1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

các nguyên tắc hoạt động của tổ chức thương mại thế giới wto, thuận lợi và khó khăn đối với doanh nghiệp việt nam

67 706 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 475,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hy vọng góp phần tháo gỡ những khó khăn khi tìm hiểu về WTO, giúp các đọc giả cũng như tự trang bị cho mình có thêm những hiểu biết về nguyên tắc hoạt động của tổ chức này và góp phần th

Trang 1

THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN ĐỐI VỚI DOANH

NGHIỆP VIỆT NAM

MSSV: 5115797 Lớp: LK1164A1 - K37

Cần thơ, tháng 11/2014

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu, đối tượng nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục đề tài 3

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO 5

1.1 Khái niệm, chức năng và mục tiêu của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO 5

1.1.1 Khái niệm Tổ chức Thương mại Thế giới WTO 5

1.1.2 Chức năng của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO 6

1.1.3 Mục tiêu của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO 8

1.2 Cơ cấu tổ chức, quá trình hình thành và phát triển của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO 9

1.2.1 Cơ cấu tổ chức của WTO 9

1.2.1.1 Các cơ quan lãnh đạo chính trị và có quyền ra quyết định 10

1.2.1.2 Các cơ quan thừa hành giám sát việc thực hiện các hiệp định thương mại đa phương 11

1.2.1.3 Các cơ quan thực hiện chức năng hành chính - thư ký là Tổng giám đốc và Ban Thư ký WTO 11

1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển của WTO 12

1.2.2.1 GATT- tiền thân của WTO 12

1.2.2.2 Tổ chức Thương mại Thế giới WTO ra đời 13

1.3 Một số hiệp định cơ bản của WTO 14

Trang 5

1.3.1 Các hiệp định trong lĩnh vực thương mại hàng hóa và dịch vụ 14

1.3.2 Các hiệp định trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ 15

1.3.3 Các hiệp định trong một số lĩnh vực khác 16

CHƯƠNG 2 CÁC NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM 17

2.1 Các nguyên tắc hoạt động của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO 17

2.1.1 Nguyên tắc Đối xử tối huệ quốc (MFN) 17

2.1.2 Nguyên tắc Đối xử quốc gia (NT) 19

2.1.3 Nguyên tắc Mở cửa thị trường (Market access) 21

2.1.4 Nguyên tắc Cạnh tranh công bằng (Fair competition) 21

2.2 Pháp luật của Việt Nam đối với các nguyên tắc hoạt động của WTO 24

2.2.1 Một số quy định của Pháp lệnh về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế 24

2.2.2 Một số cam kết khác của Việt Nam trong WTO 25

CHƯƠNG 3 THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN, GIẢI PHÁP CHO DOANH NGHIỆP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT 28

3.1 Những tác động của các nguyên tắc hoạt động của WTO đối với doanh nghiệp Việt Nam 28

3.1.1 Những thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam 28

3.1.2 Những khó khăn còn vướng phải trong quá trình hội nhập 31

3.1.2.1 Khó khăn đối với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp hình thành lâu đời, có kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh và hội nhập 31

3.1.2.2 Khó khăn đối với doanh nghiệp mới hình thành, doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ 35

3.2 Giải pháp khắc phục khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế theo các nguyên tắc của WTO 36

3.2.1 Phát triển sản xuất kinh doanh theo hướng lấy chất lượng và tiêu chuẩn làm mục tiêu 37

Trang 6

3.2.2 Tiếp thu, học hỏi những thành tựu tiến bộ từ bên ngoài và khắc phục những khó khăn trong nội bộ 40 3.2.3 Tìm hiểu và nắm vững những quy định của pháp luật trong nước và quốc tế 42

3.3 Hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước phù hợp với các nguyên tắc của WTO 43

3.3.1 Xóa bỏ, sửa đổi và tiến tới hoàn thiện những quy định có sẵn phù hợp với

các nguyên tắc của WTO 44 3.3.2 Ban hành những quy định mới cho những lĩnh vực chưa được điều chỉnh nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong và ngoài nước phát triển theo xu hướng hội nhập 46 3.3.3 Tham gia xây dựng và kí kết các văn bản quốc tế góp phần thể hiện vai trò

và vị trí của Việt Nam trong WTO 48

KẾT LUẬN 49

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01-01-1995 và đã tiếp nối cho Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT 1947) Cùng với sự tiếp nối đó, WTO kế thừa và phát huy sứ mệnh của GATT là dẫn dắt hệ thống thương mại quốc tế

Hơn nữa, trong xu thế hội nhập cùng phát triển giữa các nước trên thế giới như hiện nay thì WTO ngày càng thể hiện rõ vai trò quan trọng của mình

là một mối dây liên kết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới trong lĩnh vực thương mại và từ đó phát triển rộng hơn sang lĩnh vực chính trị, xã hội, văn hóa, Hiện nay WTO có tất cả 160 thành viên trong tổng số hơn 220 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, chiếm trên 90% thương mại dịch vụ

và trên 85% thương mại hàng hóa toàn cầu

Nhận thức được tầm quan trọng đó, Việt Nam đã không ngừng nổ lực trong suốt mười hai năm bằng mười ba cuộc đàm phán đa phương và nhiều cuộc đàm phán song phương khác với nhiều thành viên nhằm sớm được bước chân vào ngôi nhà thương mại chung của thế giới này Sau tất cả những cố gắng, đến ngày 13-10-2006, tại phiên họp đa phương lần thứ 13 đã kết thúc tất

cả những vấn đề còn chưa thống nhất trong các văn kiện xét quy chế thành viên cho Việt Nam Và đến ngày 11-01-2007, Việt Nam đã chính thức là thành viên thứ 150 của tổ chức này

Có thể nói, bước chân vào ngưỡng cửa WTO là một thành quả xứng đáng cho nhà nước và nhân dân Việt Nam Đây là một bước tiến quan trọng giúp Việt Nam có thể sánh ngang tầm với các cường quốc trong khu vực và

trên thế giới đúng như tinh thần của Hiến pháp: “Nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác quốc tế, gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, thực hiện tiến

bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.”1

Tuy nhiên, WTO là một tổ chức điều chỉnh ở mức cao

1 Điều 50, Hiến pháp 2013

Trang 8

nhất và sâu rộng nhất những quan hệ thương mại quốc tế Chính vì vậy, quá trình hoạt động của tổ chức này vô cùng phức tạp thông qua những thỏa thuận, hiệp định, cam kết,… Cho nên để hòa nhập vào WTO là một vấn đề đau đầu của các cấp lãnh đạo cũng như của các doanh nghiệp

Hy vọng góp phần tháo gỡ những khó khăn khi tìm hiểu về WTO, giúp các đọc giả cũng như tự trang bị cho mình có thêm những hiểu biết về nguyên tắc hoạt động của tổ chức này và góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế

quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam, người viết lựa chọn đề tài “ Các nguyên

tắc hoạt động của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, những thuận lợi và khó khăn đối với doanh nghiệp Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp chuyên

ngành Luật thương mại của mình

2 Mục tiêu, đối tượng nghiên cứu

Người viết nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích làm sáng tỏ và giúp cho các đọc giả cũng như tự trang bị cho mình có những kiến thức cơ bản về khái niệm, chức năng, mục tiêu, quá trình hình thành phát triển, … Và đặc biệt là các nguyên tắc hoạt động của WTO Từ đó phân tích và chỉ ra những thuận lợi và khó khăn mà các nguyên tắc này mang lại cho doanh nghiệp Việt Nam Không những thế, thông qua những khó khăn còn vướng phải, người viết muốn đưa ra những giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như những lời khuyên cho các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế quốc

tế mà Việt Nam là một thành viên của WTO

3 Phạm vi nghiên cứu

Hiện nay có rất nhiều quan điểm về các nguyên tắc hoạt động của WTO, trong bài viết này, người viết phân chia thành bốn nguyên tắc và tập trung nghiên cứu bốn nguyên tắc này Cụ thể là: Nguyên tắc Đối xử tối huệ quốc (MFN), nguyên tắc Đối xử quốc gia (NT), nguyên tắc Mở cửa thị trường (Market access) và nguyên tắc Cạnh tranh công bằng (Fair competition) Ngoài ra ở chương I, người viết còn nghiên cứu về khái niệm, chức năng, mục tiêu, cơ cấu tổ chức, quá trình hình thành và phát triển cũng như một số hiệp định cơ bản của WTO mà thông qua những hiệp định này thể hiện được nguyên tắc hoạt động của tổ chức này

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 9

Trong quá trình nghiên cứu người viết đã sử dụng những phương pháp chủ yếu sau để đạt được mục tiêu của mình:

Phương pháp phân tích luật viết được sử dụng nhiều nhất giúp hiểu biết sâu sắc về vấn đề đang tìm hiểu cũng như những quy định của Hiến pháp, các văn bản luật và các hiệp định

Phương pháp chứng minh bằng số liệu, lí lẽ, dẫn chứng và phân tích số liệu giúp người viết đưa ra những thông tin chi tiết và xác thực

Phương pháp tổng hợp giúp khái quát được vấn đề, làm cho vấn đề trở nên dễ hiểu hơn cũng như tránh lạc đề, dài dòng

Ngoài ra, người viết còn sử dụng các biện pháp khác như so sánh, phủ định vấn đề, sắp xếp theo lôgic,…

5 Bố cục đề tài

Đối với đề tài này người viết lần lượt tìm hiểu các vấn đề về tổ chức thương mại thế giới từ khái quát đến vấn đề chính và chia thành ba chương như sau:

