc xác định sự thật của vụ án chưa thật sự khách quan dẫn đến nhiều vụ án oan sai vẫn còn xảy ra do các chủ thể tiến hành tố tụng đã vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo Do đó người viết lựa

chọn đề tài: “Quyền im lặng của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam” để

làm luận văn cử nhân luật Với mong muốn sẽ đóng góp được một phần nhỏ trong việc tìm hiểu thêm về vấn đề này

2 Mục tiêu nghiên cứu

Với mục tiêu khái quát lại các vấn đề liên quan đến quy định về quyền và lợi ích của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự hiện nay, đồng thời nêu lên nội dung và vai trò của quyền im lặng trong tố tụng hình sự, những hạn chế, khó khăn của việc áp dụng quyền im lặng trên thực tế Sau đó đưa ra một số giải pháp khắc phục khó khăn trên, qua bài viết này, hy vọng người đọc có thể biết thêm về quyền im lặng của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự để quyền lợi của họ được đảm bảo Trên cơ sở đó, góp phần làm cho quyền im lặng của bị can, bị cáo có thể được luật hóa và bảo vệ như các quyền khác của bị can, bị cáo

3 Phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền im lặng trong

Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam Đề tài giải quyết một số nhiệm vụ sau:

- Phân tích làm rõ một số khái niệm về quyền im lặng và bị can, bị cáo Tìm hiểu được nguồn gốc của nguyên tắc im lặng trong lịch sử lập pháp thế giới

- Đưa ra được những dẫn chứng cho mối quan hệ giữa quyền im lặng trong pháp luật Việt Nam

- Đưa ra những quy định gián tiếp về quyền im lặng trong Hiến pháp Việt Nam

và trong Bộ tuật tố tụng hình sự

- Trình bày những vướn mắt và thực tiễn áp dụng quyền im lặng đồng thời đề xuất giải pháp cá nhân góp phần hoàn thiện thêm quyền im lặng trong pháp luật

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, người viết đã dựa trên cơ sở phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp so sánh, phân tích tài liệu, nghiên cứu lịch sử và phương pháp tổng hợp, đánh giá những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền im lặng của bị can, bị cáo trong các tài tiệu tham khảo và công trình nghiên cứu,

Trang 7

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận còn có những phần nội dung được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về quyền im lặng của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự

Phần này chủ yếu giới thiệu về một số khái niệm như: thế nào là bị can, bị cáo, thế nào là quyền im lặng theo quy định của pháp luật các nước và luật tố tụng hình sự Việt Nam có những quy định gián tiếp như thế nào về quyền im lặng Đồng thời phần này cũng nói lên vai trò của quyền im lặng trong tố tụng hình sự Việt Nam sẽ góp phần giảm bớt được oan sai trong quá trình tố tụng

Chương 2: Những quy định gián tiếp về quyền im lặng của bị can, bị cáo trong pháp luật Việt Nam

Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành chưa quy định trực tiếp về quyền im lặng, nhưng những quy định mang tính gián tiếp dẫn chiếu về quyền im lặng trong tố tụng thì vẫn có thông qua quyền con người và quyền bình đẳng trong hiến pháp, và quyền trình bày lời khai, quyền bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa và bị can, bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh về sự vô tội của mình

Chương 3: Thực tiễn và giải pháp đối với quyền im lặng của bị can, bị cáo

Quyền im lặng là một quyền tiến bộ mà thế giới đã và đang áp dụng, nhưng đối với nước ta hiện nay thì việc áp dụng quyền này còn khó khăn vướng mắt chưa thể thực hiện được như bất cập về việc chưa có văn bản quy định cụ thể quyền im lặng, cũng như nguyên tắc xác định sự thật vụ án còn chưa khách quan, đồng thời luật sư người bào chữa chưa thể tham gia các buổi hỏi cung để bảo vệ quyền và lợi ích cho bị can, bị cáo Vì vậy mà chương này người viết chủ yếu nêu lên bất cập và đề xuất những quy định nhằm góp phần tạo điều kiện cho quyền im lặng có thể được luật hóa trở thành những quy định cụ thể

Do người viết còn hạn chế về trình độ nghiên cứu cũng như kinh nghiệm thực tiễn, nên việc nghiên cứu đề tài không thể tránh khỏi còn nhiều thiếu sót Rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ quý Thầy Cô để đề tài nghiên cứu được hoàn chỉnh hơn nữa Người viết xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô Trần Hồng Ca đã giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này Chân thành cảm ơn các nhà nghiên cứu, các tác giả của các nguồn tài liệu mà người viết đã sử dụng để nghiên cứu hoàn thành luận văn

Trang 8

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN IM LẶNG CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO

TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ



1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Khái niệm bị can, bị cáo

Bị can, bị cáo là những chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng để giải quyết vụ

án hình sự Chủ thể này là những người được coi là bị tình nghi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành khởi tố, điều tra, xét xử để xác định sự thật Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc xác định bị can, bị cáo là người có tội Vì theo Điều 9

của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành thì “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”

Bị can, bị cáo tuy bị tình nghi là đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng về mặt pháp lý họ vẫn được coi là không có tội cho đến khi có bản án có hiệu lực của pháp luật Các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ được phép tiến hành các biện pháp tố tụng nhất định đối với họ để xác định sự thật vụ án Song song đó thì, trong tố tụng hình sự việc nắm vững địa vị pháp lý của các chủ thể cũng có vai trò quan trọng hơn hết Bởi vì, khi giải quyết một vụ án hình sự phải trải qua rất nhiều giai đoạn khác nhau Và tại mỗi giai đoạn thì địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia tố tụng cũng không giống nhau.Tùy vào từng trường hợp khác nhau mà khái niệm của các chủ thể

bị tình nghi là thực hiện hành vi nguy hiểm này được quy định theo địa vị pháp lý khác nhau

 Đối với bị can:

Khái niệm bị can được quy định lần đầu tại Điều 34 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 Theo đó, một người chỉ có thể bị khởi tố với tư cách bị can trong vụ án hình

sự khi có đủ căn cứ xác định người đó đã thực hiện hành vi phạm tội1 Hiện nay, theo

Điều 49, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 hiện hành thì khái niệm bị can là “người

đã bị khởi tố về hình sự”, bằng quyết định khởi tố bị can của cơ quan có thẩm quyền

Bị can là nhân vật trung tâm của vụ án, trong quá trình tố tụng họ là người mà Cơ quan điều tra sẽ phải tiến hành hoạt động điều tra và truy tố Bị can là người bị coi là đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà những hành vi này xâm phạm quan hệ xã hội do pháp luật hình sự bảo vệ, và cơ quan tiến hành tố tụng đã có đủ căn cứ để khởi

tố

1Văn phòng Luật sư Nam Hà Nội, Địa vị pháp lý của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự, Phương Hồng Nguồn: http://hslaw.vn/diendan/default.aspx?g=posts&t=370 [ Ngày truy cập: 10 / 05/ 2014].

Trang 9

Đồng thời, hành vi xâm phạm đến quan hệ xã hội của bị can, phải đảm bảo yếu

tố cấu thành tội phạm như mặt khách quan, mặt chủ thể, mặt chủ quan và mặt khách thể của tội phạm2 Bên cạnh đó thì khởi tố vụ án là giai đoạn tố tụng mở đầu cho các hoạt động điều tra, chưa khởi tố vụ án thì không được tiến hành các hoạt động điều tra trừ một số trường hợp đặc biệt quy định tại Điều 150, 151 và Điều 152 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Giai đoạn khởi tố bị can có thể nói giống như giai đoạn đầu của quá trình tố tụng và là giai đoạn làm xuất hiện tư cách bị cáo trong tố tụng sau này Để bảo đảm không có oan sai, không bỏ lọt tội phạm thì Điều 126 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chỉ yêu cầu khởi tố bị can khi có đủ căn cứ để xác định một người nào đó đã thực hiện hành vi phạm tội Cho nên, dù là Bộ luật tố tụng 1988 hay Bộ luật tố tụng

hình sự 2003 thì khái niệm bị can cũng được hiểu là “ người đã bị khởi tố” Nhưng để

khởi tố một người nào đó thì quyết định đó cũng nằm trong khuôn khổ của pháp luật, một người chỉ có thể bị khởi tố với tư cách bị can trong vụ án hình sự khi có đủ căn cứ xác định người đó đã thực hiện hành vi phạm tội Việc xác định một người có tư cách

bị can từ khi nào là điều rất quan trọng Bởi vì, khi một người bị xác định tư cách bị can đồng nghĩa với việc người đó sẽ phát sinh các quyền và nghĩa vụ của bị can

Như vậy, theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành thì “bị can là người bị khởi tố về hình sự và tham gia tố tụng từ khi có quyết định khởi tố bị can”

Khi một người đã bị khởi tố với tư cách bị can của vụ án thì quyền và nghĩa vụ của bị can có thể không được đảm bảo như: tự do dân chủ, bất khả xâm phạm, sức khỏe, danh

dự, nhân phẩm…nhằm để bảo vệ quyền và nghĩa vụ cho bị can, bị cáo thì pháp luật về

tố tụng hình sự có những quy định cụ thể cho bị can và bị cáo3 Bị can được sử dụng tất cả các quyền mà pháp luật đã quy định Đồng thời, theo quy định của pháp luật hiện hành ta có thể thấy rằng bị can mang những đặc trưng như sau:

Một là, bị can là đối tượng bị buộc tội trong vụ án Trong một vụ án hình sự bị

can là người bị tình nghi là thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, có dấu hiệu xâm phạm quan hệ xã hội do pháp luật hình sự bảo vệ, nói cách khác bị can có thể bị xem

là tội phạm Do đó mà, Cơ quan tiến hành tố tụng tức bên buộc tội phải tiến hành khởi

tố nhằm bảo vệ trật tự xã hội và an toàn pháp luật, để thực hiện nhiệm vụ của tố tụng

hình sự là “góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ

Trang 10

nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm” 4

Hai là, bị can là người bị khởi tố về hình sự và tham gia tố tụng từ khi có quyết

định khởi tố bị can Khi có đầy đủ căn cứ để xác định bị can đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và xác định được căn cứ khởi tố vụ án theo Điều 126 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và những cơ quan thuộc Điều 111 sẽ tiến hành ra quyết định khởi tố vụ án, kể từ thời điểm này thì người bị khởi tố cũng chính là bị can của vụ án có nghĩa vụ phải tham gia vào quá trình tố tụng Sau khi cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can, cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập bị can, hỏi cung bị can và thực hiện các hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị can như: khám xét, thu giữ vật chứng, hoặc áp dụng những biện pháp ngăn chặn khi cần thiết Bởi do nguyên nhân, khi phát hiện hành vi

có yếu tố cấu thành tội phạm cơ quan có thẩm quyền phải xem xét và ra quyết định khởi tố bị can nhằm mục đích chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

Ba là, bị can sẽ tham gia vào các giai đoạn điều tra, truy tố và một phần trong

giai đoạn xét xử sơ thẩm Khi có quyết định khởi tố bị can thì tư cách chủ thể của bị can được xác lập, bị can sẽ có quyền và nghĩa vụ khi tham gia vào giai đoạn điều tra của vụ án Trong quá trình điều tra và truy tố thì bị can là đối tượng bị cơ quan tố tụng tiến hành xác minh làm rõ hành vi phạm tội của bị can, nhằm mục đích là tìm ra tội phạm trong vụ án và đồng thời cũng tránh buộc tội sai người, sai tội Đồng thời, bị can cũng phải tham gia vào một phần của giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, do trong giai đoạn này là giai đoạn chuyển tiếp giữa tư cách chủ thể của bị can thành tư cách bị cáo

Bốn là, tư cách tố tụng của bị can sẽ có thể bị chấm dứt khi Cơ quan điều tra

đình chỉ điều tra, Viện kiểm sát đình chỉ vụ án, Tòa án đình chỉ vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử đối với bị can hoặc tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử Trong giai đoạn điều tra tư cách bị can có thể chấm dứt khi Cơ quan điều tra ra quyết định đình

chỉ điều tra theo khoản 2 Điều 164 của Bộ luật tố tụng hình sự “ Có một trong những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 105 và Điều 107 của Bộ luật này hoặc tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 của Bộ luật hình sự; Đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm” Khi Viện kiểm sát đình chỉ vụ án

theo Điều 169, Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ vụ án theo Điều 180 hoặc khi Viện kiểm sát rút quyết định truy tố theo Điều 181 thì tư cách bị can trong quá trình

4 Điều 1 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003

Trang 11

tham gia tố tụng chỉ là người bình thường không còn là bị can của vụ án Bên cạnh đó thì, khi Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có quyết định sau đây đưa vụ án

ra xét xử thì kể từ thời điểm này thì tư cách tố tụng của một người là bị can sẽ chuyển thành là bị cáo

