Ý nghĩa các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho quyền lợi người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng gây ra .... Chủ thể trong quan hệ pháp luậ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT - -
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CHO QUYỀN
LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG DO HÀNG HÓA KÉM CHẤT
LƯỢNG GÂY RA
Gi ả ng viên h ướ ng d ẫ n: Sinh viên th ự c hi ệ n:
Ths TĂNG THANH PHƯƠNG NÉANG KIM CHUA
Bộ môn: Luật Tư pháp MSSV: 5115784
Khoa Luật - ĐHCT Lớp: Luật Tư pháp K37
Cần Thơ,Tháng 11 - 2014
Trang 2Học – là một bước khởi đầu mới cho cuộc đời
“Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy” người viết đã thấm thía câu nói đó sau
khi gia nhập quá trình học tập tại Trường Đại học Cần Thơ Người viết đã gặp và quen rất nhiều bạn bè trong và ngoài tỉnh với nhiều nền văn hóa khác nhau Tại đây, người viết ngoài gặp gỡ bạn bè mà còn học tập được rất nhiều điều hay, lẽ phải từ giảng viên của trường Đại học Cần Thơ Đó là điều mà sau này người viết không bao giờ quên Người viết muốn gửi lời cảm ơn đến Cha Mẹ đã có công sinh thành và ủng hộ người viết học tập nên người trong suốt mười mấy năm qua , Người không quản công khó nhọc để tạo điều kiện thuận lợi cho người viết được cấp sách đến trường dù hoàn cảnh gia đình khó khăn như thế nào
Cảm ơn các bậc Thầy, Cô tại trường Đại học Cần Thơ đã và đang giảng dạy Nhờ Người – Cha mẹ thứ hai – mà người viết có được kiến thức rộng về xã hội để sau này vận dụng những kiến thức bổ ích phục vụ lợi ích cho người mọi xung quanh và lớn hơn thế nữa là cho đất nước
Đặc biệt, người viết xin gửi lời cảm ơn đến Cô Tăng Thanh Phương – Bộ môn Luật
Tư pháp, trong suốt thời gian qua Cô đã chỉ dạy một cách tận tình và là người trực tiếp hướng dẫn cho người viết hoàn thành đề tài luận văn tốt nghiệp
Bên cạnh đó, người viết cũng xin cảm ơn đến tất cả các bạn đã từng đồng hành, động viên người viết trong suốt suốt quá trình học tập
Trong quá trình hoàn thành đề tài luận văn tốt nghiệp của mình, dù người viết đã cố gắng hoàn thành thật tốt nhưng, chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót nhất định Người viết, sau bài viết này, người viết mong muốn nhận được sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến của quý Thầy Cô để bài viết được hoàn chỉnh hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 31 Lý do chọn đề tài 1
2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Kết cấu đề tài 4
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CHO QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG DO HÀNG HÓA KÉM CHẤT LƯỢNG GÂY RA 5
1.1.Những vấn đề cơ bản về hàng hóa kém chất lượng ở Việt Nam 5
1.1.1 Khái niệm chất lượng 5
1.1.2 Đặc điểm của chất lượng 5
1.1.3 Khái niệm 6
1.1.3.1 Khái niệm về hàng hóa kém chất lượng 6
1.1.3.2 Khái niệm về hàng hóa khuyết tật 7
1.2 Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho quyền lợi người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng gây ra 8
1.2.1 Nhận diện về người tiêu dùng và các chế định đặc thù về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho quyền lợi người tiêu dùng 8
1.2.2 Nhận diện về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng gây ra 9
1.2.2.1 Khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 9
1.2.2.2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 10
1.2.4 Phân biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và ngoài hợp đồng 11
1.3 Lịch sử hình thành và phát triển về chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho quyền lợi người tiêu dùng 13
1.3.1 Các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho quyền lợi người tiêu dùng từ năm 1985 đến năm 1999 13
1.3.2 Các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho quyền lợi người tiêu dùng từ 1999 đến nay 14
1.4 Sơ lược pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho quyền lợi người tiêu dùng của một số quốc gia trên thế giới 16
Trang 41.5 Ý nghĩa các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho quyền lợi người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng gây
ra 18
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CHO QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG DO HÀNG HÓA KÉM CHẤT LƯỢNG GÂY RA 20
2.1 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho quyền lợi người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng gây ra 20
2.1.1 Có thiệt hại xảy ra 21
2.1.1.1 Thiệt hại về vật chất 21
2.1.1.2 Thiệt hại về tinh thần 23
2.1.2 Phải có hành vi trái pháp luật 24
2.1.3 Hành vi gây thiệt hại của cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh có lỗi. 25
2.1.3.1 Bồi thường thiệt hại trong trường hợp có lỗi 25
2.1.3.2 Bồi thường thiệt hại trong trường hợp không có lỗi 26
2.1.4 Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại trên thực tế xảy ra 27
2.2 Chủ thể trong quan hệ pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho quyền lợi người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng gây ra 29 2.2.1 Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại 29
2.2.2 Chủ thể được bồi thường thiệt hại 30
2.3 Xác định bồi thường thiệt hại cho quyền lợi người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng gây ra 31
2.3.1 Thiêt hại về tài sản 31
2.3.2 Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe 32
2.3.2.1 Xác định thiệt hại về sức khỏe 33
2.3.2.2 Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm 34
2.4 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng vi phạm quyền lợi người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng gây ra 36
2.4.1 Bồi thường toàn bộ cho những thiệt hại của người tiêu dùng 36
2.4.2 Bồi thường kịp thời cho những thiệt hại của người tiêu dùng 37
Trang 52.5.1 Trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 39 2.5.2 Các trường hợp không phải bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do vi phạm 41 CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CHO QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG DO HÀNG HÓA KÉM CHẤT LƯỢNG GÂY RA VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN 43 3.1 Những thành tựu đạt được của pháp luật Việt Nam 43 3.2 Những khó khăn trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 48 3.3 Thực trạng về quyền lợi người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng gây
ra hiện nay tại Việt Nam 49 3.3.1 Thực trạng về các quy định của pháp luật trong việc quản lý người tiêu dùng 49
3.3.1.1 Do sự bất cập trong cơ chế quản lý nhà nước 49 3.3.1.2 Do luật chưa hoàn thiện, đồng bộ 50
3.3.2 Thực trạng tâm lý người tiêu dùng khi sử dụng phải hàng hóa kém chất lượng 51
3.3.2.1 Do sự “tiếp tay” của người tiêu dùng 52 3.3.2.2 Do người tiêu dùng ngại động chạm đến việc kiện cáo 52
3.3.3 Thực trạng hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của hệ thống Tòa án 54 3.3.4 Thực trạng trong việc xác định thiệt hại cho quyền lợi người tiêu dùng
do hàng hóa kém chất lượng gây ra 55 3.3.5 Thực trạng xác định chủ thể bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng
do hàng hóa kém chất lượng gây ra 56 3.4 Giải pháp hoàn thiện của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho quyền lợi người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng gây ra……… …57
3.4.1 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật cho người tiêu dùng……… ……57 3.4.2 Một số giải pháp nâng cao các cơ quan quản lý nhà nước trong việc quản lý người tiêu dùng 59
Trang 63.4.4 Hoàn thiện khi xác định thiệt hại cho người tiêu dùng 63 3.5 Một số thực trạng nạn hàng hóa kém chất lượng ở Việt Nam 64 KẾT LUẬN 71
Trang 7GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 1 SVTH: Néang Kim Chua
LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sau hơn 30 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển đột phá Các doanh nghiệp kinh doanh được chủ động sản xuất, kinh doanh, và tự do cạnh tranh Tuy nhiên để đảm bảo sự phát triển nền kinh tế thị trường có sự định hướng xã hội chủ nghĩa của nhà nước thì chúng ta đã xây dựng một hệ thống pháp luật tạo hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động và là cơ sở để nhà nước tiến hành hoạt động quản lý Sự phát triển kinh tế thể hiện qua hàng hóa, dịch vụ ngày càng cao, được cung cấp đầy đủ, đa dạng hơn và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân Đó là một thuận lợi rất lớn cho người tiêu dùng có thể lựa chọn hàng hóa, dịch vụ thích hợp với nhu cầu của mình Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi đó người tiêu dùng gặp phải rất nhiều khó khăn việc lựa chọn hàng hóa, dịch vụ thích hợp với nhu cầu của việc lựa chọn hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho mục đích tiêu dùng của mình Bởi sự đa dạng của chủng loại hàng hóa, dịch vụ đòi hỏi người tiêu dùng phải có những kiến thức tiêu dùng nhất định; ngoài ra một số loại hàng hóa, dịch vụ còn đòi hỏi phải có kiến thức chuyên sâu mới có thể thẩm định về chất lượng của chúng và sự quản lý, kiểm định chặt chẽ của nhà nước Điều này thì không phải mọi người tiêu dùng đều có thể đáp ứng, mặt khác điều kiện của nước ta - xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp khi bước sang phát triển theo nền kinh tế thị trường nên kĩ năng quản lý còn yếu kém Lợi dụng điều đó, nhiều nhà sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã chạy theo lợi nhuận
mà không tuân thủ các quy định của nhà nước trong quá trình sản xuất và cung ứng ra thị trường để cung cấp cho người tiêu dùng những hàng hóa không đảm bảo về chất lượng sản phẩm và gây thiệt hại cho người tiêu dùng Vì vậy, nhu cầu cần có một hệ thống pháp luật để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung và phương pháp để xử
lý những hành vi trái pháp luật đối với những doanh nghiệp lợi dụng tình thế để vi phạm pháp luật nói riêng và đó là một nhu cầu cấp bách tồn tại song song với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong nền kinh tế thị trường thì thị trường do người tiêu dùng điều tiết, vì vậy người tiêu dùng đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong việc hoạch định chính sách kinh
tế, xã hội…Người tiêu dùng là đối tượng được mọi hoạt động hướng tới đặc biệt là hoạt động sản xuất, kinh doanh Và ngày nay, vai trò của người tiêu dùng chưa được quan tâm đúng mức và nó đang bị xâm phạm một cách nghiêm trọng ở mọi lúc mọi nơi, mọi lĩnh vực và đặc biệt là trong thực phẩm; vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đang là vấn đề gây bức xúc cho người tiêu dùng, đặc biệt là về hàng hóa kém chất lượng - mà người viết đang làm đề tài nghiên cứu - đã làm đau đầu các nhà quản lý Vì lợi nhuận trước mắt mà nhiều cá nhân, tổ chức, sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
Trang 8GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 2 SVTH: Néang Kim Chua
đã sản xuất, nhập khẩu hàng hóa, hàng hóa khuyết tật và thực phẩm không an toàn xâm hại không nhỏ đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của người tiêu dùng Trong khi sự quản lý của nhà nước còn yếu kém nên dẫn tới tình trạng tình hình các sản phẩm không đủ chất lượng tràn lan trên thị trường và không chỉ ở các cửa hàng nhỏ lẻ mà trong cả các siêu thị; số ca ngộ độc thực phẩm do sử dụng hàng hóa không đảm bảo chất lượng; các bệnh truyền lây do thực phẩm không an toàn ngày càng tăng…
Bên cạnh đó, không chỉ vì chất lượng sản phẩm làm ảnh hưởng tới người tiêu dùng mà ngày nay, thông qua các quy định của hợp đồng đối với người tiêu dùng cũng bị vi phạm nghiêm trọng Đặc biệt là vi phạm ngoài hợp đồng Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định quan trọng trong Bộ luật dân sự Theo quy định tại Điều 281
Bộ luật dân sự năm 2005 thì một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là
sự kiện “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” và tương ứng với căn cứ này là các quy định tại chương XXI, Phần thứ ba Bộ luật dân sự “trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng” Sự kiện gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật là căn cứ làm phát
sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân hay pháp nhân đối với NTD khi sản phẩm của họ bị gọi là kém chất lượng Trong trường hợp này, trách nhiệm được gọi là nghĩa vụ, bổn phận của người gây thiệt hại phải bồi thường cho người thiệt hại vì sản phẩm của họ Nhà làm luật trong trường hợp này đã đồng nghĩa
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với “nghĩa vụ phát sinh do hành vi
trái pháp luật”
Vấn đề đặt ra là, trong điều kiện như vậy phải có các biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn những hành vi trái pháp luật của các cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa đối với người tiêu dùng và tìm ra giải pháp tốt nhất về các trường hợp phát sinh nghĩa vụ của các doanh nghiệp đối với người tiêu dùng khi xảy ra thiệt hại để bồi thường ngoài hợp đồng Biện pháp hiện tại hữu hiệu nhất để bảo vệ người tiêu dùng và những phát sinh ngoài ý muốn của họ về nạn hàng hóa kém chất lượng vẫn là pháp luật Căn cứ vào thực tế và ý thức chủ động để nắm tình thế chủ động thì Nhà nước ta
đã xây dựng hệ thống pháp luật khá hoàn thiện để bảo vệ được người tiêu dùng khi khách thể của họ bị một chủ thể như hàng hóa kém chất lượng xâm phạm Theo quy định của pháp luật hiện hành, các yêu cầu đòi bồi thường của người tiêu dùng sẽ được giải quyết ngay cả trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng khi quyền lợi của người tiêu dùng bị xâm hại do việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ không đúng chất lượng, khuyết tật của nhà sản xuất, kinh doanh hàng hóa Tuy nhiên quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng ngoài hợp đồng rất chung chung và còn nhiều bất cập Hơn nữa việc bồi thường thiệt hại từ các nhà doanh nghiệp còn rất nhiều hạn chế, một
số doanh nghiệp vì uy tín thì họ đền bù cho người tiêu dùng chỉ với phương thức là hỗ trợ nhưng phần lớn thì lại chay lì khi bồi thường cho người tiêu dùng Vì vậy, việc
nghiên cứu đề tài “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho quyền lợi người tiêu
Trang 9GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 3 SVTH: Néang Kim Chua
dùng do hàng hóa kém chất lượng gây ra” không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có ý
nghĩa thực tiễn rất lớn Qua đó, người viết muốn đóng góp một phần nhỏ đề tài nghiên cứu vào việc hoàn thiện các quy định của pháp luật để hạn chế sự vi phạm các hành vi trái pháp luật về người tiêu dùng
2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong phạm vi của đề tài “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho quyền lợi
người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng gây ra” là một đề tài hẹp của bồi thường
thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng Ở đây, người viết chỉ tập trung phân tích và làm rõ các nội dung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng gây ra dựa trên nền tảng lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại dùng
Trong đó, người viết tập trung nghiên cứu và giải quyết một số vấn đề chính liên quan tới chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho người tiêu dùng như: Nghĩa
vụ bồi thường của các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh gây thiệt hại cho người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng gây ra; căn cứ phát sinh thiệt hại theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 và theo Nghị quyết số 03/2006/NQ – HĐTP ngày 08 tháng 07 năm 2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và các quy định của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007; Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 Ngoài ra, người viết cũng phân tích những bất cập, vướng mắc đang tồn tại trên thực tế của quy định này kể từ khi được ban hành đến hiện tại
3 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho quyền lợi người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng gây ra; cơ sở để người tiêu dùng buộc các nhà doanh nghiệp chịu trách nhiệm trước pháp luật do hành
vi của mình làm ra; vai trò của cơ quan nhà nước trong quản lý bảo vệ người tiêu dùng…
Đánh giá, phân tích hiện trạng pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho quyền lợi người tiêu dùng và tình trạng quy định ngoài hợp đồng về hàng hóa kém chất lượng của nước ta trong giai đoạn hiện nay
Qua đó, đưa ra một số phương hướng cụ thể để hoàn thiện các quy định của pháp luật
về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng
Trang 10GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 4 SVTH: Néang Kim Chua
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, người viết đã sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp và thống kê
5 Kết cấu đề tài
Ngoài mục lục; Lời nói đầu; Danh mục tài liệu tham khảo và phần Kết luận của bài viết được bố cụ như sau:
Chương 1: Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho
quyền quyền lợi người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng gây ra
Chương 2: Cơ sở pháp lý về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho
quyền lợi người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng gây ra
Chương 3: Thực trạng áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho
quyền lợi người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng gây ra và hướng hoàn thiện
Trang 11GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 5 SVTH: Néang Kim Chua
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CHO QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG DO HÀNG HÓA KÉM CHẤT LƯỢNG GÂY RA
1.1.Những vấn đề cơ bản về hàng hóa kém chất lượng ở Việt Nam
1.1.1 Khái niệm chất lượng
Trong đời sống hằng ngày, chúng ta thường xuyên tiếp cận và nói nhiều các thuật ngữ “chất lượng”, “chất lượng sản phẩm”, “chất lượng cao”,v.v…Mỗi quan điểm đều
có những căn cứ khoa học và thực tiễn khác nhau nhằm thúc đẩy kkhoa học quản lý chất lượng không ngừng phát triển và hoàn thiện
Để hiểu rõ về khái niệm chất lượng sản phẩm trước tiên ta phải làm rõ khái niệm “chất lượng”, có rất nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng do các nhà nghiên cứu tiếp cận với những góc độ khác nhau
Theo tổ chức kiểm tra chấ lượng Châu Âu (EOQC) thì “Chất lượng là mức phù hợp
của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng.”
Theo tiêu chuẩn Astraylia (AS1057 – 1985) thì “Chất lượng là sự phù hợp với mục
đích”
Từ khi tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO đã ra định nghĩa ISO 9000 – 1994 (TCVN
5814 – 1994) thì các cuộc tranh cãi lắng xuống và nhiều nước chấp nhận định nghĩa
này: “Chất lượng là một tập hợp các tính chất và đặc trưng của sản phẩm tạo ra cho
nó khả năng thỏa mãn nhu cầu đã được nêu ra hoặc còn tiềm ẩn”
Qua đó, do sản phẩm, hàng hóa phát triển theo khuynh hướng thị trường hóa thì khái niệm về chất lượng sản phẩm cũng được đề cập và tồn tại trong pháp luật Việt Nam
Khái niệm về chất lượng sản phẩm quy định trong Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa
năm 2007 của Việt Nam thì: “Chất lượng sản phẩm, hàng hóa là mức độ của các đặc
tính của sản phẩm, hàng hóa đáp ứng yêu cầu trong tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.”
1.1.2 Đặc điểm của chất lượng
Từ định nghĩa trên ta rút ra một số đặc điểm sau đây của khái niệm chất lượng: Thư nhất, chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu Nếu một sản phầm vì lý do nào đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượng kém, cho dù
Trang 12GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 6 SVTH: Néang Kim Chua
trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình
Thứ hai, do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng
Thứ ba, khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phi xét và chỉ xét đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên có liên quan, ví dụ như các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội
Thứ tư, nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các qui định, tiêu chuẩn nhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được trong chúng trong quá trình sử dụng
Thứ năm, chất lượng không phi chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà ta vẫn hiểu hàng ngày Chất lượng có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình
Khái niệm chất lượng trên đây được gọi là chất lượng theo nghĩa hẹp Rõ ràng khi nói đến chất lượng chúng ta không thể bỏ qua các yếu tố giá cả và dịch vụ sau khi bán, vấn
đề giao hàng đúng lúc, đúng thời hạn đó là những yếu tố mà khách hàng nào cũng quan tâm sau khi thấy sản phẩm mà họ định mua thỏa mãn nhu cầu của họ
1.1.3 Khái niệm
1.1.3.1 Khái niệm về hàng hóa kém chất lượng
Khái niệm về hàng hóa kém chất lượng không được quy định trong luật, kể cả
luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Mà thông qua đó, theo Khoản 5 Điều 3 Luật Chất lượng sản phẩm năm 2007 thì chỉ quy định về chất lượng sản phẩm, hàng hóa có
nghĩa là: “Mức độ của các đặc tính của sản phẩm, hàng hóa đáp ứng được yêu cầu
trong tiêu chuẩn được công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng” Nghĩa là, các
nhà luật gia đã quy định một mức tiêu chuẩn cho sản phẩm, hàng hóa và chỉ thuộc vào mức độ đó thì sản phẩm, hàng hóa mới đủ chất lượng để lưu hành trên thị trường Một hàng hóa không có các thuộc tính trên thì không đầy đủ chất lượng, nhưng cũng không thể gọi hẳn là kém chất lượng
Theo đại từ điển Tiếng Việt thì “kém” là một tính từ có nghĩa là nó đạt ở dưới mức trung bình Vậy “hàng hóa kém chất lượng” nghĩa là, sản phẩm, hàng hóa ở đây
Trang 13GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 7 SVTH: Néang Kim Chua
chất lượng đạt dưới mức trung bình tiêu chuẩn do Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa
đã đề ra Chất lượng của hàng hoá không được bảo đảm an toàn trong một trạng thái nào đó mà thuộc tính của hàng hóa đó cần Khi người tiêu dùng sử dụng phải hàng hóa kém chất lượng có thể gây ra những biến chứng, thay đổi trong cơ thể và xảy ra một thiệt hại nhất định nào đó cho chính người tiêu dùng
Vậy, hàng hóa kém chất lượng được hiểu là những hàng hóa, sản phẩm có chất lượng thấp hơn mức trung bình tiêu chuẩn chất lượng mà nhà nước đã đề ra Bản thân những hàng hóa này có chứa tiềm ẩn một mối nguy hiểm cụ thể tùy thuộc vào mức độ thuộc tính của chính hàng hóa đó Thông qua đó, nó sẽ gây ra những thiệt hại cho người tiêu dùng như về tài sản, sức khỏe, tính mạng
1.1.3.2 Khái niệm về hàng hóa khuyết tật
Tại Việt Nam và các nước trên thế giới, khuyết tật phát sinh từ quá trình sản xuất, chế biến, vận chuyển và lưu trữ là loại khuyết tật dễ xảy ra Các dạng khuyết tật này có thể diễn ra đối với mọi loại hàng hóa, từ hàng tiêu dùng cho đến những hàng hóa xa xỉ phẩm như ô tô, điện thoại, xe máy Nhiều khuyết tật ảnh hưởng trực tiếp tới việc sử dụng hàng hóa của người tiêu dùng như các lỗi kỹ thuật liên quan đến phanh, dầu động
cơ của xe máy, ô tô Một số khuyết tật có thể không trực tiếp ảnh hưởng tới tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng nhưng có thể gây ra những tâm lý lo ngại cho người tiêu dùng, ví dụ như hiện tượng đóng cặn xảy ra đối với nước mắm Miwon Hải Ngư hoặc tiếng kêu lạ trên vành bánh sau xe Liberty trong thời gian vừa qua Điều quan trọng đối với các tổ chức, cá nhân là ngay khi phát hiện hoặc nhận được thông tin
do khách hàng cung cấp về bất kỳ sự không hài lòng nào liên quan đến hàng hóa thì cần tiến hành các chương trình kiểm tra Nếu phát hiện khuyết tật và khuyết tật này xảy ra trên phạm vi nhiều sản phẩm thì cần ngay lập tức dừng việc cung cấp hàng hóa
có khuyết tật ra thị trường và kịp thời thông báo về khuyết tật này tới người tiêu dùng Tùy theo phạm vi thị trường phân phối tổ chức, cá nhân cũng cần thông báo rộng rãi tới người tiêu dùng về cách thức mà tổ chức, cá nhân khắc phục khuyết tật đó
Khái niệm về hàng hóa có khuyết tật theo Luật bảo vệ người tiêu dùng thì: “Hàng hóa