Chương 1 Khái quát chung về Tổ chức Thương mại Thế giới WTO

Đây là chương mở đầu nhằm mục đích cung cấp những thông tin khái quát nhất về vấn đề cần tìm hiểu Chính vì vậy, trong phạm vi chương này người viết đã đưa ra các vấn đề lý luận chung về WTO bao gồm: khái niệm, chức năng, mục tiêu, cơ cấu tổ chức, quá trình hình thành phát triển và các hiệp định cơ bản của WTO trong những lĩnh vực nhất định

Chương 2 Các nguyên tắc hoạt động của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO và pháp luật Việt Nam

Đây là chương quan trọng của bài viết mà trong đó người viết đưa ra hai vấn đề lớn tương ứng với hai mục lớn là:

Thứ nhất, Các nguyên tắc hoạt động của WTO Phần này tập trung phân tích rõ bốn nguyên tắc đã nêu Có thể nói đây là nền tảng cho phần sau và chương III

Thứ hai, bên cạnh những vấn đề đã được phân tích ở trên, người viết còn chỉ ra sự thể hiện của những nguyên tắc đó trong hệ thống pháp luật của Việt Nam Từ đó, giúp cho người đọc dễ dàng tiếp cận vấn đề hơn

Trang 10

Chương 3 Thuận lợi, khó khăn, giải pháp cho doanh nghiệp và hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật

Trong chương này, người viết từ những kết quả phân tích ở trên đã chỉ

ra những thuận lợi cũng như khó khăn còn vướng phải của doanh nghiệp Việt Nam và những lời khuyên với mong muốn các doanh nghiệp Việt Nam sẽ ngày càng lớn mạnh và vươn xa hơn từ đó khẳng định vị thế của quốc gia hình chữ S trên trường quốc tế Bên cạnh đó, người viết cũng không quên đề xuất hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước ta để phù hợp với xu thế chung của thế giới theo các nguyên tắc hoạt động của WTO

Trang 11

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO

Như đã nói ở trên, Tổ chức Thương mại Thế giới WTO là một tổ chức điều chỉnh ở mức cao nhất và sâu rộng nhất hoạt động thương mại quốc tế Cho nên để hiểu rõ về tổ chức này cần có một quá trình lâu dài và đi từ khái quát đến cụ thể Chính vì vậy, trước khi nói về những nguyên tắc hoạt động của WTO, chúng ta cần tìm hiểu một số kiến thức cơ bản về tổ chức này

1.1.Khái niệm, chức năng và mục tiêu của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO

1.1.1 Khái niệm Tổ chức Thương mại Thế giới WTO

Tổ chức Thương mại Thế giới WTO có tên gọi tiếng Anh là World Trade Organization và tên tiếng Pháp là l’Organization Mondial du Commerce Đây là một tổ chức quốc tế có trụ sở chính đặt tại Geneve, Thụy Sĩ, có chức năng giám sát hoạt động thương mại giữa các nước thành viên theo những quy tắc chung

Ngoài ra, trong hiệp định thành lập của tổ chức này cũng xác định rằng: “

WTO là một khuôn khổ định chế chung điều chỉnh các mối quan hệ thương mại giữa các thành viên của tổ chức về những vấn đề liên quan đến các hiệp định và các văn bản pháp lý không tách rời gồm cả những phụ lục của Hiệp định này”2 Như vậy, WTO là tập hợp những quy tắc trên cơ sở các hiệp định giữa các nước Những văn bản này tạo thành nền tảng pháp lí chung cho thương mại quốc tế Đó chủ yếu là những sự thỏa thuận giữa các chính phủ để duy trì chính sách thương mại trong khuôn khổ những thỏa thuận đó Mà để có được những thỏa thuận chung này, các nước phải tiến hành một công việc hết sức quan trọng là ngồi lại cùng nhau đàm phán và kí kết

Như vậy, một cách khái quát nhất, WTO là một tổ chức quốc tế giúp các nước thành viên có được sự tự do trong thương mại quốc tế, là một ngôi nhà

Trang 12

chung để các chính phủ đàm phán, kí kết các hiệp định thương mại hoặc liên quan đến thương mại và khi phát sinh tranh chấp nó cũng là nơi để họ giải quyết những tranh chấp này

1.1.2 Chức năng của tổ chức thương mại thế giới WTO

Như đã nói ở trên, WTO chủ yếu bao gồm những hiệp định là các thỏa thuận của những thành viên nên có thể nói một chức năng rất quan trọng của nó là quản

lý việc thực hiện các hiệp định – các thỏa thuận giữa những thành viên Chức năng

này bao gồm “ giám sát, tạo thuận lợi, kể cả trợ giúp kỹ thuật cho các nước thành

viên thực hiện các nghĩa vụ thương mại quốc tế của họ”3 Đây được xem như là một chức năng cơ bản và quan trọng nhất của WTO Bởi trong một tổ chức quốc

tế với nhiều thành viên như thế, giống như việc một bộ máy nhà nước quản lý cả quốc gia mình, thì tất nhiên sẽ tồn tại những sai sót có thể do yếu tố khách quan hoặc một sự cố ý nào đó mang lại khi một cá nhân, tổ chức hay chính phủ quá xem trong lợi ích của mình Chính vì vậy, WTO cần có một cơ chế để đảm bảo cho các thành viên thực hiện các thỏa thuận của họ một cách công bằng và chính xác nhất, sao cho mỗi thành viên đều có được sự cân bằng giữa quyền lợi và nghĩa

vụ của mình

Thứ hai, muốn có được các hiệp định thì tổ chức này phải “là khuôn khổ thể

chế để tiến hành các vòng đàm phán thương mại đa phương trong khuôn khổ WTO, theo quyết định của Hội nghị Bộ trưởng WTO”4

Mặc dù đề cao sự tự do hóa trong thương mại quốc tế nhưng suy cho cùng WTO vẫn là một tổ chức, cho nên bên trong nội bộ của nó cũng cần phải có những quy tắc riêng mà các thành viên phải tuân theo Vậy chức năng thứ hai này nhằm đảm bảo cho các thành viên

có được sự thống nhất trong đàm phán theo một khuôn khổ nhất định và tuân theo

cơ quan tối cao là Hội nghị Bộ trưởng

Thứ ba, trong quá trình tiến hành hoạt động thương mại quốc tế sẽ không khỏi xảy ra những mâu thuẫn dẫn đến tranh chấp mà các bên không tự giải quyết

được, khi đó WTO “là cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các thành viên liên quan

đến việc thực hiện và giải thích Hiệp định WTO và các hiệp định thương mại đa

3

PGS TS Nguyễn Anh Tuấn, Giáo trình tổ chức Thương mại Thế giới (WTO – OMC), NXB Chính trị

Quốc gia, Hà Nội, năm 2008, trang 30

Quốc gia, Hà Nội, năm 2008, trang 30

Trang 13

phương và nhiều bên” 5 Khi một quốc gia là thành viên của WTO, thì tất cả công dân được đại diện thông qua nhà nước của quốc gia đó thực hiện quyền và nghĩa

vụ của họ với các nước thành viên khác, cho nên thông qua việc đứng ra giải quyết những tranh chấp về thương mại, WTO còn giúp bảo vệ quyền lợi và tiếng nói cho cả một dân tộc, một cộng đồng người Hơn nữa, khi những tranh chấp xâm phạm đến quyền lợi của một quốc gia nào đó nếu không được giải quyết một cách triệt để sẽ gây ra những hiềm khích giữa các nước này với nhau, từ đó gây nên những bất ổn về chính trị, hay tồi tệ hơn có thể xảy ra những cuộc chiến tranh đe dọa nền hòa bình thế giới mà nạn nhân của tất cả các cuộc chiến đó luôn là những con người vô tội Chính vì vậy, thông qua chức năng này có thể khẳng định rằng WTO là một tổ chức nhân đạo cao cả vì hòa bình và hạnh phúc của nhân loại Thứ tư, một điều mà ai cũng phải công nhận rằng là trình độ phát triển của các nước luôn luôn không đồng đều cho nên việc xây dựng và áp dụng các quy tắc

đã thỏa thuận cũng không đồng nhất với nhau và kết quả mang lại cũng khác nhau Chính vì vậy, để giúp các thành viên có thể đạt được hiệu quả cao nhất và sự phát triển nhanh nhất khi hội nhập mà đặc biệt là các nước kém phát triển và đang phát

triển (trong đó có Việt Nam) WTO “là cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại

của các nước thành viên, bảo đảm thực hiện mục tiêu thúc đẩy tự do hóa thương mại và tuân thủ các quy định của WTO, Hiệp định thành lập WTO đã quy định một cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại áp dụng chung đối với tất cả các thành viên” 6

Thứ năm, trong quan hệ quốc tế ngày nay có một quy luật chung mà không một quốc gia nào có thể từ bỏ đó là: muốn tồn tại và phát triển thì phải có sự liên kết giữa các nhà nước và các dân tộc với nhau Với WTO cũng vậy, tuy là ngôi nhà chung của hầu hết các nước nhưng hòa nhập vào xu thế toàn cầu hóa mà nó là một trong số ngày càng nhiều tổ chức quốc tế đã và đang hình thành thì một yếu tố

không thể thiếu là “thực hiện việc hợp tác với các tổ chức kinh tế quốc tế khác

như Quỹ Tiền tệ quốc tế và Ngân hàng Thế giới trong việc hoạch định những

5

PGS TS Nguyễn Anh Tuấn, Giáo trình tổ chức Thương mại Thế giới (WTO – OMC), NXB Chính trị

