1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quản lý nhà nước về nuôi con nuôi – thực tiễn tại tỉnh cà mau

80 381 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý Nhà nước về nuôi con nuôi tác động liên tục và ổn định lên các yếu tố xã hội khác cụ thể là người nhận con nuôi và trẻ được nhận làm con nuôi phải có nhu cầu phát sinh quan hệ ch

Trang 1

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NUÔI CON NUÔI – THỰC

TIỄN TẠI TỈNH CÀ MAU

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Bộ môn: Luật Hành chính MSSV: 5115814

Lớp: Luật Hành chính - K37

Cần thơ, Tháng 11 năm

2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN - -

Để hoàn thành tốt luận văn của mình, người viết xin trân thành cảm

ơn quý thầy cô trường Đại Học Cần Thơ cũng như quý thầy cô Khoa Luật

đã tạo điều kiện, giúp đỡ và chỉ dạy nhiệt tình để truyền đạt những kiến thức chuyên ngành cho bản thân người viết trong những năm qua

Đặc biệt, người viết xin bày tỏ lòng biết ơn trân thành và sâu sắc đến thầy Nguyễn Hữu Lạc Thầy đã trực tiếp hướng dẫn, góp ý, truyền đạt những kinh nghiệm và kiến thức quý báu cho người viết trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thành đề tài “Quản lý Nhà nước về nuôi con nuôi – thực tiễn tại tỉnh Cà Mau” Xin gửi tới Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau lời cảm tạ sâu sắc vì đã tạo điều kiện thuận lợi giúp người viết thu thập số liệu cũng như những tài liệu có liên quan Bên cạnh đó, sự quan tâm, khuyến khích động viên từ gia đình cũng là yếu tố vô cùng quan trọng để người viết hoàn thành tốt luận văn của mình

Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu do sự hạn chế về kinh nghiệm thực tiễn và kiến thức chuyên ngành nên không tránh khỏi những sai sót, người viết mong nhận được sự góp ý và phê bình của quý thầy cô để luận văn hoàn chỉnh hơn

Xin chân thành cảm ơn.!

Người viết

Võ Thúy Loan

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

- -

Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2014

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

- -

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2014

Trang 7

MỤC LỤC

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Phạm vi nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu của đề tài 2

CHƯƠNG 1: LÍ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NUÔI CON NUÔI 3

1.1 KHÁI QUÁT VỀ NUÔI CON NUÔI, QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NUÔI CON NUÔI 3

1.1.1 Khái quát chung về nuôi con nuôi 3

1.1.2 Quản lý Nhà nước về nuôi con nuôi 5

1.2 SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC NUÔI CON NUÔI 9

1.2.1 Trước khi có Luật Nuôi con nuôi năm 2010 9

1.2.2 Từ khi có Luật Nuôi con nuôi 2010 12

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NUÔI CON NUÔI VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NUÔI CON NUÔI 15

2.1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NUÔI CON NUÔI 15

2.1.1 Điều kiện của các chủ thể theo quy định của pháp luật 15

2.1.2 Tính ý chí của chủ thể trong cho và nhận con nuôi 22

2.1.3 Các hành vi bị cấm trong quản lý Nhà nước về nuôi con nuôi 25

2.2 THẨM QUYỀN, TRÌNH TỰ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VIỆC ĐĂNG KÝ NUÔI CON NUÔI THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT 28

2.2.1 Thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết việc đăng ký nuôi con nuôi trong nước 28

2.2.2 Thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết việc đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 32

Trang 8

2.2.3 Thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi thực tế 39

2.3 LỆ PHÍ ĐĂNG KÝ, CHI PHÍ GIẢI QUYẾT VIỆC NUÔI CON NUÔI TRONG NƯỚC VÀ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 40

2.4 CÁC NGUYÊN TẮC KHI GIẢI QUYẾT VIỆC NUÔI CON NUÔI 41

2.4.1 Khi giải quyết việc nuôi con nuôi, cần tôn trọng quyền của trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc 42

2.4.2 Việc nuôi con nuôi phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người được nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi, tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt nam nữ, không trái pháp luật và đạo đức xã hội 42

2.4.3 Chỉ cho làm con nuôi người ở nước ngoài khi không tìm được gia đình thay thế ở trong nước 43

2.5 QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG VIỆC CHO, NHẬN CON NUÔI VÀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT SAU KHI NHẬN NUÔI CON NUÔI 44

2.5.1 Quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ và con được cho làm con nuôi 44

2.5.2 Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi 45

2.5.3 Hoạt động giám sát sau khi nhận con nuôi 48

2.6 CHẤM DỨT VIỆC NUÔI CON NUÔI VÀ HỆ QUẢ PHÁP LÝ CỦA VIỆC CHẤM DỨT VIỆC NUÔI CON NUÔI 50

2.6.1 Các căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi 49

2.6.2 Hệ quả pháp lý của chấm dứt việc nuôi con nuôi 50

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NUÔI CON NUÔI HIỆN NAY – THỰC TIỄN TẠI TỈNH CÀ MAU 52

3.1 THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NUÔI CON NUÔI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU 52

3.1.1 Tổng quan về Tỉnh Cà Mau 52

3.1.2 Công tác quản lý Nhà nước về nuôi con nuôi trên địa bàn Tỉnh trong 3 năm từ 2011 đến 2013 52

Trang 9

3.1.3 Đánh giá việc thực hiện công tác quản lý Nhà nước về nuôi con nuôi trên

địa bàn Tỉnh Cà Mau 56

3.2 MỘT SỐ KHÓ KHĂN VƯỚNG MẮC TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NUÔI CON NUÔI TRÊN ĐỊA BÀN 58

3.2.1 Khó khăn trong trình tự, thủ tục đăng ký 58

3.2.2 Nuôi con nuôi thực tế 58

3.2.3 Lợi dụng việc cho con nuôi để vi phạm chính sách về dân số, bóc lột, mua bán trẻ em 59

3.2.4 Về khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi trước khi cho con nuôi 60

3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT ĐỂ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NUÔI CON NUÔI 61

3.3.1 Giải pháp hoàn thiện dưới góc độ pháp luật 61

3.3.2 Giải pháp hoàn thiện dưới góc độ địa phương 63

KẾT LUẬN 65 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 10

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

“Trẻ em hôm nay – thế giới ngày mai” Trẻ em là mầm non của đất nước, là tương

lai của quốc gia, là niềm vui của gia đình và xã hội Mọi trẻ em đều có quyền được sống, được phát triển, được bảo vệ trong môi trường an toàn, thân thiện với những điều kiện tốt nhất

Trong điều kiện xã hội hiện tại, đời sống kinh tế xã hội còn khó khăn thì có rất nhiều những trẻ em bất hạnh, mồ côi, bị bỏ rơi, tàn tật… cuộc sống vất vả, thiếu thốn tình cảm của người thân đang rất cần một gia đình mới, trọn vẹn yêu thương Cho nên vấn đề nuôi con nuôi cả trong và ngoài nước hiện nay là vấn đề được xã hội và Nhà nước rất quan tâm, để phần nào chia sẻ những bất hạnh, xoa dịu nỗi đau của các em, để các em có

cơ hội được chăm sóc, giáo dục trong một môi trường mới tốt hơn để phát triển toàn diện

cả thể chất lẫn tinh thần

Nuôi con nuôi không phải là một vấn đề mới mà nó đã xuất hiện từ rất lâu đời, được pháp luật điều chỉnh rất sớm, trải qua thăng trầm của lịch sử và đã trở thành một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật nước ta Việc nuôi con nuôi phải xuất phát từ mục đích quan trọng nhất là tất cả vì lợi ích của người được nhận nuôi, bên cạnh đó cũng phần nào đáp ứng được nhu cầu nhận con nuôi chính đáng của những cặp vợ chồng vô sinh, hiếm con hoặc những người độc thân

Luật Nuôi con nuôi năm 2010 và các văn bản hướng dẫn ra đời là cơ sở pháp lý quan trọng, thể hiện sự quan tâm, lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta Nhằm đảm bảo cho việc tạo mọi điều kiện tốt nhất cho con nuôi cũng như người nhận con nuôi được thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi

Tuy nhiên, để hiểu rõ được những quy định xoay quanh vấn đề nuôi con nuôi như: điều kiện của người nhận nuôi và con nuôi, trình tự thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi, nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi… trong Luật Nuôi con nuôi là không phải dễ

dàng Chính vì vậy, người viết đã chọn đề tài “Quản lý nhà nước về nuôi con nuôi –

thực tiễn tại tỉnh Cà Mau” Với hy vọng giúp mọi người có được cái nhìn chính xác hơn

về chế định nuôi con nuôi, bên cạnh đó cũng góp một phần nhỏ vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về nuôi con nuôi dưới góc độ luật cũng như ở địa phương

Do giới hạn về kiến thức thực tế, trình độ lý luận và năng lực bản thân còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những sai sót trong quá trình nghiên cứu, mong được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của quý thầy cô và bạn bè để bài viết này được hoàn thiện hơn

Trang 11

2 Phạm vi nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài có rất nhiều vấn đề phức tạp xảy ra trong phạm vi nghiên cứu mà việc nghiên cứu thì có giới hạn, có những vấn đề mới và có những quan điểm khác nhau trong các Luật và các văn bản hướng dẫn, cho nên trong phạm vi nghiên cứu này người viết tìm hiểu trên cơ sở lý luận chung và phân tích những quy định chung của pháp luật hiện hành về việc quản lý Nhà nước đối với vấn đề nuôi con nuôi trong nước, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài và nuôi con nuôi thực tế cùng một số tồn tại, bất cập trong công tác quản lý Nhà nước về nuôi con nuôi trên địa bàn tỉnh Cà Mau Bên cạnh đó người viết cũng đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật về việc nuôi con nuôi ở góc độ Luật và địa phương

3 Mục đích nghiên cứu

Trong đề tài này người viết mong muốn tìm hiểu và nghiên cứu sâu những quy định của pháp luật về nuôi con nuôi trong tình hình hiện nay, chỉ ra những thuận lợi cũng như những bất cập cần được giải quyết và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi của công dân khi đăng ký việc nuôi con nuôi Đồng thời, giúp người viết tích lũy thêm những kiến thức cũng như những kỹ năng trong quá trình nghiên cứu, và hệ thống lại những quy định của pháp luật trong việc quản lý Nhà nước về nuôi con nuôi, thông qua đó thấy được vai trò quan trọng của công tác quản

lý nhà nước trong tình hình hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết đã sử dụng một số phương pháp phân tích như: phương pháp phân tích luật viết, phương pháp liệt kê kết hợp với phương pháp thu thập tài liệu, so sánh, đối chiếu vấn đề Ngoài ra, khi tiến hành thực hiện luận văn, để cho việc nghiên cứu một cách nhanh chóng, chính xác người viết đã tiến hành thu thập một số thông tin trên internet, sách, giáo trình của một số nhà nghiên cứu có liên quan đến vấn đề “Quản lý Nhà nước về nuôi con nuôi”

5 Kết cấu của đề tài

Trong đề tài này ngoài lời cảm ơn, lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn còn được chia thành 3 chương với bố cục như sau:

Chương 1: Lí luận chung về quản lý Nhà nước về nuôi con nuôi

Chương 2: Quy định của pháp luật về nuôi con nuôi và công tác quản lý nhà nước về nuôi con nuôi

Trang 12

Chương 3: Thực tiễn và một số kiến nghị trong công tác quản lý nhà nước về nuôi con nuôi hiện nay – thực tiễn tại Tỉnh Cà Mau