 Đối với bị cáo:

Khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 ra đời, khái niệm được quy định theo

Điều 34: “Bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử” Trong giai đoạn xét

xử Tòa án chỉ đưa một người ra xét xử với tư cách bị cáo nếu Viện Kiểm sát đã truy tố người đó trước Tòa án, nếu Viện kiểm sát không truy tố thì Tòa án không được xét xử một người với tư cách bị cáo trừ những người mà Tòa án nhân dân xét xử về những việc hình sự nhẹ”5 Sau khi Cơ quan điều tra kết thúc điều tra, xét thấy có đủ căn cứ để khẳng định rằng bị can đã phạm tội thì đề nghị Viện kiểm sát truy tố ra trước Tòa án

để xét xử Kể từ thời điểm Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì bị can trở thành bị cáo Bị cáo tham gia tố tụng kể từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật

Đến nay, thuật ngữ “bị cáo” đã được ghi nhận lại trong khoản 1, Điều 50 của

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Theo đó “Bị cáo là người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử ” Bên cạnh đó thì, bị cáo tham gia tố tụng kể từ khi có quyết định đưa

vụ án ra xét xử đến khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Bị cáo có một vị trí quan trọng trong quá trình truy tố và xét xử của Cơ quan tiến hành tố

tụng, tuy họ là người “bị Tòa án đưa ra xét xử” nhưng vấn đề về quyền và nghĩa vụ

của bị cáo vẫn được đảm bảo theo pháp luật về tố tụng hình sự Và khái niệm bị cáo không đồng nghĩa với khái niệm chủ thể của tội phạm, mà bị cáo chỉ là những người bị buộc tội bởi cơ quan tiến hành tố tụng Bị cáo cũng không phải là người có tội bởi vì

họ chỉ trở thành người có tội nếu sau khi xét xử họ bị Tòa án ra bản án kết tội và bản

án đã có hiệu lực pháp luật Cũng tương tự như bị can, bị cáo cũng có những quyền và nghĩa vụ được pháp luật tố tụng hình sự quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Nhằm để bảo đảm quyền con người cho bị cáo không bị xâm hại Như vậy, bị cáo là người mang những đặc điểm pháp lý như sau:

Một là, bị cáo là đối tượng bị truy cứu trách nhiệm hình sự trước Tòa án Kể từ

khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì bị cáo trở thành người bị cơ quan tiến hành tố tụng buộc tội một cách chính thức và công khai, khi đó sự truy cứu trách nhiệm hình sự- nghĩa là hậu quả bất lợi mà bị cáo phải gánh chịu trước xã hội hay Nhà nước do đã

5Văn phòng Luật sư Nam Hà Nội, Địa vị pháp lý của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự, Phương Hồng Nguồn: http://hslaw.vn/diendan/default.aspx?g=posts&t=370 [ Ngày truy cập: 10 / 05/ 2014].

Trang 12

có hành vi vi phạm và khi đó bị cáo sẽ được xác định theo hai hướng là bị cáo là người

có tội hoặc là không có tội Không giống như bị can, bị cáo sẽ chịu sức ép về danh dự,

uy tín và nhân phẩm do phải tham gia tố tụng một cách công khai trước Tòa án

Hai là, bị cáo chỉ được đưa ra xét xử khi Viện kiểm sát đã truy tố trước Tòa án

Như vậy, đến giai đoạn xét xử vụ án hình sự thì bị can sẽ bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử và trở thành bị cáo Nhưng nếu Viện kiểm sát hoặc Cơ quan điều tra không truy

tố bị can trước Tòa án khi không có đủ căn cứ xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì tư cách bị can sẽ không trở thành bị cáo Do đó, địa vị pháp lý của bị cáo chưa có do trong giai đoạn này tư cách người bị tình nghi có hành vi phạm tội này vẫn còn là bị can, và bị can chỉ là đối tượng bị điều tra và truy tố chứ không phải đối tượng

bị đem ra xét xử như bị cáo

Ba là, tư cách bị cáo xuất hiện khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử Trong giai

đoạn khởi tố vụ án một khi đã có đầy đủ căn cứ để xác định hành vi phạm tội của bị can thì Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra sẽ đưa ra quyết định khởi tố và trong giai đoạn này tư cách bị can sẽ trở thành bị cáo khi Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi tố của Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra thì Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa sẽ đưa ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Tư cách tố tụng bị cáo được hình thành kể từ khi Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa nhận hồ sơ vụ án và đưa ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Nhưng nếu Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung hay đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án thì tư cách bị cáo sẽ không được xác lập

Bốn là, bị cáo tham gia tố tụng kể từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến

khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Đưa vụ án ra xét xử là một trong những quyết định của thẩm phán sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhằm thay đổi địa vị pháp lý của người bị truy tố là bị can sang địa vị pháp lý của bị cáo để xét xử

vụ án tại phiên tòa Theo quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì tại khoản 2

Điều 176 về thời hạn chuẩn bị xét xử “Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng thì Toà án có thể mở phiên toà trong thời hạn ba mươi ngày”, kể từ thời

điểm này thì bị cáo chính thức tham gia vào quá trình xét xử trước tòa án

Đồng thời, theo Điều 187 thì sự có mặt tại phiên tòa là quyền và cũng là nghĩa

vụ của bị cáo vì họ là người bị truy cứu trách nhiệm hình sự Vì vậy, Tòa án phải triệu tập bị cáo đến phiên tòa, bị cáo không thể vắng mặt nếu không có lý do chính đáng Đến khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì tư cách bị cáo lúc này sẽ trở thành người có tội nếu chứng cứ chứng minh được bị cáo đã là người có tội,

tư cách bị cáo là người bị tình nghi là người có hành vì phạm tội sẽ không còn, từ thời điểm này thì bị cáo sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật Còn khi chứng cứ chứng

Trang 13

minh bị cáo là người không có tội thì bị cáo cũng đương nhiên mất tư cách là bị cáo

mà trở thành công dân bình thường

Khái niệm bị can, bị cáo không đồng nghĩa với khái niệm người có tội bởi đây

là vấn đề mang tính nguyên tắc Bị can, bị cáo chỉ là những người bị tình nghi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được Bộ luật hình sự quy định là tội phạm cần truy cứu trách nhiệm hình sự Họ chỉ trở thành người có tội nếu sau khi xét xử họ bị Tòa án

ra bản án kết tội và bản án đã có hiệu lực pháp luật Cho nên cần phải đảm bảo quyền

và nghĩa vụ của bị can, bị cáo không bị xâm phạm trong quá trình tố tụng Đây là nguyên tắc cơ bản nhằm thể hiện sự nhân đạo của nhà nước ta hiện nay dành cho những đối tượng bị xem là có hành vi phạm tội Vì theo quy định tại Điều 72 Hiến

pháp 1992 thì: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”, khoản 1 Điều 31 Hiến pháp 2013 quy định:

“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình

tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” và Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Do đó, dù một công dân

đã bị khởi tố với tư cách bị can, bị cáo vẫn được suy đoán là vô tội, họ phải được tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trước pháp luật Chúng ta không nên

có định kiến về việc gọi bị can, bị cáo là người đã có tội mà cần phải đối xử với họ như những công dân bình thường khác, được bình đẳng trước pháp luật và có đầy đủ

quyền và nghĩa vụ không bị hạn chế

1.1.2 Khái niệm quyền im lặng

Ở Mỹ, câu nói mà bất cứ cảnh sát viên nào cũng thuộc lòng có tên là lời cảnh

báo Miranda (Miranda warning) tạm dịch là “Anh có quyền im lặng” Nó được dùng

để thông báo cho nghi phạm hình sự ngay lúc bị bắt giữ, hay khi đang ở tình trạng giam giữ, trước khi nghi phạm hình sự bị thẩm vấn hoặc lấy cung liên quan đến sự phạm tội, hay trong một tình trạng quyền tự do đi lại của nghi phạm bị cản trở dù người đó không bị bắt giữ Khi một người bị cảnh sát bắt giữ, cảnh sát phải nói với họ

rằng: "Họ có quyền giữ im lặng; Bất cứ điều gì họ nói cũng sẽ được dùng để chống lại

họ trước tòa; Họ có quyền có luật sư; và nếu họ không thể thuê được luật sư họ sẽ được chỉ định một luật sư miễn phí” Bất cứ lời thú tội nào có được bằng việc vi phạm

các quy tắc Miranda đều phải bị bác bỏ, cũng như các bằng chứng khác đạt được do kết quả của lời thú tội sai quy tắc này6 Tu chính án thứ Năm bảo vệ cá nhân khỏi việc

6

Alan B.Morrison, Fundamentals of American Law ( Những vấn đề cơ bản của Luật pháp Mỹ), Khoa

học luật Trường Đại học New York, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2007, trang 156, 157

Trang 14

bị bắt buộc làm chứng chống lại bản thân họ, chứ không phải chống lại người khác7, cho phép một cá nhân (nhưng không cho phép một tập đoàn) từ chối trả lời câu hỏi hoặc cung cấp cho chính phủ bất cứ thông tin nào đó mà có nguy cơ dẫn tới việc khởi

tố hình sự

Theo luật của Hoa Kỳ thì vào những năm 1960 ở Mỹ xuất hiện một án lệ mang tên cảnh báo Miranda Đó là một vụ án mà thủ phạm là Ernesto Miranda, sinh năm

1941 (13 tuổi đã bị bắt và sau đó liên tục phạm tội) Năm 1962, có một số vụ bắt cóc

và cưỡng dâm các cô gái trẻ Sau khi cảnh sát đưa đi nhận dạng tiếng nói của nạn nhân, Miranda thừa nhận mình là thủ phạm Miranda viết bản tự thú và trên đầu mỗi tờ giấy đều có in sẵn những dòng chữ rằng người khai hoàn toàn tự nguyện, không bị đe dọa, lừa dối hay được hứa sẽ được giảm tội Nhưng Miranda không được thông báo rằng mình có quyền mời luật sư được giảm tội Tháng 6 năm 1963, Miranda phải ra tòa với tội danh cướp và cưỡng dâm Luật sư Alvin Moore được chỉ định biện hộ đã phản đối tòa kết án dựa trên việc sử dụng lời khai của Miranda để chống anh ta Giữa năm 1966, Chánh án Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ lúc bấy giờ là Earl Warren ra phán

quyết với nội dung: Một người bị bắt giữ trước khi bị thẩm vấn phải được thông báo một cách rõ ràng rằng họ có quyền giữ im lặng và bất kỳ điều gì người đó nói ra sẽ được sử dụng để chống lại người đó trước tòa án Người đó phải được thông báo rõ

ràng rằng anh ta có quyền tư vấn với luật sư và có quyền có luật sư bên cạnh mình trong khi thẩm vấn và rằng nếu người đó là người nghèo, anh ta sẽ được chỉ định một luật sư đại diện8 Phán quyết của toà án Tối cao Mỹ lật ngược bản bán của Tòa án tối cao bang Arizona, và cho rằng Miranda không phạm tội cưỡng dâm và phán quyết trở thành án lệ mang tính bắt buộc đối với các bang

Phán quyết cũng khẳng định rằng chỉ khi nghi phạm được thông báo một cách

rõ ràng và dứt khoát về những quyền hiến định của họ trước khi thẩm vấn thì những lời khai của họ mới được chấp nhận Phán quyết của Toà án tối cao lại dựa trên Tu chính án thứ Năm9 (nói về quyền im lặng) chứ không phải Tu chính án thứ Sáu10 (nói

về quyền được có luật sư) như ban đầu Từ đó, khái niệm quyền im lặng đã trở thành quyền được đặt lên hàng đầu trong pháp luật tố tụng nước ngoài khi cơ quan tiến hành

7

Alan B.Morrison, Fundamentals of American Law ( Những vấn đề cơ bản của Luật pháp Mỹ), Khoa

học luật Trường Đại học New York, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2007, trang 475

8

Báo điện tử Người đưa tin, Nguồn gốc của lời cảnh báo Miranda: “Anh có quyền im lặng”, Quang Hòa Nguồn: http://www.nguoiduatin.vn/nguon-goc-cua-loi-canh-bao-miranda-anh-co-quyen-im-lang- a83948.html [Ngày truy cập: 02 /06 /2014 ]

Trang 15

tố tụng muốn tạm giữ hay bắt khẩn cấp bị can, bị cáo Những lời cảnh báo Miranda

tạm dịch là “Anh có quyền im lặng” thông báo cho một người bị tình nghi khi bị bắt

hay bị hỏi cung rằng họ có những quyền như sau:

Thứ nhất, họ có quyền im lặng và không bị yêu cầu phải đưa ra bất cứ lời khai

nào hay trả lời bất cứ một câu hỏi nào Bất cứ điều gì họ nói có thể được ghi lại và có thể được sử dụng để chống lại họ trong phiên toà hình sự