Quốc gia, Hà Nội, năm 2008, trang 30

Quốc gia, Hà Nội, năm 2008, trang 30

Trang 14

chính sách và dự báo về những xu hướng phát triển tương lai của kinh tế toàn cầu” 7

Tóm lại, so với GATT 1947, các chức năng của WTO đã được khái quát một cách gần như toàn diện nhất các khía cạnh của thương mại quốc tế Nếu như ở GATT chủ yếu là những cam kết của các quốc gia về việc cắt giảm thuế quan hoặc cho hưởng những ưu đãi, miễn trừ được nêu trong vòng một hiệp định và các phụ lục kèm theo, thì khi WTO ra đời, nó đã xem xét đến việc đàm phán, kí kết các hiệp định và có cơ chế giải quyết tranh chấp rõ ràng, minh bạch hơn cũng như đặc biệt là việc hợp tác với các tổ chức khác được đề cao

1.1.3 Mục tiêu của tổ chức thương mại thế giới WTO

WTO với tư cách là một tổ chức thương mại của tất cả các nước trên thế giới, kế thừa và thực hiện những mục tiêu đã được nêu trong Hiệp định GATT

1947 là nâng cao mức sống của nhân dân các nước thành viên, đảm bảo việc làm

và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thương mại, sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực của thế giới Cụ thể WTO có 3 mục tiêu sau:

Thứ nhất, “Thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hoá và dịch vụ trên thế

giới phục vụ cho sự phát triển, ổn định, bền vững và bảo vệ môi trường”8 Đây là mục tiêu quan trọng và cao cả hàng đầu của WTO, nó thể hiện được chức năng chính và bản chất thực sự của WTO là một tổ chức đứng đầu trong lĩnh vực thương mại quốc tế, là động lực cho sự phát triển của hoạt động này, đồng thời tạo nền tảng vững chắc để các nước có được sự ổn định về chính trị-xã hội, tăng trưởng kinh tế cũng như một việc không thể thiếu là bảo vệ môi trường

Thứ hai, “Thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, giải quyết các bất

đồng và tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên trong khuôn khổ của hệ thống thương mại đa phương, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Công pháp quốc tế, bảo đảm cho các nước đang phát triển và đặc biệt là các nước kém phát triển nhất được thụ hưởng những lợi ích thực sự từ sự tăng trưởng của thương

7

PGS TS Nguyễn Anh Tuấn, Giáo trình tổ chức Thương mại Thế giới (WTO – OMC), NXB Chính trị

Quốc gia, Hà Nội, năm 2008, trang 30

Quốc gia, Hà Nội, năm 2008, trang 30

Trang 15

mại quốc tế, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế của các nước này và khuyến khích các nước này ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới”9

Thứ ba, “Nâng cao mức sống, tạo công ăn, việc làm cho người dân các

nước thành viên, bảo đảm các quyền và tiêu chuẩn lao động tối thiểu được tôn trọng”10

Thông qua mục tiêu này, WTO xác định được rằng động lực lớn nhất cho sự phát triển chính là nhân tố con người hay cụ thể là nguồn lao động Mặc dù hiện nay xuất hiện ngày càng nhiều máy móc, thiết bị phục vụ mua bán, sản xuất nhưng đó đều là sản phẩm do con người tạo ra và không có bất kỳ một loại nào trong số đó có thể vượt qua bàn tay và khối óc Một minh chứng xác thực cho lý thuyết này chính là nền kinh tế của đất nước Mặt trời mọc Sau thế chiến thứ II, Nhật Bản lâm vào tình trạng khủng hoảng suy thoái nhưng nhờ có nhiều chính sách đúng đắn mà quan trọng nhất là đề cao nhân tố con người, đào tạo nguồn lao động chất lượng cao, xem sức lao động là sức mạnh lớn nhất cho nên quốc gia này

đã có một thời phát triển chóng mặt vươn lên thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, sau Mỹ, trong những năm bảy mươi, tám mươi của thế kỉ trước

Các chức năng và mục tiêu của WTO có sự liên hệ chặt chẽ và mật thiết với nhau: thông quan những mục tiêu được đề ra ngay từ đầu một cách khái quát, WTO được xác định là một tổ chức có những chức năng quan trọng trên trường quốc tế và cũng chính nhờ phát huy tối đa những chức năng này mà các mục tiêu cao cả được bảo đảm trong quá trình hoạt động Cho nên có thể nói WTO không chỉ đơn thuần là một tổ chức quốc tế trong lĩnh vực thương mại mà nó còn là một nền móng vững chắc cho ngôi nhà thế giới phát triển bền vững và ổn định về mọi mặt của đời sống xã hội

1.2 Cơ cấu tổ chức, quá trình hình thành và phát triển của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO

1.2.1 Cơ cấu tổ chức của WTO

WTO là một tổ chức quốc tế nên có một cơ cấu phức tạp gồm 3 cấp: thứ nhất là các Cơ quan lãnh đạo chính trị và có quyền ra quyết định bao gồm Hội

9

Cổng Thông tin điện tử Chính phủ nước Cộng hòa xã hộ chủ nghĩa Việt Nam, Tổ chức Thương mại Thế

giới (WTO),

http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/ChiTietVeToChucQuocTe? diplomacyOrgId=125 , [ ngày truy cập 15-08-2014]

10

Cổng Thông tin điện tử Chính phủ nước Cộng hòa xã hộ chủ nghĩa Việt Nam, Tổ chức Thương mại Thế

giới (WTO),

http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/ChiTietVeToChucQuocTe? diplomacyOrgId=125 , [ ngày truy cập 15-08-2014]

Trang 16

nghị Bộ trưởng, Ðại hội đồng WTO, Cơ quan giải quyết tranh chấp và Cơ quan kiểm điểm chính sách thương mại Thứ hai là các Cơ quan thừa hành và giám sát việc thực hiện các hiệp định thương mại đa phương bao gồm Hội đồng GATT, Hội đồng GATS và Hội đồng TRIPS tương ứng với ba Hiệp định GATT, GATS

và TRIPS Thứ ba là các cơ quan thực hiện chức năng hành chính - thư ký là Tổng giám đốc và Ban Thư ký WTO11

1.2.1.1 Các cơ quan lãnh đạo chính trị và có quyền ra quyết định

Hội nghị Bộ trưởng WTO: là cơ quan lãnh đạo chính trị cao nhất của WTO, họp ít nhất hai năm một lần, giống như tên gọi, thành viên của nó là đại diện cấp

Bộ trưởng của tất cả các thành viên WTO Ðiều IV khoản 1 Hiệp định thành lập

WTO quy định: “ Hội nghị bộ trưởng sẽ họp hai năm một lần bao gồm tất cả các

thành viên Hội nghị bộ trưởng sẽ thực hiện những chức năng của WTO và đưa ra những hành động cần thiết để thực thi những chức năng này Khi một thành viên nào đó yêu cầu, hội nghị bộ trưởng có quyền đưa ra những quyết định về tất cả những vấn đề thuộc bất kỳ một Hiệp định thương mại đa biên nào theo đúng các yêu cầu cụ thể về cơ chế ra quyết định quy định trong hiệp định này và hiệp định thương mại đa biên có liên quan”12 Như vậy, Hội nghị Bộ trưởng là cấp cao nhất

và có quyền quyết định tất cả các vấn đề phát sinh giữa các nước thành viên

Tuy nhiên, cũng giống như Quốc hội của nước ta, Hội nghị bộ trưởng chỉ làm việc thông qua phiên họp cho nên ở các khoảng thời gian còn lại thì quyền lực tạm thời trao cho cơ quan khác mà cụ thể trong WTO là Ðại hội đồng: Trong thời gian giữa các khoá họp của Hội nghị Bộ trưởng WTO, các chức năng của Hội nghị

Bộ trưởng WTO do Ðại hội đồng đảm nhiệm Ðại hội đồng WTO hoạt động trên

cơ sở thường trực tại trụ sở của WTO ở Geneva, Thụy Sĩ Thành viên của Ðại hội đồng WTO là đại diện ở cấp Ðại sứ của chính phủ tất cả các thành viên13

Trong cấp thứ nhất còn có hai cơ quan với nhiệm vụ rất quan trọng là Cơ quan giải quyết tranh chấp và Cơ quan kiểm điểm chính sách thương mại: Ðiều IV khoản 4, khoản 5 Hiệp định thành lập WTO có quy định là ngoài việc thực hiện các chức năng của Hội nghị Bộ trưởng WTO trong thời gian giữa hai khoá họp, Ðại hội đồng -WTO còn thực hiện những chức năng khác được trao trực tiếp theo

Quốc gia, Hà Nội, năm 2008, trang 10

Quốc gia, Hà Nội, năm 2008, trang 10

Trang 17

các Hiệp định thương mại đa phương, trong đó quan trọng nhất là chức năng giải quyết tranh chấp và chức năng kiểm điểm chính sách thương mại Chính vì vậy

mà Ðại hội đồng WTO đồng thời là cơ quan giải quyết tranh chấp và cũng là Cơ quan kiểm điểm chính sách mại khi thực hiện những chức năng này

1.2.1.2 Các cơ quan thừa hành giám sát việc thực hiện các hiệp định thương mại đa phương

Theo như hiệp định thành lập thì WTO có ba hội đồng được thành lập để giám sát việc thực thi ba Hiệp định thương mại đa phương tương ứng là: Hội đồng GATT tương ứng với Hiệp định Thương mại hàng hóa (GATT), Hội đồng GATS tương ứng với Hiệp định Thương mại dịch vụ (GATS) và Hội đồng TRIPS tương ứng với Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sỡ hữu trí tuệ (TRIPS) Tất cả nước thành viên đều có quyền tham gia vào hoạt động của ba hội đồng này Ba hội đồng nói trên báo cáo trực tiếp các công việc của mình lên Ðại hội đồng WTO