Trang 13

1.1.1 Khái quát chung về nuôi con nuôi

1.1.1.1 Khái niệm về nuôi con nuôi

Khái niệm nuôi con nuôi được hiểu khái quát là việc trẻ em được cho đi làm con nuôi ở một gia đình khác trong nước hoặc nước ngoài nhằm xác lập mối quan hệ cha mẹ - con để đảm bảo cho người con nuôi có môi trường sống tốt hơn, được chăm sóc, giáo dục phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội

Tuy trẻ em được người khác nhận làm con nuôi mà không phải do họ sinh ra, nhưng mối quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi đó cũng giống như mối quan hệ giữa cha mẹ đẻ và con đẻ thông thường Tuy nhiên, muốn cho và nhận con nuôi thì phải làm theo một số quy định của pháp luật

Khái niệm nuôi con nuôi tại Điều 3 Luật nuôi con nuôi năm 2010 định nghĩa như

sau: “Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi; Cha mẹ nuôi là người nhận con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký; Con nuôi là người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký”

Khái niệm trên đã chỉ ra đặc điểm của mối quan hệ này là được xác định bằng con đường nuôi dưỡng trên cơ sở pháp luật, nếu như mối quan hệ cha mẹ đẻ - con đẻ được xác định theo con đường huyết thống thì mối quan hệ này có được là dựa trên quyết định của các cơ quan có thẩm quyền, do ý chí mong muốn của các bên và theo một số thủ tục bắt buộc của pháp luật để hình thành nên mối quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi

Tóm lại là, nếu mối quan hệ cha mẹ đẻ và con đẻ là mối quan hệ huyết thống được xác định dựa trên việc sinh đẻ thực tế thì mối quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi là mối quan hệ nuôi dưỡng được xác lập bằng con đường pháp lý

1.1.1.2 Bản chất của việc nuôi con nuôi

Quan hệ cha mẹ nuôi – con nuôi là quan hệ ràng buộc một người vào một hoặc hai người khác, những người có liên quan nhưng không có quan hệ huyết thống với nhau như cha mẹ - con ruột Người nuôi sẽ xem mình như cha mẹ ruột của người được nuôi, sẽ yêu thương chăm sóc như đối với con ruột của mình dù không trực tiếp sinh ra; ngược lại, người được nuôi cũng sẽ xem người nuôi như cha mẹ ruột, có nghĩa vụ phụng dưỡng

Trang 14

chăm sóc đồng thời cũng sẽ được quyền thừa hưởng thừa kế như đối với con ruột

Việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi làm phát sinh giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi đầy đủ các quyền và nghĩa vụ như giữa quan hệ cha mẹ - con ruột thông thường

Có thể nói, bản chất của quan hệ nuôi con nuôi là hình thành nên quan hệ cha mẹ - con giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi trong thực tế cuộc sống cũng như trên mặt pháp lý Quan hệ cha mẹ - con được xác lập phù hợp với mong muốn của các bên, đồng thời họ cũng mong muốn được pháp luật bảo hộ cho mối quan hệ đó trên thực tế xã hội Tuy nhiên, về phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ có thể công nhận việc nuôi con nuôi khi mà các bên đã thể hiện rõ ràng ý chí của mình, đồng thời đáp ứng được các điều kiện theo đúng quy định của pháp luật về nuôi con nuôi

1.1.1.3 Ý nghĩa của việc nuôi con nuôi

Giải pháp cho trẻ em làm con nuôi người khác là giải pháp cuối cùng và cũng là giải pháp có lợi nhất cho các bên Nuôi con nuôi là một hiện tượng đã xuất hiện lâu đời ở các quốc gia trên thế giới và cả Việt Nam, đều được pháp luật của các quốc gia điều chỉnh rất sớm Việc ban hành luật nuôi con nuôi với các điều kiện kèm theo đều nhằm mang lại lợi ích tốt đẹp cho các bên, đồng thời cũng phần nào nói lên truyền thống tốt đẹp nghìn đời của dân tộc, đất nước, con người Việt Nam ta là lòng nhân đạo, yêu thương con người, tinh thần trách nhiệm giúp đỡ lẫn nhau giữa người với người, tạo điều kiện sống tốt nhất, sự quan tâm lo lắng, chăm sóc cho tất cả mọi người nhất là trẻ em – chủ nhân tương lai của đất nước

Đất nước ta tuy đang phát triển nhưng do chiến tranh đi qua chưa lâu nên điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn, đời sống nhân dân còn thiếu thốn, mức sống thấp Còn nhiều trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, bị bỏ rơi khi vừa mới sinh ra, bị khuyết tật bẩm sinh hoặc bị di chứng chất độc màu da cam do chiến tranh để lại, trẻ em là con trong gia đình đông con cuộc sống khó khăn… nên các em từ sớm đã phải tự bương chải làm đủ mọi nghề để kiếm sống mà không có điều kiện được học hành, vui chơi giải trí, không có được sự yêu thương chăm sóc đầy đủ của cha mẹ để phát triển lành mạnh đầy

đủ như những trẻ em khác Vì phải sống trong một môi trường thiếu thốn mọi mặt như thế nên các em rất dễ bị kẻ xấu lôi kéo vào những tệ nạn xã hội, trở thành gánh nặng của

xã hội

Vì vậy, việc tạo mọi điều kiện tốt nhất để các em này được nhận làm con nuôi có ý nghĩa vô cùng to lớn không chỉ riêng đối với bản thân các em, người nhận nuôi mà còn cho cả xã hội Việc cho trẻ em làm con nuôi cả trong và ngoài nước không những nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ phát triển tốt hơn, làm giảm phần nào gánh nặng cho các cơ

sở y tế nuôi dưỡng trẻ và xã hội mà còn làm tăng thêm mối quan hệ gắng bó mật thiết

Trang 15

giữa các nước, giữa công dân nước ngoài với nước ta, thu hẹp khoảng cách về văn hóa và địa lí đối với trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Đối với bản thân đứa trẻ được nhận nuôi, việc được nhận nuôi có ý nghĩa sâu sắc làm thay đổi cơ bản số phận của đứa trẻ do pháp luật đã đưa ra một số tiêu chuẩn cơ bản cho người nhận con nuôi về cả đời sống tinh thần lẫn vật chất trước khi muốn nhận con nuôi, nên đứa trẻ được nhận nuôi sẽ được sống trong môi trường tốt hơn, được nuôi dưỡng trong một mái ấm mới với sự yêu thương của cha mẹ nuôi để phát triển hài hòa cả

về tinh thần lẫn thể chất để trở thành công dân có ích cho xã hội

Đối với người nhận nuôi, sẽ được nhận nuôi một đứa con phù hợp với mong muốn nguyện vọng của mình để hình thành nên một mái ấm mới hạnh phúc hơn Nuôi con nuôi

là một trong những cách để thực hiện quyền làm cha làm mẹ của mọi người, nhất là đối với những cặp vợ chồng hiếm con hoặc những người sống đơn thân

1.1.2 Quản lý Nhà nước về nuôi con nuôi

1.1.2.1 Khái niệm của quản lý Nhà nước về nuôi con nuôi

Để hiểu rõ hơn về khái niệm quản lý Nhà nước về nuôi con nuôi ta cần tìm hiểu đôi nét như thế nào là quản lý Nhà nước, quản lý hộ tịch

Quản lý là một hoạt động mang tính đặc thù của con người trong xã hội, là sự tác động

có mục đích của các chủ thể quản lý đối với các đối tượng chịu sự quản lý Quản lý xuất hiện

ở bất cứ đâu, bất cứ khi nào nếu ở nơi đó và lúc đó có hoạt động chung của con người Mục đích và nhiệm vụ của quản lý là điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân thành một hoạt động chung thống nhất của cả tập thể và hướng hoạt động chung đó theo những phương hướng thống nhất, nhằm đạt được mục tiêu đã định trước Quản lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy… 1

Theo quan niệm của C.Mác: “Bất kì lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào

đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất…” 2

Theo giáo trình Luật hành chính Nhà nước: “Quản lý Nhà nước là quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội Từ khi xuất hiện, nhà nước điều chỉnh các quan hệ xã hội được xem là quan trọng, cần thiết

Trang 16

Quản lý nhà nước được thực hiện bởi toàn bộ hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước” 3

Khi Nhà nước xuất hiện đa phần các công việc của xã hội điều do Nhà nước quản lý Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động của các cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực hành pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của Nhà nước Đó chính là hoạt động chấp hành Hiến pháp, Luật và tổ chức đời sống xã hội theo Hiến pháp, Luật của các cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền

Quản lý hành chính Nhà nước về hộ tịch nói chung hoặc trong lĩnh vực nuôi con nuôi nói riêng điều là một nội dung trong quản lý hành chính Nhà nước về hành chính – tư pháp Đó là một hình thức hoạt động của Nhà nước, do các chủ thể có thẩm quyền như cơ quan hành chính Nhà nước, người có thẩm quyền, thực hiện trên cơ sở Hiến pháp, Luật để thi hành pháp luật trong lĩnh vực hộ tịch góp phần vào việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân, phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Khái niệm về “hộ tịch” được ghi rõ trong Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch như sau: “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết” Và nội dung quản

lý hành chính Nhà nước trong lĩnh vực này là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền:

- Xác nhận các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại giới tính; xác định lại dân tộc;

- Căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, ghi vào sổ hộ tịch các việc: xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; ly hôn; hủy việc kết hôn trái pháp luật; chấm dứt nuôi con nuôi.”

Riêng về các vấn đề liên quan đến nuôi con nuôi như: các nguyên tắc, điều kiện nuôi con nuôi; thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi; quyền, nghĩa

vụ của cha mẹ nuôi, con nuôi và cha mẹ đẻ; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc nuôi con nuôi điều được quy định chi tiết trong Luật nuôi con nuôi được Quốc hội khóa XII kì họp thứ 7 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010 và chính thức có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2011

Nhu cầu nhận con nuôi và nhu cầu tìm một mái ấm mới có điều kiện tốt hơn cả về thể chất và tinh thần cho trẻ em đều là những nhu cầu thiết yếu và chính đáng của mỗi người, để từ đó hình thành nên mối quan hệ cha mẹ - con nuôi và sự ràng buộc nhau cả

3

Ts Phan Trung Hiền, Giáo trình luật hành chính Việt Nam – Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ, phần 1 –

Những vấn đề chung của Luật hành chính, năm 2009, trang 7

Trang 17

về đạo đức và pháp lý giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi Mối quan hệ cha mẹ, con nuôi không chỉ xuất phát và tồn tại ở một vùng miền hay một quốc gia cố định mà nó còn có thể liên quan đến nhiều quốc gia khi đó là nuôi con nuôi mang yếu tố nước ngoài

Quản lý nhà nước về nuôi con nuôi là việc những người có thẩm quyền đại diện cho

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện các quy định của pháp luật để tổ chức tuyên truyền, vận động mọi người dân tích cực hưởng ứng và thực hiện tốt Luật nuôi con nuôi năm 2010 Đồng thời, tổ chức thực hiện các hoạt động hành chính như: quy định các thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi; các nguyên tắc, điều kiện nuôi con nuôi; quyền và nghĩa

vụ của cha mẹ nuôi, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đẻ, quyền và nghĩa vụ của con nuôi; quy định cụ thể về các đối tượng được nhận con nuôi; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc nuôi con nuôi Tất cả nhằm mục đích xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, đảm bảo cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình

1.1.2.2 Đặc điểm của hoạt động quản lý Nhà nước về nuôi con nuôi

Tùy từng thời kì lịch sử khác nhau mà Nhà nước có những phương cách quản lý khác nhau cho từng vấn đề riêng biệt Đối với vấn đề nuôi con nuôi cũng vậy, Nhà nước

ta đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều văn bản pháp luật khác nhau liên quan đến lĩnh vực nuôi con nuôi từ trước đến nay nhưng nổi bật nhất là Luật nuôi con nuôi năm 2010

và Nghị định 19/2011/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi Với mục đích là tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho người dân thực hiện cũng như chấp hành tốt các quy định của pháp luật có liên quan đến nuôi con nuôi Do bản thân Nhà nước được xem như một chủ thể quản lý đặc biệt, quản lý hầu hết mọi vấn đề trong

xã hội từ khi Nhà nước xuất hiện đến nay trong đó có cả những vấn đề liên quan đến lĩnh vực nuôi con nuôi Vì là chủ thể đặc biệt nên quản lý Nhà nước về nuôi con nuôi mang các đặc điểm cơ bản sau:

Quản lý Nhà nước về nuôi con nuôi mang quyền lực Nhà nước: Quyền lực nhà nước trong nuôi con nuôi trước hết thể hiện ở việc các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí của Nhà nước thông qua phương tiện cơ bản nhất - văn bản pháp lí nhà nước là Luật nuôi con nuôi và các văn bản hướng dẫn thi hành Bằng việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đó, Nhà nước sẽ xem đó là quy định bắt buộc để người dân nào có nhu cầu liên quan đến nuôi con nuôi phải tuân theo với nhiều biện pháp kèm theo như tuyên truyền, thuyết phục hoặc cưỡng chế…và nhờ đó ý chí của chủ thể quản lý là cơ quan Nhà nước được bảo đảm thực hiện

Trang 18

Quản lý Nhà nước về nuôi con nuôi tác động liên tục và ổn định lên các yếu tố xã hội khác cụ thể là người nhận con nuôi và trẻ được nhận làm con nuôi phải có nhu cầu phát sinh quan hệ cha mẹ - con trong thời điểm hiện tại lúc nộp hồ sơ xin nhận con nuôi, các điều kiện về nhân thân phải được xác định tại thời điểm hiện tại, mối quan hệ cha mẹ con phát sinh và có hiệu lực ngay khi được cơ quan có thẩm quyền đăng ký và ghi vào sổ

hộ tịch, sau khi nhận con nuôi xong định kì phải báo cáo tình hình phát triển của con nuôi với cơ quan có thẩm quyền Và mối quan hệ đó được cơ quan Nhà nước bảo hộ trong suốt cả đời của người được nhận làm con nuôi

Quản lý Nhà nước về nuôi con nuôi mang tính chấp hành và điều hành: tính chấp hành và điều hành thể hiện ở chỗ những quy định của pháp luật do nhà nước đưa ra luôn được đảm bảo buộc mọi người tuân theo, kể cả đó là chủ thể ra các quy định đó Tính điều hành thể hiện ở việc chủ thể có thẩm quyền luôn tổ chức bố trí thực hiện các quy định về nuôi con nuôi trong đời sống xã hội Trong quá trình đó, chủ thể quản lý không chỉ tự mình thực hiện pháp luật mà còn có trách nhiệm hướng dẫn chỉ đạo mọi người theo đúng ý chí của chủ thể quản lý

1.1.2.3 Vai trò của quản lý Nhà nước về nuôi con nuôi

Quản lý nhà nước về nuôi con nuôi là một bộ phận có vai trò vô cùng quan trọng trong công tác quản lý hành chính Nhà nước nói chung và trong quản lý về hộ tịch nói riêng Nhà nước đăng ký và công nhận nuôi con nuôi là để nhà nước quản lý về mặt pháp

lý cho những đối tượng có mong nuốn nhận con nuôi Qua đó để dễ dàng quản lý được tình hình chung của cả nước về hộ tịch, cụ thể là dễ dàng nắm được có bao nhiêu trẻ em cần một mái ấm mới, bao nhiêu người có mong muốn nhận con nuôi… để có thể kịp thời đưa ra những chính sách mới, quy định mới nhằm tạo mọi điều kiện cho người dân thực hiện mong muốn chính đáng của họ, bên cạnh đó cũng có thể kịp thời điều chỉnh cho các lĩnh vực khác như: an sinh xã hội, công tác dân số… để Nhà nước có thể phát huy tối đa khả năng quản lý của mình trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội

Thông qua việc quản lý về nuôi con nuôi, Nhà nước sẽ kiểm soát được việc cho và nhận con nuôi của người dân, đảo bảo cho quyền lợi của các bên được diễn ra phù hợp với những chuẩn mực đạo đức và pháp lý Nhà nước có thể kiểm soát được việc tuân theo pháp luật của người dân về nuôi con nuôi, đồng thời ngăn chặn kịp thời những trường hợp cho, nhận con nuôi vi phạm các điều kiện theo quy định như độ tuổi người nhận con nuôi, lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi, con nuôi thực tế mà không đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền…

Việc đăng ký cho nhận con nuôi tạo cơ sở pháp lý vững chắc bảo đảm quyền lợi cho người được nhận nuôi, cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ được pháp luật bảo vệ một cách hợp

Trang 19

pháp, góp phần tích cực vào việc nuôi dưỡng giáo dục trẻ được nhận làm con nuôi – thế

hệ tương lai trở thành những công dân có ích cho gia đình và xã hội, góp phần làm hạn chế được các tệ nạn xã hội, giảm gánh nặng cho xã hội, đảm bảo an toàn trật tự xã hội để tiến tới xây dựng một xã hội mới tiến bộ phát triển bền vững Nhận thức được vai trò quan trọng của mình, Luật nuôi con nuôi năm 2010 do Quốc hội ban hành đã xác định cụ thể nhiệm vụ của mình là nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, đảm bảo cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình

Nuôi con nuôi là quyền lợi của mỗi người khi có mong muốn nhận nuôi con, bên cạnh đó công dân cũng phải có trách nhiệm đi đăng ký với cơ quan có thẩm quyền, thực hiện đầy đủ các quy định có liên quan của nhà nước Luật nuôi con nuôi năm 2010 còn góp phần tích cực vào việc tăng cường hiệu lực quản lý của nhà nước, đề cao vai trò của các tổ chức nhà nước trong quản lý xã hội

1.1.2.4 Ý nghĩa của hoạt động quản lý Nhà nước về nuôi con nuôi

Ở mỗi thời kỳ, tùy vào điều kiện hoàn cảnh của đất nước cụ thể, tùy vào mong muốn của nhà quản lý mà việc quản lý nhà nước về nuôi con nuôi có ý nghĩa hết sức quan trọng Cùng với sự phát triển của đất nước, nhu cầu đời sống tình cảm gia đình của con người càng cao, nên mong muốn nuôi con nuôi của những cặp vợ chồng vô sinh, hiếm con hoặc những người độc thân cũng càng tăng lên đồng thời với ngày càng có nhiều trẻ em có hoàn cảnh kém may mắn cần có một mái ấm gia đình mới Quản lý nhà nước về nuôi con nuôi có ý nghĩa quan trọng đối với công dân và nhà nước, tạo mối gắn kết giữa công dân với nhà nước, thể hiện sự tiến bộ xã hội, góp phần bảo đảm pháp chế

xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên nếu không thực hiện đúng quy định của pháp luật thì sẽ gây hại đến quyền và lợi ích của công dân

Quản lý nhà nước về nuôi con nuôi trong Luật nuôi con nuôi có tác dụng tích cực giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta đề cao vai trò của gia đình, và góp phần xây dựng các chuẩn mực pháp lý tiến bộ, bảo vệ quyền lợi cho trẻ em và người nhận con nuôi không chỉ ở trong nước mà còn mang yếu tố nước ngoài Góp phần mang các nước lại gần nhau, tạo mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa công dân các nước với Việt Nam

1.2 SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC NUÔI CON NUÔI

1.2.1 Trước khi có Luật Nuôi con nuôi năm 2010

Từ năm 1945 đến trước năm 1975:

Trang 20

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 ngay từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ở miền Bắc đã chú trọng xây dựng hệ thống pháp luật nhằm củng cố và bảo vệ thành quả cách mạng của mình, tuy chưa có văn bản điều chỉnh riêng về lĩnh vực nuôi con nuôi nhưng Nhà nước ta cũng đã ban hành 2 sắc lệnh đầu tiên về dân luật và hôn nhân gia đình sau bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đó là Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 sửa đổi, bổ sung một số quy lệ và chế định trong dân luật cũ, và Sắc lệnh số 159/SL ngày 27/11/1950 quy định một số vấn đề ly hôn và giải quyết một số vấn đề về hôn nhân và gia đình khác Tuy nhiên, do bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ nên hai sắc lệnh trên bộc lộ nhiều hạn chế như: những tư tưởng phong kiến về hôn nhân và gia đình vẫn còn, những chế định về hôn nhân còn hạn chế và đặc biệt là các chế định về nuôi con nuôi chưa rõ ràng

Do điều kiện lịch sử nên hai sắc lệnh của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chưa thực sự mang lại hiệu quả để xây dựng một xã hội gia đình với những tư tưởng mới, nên 9 năm sau Luật hôn nhân và gia đình đầu tiên đã ra đời do Quốc hội thông qua ngày 29/12/1959 Luật gồm 35 Điều với 6 Chương, tuy có tiến bộ hơn nhưng trong luật này

vấn đề nuôi con nuôi chỉ được quy định sơ sài tại Điều 18 và Điều 24 Điều 18: “Cha mẹ không được hành hạ con cái, không được đối xử tàn tệ với con dâu, con nuôi, con riêng”, Điều 24 quy định như sau: “việc nhận con nuôi phải được Ủy ban hành chính cơ sở nơi trú quán của người nuôi hoặc của đứa trẻ công nhận và ghi vào sổ hộ tịch Tòa án nhân dân có thể hủy bỏ việc công nhận ấy, khi bản thân người con nuôi hoặc bất cứ người nào, tổ chức nào yêu cầu vì lợi ích của người con nuôi” Luật Hôn nhân và gia đình năm

1959 chưa quy định về các vấn đề khác như điều kiện của người nhận nuôi, quyền và nghĩa vụ của người nhận nuôi và cha mẹ đẻ… nên dẫn đến tình trạng nuôi con nuôi thực

tế khá nhiều cho đến hiện nay

Riêng đối với miền Nam tính đến cuối năm 1975, Chính phủ Việt Nam cộng hòa đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để thực hiện chính sách thống trị ở miền Nam Riêng

về lĩnh vực hôn nhân và gia đình lần lượt là:

Luật gia đình (số 1/59) ngày 02/01/1959 dưới thời Ngô Đình Diệm gồm 135 điều về hôn thú, con chính thức, con ngoại hôn và sự lập con nuôi Về việc nuôi con nuôi quy

định mới về độ tuổi của người nhận con nuôi, cơ quan đăng ký, quyền và nghĩa vụ của con nuôi, trường hợp cấm trong nuôi con nuôi, cụ thể: “sự lập con nuôi chỉ được cho phép khi nào cả hai vợ chồng đều ưng thuận và một trong hai người phải ít nhất trên 25 tuổi Người độc thân nhận con nuôi phải lớn hơn con nuôi 25 tuổi Khế ước lập con nuôi phải được Tòa án dân sự nơi cư trú của người đứng nuôi phê chuẩn Người con nuôi được hưởng di sản thừa kế như con chính thức… Sự kết hôn bị cấm hẳn giữa người đứng

Trang 21

nuôi và con nuôi…” 4 Tuy có nhiều điểm tiến bộ nhưng bên cạnh đó Luật gia đình cũng

chưa điều chỉnh hết các chế định dân sự liên quan đến gia đình, bộc lộ nhiều điểm không hợp lí nên Luật gia đình cũng đã bị bãi bỏ cùng với sự sụp đổ của chính quyền Ngô Đình Diệm vào năm 1963