có khuyết tật là hàng hóa không bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng, có khả năng gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng, kể cả trường hợp hàng hóa đó được sản xuất theo đúng tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật hiện hành nhưng chưa phát hiện được khuyết tật tại thời điểm hàng hóa được cung cấp cho người tiêu dùng”
Cũng giống như hàng hóa kém chất lượng, hàng hóa có khuyết tật được hiểu là sản phẩm gây ra sự thiếu an toàn (nguy hiểm) một cách bất hợp lý trong điều kiện sử dụng
Trang 14GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 8 SVTH: Néang Kim Chua
bình thường, không đáp ứng được yêu cầu mà một người sử dụng mong đợi, không phù hợp với những tiêu chuẩn thiết kế ban đầu, sản xuất hàng hóa Khái niệm của hàng hóa khuyết tật bao quát hơn và bao trùm lấy cả hàng hóa kém chất lượng Được gọi là hàng hóa có khuyết tật khi hàng hóa đó có mối nguy hại mà không thể phát hiện được với khoa học công nghệ ngay tại thời điểm đó
Hàng hóa có khuyết tật có ba loại cơ bản: khuyết tật do thiết kế; khuyết tật do sản xuất; khuyết tật do không cảnh báo sự nguy hiểm, không cảnh báo sự an toàn
Về trách nhiệm, thì trách nhiệm đối với sản phẩm do mình tạo ra rõ ràng đã được quy định trong pháp luật về chất lượng sản phẩm và không thể nào là đối tượng trực tiếp của Luật bảo vệ người tiêu dùng Vấn đề ở đây, trên thực tế người tiêu dùng thường không thiết lập quan hệ pháp lý trực tiếp với nhà sản xuất mà khi sản phẩm, hàng hóa đến được tay người tiêu dùng đã trải qua nhiều khâu của hệ thống pháp luật phân phối, đặc biệt là những hàng hóa nhập khẩu Điều này đã dẫn đến tình trạng là người cung cấp sản phẩm, hàng hóa cần phải chịu trách nhiệm về khuyết tật mà sản phẩm không chính anh ta tạo ra Ở đây tính chất ngoại lệ được thể hiện ở chỗ:
Một là, khi xác định trách nhiệm pháp lý của nhà cung cấp sản phẩm, hàng hóa, yếu tố lỗi sẽ không được đặt ra Kể cả khi nhà cung cấp chứng minh là lỗi khuyết tật thuộc về nhà sản xuất thì cũng chỉ là để xác định trách nhiệm bồi hoàn trong các chuỗi quan hệ trước, không liên quan đế các quan hệ tiêu dùng Nhưng, thiệt hại do hàng hóa kém chất lượng gây ra, khi xác định một chế định pháp lý nào đó thì lỗi là yếu tố được đặt
ra phối hợp cùng với hành vi trái pháp luật của cá nhân, tổ chức sản xuất để xác định thiệt hại đã gây ra cho người tiêu dùng Yếu tố lỗi được đặt ra trong cả hai trường hợp
đó là lỗi cố ý và lỗi vô ý cho dù nhà sản xuất cố ý hay không cố ý, thì khi người tiêu dùng bị thiệt hại do hàng hóa của họ thì họ bắt buộc phải bồi thường thiệt hại
Hai là, học thuyết chủ đạo về nghĩa vụ chứng minh đều cho rằng, người nào có yêu cầu trước Tòa thì người đó có nghĩa vụ chứng minh Trong khi tại đây, nghĩa vụ chứng minh lỗi lại thuộc về bên bị “cáo buộc”
1.2 Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho quyền lợi người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng gây ra
1.2.1 Nhận diện về người tiêu dùng và các chế định đặc thù về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho quyền lợi người tiêu dùng
Người tiêu dùng Theo từ điển Tiếng Việt thì “Tiêu dùng là sử dụng của cải vật
chất phục vụ cho sản xuất và đời sống” Vậy người tiêu dùng là những người sử dụng
Trang 15GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 9 SVTH: Néang Kim Chua
của cải vật chất để phục vụ vào sản xuất, đời sống của họ để thỏa mãn nhu cầu cần thiết về tinh thần lẫn vật chất
Theo Điều 1 Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì “Người tiêu dùng là
người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt của cá nhân,
hộ gia đình và tổ chức” Như vậy, khái niệm theo Pháp lệnh bảo vệ người tiêu dùng
thì phạm vi chủ thể ở đây có sự thu hẹp hơn, rõ ràng hơn do quy định về mục đích tiêu dùng hàng hóa chỉ là áp dụng với trường hợp tiêu dùng cho sinh hoạt hàng ngày của
họ chứ không dùng để tham gia vào mục đích sản xuất kinh doanh
Thuật ngữ người tiêu dùng cũng được pháp luật của nhiều nước trên thế giới đề cập tới nhưng mỗi nước đều có cách nhìn nhận riêng về thuật ngữ này Cụ thể:
Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Liên Xô cũ định nghĩa người tiêu dùng là Công dân sử dụng, mua đặt hàng hoặc có ý định mua sắm sản phẩm để sử dụng riêng Như vậy với việc định nghĩa trên, người tiêu dùng chỉ được sử dụng với nghĩa rất hẹp, chưa tính đến những người sử dụng các dịch vụ Nhung do bối cảnh lịch sử mà việc đáp úng những nhu cầu của người dân ở giai đoạn này mới ở mức tối thiểu, mặt khác các loại hình dịch vụ chưa có điều kiện phát triển nên việc xác định như vậy đã phù hợp với hoàn cảnh lúc đó của lịch sử
Theo Luật tiêu dùng của Cộng hòa Pháp thì người tiêu dùng được hiểu không một chủ doanh nghiệp, tức là thể nhân mua các sản phẩm và dùng các dịch vụ không nhằm mục đích hoạt động nghề nghiệp, kiếm lợi nhuận để phục vụ cho gia đình hoặc bản
thân.Theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Đài Loan thì “Người tiêu dùng
là người tham gia vào các giao dịch, sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ vì mục đích tiêu dùng” (Khoản 1, Điều 2, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Đài Loan)
1.2.2 Nhận diện về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng gây ra
1.2.2.1 Khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển của pháp luật thế giới cũng như pháp luật Việt Nam Kế thừa những quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long, pháp luật dân
sự ngày nay đã có ngững quy định khá chi tiết về vấn đề này, cụ thể tại Điều 307 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung và chương XXI về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng Tuy nhiên, trong cả hai phần này đều không nêu rõ khái niệm bồi thường thiệt hại mà chỉ nêu lên căn cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi thường, năng lực chịu trách nhiệm…
Trang 16GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 10 SVTH: Néang Kim Chua
Tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý, ta có thể hiểu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
là một loại trách nhiệm dân sự mà theo đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì phải bồi thường những tổn thất mà mình gây
ra
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại Khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng chỉ được xây dựng dưới dạng qua điểm mà chưa được ghi nhận chính thức trong bất cứ một loại văn bản pháp luật nào Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được hiểu là một loại trách nhiệm dân sự theo đó, người có hành vi trái pháp luật dân sự phải bồi thường cho người thiệt hại
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh khi chủ thể luật dân sự có hành vi vi phạm nói chung như xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Ngoài ra, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn phát sinh ngay cả khi hai bên có quan
hệ hợp đồng trong trường hợp gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng hoặc các bên có quan hệ hợp đồng nhưng thiệt hại xảy ra không liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng
Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 thì, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn gọi là trách nhiệm dân sự do hành vi trái pháp luật được quy định tại Điều 604 Bộ luật Dân sự, cụ thể:
“1 Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh
dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc của chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường
2 Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.”
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xây dựng trên nguyên tắc người gây ra thiệt hại phải có trách nhiệm bồi thường Khi một người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự gây thiệt hại tới tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản … của cá nhân hoặc pháp nhân thì phải có trách nhiệm bồi thường Trách nhiệm bồi thường thiệt hại không chỉ nhằm đảm bảo việc đền bù tổn thất đã gây ra mà còn giáo dục mọi người về ý thức tuân thủ pháp luật, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Hậu quả của việc áp dụng trách nhiệm này luôn mang đến những bất lợi
Trang 17GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 11 SVTH: Néang Kim Chua
về tài sản cho người gây ra thiệt hại mà họ đã gây ra cho các chủ thể khác, đặc biệt đối với các hành vi phạm tội với động cơ vụ lợi
1.2.2.2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Là một loại trách nhiệm dân sự, ngoài những đặc điểm của trách nhiệm dân sự nói chung thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn có những đặc điểm riêng như sau:
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ đặt ra khi thỏa mãn những điều kiện nhất định do pháp luật quy định, giữa các bên không có quan hệ hợp đồng, thiệt hại xảy ra không liên quan đến hợp đồng
- Thiệt hại xảy ra rất đa dạng
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm về tài sản, hậu quả pháp lý mà người gây thiệt hại phải gánh chịu là hậu quả bất lợi về tài sản
- Người gây thiệt hại phải bồi thường trong một số trường hợp không có lỗi
1.2.4 Phân biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và ngoài hợp đồng
Việc phân biệt hai loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại có ý nghĩa rất lớn về cả mặt lý luận và thực tiễn vì tùy vào trách nhiệm bồi thường thiệt hại là trong hay ngoài hợp đồng mà có cách xác định trách nhiệm của chủ thể phải bồi thường, thủ tục pháp
lý khác nhau khi có sự vi phạm xảy ra…Để phân biệt hai hình thức đó ta dựa vào các tiêu chí sau:
Một là về định nghĩa: trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh trong trường hợp một bên do không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ các điều khoản đã tự nguyện cam kết trong hợp đồng mà gây thiệt hại cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại Có nghĩa là nó phát sinh dưới tác động trực tiếp của quy phạm pháp luật, không có sự dự liệu hay thỏa thuận trước của các chủ thể
Từ định nghĩa trên ta có thể phân biệt hai loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại này ở các đặc điểm sau:
Đặc điểm thứ nhất và cơ bản nhất là ý chí của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ này Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thì các chủ thể có
Trang 18GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 12 SVTH: Néang Kim Chua
quan hệ với nhau qua một hợp đồng, các chủ thể này đã dự liệu và thỏa thuận trước về những thiệt hại và mức độ bồi thường thiệt hại các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ bồi thường (Điều 401 Bộ luật dân sự 1999, Điều 402 Bộ luật dân sự 2005) Còn đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì giữa các chủ thể của quan hệ pháp luật đó chưa hề có quan hệ hợp đồng với nhau hoặc nếu có quan hệ thông qua một hợp đồng thì nội dung của hợp đồng này không liên quan đến thiệt hại phát sinh
và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ở đây Việc xảy ra thiệt hại là ngoài ý chí của các chủ thể, vì vậy hai bên chỉ đặt ra vấn đề thỏa thuận về bồi thường thiệt hại và mức bồi thường thiệt hại khi sự kiện gây thiệt hại đã xảy ra Đây là đặc điểm có tính kiên quyết đến các đặc điểm khác của hai hình thức bồi thường thiệt hại này Ví dụ: Chị A là chủ của một cửa hàng đông lạnh Cửa hàng chị luôn cam kết với mọi khách hàng là bán hàng hóa đảm bảo chất lượng, đảm bảo an toàn thực phẩm Bà B là một khách hàng quen của cửa hàng chị A, tin tưởng vào uy tín của chị Ngày 06/9/2014 bà B đã mua 1
kg tôm sú đông lạnh tại cửa hàng chị A Bà B đem về nhà chế biến và cho cả nhà ăn
Ai cũng khen tôm ngon và sau khi ăn khoản 15 phút cả gia đình đều có dấu hiệu ói, tiêu chảy của ngộ độc thực phẩm và phải vào bệnh viện cấp cứu Xét nghiệm cho thấy gia đình bà B ăn phải thực phẩm bị biến chất và nhiễm khuẩn Khi đó phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do chị A bảo quản tôm không tốt, để quá hạn sử dụng dẫn đến gây thiệt hại cho gia đình bà B Do đó chị A phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại toàn bộ về chi phí: viện phí, tiền thuốc…để chữa trị cho gia đình