Ngoài ra còn có các cơ quan được các hội đồng của WTO thành lập với tư cách trực thuộc để giúp các hội đồng này trong việc thực hiện các chức năng kỹ thuật, ví dụ: Ủy ban về thâm nhập thị trường, Ủy ban về trợ giá nông nghiệp và các Nhóm công tác được thành lập trên cơ sở tạm thời để giải quyết những vấn đề

sẽ do một tổng giám đốc lãnh đạo”15, trong đó Hội nghị bộ trưởng sẽ bổ nhiệm Tổng giám đốc, quyết định về quyền hạn, nghĩa vụ, thời gian phục vụ,… Sau đó, Tổng giám đốc sẽ bổ nhiệm các thành viên của Ban thư kí và cũng quy định quyền

hạn và nghĩa vụ của những thành viên này Quan trọng hơn hết là “trách nhiệm

của Tổng thư kí và nhân viên Ban thư kí sẽ phải hoàn toàn mang tính quốc tế Khi thực hiện bổn phận của mình, Tổng giám đốc và thành viên Ban thư kí sẽ không

Trang 18

được phép tìm kiếm hoặc chấp nhận những chỉ thị từ bất kì một chính phủ hay một

cơ quan nào khác ngoài WTO”16

Như vậy, Tổng giám đốc là người có quyền lực lớn nhất trong ban thư kí, cho nên việc bổ nhiệm người giữ chức vụ này luôn là một cuộc chạy đua giữa những vị có thế lực lớn trên thế giới, có thể là các bộ trưởng, các thủ tướng hay tổng thống Tuy nhiên, trách nhiệm của Tổng giám đốc và thành viên Ban thư kí cũng hết sức nặng nề, họ hoạt động mang tính quốc tế và hoàn toàn chỉ tuân theo WTO

1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển của WTO

1.2.2.1 GATT- tiền thân của WTO

Vào những năm 40 của thế kỉ trước, khi chiến tranh Thế giới thứ hai vẫn còn chưa kết thúc mà những tổn thất nó mang lại thực sự quá lớn cho toàn nhân loại, cho nên ngay lúc này các nước đã nghĩ đến việc thiết lập các thỏa thuận chung về kinh tế để hỗ trợ công cuộc khôi phục sau chiến tranh Chính vì vậy, Hội nghị Bretton Woods đã được triệu tập ở bang New Hampshire (Hoa Kỳ) năm 1944 nhằm mục đích này Kết quả của Hội nghị Bretton Woods là sự ra đời của 2 tổ chức tài chính: Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (nay gọi là Ngân hàng Thế giới - WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Ngoài ra, một tổ chức chung về thương mại cũng được đề xuất thành lập với tên gọi Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO).17

Tuy nhiên, phạm vi hoạt động được áp đặt cho ITO là khá lớn, bao trùm lên

cả các vấn đề việc làm, đầu tư, cạnh tranh, dịch vụ, vì thế việc đàm phán Hiến chương của ITO diễn ra khá lâu Trong khi đó, vì mong muốn sớm cắt giảm thuế quan để đẩy mạnh công cuộc tái thiết sau chiến tranh, năm 1946, một nhóm 23 nước đã đàm phán riêng lẻ và đạt được một số ưu đãi thuế quan nhất định Để ràng buộc những ưu đãi đã đạt được, nhóm 23 nước này quyết định lấy một phần về chính sách thương mại trong dự thảo Hiến chương ITO và cải tiến nó thành Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) mà chúng ta thường gọi là

16

Cổng Thông tin điện tử Chính phủ nước Cộng hòa xã hộ chủ nghĩa Việt Nam, Tổ chức Thương mại Thế

giới (WTO),

http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/ChiTietVeToChucQuocTe? diplomacyOrgId=125 , [ ngày truy cập 15-08-2014]

17

Bộ ngoại giao Việt Nam, Lịch sử ra đời, mục tiêu, nguyên tắc pháp lý, cơ cấu tổ chức và các hiệp định

cơ bản của WTO,

http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/nr091019080134/nr091019085342/nr091019085619/nr09102902180 8/ns091029022045 ,[ngày truy cập 01-11-2014]

Trang 19

GATT năm 1947 GATT 1947 có hiệu lực từ 1/1/1948 như một thoả thuận tạm thời trong khi chờ ITO được thành lập Nhưng ITO không ra đời bởi vì Quốc hội Hoa Kỳ không phê chuẩn Hiến chương làm cho các nước khác cũng không phê chuẩn Do vậy từ thời điểm này GATT trở thành mũi kim chỉ nam quan trọng nhất của thương mại quốc tế cho đến khi WTO ra đời

1.2.2.2 Tổ chức thương mại thế giới WTO ra đời

Có thể nói, trong bốn mươi tám năm tồn tại của mình (từ 1947 đến 1995), GATT 1947 đã có những đóng góp to lớn vào việc thúc đẩy sự phát triển của thương mại thế giới Số lượng các bên tham gia cũng tăng nhanh Cho tới trước khi WTO được thành lập, GATT đã có 124 bên ký kết và đang tiếp nhận 25 đơn xin gia nhập Từ mức thuế trung bình 40% của năm 1948, đến năm 1995, mức thuế trung bình của các nước phát triển chỉ còn khoảng 4% và của các nước đang phát triển còn khoảng 15%.18

Tuy nhiên đến cuối những năm 1980 đầu 1990 thì lịch sử nhân loại chứng kiến những sự kiện làm thay đổi cả thế giới Mở đầu là việc kết thúc chiến tranh lạnh giữa Liên Xô và Mỹ năm 1989 và sau đó là sự tan rã của Liên bang Xô Viết đánh dấu cho sự tắt liệm thời kỳ vàng son của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn cầu kèm theo hàng loạt các quốc gia mới được hình thành như: Cư-rơ-gư-tan, U-dơ-bê-kit-tan, Ta-gi-kit-tan,… Đặc biệt là cũng trong thời kì này hầu hết các quốc gia thuộc địa ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh đều giành được độc lập cùng với

sự vươn lên của Nhật Bản và Tây Âu đã khiến trật tự thế giới hình thành theo hướng đa cực, không còn tập trung vào tay Mỹ và Liên Xô như trước nữa Chính

vì vậy, trước những biến chuyển sâu sắc này và sự phát triển của khoa học-kỹ thuật, GATT bắt đầu tỏ ra có những bất cập, không theo kịp tình hình khi chỉ điều chỉnh ở mức cơ bản và có phần khái quát các quan hệ thương mại quốc tế

Trước tình hình đó các bên tham gia GATT nhận thấy cần phải có nỗ lực để củng cố và mở rộng hệ thống thương mại quốc tế Từ năm 1986 đến 1994, Hiệp định GATT và các hiệp định kèm theo của nó đã được các nước thảo luận sửa đổi

và cập nhật để thích ứng với điều kiện thay đổi của thời đại Sau đó, Hiệp định GATT 1947, cùng với các quyết định đi kèm và một vài biên bản giải thích khác

18

Bộ Ngoại giao Việt Nam,Lịch sử ra đời, mục tiêu, nguyên tắc pháp lý, cơ cấu tổ chức và các hiệp định

cơ bản của WTO

, http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/nr091019080134/nr091019085342/nr091019085619/nr0910290218 08/ns091029022045 , [ngày truy cập 07-09-2014]

Trang 20

đã hợp thành GATT 1994 Bên cạnh đó, một số hiệp định khác cũng đạt được trong các lĩnh vực như nông nghiệp, dệt may, trợ cấp, tự vệ và các lĩnh vực khác, cùng với GATT 1994, chúng tạo thành các yếu tố của một hệ thống thương mại quốc tế mới và hoàn thiện hơn Cuối cùng, Vòng đàm phán Uruguay kéo dài tám năm (1986-1994) cũng thông qua một loạt các quy định mới điều chỉnh thương mại Dịch vụ và Quyền Sở hữu Trí tuệ liên quan đến thương mại, và có thể nói một thành công lớn nhất mang tính lịch sử của vòng đàm phán lần này là các nước đã cho ra Tuyên bố Marrakesh (Maroc) kết thúc vòng đàm phán và thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), bắt đầu đi vào hoạt động từ ngày 1/1/19951.19 Từ đây, GATT đã kết thúc sứ mệnh vĩ đại của mình và WTO là một tổ chức kế nhiệm GATT trong việc lãnh đạo hệ thống thương mại quốc tế

1.3 Một số hiệp định cơ bản của WTO

Các hiệp định của WTO tập trung điều chỉnh ba lĩnh vực chính là thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ Các hiệp định này đưa

ra các nguyên tắc để trên cơ sở đó các thành viên WTO có những cam kết cắt giảm thuế quan, dỡ bỏ các hàng rào thương mại và mở cửa thị truờng Để điều chỉnh hệ thống thương mại quốc tế WTO có tất cả 16 Hiệp định chính Đây là các hiệp định mà tất cả thành viên đều phải tham gia

1.3.1 Các hiệp định trong lĩnh vực thương mại hàng hóa và dịch vụ

Trong số tổng số 16 Hiệp định chính thì WTO có ba hiệp định về thương mại hàng hóa là: Hiệp định chung về thuế quan thương mại, gọi tắt là GATT 1994, Hiệp định nông nghiệp, gọi tắt là AOA và Hiệp định về hàng dệt may, gọi tắt là ATC Và một Hiệp định về Thương mại Dịch vụ, gọi tắt là GATS