Thứ hai, họ có quyền trao đổi với luật sư có thể nhận sự giúp đỡ của luật sư hay

có một luật sư bên cạnh trong bất cứ cuộc hỏi cung nào

Thứ ba, nếu họ không có khả năng thuê luật sư, sẽ có một luật sư chỉ định cho

họ Nếu họ muốn sự có mặt của luật sư bên cạnh mình, toà án sẽ cung cấp cho họ một luật sư miễn phí

Thứ tư, nếu họ muốn trả lời các câu hỏi ngay lúc đó mà không có sự hiện diện

của luật sư, họ vẫn có quyền ngừng trả lời các câu hỏi bất cứ lúc nào

Do đó có thể thấy quyền im lặng là quyền mang những đặc điểm như: Đây là một trong những quyền cơ bản của công dân và là quyền con người đã được công nhận trong luật quốc tế; Quyền im lặng là quyền mà nghi can dùng để bảo vệ mình chống lại

sự buộc tội từ phía cơ quan tiến hành tố tụng; Chỉ khi nghi phạm được thông báo một cách rõ ràng về quyền được im lặng của họ trước khi thẩm vấn thì những lời khai của

họ mới được chấp nhận;

Nói tóm lại, quyền im lặng chính là quyền mà người bị buộc tội không phải trả lời bất kỳ câu hỏi nào trước bên cáo buộc, quyền im lặng cũng chính là quyền không tự buộc tội mình của bị can, bị cáo Quyền im lặng mang đặc điểm của quyền con người, quyền này thể hiện ý chí của người bị buộc tội có quyền bảo vệ bản thân khỏi bị hình phạt trước pháp luật, bảo vệ bản thân trước những cáo buộc của bên buộc tội Nói cách khác thì, quyền im lặng cũng chính là ngay khi bị bắt giữ thì nghi phạm sẽ được giải thích quyền công dân của mình đó là quyền được giữ im lặng để chờ người bào chữa của mình, khi chưa có người bào chữa thì nghi phạm có quyền không trả lời các cơ quan điều tra bất kỳ câu hỏi gì, nhằm mục đích bảo đảm tối đa quyền con người

1.1.3 Khái niệm quyền im lặng của bị can, bị cáo

1.1.3.1 Quyền im lặng trong pháp luật nước ngoài

Quyền được im lặng khi bị bắt ở nhiều quốc gia trên thế giới đã có từ lâu với mục đích đảm bảo tối đa quyền con người Hiến pháp nhiều nước quy định khi bắt giữ một người phải được thông báo về quyền được im lặng và phải có luật sư chứng kiến hoặc phải giải thích quyền được mời luật sư Trong khi đó, ở một số mô hình tố tụng khác, quyền im lặng có thể được diễn giải qua những cách thức thể hiện khác Như trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị thì tại điểm g khoản 3 Điều

Trang 16

14 có quy định trong quá trình xét xử về một tội hình sự, mỗi người đều có quyền đòi

hỏi một cách bình đẳng đầy đủ những bảo đảm tối thiểu như “Không bị ép buộc phải chứng minh chống lại mình hoặc buộc tự thú là người có tội” 11 Quyền im lặng là quyền pháp lý cơ bản của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Quyền này được ghi nhận rất sớm ở Anh vào thế kỷ 16 Nền tảng lý luận của quyền im lặng xuất phát từ quan điểm lịch sử về sự cân bằng giữa quyền lực nhà nước và quyền công dân Theo đó, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không bắt buộc phải đưa ra lời khai chống lại mình hoặc không buộc phải nhận mình phạm tội Nhà nước có nghĩa vụ phải tìm kiếm chứng cứ để chứng minh những cáo buộc của mình12

Chẳng hạn, theo luật của Australia: “Một người bị tình nghi không có nghĩa vụ phải nói với điều tra viên về hành vi phạm tội bị cáo buộc và mọi nỗ lực của điều tra viên nhằm ép người bị tình nghi nói ra sẽ dẫn đến việc bị xét lại về giá trị pháp lý khi

sử dụng một cuộc thẩm vấn như vậy trong giai đoạn truy tố sau đó”, hay khoản 3, Điều 116 Bộ luật tố tụng hình sự Cộng hòa Liên bang Đức quy định: “Dự thẩm viên phải báo cho người bị điều tra biết, nếu không được sự đồng ý của người ấy thì không thể tiến hành hỏi cung họ nếu không có sự hiện diện của luật sư” Ở Đức, quyền im lặng được đảm bảo rất rộng: Bị cáo có quyền không khai báo, không nhận tội từ khi bị tình nghi đến khi bị xét sử13

Vẫn còn nhiều quy định ở các nước khác như Điều 29 Bộ luật tố tụng hình sự Hà Lan, Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự Italia, Điều 198 Bộ luật

tố tụng hình sự Nhật Bản14 Bên cạnh đó, hiến pháp Nhật Bản cũng qui định “không ai

bị giam giữ nếu không được thông báo tội trạng và không có luật sư bênh vực”

Như vậy, hầu hết các nước trên thế giới đều có quy định cụ thể về quyền im lặng trong pháp luật tố tụng hình sự Quy định này xuất phát từ bản chất của việc truy tố tội phạm, trong đó nghĩa vụ của bên buộc tội phải chứng minh được tội phạm và bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh bất cứ điều gì Quyền im lặng trong pháp luật nước ngoài giống như một nghĩa vụ bắt buộc mà bên buộc tội phải thông báo cho bên bị buộc tội biết về việc họ có quyền giữ im lặng Một khi bên bị buộc tội không được

Báo điện tử Thanh niên online, Quyền im lặng cần được thực hiện và quy định ngay trong Hiến

pháp, Trần Hồng Phong Nguồn: http://

/www.thanhnien.com2013/11/quyen-im-lang-can-uoc-thuc-hien-va-quy.html [Ngày truy cập:12 /05/2014]

14

Báo điện tử Lao Động, “Quyền im lặng” nhìn từ Australia, Phan Trung Hoài Nguồn: http://

laodong.com.vn/lao-dong-cuoi-tuan/quyen-im-lang-nhin-tu-australia-129402.bld [Ngày truy cập:

23/08 / 2014]

Trang 17

thông báo đầy đủ về quyền này thì mọi lời khai của bên bị buộc tội coi như là không

có giá trị pháp lý vì bên bị buộc tội đã bị xâm phạm về quyền theo tinh thần của pháp luật về đảm bảo đầy đủ nhân quyền cho công dân

1.1.3.2 Quyền im lặng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Ở Việt Nam, quyền im lặng không được quy định trực tiếp và rõ ràng trong

Bộ luật tố tụng hình sự Nhưng trong Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có quy

định: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội” Bên cạnh

đó, Điều 49 và Điều 50 trong Bộ luật tố tụng hình sự cũng đã quy định một số quyền của người bị can, bị cáo sau khi bị bắt tạm giữ, tạm giam, trong đó có quyền được biết

lý do của việc bắt giữ, tội danh, cũng như được giải thích quyền và nghĩa vụ trong tố tụng hình sự, quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa Đặc biệt là tại điểm c, khoản 2 của Điều 49 trong Bộ luật tố tụng hình sự cũng đã quy định bị can có quyền

“ Trình bày lời khai”, trình bày lời khai là quyền chứ không phải nghĩa vụ nên có thể

nói rằng bị can có quyền trình bày và có quyền không trình bày lời khai cũng đồng nghĩa với việc bị can vẫn có quyền giữ im lặng trong quá trình tố tụng Bên cạnh đó,

điểm g khoản 2 Điều 50 cũng quy định bị cáo có quyền “Trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa”.Do đó, quyền của bị can, bị cáo khi tự mình bào chữa có thể được thực

hiện hoặc không thực hiện nếu bị can, bị cáo không muốn thực hiện quyền này Mặt

khác, theo Điều 209 Bộ luật tố tụng hình sự “Nếu bị cáo không trả lời các câu hỏi thì Hội đồng xét xử, kiểm sát viên, người bào chữa tiếp tục hỏi những người khác và xem xét vật chứng, tài liệu có liên quan đến vụ án” Hiểu theo một nghĩa nào đó thì điều

luật đã gián tiếp công nhận quyền được im lặng của bị cáo tại phiên tòa Tuy không có quy định rõ ràng và cụ thể về việc bị can, bị cáo có quyền im lặng nhưng sự quy định trực tiếp về việc bị can, bị cao có quyền trình bày lời khai của mình thì cũng đã gián

tiếp nói lên trình bày lời khai là “quyền” chứ không phải “nghĩa vụ” nên bị can, bị cáo

có thể im lặng hoặc không im lặng mà tự mình bào chữa cho bản thân họ

Việc mới đây Việt Nam chính thức tham gia Công ước chống tra tấn và ngày 11-2013 ứng cử và được bầu vào Ủy ban nhân quyền Liên hợp quốc được hiểu là Nhà nước Việt Nam chính thức công khai và cam kết nâng cao quyền con người, trong đó

12-có quyền im lặng Như vậy, việc thực hiện “quyền im lặng” cũng chính là thực hiện cam kết của mình15 Quyền im lặng theo pháp luật hình sự của thế giới đó là quyền

15

Báo điện tử Thanh Niên online, Quyền im lặng cần được thực hiện và quy định ngay trong Hiến

pháp, Trần Hồng Phong Nguồn : http://

/www.thanhnien.com2013/11/quyen-im-lang-can-uoc-thuc-hien-va-quy.html [Ngày truy cập:12 /05/2014]

Trang 18

không tự tố giác được ghi nhân trong Công ước Quyền Dân sự của Liên Hợp Quốc Quyền này thể hiện trong việc bị can, bị cáo có quyền không nói gì khi bị bắt

Quyền im lặng trong tố tụng hình sự Việt Nam tuy vẫn là quyền được suy rộng ra

từ các quyền khác vẫn chưa được pháp luật thừa nhận một cách chính thức với một khái niệm hoàn chỉnh cho riêng mình nhưng mọi hoạt động tố tụng trong pháp luật tố tụng hình sự điều mang hướng gợi mở cho quyền này Nhìn chung thì từ Điều 10, Điều

49, Điều 50 và Điều 209 của Bộ luật tố tụng hiện hành và cả Điều 4 Hiến pháp năm

2013 cũng đang mang đến cho quyền im lặng một hướng hình thành mới, bởi lẽ trong những điều luật này đều gián tiếp quy định là bị can, bị cáo có quyền được giữ im lặng không trả lời bất kỳ câu hỏi nào của cơ quan tiến hành tố tụng

1.2 Vai trò của quyền im lặng trong tố tụng hình sự

1.2.1 Quyền im lặng đối với bị can, bị cáo

Trong thực tiễn tố tụng cho thấy, nếu bị can, bị cáo khi bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam mà khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình thì sẽ được coi là tình tiết giảm nhẹ Ngược lại, nếu họ im lặng, không khai báo thì thường bị cáo buộc ngoan cố, chống đối pháp luật và bị đề nghị xử lý với chế tài nghiêm khắc hơn dù không có quy định “ngoan cố” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự16… Nhưng trên thực tế thì luật chỉ quy định sự khai báo của bị can, bị cáo chỉ là tình tiết giảm nhẹ và chỉ được xem là chứng cứ chứng minh cho vụ án đó như theo điểm b, khoản 2 của Điều 64 trong Bộ luât tố tụng hiện hành khi nó được xác minh làm rõ của Cơ quan điều tra Đồng thời, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tố tụng Để phá án và làm rõ tội phạm, Cơ quan điều tra phải dùng nhiều biện pháp chứ không chỉ phụ thuộc vào lời khai của bị can, bị cáo nên không thể nói nghi can im lặng ảnh hưởng đến công tác phá án

Những vụ án oan gần đây khiến dư luận nghi ngờ do bức cung, nhục hình nhắc nhiều đến quyền im lặng và quyền được có luật sư Ví dụ như, vụ án Nguyễn Thanh Kiều bị 5 công an thành phố Tuy Hòa dùng nhục hình trong quá trình lấy lời khai dẫn đến tử vong do chấn thương sọ não, Nguyễn Thanh Chấn (Bắc Giang) được minh oan sau 10 năm ngồi tù cho hành vi chưa bao giờ gây ra, nếu có luật sư tham vấn trong quá trình bị hỏi cung thì hẳn ông đã không “nhận tội bừa” và nhiều vụ án oan, sai khác đã không xảy ra, và mới đây Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước tiếp tục tuyên

Lê Bá Mai án chung thân về tội Giết người và Hiếp dâm trẻ em vẫn đang gây tranh cãi

Trang 19

Vẫn còn nhiều vụ án oan sai khác xảy ra chỉ vì bị can, bị cáo không được quyền giữ im lặng