Thứ hai là Sắc luật 15/64 ngày 23/7/1964 về giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng Sắc luật này kế thừa nhiều nội dung của Luật gia đình 1/59 nên nhìn chung cũng không có gì thay đổi so với Luật gia đình 1/59 Chỉ riêng về quy định độ tuổi lập con nuôi: Điều 136

Sắc luật 15/64 quy định như sau: “Người trên 30 tuổi mới được nuôi con nuôi và người

đó phải hơn con nuôi 20 tuổi Hai vợ chồng ăn ở đã 10 năm mà không có con thì có thể lập con nuôi, miễn là một trong hai vợ chồng đã trên 30 tuổi Nếu hai vợ chồng lập con nuôi thì phải có sự ưng thuận của cả hai người; một trong hai người đã đủ 30 tuổi và hơn người con nuôi 20 tuổi”

Cuối cùng là Bộ Dân luật ngày 20/12/1972 dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu Bộ luật

này quy định điều kiện về độ tuổi của người nuôi con nuôi tại Điều 248: “Đàn ông hay đàn bà trên 35 tuổi mới được lập con nuôi và phải hơn người con nuôi ít nhất 20 tuổi, trừ khi có sự đặc miễn của nguyên thủ quốc gia” thì người nhận nuôi con không bắt buộc

phải hơn con nuôi ít nhất 20 tuổi Về cơ bản, Bộ Dân luật cũng tương tự như Sắc luật 15/64

Cả hai đạo luật trên đều không nhắc đến điều kiện về người con nuôi, nhưng riêng

Bộ Dân luật có nêu đứa trẻ đủ 16 tuổi thì phải có sự đồng ý của đứa trẻ Cả ba đạo luật tuy không thể điều chỉnh hết các mối quan hệ phát sinh của vấn đề nuôi con nuôi nhưng nhìn chung cũng có điểm tiến bộ so với pháp luật trước đó

Từ năm 1975 đến trước khi có Luật Nuôi con nuôi năm 2010:

Ngày 30/4/1975 miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất một nhà, năm

1976 cả nước ta tiến hành tổng tuyển cử thống nhất đất nước, cả nước thống nhất đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh Hiến pháp năm 1980 ra đời làm cơ sở nền tảng cho cả hệ thống pháp luật nước ta Do tình hình kinh tế - xã hội có nhiều thay đổi nên luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 không còn đáp ứng được yêu cầu của xã hội nữa Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu tất yếu của xã hội mới Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 được thông qua ngày 29/12/1986 gồm 57 Điều

10 Chương quy định các vấn đề về hôn nhân và gia đình, đặc biệt vấn đề nuôi con nuôi được quy định tại Chương VI từ Điều 34 đến Điều 39 quy định về các vấn đề như: điều

4

Phan Đăng Thanh - Trương Thị Hòa, Các chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam xưa và nay, Nxb tổng hợp Tp Hồ

Chí Minh, năm 2012, trang 58

Trang 22

kiện của người nhận con nuôi, người được nhận làm con nuôi, các thủ tục hành chính, chấm dứt nuôi con nuôi

Tuy có nhiều điểm mới vượt trội hơn so với các văn bản trước đây, nhưng do được soạn thảo trong điều kiện tình hình đất nước còn nhiều khó khăn, đời sống kinh tế - xã hội còn khó khăn, đất nước đang trên đà đổi mới, phát triển nên các quy định của luật này nhanh chóng thể hiện sự lạc hậu trong thời kì đổi mới

Sau hơn gần 13 năm thực hiện, Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 Ngày 09/6/2000 Quốc hội chính thức thông qua Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, có hiệu lực từ 01/01/2001 gồm 110 Điều với 13 Chương, trong đó việc nuôi con nuôi được quy định trong Chương VIII với 11 Điều – từ Điều 67 đến Điều 78 có một số điểm tiến bộ như: khái niệm nuôi con nuôi, điều kiện của người nhận con nuôi, người được nhận làm con nuôi, sự đồng ý của cha mẹ đẻ và người giám hộ, quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi

Theo quy định về đăng ký hộ tịch trong Nghị định 185/2005/NĐ-CP thì đăng ký hộ tịch là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận các sự kiện hộ tịch và căn cứ vào quyết định của các cơ quan có thẩm quyền ghi các sự kiện đó vào sổ hộ tịch

Sự công nhận việc nuôi con nuôi của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền được thực hiện bằng Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi và được trao cho các bên đương sự -

đó là một loại giấy tờ hộ tịch và là chứng cứ pháp lý xác nhận sự kiện hộ tịch của cá nhân

đó đồng thời với việc ra quyết định công nhận việc nuôi con nuôi và được ghi vào sổ hộ tịch Đó là cơ sở pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên

1.2.2 Từ khi có Luật Nuôi con nuôi 2010

Nuôi con nuôi là một vấn đề xã hội đã xuất hiện khá lâu đời trong đời sống xã hội

và cũng đã được pháp luật điều chỉnh từ rất sớm, nhưng thực chất nó chỉ được quy định

sơ sài trong các văn bản pháp luật chung chứ chưa được xây dựng thành một văn bản pháp luật riêng biệt để điều chỉnh tất cả các vấn đề phát sinh quanh nó Trong khi xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu đời sống vật chất cũng như tình cảm của con người ngày càng tăng, ngày càng có nhiều người có nhu cầu xin nhận con nuôi cũng như có rất nhiều trẻ em cần có một gia đình mới, nên kéo theo đó các vấn đề xã hội lại càng trở nên phức tạp Đòi hỏi chủ thể quản lý là Nhà nước phải tích cực thay đổi, xây dựng các chế định pháp luật mới để có thể bắt kịp sự thay đổi đó của xã hội Luật Nuôi con nuôi đã được Quốc hội khóa XII thông qua tại kì họp thứ VII ngày 17/6/2010 Luật gồm 5 Chương với

52 Điều quy định khá chi tiết cho cả nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi nước ngoài về các nguyên tắc, điều kiện nuôi con nuôi; thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết

Trang 23

việc nuôi con nuôi; quyền, nghĩa vụ của cha mẹ nuôi, con nuôi và cha mẹ đẻ; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc nuôi con nuôi

Theo đó, Luật nuôi con nuôi có nhiều điểm mới đáng chú ý như:5

Thứ nhất, Về nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi được quy định như sau: “Khi giải quyết việc nuôi con nuôi cần tôn trọng quyền của trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc” 6 , do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, nên trẻ em cần được bảo

vệ và chăm sóc trong bầu không khí hạnh phúc, đầm ấm của gia đình

“Việc nuôi con nuôi phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người được nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi, tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt nam nữ, không trái pháp luật và đạo đức xã hội” 7 Trong quá trình nuôi con nuôi, lợi ích của trẻ

em phải được tính đến trước tiên, trong mối tương quan với lợi ích của cha mẹ nuôi và đó cũng là mục đích cuối cùng của Luật Nuôi con nuôi năm 2010 Việc nuôi con nuôi phải được thực hiện trên tinh thần tự nguyện của các bên liên quan, không phân biệt giữa người nhận con nuôi là nam hay nữ, đơn thân hay đã kết hôn; đồng thời không phân biệt giữa con nuôi là trai hay gái

“Chỉ cho làm con người nước ngoài khi không thể tìm được gia đình thay thế ở trong nước” 8 Nếu việc nuôi dưỡng trong phạm vi gia đình không thể thực hiện được thì phải tính đến các biện pháp chăm sóc thay thế ở trong nước, trong đó có việc nuôi con

nuôi Chỉ sau khi đã xem xét thoả đáng các giải pháp trong nước mà vẫn không tìm được

mái ấm gia đình cho trẻ thì mới tính đến việc cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài,

và việc đó phải vì lợi ích tốt nhất của trẻ em

Ngoài ra, Điều 36 của Luật Nuôi con nuôi còn quy định, trước khi Sở Tư pháp xem xét, giới thiệu trẻ em làm con nuôi nước ngoài, nếu có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì vẫn được xem xét giải quyết Có thể thấy, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được tạo

cơ hội đến mức tối đa để tìm được mái ấm thay thế trong nước

Thứ hai, về biện pháp bảo đảm việc nuôi con nuôi trong nước Luật Nuôi con nuôi

tại Điều 15 đưa ra quy định về việc tìm gia đình thay thế trong nước, nhằm bảo đảm trẻ

em có cơ hội được nhận làm con nuôi trong nước Việc tìm mái ấm được thực hiện ở ba cấp: xã, tỉnh và trung ương Ở cấp xã, việc tìm gia đình thay thế được thực hiện bằng cách niêm yết tại trụ sở Uỷ ban nhân dân trong thời hạn 60 ngày; ở cấp tỉnh, được thực

5 Báo Thái Bình, Những điểm mới cơ bản của Luật Nuôi con nuôi năm 2010, Liễu Lập – sở Tư pháp Thái Bình,

http://www.baothaibinh.com.vn/16/3920/Nhung_diem_moi_co_ban_cua_luat_nuoi_c111n_nuoi.htm , [ngày truy cập: 10/10/2014]

6 Khoản 1, Điều 4 Luật Nuôi con nuôi năm 2010

7 Khoản 2, Điều 4 Luật Nuôi con nuôi năm 2010

8

Khoản 3, Điều 4 Luật Nuôi con nuôi năm 2010

Trang 24

hiện bằng cách thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng của tỉnh trong thời hạn 60 ngày; ở Trung ương được thực hiện bằng việc đăng trên cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp trong thời hạn 60 ngày Nếu hết thời hạn này mà không có người trong nước nhận làm con nuôi, thì trẻ em mới được giới thiệu làm con nuôi người nước ngoài

Thứ ba, Luật quy định điều kiện về độ tuổi của người được nhận làm con nuôi trong

nước và nước ngoài là như nhau Đặc biệt, Luật này có điểm mới so với các quy định của

Luật cũ là từ 15 tuổi trở xuống lên đến dưới 16 tuổi Và “Người trên 15 tuổi có thể được nhận làm con nuôi nếu là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi của người già yếu cô đơn” trong Luật cũ, với “người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi cũng có thể được cho làm con nuôi của cha dượng, mẹ kế, cô, cậu dì, chú bác ruột” đối với Luật Nuôi con nuôi 2010 Luật Nuôi con nuôi 2010 đã bỏ phần quy

định về người được nhận làm con nuôi là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự và làm con nuôi của người già yếu cô đơn vì thiết nghĩ không thể quy trách nhiệm chăm sóc những đối tượng trên cho người nhận nuôi và cũng không đảm bảo được khả năng chăm sóc tốt nhất cho con nuôi nếu cha mẹ nuôi đã già yếu

Tại Điều 10 có quy định: “Con nuôi có quyền được biết về nguồn gốc của mình Không ai được cản trở con nuôi được biết về nguồn gốc của mình” Quy định này nhằm

khẳng định và bảo vệ quyền được biết về nguồn gốc của mình của trẻ em được cho làm con nuôi, nêu rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và các cá nhân có liên quan trong quan hệ nuôi con nuôi trong việc đảm bảo quyền được biết về nguồn gốc của trẻ em khi các em đến tuổi trưởng thành và có yêu cầu

Thứ tư, tại Điều 12 quy định người nhận con nuôi phải nộp lệ phí đăng ký nuôi con

nuôi, người nước ngoài không thường trú ở Việt Nam nhận con nuôi ở Việt Nam phải trả một khoản tiền bù đắp một phần chi phí cho việc giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài, bao gồm chi phí nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em từ khi được giới thiệu làm con nuôi đến khi hoàn thành thủ tục giao nhận con nuôi, xác minh nguồn gốc của người được giới thiệu làm con nuôi, giao nhận con nuôi và thù lao hợp lý cho nhân viên của cơ sở nuôi dưỡng