Trong đó, quan trọng nhất là GATT 1994 được xây dựng dựa trên cơ sở GATT 1947 Ngay khi bắt đầu nó đã nêu lên nguyên tắc cơ bản là Thương mại không phân biệt đối xử thể hiện tại Điều I và nguyên tắc Đãi ngộ quốc gia tại Điều III Phần kế tiếp là các hiệp định bổ sung và các phụ lục bao gồm những điều khoản đặc biệt liên quan đến những ngành riêng biệt Phần cuối cùng là danh mục các cam kết của mỗi nước về việc cắt giảm thuế quan

19

Bộ ngoại giao Việt Nam, Lịch sử ra đời, mục tiêu, nguyên tắc pháp lý, cơ cấu tổ chức và các hiệp định

cơ bản của WTO,

http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/nr091019080134/nr091019085342/nr091019085619/nr09102902180 8/ns091029022045 ,[ngày truy cập 01-11-2014]

Trang 21

Một trong những Hiệp định đánh dấu sự tiến bộ của WTO là Hiệp định nông nghiệp AOA, bởi vì từ khi GATT 1947 được thành lập thì trong suốt thời gian tồn tại các nguyên tắc của nó đã không được áp dụng trong lĩnh vực nông nghiệp Hiệp định này nhằm mục đích cải cách thương mại quốc tế đối với hàng nông sản, đưa ra cách thức buôn bán nông sản công bằng, bình đẳng và góp phần củng cố vai trò của thị trường bằng cách yêu cầu các nước phải chấp nhận hai điều kiện: Giảm trợ cấp bao gồm cả trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp sản xuất; Tăng mức độ mở cửa thị trường20

Trong lĩnh vực này còn có một hiệp định rất đặc biệt mà bản thân nó được quy định tự chấm dứt hiệu lực vào ngày 31-12-2004, đó là ATC- Hiệp định về hàng dệt may Đây là hiệp định duy nhất của WTO quy định về việc tự chấm dứt hiệu lực Nó ra đời thay thế cho Hiệp định hàng đa sợi MFA và là hiệp định quốc

tế chính thức điều chỉnh thương mại hàng dệt may Nội dung chính của nó là các nước nhập khẩu phải xóa bỏ hạn ngạch và không được phân biệt đối xử giữa những nước xuất khẩu21

Đối với hiệp định về thương mại dịch vụ GATS, nó bao gồm hầu như toàn

bộ các lĩnh vực dịch vụ Các điều khoản của nó quy định những quan điểm, nguyên tắc, luật lệ nhằm đạt được mục tiêu tự do hóa thương mại Đặc biệt là GATS đưa ra 3 nguyên tắc cơ bản: thứ nhất là nguyên tắc không phân biệt đối xử, thứ hai là cam kết ràng buộc đối với việc mở cửa thị trường và thứ ba là nguyên tắc minh bạch

Thông qua các Hiệp định này có thể thấy phạm vi điều chỉnh về thương mại hàng hóa và dịch vụ của WTO đã tiến bộ hơn cả về nội dung và phạm vi so với GATT 1947

1.3.2 Hiệp định trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ

Khi nhắc đến vấn đề sỡ hữu trí tuệ thì có thể nói đây là một lĩnh vực nhạy cảm và gây ra nhiều rắc rối cho hệ thống thương mại quốc tế mà đặc biệt là vấn đề hàng giả, hàng nhái Chính vì vậy, trong vòng đàm phán Urugoay, các nước đã tiến hành kí kết Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ có liên quan đến thương mại TRIPS cùng với sự ra đời của WTO Hiệp định này bao gồm các điều khoản về

20

PGS TS Nguyễn Anh Tuấn, Giáo trình tổ chức Thương mại Thế giới (WTO – OMC), NXB Chính trị

Quốc gia, Hà Nội, năm 2008, trang 67

Quốc gia, Hà Nội, năm 2008, trang 72

Trang 22

nguyên tắc và biện pháp nhằm thực hiện quyền sở hữu trí tuệ với mục tiêu tổng quát là góp phần giảm bớt sự giả mạo trong thương mại và các rào cản thương mại quốc tế, thúc đẩy việc bảo hộ hiệu quả và thực thi quyền sở hữu trí tuệ

Về hàng rào thếu quan thì có hai hiệp định là Hiệp định về quy tắc xuất sứ (ROR) và Hiệp định Trị giá hải quan (ACV)

Đối với quyền tự vệ thì có các hiệp định cơ bản: Hiệp định về các biện pháp

tự vệ (ASG), Hiệp định về trợ cấp (SCM) và Hiệp định về bán phá giá (AAD) Ngoài ra còn có một hiệp định về các biện pháp đầu tư có liên quan đến thương mại (TRIMS) trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài và Thảo luận về các quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp (DSU)

Như vậy, so với GATT 1947 chỉ điều chỉnh chủ yếu các quan hệ về thương mại hàng hóa quốc tế, WTO đã hơn hẳn Nó điều chỉnh gần như toàn bộ những khía cạnh của hệ thống thương mại quốc tế mà trong đó có hàng nông sản và dệt may là những trường hợp không được áp dụng bởi GATT, điều tiết cả hoạt động thương mại dịch vụ, hoạt động đầu tư và sở hữu trí tuệ vốn là những lĩnh vực không được điều chỉnh trong GATT Cho nên có thể khẳng định rằng, về cơ bản WTO là sự kế thừa, phát triển của GATT và những quy định của nó có phạm vi điều chỉnh rộng hơn cũng như chặt chẽ hơn

Trang 23

CHƯƠNG 2 CÁC NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO VÀ

PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Nếu như chương một chỉ dừng lại ở những vấn đề cơ bản về WTO nhằm giúp cho người đọc hình dung được một cách sơ lược về tổ chức này, thì sang đến chương hai, sẽ tiếp cận một cách cụ thể hơn bốn nguyên tắc hoạt động chính, được xem là nền tảng của WTO Bên cạnh đó, chúng ta sẽ tìm hiểu những quy định có liên quan trong hệ thống pháp luật của nước ta cũng như những cam kết chính của Việt Nam trong một số lĩnh vực nhất định

2.1 Các nguyên tắc hoạt động của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO

Trong quá trình tìm hiểu về WTO, có thể nói vấn đề quan trọng nhất và cần đặt lên hàng đầu đó là các nguyên tắc hoạt động của nó Bởi vì, khi những thỏa thuận giữa các quốc gia được kí kết thì đều dựa trên nền tảng là các nguyên tắc này Nó luôn là yếu tố chính khi nhắc đến WTO và sự vận dụng rộng rãi, lâu dài

đã biến nó gần như trở thành những chuẩn mực của thương mại quốc tế

2.1.1 Nguyên tắc Đối xử tối huệ quốc (MFN)

Đầu tiên là một nguyên tắc được nhắc đến nhiều nhất và xem như là quan trọng nhất của WTO Nguyên tắc này đã được hình thành và ghi nhận từ thế kỉ XVIII trong Hiệp ước giữa Hoa Kỳ và Pháp, nhưng khi GATT 1947 ra đời thì nó mới thực sự trở thành nền tảng của hệ thống thương mại quốc tế Đó là nguyên tắc Đối xử tối huệ quốc (MFN) Như đã nói ở trên, MFN là một nguyên tắc cực kì quan trọng cho nên nó được thể hiện ngay trong điều I của Hiệp định GATT với

tên gọi là “Quy định chung về đối xử tối huệ quốc” Ngoài ra, khi WTO ra đời,

cùng với sự tiến bộ của nó, nguyên tắc này còn được đưa vào Hiệp định thương mại dịch vụ (GATS) tại điều II và Hiệp định về sở hữu trí tuệ (TRIPS) tại điều IV

Trang 24

Nguyên tắc Đối xử tối huệ quốc được viết theo tiếng Anh có nghĩa là Most Favoured Nation (MFN) Nếu nhìn nhận ở góc độ Tư pháp quốc tế thì MFN được hiểu là: Người nước ngoài sẽ ngang bằng với người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài sẽ ngang bằng với pháp nhân nước ngoài về quyền và nghĩa vụ Còn nếu xem xét ở góc độ chi tiết hơn của Thương mại quốc tế thì : Theo nguyên tắc MFN, WTO yêu cầu một nước thành viên phải áp dụng thuế quan và các quy định khác đối với hàng hoá nhập khẩu từ các nước thành viên khác nhau (hoặc hàng hoá xuất khẩu tới các nước thành viên khác nhau) một cách bình đẳng, không phân biệt đối

xử Điều đó có nghĩa là nếu một nước thành viên dành cho sản phẩm từ bất kỳ nước thành viên nào mức thuế quan hay bất kỳ một ưu đãi phi thuế quan nào khác thì cũng phải dành mức thuế quan hoặc ưu đãi đó cho sản phẩm cùng loại của tất

cả các quốc gia thành viên khác một cách ngay lập tức và vô điều kiện.22

Ví dụ cụ thể về nguyên tắc này như sau: Hiện nay Việt Nam, Thái Lan và

Mỹ đều là thành viên của WTO Giả sử cả hai nước đều xuất khẩu sản phẩm gạo cùng loại vào thị trường Mỹ, thì khi đó nếu Mỹ dành cho Thái Lan những ưu đãi