bà B Qua ví dụ này ta thấy giữa bà B và chị A trước đó đã có hợp đồng mua bán nhưng trong hợp đồng không có điều khoản thỏa thuận về việc BTH do thực phẩm không đảm bảo chất lượng gây ra nhưng trách nhiệm bồi thường thiệt hại này đã được Điều 630 Bộ luật dân sự quy định Vì vậy giữa bà B và chị A phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng Việc định mức bồi thường thiệt hại của các chủ thể chỉ phát sinh sau khi có sự kiện thiệt hại xảy ra Người tiêu dùng mất tiền để mua những hàng hóa không đảm bảo chất lượng thậm chí còn gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của họ Nên, qua ví dụ này người viết muốn đề cập đến tình trạng nạn sản xuất hàng hóa kém chất lượng và sự nguy hại của
nó đến sức khỏe người tiêu dùng, gây thiệt hại đến ngân sách của nhà nước Đây là một tình trạng đáng báo động do các nhà sản xuất, kinh doanh thực phẩm không tuân thủ đến quy định của pháp luật, nhìn thấy rõ tác hại của việc sản phẩm của mình nhưng vẫn cố ý do “chạy đua” theo lợi nhuận Vì vậy, nhà nước cần tạo ra khung pháp
lý cao hon, chặt chẽ hơn và những biện pháp kiểm tra nghiêm ngặt các cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa này để đảm bảo cung cấp cho người tiêu dùng những thực phẩm đảm bảo an toàn Bên cạnh đó, chúng ta cần có những biện pháp tích cực, phổ biến và truyền thống như chương trình giáo dục cho người tiêu dùng các kiến thức cần thiết về tiêu dùng trên các thị trường cạnh tranh không lành mạnh như hiện nay
Trang 19GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 13 SVTH: Néang Kim Chua
Thứ hai, trong trường hợp thiệt hại do nhiều người gây ra thì xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại liên đới hay riêng lẽ từ đó ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại Đối với trường hợp do vi phạm hợp đồng thì chỉ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại liên đới khi trước đó các chủ thể trong hợp đồng này đã phải có thỏa thuận trước với nhau sẽ liên đới hay không liên đới về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, và điều này phải được ghi nhận trong hợp đồng Còn trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì không nhất thiết các chủ thể này phải có
sự thỏa thuận thống nhất từ trước mà chỉ cần có sự thống nhất của các chủ thể này về mặt hành vi hoặc hậu quả xảy ra hoặc đồng thời có sự thống nhất cả hai yếu tố này
Thứ ba, lỗi là yếu tố quan trọng nhất của cả hai loại hợp đồng nhưng đồng thời nó cũng có những điểm khác biệt: Ta thấy trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng có thể phát sinh cả trong trường hợp chủ thể bồi thường thiệt hại ở đây không cần có lỗi, tức là việc gây thiệt hại có thể do hành vi của người khác nếu các bên trong hợp đồng có sự thỏa thuận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi có thiệt hại xảy ra; còn trách nhiệm nhiệm thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng ngoài hợp đồng chỉ xuất hiện khi chủ thể gây thiệt hại lỗi
Thứ tư, chúng ta có thể phân biệt được hai hình thức này đó là thời điểm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại Trong việc trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đông thì thời điểm xác định nghĩa vụ và thời điểm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại là khác nhau (thời điểm phát sinh nghĩa vụ là thời điểm hợp đồng có hiệu lực, còn thời điểm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại là thời điểm xảy ra
sự vi phạm các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng và gây thiệt hại cho chủ thể kia); còn đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì hai thời điểm này dường như xuất hiện đồng thời Khi quyền lợi của người tiêu dùng bị xâm phạm và dẫn đến có thiệt hại xảy ra trên thực tế thì phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh đã có hành vi xâm hại đó
Ngoài ra, còn có một số điểm khác biệt khác giữa hai hình thức này đó là mức tiền bồi thường, hình thức bồi thường…chẳng hạn đối với trường hợp vi phạm hợp đồng ngoài tiền bồi thường thiệt hại hai bên còn có thể quy định mức tiền phạt vi phạm
mà không cần căn cứ vào thiệt hại thực tế xảy ra, còn đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì không có cá chế định này
Trang 20GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 14 SVTH: Néang Kim Chua
1.3 Lịch sử hình thành và phát triển về chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho quyền lợi người tiêu dùng
1.3.1 Các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho quyền lợi người tiêu dùng từ năm 1985 đến năm 1999
Do hoàn cảnh đặc biệt của nước ta thời kì này vừa mới trải qua hai cuộc chiến tranh và bị tàn phá nặng nề, đất nước mới bắt đầu tái thiệt hại trên mọi lĩnh vực, do đó kinh tế còn rất nhiều khó khăn, mọi nhu cầu của người dân mới được đáp ứng ở mức tối thiểu nên việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung và xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng nói riêng hầu như chưa được đề cập tới và được quan tâm đúng mức Các quy định về xử lý các hành vi vi phạm pháp luật gây phương hại cho người tiêu dùng chủ yếu được điều chỉnh bởi các quy định hành chính hoặc hình sự; chẳng hạn trong Bộ luật hình sự năm 1985 một số hành vi vi phạm pháp luật, có thể gây phương hại đến cho người tiêu dùng như tội làm hàng giả (Điều 167), tội lừa dối khách hàng (Điều 170), tội lưu hành sản phẩm kém phẩm chất (Điều 177) Đây là các hành vi xâm phạm đến các quyền lợi của người tiêu dùng và có thể gây thiệt hại cho họ nhưng dưới gốc độ luật hình sự thì các hành vi này phải ở một mức độ nhất định gây thiệt hại lớn cho xã hội về kinh tế… và chủ thể thực hiện các hành vi này phải chịu trách nhiệm hình sự trong đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hàng hóa kém chất lượng gây ra chưa được đề cập tới Một số văn bản pháp luật đề cập tới vấn đề người tiêu dùng nói chung và quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong giai đoạn này là: Hiến pháp 1992 với Điều 28, Điều 74; Pháp lệnh số 49/1991/PL - UBTVQH ngày 02/02/1991 quy định về chất lượng hàng hóa; Pháp lệnh số 43 - LCT/HĐND của Hội đồng nhân dân nhà nước ban hành ngày 16/07/1990 về đo lường; Nghị định số 140 - HĐBT ngày 25/04/1991 quy định về kiểm tra, xử lý việc sản xuất, buôn bán hàng giả; Bộ luật Dân sự 1995 với Điều 310 - Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và Điều 623 trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng, Luật thương mại năm 1997… Nhìn chung, các quy định của pháp luật thời kỳ này về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng còn tản mạn, vừa thiếu vừa yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu Mặt khác với sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế mở cửa, đặc biệt
là nền kinh tế hội nhập quốc tế hiện nay thì nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng được nâng cao, đáp ứng đa dạng hơn nhưng nó cũng ẩn chứa nhiều nguy cơ gây thiệt hại cho người tiêu dùng hơn do cả những nguyên nhân khách quan và chủ quan Vì vậy mà đòi hỏi phải xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ người tiêu dùng nói chung và bồi thường thiệt hại người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng nói riêng
Trang 21GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 15 SVTH: Néang Kim Chua
1.3.2 Các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho quyền lợi người tiêu dùng từ 1999 đến nay
Trước sự đòi hỏi của xã hội, pháp luật nước ta đã có một số điều chỉnh để phù hợp và đặc biệt đó là sự ra đời của Pháp lệnh 13/1999/PL - UBTVQH10 Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Đây là văn bản pháp lý thể hiện tập trung nhất các quy định của pháp luật về bảo vệ các quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng đã được thế gới thừa nhận trong đó có quyền được bồi hoàn, bồi thường thiệt hại và tương ứng với quyền
đó là trách nhiệm bồi thường của các cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng Quyền được bồi hoàn, quyền được bồi thường và khiếu nại đòi bồi hoàn, bồi thường của người tiêu dùng được Pháp lệnh này ghi nhận tại Điều 9
và Điều 22:
Điều 9
Người tiêu dùng có quyền đòi bồi hoàn, bồi thường thiệt hại khi hàng hoá, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, chất lượng, số lượng, giá cả đã công bố hoặc hợp đồng đã giao kết; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện theo quy định của pháp luật đối với việc sản xuất, kinh doanh hàng cấm, hàng giả, hàng hoá, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, chất lượng,
số lượng và việc thông tin, quảng cáo sai sự thật
Điều 22
Người tiêu dùng trực tiếp hoặc thông qua đại diện để thực hiện việc khiếu nại, yêu cầu bồi hoàn, bồi thường đối với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ
đã gây thiệt hại cho mình theo quy định của pháp luật
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà sản xuất, kinh doanh được quy định tại Điều 17, Điều 26, Điều 28 của Pháp lệnh này Pháp lệnh được hướng dẫn thi hành bởi Nghị định số 69/2001/NĐ-CP, sau đó được thay thế bằng Nghị định số 55/2008/NĐ -
CP với các điều luật hướng dẫn chi tiết các quyền và trách nhiệm này là Điều 4, Điều
9, Điều 33 và Điều 34
Ngoài ra còn có một số văn bản pháp lý khác cũng quy định về quyền được bồi thường của người tiêu dùng và trách nhiệm bồi thường của nhà sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ tương ứng với lĩnh vực điều chỉnh của các văn bản này: Pháp lệnh
số 18/1999/PL - UBTVQH10 quy định về chất lượng hàng hóa, vì được thay thế bằng Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa số 05/2007/QH12; Pháp lệnh quảng cáo số 39/2001/PL - UBTVQH; Pháp lệnh số 16/1999/PL - UBTVQH về đo lường sản phẩm; Luật cạnh tranh năm 2004; Pháp lệnh quảng cáo số 39/2001/PL - UBTVQH10; Pháp lệnh giá số 40/2002/PL - UBTVQH10; Bộ luật Dân sự năm 2005; Đến nay, thì có
Trang 22GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 16 SVTH: Néang Kim Chua
Nghị quyết số 03/2006/NQ – HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn chi tiết một số quy định của Bộ luật dân sự
2005 về Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; Nghị định số 132/2008/NĐ – CP ngày
31 tháng 12 năm 2008 Quy định thi hành một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 ra đời thay thế cho Pháp lệnh số 13/1999/UBTVQH10; Nghị định số 99/2011/NĐ – CP nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ người tiêu dùng…
Với quy định mới này thì hệ thống pháp luật về bồi thường cho người tiêu dùng ngày càng chặt chẽ hơn, tuy nhiên những quy định này còn mang tính chung chung, tản mạn
ở nhiều văn bản nên gây khó khăn cho công tác áp dụng
1.4 Sơ lược pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho quyền lợi người tiêu dùng của một số quốc gia trên thế giới
Vấn đề pháp luật về quyền lợi cho người tiêu dùng được các nước trên thế giới quan tâm từ rất sớm, tuy nhiên tùy từng quốc gia cụ thể mà hệ thống pháp luật về bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung và quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng nói riêng có sự khác biệt và cách tiếp cận vấn đề khác nhau Và các hệ thống pháp luật dưới đây sẽ được đưa vào nghiên cứu cho
đề ài của em như pháp luật Mỹ, pháp luật của Malaysia về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng nói riêng để qua đó đối chiếu và hiểu rõ hơn về pháp luật Việt Nam trong việc quy định về vấn đề này
1.4.1 Pháp luật của nước Mỹ
Theo pháp Hoa Kỳ: “Luật bảo vệ người tiêu dùng là luật của bang hoặc của liên
bang được ban hành nhằm bảo vệ người tiêu dùng trước những hành vi thương mại hoặc hoạt động tín dụng không lành mạnh có liên quan đến hàng tiêu dùng, đồng thời bảo vệ người tiêu dùng trước những hàng hóa nguy hại hoặc hàng giả”
Vấn đề bảo vệ người tiêu dùng của nước Mỹ đã được đề cập đến trong Luật