Thứ năm, Trong Luật Nuôi con nuôi năm 2010 tại Điều 36 quy định việc giới thiệu

trẻ em làm con nuôi người nước ngoài thuộc thẩm quyền của Sở Tư pháp Trong khi đó ở các văn bản trước đó, Luật chưa có quy định cụ thể về vấn đề này

Thứ sáu, Về việc cho phép đăng ký đối với nuôi con nuôi thực tế Tại Điều 50 luật

quy định việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau mà chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước ngày 01/01/2011 thì sẽ được đăng ký trong thời hạn

05 năm nếu các bên có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm phát sinh

Trang 25

quan hệ nuôi con nuôi; đến thời điểm Luật có hiệu lực mà quan hệ cha mẹ và con vẫn đang tồn tại và cả hai bên còn sống; giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhau như cha mẹ và con Việc nuôi con nuôi không đăng ký trong thời hạn trên sẽ không được công nhận giá trị pháp lý

Thứ bảy, Luật quy định rõ ràng, minh bạch các điều kiện cấp phép hoạt động cho

các tổ chức con nuôi nước ngoài tại Việt Nam như: hoạt động hợp pháp, được cơ quan có thẩm quyền cho phép hoạt động, có thời gian hoạt động trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế liên tục từ 3 năm trở lên, có đội ngũ nhân viên hiểu biết về pháp luật, đủ tiêu chuẩn đạo đức, chuyên môn sẽ được xem xét để cấp giấy phép hoạt động tại Việt Nam

Trang 26

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NUÔI CON NUÔI VÀ CÔNG TÁC

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NUÔI CON NUÔI

  

2.1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NUÔI CON NUÔI

2.1.1 Điều kiện của các chủ thể trong nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật

Mục đích quan trọng nhất của mối quan hệ nuôi con nuôi là nhằm xác lập mối quan

hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, đảm bảo cho con nuôi được chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình Chính vì vậy, việc nuôi con nuôi cả trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đều là biện pháp cuối cùng và hữu hiệu nhất nhằm tạo ra một mái ấm gia đình mới cho trẻ em, tạo điều kiện cho các em có môi trường sống tốt hơn để phát triển lành mạnh Để việc nuôi con nuôi được thực hiện theo đúng mục đích tốt đẹp đã đề ra, đồng thời đảm bảo cho sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước trong vấn đề nuôi con nuôi, pháp luật nước ta có quy định

về chủ thể trong việc nuôi con nuôi, theo đó chủ thể quan trọng của mối quan hệ này là người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi Cả hai chủ thể này điều phải tuân thủ những điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật thì mới được xác lập mối quan

hệ cha, mẹ nuôi và con nuôi, đồng thời cũng tránh tình trạng lạm dụng việc nuôi con nuôi với mục đích xấu

2.1.1.1 Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi

Nuôi con nuôi là một chế định quan trọng, vì vậy điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi cũng được quy định khá cụ thể trong Luật nuôi con nuôi năm 2010 Người nhận nuôi con nuôi trước hết phải là một cá nhân chứ không thể là một pháp nhân hay một hộ gia đình Trong mối quan hệ cha, mẹ nuôi và con nuôi thì người nhận nuôi đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của người con nuôi, vì vậy người nhận nuôi con nuôi cũng phải đáp ứng được những điều kiện theo quy định của pháp luật

về nuôi con nuôi Theo Luật nuôi con nuôi năm 2010 thì “Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng”

Trước tiên ta sẽ đề cập đến vấn đề người nuôi là một cá nhân độc thân

Đối với nuôi con nuôi trong nước, để đảm bảo cho người nhận nuôi con nuôi thực hiện tốt chức năng làm cha, mẹ của mình, thì người nhận nuôi con nuôi phải đáp ứng đủ các quy định tại Điều 14 Luật nuôi con nuôi:

Trang 27

Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Theo quy định tại Khoản 1 Điều 23 Bộ Luật dân sự 2005 “người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là người thành niên, không phải

là người mất năng lực hành vi dân sự và không phải là người bị hạn chế năng lực hành

vi dân sự”, nếu người nhận nuôi con nuôi không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì họ

không thể nhận thức được việc mình đang làm, không thể nhận thức được trách nhiệm làm cha, làm mẹ của mình cũng như không thể bày tỏ ý chí của cá nhân mình trong việc nhận nuôi con nuôi thì làm sao có thể đảm bảo được cuộc sống tốt đẹp trước hết là về tinh thần cho người con nuôi, từ đó mục đích nuôi con nuôi của Nhà nước cũng không thể đạt được Chính vì thế, đây là một quy định rất cần thiết trong mối quan hệ nuôi con nuôi để đảm bảo cho con nuôi được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt hơn

Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên Quy định chênh lệch về độ tuổi giữa người nhận

con nuôi và người được nhận làm con nuôi là điều cần thiết, có khoảng cách về độ tuổi để đảm bảo sự tôn trọng của con cái đối với cha, mẹ cũng như nghĩa vụ, khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc con cái của cha mẹ được hiệu quả hơn, đồng thời cũng phù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc ta, và tránh đi tình trạng lạm dụng việc nuôi con nuôi

để xâm hại tình dục đối với con nuôi Tuy nhiên cũng có trường hợp ngoại lệ là nếu cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định về khoảng cách tuổi này.9

Tuy Luật Nuôi con nuôi 2010 không quy định trực tiếp, cụ thể nhưng cũng gián tiếp quy định độ tuổi tối thiểu của người nhận nuôi con nuôi là phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên Luật nuôi con nuôi cũng không quy định việc giới hạn về độ tuổi tối đa của người nhận nuôi con nuôi là đến độ tuổi nào thì cá nhân đó không được xin nhận con nuôi, vì xét theo mục đích của việc nuôi con nuôi là nhằm xây dựng mối quan hệ cha, mẹ và con mới, tạo một mái ấm mới cho trẻ em và nó xuất phát từ tấm lòng yêu thương con người, điều kiện thực tế của người nhận để trẻ em đó được sống trong sự yêu thương, chăm sóc của cha, mẹ nuôi, và điều đó không phụ thuộc vào độ tuổi của người nhận con nuôi Và cũng không phân biệt vấn đề chênh lệch độ tuổi giữa người nhận con nuôi là nam giới độc thân và nữ giới độc thân mà quy định khoảng cách chung là 20 tuổi, điều này sẽ tạo

ra tâm lí thoải mái, bình đẳng không phân biệt giữa nam và nữ

Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi Đây là điều kiện quan trọng để đảm bảo cho cuộc sống của con nuôi được

nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tốt nhất để phát triển toàn diện Không thể xác lập quan

9

Khoản 3, Điều 14 Luật Nuôi con nuôi năm 2010

Trang 28

hệ cha, mẹ - con nuôi khi mà bản thân người nhận nuôi con nuôi lại ốm đau triền miên, không có khả năng tự nuôi sống chính mình, và người con nuôi cũng không thể sống tốt nếu không có chổ ở ổn định, không thể thích nghi kịp với cuộc sống mới nếu phải liên tục thay đổi nơi sinh sống Như vậy, không những không tạo được môi trường sống mới tốt hơn cho con nuôi phát triển như mục đích ban đầu của việc nuôi con nuôi mà còn làm cuộc sống của con nuôi tệ hơn và tạo thêm gánh nặng cho người nhận con nuôi Người con nuôi chỉ được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục tốt khi người nuôi có được sức khỏe tốt, kinh tế ổn định và dành nhiều thời gian để chăm sóc con nuôi Điều kiện này cũng có ngoại lệ là nếu trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng theo quy định về điều kiện sức khỏe, kinh tế và chổ ở10, quy định này nhìn chung cũng hợp lí, vì mục đích cuối cùng của việc nuôi con nuôi là tạo mọi điều kiện cho trẻ em được sống trong môi trường gia đình trọn vẹn với những người thân dù người nhận nuôi là cha dượng, mẹ kế, cô, chú, dì hay bác ruột mà không có đủ các điều kiện trên

Có tư cách đạo đức tốt Để con nuôi phát triển mọi mặt trong gia đình mới, không

những phải đảm bảo điều kiện về vật chất mà yếu tố về tinh thần cũng không kém phần quan trọng Trong gia đình, cha mẹ có vai trò vô cùng quan trọng, cha mẹ là tấm gương

cho con cái, “Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường đầm ấm, hòa thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt, phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con”11, để đảm bảo cho con nuôi được nuôi dạy tốt thì cha mẹ nuôi phải sống mẫu mực để con cái noi theo, tránh tình trạng ngược đãi, phân biệt đối xử giữa con ruột và con nuôi làm cho không khí gia đình nặng nề, gây áp lực cho con nuôi Cuộc sống tinh thần trong gia đình là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hình thành tính cách cho trẻ em sau này, đảm bảo cho người con nuôi được phát triển lành mạnh cả về thể chất lẫn nhân cách

Ngoài ra, người nhận nuôi còn phải đáp ứng điều kiện là không thuộc các trường

hợp sau thì mới có thể tiến hành thủ tục xin nhận con nuôi: “Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; Đang chấp hành quyết định xử lí hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; Đang chấp hành hình phạt tù; Chưa được xóa

án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm

Trang 29

pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em”.12 Quy định này, trước hết cũng không ngoài mục đích tạo mọi điều kiện tốt nhất cho con nuôi được phát triển hài hòa,

lành mạnh về mọi mặt, tránh đi những ảnh hưởng không tốt của cha, mẹ đối với con nuôi

Đối với người nuôi là cả hai vợ chồng

Khoản 3 Điều 8 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc cả hai người là vợ chồng Cùng là người nhận con nuôi, nên bên cạnh việc phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện như người độc thân nhận con

nuôi ở trên thì khái niệm “vợ chồng” cũng cần được hiểu một cách chính xác vì những

người này sẽ có ảnh hưởng quan trọng đến lợi ích của con nuôi Theo Khoản 6 Điều 8

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ chồng sau khi

đã đăng ký kết hôn”, theo đó ta hiểu vợ chồng là mối quan hệ giữa hai bên nam và nữ có hôn nhân hợp pháp sau khi đã đăng ký kết hôn Tuy nhiên trên thực tế có nhiều trường hợp “chung sống như vợ chồng”13 giữa nam và nữ nhưng vẫn được pháp luật công nhận

và có giá trị pháp lý, đó là “hôn nhân thực tế” Nghĩa là, nam nữ chung sống với nhau

như vợ chồng trước ngày 3/01/1987 mà vẫn chưa đăng ký kết hôn thì vẫn được pháp luật công nhận là vợ chồng; Quan hệ chung sống như vợ chồng giữa nam và nữ không đương nhiên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của hai bên chung sống, chỉ khi việc chung sống

đó được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận là “hôn nhân thực tế” thì mới phát

sinh quyền và nghĩa vụ của hai bên và được công nhận là có giá trị pháp lý như hôn nhân hợp pháp Điều này cũng được nêu trong Khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình

năm 2014: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng…”

Như vậy, những trường hợp chung sống như vợ chồng mà được pháp luật công nhận có giá trị pháp lý thì việc nhận nuôi con nuôi của họ được xem như trường hợp vợ chồng cùng nhận nuôi con nuôi, nếu không được công nhận là hợp pháp thì khi vợ chồng