về thuế quan hay bất kỳ những ưu đãi nào khác thì cũng phải cho Việt Nam những

ưu đãi đó Cụ thể nếu gạo của Thái Lan được đánh thuế là 2% thì gạo Việt Nam cũng vậy Còn nếu một nước thứ tư khác không phải là thành viên của WTO cũng xuất khẩu cùng sản phẩm này vào thì Mỹ có thể áp dụng mức thuế cao hơn hoặc

có quyền không cho hưởng những ưu đãi như đã áp dụng với Việt Nam và Thái Lan Tuy nhiên trong thực tế, mặc dù là nguyên tắc quan trọng và nền tảng nhưng các nước không phải lúc nào cũng tuân thủ nó một cách nghiêm ngặt Bằng chứng

là đã có rất nhiều tranh chấp trong lịch sử của GATT liên quan đến việc áp dụng nguyên tắc này Một trong số những vụ kiện đã làm tốn không ít giấy mực của báo chí quốc tế và làm đau đầu cho các cơ quan chức năng là vụ kiện giữa đất nước với những đồn điền cà phê nổi tiếng ở Nam Mỹ - Braxin và vương quốc của những đấu trường bò tót – Tây Ban Nha năm 1981: Theo như Braxin thì Tây Ban Nha đã ban hành một nghị định quy định các mức thuế quan khác nhau đối với năm loại cà phê chưa rang, trong đó, hạt cà phê của Braxin bị đánh thuế cao hơn Còn về phía Tây Ban Nha thì biện minh rằng sở dĩ có sự chênh lệch này là do các yếu tố về điều kiện thời tiết, điều kiện trồng trọt, cách chọn giống,… Tuy nhiên, lập luận này của Tây Ban Nha đã không đủ thuyết phục vì hạt cà phê dù thế nào đi chăng nữa thì cũng có mục đích duy nhất là để uống – tức là có tính năng sử dụng

22 Khoản 1, Điều I, Hiệp định chung về thuế quan và thương mại

Trang 25

giống nhau, là những sản phẩm cùng loại Sau khi xem xét những lập luận của hai bên hội đồng GATT đã đưa ra kết luận việc ban hành nghị định trên của Tây Ban Nha là mang tính chất phân biệt đối xử và trái với khoản 1, Điều I của GATT.23Bên cạnh đó, MFN còn một khía cạnh rất quan trọng là một số ngoại lệ riêng biệt chỉ áp dụng cho chính nó Thứ nhất là nhằm mục đích thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế khu vực thì các nước là đồng minh thuế quan của nhau có thể gỡ bỏ rào càn về thuế hoặc không đánh thuế, hơn nữa WTO cho phép hình thành mới và

mở rộng các nước đồng minh thuế quan này Trong Hiệp định GATT 1947 cũng

có một ngoại lệ tương tự là ưu đãi về thuế quan truyền thống, tức là hai nước mặc

dù là thành viên của GATT nhưng đã có chế độ ưu đãi truyền thống thì có thể đánh thuế thấp hơn nhưng GATT 1947 không cho phép mở rộng và hình thành mới các đồng minh cũng như chỉ chấp nhận các đồng minh đã hình thành trước khi nó ra đời Vậy tại sao lại có sự khác biệt như vậy giữa GATT 1947 và WTO?

Để trả lời câu hỏi này ta phải nhìn lại mục đích cao cả nhất của WTO là thúc đẩy

tự do trong thương mại quốc tế Cho nên việc cho phép mở rộng các đồng minh thuế quan giúp các nước trên thế giới mà đầu tiên là các thành viên tiến gần lại với nhau hơn, và đến một lúc nào đó khi tất cả các nước đều là đồng minh của nhau thì rào cản về thuế hoàn toàn bị gỡ bỏ, các nước có thể tiến hành hoạt động thương mại quốc tế một cách tự do nhất Khi đó, tất cả các thị trường lớn nhỏ của những nước đang phát triển như Việt Nam hay phát triển như Mỹ, những nước đông dân như Trung Quốc hay chỉ có vài ngàn người như Vatican cũng sẽ trở nên rất dễ dàng để các doanh nghiệp trên toàn thế giới xâm nhập Có thể nói, nhìn nhận được hạn chế này của GATT 1947, WTO đã đem đến một sự tiến bộ mang tính lịch sử cho hệ thống thương mại quốc tế Thứ hai là một ngoại lệ đối với các quốc gia đang phát triển, nhằm mục đích tạo điều kiện phát triển kinh tế của các quốc gia nghèo, các nước có thể ưu đãi cho các quốc gia này nhưng phải áp dụng đối với tất

cả các quốc gia nghèo còn lại có sản phẩm cùng loại

2.1.2 Nguyên tắc Đối xử quốc gia (NT)

Khác với nguyên tắc nền tảng Đối xử tối huệ quốc, nguyên tắc NT xuất hiện muộn hơn và trước khi GATT 1947 ra đời nó hoàn toàn không được đề cập đến trong thương mại quốc tế Nhưng sau khi được đưa vào Điều III của GATT 1947,

nó đã trở thành nguyên tắc quan trọng trong các hiệp định song phương và đa

Hà Nội, năm 2005, trang 28

Trang 26

phương giữa các quốc gia Và cũng giống như MFN, NT được quy định tại ba hiệp định chính của WTO là Điều III Hiệp định GATT, Điều XVII Hiệp định GATS và Điều III Hiệp định TRIPS Cũng cần nói thêm là trong số những nguyên tắc hoạt động của WTO thì MFN và NT được nêu rõ ràng nhất, được thể hiện cụ thể bằng các điều đầu tiên trong các hiệp định, còn những nguyên tắc còn lại chủ yếu được nêu rải rác và đan xen vào các điều khác nhau

Nguyên tắc Đối xử quốc gia được viết theo tiếng anh có nghĩa là National Treatment (NT) Cũng nhìn nhận tương tự như MFN trong lĩnh vực Tư pháp quốc

tế thì nguyên tắc NT được hiểu là công dân của quốc gia sở tại thì ngang bằng với người nước ngoài về quyền và nghĩa vụ Suy ra cho Thương mại quốc tế thì có nghĩa là: các hàng hóa, dịch vụ và quyền sỡ hữu trí tuệ nước ngoài phải được đối

xử giống như những sản phẩm cùng loại trong nước, tức là không cho phép có sự phân biệt đối xử giữa sản phẩm nội địa và sản phẩm cùng loại được nhập khẩu từ những nước thành viên khác Khi phân tích về NT, cái nhìn ban đầu chúng ta nghĩ ngay là WTO đưa ra nó nhằm mục đích giúp cho doanh nghiệp nước ngoài có thể

dễ dàng xâm nhập vào thị trường nội địa của một nước nhất định, mà thường là những nước phát triển và có đông dân số Tuy nhiên, mục đích sâu xa của NT còn nằm ở một khía cạnh khác, khi chúng ta nhìn từ góc độ nền kinh tế trong nước Khi ngày càng có nhiều những sản phẩm cùng loại từ bên ngoài được nhập khẩu vào mà nó lại được nhà nước đối xử giống như sản phẩm nội địa thì mối lo ngại lớn nhất thuộc về các doanh nghiệp trong nước Từ sự cạnh tranh này, thúc đẩy những doanh nghiệp trong nước vốn dĩ đã quen được sự bảo hộ phải vận động không ngừng, phải cải tiến để cho ra đời những sản phẩm chất lượng, mang tính cạnh tranh cao Do đó, những doanh nghiệp này năng động hơn, nền sản xuất trong nước phát triển hơn và lợi ích của người tiêu dùng được nâng cao Đây mới chính là mục đích quan trọng nhất mà các nước muốn hướng đến Để minh họa rỏ hơn về NT, có thể nhìn nhận từ thực tế của Việt Nam: Một trong những mặt hàng nhập siêu nhiều nhất của nước ta là xăng dầu và nước mà thu được lợi nhuận lớn nhất từ việc này là Singapore Khi cả hai đều là thành viên của WTO thì Việt Nam trong điều kiện bình thường không có ngoại lệ buộc phải đối xử công bằng giữa xăng dầu nội địa và sản phẩm cùng loại này từ Singapore Chính vì vậy, mà doanh nghiệp sản xuất xăng dầu trong nước cũng phải không ngừng nâng cao chất lượng

để có thể cạnh tranh được với xăng dầu nhập khẩu Từ đó, thúc đẩy nền sản xuất

Trang 27

xăng dầu phát triển không ngừng và đến một lúc nào đó thì Việt Nam có thể sánh ngang tầm với các quốc gia khác trong lĩnh vực này

Tuy nhiên, phạm vi phạm áp dụng của nguyên tắc NT đối với hàng hoá, dịch

vụ và sở hữu trí tuệ có khác nhau Ðối với hàng hoá và sở hữu trí tuệ việc áp dụng nguyên tắc NT là một nghĩa vụ chung, có nghĩa là hàng hóa và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài sau khi đã đóng thuế quan hoặc được đăng ký bảo vệ hợp pháp phải được đối xử bình đẳng như hàng hoá và quyền sở hữu trí tuệ trong nước đối với thuế và lệ phí nội địa, các quy định về mua, bán, phân phối, vận chuyển Ðối với dịch vụ, nguyên tắc này chỉ áp dụng đối với những lĩnh vực, ngành nghề đã được mỗi nước đưa vào trong danh mục cam kết cụ thể của mình và mỗi nước có quyền đàm phán đưa ra những ngoại lệ.24