“Magnuson Moss” năm 1975 Đây là luật về các bảo đảm và thẩm quyền của ban thương mại Liên bang; trong đó nêu rõ những yêu cầu đối với những nhà sản xuất và phân phối cũng như cung cấp cho người tiêu dùng những danh mục chuẩn tối thiểu của Liên bang; trong đó, nêu rõ những yêu cầu đối với những nhà sản xuất và phân phối cũng như cung cấp cho người tiêu dùng những danh mục tối thiểu của Liên bang để tự bảo vệ mình Luật này quy định nghĩa vụ bồi thường tổn thất hay đền bù, thay thế hàng hóa của doanh nghiệp khi xảy ra khiếu nại về hàng hóa của người tiêu dùng như việc cấm các doanh nghiệp đưa ra các điều khoản bảo lưu bất lợi cho người tiêu dùng,
Trang 23GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 17 SVTH: Néang Kim Chua
miễn trách nhiệm của doanh nghiệp đối với hàng hóa của mình hay làm giảm đi trách nhiệm đó Do vậy doanh nghiệp không thể từ bỏ các đảm bảo tương đương hoặc biến đổi chúng cho hàng hóa của mình sản xuất hay phân phối
Pháp luật Hoa Kỳ còn xem xét đến khả năng cần phải quy định trong văn bản quy định
về nghĩa vụ bảo đảm mà người mua phải sử dụng thể thức đó trước khi thưa kiện tại Tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình Bên cạnh đó, Hoa Kỳ còn có một hệ thống các văn bản quy định khá chi tiết và cụ thể các khái niệm hành vi để người tiêu dùng có thể tham khảo và bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình
Theo pháp luật Hoa Kỳ thì cơ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thuộc Quốc hội Một trong số các cơ quan đó là Ủy ban an toàn sản phẩm tiêu dùng Mỹ Đây là một cơ quan Liên bang được thành lập theo Luật an toàn sản phẩm tiêu dùng Bằng luật này, Quốc
hội giao trách nhiệm cho SPSC “bảo vệ công chúng tránh nguy cơ bị thương hay tử
vong liên quan đến các sản phẩm tiêu dùng” Không phải tất cả các sản phẩm tiêu
dùng đều thuộc thẩm quyền của SPSC, song cơ quan này chịu trách nhiệm quản lý hơn
15 ngàn sản phẩm Nhìn lại hệ thống pháp luật Hoa Kỳ ta thấy pháp luật để bảo vệ người tiêu dùng của Hoa Kỳ rất cụ thể chi tiết vì vậy quyền lợi của người tiêu dùng Hoa Kỳ được đảm bảo Đạt được đều đó, không chỉ vì Hoa Kỳ có một hệ thống pháp luật hoàn hảo mà còn vì ý thức tiêu dùng của Hoa Kỳ rất cao
1.4.2 Pháp luật của Đài Loan
Trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Đài Loan xác định, người tiêu dùng là những người tham gia vào các giao dịch, sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ vì mục đích tiêu dùng; còn các nhà doanh nghiệp tham gia vào quá trình đặt kế hoạch, chế tạo sản xuất, nhập khẩu hay phân phối hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ Trong luật, lợi ích của người tiêu dùng được thể hiện qua chương II – Lợi ích người tiêu dùng, với các quy định về quyền được bảo vệ về sức khỏe và sự an toàn, qua hợp đồng hàng loạt, qua mua bán đặc biệt và qua các điều lệ quản lý thông tin tiêu dùng Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết thì chỉ đề cập tới quyền được bồi hoàn và bồi thường ngoài hợp đồng nên ở đây chỉ tập trung phân tích các lợi ích của người tiêu dùng thông qua quyền được bảo vệ sức khỏe, an toàn và các điều lệ cung cấp thông tin Pháp luật Đài Loan đã nêu ra các quy định chi tiết về trách nhiệm bảo đảm về sức khỏe, an toàn cho người tiêu dùng và nếu các doanh nghiệp kinh doanh không đảm bảo các yêu cầu
đó thì phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại vô hạn định Tương tự trong quy định
về điều lệ cung cấp thông tin thì Luật bảo vệ người tiêu dùng của Đài Loan cũng yêu
cầu các doanh nghiệp kinh doanh phải cung cấp thông tin trung thực và họ phải chịu
trách nhiệm về các thông tin đã công bố Chẳng hạn, theo quy định tại Điều 22 Mục 4,
chương II Luật Bảo vệ người tiêu dùng Đài Loan quy định: “Doanh nghiệp kinh
Trang 24GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 18 SVTH: Néang Kim Chua
doanh phải đảm bảo độ chính xác trong nội dung của quảng cáo và nghĩa vụ của họ đối với khách hàng không nhỏ hơn những gì họ đã tuyên bố trong quảng cáo” Như
vậy so với các quy định pháp luật bảo vệ người tiêu dùng của Việt Nam thì các quy định của pháp luật Đài Loan đã xác định trách nhiệm và mức chịu trách nhiệm bồi thường của các doanh nghiệp kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho người tiêu dùng là vô hạn định nếu họ không có các biện pháp ngăn chặn khắc phục Ngoài ra thủ tục khiếu nại, kiện tụng của người tiêu dùng khi quyền lợi của họ bị xâm phạm cũng được nêu rõ và được chỉ dẫn bằng các văn bản pháp luật liên quan đến, đây là điều mà pháp luật Việt Nam chưa làm được chỉ nêu ra ở mức chung chung:
“và các văn bản pháp luật khác có liên quan” gây khó khăn trong quá trình áp dụng Theo pháp luật Đài Loan họ ưu tiên hòa giải và các nội dung trong quá trình hòa giải được giữ kín, khi không hòa giải được thì thủ tục tiến hành tố tụng được nêu ra chi tiết
và cụ thể góp phần thuận tiện cho người tiến hành để đơn tố tụng lên Tòa án đúng cấp dung thẩm quyền Các quy định này được nêu cụ thể trong chương V – xử lý các tranh
chấp trong tiêu dùng của Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Đài Loan
1.5 Ý nghĩa các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho quyền lợi người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng gây
ra
Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với tư cách là một chế định dân sự độc lập có một vai trò quan trọng trong toàn bộ hệ thống luật dân sự Thông qua chế định này mà các nhà thực thi và áp dụng pháp luật đã có cơ sở để đảm bảo quyền lợi cho từng cá nhân trong xã hội cũng như cả cộng đồng trước nguy cơ xâm phạm của các hành vi gây thiệt hại trái pháp luật Việc thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là nhằm khôi phục lại các quyền tài sản và các quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, tổ chức, pháp nhân, nhà nước Để việc tiến hành bồi thường thiệt hại được diễn ra thuận lợi và bảo đảm quyền lợi cho chủ thể bị thiệt hại yêu cầu cần xác định được đúng người có trách nhiệm, có khả năng để thực hiện nghĩa vụ bồi thường
Là một loại trách nhiệm pháp lý được áp dụng khi thỏa mãn những điều kiện do pháp luật quy định, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có ý nghĩa pháp lý và ý nghĩa xã hội sâu sắc, điều đó được thể hiện trên một số phương diện sau đây:
Thứ nhất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là chế định góp phần bảo
vệ quyền và lợi ích ích hợp pháp của các chủ thể
Trong các quan hệ xã hội nói chung, giao lưu dân sự nói riêng, chủ thể tham gia nhằm thỏa mãn những lợi ích vật chất hoặc tinh thần của mình Để xã hội ngày càng phát
Trang 25GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 19 SVTH: Néang Kim Chua
triển, các chủ thể phải tham gia nhiều quan hệ xã hội khác nhau và trong các quan hệ
xã hội mà chủ thể tham gia thì lợi ích luôn là tâm điểm để chủ thể hướng tới Hiến pháp và các văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý sau Hiến pháp luôn ghi nhận và bảo
vệ quyền lợi ích hợp pháp của các chủ thể Đó có thể là lợi ích vật chất, thể hiện ở quyền sở hữu tài sản, nhưng cũng có thể là lợi ích tinh thần, thể hiện ở các quyền nhân thân được pháp luật bảo vệ Bằng việc quy định căn cứ phát sinh, nguyên tắc bồi thường…thì chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong các quan hệ xã hội khác nhau
Thứ hai, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là chế định góp phần đảm bảo công bằng xã hội
Nguyên tắc chung của pháp luật là một người phải chịu trách nhiệm về hành vi và hậu quả do hành vi đó mang lại Bằng việc buộc người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra cho người bị thiệt hại, chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã góp phần đảm bảo công bằng xã hội Đây cũng là nguyên tắc, là mục tiêu mà pháp luật đặt ra Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã cụ thể hóa và thể hiện rõ nguyên tắc công bằng trong bồi thường thiệt hại Theo chế định này, ai gây thiệt hại thì người ấy phải bồi thường, tuy nhiên sẽ có những trường hợp riêng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại như nguyên tắc giảm mức bồi thường, bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi…
Thứ ba, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là chế định góp phần răng
đe, giáo dục, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật nói chung, gây thiệt hại trái pháp luật nói riêng
Ngoài mục đích buộc bên vi phạm phải chịu trách nhiệm do hành vi vi phạm của mình gây ra – nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự - chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại còn thể hiện ý nghĩa nhân đạo, ý nghĩa sâu sắc Thông qua chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cùng với việc vận dụng chế định này để giải quyết các tranh chấp liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn có ý nghĩa răn đe, giáo dục và phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật nói chung, hành vi gây thiệt hại trái pháp luật nói riêng Ngoài người vi phạm, những người khác cũng sẽ thấy rằng nếu mình có hành vi gây thiệt hại thì cũng sẽ chịu xử lý của pháp luật
Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn có ý nghĩa trong việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật thông qua những biện pháp chế tài nghiêm khắc Ngoài ra, ý thức pháp luật của người dân cũng ngày một được nâng cao
Trang 26GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 20 SVTH: Néang Kim Chua
Trang 27GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 21 SVTH: Néang Kim Chua
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CHO QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG DO HÀNG HÓA KÉM CHẤT LƯỢNG GÂY RA
2.1 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho quyền lợi người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng gây ra
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Không chỉ giữa các luật gia của các quốc gia khác nhau trên thế giới có các quan điểm khác nhau về điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà các luật gia trong nước ở các giai đoạn lịch sử khác nhau cũng có quan điểm khác nhau về điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Theo Bộ luật dân sự Pháp để xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại của một người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì phải căn cứ vào 3 điều kiện sau: có thiệt hại, có xuất hiện một sự kiện; có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và sự kiện Người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại, nếu có đầy đủ
ba điều kiện này Theo Luật dân sự của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thì để làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phải có đủ bốn điều kiện: phải có hành vi vi phạm pháp luật, phải có lỗi của người có hành vi vi phạm pháp luật, phải có thiệt hại xảy ra, phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và thiệt hại xảy ra Như vậy, theo quan điểm của luật gia Pháp thì khi xác định điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng họ quan tâm đến sự kiện xảy ra trên thực tế Ở Việt Nam nghiên cứu lịch sử lập pháp ở nước ta thì thấy mỗi một giai đoạn khác nhau thì điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cụ thể nhưng thông qua các quy định của bộ luật này ta thấy điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xác định là: có thiệt hại trên thực tế (có tổn thất về vật chất, có tổn thất về tinh thần), và người gây thiệt hại phải có lỗi Khi nước ta là thuộc địa của Pháp và chịu ảnh hưởng của pháp luật Pháp với sự ra đời một số bộ luật; chẳng hạn Bộ dân luật Bắc Kỳ năm 1931 có quy định về sự tổn hại
trái vụ có quy định: “người nào gây thiệt hại đến ai bởi lỗi của mình thì người đó buộc
phải đền sự thiệt hại” (Điều 712, Bộ dân luật Bắc kỳ, năm 1931) Theo quy định này
thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh khi có đủ ba điều kiện:
có thiệt hại xảy ra trên thực tế, có lỗi, và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của người gây ra thiệt hại và hậu quả thiệt hại xảy ra trên thực tế Như vậy, theo quy định này thì một người khi gây thiệt hại trong trường hợp hợp pháp cũng phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra Theo Bộ luật dân sự Sài Gòn 1972 chỉ xác định ba điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bao gồm: sự tồn tại thiệt hại, lỗi và tương quan nhân quả Trước khi có Bộ luật dân sự 1995 thì thông tư 173/1972/TT - UBTP hướng dẫn xét xử về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đã quy định chi tiết bốn điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Trang 28GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 22 SVTH: Néang Kim Chua
ngoài hợp đồng tại mục A: cơ sở của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 03/2006/NQ - HĐTP ngày 08 tháng
07 năm 2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cụ thể có bốn điều kiện như sau:
2.1.1 Có thiệt hại xảy ra
Đây là một loại điều kiện cơ bản nhất của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và vi phạm quyền lợi người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng nói riêng, nó là điều kiện bắt buộc để xác định có phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại hay không Thiệt hại chính là yếu tố quyết định mức độ trách nhiệm bồi thường của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng Tuy nhiên, giống như bất kỳ một chế định bồi thường thiệt hại nào, trách nhiệm bồi thường sẽ không phát sinh nếu không có thiệt hại thực tế xảy ra, hay nói cách khác, các thiệt hại được xác định dựa
trên nguyên tắc “thiệt hại trực tiếp và cụ thể” Vấn đề đặt ra đó là thiệt hại gây ra đối
với người tiêu dùng do những hành vi trái pháp luật của nhà sản xuất, cung ứng dịch
vụ thường không xảy ra ngay mà mang tính tích lũy trong một thời gian dài, cần phải
có những quy định dựa trên những căn cứ khoa học cụ thể mới có thể xác định được thiệt hại Như đã phân tích, thì việc xác định thiệt hại là để nhằm khắc phục hậu quả
mà người gây thiệt hại gây ra do sản phẩm không đủ chất lượng của mình; hoặc khắc phục hậu quả một cách kịp thời toàn bộ hay một phần tình trạng tài sản cho người bị thiệt hại như lúc trước khi có hành vi gây thiệt hại xảy ra; hoặc bù đắp những tổn thất, mất mát do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm Vì vậy, việc xác định thiệt hại bắt buộc phải xảy ra và nó sẽ trở nên vô nghĩa nếu thiệt hại đó không xảy ra Mặt khác, việc xác định thiệt hại đúng đắn, khách quan là cơ sở pháp lý
để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phạm vi bồi thường thiệt hại của người gây thiệt hại của người gây thiệt hại Nó biểu hiện qua hai mặt: vật chất và tinh thần
như quy định tại Khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP: “Thiệt hại bao
gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần”
2.1.1.1 Thiệt hại về vật chất
Thiệt hại vật chất là những tổn thất vật chất thực tế, xác định được bằng một khoản tiền cụ thể nó đã được quy định trong hầu hết một số điều luật liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại Cụ thể những thiệt hại về vật chất do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng là những tổn thất vật chất thực tế do người tiêu dùng đã sử dụng hàng hóa, dịch vụ của các nhà sản xuất, kinh doanh không tuân thủ các quy định của pháp luật gây ra bao gồm:
Trang 29GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 23 SVTH: Néang Kim Chua
Theo quy định tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP quy định về thiệt hại vật chất
trong đó có thiệt hại về tài sản sẽ bao gồm: “Thiệt hại về vật chất bao gồm: thiệt hại
do tài sản bị xâm phạm quy định tại Điều 608 Bộ luật dân sự…” Trong đó, Điều 608
Bộ luật dân sự năm 2005 quy định thiệt hại về tài sản bao gồm:
“1 Tài sản bị mất;
2 Tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng;
3 Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản;
4 Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại”
Theo các Khoản 1, 2, 3 Điều 60 Luật Chất lượng hàng hóa, sản phẩm năm 2007 quy định về việc thực hiện bồi thường do hàng hóa không đảm bảo chất lượng trong đó thiệt hại về tài sản bao gồm: Thiệt hại về giá tị hàng hóa, tài sản bị hư hỏng hoặc bị hủy hoại, thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác hàng hóa, tài sản và chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại
Tóm lại, người tiêu dùng bỏ ra những khoản tiền nào để mua hàng hóa, chi phí sữa chữa lại hàng hóa bị hư hỏng và những khoản lợi trực tiếp bị mất đi vì hàng hóa bị
hư hỏng thì người tiêu dùng sẽ được bồi thường đầy đủ những khoản đó Nếu người tiêu dùng sử dụng dịch vụ và bị thiệt hại sẽ được bồi thường chi phí mà họ đã bỏ ra để
sử dụng dịch vụ đó
Ví dụ: Chị Huyền có mua một cái máy giặc đồ hiệu P của công ty S Vì chị làm việc không có thời gian để tự giặc đồ nên mua chiếc máy giặc với ý định sẽ tiết kiệm được thời gian cho chị Nhưng không may, mới sử dụng được 1 tuần thì cái máy giặc hiệu P
đã bị hư vì một động cơ bị cháy và cánh quạt bị gãy Chị phải gửi máy giặc cho người
ta sửa chữa và trong thời gian đó, chị đã phải mang đồ thuê người ta giặc trong khoảng thời gian dài Nên khi lấy máy giặc về và có hóa đơn sữa chữa chị đã yêu cầu công ty
S bồi thường cho chị Những thiệt hại nhất định về chi phí sửa chữa máy giặc, thiệt hại trong thời gian qua mà chị phải thuê người ta giặc
Như vậy khi người tiêu dùng mua một hàng hóa về sử dụng và có thiệt hại xảy ra
do hàng hóa không đảm bảo chất lượng thì người tiêu dùng sẽ được bồi thường đúng những thiệt hại đã phát sinh Những thiệt hại này có thể là khoản tiền hoặc giá trị vật chất mà người tiêu dùng đã bỏ ra để phục hồi, để sữa chữa hàng hóa đó Quy định này tuy đã được luật quy định nhưng rất khó áp dụng vì khi người tiêu dùng thực hiện thì rất khó đòi được sự bồi thường thiệt hại từ phía nhà sản xuất
Trang 30GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 24 SVTH: Néang Kim Chua
2.1.1.2 Thiệt hại về tinh thần
Thiệt hại về tinh thần là một thuật ngữ pháp lý ra đời muộn hơn thuật ngữ thiệt hại về vật chất, nó chưa được đề cập trong Luật La Mã cổ đại Trong pháp luật phong kiến Việt Nam thì thuật ngữ này chưa được đề cập tới một cách trực tiếp nhưng thông qua một số điều luật cụ thể ta thấy các nhà làm luật phong kiến cũng đã quan tâm tới những thiệt hại về tinh thần Trong Quốc Triều hình luật tại Điều 472 quy định trong trường hợp người nào đánh các quan chức bị thương, thì ngoài tiền bồi thường các
thương tích còn phải bồi thường một khoản tiền phạt (Tiến sĩ Phùng Trung Tập, trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngòi hợp đồng về tài sản, tính mạng, sức khỏe, sđđ tr.37)
Ngày nay, theo quan niệm pháp lý của các luật gia Châu Âu và pháp luật Anh –
Mỹ thì thiệt hại tinh thần là loại thiệt hại không được biêu đạt bàng việc mất mát tài sản, vật hoặc các quyền định giá được bằng tiền Còn theo quan điểm pháp luật của Việt Nam hiện tại thì quy định thiệt hại về tinh thần là những thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm hoặc những suy sụp về tình cảm, tâm lý của cá nhân
và được xác định tại điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 phần I Nghị quyết số 03/2006/NQ – HĐTP hướng dẫn Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005 thì yếu tố thiệt hại được hướng dẫn như sau:
“ a) Thiệt hại về vật chất bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy định tại Điều 608 BLDS; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quy định ại Khoản 1 Điều 610 BLDS; thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy định tại Khoản 1 Điều 611 BLDS
b)Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm
mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm… và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tinh thần mà họ phải chịu;
Thiệt hại do tổn thất tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin…vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu.”
Như vậy, thiệt hại về tinh thần do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng là người tiêu dùng do sử dụng hàng hóa, dịch vụ với mục đích sinh hoạt gây ra những tổn thất về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà những người thân của người tiêu dùng phải chịu đau thương buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm
Trang 31GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 25 SVTH: Néang Kim Chua
Hiện nay, thực trạng người tiêu dùng Việt Nam bị thiệt hại do nhà sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ vi phạm quyền lợi của họ rất phổ biến nhưng họ thường không có yêu cầu các cá nhân, tổ chức này trách nhiệm bồi thường thiệt hại một phần
vì do thiệt hại thông thường không có giá trị lơn lắm, hai là do tâm lý ngại tranh đấu, kiện tụng của người dân, ngoài ra còn do sự thiếu hiểu biết về quyền lợi của người tiêu dùng
2.1.2 Phải có hành vi trái pháp luật
Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, thì sự kiện do hành vi cố ý hoặc vô ý gây thiệt hại là một trong những cơ sở pháp lý phát sinh trách nhiệm này Hành vi này được xác định là cơ sở pháp lý cho việc xác định thiệt hại khi nó phải là hành vi trái pháp luật, nếu là hành vi trái pháp luật cho phép thì dù có gây ra thiệt hại thì chủ thể của hành vi gây thiệt hại đó cũng không phải chịu trách nhiệm bồi thường như trong trường hợp bất khả kháng… Như vậy, xét trong trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng vi phạm quyền lợi người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng thì hành vi trái pháp luật là cơ sở phát sinh thiệt hại là hành vi cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh không tuân thủ các quy định của pháp luật trong quá trình sản xuất, tiêu thụ hàng hóa và cung cấp dịch vụ cho người tiêu dùng mà dẫn đến phương hại đến lợi ích của người tiêu dùng thì phải bồi thường Cụ thể đó là hành vi:
Thực hiện các hành vi mà pháp luật cấm nhưng vẫn làm: sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không đủ chất lượng gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe của con người, trái với thuần phong mỹ tục nhằm để có được lợi nhuận của hàng hóa Khi các nhà sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ mà thực hiện các hành vi gây phương hại đến lợi ích của người tiêu dùng thì phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại dù trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng
Không thực hiện các hành vi mà pháp luật quy định phải thực hiện được quy định từ Điều 14 đến Điều 17 trong Pháp lệnh số 13/1999/PL - UBTVQH10 bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng và được hướng dẫn cụ thể từ Điều 6 đến Điều 9 Nghị định số 55/2008/NĐ - CP hướng dẫn chi tiết thi hành pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 1999 Đó là việc không thực hiện các hành vi như không ghi nhãn mác hàng hóa theo quy định pháp luật ; không cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến việc sử dụng hàng hóa; không đảm bảo các quy định về chất lượng hàng hóa, dịch
vụ như đã cam kết khi cung cấp cho người tiêu dùng hay sử dụng những công nghệ tinh vi để giả mạo về nhãn mác, chất lượng sản phẩm, hàng hóa… do không thực hiện các hành vi phải thực hiện này mà các nhà sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ gây
Trang 32GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 26 SVTH: Néang Kim Chua
phương hại đến người tiêu dùng vì vậy mà họ phải có trách nhiệm bồi thường khi thiệt hại xảy ra
Như vậy, việc không tuân thủ các quy định của pháp luật tức là đã thực hiện các hành vi trái pháp luật mà gây thiệt hại thì đây là một trong những căn cứ pháp lý phát sinh trách nhiệm bồi thường do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng
2.1.3 Hành vi gây thiệt hại của cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh có lỗi
Hành vi này sẽ mang trong đó một yếu tố lỗi, yếu tố lỗi này có thể là cố ý hoặc
vô ý Tuy nhiên có những tường hợp tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh không có lỗi nhưng họ vẫn phải bồi thường cho người tiêu dùng
Cụ thể được quy định tại Điều 604 Bộ luật dân sự:
“1 Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc của chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường
2 Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.”