Quyền im lặng ở đây không phải là quyền không khai báo mà là quyền được không trình bày lời khai khi không có người bào chữa bên cạnh để hướng dẫn và bảo

vệ quyền lợi hợp pháp cho bản thân bị can, bị cáo khi họ không hiểu biết về kiến thức pháp luật Bên cạnh đó, bị can được quyền không khai cho đến lúc có luật sư chứ không phải im lặng mãi Quyền im lặng sẽ giúp cho bị can, bị cáo không phải trả lời theo những câu hỏi mở dạng như là “có” hoặc “không” của Cơ quan điều tra để tránh buộc tội cho bản thân mình Phó Giáo Sư, Tiến Sĩ Trần Văn Độ thuộc Tòa án nhân dân

tối cao đã nêu quan niệm “quyền im lặng” là quyền không khai báo khi không có sự tư vấn của luật sư để tránh “tự mình buộc tội mình”, gây thiệt hại cho bản thân Do đó,

nếu qui định trong phạm vi thực tế nhất định có thể đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo17

Bị can, bị cáo được quyền im lặng sẽ góp phần giảm được án oan Đồng thời, giúp bị can, bị cáo không tự buộc tội mình và gây hậu quả bất lợi cho bản thân họ Quyền im lặng hiện nay lại là một qui định thật sự tiến bộ, bảo đảm cho các quy định của pháp luật được thực thi nghiêm túc trong quá trình tố tụng hình sự Nếu quyền im lặng được quy định cụ thể thì những bản án được kết tội sẽ thật sự nghiêm minh hơn,

và án oan sẽ không còn tồn tại, mặt khác bị can, bị cáo sẽ được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Đảm bảo sự công bằng của pháp luật, đảm bảo thực thi quyền có luật sư của bị can, bị cáo và bảo vệ nhân quyền của mỗi công dân

1.2.2 Quyền im lặng đối với cơ quan tiến hành tố tụng

Ở các nước trên thế giới, bước đầu tiên mà các điều tra viên cần phải làm trước quá trình lấy lời khai của bị can, bị cáo là thông báo cho họ biết về quyền được

im lặng của người đó Nếu bị can, bị cáo đồng ý thì việc lấy lời khai của cơ quan tiến hành tố tụng mới trở thành chứng cứ chứng minh cho vụ án và thể hiện sự công bằng đối với bị can, bị cáo Việc thông báo về quyền im lặng cho bị can, bị cáo biết rõ đó là nghĩa vụ bắt buộc của cơ quan tiến hành tố tụng Ở Việt Nam, chưa có quy định rõ ràng về quyền im lặng vì thế mà tình trạng ép cung dùng nhục hình hiện nay đang gây

bức xúc trong dư luận Rất nhiều vụ án oan sai do hồ sơ bị sai lệch ngay từ đầu, khi ra

tòa, bị cáo phản cung, cho rằng họ đã bị bức cung, ép cung nên mới nhận tội Lúc này,

dư luận không tránh khỏi nghi ngờ Cơ quan Điều tra đã thiếu công tâm Vì trong

17

Công ty Luật hợp danh FDVN, Quyền im lặng chờ luật sư, Xuân Dung Nguồn:

s&catid=2:x-phuc-thm-v-tan-hoang-phat-khong-hy-an-la-sai&Itemid=18&lang=vi [ Ngày truy

http://www.fdvn.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=355:quyn-im-lng-ch-lut-cập:25/08/2014]

Trang 20

những lần lấy lời khai của bị can, bị cáo chỉ có Cơ quan điều tra mới là người biết rõ

và cũng chỉ có hai bên giữa người bị can, bị cáo và Cơ quan điều tra nên cũng không

tránh khỏi sự nghi ngờ về việc Cơ quan tiến hành tố tụng vừa “ thổi còi vừa đá bóng”

Vì thế, nếu được thực hiện quyền im lặng để chờ luật sư, người bào chữa chứng kiến,

thì họ chính là “người làm chứng” cho các lời khai của bị can, bị cáo đã khai là khách

quan, là nhân chứng khẳng định rằng có hay không bị can, bị cáo bị bức cung, ép cung, nhục hình… Rõ ràng, nếu có quyền im lặng, Cơ quan điều tra sẽ không bị mang tiếng

“oan”, khó giải bày khi chỉ có hai bên là Điều tra viên làm việc với bị can, bị cáo

Ở một số trường hợp khác, trong quá trình khai nhận của bị can, bị cáo trong lúc hỏi cung không phải là sự thật Bị can, bị cáo khai man nhằm che giấu tình tiết vụ án, đánh lạt hướng Cơ quan điều tra nhằm để bảo vệ bản thân khỏi tội, che giấu cho người thân, bạn bè phạm tội hoặc nhận tiền của tội phạm cho lời khai giả nhằm che giấu cho tội phạm Ví dụ như, vụ án Đỗ Hùng Long nhận tội thay bạn là Nguyễn Đồng Hòa trong vụ gây tai nạn giao thông làm chết người diễn ra vào ngày 16/7/2003 tại Bà Rịa-

Vũng Tàu và Nguyễn Văn Hiện nhận tội thay con ông chủ là Hồ Sỹ Đức tại Bà Rịa-

Vũng Tàu làm sai lệch nội dung vụ án, kéo dài quá trình điều tra, xét xử18

Trong những trường hợp này, lời khai của bị can, bị cáo càng làm cho Cơ quan tiến hành tố tụng gặp nhiều khó khăn hơn Vậy nên, lời khai của bị can, bị cáo không thể đem làm chứng cứ để buộc tội họ

Đồng thời, trong lúc lấy lời khai của bị can, bị cáo thì trạng thái tâm lý, hay tình trạng sức khỏe của bị can, bị cáo có thích hợp cho việc lấy lời khai hay không chỉ có

cơ quan tiến hành tố tụng biết và bị can, bị cáo biết nếu khi ra tòa bị can, bị cáo phản cung với lý do cho lời khai trong tình trạng sức khỏe không tốt thì cũng ảnh hưởng đến kết quả của bản án, phải yêu cầu điều tra hoặc lấy lời khai lại từ đầu làm mất nhiều thời gian và hao tổn kinh phí Do đó, nếu bị cáo được quyền im lặng chờ luật sư hay người bào chữa thì họ sẽ là nhân chứng cho việc lấy lời khai đó, có thể bảo vệ được quyền và lợi ích của bị can, bị cáo và là người đảm bảo cho sự khách quan cho Cơ quan tiến hành tố tụng

Khi chúng ta có quy định cụ thể về quyền im lặng thì điều này không chỉ đảm bảo khách quan, giảm vi phạm tố tụng, mà còn giúp cho quá trình tố tụng nhanh hơn, không phải điều tra lại nhiều lần khi phải xem xét xác minh lại lời khai của bị can, bị cáo là khách quan hay do bị ép cung, dùng nhục hình Trên thực tế, để phá án và làm

rõ tội phạm, Cơ quan điều tra phải dùng nhiều biện pháp chứ không chỉ phụ thuộc vào

18

Báo điện tử An ninh-Pháp luật, Nguồn: thay-nguoi/55055977/218/.[ Ngày truy cập:30/08/2014]

Trang 21

http://vietbao.vn/An-ninh-Phap-luat/Nhung-vu-an-nhan-toi-lời khai, nên không lo ngại nếu cho bị can, bị cáo quyền im lặng sẽ làm ảnh hưởng đến

công tác điều tra

1.3 Mối quan hệ giữa quyền im lặng và nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự

1.3.1 Khái niệm nguyên tắc suy đoán vô tội

Thuật ngữ “suy đoán” bắt nguồn từ tiếng La tinh “praesumptino”, được hiểu là

coi vấn đề, hiện tượng nào đó là đúng đắn cho đến khi chưa có lý do bác bỏ vấn đề,

hiện tượng đó Nguyên tắc suy đoán vô tội bắt nguồn từ luật La Mã cổ đại, cách đây

trên 15 thế kỷ nhưng nó gần như đã bị vô hiệu trong các tòa án vô nhân đạo suốt thời Trung cổ và chỉ được phục hưng kể từ các cuộc cách mạng tư sản ở châu Âu Sự phục hồi nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự dẫn đến sự ra đời của một nguyên tắc khác chi phối toàn bộ pháp luật hình sự và tố tụng hình sự của thế giới cho đến ngày nay, đó là quyền không tự tố giác (right against self-incrimination)19 Nguyên tắc này đã được ghi trong nhiều văn kiện quốc tế như Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948; Công ước của Liên hợp quốc về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 Tại Điều 11 của Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 của Liên hợp

quốc thì “ Bất cứ ai bị buộc tội cũng có quyền được coi là vô tội cho tới khi tội đó được chứng minh theo pháp luật tại một phiên tòa công khai mà tại đó người bị buộc tội được đảm bảo quyền bào chữa” và khoản 2, Điều 14 trong Công ước quốc tế về quyền chính trị và dân sự của Liên hợp quốc năm 1966 đều có quy định: “Người bị cáo buộc là phạm tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội của người đó được chứng minh theo pháp luật.” Pháp luật tố tụng hình sự của nhiều

nước trên thế giới đã thừa nhận nguyên tắc trên, nguyên tắc suy đoán vô tội, như một trong những nguyên tắc của tố tụng hình sự của quốc gia mình20 Đồng thời, trong mối quan hệ với pháp luật quốc tế quy định này cũng giống với quy định tại Điều 31 Bộ luật tố tụng hình sự Liên Bang Nga năm 200121 Theo những nội dung này, một người

dù đã bị kết án bởi Tòa án mà bản án chưa có hiệu lực pháp luật thì người này không phải chịu hình phạt cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật

19

Báo mới online, Quyền im lặng sẽ giảm án oan, Trương Trọng Nghĩa Nguồn:

http://www.baomoi.com/Quyen-im-lang-se-giam-an-oan/58/12499962.epi [ Ngày truy

Trang chuyên Luật hình sự và Tố tụng hình sự, Sự thể hiện của nguyên tắc suy đoán vô tội trong chế

định về xét xử của Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Đinh Thế Hưng Nguồn:

xu-cua-luat-to-tung-hinh-su-viet-nam/#more-3572 [ Ngày truy cập:25/06/2014]

Trang 22

http://luathinhsu.wordpress.com/2011/12/14/su-the-hien-cua-nguyen-tac-suy-doan-vo-toi-trong-che-dinh-ve-xet-Ở nước ta hiện nay tuy thuật ngữ “ suy đoán vô tội” chưa được Hiến pháp và

pháp luật Việt nam ghi nhận chính thức mà chỉ mới ghi nhận trong dự thảo bổ sung sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự Nhưng nội dung của nó đã được đề cập đến cụ thể như

khoản 1, Điều 31 của bản Hiến pháp năm 2013 nêu, “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, áp dụng

suy đoán vô tội như sự thể hiện quan điểm của Nhà nước ta trong việc tôn trọng nhân phẩm và bảo vệ danh dự cho bị can, bị cáo Tinh thần của nguyên tắc suy đoán vô tội

thể hiện ở các nội dung sau: Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật22 ; Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội23

Nhìn chung thì dù ở mỗi quốc gia có những kỹ thuật lập pháp khác nhau, nhưng điều có chung quan điểm về nguyên tắc suy đoán vô tội nhằm mục đích bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của con người trong tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền bảo đảm dân chủ, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Yêu

cầu của nguyên tắc “Suy đoán vô tội” là các chủ thể của cơ quan tiến hành tố tụng phải

tôn trọng danh dự, nhân phẩm của bị can, bị cáo và phải đối xử và tôn trọng họ như những người công dân bình thường Nguyên tắc này đòi hỏi tất cả các chủ thể tham gia trong quá trình tố tụng bao gồm Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải tôn trọng danh dự, nhân phẩm của công dân đứng trên góc độ tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân Nguyên tắc suy đoán vô tội trong giai đoạn xét xử

vụ án hình sự đã thể hiện quyền được xét xử công bằng đối với bất kỳ người bị buộc tội nào Quyền được xét xử công bằng là một tiêu chuẩn của luật nhân quyền quốc tế nhằm bảo vệ cá nhân không bị xâm phạm bởi bất kỳ chủ thề nào trước pháp luật

1.3.2 Mối tương quan giữa quyền im lặng và nguyên tắc suy đoán vô tội

Quyền được suy đoán vô tội là quyền cơ bản của công dân Trong hệ thống các

nguyên tắc của tố tụng hình sự, nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản

án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” có mối quan hệ chặt chẽ hơn cả với

nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo (Điều 11 Bộ luật tố tụng hình

sự năm 2003) và để đảm bảo quyền bào chữa thì cũng cần phải có quyền im lặng Về mặt pháp lý, không ai bị coi là có tội nếu chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cho nên nếu một người đã bị coi là có tội ngay từ khi bị khởi tố thì