2.1.3 Nguyên tắc Mở cửa thị trường (Market Access)

Nếu như đã nói rằng WTO là một tổ chức hoạt động vì mục đích tự do hóa thương mại quốc tế thì không thể bỏ qua nguyên tắc Mở cửa thị trường hay còn gọi là Tiếp cận thị trường (Market Access) của tổ chức này Thực chất của nguyên tắc này là mở cửa thị trường cho hàng hoá, dịch vụ và đầu tư nước ngoài Đó là việc tiến tới xóa bỏ các rào cản về thuế quan cũng như phi thuế quan như thủ tục, giấy tờ, quy định,… và đặc biệt là sự cấm hạn chế về số lượng, hạn ngạch được quy định tại Điều XIII của Hiệp định GATT để cho hàng hóa giữa các nước có thể

tự do buôn bán trên thị trường lớn nhất, đó là thị trường quốc tế Trong một hệ thống thương mại đa phương, khi tất cả các bên tham gia đều chấp nhận mở cửa thị trường của mình thì điều đó đồng nghĩa với việc tạo ra một hệ thống thương mại toàn cầu mở cửa Theo như nội dung của nguyên tắc này thì có thể nói nó là nguyên tắc mang tính chất khái quát nhất trong hoạt động của WTO, chứa đựng trong đó cả nguyên tắc MFN và NT Bởi suy cho cùng thì mục đích mà WTO cũng như GATT 1947 đưa ra MFN và NT cũng là nhằm mục đích mở cửa tạo điều kiện cho doanh nghiệp của những nước thành viên khác xâm nhập vào thị trường nội địa một cách dễ dàng cũng như làm cho doanh nghiệp nội địa có thể tiến xa hơn vào các thị trường khác Chính vì vậy, khi ta tìm hiểu, phân tích về hai nguyên tắc MFN và NT tức là ta đang làm như vậy đối với nguyên tắc mở cửa thị trường của WTO

hội, Hà Nội, năm 2005, trang 29

Trang 28

2.1.4 Nguyên tắc Cạnh tranh công bằng (Fair competition)

Trong phạm vi thị trường của một nước hay rộng lớn hơn trên thị trường khu vực

và thế giới thì việc làm cho sản phẩm của mình có sức cạnh tranh mạnh mẽ với sản phẩm cùng loại của doanh nghiệp khác luôn là vấn đề hàng đầu Chính vì vậy

mà có những doanh nghiệp đã vì mục đích lợi nhuận đã thực hiện những hành vi

mà theo luật của Việt Nam gọi là cạnh tranh không lành mạnh hoặc hạn chế cạnh

tranh gây ảnh hưởng đến hệ thống thương mại quốc tế

Cũng chính từ vấn đề nan giải này mà WTO đã hình thành nên nguyên tắc Cạnh tranh công bằng (Fair Competition) thể hiện nội dung giúp cho các doanh nghiệp của các nước được tự do cạnh tranh trong những điều kiện bình đẳng như nhau Các quy định có liên quan đến cạnh tranh của WTO nằm rải rác trong các hiệp định Ví dụ như trong Hiệp định GATS, Điều VIII buộc quốc gia thành viên không được để cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ độc quyền lạm dụng vị trí độc quyền; Điều IX yêu cầu các nước phải công nhận một số hành vi của doanh nghiệp là hạn chế cạnh tranh; Điều 11.3 Hiệp định Tự vệ yêu cầu không được ủng

hộ hoặc khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện phân chia thị trường;… Như vậy là cũng giống như luật cạnh tranh của Việt Nam, WTO đưa ra những quy định

cụ thể trong lĩnh vực này và bắt buộc các quốc gia thực hiện Và một điều đặc biệt

là nguyên tắc này được công nhận trong án lệ của vụ Uruguay kiện mười lăm nước phát triển vào năm 1962 về việc áp dụng các mức thuế nhập khẩu khác nhau đối với cùng một mặt hàng nhập khẩu Do tính chất nghiêm trọng của vụ kiện, Ðại hội đồng GATT đã phải thành lập một Nhóm Công tác để xem xét vụ này Nhóm Công tác đã cho kết luận rằng, về mặt pháp lý việc áp đụng các mức thuế nhập khẩu khác nhau đối với cùng một mặt hàng không trái với các quy định của GATT, nhưng việc áp đặt các mức thuế khác nhau này đã làm đảo lộn những điều kiện cạnh tranh công bằng mà Uruguay có quyền mong đợi từ phía những nước phát triển và đã gây thiệt hại cho lợi ích thương mại của Uruguay Trên cơ sở kết luận của Nhóm công tác, Ðại hội đồng thông qua khuyến nghị các nước phát triển

có liên quan đàm phán với Uruguay để thay đổi các cam kết, và nhân nhượng thuế quan trước đó 25Chính vụ kiện này của Uruguay đã tạo ra một tiền lệ mới, nhìn chung có lợi cho các nước đang phát triển, giúp tăng khả năng cạnh tranh của những nước này trên trường quốc tế Từ nay các nước phát triển có thể bị kiện

hội, Hà Nội, năm 2005, trang 34

Trang 29

ngay cả khi về mặt pháp lý không vi phạm bất kỳ điều khoản nào trong hiệp định GATT nếu những nước này có những hành vi trái với nguyên tắc cạnh tranh công bằng

Mặc dù đưa ra các nguyên tắc có tính bắt buộc và rất nhiều các hiệp định, thỏa thuận được xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc này, nhưng không phải lúc nào WTO cũng yêu cầu những nước thành viên phải đảm bảo tuyệt đối mà bên cạnh đó có rất nhiều ngoại lệ chung cho tất cả các nguyên tắc được quy định tại

XX của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại Các ngoại lệ được áp dụng khi thực hiện các biện pháp nhằm bảo vệ đạo đức cộng đồng, bảo vệ cuộc sống, sức khỏe con người; liên quan đến xuất hoặc nhập khẩu vàng bạc; liên quan tới các sản phẩm sử dụng lao động của tù nhân;… Tuy nhiên cũng cần lưu ý là để tránh những sự lạm dụng về các ngoại lệ, trong điều này có đưa ra một điều kiện

để được hưởng là: “Với bảo lưu rằng các biện pháp đề cập ở đây không được theo cách tạo ra công cụ phân biệt đối xử độc đoán hay phi lý giữa các nước có cùng điều kiện như nhau, hay tạo ra một sự hạn chế trá hình với thương mại quốc tế,…”

và một ngoại lệ cũng rất quan trọng được nêu ra tại Điều XXI cùng hiệp định này

là ngoại lệ về an ninh Theo như Điều này thì : Không có quy định nào trong Hiệp định này được hiểu là:

a) áp đặt với một bên ký kết nghĩa vụ phải cung cấp những thông tin mà bên

đó cho rằng nếu bị điểm lộ sẽ đi ngược lại quyền lợi thiết yếu của về an ninh của mình; hoặc

b) để ngăn cản một bên ký kết có các biện pháp được cho là cần thiết để bảo

vệ các quyền lợi thiết yếu tơí an ninh của mình:

i) liên quan tới chất phóng xạ hay các chất dùng vào việc chế tạo chúng; ii) liên quan tới mua bán vũ khí, đạn dược và vật dụng chiến tranh và mọi hoạt động thương mại các hàng hoá khác và vật dụng trực tiếp hay gián tiếp được dùng để cung ứng cho quân đội; được áp dụng trong thời kỳ chiến tranh hoặc các tình huống khẩn cấp trong quan hệ quốc tế khác; hoặc

c) để ngăn cản một bên ký kết có những biện pháp thực thi các cam kết nhân danh Hiến Chương Liên hợp Quốc, nhằm duy trì hoà bình và an ninh quốc tế Tóm lại, khi các nước muốn trở thành một nhân tố trong ngôi nhà thương mại chung của thế giới thì bắt buộc phải đảm bảo những nguyên tắc cơ bản của

Trang 30

WTO Trước khi tổ chức này ra đời, hầu hết các nước tham gia hệ thống thương mại quốc tế theo hai nguyên tắc MFN và NT trong GATT 1947 và các thỏa thuận khu vực Tuy nhiên, từ năm 1995, khi WTO ra đời đã nêu ra những nguyên tắc gần như toàn bộ nhất làm tiền đề cho hầu hết các thỏa thuận và giao dịch thương mại trên thế giới Có thể nói, trong khuôn khổ một quốc gia thì Hiến pháp là văn bản có hiệu lực cao nhất, làm nền tảng cho cả hệ thống pháp luật, còn trên phạm vi toàn cầu hiện nay thì các nguyên tắc của WTO là ngọn gió không bao giờ đổi hướng đẩy con thuyền thương mại quốc tế tiến xa hơn và từng bước vững mạnh hơn

2.2 Pháp luật của Việt Nam đối với các nguyên tắc hoạt động của WTO

2.2.1 Một số quy định trong Pháp lệnh về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế

Để giúp cho những nguyên tắc Đối xử tối huệ quốc và Đối xử quốc gia được khả thi hơn và đi vào đời sống của doanh nghiệp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia Trong văn bản này, hai nguyên tắc được cụ thể hóa bằng cách nêu ra khái niệm trong từng lĩnh vực của hoạt động thương mại quốc tế, nêu ra nguyên tắc, phạm vi áp dụng cũng như những trường hợp ngoại lệ chung và riêng cho cả hai nguyên tắc

Thứ nhất, đối với nguyên tắc Đối xử tối huệ quốc, văn bản nêu lên khái niệm của nó trong những lĩnh vực cụ thể của thương mại quốc tế như: thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ Nhưng nhìn chung đó là sự đối xử không kém thuận lợi hơn đối với những hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ nước ngoài so với những hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ cùng loại đó của một nước thứ ba khác là thành viên của WTO Bên cạnh đó, một vấn đề quan trọng là những trường hợp sẽ