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xây dựng trên nguyên tắc người gây ra thiệt hại phải có trách nhiệm bồi thường Khi một người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự gây thiệt hại tới tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản… của cá nhân hoặc pháp nhân thì phải có trách nhiệm bồi thường Có hai trường hợp là cố ý gây thiệt hại và vô ý gây thiệt hại
2.1.3.1 Bồi thường thiệt hại trong trường hợp có lỗi
Yếu tố này được cụ thể hóa trong Bộ luật Dân sự năm 2005, tại Điều 308 định nghĩa rằng:
“Lỗi cố ý là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra
Lỗi vô ý là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy
Trang 33GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 27 SVTH: Néang Kim Chua
trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.”
Yếu tố lỗi là một yếu tố cần thiết phải được đề cập nhằm xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân, tổ chức sản xuất kinh doanh cho người bị thiệt hại Theo Hướng dẫn Tiểu mục 1.4 mục 1 Phần I Nghị quyết 03/2006/NQ - HĐTP thì yếu tố lỗi được đi kèm với hành vi gây thiệt hại và được định nghĩa cụ thể như sau:
“a) Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra
b) Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình
có khả năng gây thiệt, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được”
Vậy một tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh có hành vi gây thiệt hại thì có thể xem họ có lỗi trong quá trình sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng
Những trường hợp mà giữa tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh và người tiêu dùng không có thỏa thuận về bất cứ điều khoản nào cụ thể hay một hợp đồng nào chính thức hoặc có những thiệt hại phát sinh nằm ngoài những thỏa thuận đó thì khi có một thiệt hại cho người tiêu dùng trong quá trình sử dụng hàng hóa, dịch vụ không đủ chất lượng do có hành vi vi phạm đến quyền lợi người tiêu dùng của tổ chức, cá nhân sản xuất ở đây gắn liền với hành vi vi phạm này bị xem là có lỗi Yếu tố lỗi của các cá nhân, tổ chức sản xuất kinh doanh ở đây gắn liền với hành vi vi phạm pháp luật về bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng chứ không phải theo một thỏa thuận của hợp đồng và yếu
tố lỗi của cá nhân, tổ chức sản xuất là do sự suy đoán lỗi căn cứ vào hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng Trong những trường hợp đặc biệt, người tiêu dùng không cần phải chứng minh lỗi khi phải yêu cầu bồi thường thiệt hại
Đó là khi một cá nhân, tổ chức có những hành vi trái pháp luật mà gây ra thiệt hại cho người tiêu dùng trong quá trình họ đang sử dụng sản phẩm, hàng hóa không đủ tiêu chuẩn, chất lượng đúng yêu cầu hay quy chuẩn, tiêu chuẩn pháp luật Mà ngược lại, nghĩa vụ chứng minh không có lỗi phải thuộc về cá nhân, tổ chức gây ra thiệt hại
2.1.3.2 Bồi thường thiệt hại trong trường hợp không có lỗi
Nó là một căn cứ thiết yếu để chứng minh sự tồn tại lỗi của các nhà sản xuất, kinh doanh để rồi thông qua nó, người tiêu dùng có thể tìm được người cụ thể bồi thường
Trang 34GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 28 SVTH: Néang Kim Chua
thiệt hại cho những gì đã thiệt hại Tuy nhiên, không phải trong tất cả các trường hợp khi người tiêu dùng bị thiệt hại thì luôn xác định được yếu tố lỗi của những tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh có hành vi vi phạm Thực tế cho thấy rằng, có những trường hợp tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh gây ra những thiệt hại cho người tiêu dùng những hành vi gây thiệt hại đó không có yếu tố lỗi Trong những trường hợp này thì trách nhiệm bồi thường cho N người tiêu dùng được thực hiện theo các quy định của pháp luật có liên quan và dù cho những hành vi này không có lỗi nhưng tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người tiêu dùng Nhưng đây là một quy định ngoại lệ của pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người tiêu dùng, tránh được sự lợi dụng các kẽ hở của pháp luật để né tránh những trách nhiệm của cá nhân, tổ chức sản xuất kinh doanh gây ra thiệt hại cho người tiêu dùng mà trong đó yếu tố lỗi không thể xác định được
Theo quy định tại khoản 2 Điều 604 Bộ luật dân sự 2005 quy định rằng: “Trong
trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng theo quy định đó” và tại Khoản 1 Điều 23 Luật Bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng 2010 quy định thêm: “Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp hàng hóa có khuyết tật do mình cung cấp gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng, kể cả khi tổ chức, cá nhân đó không biết hoặc không có lỗi trong việc phát sinh khuyết tật, trừ trường hợp quy định tại Điều 24 của Luật này” Hai quy định trên cho
thấy trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng khi không có lỗi chỉ có thể
áp dụng cho những trường hợp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh không có một thỏa thuận bồi thường
Giống với trường hợp bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng khi tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh có lỗi; nghĩa vụ chứng minh lỗi trong trường hợp này cũng không thuộc về người tiêu dùng mà thuộc về phía tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp hàng hóa, dịch vụ đã gây thiệt hại cho người tiêu dùng
2.1.4 Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại trên thực tế xảy
ra
Việc xác định mối quan hệ nhân quả này có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định ai
là chủ thể phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại Như ta đã biết từ một nguyên nhân
có thể phát sinh nhiều hậu quả và ngược lại, hậu quả nhất định có thể phát sinh từ nhiều nguyên nhân tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể mà sự kiện diễn ra Tuy nhiên, thực
tế chứng minh trong mỗi hoàn cảnh nhất định thì từ một nguyên nhân nhất định chỉ phát ra một hậu quả nhất định
Trang 35GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 29 SVTH: Néang Kim Chua
Như vậy, ta xác định mối quan hệ nhân quả này chính là xác định đâu là hành vi vi phạm pháp luật đóng vai trò là nguyên nhân khách quan dẫn tới phát sinh hậu quả - thiệt hại xảy ra trên thực tế; mà nếu thiếu nguyên nhân đó thì không thể nào làm phát sinh hậu quả trong trường hợp được nêu ra
Do đó, việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật về sản phẩm không đủ chất lượng dẫn đến xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng chính là việc xác định thiệt hại xảy ra mà người tiêu dùng phải chịu có đúng là kết quả tất yếu của việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật của nhà sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ kém chất lượng Đây là cơ sở pháp lý xác định nhà sản xuất kinh doanh nào có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và mức độ bồi thường là bao nhiêu Trong mối quan
hệ nhân quả này thi hành vi vi phạm pháp luật của nhà sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ là nguyên nhân gây ra thiệt hại cho người tiêu dùng vì vậy trong mối quan hệ giữa cái sinh ra và cái được sinh ra này thì hành vi vi phạm pháp luật này phải diễn ra trước khi kết quả - thiệt hại xảy ra
Việc xác định đúng mối quan hệ này không phải lúc nào cũng dễ dàng đặc biệt là trong trường hợp vi phạm ngoài hợp đồng vì hàng hóa kém chất lượng dẫn đến xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng vì thiệt hại xảy ra thường là kết quả của nhiều nguyên nhân
Vì vậy, cần xác định đâu là nguyên nhân thứ yếu, đâu là nguyên nhân thiết yếu có tính quyết định đến việc gây ra hậu quả - thiệt hại xảy ra để từ đó có thể xác định mức độ trách nhiệm bồi thường của mỗi chủ thể của hành vi gây ra thiệt hại cụ thể
Một là tính thời gian trong quan hệ nhân quả: Mối quan hệ này diễn ra trong quá trình thuộc về một khoảng thời gian cụ thể Do vậy hành vi được coi là nguyên nhân phải diễn ra trước kết quả
Hai là, tính hiển nhiên trong quan hệ nhân quả: tính hiển nhiên phản ánh mối quan hệ bản chất của sự vật, sự việc trong những điều kiện nhất định nó vận động, phát triển theo xu hướng nhất định
Ba là, tính khách quan trong mối quan hệ nhân quả: Tồn tại độc lập với ý thức của con người, con người không thể tùy tiện xóa bỏ nó
Ba đặc điểm trên, theo quan điểm của Tiến sĩ Phùng Trung Tập dùng để xác định quan
hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra Đó cũng là yếu tố quan trọng để đánh giá đúng thời điểm, những điều kiện nhất định mà cá nhân, tổ chức gây thiệt hại
Ví dụ: Anh N nhân dịp sinh nhật của người yêu có mua quà tặng chị một bộ phấn trang điểm có nhãn hiệu nối tiếng của nước ngoài của công ty A do công ty B (trụ sở tại Việt
Trang 36GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 30 SVTH: Néang Kim Chua
Nam) nhập khẩu và phân phối Trong buổi tiệc sinh nhật, Chị C có sử dụng bộ phấn trang điểm trang điểm để đi tiệc Đến sáng mai ngủ dậy, chị C thấy mặt ngứa ngứa và
có dấu hiệu nổi đỏ, chị C cứ tưởng là bị dị ứng thường nên đã đi mua thuốc uống Ba ngày sau đó, mặt chị vẫn nổi mẫn ngứa và có những dấu mẫn đỏ ngày càng lây lan và càng nghiêm trọng, chị C phải đi điều trị Kết quả xét nghiệm cho thấy chị bị dị ứng với thành phần hóa chất của kem, khi xét nghiệm về kem thì thấy các thành phần của sản phẩm không còn hạn sử dụng nữa nhưng công ty vẫn đem ra bày bán sản phẩm cho khách hàng Thiệt hại của chị C là do hành vi không cung cấp đầy đủ thông tin về hạn sử dụng cho khách hàng của công ty B, công ty B đã quy phạm những quy định bắt buộc cung cấp thời hạn sử dụng sản phẩm mặt khác, công ty B đã biết hậu quả xảy
ra khi người tiêu dùng sử dụng sản phẩm đó mà cố ý đưa ra bày bán để tiêu thụ sản phẩm của mình Thiệt hại của chị C và công ty B có mối quan hệ với nhau, chính những hành vi vi phạm của công ty B là nguyên nhân dẫn đến việc chị C bị thiệt hại khi sử dụng bộ phấn trang điểm đó
2.2 Chủ thể trong quan hệ pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho quyền lợi người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng gây ra 2.2.1 Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Chủ thể là một quan hệ pháp luật nói chung là những người tham gia vào quan hệ pháp luật đó Khác với quan hệ pháp luật phát sinh từ một hợp đồng dân sự thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ hợp đồng này; còn trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng vi phạm quyền lợi người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng gây ra lại là sự kiện phát sinh quan hệ nghĩa vụ trong quan
hệ nghĩa vụ này Các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật phải có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự
Theo Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2005 – bồi thường thiệt hại người tiêu dùng do
hàng hóa kém chất lượng gây ra thì: “cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác sản xuất kinh
doanh không đảm bảo chất lượng hàng hóa mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường” Theo quy định tại Điều 23 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
năm 2010 và Điều 61 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 thì các chủ thể chịu bồi thường thiệt hại được thực hiện theo thứ tự nhất định hoặc một số công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường
Đầu tiên, là tổ chức, cá nhân sản xuất hàng hóa;
Thứ hai, là tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa;
Trang 37GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 31 SVTH: Néang Kim Chua
Thứ ba, là tổ chức, cá nhân gắn tên thương mại lên hàng hóa hoặc sử dụng nhãn hiệu, chỉ dẫn thương mại cho phép nhận biết đó là tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa;
Thứ tư, là tổ chức, cá nhân trực tiếp cung cấp hàng hóa có khuyết tật cho người tiêu dùng trong trường hợp không xác định được tổ chức, cá nhân sản xuất hàng há có khuyết tật, tổ chức cá nhân nhập khẩu hàng hóa có khuyết tật hoặc tổ chức cá nhân gắn tên thương mại lên hàng hóa hoặc sử dụng nhãn hiệu, chỉ dẫn thương mại cho phép nhận biết đó là tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa1; hoặc là người bán hàng khi có phát sinh thiệt hại cho người tiêu dùng do lỗi của người bán hàng.2
Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 quy định về chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại chi tiết tại Khoản 1 Điều 10; Khoản 13 Điều 12; Khoản 12 Điều 16 và Điều 61, Điều 62 Theo đó, người sản xuất, nhập khẩu phải bồi thường cho ngườii tiêu dùng trong trường hợp hàng hóa không đảm bảo chất lượng do lỗi của nhà sản xuất, nhập khẩu ngoại trừ các trường hợp được quy định tại Khoản 1 Điều 62 Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa Người bán hàng phải bồi thường cho người tiêu dùng trong trường hợp thiệt hại phát sinh do lỗi của người bán hàng không đảm bảo chất lượng sản phẩm, hàng hóa trừ trường hợp được quy định tại Khoản 2 Điều 62 Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa
2.2.2 Chủ thể được bồi thường thiệt hại
Về các chủ thể này thì chưa có quy định nào cụ thể hay trực tiếp điều chỉnh ai là người sẽ được chủ thể bồi thường để bồi thường thiệt hại Nhưng thông qua cá quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại thì các chủ thể được nhận bồi thường là những người bị thiệt hại trực tiếp khi họ sử dụng trực tiếp chính sản phẩm của cá nhân,
tổ chức kinh doanh hàng hóa không đủ chất lượng Nhưng, quy định của pháp luật không chỉ quy định những người bị thiệt hại trực tiếp mới được bồi thường mà còn những chủ thể bị ảnh hưởng một cách gián tiếp cũng sẽ nhận được bồi thường một cách xứng đáng nếu họ chứng minh được việc thu nhập của họ bị mất hay giảm sút đi
1
Điều 29 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
2
Điều 61 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007;
“Điều 61 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1 Người sản xuất, người nhập khẩu phải bồi thường thiệt hại cho người bán hàng hoặc người tiêu dùng khi hàng hóa gây thiệt hại do lỗi của người sản xuất, người nhập khẩu không đảm bỏa chất lượng hàng hóa, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 62 của Luật này Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện theo thỏa thuận giữa các bên có liên quan hoặc theo quyết định của Tòa án hoặc của trọng tài
2 Người bán hàng phải bồi thường thiệt hại cho người mua, người tiêu dùng trong trường hợp thiệt hại phát sinh do lỗi xủa người bán hàng không đảm bảo chất lượng hàng hóa, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 62 của Luật này Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện theo thỏa thuận giữa các bên có liên quan hoặc theo quyết định của Tòa án hoặc trọng tài
Trang 38GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 32 SVTH: Néang Kim Chua
như là người được thiệt hại chăm sóc, cấp dưỡng, nuôi dưỡng hoặc là những người thân thích của người bị thiệt hại tổn thất về tinh thần Cụ thể trong các trường hợp: Thiệt hại về tài sản thì chủ tài sản được bồi thường thiệt hại
Thiệt hại về sức khỏe, những người được bồi thường thiệt hại bao gồm: một là người
bị thiệt hại về sức khỏe được bồi thường thiệt hại Trên thực tế thì sức khỏe của con người là vô giá nên không thể tính toán được như bị thiệt hại về tài sản mà thông qua
đó, chỉ để hỗ trợ một phần nào đó cho người bị thiệt hại Các khoản chi đó bao gồm: phí cần thiết để người bị thiệt hại chữa trị, chi phí chăm sóc sức khỏe, phục hồi sức khỏe và các chi phí khác hợp lý khi chức năng bị mất, bị giảm súc của người thiệt hại chỉ trong trường hợp những người này không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi sống mình)
Thiệt hại về tính mạng Trong trường hợp này thì người trực tiếp bị thiệt hại không còn, tuy nhiên nếu trước khi chết mà họ phải điều trị, cứu chữa thì họ cũng được hưởng các khoản chi phí cứu chữa, chăm sóc… Sau khi họ chết thì những người được
hưởng bồi thường là những người được thuộc hàng thừa kế thứ nhất – những người
thân thích, nếu không có những người ở hàng thừa kế này thì người con nuôi mà họ trực tiếp nuôi dưỡng hay người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại – những người này có thể được hưởng một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do cái chết của người bị thiệt hại gây ra Mặt khác, những người mà bị thiệt hại khi còn sống có nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng, chăm sóc – trường hợp này tương tự như trường hợp người thiệt hại bị mất sức lao động
2.3 Xác định bồi thường thiệt hại cho quyền lợi người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng gây ra
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng vi phạm quyền lơi người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng gây ra là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cụ thể và do đó nó sẽ tuân theo các quy định chung và cụ thể của pháp luật về loại hình chung của bồi thường trách nhiệm ngoài hợp đồng trong đó việc xác định thiệt hại bao gồm: thiệt hại về tài sản; sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm… Nó được quy định cụ thể trong Bộ luật dân sự năm 2005 từ Điều 608 đến Điều 611 và được hướng dẫn cụ thể trong Nghị quyết số 03/2006/NQ - HĐTP Tuy nhiên, trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp dồng vi phạm quyền lợi người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng gây ra thì các thiệt hại về tính mạng, về sức khỏe của người tiêu dùng thường gặp nhất nên trong bài viết, người viết chỉ xác định các thiệt hại của người tiêu dùng do sử dụng hàng hóa kém chất lượng gây ra
Trang 39GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 33 SVTH: Néang Kim Chua
2.3.1 Thiêt hại về tài sản
Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định thiệt hại về tài sản bị xâm phạm tại Điều 608 gồm:
Tài sản bị mất;
Tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng;
Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản;
Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại
Theo lý luận của Tiến sĩ Phùng Trùng Tập về chế định bồi thường thiệt hại về ngoài hợp đồng về tài sản, sức khỏe, tính mạng thì việc xác định thiệt hại này phải dựa trên
cơ sở khách quan, do vậy việc xác định thiệt hại đó trong mối quan hệ về mặt không gian và thời gian của thiệt hại Theo cơ chế đặc trưng của nền kinh tế thị trường hiện nay, sự điều tiết về cung – cầu điều chỉnh trực tiếp đến nền kinh tế quốc gia và thông qua đó nó được thể hiện qua giá cả trên thị trường Tùy thuộc vào địa điểm và thời điểm xảy ra thiệt hại mà cách tính chi phí thiệt hại xảy ra trên thực tế có sự khác nhau tùy thuộc vào giá cả của tài sản là vật cùng loại đó trên thị trường ở thời điểm và địa điểm xảy ra thiệt hại
Ví dụ: Gia đình ông Nguyễn Văn Nam trồng bắp với diện tích 5000 hecta và luôn tìm tới công ty phân bón Lâm Thành để mua phân bón Trước khi bắp trổ bông, có xuất hiện dịch sâu phá hoại Ông Nam có ra công ty Phân Bón Lâm Thành để tư vấn về tình trạng bắp Và công ty Lâm Thành đã đưa ra cho ông Nam một loại thuốc về đặc trị sâu nhưng đó là thuốc mà chính công ty thử chế tạo ra và khuyên khích cho ông Nam sử dụng thử thuốc Ông Nam cũng đem về sử dụng đúng như công ty đã tư vấn Khoảng một tuần sau khi để thuốc vào bông bắp, sâu không giảm mà vẫn phát triển và lây lan trên 5000 hecta bắp đó một cách nhanh chóng Khi phát hiện ra điều đó, bắp của ông Nam đã không thể phòng bệnh được nữa, sâu đã phá hoại đọt bông và đụt thủng các chồi của bắp gây ra mùa bắp của ông Nam bị thất thu Ông Nam đã thiệt hại tính tổng gần 30 triệu đồng gồm: chi phí giống bắp, chi phí làm đất, chi phí làm cỏ, chi phí phân bón, thuốc trừ sâu…không kể chi phí lợi nhuận (khoản tiền lợi nhuận khi thu hoạch bắp trên 5000 hecta) đã mất cho một vụ bắp Ông Nam có ra công ty để đòi bồi thường nhưng công ty từ chối vì cho rằng không thực hiện đúng như lời tư vấn của công ty Vậy trong trường hợp này thiệt hại của ông Nam sẽ được giải quyết như thế nào? Ông Nam thực hiện giao dịch với công ty nhưng không có một loại hợp đồng nào cả, nhưng vấn đề xác định ở đây, cơ quan chức năng có thể thu thập từ những vỏ chai thuốc còn
dư để lấy mẫu thuốc trong chai đem ra thử nghiệm và phát hiện ra các hợp chất trong
Trang 40GVHD: TH.S Tăng Thanh Phương 34 SVTH: Néang Kim Chua
thuốc không đủ điều kiện và nồng độ để trừ khử sâu Vì thế, công ty phải bắt buộc bồi thường thiệt hại cho ông Nam với các khoảng chi phí cơ bản trên
2.3.2 Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe
Con người như là hạt nhân trong xã hội này, và sức khỏe là yếu tố thiết yếu cho con người hoạt động tiện ích, góp phần tạo sự phát triển của đất nước Tính mạng, sức khỏe của con vô cùng quan trọng và nó được coi như là một tài sản quý giá Nó khác với các tài sản có giá trị khác, nó cũng là loại tài sản bị thiệt hại nhưng lại là tài sản không xác định được giá trị bị thiệt hại, không thể quy đổi thành vật chất dưới bất cứ hình thức nào Vì vậy, bản chất của việc bồi thường thiệt hại này chỉ mang tính chất, khắc phục, hỗ trợ kịp thời của nhà sản xuất, kinh doanh đối với gia đình của người bị thiệt hại tính mạng, sức khỏe do hàng hóa kém chất lượng gây ra Và trong mọi trường hợp nó chỉ mang ý nghĩa trợ cấp cho người bị thiệt hại chứ không phải là bồi thường theo hình thức bồi thường khác như những tài sản khác
2.3.2.1 Xác định thiệt hại về sức khỏe
Thiệt hại đối với sức khỏe của người tiêu dùng do hàng hóa kém chất lượng gây
ra đó là những tổn thất, suy giảm về thể chất của con người và các di chứng để lại cho
họ sau khi sử dụng những hàng hóa không đủ chất lượng Tại điểm a Khoản 1 Điều
609 Bộ luật dân sự năm 2005 và theo Hướng dẫn tại Tiểu mục 1.1 mục 1 Phần II của Nghị quyết 03/2006/NQ – HĐTP thì thiệt hại về sức khỏe cho người tiêu dùng có thể
là : Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại được quy đinh tại điểm b Khoản 1 Điều 609 Bộ luật dân sự năm
2005 và theo Hướng dẫn tại Tiểu mục 1.2 mục 1 Phần II Nghị quyết 03/2006/NQ – HĐTP; chi phí hợp lý và phân fthu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại; tiền bồi thường tổn thất về tinh thần cho những thiệt hại
về sức khỏe mà người tiêu dùng đã phải gánh chịu được quy định tại Khoản 2 Điều
609 Bộ luật dân sự 2005 và theo hướng dẫn tại Tiểu mục 1.5 mục 1 Phần II Nghị quyết 03/2006/NQ - HĐTP
Khi một sản phẩm không mang đầy đủ chất lượng của một sản phẩm như pháp luật đã quy định thì khi người tiêu dùng sử dụng thì nó sẽ gây ra những tác hại đối sức khỏe của người tiêu dùng, điều này thường xuyên xảy ra đối với những loại hàng hóa phục
vụ nhu cầu sinh hoạt như các mặt hàng lương thực, thực phẩm, hàng hóa mỹ phẩm…