Trang 23

quyền bào chữa, tranh tụng trước Tòa án để tìm ra sự thật của vụ án sẽ không thể thực hiện Khi đó, xét xử chỉ là việc Tòa án đi tìm lời giải cho một bài toán có sẵn đáp số là

bị cáo là người có tội và bắt giam họ giam vào tù Đồng thời, sẽ làm ảnh hưởng đến quyền được chứng minh mình vô tội của bị can, bị cáo

Quyền chứng minh sự vô tội được ghi nhận tại Điều 9 Công ước quốc tế về

nhân quyền mà Việt Nam là thành viên khi đó, “Bị cáo được thông báo tức thời và thật chi tiết bằng ngôn ngữ mà anh ta hiểu được về bản chất và lý do buộc tội anh ta”, và

cụ thể hóa nội dung này thì tại Điều 24 quy định về tiếng nói và chữ viết dùng trong tố

tụng hình sự thì “Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự là tiếng Việt Người tham gia tố tụng có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình, trong trường hợp này cần phải có phiên dịch” và Điều 178 Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành quy định “Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải ghi rõ tội danh và điều khoản Bộ luật hình

sự mà Viện kiểm sát áp dụng đối với hành vi của bị cáo” Như vậy, bị can, bị cáo mới

thực sự biết mình bị khởi tố, điều tra về tội gì (trong giai đoạn điều tra) và thậm chí còn biết được mình phạm tội gì và để khi đó bị can, bị cáo có thể thực hiện quyền chứng minh sự vô tội của mình thông qua việc đưa ra các chứng cứ, chứng minh sự vô tội của mình

Việc chính thức luật hóa nguyên tắc suy đoán vô tội sẽ tạo ra nhiều lợi thế cho một quy trình tố tụng tiến bộ, phù hợp với cải cách tư pháp mà dự thảo sữa đổi Bộ luật

tố tụng hình sự năm 2014 đã ghi nhận Một trong những nội dung cơ bản của nguyên tắc suy đoán vô tội là mọi nghi ngờ về pháp luật và chứng cứ phải được giải thích có lợi cho bị can, bị cáo Bên cạnh đó, một nội dung khác của nguyên tắc suy đoán vô tội

mà Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành cụ thể hóa là trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tố tụng Điều này đã tạo nên mối liên kết cho quyền im lặng của

bị can, bị cáo trong quá trình tố tụng hình sự, quyền được im lặng và quyền được suy đoán vô tội có cùng chung một mục đích chính là thể hiện nhân quyền của bị can và bị cáo trước cơ quan tiến hành tố tụng Theo Thạc sĩ Đinh Thế Hưng (Viện Nhà nước và Pháp luật) chỉ ra cái thiếu đầu tiên là luật không quy định quyền được im lặng của bị can, bị cáo trong các giai đoạn tố tụng Điều này đã tạo khoảng trống pháp lý, tạo cơ hội cho một số cơ quan tố tụng vận dụng sai nguyên tắc suy đoán vô tội24 Bởi lẽ, hoạt động tố tụng hình sự bao gồm hai nhiệm vụ: Bảo vệ xã hội chống lại hành vi xâm hại

từ phía tội phạm và bảo vệ cá nhân người bị buộc tội chống lại sự xâm hại quyền con người Suy đoán vô tội nhằm đem đến sự cân bằng trong hoạt động tố tụng hình sự

24

Trang Luật Đại Việt, Cần ghi nhận nguyên tắc “suy đoán vô tội”, Đức Minh Nguồn:

http://www.luatdaiviet.vn/xem-tin-tuc/can-ghi-nhan-nguyen-tac-suy-doan-vo-toi [Ngày truy cập: 25/06/2014]

Trang 24

giữa một bên là nhà nước với bộ máy điều tra, truy tố xét xử được bảo vệ bằng quyền lực nhà nước với một bên bị can, bị cáo Mối quan hệ giữa nguyên tắc suy đoán vô tội

và quyền im lặng được thể hiện theo những khía cạnh của pháp luật như sau:

Thứ nhất, suy đoán vô tội nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị

cáo trong tố tụng hình sự đáp ứng tinh thần của pháp luật hiện nay đảm bảo quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và việc đảm bảo quyền con người cũng bao hàm quyền được im lặng của bị can, bị cáo Bởi do, ở các nước trên thế giới đã xem quyền im lặng trong quá trình tố tụng của bị can, bị cáo là quyền con người Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân là một trong những nguyên tắc cơ bản

để đảm bảo quyền con người Do đó, nguyên tắc suy đoán vô tội cũng chính là nguyên tắc giúp bảo đảm quyền im lặng được thực thi trong tố tụng hình sự Trong quá trình tố tụng, những người tiến hành tố tụng sẽ có thể tiến hành những hoạt động tố tụng và ra những quyết định tố tụng đối với cơ quan, tổ chức và mọi cá nhân có liên quan, trong những hoạt động và quyết định đó ít nhiều sẽ mang tính bắt buộc cưỡng chế thi hành đối với bị can, bị cáo và có thể sẽ xâm hại đến quyền cơ bản của công dân Sự xâm phạm đó có thể là sự xâm phạm về quyền trình bày lời khai của bị can, bị cáo Nếu bị can, bị cáo không được suy đoán vô tội ngay từ đầu thì quyền và lợi ích của bị can, bị cáo có thể bị hạn chế, một khi quyền bị hạn chế thì quyền im lặng sẽ không thể thực hiện được

Thứ hai, suy đoán vô tội có ý nghĩa định hướng trong hoạt động tố tụng, đem

đến sự cân bằng trong quá trình tố tụng giữa một bên đại diện cho pháp luật là cơ quan tiến hành tố tụng và một bên là chủ thể có hành vi nguy hiểm cho xã hội là bị can, bị cáo xâm phạm quan hệ xã hội được bộ luật hình sự bảo vệ Về mặt pháp luật, bên buộc tội và bên bị buộc tội một khi đã ngang bằng với nhau thì quyền và nghĩa vụ của hai bên sẽ luôn được đảm bảo Do chưa bị coi là người có tội nên các cơ quan tiến hành tố tụng không được đối xử với bị can, bị cáo như người có tội, kể cả trường hợp họ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đi nữa Bị can, bị cáo cần phải được đối xử bình đẳng về quyền và nghĩa vụ cũng như những người tham gia tố tụng khác được cơ quan tiến hành tố tụng tìm chứng cứ chứng minh là người không có tội chứ không phải tìm mọi bằng chứng chỉ để buộc tội Vì thế khi cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành hoạt động điều tra sẽ không còn dựa vào lời khai của bị can, bị cáo mà là dựa vào chứng cứ xác minh được để buộc tội bị can, bị cáo Thực tiễn hiện nay cho thấy nhiều vụ án oan trong quá trình tố tụng hình sự là do lỗi một phần từ việc xem trọng lời khai của bị can, bị cáo hơn là chứng cứ chứng minh cho sự thật của vụ án Do đó, khi suy đoán vô tội cho bị can, bị cáo là tạo điều kiện cho bị can, bị cáo không phải chứng minh mình

vô tội, mà bản thân họ đang là người vô tội cho đến khi có bản án có hiệu lực pháp luật

Trang 25

vậy nên họ không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội, không có nghĩa vụ khai báo tình tiết vụ án và đương nhiên họ được quyền im lặng

Thứ ba, suy đoán vô tội giúp giảm bớt oan sai, bức cung dùng nhục hình trong

quá trình lấy lời khai của Cơ quan tiến hành tố tụng đối với bị can, bị cáo tạo điều kiện cho sự phát huy quyền im lặng Suy đoán vô tội loại trừ định kiến kết tội một chiều trong quá trình tố tụng của chủ thể tiến hành tố tụng Bị can, bị cáo không bị xem là có tội và có quyền im lặng hoặc trình bày lời khai, vì quyền và nghĩa vụ của bị can và bị cáo chưa bị hạn chế do họ vẫn là người vô tội Sự im lặng của bị can, bị cáo không bao hàm ám chỉ im lặng là đồng ý với mọi sự cáo buộc của cơ quan tiến hành tố tụng Bên cạnh đó thì khi bị can, bị cáo được suy đoán là người vô tội thì dù họ có trả lời hay không trả lời câu hỏi của Cơ quan tiến hành tố tụng thì nhiệm vụ của Điều tra viên vẫn phải đi tìm chứng cứ chứng minh cho sự thật của vụ án Trong luật cũng có quy định

về lời khai của bị can, bị cáo cũng cần được xem xét và đánh giá25, nói cách khác lời bị can, bị cáo nói ra không thể lấy làm chứng cứ trực tiếp mà không cần xem xét đánh giá

và xác minh sự thật26 Do đó, khi đã xem bị can, bị cáo là người không có tội trước khi bản án có hiệu lực pháp luật thì cần phải xem xét yếu tố đảm bảo quyền cho họ đặc biệt là quyền trình bày lời khai và quyền trình bày ý kiến tranh luận tại Tòa Vì khi đã quy định đây là quyền thì nó có thể thực hiện theo hai hướng là bị can, bị cáo tự nguyện khai báo tình tiết của vụ án hoặc im lặng không khai báo trước Cơ quan tiến hành tố tụng để nhờ người bào chữa

Nguyên tắc suy đoán vô tội có quan hệ chặt chẽ với quyền im lặng Bởi vì nếu

đã bị coi là có tội ngay từ khi chưa xét xử thì việc bảo đảm quyền của họ sẽ bị xâm phạm và việc thực hiện quyền im lặng của người bị buộc tội sẽ không thể thực hiện Bị can, bị cáo sẽ bị bức cung hoặc cho lời khai giả do áp lực từ phía cơ quan tố tụng khi ban đầu họ đã bị nhận định có tội, việc lấy lời khai hay thẩm vấn bị can, bị cáo chỉ còn mang tính chất hình thức chứ không còn vì mục đích tìm ra sự thật của vụ án Khi chúng ta có sự vi phạm trong nguyên tắc suy đoán vô tội thì cũng làm ảnh hưởng đến

sự thật vụ án, ảnh hưởng đến quyền bào chữa của vụ án, và sự im lặng để chờ người bào chữa cũng bị xâm hại Vì thế cho nên, nguyên tắc suy đoán vô tội là nguyên tắc đầu tiên cho sự bảo vệ nhân quyền của bị can, bị cáo Bị can, bị cáo sẽ không được quyền im lặng chờ người bào chữa nếu như ngay từ đầu cơ quan tố tụng định tội cho bị

can, bị cáo Nguyên tắc suy đoán vô tội còn khẳng định: Bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình sự vô tội của mình Như vậy, đồng nghĩa với việc bị can,

bị cáo không có nghĩa vụ phải trả lời các câu hỏi của cơ quan quan tiến hành tố tụng

Trang 26

Như vậy, quyền im lặng không chỉ là quyền của người bị buộc tội mà còn là nghĩa vụ của bên buộc tội, thể hiện giá trị của văn minh nhân loại trong việc bảo vệ quyền con người Quyền im lặng khi bị bắt ở nhiều quốc gia trên thế giới đã có từ lâu với mục đích đảm bảo tối đa quyền con người, thể hiện sự tôn trọng pháp luật Ở nước

ta pháp luật cũng thể hiện sự tiếp thu tinh thần tiến bộ đó bằng những nguyên tắc trong tố tụng Một người luôn vô tội khi Nhà nước không chỉ ra được những bằng chứng chống lại điều này và chứng minh được họ có tội Suy đoán vô tội là một nguyên tắc tiến bộ, nguyên tắc này bảo vệ chính sách nhân đạo của pháp luật tố tụng hình sự và lợi ích của người bị truy cứu trách nhiệm hình sự là khi cơ quan tố tụng không chứng minh được hành vi phạm tội thì phải suy đoán theo hướng ngược lại Nguyên tắc này loại trừ định kiến người bị truy tố là nhất định có tội và đối xử như với người có tội, kết tội một chiều trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử Do đó cần có quy định về quyền im lặng của bị can, bị cáo nhằm mục đích tôn trọng, đảm bảo quyền lợi của họ, họ có quyền không trả lời những câu hỏi gây bất lợi cho họ Mọi người điều có quyền nói và có quyền im lặng không lý do gì Hiến pháp nước ta quy định tại Điều 25 Hiến Pháp 2013 quyền tự do ngôn luận là quyền con người mà quyền im lặng không phải là quyền con người, cho dù là người đó đã thực hiện hành vi phạm tội hay không

Trang 27

CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH GIÁN TIẾP VỀ QUYỀN IM LẶNG CỦA

BỊ CAN, BỊ CÁO TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 2.1 Quyền im lặng trong Hiến pháp

2.1.1 Giới thiệu về quyền im lặng theo tinh thần của luật Hiến pháp

Ngày nay, với sự phát triển của giá trị nhân đạo, cộng đồng quốc tế càng quan tâm nhiều hơn về vấn đề nhân quyền Tiếp thu tinh thần đó, Hiến pháp nước ta trải qua