đó có nguyện vọng nuôi con nuôi thì pháp luật sẽ xem xét như trường hợp nhận nuôi con

nuôi của người độc thân bởi hôn nhân của họ không có giá trị pháp lý

12

Khoản 2, Điều 14 Luật Nuôi con nuôi năm 2010

13

Điểm 2d Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 3/01/2001: được coi là nam và

nữ chung sống với nhau như vợ chồng nếu họ có đủ điều kiện để kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;

- Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận;

- Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;

- Họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình

Trang 30

Điều 8 Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định “Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng”, Luật nói rõ hoặc “độc thân” hoặc “cả hai người là vợ chồng”, nghĩa là do xuất phát từ yếu tố bình đẳng giữa vợ và

chồng14 nên họ có quyền ngang nhau trong việc thể hiện ý chí của mình về vấn đề nuôi con nuôi Luật không chấp nhận tình trạng một người đã có vợ (chồng) rồi mà tự mình quyết định xin con nuôi khi không có sự đồng ý của người kia, vì nếu chỉ có một trong hai vợ chồng nhận con nuôi thì khi về chung sống trong cùng một gia đình, người vợ (chồng) còn lại sẽ mang tâm lí thờ ơ, miễn cưỡng với đứa con nuôi của chồng (vợ) mình Điều đó sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến tinh thần và sự phát triển của người con nuôi, từ đó mục đích của việc nuôi con nuôi sẽ không được đảm bảo Nếu chỉ một cá nhân muốn nhận con nuôi thì người đó phải độc thân, hoặc nếu lập gia đình rồi thì phải có sự đồng ý

tự nguyện của cả hai vợ chồng

Riêng đối với nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, tại Khoản 1 Điều 29 Luật Nuôi

con nuôi năm 2010 có quy định: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật nước nơi người đó thường trú và quy định tại Điều 14 của Luật này; Công dân Việt Nam nhận người nước ngoài làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 14 của Luật này và pháp luật của nước nơi người được nhận làm con nuôi thường trú”

Tại Điều 28 Luật nuôi con nuôi năm 2010 còn đưa ra thêm bốn trường hợp nuôi

con nuôi có yếu tố nước ngoài là: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước cùng là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi; Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài…; Công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi; Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận con nuôi ở Việt Nam” Như vậy, đối với các trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố

nước ngoài, ngoài các quy định về điều kiện của người nhận con nuôi trong nước ra, còn phải đáp ứng các yêu cầu về nơi cư trú, thường trú và chịu sự điều chỉnh của các điều ước quốc tế mà Việt Nam có ký kết hoặc tham gia

2.1.1.2 Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi

Để xác lập mối quan hệ cha, mẹ nuôi và con nuôi các bên chủ thể cần phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật về nuôi con nuôi Nhằm bảo vệ

14

Được quy định cụ thể tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Trang 31

quyền con người và trước hết là bảo vệ quyền lợi của trẻ em – thế hệ tương lai của đất nước Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để bảo vệ lợi ích của trẻ em, trên tinh thần là phải dành cho trẻ em cái tốt nhất Điều 21 Công ước về quyền trẻ em năm

1989, Việt Nam phê chuẩn ngày 20/02/1990 quy định: “Các quốc gia thành viên mà thừa nhận hoặc cho phép việc nhận làm con nuôi phải bảo đảm rằng những lợi ích tốt nhất của trẻ em là mối quan tâm cao nhất…”, Điều 67 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định “đảm bảo cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội”, nhằm kế thừa tinh thần đó Luật Nuôi con nuôi năm 2010 ra đời không ngoài mục đích “… vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình”

ứng các điều kiện sau:

Về độ tuổi: “Trẻ em dưới 16 tuổi” Luật quy định đối tượng được nhận làm con nuôi là trẻ em, ở đây Luật quy định chung về độ tuổi của cả nuôi con nuôi trong nước và

nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đều là trẻ em dưới 16 tuổi Đây được xem như là điểm mới của Luật Nuôi con nuôi năm 2010 so với các quy định về độ tuổi của con nuôi trong các văn bản trước đây, nếu vẫn giữ theo quy định của Khoản 1 Điều 68 Luật Hôn

nhân và gia đình năm 2000: “Người được nhận làm con nuôi phải là người từ 15 tuổi trở xuống” thì sẽ dẫn đến tình trạng có một lượng lớn trẻ em nằm trong khoảng chênh lệch

về độ tuổi đó không thuộc trong nhóm đối tượng của người nhận nuôi con nuôi nhưng trong thực tế lại rất cần có sự quan tâm, chăm sóc của một gia đình Việc ấn định độ tuổi của con nuôi cũng phù hợp với quy định tại Điều 1 của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo

dục trẻ em năm 2004 “trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”

Bên cạnh đó tại Khoản 2 Điều 8 Luật Nuôi con nuôi còn bổ sung thêm nhóm đối

tượng ngoại lệ về độ tuổi là “người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu được cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi” Đây cũng được

xem như là một quy định mới so với các chế định về nuôi con nuôi trước khi Luật nuôi

con nuôi ra đời Luật không còn quy định về nhóm đối tượng “được nhận làm con nuôi nếu là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi người già yếu cô đơn” theo như Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 nữa, việc loại bỏ này

sẽ phù hợp với mục đích nuôi con nuôi là tìm mái ấm mới cho trẻ em, đảm bảo cho trẻ

em được chăm sóc, giáo dục tốt trong môi trường gia đình, còn những trường hợp này nếu thành lập nên mối quan hệ chỉ là chăm sóc, phụng dưỡng và vấn đề này sẽ do pháp luật về an sinh xã hội giải quyết Hơn nữa những người ở độ tuổi từ 16 đến dưới 18 này

Trang 32

mặc dù đã đủ tuổi tự chịu trách nhiệm trong một số lĩnh vực nhưng thực chất đa phần họ đều chưa tự đảm bảo tốt cho cuộc sống của mình, đồng thời tâm sinh lí cũng chưa hoàn thiện nên pháp luật quy định cho nhóm đối tượng này có thể được nhận làm con nuôi của cha dượng, mẹ kế hoặc cậu, cô, dì, chú, bác ruột nhằm đảm bảo tạo mọi điều kiện cho trẻ

em đó được nuôi dưỡng, chăm sóc trong môi trường gia đình thân thiết nếu vì một lí do nào đó mà không thể sống chung với cha, mẹ ruột

Luật nuôi con nuôi năm 2010 tuy có quy định cụ thể về độ tuổi tối đa của người được nhận làm con nuôi nhưng lại không nói rõ độ tuổi tối thiểu, song qua quy định tại

Khoản 4 Điều 21 Luật nuôi con nuôi “Cha mẹ đẻ chỉ được đồng ý cho con làm con nuôi sau khi con sinh ra ít nhất 15 ngày” dường như tâm ý của nhà làm luật là mong muốn

cho đứa trẻ có đủ cứng cáp để có thể sống với người khác không phải là cha mẹ đẻ, và thời gian cũng không quá dài để tạo tình cảm đối với cha mẹ đẻ khi được cho làm con nuôi

Theo Khoản 2 Điều 68 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: “Một người chỉ có thể làm con nuôi một người hoặc của cả hai người là vợ chồng”, quy định này của Luật

Hôn nhân và gia đình chưa làm rõ được là một người nếu đã có vợ hoặc chồng rồi thì có được phép nhận con nuôi riêng hay không Luật nuôi con nuôi đã có sự thay đổi, quy

định bao quát vấn đề hơn đó là: “Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng” (Khoản 3 Điều 8 Luật Nuôi con nuôi năm

2010) Quy định này trước hết là đảm bảo sự ổn định về đời sống vật chất cho con nuôi, ở đây luật cũng đòi hỏi rằng một người chỉ có thể làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai vợ chồng tại mỗi thời điểm cụ thể, không thể chấp nhận việc một lúc làm con nuôi của nhiều người, tuy nhiên luật cũng không cấm làm con nuôi nhiều lần, tức là một người nếu đã từng được nhận làm con nuôi thì vẫn được làm con nuôi của người khác nếu ngay tại thời điểm đó người đó đã chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi trước đây và việc chấm dứt nuôi con nuôi trước đó phải nằm trong quy định tại Điều 25 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 Quy định này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý Nhà nước về các quan hệ nhân thân, tài sản, thừa kế cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên, đảm bảo cho trẻ em được nuôi dưỡng, chăm sóc trong một gia đình duy nhất, không thể nay sống ở nhà cha mẹ nuôi này, mai lại sống ở gia đình cha mẹ nuôi khác vì nếu một người được cho làm con nuôi của nhiều người thì sẽ phải sống với mỗi gia đình một thời gian, trong khi đó còn có khả năng do làm con nuôi của nhiều gia đình thì cha, mẹ nuôi

sẽ đùn đẩy trách nhiệm lẫn nhau đối với việc chăm sóc con nuôi, để cuối cùng đời sống của con nuôi không được đảm bảo

Trang 33

Luật nuôi con nuôi khống ấn định người được nhận làm con nuôi phải là trẻ em bị

mồ côi cha mẹ, trẻ sơ sinh hoặc trẻ bị bỏ rơi… mà quy định chung là trẻ em dưới 16 tuổi cùng trường hợp ngoại lệ là từ 16 đến dưới 18 tuổi Đối với những trẻ em bị bỏ rơi, mồ

côi cha mẹ, trẻ sơ sinh cùng những trẻ em có hoàn cảnh đặt biệt khác thì: “Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi” (Khoản 4, Điều 8 Luật Nuôi con nuôi), bởi Nhà nước không muốn

quy trách nhiệm chăm sóc các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt này cho người nhận nuôi

2.1.2 Tính ý chí của chủ thể trong cho và nhận con nuôi

2.1.2.1 Sự thể hiện ý chí của cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ

Ý chí của cha, mẹ đẻ:

Việc cho con mình sinh ra đi làm con của người khác là một việc làm bất đắc dĩ,

do điều kiện hoàn cảnh Bởi thế nên cha mẹ đẻ sẽ luôn mong muốn, cân nhắc kĩ để chọn cho con mình có một môi trường sống tốt hơn khi bản thân họ không thể có điều kiện chăm sóc, giáo dục tốt cho con mình Nó sẽ luôn xuất phát từ sự tự nguyện của cha mẹ dựa trên lợi ích của đứa trẻ, được hình thành khi mà bản thân họ đã và sẽ phải biết được điều kiện, môi trường sống của người được nhận làm con nuôi và tất cả các hậu quả pháp

lý kèm theo sau của việc cho con nuôi trước khi cho đứa trẻ làm con nuôi người khác

“Người đồng ý cho con làm con nuôi quy định tại Khoản 1 Điều này phải được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi nhận hồ sơ tư vấn đầy đủ về mục đích nuôi con nuôi; quyền, nghĩa

vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi; quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ và con sau khi người

đó được nhận làm con nuôi” (Khoản 2 Điều 21 Luật Nuôi con nuôi năm 2010) Vì vậy

mọi yếu tố tác động trái mong muốn của cha mẹ, lừa dối, ép buộc… để được sự đồng ý

của cha mẹ cho dù xuất phát từ ai cũng xem như là trái pháp luật “Sự đồng ý phải hoàn toàn tự nguyện, trung thực, không bị ép buộc, không bị đe dọa hay mua chuộc, không vụ lợi, không kèm theo yêu cầu trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác” (Khoản 3 Điều 21 Luật

Nuôi con nuôi) Tất nhiên nếu mọi sự đồng ý của cha mẹ đẻ mà vì mục đích trục lợi đều không phải sự tự nguyện thật sự do không phù hợp với bản chất của việc cho con nuôi