áp dụng Đối xử tối huệ quốc tại Điều 6 bao gồm: Khi pháp luật Việt Nam có quy định, khi điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc gia nhập có quy định, khi quốc gia hoặc vùng lãnh thổ trên thế giới đã áp dụng nguyên tắc này với Việt Nam

và các trường hợp khác do chính phủ quy định Sau đó, pháp lệnh nêu lên phạm vi

áp dụng và các ngoại lệ trong từng lĩnh vực thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư và sỡ hữu trí tuệ Nếu như trong các hiệp định của WTO có quy định về Đối xử tối huệ quốc mà rõ nhất là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại, những câu từ được thể hiện khó hiểu làm cho doanh nghiệp khó tiếp cận thì trong văn bản này, nguyên tắc đó đã được “nội luật hóa” thành những quy

Trang 31

định của pháp luật Việt Nam, mang đậm sắc thái từ ngữ của Việt Nam và từ đó giúp doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận và áp dụng trong quá trình hoạt động Nguyên tắc Đối xử quốc gia cũng được thể hiện theo bố cục tương tự Trong

đó, khái niệm trong từng lĩnh vực cũng được khái quát: Đó là sự đối xử không kém thuận hơn của nhà nước Việt Nam đối với những hàng hóa, sản phẩm, dịch

vụ cùng loại trong và ngoài nước Về trường hợp áp dụng của hai nguyên tắc hoàn toàn giống nhau Tuy nhiên, nguyên tắc này lại không được chia thành từng lĩnh vực cụ thể mà chỉ nêu lên khái quát phạm vi áp dụng: “Đối xử quốc gia được áp dụng thuộc Điều 2 của pháp lệnh này theo nguyên tắc quy định tại Điều 4 của pháp lệnh này trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam.” Và bốn trường hợp ngoại lệ riêng đó là: mua sắm của chính phủ do phục vụ cho việc tiêu dùng của chủ thể này; các khoản trợ cấp sản xuất trong nước; các quy định hạn chế thời lượng của phim ảnh trình chiếu; các khoản chi phí vận tải trong nước được tính trên cơ sở các hoạt động mang tính kinh tế của phương tiện vận tải Bên cạnh đó, trong văn bản còn nêu ra những ngoại lệ chung cho cả hai nguyên tắc tại Điều 5: “1 Không áp dụng Đối xử quốc gia và Đối xử tối huệ quốc trong trường hợp cần thiết để bảo đảm lợi ích quốc phòng, an ninh quốc gia, bảo

vệ các giá trị văn hóa, tinh thần dân tộc, bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ động vật, thực vật và môi trường, ngăn chặn các hành vi gian lận thương mại

2 Không áp dụng đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia đối với những nước tiến hành hoặc tham gia tiến hành các hoạt động chống độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Với ngoại lệ này, Việt Nam đã vận dụng những ngoại lệ chung tại Điều XX và ngoại lệ về an ninh tại Điều XIX của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại

để phù hợp với tình hình thực tế của nước ta nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền đất nước và nhân dân Việt Nam trong quá trình hội nhập

2.2.2 Một số cam kết của Việt Nam trong WTO

Khi một nước muốn gia nhập vào ngôi nhà chung WTO thì đều phải đưa ra những cam kết phù hợp với luật lệ chung của tổ chức này Việt Nam cũng không ngoại lệ, chúng ta đã đưa ra và thực hiện trên hai mươi cam kết trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: Cam kết về ô tô, về hàng dệt may, về giấy, về điện tử,… Sau đây là một số cam kết có liên quan mật thiết đến các nguyên tắc của WTO

Trang 32

Thứ nhất là Cam kết WTO đối với ngành dệt may Việt Nam thể hiện nguyên tắc Mở cửa thị trường Theo như cam kết này Việt Nam phải mở cửa thị trường trong nước cho hàng hóa nước ngoài bằng việc cắt giảm thuế nhập khẩu.26 Bên cạnh đó còn có Cam kết về hạn chế số lượng xuất, nhập khẩu: Việt Nam cam kết

từ khi gia nhập WTO sẽ không áp dụng mới và áp dụng trở lại các biện pháp hạn chế số lượng nhập khẩu không phù hợp với quy định của WTO.27

Về nguyên tắc Đối xử quốc gia có Cam kết thuế nội địa Theo đó, Việt Nam cam kết tuân thủ đầy đủ các quy định của WTO khi ban hành và áp dụng các luật

và quy định liên quan đến thuế nội địa Đặc biệt là nguyên tắc không phân biệt đối

xử kể từ khi gia nhập WTO.28

Đối với nguyên tắc Đối xử tối huệ quốc có thể kể đến cam kết chung về thuế quan Trong đó, Việt Nam sẽ phải bảo đảm các mức thuế suất áp dụng hàng năm không được cao hơn các mức thuế suất cam kết ràng buộc tương ứng Hay nói cách khác là hằng năm khi chính phủ ban hành các quy định về thuế suất nhập khẩu áp dụng cho các thành viên của WTO sẽ không vượt quá mức đã cam kết nhằm tạo sự bình đẳng cho các thành viên khác.29

Đối với nguyên tắc cạnh tranh công bằng thì mục đích của nó là tạo ra điều kiện thuận lợi bình đẳng cho những doanh nghiệp trong và ngoài nước phát triển Chính vì vậy, những cam kết của Việt Nam có liên quan đến việc cắt giảm thuế quan hay không hạn chế với số lượng, hay cam kết về các biện pháp phi thuế quan,… Tất cả chúng đều thể hiện được nguyên tắc này Ví dụ: Cam kết chung về

mở cửa thị trường nông sản Trong đó nêu ra những cam kết về thuế quan cắt giảm đối với từng loại nông sản, mức giảm trung bình là 10,6%, thời gian cắt giảm là từ 3-5 năm,… Tất cả những vấn đề đó là đều hướng tới mục đích cuối cùng là tạo sự bình đẳng cho tất cả thành viên của WTO.30

Trang 33

Tóm lại về những nguyên tắc hoạt động của WTO chủ yếu là được thể hiện trong các Hiệp định song phương và đa phương Trong đó, rõ ràng và phổ biến nhất là Đối xử quốc gia và Đối xử tối huệ quốc Hai nguyên tắc còn lại được đề cập rải rác trong các văn bản khác nhưng chúng nhìn chung về nguyên tắc đều mang tính ràng buộc với các quốc gia thành viên Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tiến hành nội luật hóa những quy định này để chúng trở nên thuần việt cũng như gần gũi hơn với doanh nghiệp và công dân Việt Nam

Ngày đăng: 03/10/2015, 05:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Trung tâm WTO, Cam kết WTO về dệt may, http://www.trungtamwto.vn/an-pham/cam-ket-wto-ve-det-may , [ngày truy cập 10-11-2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cam kết WTO về dệt may
Tác giả: Trung tâm WTO
5. Trung tâm WTO, Cam kết WTO về hạn chế số lượng xuất, nhập khẩu, http://www.trungtamwto.vn/an-pham/cam-ket-wto-ve-han-che-so-luong-xuat-nhap-khau , [ngày truy cập 05-11-2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cam kết WTO về hạn chế số lượng xuất, nhập khẩu
Tác giả: Trung tâm WTO
6. Trung tâm WTO, Cam kết WTO về thuế nội địa, http://www.trungtamwto.vn/an-pham/cam-ket-wto-ve-thue-noi-dia , [ngày truy cập 10-11-2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cam kết WTO về thuế nội địa
Tác giả: Trung tâm WTO
7. Trung tâm WTO, Cam kết chung về thuế quan, http://www.trungtamwto.vn/an-pham/cam-ket-chung-ve-thue-quan, [ngày truy cập 10-11-2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cam kết chung về thuế quan
Tác giả: Trung tâm WTO
8. Trung tâm WTO, Cam kết chung về mở cửa thị trường nông sản, http://www.trungtamwto.vn/an-pham/cam-ket-chung-ve-mo-cua-thi-truong-nong-san , [ngày truy cập 01-11-2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cam kết chung về mở cửa thị trường nông sản
Tác giả: Trung tâm WTO
9. Tổng cục Thống kê, Kinh tế xã hội thời kì 2006-2010 qua số liệu một số chỉ tiêu thống kê chủ yếu,http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=418&ItemID=10879 , [ngày truy cập 29-09-2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế xã hội thời kì 2006-2010 qua số liệu một số chỉ tiêu thống kê chủ yếu
Tác giả: Tổng cục Thống kê
10. Trường Quốc tế Á Châu, Những phát minh nổi tiếng thế giới của người Việt, Trần Hồng Điệp, http://review.siu.edu.vn/khoa-hoc-cong-nghe/nhung-phat-minh-noi-tieng-the-gioi-cua-nguoi-viet/246/1809 , [ngày truy cập 09-10-2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phát minh nổi tiếng thế giới của người Việt
Tác giả: Trần Hồng Điệp
11. Việt Báo, Hàng may mặc Việt Tiến bị giả mạo số lượng lớn, Nam Cường http://vietbao.vn/Kinh-te/Hang-may-mac-thuong-hieu-Viet-Tien-bi-gia-mao-so-luong-lon/70083126/47 , [ngày truy cập 29-09-2014].Tài liệu khác Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàng may mặc Việt Tiến bị giả mạo số lượng lớn
Tác giả: Nam Cường
Nhà XB: Việt Báo
4. Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w