5 lần sửa đổi và đến nay Hiến pháp 2013 đã có riêng một chương giành riêng khi nói

về quyền con người, quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật Song song đó thì, Việt Nam cũng là một trong những nước sớm phê chuẩn Công ước quốc tế về nhân quyền, vì vậy mà trong bản hiến pháp mới- Hiến pháp 2013 mang nhiều đổi mới quan trọng so với những bản Hiến pháp trước đây Trong đó có vấn đề quyền con người và quyền bình đẳng, đây là một điểm nhấn quan trọng khẳng định việc kế thừa, phát huy

và khẳng định nhiều nội dung về nhân quyền từ các bản Hiến pháp trước đó So với Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013 có những phát triển quan trọng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Đồng thời Hiến pháp sắp xếp lại các điều khoản theo đó nhóm quyền để đảm bảo tính thống nhất giữa quyền con người và quyền công dân Hiến pháp mới khẳng định mạnh mẽ mọi công dân Việt Nam đều bình đẳng, không phân biệt đối xử trước pháp luật Từ góc độ của Hiến pháp thì mọi quy định của pháp luật đều nhằm mục đích bảo đảm quyền con người và quyền bình đẳng của công dân Quyền con người ở đây sẽ được thể hiện rõ thông qua hoạt động tố tụng, họ có quyền đưa ra tài liệu chứng cứ, đưa ra yêu cầu và đặc biệt là về quyền trình bày lời khai của mình Khi bị can, bị cáo bị buộc tội bởi cơ quan tiến hành tố tụng thì pháp luật sẽ đảm bảo cho họ những quyền cơ bản của công dân, trong những quyền đó

có thể xét đến quyền được giữ im lặng thông qua quyền trình bày lời khai trước cơ quan tiến hành tố tụng

Theo như những nguyên tắc cơ bản trong Điều ước quốc tế về nhân quyền, quyền con người như quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể và nguyên tắc suy đoán vô tội những nội dung này liên quan đến quyền con người đã được quy định tại chương 2 Hiến pháp 2013 Vấn đề quyền con người được thể hiện ở rất nhiều khía cạnh trong pháp luật Cụ thể, trong việc áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội đã khẳng định giá trị cơ bản của quyền công dân trước pháp luật, mọi công dân điều được xem

là vô tội cho đến khi có bản án có hiệu lực pháp luật Điều này đồng nghĩa với việc khẳng định rằng mọi bị can, bị cáo khi bị bắt điều có quyền được suy đoán là vô tội, và khi đã xem bị can, bị cáo là người chưa có tội thì quyền công dân của bị can bị cáo sẽ không thể bị pháp luật hạn chế Một khi bị can, bị cáo không bị hạn chế về quyền công dân thì họ có thể thực hiện quyền tự do cơ bản của công dân mà điển hình là quyền im

Trang 28

lặng trong quá trình lấy lời khai của cơ quan tiến hành tố tụng Quyền im lặng trong quá trình lấy lời khai của bị can, bị cáo là hoàn toàn hợp pháp, tuân thủ theo tinh thần

của Hiến pháp và đảm bảo về nhân quyền không bị xâm phạm Việc thực hiện “quyền

im lặng” trong Hiến pháp hiện nay là hoàn toàn tiến bộ, phù hợp với tinh thần hiến

pháp mới và cũng là thực hiện theo như Công ước chống tra tấn mà Việt Nam đã tham gia Bên cạnh đó thì, Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân, bản chất của Nhà nước ta là nhà nước dân chủ Vì vậy, việc tôn trọng và đảm bảo các quyền cơ bản của công dân mà đặc biệt là quyền con người và quyền bình đẳng là một trong những nhiệm vụ của pháp luật nói chung cũng như luật tố tụng hình sự nói riêng

2.1.2 Một số quy định liên quan gián tiếp đến quyền im lặng

2.1.2.1 Quyền con người

Tư tưởng về “quyền con người” -“rights of human person” xuất hiện từ rất

sớm trong lịch sử loài người, quyền con người xuất phát từ các quyền thiêng liêng, tự nhiên, vốn có của con người, không do chủ thể nào ban phát27 Quyền con người từ góc độ pháp lý là một phạm trù đa diện, song quyền con người có mối liên hệ gần gũi hơn cả với pháp luật Điều này trước hết là bởi cho dù quyền con người có là bẩm sinh, vốn có (nguồn gốc tự nhiên) thì việc thực hiện các quyền vẫn cần có pháp luật Hầu hết những nhu cầu vốn có, tự nhiên của con người không thể được bảo đảm đầy

đủ nếu không được ghi nhận bằng pháp luật, mà thông qua đó, nghĩa vụ tôn trọng và thực thi các quyền trở thành những quy tắ cư xử chung, có hiệu lực bắt buộc và thống nhất cho tất cả mọi chủ thể trong xã hội, chứ không phải chỉ tồn tại dưới dạng những quy tắc đạo đức, chính vì vậy quyền con người gắn liền với các quan hệ pháp luật28

Do đó, trong lịch sử lập pháp của Nhà nước ta, quyền con người luôn được cụ thể hóa bằng những quyền cơ bản của công dân Vì vậy, những người làm luật luôn hoàn thiện chế định pháp luật về quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp và luôn gắn liền giữa quyền và nghĩa vụ của công dân

Quyền con người được diễn đạt dưới nhiều góc độ khác nhau, tùy thuộc vào bối cảnh xã hội, mục tiêu và định hướng của mỗi thể chế chính trị và quan điểm của từng giai cấp cầm quyền và hoàn cảnh nhu cầu của mỗi chủ thể Hiến pháp Việt Nam đã chuyển chương quyền con người và quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân từ chương

5 của hiến pháp năm 1992 thành chương 2 của bản Hiến pháp 2013 Như vậy, lần đầu tiên Hiến pháp Việt Nam đã tách riêng quy định về quyền con người và quyền công

27

Nguyễn Quốc Huy, Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền cơ bản của công dân, Tạp chí

Nghiên cứu lập pháp, số 12(268) kỳ 2- tháng 06/2014 trang 10

28

Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con

người, Đại học quốc gia Hà Nội, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2009 trang 53

Trang 29

dân, đặt quyền con người lên trước quyền công dân và đề cao giá trị của nhân quyền lên hàng đầu Hiến pháp khẳng định và làm rõ hơn các nguyên tắc về quyền con người,

quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo hướng: Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng29

; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác30 Từ những điều này

ta có thể thấy rằng trong sự vận hành của quyền lực nhà nước, và việc áp dụng pháp luật trong tố tụng hình sự là sự bảo đảm về con người cho mỗi công dân và quan trọng

là quyền con người của người bị tình nghi là tội phạm mà cụ thể là bị can, bị cáo Pháp luật bảo đảm quyền con người của bị can, bị cáo thông qua việc ngăn chặn sự vi phạm quyền con người thông qua những quy định cụ thể trong Hiến pháp như khoản 1 Điều

20 Hiến pháp 2013 “ Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm” Đây là sự kế thừa các giá trị tiến bộ của các bản Hiến

pháp trước đây Hiến pháp 194631

, Hiến pháp 195932, Hiến pháp 198033 và Hiến pháp

199234 Quy định bảo đảm sự đúng đắn về quyền bất khả xâm phạm về thân thể là một trong những quyền quan trọng nhất của con người được quy định trong Hiến pháp, góp phần bảo vệ quyền tự do, dân chủ của công dân

Bên cạnh đó, trong công tác đấu tranh ngăn ngừa và chống tội phạm là một trong những nhiệm vụ của Nhà nước mà trực tiếp là các Cơ quan tiến hành tố tụng có nhiệm vụ điều tra, truy tố và xét xử, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình các cơ quan này cần phải áp dụng các biện pháp hợp pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định Bởi lẽ, dù ở bất kỳ cấp nào thì nếu xảy ra sai sót trong quá trình tố tụng thì cũng sẽ dẫn đến sự xâm phạm nhân quyền mà cụ thể là quyền con người và quyền bình đẳng Đây là nhiệm vụ mà nhà nước ta giao cho Cơ quan tiến hành tố tụng, mọi biện pháp tiến hành tố tụng đều phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật Để phòng ngừa những hành vi vi phạm quyền con người, thì tại Điều 71 Hiến pháp 1992

đã nêu rõ “Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân” và khoản 1 Điều 20 Hiến pháp 2013 có quy định “Mọi người có

Trang 30

quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”, đến khoản 1 Điều 31 cũng nêu lên “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”, như vậy Hiến pháp nước ta đã làm rõ những hành vi biểu hiện cụ thể để nhằm

nghiêm cấm và bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực tố tụng hình sự Việc quy định bảo đảm không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình trong lĩnh vực tố tụng có ý nghĩa lớn mang tính phòng ngừa của các nhà lập pháp nhằm làm cơ sở cho việc xử lý

vi phạm quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự Đồng thời trong Bộ luật hình sự năm 1999 tại Chương XXII về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp cũng quy định về Tội dùng nhục hình (Điều 298), Tội bức cung (Điều 299) nhằm mục đích bảo

vệ nhân quyền cho người bị tình nghi có hành vi phạm tội mà cụ thể ở đây là bị can, bị cáo Có thể nói, với những quy định về đảm bảo sự đúng đắn khi buộc tội, người bị buộc tội (ở đây là bị can, bị cáo) vẫn được coi là những con người bình thường, việc coi họ là người không có tội cho đến khi có bản án quyết định của Tòa án còn tạo điều kiện cho tòa án có được sự đánh giá công tâm, khách quan và Tòa án lúc này chỉ đóng vai trò như một trọng tài phán xét cho bên buộc tội và bên bị buộc tội

Mặt khác thì, nhìn từ góc độ pháp luật thì những quy định của hiến pháp nước

ta là nhằm mục đích bảo đảm quyền con người cho công dân nói chung và quyền cho

bị can, bị cáo nói riêng cũng chính là sự bảo đảm về quyền và lợi ích hợp pháp cho họ không bị xâm hại Trong nhóm quyền đó bao gồm cả quyền trình bày lời khai trước cơ quan tiến hành tố tụng, việc không trình bày lời khai là hoàn toàn phù hợp với hiến pháp và pháp luật, mà quyền không trình bày lời khai cũng chính là quyền được giữ im lặng Từ những phân tích trên người viết thấy rằng những quy định mới của Hiến pháp

về xét xử đã đặt ra yêu cầu mới đối với cơ quan tiến hành tố tụng hình sự dưới góc độ bảo đảm quyền con người trong tố tụng Việc tôn trọng quyền đối với người bị tình nghi là có hành vi phạm tội cũng chính là nghĩa vụ mà cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện Cơ quan tiến hành hoạt động tố tụng phải dựa trên cơ sở tôn trọng quyền con người của bị can, bị cáo, mà cụ thể chính là tôn trọng quyền im lặng của bị can, bị cáo Đây cũng chính là sự tôn trọng những quy định của hiến pháp và pháp luật đảm bảo theo tinh thần nhân đạo mà pháp luật đã đặt ra cho những cơ quan tiến hành tố tụng trong việc đảm bảo nhân quyền mà hiện nay đang được rất nhiều nước trên thế giới quan tâm và thực hiện

2.1.2.2 Quyền bình đẳng

Quyền bình đẳng trước pháp luật là một quyền con người Đó là quyền được xác lập tư cách con người trước pháp luật; không bị pháp luật phân biệt đối xử, quyền

Trang 31

có vị thế ngang nhau trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ như nhau35 Bình đẳng trước pháp luật là một trong những nguyên tắc cơ bản, được thể chế hóa trong nhiều văn kiện quốc tế và quốc gia Điều 6 Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 tuyên

bố: "Mọi người đều có quyền được công nhận tư cách là con người trước pháp luật ở mọi nơi" Điều 7 Tuyên ngôn tiếp tục khẳng định: "Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất cứ sự phân biệt nào" Điều 26 Công ước về quyền dân sự, chính trị năm 1966 của Liên Hợp quốc

(trong đó Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982) cụ thể hóa hơn về cơ chế bảo vệ quyền

bình đẳng trước pháp luật: "Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào Về mặt này, pháp luật phải nghiêm cấm mọi sự phân biệt đối xử và đảm bảo cho mọi người sự bảo hộ bình đẳng và có hiệu quả chống lại những phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc các địa vị khác” 36