Sự thể hiện ý chí của cha mẹ đẻ rất quan trọng, điều này đã được quy định trong các văn bản pháp lý trước Luật Nuôi con nuôi năm 2010 Khoản 1 Điều 71 Luật Hôn nhân và

gia đình năm 2000: “Việc nhận người chưa thành niên, người thành niên đã mất năng lực hành vi dân sự làm con nuôi phải được sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ đẻ của người đó…”, với tinh thần đó tại Điều 21 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 cũng quy định khá rõ về tính ý chí của cha mẹ đẻ: “Việc nhận nuôi con nuôi phải được sự đồng ý của cha mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi; nếu cha đẻ hoặc mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải có sự đồng ý của người

Trang 34

còn lại; nếu cả cha mẹ đẻ điều đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người giám hộ…” Trong việc cho con làm

con nuôi thì vai trò của cha mẹ rất quan trọng, sự đồng ý của cha, mẹ đẻ là điều kiện bắt buộc đối với người được nhận làm con nuôi dưới 16 tuổi hoặc từ trên 16 tuổi mà mất năng lực hành vi dân sự

Ý chí của người giám hộ:

Điều 21 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định: “… nếu cả cha mẹ đẻ đều đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người giám hộ” Người giám hộ chỉ có quyền thể hiện ý chí cho người mà

mình giám hộ khi cả cha, mẹ đẻ của người đó đều đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được Người giám hộ có thể là người giám hộ đương nhiên, người giám hộ cử hoặc người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng Theo quy định thì người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng chỉ có quyền đồng ý cho trẻ em đang sống tại cơ sở nuôi dưỡng

làm con nuôi “trong trường hợp trẻ em đó có nguồn gốc bị bỏ rơi, bị bỏ lại cơ sở y tế hoặc khi trẻ em đó được đưa vào cơ sở nuôi dưỡng đã có giấy của cha mẹ đẻ đồng ý cho con làm con nuôi hoặc cha mẹ đẻ của trẻ em đó mất năng lực hành vi dân sự” 15Qua đó

ta có thể thấy ý chí của người giám hộ trong việc cho trẻ em làm con nuôi phải xuất phát trên cơ sở ý chí của cha mẹ đẻ của đứa trẻ đã thể hiện trước đó

2.1.2.2 Sự thể hiện ý chí của người nhận nuôi con nuôi

Người nhận nuôi con nuôi có thể nhận nuôi con nuôi vì nhiều lí do khác nhau, nhưng trước hết là xuất phát từ yếu tố tâm lí tình cảm của người nuôi muốn nuôi dưỡng một đứa trẻ để thiết lập nên mối quan hệ cha, mẹ và con giữa hai bên Nhu cầu của người nuôi là lí do chủ yếu để dẫn đến việc nhận nuôi con nuôi Người nhận nuôi con nuôi thường có suy nghĩ kĩ càng trước khi quyết định nhận nuôi con nuôi Việc nhận con nuôi hay không là do chính bản thân người đó quyết định trên cơ sở tự nguyện, chủ động để đáp ứng mong muốn có con nuôi của bản thân nên họ sẽ và phải tự có hiểu biết đầy đủ cũng như chịu trách nhiệm về hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi Tuy nhiên, nhu cầu tình cảm đơn thuần đó của người nhận con nuôi phải xuất phát từ yếu tố tình cảm chân chính, vì lợi ích của người người được nhận nuôi thì mới được xem là chính đáng và hợp pháp, ngược lại nếu nó xuất phát kèm theo những mưu đồ lợi ích xấu, trái đạo đức xã hội sẽ không được xem là có giá trị về mặt pháp lý

Xem xét ý chí của người nhận con nuôi trong trường hợp là người độc thân thì mọi việc sẽ dễ dàng hơn, đối với trường hợp là vợ chồng cùng nhận con nuôi thì bản chất vẫn

15

Khoản 1, Điều 8, Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004

Trang 35

không thay đổi, song có chút lưu ý là cần có được ý chí mong muốn nhận nuôi con nuôi của cả hai vợ chồng, hai người cần thỏa thuận và thống nhất trong đơn xin nhận con nuôi

có cả tên hai người với tư cách là cha, mẹ nuôi

Riêng đối với trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Khoản 2 Điều 28 Luật Nuôi con nuôi có thêm những trường hợp nhận nuôi con nuôi đích danh, nghĩa là nếu thuộc trong nhóm đối tượng đó thì người nhận nuôi con nuôi có thể trình bày nguyện vọng của mình xin đích danh một trẻ em nào đó trong đơn xin nhận con nuôi, nếu chưa xác định được đích danh trẻ em cần xin thì người đó có thể trình bày nguyện vọng của mình về đặc điểm như: tuổi, giới tính, tình trạng gia đình… của trẻ em để cơ quan có thẩm quyền tôn trọng và xem xét đáp ứng nếu có đối tượng phù hợp

Như vậy, người nhận nuôi con nuôi hoàn toàn chủ động và độc lập trong việc nhận con nuôi Đây là việc thể hiện ý chí đơn phương từ phía người nhận con nuôi, họ có thể thể hiện ý chí khách quan của mình thông qua đơn xin nhận con nuôi do họ có thể nộp đơn bất cứ lúc nào mà họ muốn Và hành vi đó của người nhận con nuôi chỉ có giá trị pháp lý khi tìm được con nuôi phù hợp và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận

2.1.2.3 Sự thể hiện ý chí của người được nhận làm con nuôi

Người được nhận làm con nuôi là đối tượng dễ bị tổn thương về tinh thần nhất do chưa phát triển đầy đủ về tâm sinh lí, nhưng do một hoàn cảnh nào đó mà nhóm trẻ em này không còn được sống trong môi trường gia đình gốc nữa, tuy nhiên các em vẫn được quan tâm nhất Luật nuôi con nuôi cũng đã quy định rõ sự bày tỏ ý chí của trẻ em trong

vấn đề nuôi con nuôi là: “…Trường hợp nhận trẻ em từ 09 tuổi trở lên làm con nuôi thì còn phải được sự đồng ý của trẻ em đó” (Khoản 1 Điều 21 Luật Nuôi con nuôi), tức là sự

bày tỏ ý chí đồng ý làm con nuôi của trẻ em từ 9 tuổi trở lên sẽ là điều kiện bắt buộc để quyết định việc nuôi con nuôi đó có giá trị pháp lý hay không Trẻ em có quyền tự quyết định có đồng ý làm con nuôi hay không trên cơ sở độc lập, tự nguyện phù hợp với suy nghĩ tình cảm của bản thân, sự đồng ý của đứa trẻ do bị dụ dỗ, ép buộc, lừa dối…thì đều không có giá trị pháp lý Vì vậy, sự đồng ý tự nguyện của người được nhận làm con nuôi được xem là hành vi pháp lý phát sinh một cách đơn phương độc lập vào mọi thời điểm không phụ thuộc vào ý chí của cha mẹ hoặc người giám hộ Ý chí của đứa trẻ đó tuy là quan trọng nhưng sẽ tốt hơn nếu đi kèm với ý chí tự nguyện của cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ để đảm bảo cho trẻ em có được môi trường sống tốt nhất để phát triển toàn diện Suy cho cùng, xuyên suốt quá trình của mối quan hệ nuôi con nuôi này đều do pháp luật điều chỉnh Tuy có nhiều yếu tố phụ thuộc và tác động lẫn nhau, nhưng việc nuôi con nuôi chỉ có thể được xác lập khi có sự bày tỏ ý chí tự nguyện của người nhận nuôi và

Trang 36

người được nhận nuôi hoặc người đại diện của người được nhận nuôi trong khuôn khổ các thủ tục pháp lý về nuôi con nuôi dưới sự giám sát của Nhà nước, đồng thời Nhà nước chỉ có thể tiến hành thực hiện chức năng của mình khi có đầy đủ ý chí tự nguyện của các đương sự

2.1.3 Các hành vi bị cấm trong quản lý Nhà nước về nuôi con nuôi

Việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi không ngoài mục đích tạo điều kiện cho những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trong môi trường gia đình đầm ấm, hạnh phúc Nhưng trên thực tế, không ít những trường hợp lợi dụng việc nuôi con nuôi với mục đích xấu, trục lợi cho bản thân Những hành vi nhằm xâm hại đến quyền, lợi ích của trẻ em được cho làm con nuôi cần được phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời, dứt khoát nhằm bảo vệ quyền, lợi ích tốt nhất cho trẻ Chính vì vậy tại Điều 13 Luật Nuôi con nuôi đã quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong việc nuôi con nuôi như sau:

2.1.3.1 Lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi, bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục; bắt cóc, mua bán trẻ em

Thực tế gần đây cho thấy có rất nhiều trường hợp lợi dụng việc nuôi con nuôi để mua bán trục lợi, xâm hại tình dục hoặc bắt trẻ em lao động Một trường hợp ví dụ như trường hợp bé Nguyễn Thục Phi sinh năm 2003 ở Quãng Ngãi, tuy còn nhỏ hàng ngày khi không đi học phải phụ việc trong quán ăn của gia đình mà còn bị cha mẹ nuôi đánh đập dã man, phải nhập viện trong tình trạng hoảng loạn tinh thần, thân thể bầm tím do bị cha mẹ nuôi nghi ngờ lấy trộm 500 nghìn16 Đây là hành vi cần lên án, không những vi phạm pháp luật mà còn vi phạm đạo đức xã hội Luật kết hợp quy định cấm này với việc thông báo tình hình phát triển của con nuôi và theo dõi việc nuôi con nuôi sau khi nhận con nuôi tại Điều 23 trong Luật nuôi con nuôi là một biện pháp an toàn nhất để đảm bảo quyền lợi cho trẻ em

2.1.3.2 Giả mạo giấy tờ để giải quyết việc nuôi con nuôi

Có một số chủ thể lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm ra những loại giấy tờ làm sai lệch các thông tin liên quan đến người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi

Ví dụ như trường hợp ông Huỳnh Văn Vinh – Phó bí thư xã Bình Định đã lợi dụng chức

vụ của mình để tiếp tay cho em dâu là Trần Thị Hoa làm hồ sơ nuôi con nuôi giả mạo nhằm trì hoãn thi hành hình phạt tù đã làm xôn xao dư luận.17

Trang 37

liên quan đến hồ sơ giải quyết việc nuôi con nuôi hoặc giấy tờ đúng nhưng thông tin trong giấy lại không đúng Ví dụ như làm sai lệch nguồn gốc, nhân thân của đứa trẻ hay giấy xác nhận tình trạng kinh tế, sức khỏe của người nhận con nuôi là đủ điều kiện nhưng trên thực tế người nhận con nuôi kinh tế đang túng thiếu, giấy khám sức khỏe do cơ sở y

tế cấp xác nhận sức khỏe tốt nhưng thực tế đang mắc bệnh truyền nhiễm, hiểm nghèo Việc làm giả mạo giấy tờ như vậy sẽ làm sai lệch các thông tin liên quan đến việc nuôi con nuôi, sẽ dẫn đến tình trạng các cơ quan có thẩm quyền ra quyết định công nhận việc nuôi con nuôi mà thực tế không đảm bảo được khả năng tạo điều kiện cho trẻ em được nuôi dạy tốt nhất

2.1.3.3 Phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi

Tại Khoản 2 Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định: “Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên; không được xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội” Vì mục đích của việc nuôi con nuôi

là đảm bảo cho người được nhận làm nuôi được chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức

xã hội trong môi trường gia đình, nên nếu ngay môi trường gia đình đó mà cha, mẹ nuôi lại có sự phân biệt giữa con đẻ và con nuôi thì sẽ ảnh hưởng lớn đời sống vật chất cũng như tinh thần của người con nuôi, làm phát sinh thêm những mối bất hòa trong gia đình, dẫn đến mục đích của việc nuôi con nuôi sẽ không được đảm bảo