Quyền bình đẳng trước pháp luật phản ánh những nội dung căn bản, đó là: tất

cả mọi người đều có vị thế ngang nhau trước pháp luật và có quyền không bị phân biệt đối xử, bình đẳng trước pháp luật; đồng thời bên cạnh đó thì pháp luật là thước đo chuẩn mực của bình đẳng, là công cụ để bảo đảm sự bình đẳng giữa con người với con người Bất kỳ công dân nào vi phạm pháp luật đều bị xử lí bằng các chế tài theo quy định của pháp luật Quyền bình đẳng trước pháp luật được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đặc biệt là các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội nhất là quyền bình đẳng trong lĩnh vực pháp lý Quyền và nghĩa vụ của công dân không bị phân biệt bởi giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, giàu nghèo, thành phần

xã hội, địa vị xã hội… Trong cùng một điều kiện như nhau, công dân được hưởng quyền và nghĩa vụ như nhau, có tư cách pháp lý như nhau Khi chúng ta tham gia trong những mối quan hệ pháp luật hay quan hệ xã hội quyền con người luôn đứng trước nguy cơ bị xâm hại từ nhiều phía Đó có thể là các cá nhân khác trong xã hội, cũng có thể từ phía công quyền Khi những quyền đó bị xâm hại dưới góc độ bình đẳng trước

35

Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Hiến pháp Việt Nam và quyền bình đẳng trước pháp luật., Đinh

Thế Hưng Nguồn: dang-truoc-phap-luat.html?TabId=&pos [ Ngày truy cập 30/09/2014].

http://tks.edu.vn/portal/detailtks/6261_67_0_Hien-phap-Viet-Nam-va-quyen-binh-36

Viện kiểm sát nhân dân Hải Phòng, Nguyên tắc” Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” theo

quy định của Hiến pháp sửa đổi năm 2013, Nguyễn Hồng Ly Nguồn:

dang-truoc-phap-luat theo-quy-dinh-cua-Hien-phap-sua-doi-nam-2013.[ Ngày truy cập:30/09/2014]

Trang 32

http://vienkiemsathaiphong.gov.vn/index.php/home/detail/1087/Nguyen-tac Moi-nguoi-deu-binh-pháp luật, con người đều có quyền được http://vienkiemsathaiphong.gov.vn/index.php/home/detail/1087/Nguyen-tac Moi-nguoi-deu-binh-pháp luật bảo vệ như nhau với các quyền pháp lý nhất định

Bảo vệ quyền bình đẳng cũng là cơ sở để bảo vệ các quyền khác của con người Nội dung của quyền bình đẳng trong việc bảo vệ quyền này đòi hỏi mọi hành vi vi phạm đều phải bị xử lý như nhau trước pháp luật Bên cạnh đó thì, Tòa án đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bảo vệ quyền con người và quyền bình đẳng trước pháp luật Tòa án được quyền nhân danh Nhà nước để ra phán quyết cuối cùng về một sự việc

pháp lý nhất định, trong đó, có quyền kết luận người nào đó có tội hay vô tội, nên phán

quyết của Tòa án là quyết định ảnh hưởng trực tiếp đến mỗi cá nhân

Vì vậy, bảo đảm tính công bằng, khách quan và vô tư trong hoạt động xét xử cũng chính là bảo vệ quyền con người Về hoạt động xét xử của Tòa án, xét xử công bằng là tiền đề bảo vệ công lý và bảo vệ quyền con người theo đúng tinh thần của hiến pháp đã đặt ra và cũng như đã được ghi nhận trong khoản 1 Điều 14 Công ước về

quyền dân sự chính trị: “Mọi người đều bình đẳng trước các tòa án và cơ quan tài phán Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một tòa án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật để quyết định

về lời buộc tội người đó trong các vụ án hình sự, hoặc để xác định quyền và nghĩa vụ của người đó trong các vụ kiện dân sự báo chí và công chúng có thể không được phép tham dự toàn bộ hoặc một phần của phiên tòa vì lý do đạo đức, trật tự công cộng hoặc

an ninh quốc gia trong một xã hội dân chủ, hoặc vì lợi ích cuộc sống riêng tư của các bên tham gia tố tụng, hoặc trong chừng mực cần thiết, theo ý kiến của tòa án, trong những hoàn cảnh đặc biệt mà việc xét xử công khai có thể làm phương hại đến lợi ích của công lý Tuy nhiên, mọi phán quyết trong vụ án hình sự hoặc vụ kiện dân sự phải được tuyên công khai, trừ trường hợp vì lợi ích của người chưa thành niên hay vụ việc

So với các quy định của các bản Hiến pháp trước đây thì quy định Hiến pháp năm 2013 về quyền bình đẳng trước pháp luật được thể hiện đầy đủ, cụ thể hơn: Hiến pháp năm 2013 khẳng định bình đẳng trước pháp luật là quyền con người Việc quy định theo hướng mở rộng đối tượng có quyền bình đẳng trước pháp luật như trên cho thấy Việt Nam ghi nhận quyền bình đẳng trước pháp luật là quyền tự nhiên của con người trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội Pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng, không phân biệt đối xử đối với mọi người trong việc hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa

vụ Theo đó quyền bình đẳng trước pháp luật được cụ thể hóa trong các lĩnh vực cụ thể của quan hệ pháp luật Về quan hệ pháp luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

37

Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con

người, Nxb Chính trị quốc gia- năm 2009, trang 211

Trang 33

xác định là một trong những nguyên tắc cơ bản đầu tiên, chi phối toàn bộ quá trình tố tụng hình sự, từ điều tra, truy tố đến xét xử vụ án hình sự Đảm bảo quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật được quy định tại Điều 52 của Hiến pháp 1992 và Điều 16 của Hiến pháp 2013 và những quy định này đã được cụ thể bằng Điều 5 của

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước

pháp luật: “Tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật”, xác định vị

trí của mọi người như nhau trong lĩnh vực hoạt động nhà nước và xã hội cũng như tham gia các hoạt động tố tụng hình sự và không có sự phân biệt về đối xử

Trong tố tụng hình sự thì quyền đẳng này thể hiện qua việc: Bất cứ người nào phạm tội, dù họ là ai cũng bị xử lý theo luật hình sự, pháp luật không có quy định riêng cho từng công dân cụ thể, tài sản và địa vị xã hội không mang lại đặc quyền trước tòa án và pháp luật Mọi người đều có quyền và nghĩa vụ như nhau khi tham gia

tố tụng hình sự38 Đồng thời, tại Điều 19 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 khi nói về

việc mọi công dân đều bình đẳng trước tòa án “Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Toà án Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án”, cũng đã nêu lên rõ

quan điểm để cho một vụ án được giải quyết một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ thì bên buộc tội, bên bị buộc tội, gỡ tội và những người có quyền và lợi ích hợp pháp cần được giải quyết trong vụ án đều phải được bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ

và bình đẳng trong việc đưa ra những yêu cầu trước tòa án Nguyên tắc này thể hiện cụ thể nguyên tắc cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa là mọi công dân bình đẳng trước pháp luật và cụ thể mọi công dân đều bảo đảm có quyền bình đẳng trước tòa án trong việc đưa ra chứng cứ để chứng minh sự thật khách quan của vụ án, Tòa án chỉ giữ vị trí là người trọng tài công minh, đúng pháp luật

Như vậy, quyền bình đẳng trước pháp luật đó là quyền không bị pháp luật phân biệt đối xử trong việc hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ Việc bảo đảm quyền bình đẳng theo tinh thần của Hiến pháp chính là sự bảo đảm về quyền và nghĩa

vụ của công dân và đặc biệt là những chủ thể tham gia tố tụng trong tố tụng hình sự, mọi chủ thể tham gia tố tụng đều có quyền và nghĩa vụ ngang bằng nhau, không có sự

38Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb.Công an nhân dân, năm

2007, trang 64 - 65.

Trang 34

phân biệt giữa chủ thể này với chủ thể kia về quyền trước các cơ quan tiến hành tố tụng Sự ngang bằng về quyền và nghĩa vụ này thể hiện thông qua hoạt động xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng, tiến hành tố tụng trong khuôn khổ tôn trọng quyền

và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng đặc biệt là bị can, bị cáo họ là đối tượng bị tình nghi của vụ án

Bị can, bị cáo cần phải được đối xử công bằng trong hoạt động tố tụng, họ được hưởng những quyền mà pháp luật tố tụng hình sự quy định tai Điều 49 và Điều 50 của

Bộ luật tố tụng hình sự 2003, không thể vì họ là đối tượng đang bị buộc tội mà xem nhẹ quyền và lợi ích của họ hơn các chủ thể tham gia tố tụng khác Khi chúng ta tôn trọng quyền bình đẳng của bị can, bị cáo thì cũng chính là ta đang bảo vệ quyền con người cho bị can, bị cáo không bị xâm hại và đồng thời cũng chính là tạo điều kiện cho

bị can, bị cáo được thực hiện quyền im lặng Bởi lẽ, khi các chủ thể tham gia tố tụng được bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ thì tất cả các chủ thể này điều được tạo điều kiện cho mình thực hiện quyền của mình và được pháp luật bảo đảm cho việc thực hiện đó không bị xâm phạm Quyền không trình bày lời khai cũng vì thế mà không bị xâm hại, bị can bị cáo sẽ không bị buộc phải trả lời bất kỳ câu hỏi nào của cơ quan tiến hành tố tụng

2.2 Quyền im lặng trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam

2.2.1 Giới thiệu về quyền im lặng trong Bộ luật tố tụng hình sự

Khi chúng ta nói đến cơ chế đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị can,

bị cáo trong tố tụng hình sự tức là đề cập đến những trình tự, thủ tục pháp lý cụ thể cũng như trách nhiệm của các chủ thể có liên quan bảo đảm cho việc triển khai các

quyền và nghĩa vụ pháp lý của bị can, bị cáo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy

định rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng, nhất là xác định trách nhiệm cụ thể của từng chức danh tố tụng như Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó Chánh án Toà án

từ Điều 34 đến Điều 41 trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003 Với những quy định này, thì bất kỳ sự không thực hiện, thực hiện không đúng hay không đầy đủ chức trách của những người tiến hành tố tụng sẽ là sự vi pháp luật mà cụ thể là vi phạm vào các quyền của người bị buộc tội là bị can, bị cáo

Tương ứng với mỗi quyền mà pháp luật quy định cho bị can, bị cáo là nghĩa vụ tương ứng của các chủ thể tiến hành tố tụng Người bị tạm giữ, bị can hay bị cáo chỉ là các tên gọi khác nhau của cùng một người khi ở các giai đoạn tố tụng khác nhau Do vậy, ngoài những quyền chung của từng đối tượng thì họ có các quyền riêng khi ở các giai đoạn khác nhau Chẳng hạn, liên quan đến những quyền riêng, quyền của bị can theo Điều 49 của Bộ luật tố tụng hình sự thì quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì, hay quyền được trình bày lời khai Việc pháp luật quy định bị can được biết mình bị

Trang 35

khởi tố về tội gì là biểu hiện sự công minh của pháp luật Quy định này buộc cơ quan tiến hành tố tụng phải thận trọng và chỉ khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự 1999 bảo vệ mới được ra quyết định khởi tố bị

can Bên cạnh đó, thì quyền trình bày lời khai cũng là quyền mà bị can, bị cáo được

thể hiện quan điểm của mình nhằm chống lại sự buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng bằng hình thức giữ im lặng mà người viết muốn hướng đến, khi pháp luật tố tụng hình

sự đã quy định việc trình bày lời khai là quyền chứ không phải là nghĩa vụ thì việc khai hay không khai của bị can trước cơ quan tố tụng đó sẽ là bản thân bị can quyết định Nghĩa vụ của cơ quan tiến hành tố tụng lúc này cần phải làm chính là tôn trọng quyền của bị can, bởi lẽ bảo đảm quyền của bị can cũng là đang thực hiện đúng theo quy định của hiến pháp và pháp luật là tôn trọng và bảo vệ những quyền cơ bản của công dân Đồng thời, trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003 cũng chưa có điều nào quy định hành vi không khai của bị can trước cơ quan tiến hành tố tụng là đang vi phạm pháp luật, việc khai báo thành khẩn trước cơ quan tiến hành tố tụng cũng chỉ là tình tiết giảm nhẹ trong luật hình sự hiện hành chứ nó cũng không phải là tình tiết tăng nặng khung hình phạt cho bị can hay bị cáo