2.1.3.4 Lợi dụng việc cho con nuôi để vi phạm pháp luật về dân số

Từ xưa trong xã hội đã có quan niệm “trời sinh voi sinh cỏ”, và tư tưởng đó vẫn

ăn sâu trong suy nghĩ của mọi người cho đến nay nên khiến cho rất nhiều gia đình có nhiều con, làm cho dân số thế giới tăng rất nhanh Chính vì vậy mà các nước trên thế giới nói chung và Nhà nước Việt Nam ta nói riêng đã ban hành nhiều chính sách về dân số nhằm khuyến khích mọi người dân chỉ nên có từ 1 đến 2 con Nhờ những chính sách đó nên đã giảm thiểu được tình trạng gia tăng dân số nhưng mặt khác lại mang đến hệ lụy là

tình trạng phân biệt giới tính con, “kiếm con trai để nối dõi tông đường” hoặc lựa chọn

giới tính thai nhi

Ví dụ như, tuy gia đình đã có hai con nhưng do sinh con một bề hoặc do con cái

đã lớn hết mà cha mẹ muốn có thêm con nhỏ để an ủi niềm vui lúc tuổi già mà không ngần ngại lén lút sinh thêm con thứ ba sau đó lợi dụng việc nuôi con nuôi để làm thủ tục nhận con nuôi, nhưng thực tế lại là con ruột Trường hợp này rất thường xảy ra đối với công, viên chức nhà nước

Trang 38

Hay trường hợp đặc biệt mà hiện nay xảy ra rất nhiều là do người vợ không thể sinh con nên vợ chồng quyết định lén lút nhờ người khác mang thai sinh con hộ ở những bệnh viện “chui” không đăng ký với cơ quan nhà nước với một khoản chi phí bồi dưỡng, sau khi sinh con xong họ sẽ lợi dụng việc nuôi con nuôi để nhận lại con ruột của mình Để giải quyết thực trạng đó nên Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có thay đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội đó là việc cho phép mang thai hộ với mục đích nhân đạo (được quy định từ Điều 93 đến Điều 100 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014) đi kèm với những yêu cầu nhất định cho cả người nhờ mang thai hộ và người mang thai hộ Việc quy định công nhận hình thức mang thai hộ vì mục đích nhân đạo của Nhà nước không những đáp ứng được nhu cầu của xã hội mà còn góp phần tích cực trong công tác quản lý

xã hội của mình do trước khi được quy định trong luật thì tình trạng này xảy ra rất nhiều

và rất khó quản lý

Các hành vi trên đều được xem là việc lợi dụng việc cho con làm con nuôi để vi phạm pháp luật về dân số Việc cho con đi làm con nuôi với mục đích như vậy không những sẽ vi phạm chính sách dân số mà còn làm tổn thương đến tâm lí, tình cảm của đứa trẻ làm hình thành trong tư tưởng của trẻ về sự phân biệt giới tính

2.1.3.5 Lợi dụng việc làm con nuôi của thương binh, người có công với cách mạng, người thuộc dân tộc thiểu số để hưởng chính chế độ, chính sách ưu đãi của Nhà nước

Trước đây trong Luật Hôn nhân và gia đình cũ (Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 và Điều 68 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000) đều quy định chung là

“Người trên mười lăm tuổi có thể được nhận làm con nuôi nếu là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi của người già yếu cô đơn”

Việc Luật quy định người trên 15 tuổi được làm con nuôi trong khi đó khoảng cách giữa người nuôi và con nuôi là 20 tuổi trở lên thì lúc này người nhận nuôi có lẽ tuổi đã cao và

có lẽ sẽ không đảm bảo được việc chăm sóc cho con nuôi được tốt, trong khi con nuôi lại

là đối tượng cần được sự quan tâm, chăm sóc đặt biệt

Đối với thương binh, người có công với cách mạng, người thuộc dân tộc thiểu số hiện nay Nhà nước ta dành nhiều chính sách ưu đãi đặt biệt cho nhóm đối tượng này, chính vì vậy thực tế trong thời gian qua không ít người đã lợi dụng điều này để cho con làm con nuôi những đối tượng này nhằm hưởng các chế độ, chính sách ưu đãi của Nhà nước, như cho con làm con nuôi người có công với cách mạng, thương binh để hưởng trợ cấp hàng tháng, bảo hiểm xã hội, hay cho con làm con nuôi người dân tộc thiểu số để hưởng ưu đãi trong học tập, thi cử Vì vậy, việc cho con nuôi này không phải nhằm mục đích vì sự phát triển của con nuôi mà là vì mục đích tư lợi và bị pháp luật nghiêm cấm

Trang 39

2.1.3.6 Ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi

Trong thực tế đã có không ít trường hợp ông, bà nhận cháu làm con nuôi khi cha mẹ

đẻ của cháu mất, hoặc do cha mẹ không còn và em còn quá nhỏ nên anh, chị nhận em làm con nuôi Những trường hợp nuôi con nuôi như vậy đã làm đảo lộn thứ bậc trong gia đình như việc ông bà nhận cháu làm con nuôi thì người cháu lại bỗng nhiên trở thành con

và ông bà lại trở thành bố mẹ Điều này là trái pháp luật, trái đạo lí và cần được nghiêm cấm Trong trường hợp này ta chỉ cần thiết lập nên mối quan hệ nuôi dưỡng chứ không phải là nuôi con nuôi, do bản chất của nuôi con nuôi là làm phát sinh quan hệ cha mẹ con, còn nuôi dưỡng là lại là nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình Nếu cha mẹ trẻ

em đó chết thì ông bà hoặc anh chị có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em đó chứ không cần phải xác lập quan hệ nuôi con nuôi để ràng buộc trách nhiệm lẫn nhau

2.1.3.7 Lợi dụng việc nuôi con nuôi để vi phạm pháp luật, phong tục tập quán, đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc

Quy định này là rất cần thiết để kịp thời ngăn chặn tình trạng phân biệt giới tính, vi phạm chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình hoặc lợi dụng việc nhận con nuôi để bóc lột sức lao động, hành hạ, mua bán trẻ em đang xảy ra ngày càng nhiều hiện nay Các hành vi trên không những vi phạm pháp luật mà còn vi phạm đạo đức, ảnh hưởng đến nét đẹp truyền thống, văn hóa của người Việt Dân tộc ta có bề dày lịch sử lâu đời với nhiều truyền thống văn hóa khác nhau nhưng đậm đà bản sắc dân tộc, luật đưa ra quy định cấm

vi phạm các phong tục tập quán, đạo đức, truyền thống văn hóa của dân tộc cũng là một biện pháp nhằm giữ gìn và đề cao bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam

2.2 THẨM QUYỀN, TRÌNH TỰ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VIỆC ĐĂNG KÝ NUÔI CON NUÔI THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

2.2.1 Thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết việc đăng ký nuôi con nuôi trong nước

2.2.1.1 Thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước

Việc nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, đảm bảo cho con nuôi được nuôi dưỡng giáo dục trong môi trường gia đình Thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước được quy định tại Điều 9 của Luật Nuôi con nuôi năm 2010 và Điều 2 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP cụ thể như sau:

Tại Khoản 1 Điều 9 Luật Nuôi con nuôi “Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi thường trú của người được giới thiệu làm

Trang 40

con nuôi hoặc của người nhận con nuôi đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước”, cụ thể là: “Đối với việc nuôi con nuôi trong nước thì Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi Trường hợp cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi; cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi hoặc có sự thỏa thuận giữa người nhận con nuôi với cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã thường trú của người nhận con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi

Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi chưa chuyển vào cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ em bị bỏ rơi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi; trường hợp trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi” (Khoản 1 Điều 2 Nghị định 19/2011/NĐ-CP)

2.2.1.2 Trình tự, thủ tục giải quyết việc đăng ký nuôi con nuôi trong nước

Hồ sơ của người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi

Đối với người nhận con nuôi theo Luật Nuôi con nuôi quy định thì công dân Việt Nam nếu có nhu cầu nuôi con nuôi thì nộp đơn xin nhận con nuôi và hồ sơ tại cơ quan có thẩm quyền để xin nhận con nuôi Hồ sơ của người xin nhận con nuôi trong nước được lập thành 01 bộ và được quy định tại Điều 17 Luật Nuôi con nuôi gồm:

Đơn xin nhận con nuôi;

Bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế; Phiếu lý lịch tư pháp;

Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân: Nếu người xin nhận con nuôi là vợ

chồng thì phải có bản sao giấy chứng nhận kết hôn; nếu người xin nhận con nuôi là người độc thân thì phải có văn bản xác nhận tình trạng độc thân; nếu đã

ly hôn thì phải có bản sao Bản án hoặc Quyết định ly hôn của Tòa án; nếu có

vợ hoặc chồng đã chết thì phải có bản sao giấy chứng tử của người chết

Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp cùng với văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chổ ở, điều kiện kinh tế do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người nhận con nuôi cấp

Nếu người nhận con nuôi là cha dượng, mẹ kế hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người nhận con nuôi thì hồ sơ xin nhận con nuôi không cần phải có: giấy khám sức khỏe

do cơ quan y tế cấp, giấy xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chổ ở và điều kiện kinh

tế - theo Khoản 5 Điều 17 Luật Nuôi con nuôi năm 2010

Ngày đăng: 03/10/2015, 05:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. C.Mác –Ph.Ăng ghen toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác –Ph.Ăng ghen toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
13. Hoàng Văn Sao, Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam, năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hành chính Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
14. Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam - tập 1 – phần gia đình, Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam -
Nhà XB: Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh
15. Phan Đăng Thanh – Trương Thị Hòa, Các chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam xưa và nay, Nxb tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam xưa và nay
Nhà XB: Nxb tổng hợp Tp Hồ Chí Minh
16. Phan Trung Hiền, Giáo trình luật hành chính Việt Nam – Trường Đại học Cần Thơ, phần 1 – Những vấn đề chung của Luật hành chính, năm 2009; Danh mục tài liệu khác Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hành chính Việt Nam
21. Giới thiệu chung về tỉnh Cà Mau, http://www.camau.gov.vn, [truy cập ngày 11/10/2014] Link
22. Sở tƣ pháp Thành phố Hồ Chí Minh, http://www.sotuphap.hochiminhcity.gov.vn , [ngày truy cập: 19/10/2014] Link
2. Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 (hết hiệu lực) Khác
3. Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 (hết hiệu lực) Khác
5. Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 Khác
7. Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch Khác
8. Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật nuôi con nuôi Khác
9. Thông tƣ số 12/2011/TT-BTP ngày 27/6/2011 của Bộ Tƣ pháp về ban hành và hướng dẫn ghi chép, lưu trữ, sử dụng biểu mẫu nuôi con nuôi; Danh mục Điều ƣớc quốc tế Khác
10. Công ƣớc Liên Hiệp quốc về quyền trẻ em năm 1989 Khác
11. Công ƣớc La Haye về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế năm 1993; Danh mục sách, giáo trình Khác
17. Báo cáo Đánh giá tình hình nuôi con nuôi thực tế giai đoạn 2 (theo kế hoạch số 26/KH-UBND của Uỷ ban nhân dân tỉnh Cà Mau ngày 29/8/2012) tháng 7 năm 2013 Khác
18. Báo cáo số 268/BC-STP, Báo cáo sơ kết 3 năm thi hành Luật Nuôi con nuôi và các văn bản hướng dẫn thi hành trên địa bàn tỉnh Cà Mau của Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau ngày 31/10/2013; Danh mục trang thông tin điện tử Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w