Mặt dù, chưa có quy định cụ thể ghi nhận rằng bị can được quyền im lặng trong quá trình tố tụng nhưng việc bảo đảm quyền cho bị can về trình bày lời khai hay không trình bày thì đó cũng là đang nói một cách gián tiếp đến việc giữ im lặng không trình bày lời khai là quyền hợp pháp của bị can Khi đã xem là quyền thì việc thực hiện nó hay thực hiện như thế nào đó đều nằm trong sự quyết định của chủ thể mà cụ thể ở đây

là bị can Đối với bị cáo, tuy không có quy định về quyền trình bày lời khai như của bị can nhưng sự im lặng của bị cáo trước Tòa án vẫn được chấp nhận ở cách này hay cách khác, ví dụ như tại khoản 4 Điều 209 Bộ luật tố tụng hình sự khi nói về việc bị

cáo không trả lời câu hỏi “Nếu bị cáo không trả lời các câu hỏi thì Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự tiếp tục hỏi những người khác và xem xét vật chứng, tài liệu có liên quan đến vụ án” Trong trường hợp này luật đã giả định rằng “nếu bị cáo không trả lời” thì chuyển sang “hỏi người khác và xem xét vật chứng, tài liệu có liên quan”, đều này đã khẳng định việc bị

cáo không muốn trả lời những câu hỏi của cơ quan tiến hành tố tụng thì bị cáo cũng không bị ép buộc phải trả lời, và cũng không bị chế tài trong trường hợp này Vậy ta cũng có thể thấy rằng, luật đã và đang nhìn nhận một cách gián tiếp về quyền im lặng của bị cáo Bị cáo không bị buộc phải trả lời câu hỏi mà Hội đồng xét xử yêu cầu trả lời

Pháp luật hiện nay cũng đang có những quy định cụ thể nhằm bảo vệ những quyền này mà cụ thể là sự gián tiếp của quyền im lặng trong quá tình tố tụng, không bị xâm hại như tại Điều 4 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có quy định về tôn trọng và

Trang 36

bảo vệ các quyền cơ bản của công dân như sau: “Khi tiến hành tố tụng, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa.” Nguyên tắc này có tính khái quát cao,

các quyền cơ bản của công dân là các quyền đã được quy định trong Hiến pháp, nhiều thể hiện cụ thể của nguyên tắc này đã được quy định thành những nguyên tắc khác trong tố tụng hình sự như : Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật; Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân; Bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân39 Nội dung của nguyên tắc tại Điều 4 này đã xác định trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng trong việc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân là phải tôn trọng và bảo vệ các quyền

và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng, chỉ áp dụng các biện pháp tố tụng trong những trường hợp cần thiết và theo đúng quy định của pháp luật Việc bảo đảm cho quyền được im lặng của bị can và bị cáo được thực hiện và trở thành những quy định mang tính trực tiếp là một việc vô cùng quan trọng đối với pháp luật nói chung và luật tố tụng hình sự nói riêng Bởi lẽ khi những quy định về quyền im lặng này tuy không được quy định trực tiếp bằng một câu chữ cụ thể nhưng nó lại có thể đang được bị can, bị cáo thực hiện, và vì chưa có quy định cụ thể nên việc thực hiện quyền im lặng của bị can, bị cáo đã mang đến nhiều hệ lụy trong quá trình tố tụng Do nhiều nguyên nhân như bị can, bị cáo không thể hiểu hết được vấn đề nên im lặng trong thời điểm nào, im lặng trong bao lâu hay im lặng để bảo vệ quyền và lợi ích của mình như thế nào là đúng theo pháp luật

Đồng thời, nhằm đáp ứng theo phương hướng mà Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đưa

ra là “Hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự và dân sự phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người” Đồng thời, chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 với mục tiêu

nhằm: Bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử; bảo đảm xét xử đúng người đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô

39Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, năm

2007, trang 62

Trang 37

tội40 Do đó, trong mỗi khâu công tác đều phải coi việc bảo vệ quyền con người, quyền

và nghĩa vụ của công dân, đảm bảo quyền bình đẳng của mọi người là điều kiện tiên quyết để đánh giá việc giải quyết các vụ việc đúng pháp luật Bên cạnh thì đối với trách nhiệm của ngành Kiểm sát nhân dân trong việc triển khai thi hành quy định của

Hiến pháp 2013 về nguyên tắc mọi người bình đẳng trước pháp luật: Viện kiểm sát

nhân dân là cơ quan tư pháp có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt

động tư pháp, có nhiệm vụ "bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của

tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” 41

Quyền con người mà cụ thể ở đây là quyền im lặng trong tố tụng hình sự tuy chưa phải là quyền được quy định một cách trực tiếp bằng câu chữ rõ ràng trong luật nhưng nó vẫn có thể được các chủ thể tham gia tố tụng sử dụng một cách gián tiếp nhằm mục đích bảo vệ bản thân trước cơ quan tiến hành tố tụng, và đồng thời quyền

im lặng cũng đang được cơ quan tiến hành tố tụng bảo đảm không bị xâm hại bằng nguyên tắc tại Điều 4 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân cụ thể là quyền trình bày lời khai Mặt dù, luật tố tụng hình

sự tuy chưa quy định trực tiếp về quyền im lặng nhưng cơ bản thì quyền này đã được quy định gián tiếp qua các Điều 4, 10, 49, 50 và 209 của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành

2.2.2 Một số quy định liên quan gián tiếp đến quyền im lặng

2.2.2.1 Bị can, bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh về sự vô tội của mình

Bị can, bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh về sự vô tội của mình đây là một phần quan trọng của nguyên tắc xác định sự thật của vụ án (Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự 2003) Việc xác định sự thật của vụ án là một nguyên tắc rất quan trọng của tố tụng hình sự, bảo đảm việc xử lý vụ án được công minh, không để lọt tội phạm đồng thời không là oan người vô tội Chúng ta xác định rằng tố tụng hình sự là hoạt động giải quyết vụ án hình sự Giải quyết vụ án hình sự là làm rõ sự thật khách quan của vụ

án hình sự và áp dụng các quy định của pháp luật vào việc xử lý vụ án Để truy cứu trách nhiệm hình sự một người, Cơ quan tiến hành tố tụng phải có những chứng cứ chứng minh hành vi của người đó là tội phạm, nếu không đủ chứng cứ thì không thể buộc tội và truy cứu trách nhiệm hình sự người đó được Không thể áp dụng đúng pháp luật để giải quyết vụ án nếu không làm rõ được sự thật của vụ án Nguyên tắc này

40Xem thêm Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, Giáo trình lý luận pháp luật về

quyền con người, Nxb Chính Trị quốc gia, năm 2009, trang 692

41 Khoản 3, Điều 107, Hiến pháp 2013.

Ngày đăng: 03/10/2015, 05:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Công ước quốc tế về Các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hợp quốc. (Ronald Banaszak, Fair Trial Rights of the Accused, Greenwood Press, năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fair Trial Rights of the Accused
Tác giả: Ronald Banaszak
Nhà XB: Greenwood Press
Năm: 2002
1. Alan B.Morrison, Fundamentals of American Law ( Những vấn đề cơ bản của Luật pháp Mỹ), Khoa học luật Trường Đại học New York, Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fundamentals of American Law ( Những vấn đề cơ bản của Luật pháp Mỹ)
Tác giả: Alan B. Morrison
Nhà XB: Khoa học luật Trường Đại học New York
Năm: 2007
2. Phạm Văn Beo, Giáo trình luật Hình sự Việt Nam-phần chung, Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội- 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật Hình sự Việt Nam-phần chung
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội- 2009
4. Mạc Giáng Châu, Nguyễn Chí Hiếu, Giáo trình luật tố tụng hình sự- học phần 1, Nxb. Đại học Cần Thơ, năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật tố tụng hình sự- học phần 1
Nhà XB: Nxb. Đại học Cần Thơ
5. Nguyễn Ngọc Chí, Các nguyên tắc cơ bản trong Luật Tố tụng Hình sự- những đề xuất sửa đổi, bổ sung, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế- luật 24(2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nguyên tắc cơ bản trong Luật Tố tụng Hình sự- những đề xuất sửa đổi, bổ sung
6. Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb. Chính trị quốc gia- năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia- năm 2009
7. Quách Dương, Tìm hiểu quy định pháp luật về người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, Nxb. Tư pháp, năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu quy định pháp luật về người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
8. Mai Thanh Hiếu, Nguyễn Chí Công, Trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự, Nxb. Lao động- Xã hội, năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự
Nhà XB: Nxb. Lao động- Xã hội
9. Phạm Mạnh Hùng, Nguyên tắc suy đoán vô tội trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam.Theo Tạp chí Kiểm soát số 15/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc suy đoán vô tội trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam
10. Nguyễn Quốc Huy, Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền cơ bản của công dân, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 12(268) kỳ 2- tháng 06/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền cơ bản của công dân
Tác giả: Nguyễn Quốc Huy
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Năm: 2014
11. Lương Liễu, Nếu có căn cứ cần cho đối chất giữa điều tra viên và bị cáo ngay tại Tòa. Báo Đời sống và pháp luật, số 121, ngày 8/10/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếu có căn cứ cần cho đối chất giữa điều tra viên và bị cáo ngay tại Tòa
Tác giả: Lương Liễu
Nhà XB: Báo Đời sống và pháp luật
Năm: 2014
13. Phan Tuấn, Hiến định “quyền được suy đoán vô tội” thì cũng nên luật hóa “quyền im lặng”. Báo Đời sống và pháp luật, Số 119- Ngày 03/10/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến định “quyền được suy đoán vô tội” thì cũng nên luật hóa “quyền im lặng”
Tác giả: Phan Tuấn
Nhà XB: Báo Đời sống và pháp luật
Năm: 2014
14. Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb.Công an nhân dân, năm 2007. Danh mục các trang thông tin điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb.Công an nhân dân
Năm: 2007
1. Báo điện tử An ninh pháp luật, Những vụ án nhận tội thay người. Nguồn: http://vietbao.vn/An-ninh-Phap-luat/Nhung-vu-an-nhan-toi-thay-nguoi/55055977/218/. [ Ngày truy cập:30/08/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vụ án nhận tội thay người
2. Báo điện tử An ninh pháp luật, Kỳ án vườn mít: Lê Bá Mai sẽ vô tội hay bị kháng nghị tăng án tử hình? Nguồn: http://vietbao.vn/An-ninh-Phap-luat/Ky-an-vuon-mit-Le-Ba-Mai-se-vo-toi-hay-bi-khang-nghi-tang-an-tu-hinh/2131863083/302/. [Ngày truy cập: 15/10/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỳ án vườn mít: Lê Bá Mai sẽ vô tội hay bị kháng nghị tăng án tử hình
Tác giả: Báo điện tử An ninh pháp luật
3. Báo điện tử Đời sống và Pháp luật, Viết tiếp “ vụ Nguyễn Thanh Chấn thứ hai rung động tỉnh Sóc Trăng”, Thanh Lâm. Nguồn:http://www.doisongphapluat.com/phap-luat/nghi-an-dieu-tra/viet-tiep-vu-nguyen-thanh-chan-thu-hai-rung-dong-tinh-soc-trang-a35436.html [Ngày truy cập: 6/10/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết tiếp “ vụ Nguyễn Thanh Chấn thứ hai rung động tỉnh Sóc Trăng”
Tác giả: Thanh Lâm
Nhà XB: Báo điện tử Đời sống và Pháp luật
4. Báo điện tử Đời sống và Pháp luật, Nên luật hóa quyền im lặng, Phan Tuấn. Nguồn: http://www.doisongphapluat.com/phap-luat/luat-su/pho-chu-tich-hoi-luat-gia-tp-hcm-nen-luat-hoa-quyen-im-lang-a53797.html. [Ngày 18/10/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nên luật hóa quyền im lặng
Tác giả: Phan Tuấn
Nhà XB: Báo điện tử Đời sống và Pháp luật
Năm: 2014
5. Báo điện tử Đời sống và Pháp luật, Án oan Nguyễn Thanh Chấn: Cán bộ làm sai đối mặt 15 năm tù, Long Nguyễn, Cao Tuân. Nguồn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Án oan Nguyễn Thanh Chấn: Cán bộ làm sai đối mặt 15 năm tù
Tác giả: Long Nguyễn, Cao Tuân
Nhà XB: Báo điện tử Đời sống và Pháp luật
6. Báo điện tử Đời sống và pháp luật, Cậu học trò lớp 7 mang án hiếp dâm oan gần 6 năm. Nguồn: http://www.doisongphapluat.com/phap-luat/ho-so-vu-an/cau-hoc-tro-lop-7-mang-an-hiep-dam-oan-gan-6-nam-a39023.html [Ngày truy cập: 20/10/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cậu học trò lớp 7 mang án hiếp dâm oan gần 6 năm
Tác giả: Báo điện tử Đời sống và pháp luật
Nhà XB: Báo điện tử Đời sống và pháp luật
7. Báo điện tử Đời sống và Pháp luật, Xét xử 5 công an dùng nhục hình đánh chết nghi can, Minh Hiền. Nguồn: http://www.doisongphapluat.com/phap-luat/an-ninh-hinh-su/xet-xu-5-cong-an-dung-nhuc-hinh-danh-chet-nghi-can-a27034.html[ Ngày truy cập 22/10/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xét xử 5 công an dùng nhục hình đánh chết nghi can
Tác giả: Minh Hiền
Nhà XB: Báo điện tử Đời sống và Pháp luật

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm