Giao lưu dân sự ngày càng nhộn nhịp hơn trong sự tăng trưởng nền kinh tế đất nước trong đó có giao dịch dân sự bằng biện pháp bảo đảm, ở lĩnh vực kinh doanh tư nhân hiện nay giao dịch bả
Trang 1ThS Tăng Thanh Phương
Bộ môn: Luật Tư Pháp
Sinh viên thực hiện:
Quách Thanh Trúc
MSSV: 5115772
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 3
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
“Không thầy đố mày làm nên” vâng đó là câu nói rất đúng và được dân gian
đã truyền miệng từ rất lâu đời, để có thể hoàn thành thành luận văn tốt nghiệp này
trước hết đó là công sức giảng dạy tận tình của quý Thầy Cô của Trường Đại học Cần
Thơ nói chung và quý Thầy Cô Khoa Luật nói riêng Em xin chân thành cảm ơn sâu
sắc đến quý Thầy Cô đã tận tình giảng dạy, không chỉ mang lại cho em những kiến
thức cơ bản trong lĩnh vực học tập mà còn cả cách sống, cách chuẩn bị hành trang cho
em bước vào đời
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn đến sự quan tâm chỉ dẫn tận tình của Cô
Tăng Thanh Phương đã tạo điều kiện giúp em trong suốt thời gian để có thể hoàn
thành tốt Luận văn tốt nghiệp này
Vì kiến thức và thời gian có hạn, thêm vào đó do lần đầu tiên tiếp xúc nên Luận
văn này không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được sự đóng góp của quý
Thầy Cô, anh chị để Luận văn được tốt hơn
Cuối cùng em xin kính chúc quý Thầy Cô luôn dồi dào sức khỏe, gặt hái được
nhiều thành công trong công tác giảng dạy, nghiên cứu
Xin trân trọng kính chào!
Cần Thơ, Ngày 20 tháng 11 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Quách Thanh Trúc
Trang 5MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 4
1 Tính cấp thiết của đề tài 4
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 5
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài 5
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài 6
5 Bố cục đề tài 6
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO DỊCH CẦM CỐ TÀI SẢN TẠI CỬA HÀNG CẦM ĐỒ 7
1.1 Khái niệm và đặc điểm về cầm cố tài sản 7
1.1.1 Khái niệm về cầm cố tài sản 7
1.1.2 Đặc điểm của cầm cố tài sản 8
1.1.3 So sánh giữa cầm cố và thế chấp tài sản 10
1.1.3.1 Điểm giống nhau giữa cầm cố và thế chấp 11
1.1.3.2 Điểm khác nhau giữa cầm cố và thế chấp 11
1.2 Khái niệm và đặc điểm về cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ 12
1.2.1 Khái niệm về cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ 12
1.2.2 Đặc điểm về cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ 14
1.3 Sơ lược về pháp luật cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ từ năm 1986 đến nay 16
1.3.1 Giai đoạn từ 1986 đến khi có BLDS năm 1995 16
1.3.2 Giai đoạn từ BLDS năm 1995 đến khi có BLDS năm 2005 17
1.3.3 Giai đoạn từ BLDS năm 2005 đến nay 19
1.4 Ý nghĩa cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ trong đời sống kinh tế-xã hội 20
CHƯƠNG 2: QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIAO DỊCH CẦM CỐ TÀI SẢN TẠI CỬA HÀNG CẦM ĐỒ 22
Trang 62.1 Giao kết hợp đồng cầm cố tại cửa hàng cầm đồ 22
2.1.1 Hình thức hợp đồng cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ 22
2.1.2 Chủ thể trong hợp đồng cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ 23
2.1.3 Đối tượng của hợp đồng cầm cố tại cửa hàng cầm đồ 28
2.1.4 Nghĩa vụ được bảo đảm trong hợp đồng cầm cố tại cửa hàng cầm đồ 31
2.2 Thực hiện hợp đồng cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ 31
2.2.1 Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ 31
2.2.2 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ 32 2.2.2.1 Quyền và nghĩa vụ của bên cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ 32
2.2.2.2 Quyền và nghĩa vụ của bên nhận cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ 34
2.3 Chấm dứt hợp đồng cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ 37
2.3.1 Nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt 37
2.3.2 Việc cầm cố tài sản được hủy bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác
37
2.3.3 Theo thoả thuận của các bên 37
2.3.4 Tài sản cầm cố được xử lí 37
CHƯƠNG 3:THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CẦM CỐ TÀI SẢN TẠI CỬA HÀNG CẦM ĐỒ VÀ ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT 47
3.1 Thực tiễn chung về hoạt động giao dịch cầm cố tài sản tại cửa hàng ở nước ta hiện nay 47
3.2 Bất cập về việc cầm cố tài sản không thuộc sở hữu của người cầm đồ và hướng giải quyết hoàn thiện 51
3.2.1 Một số điểm bất cập 51
3.2.2 Hướng hoàn thiện 55
3.3 Bất cập về việc không lập hợp đồng cầm cố và hướng giải quyết 56
3.3.1 Điểm bất cập 56
Trang 73.3.2 Hướng hoàn thiện 57
3.4 Bất cập về cầm cố tài sản không nằm trong danh mục cho phép và hướng giải quyết .57
3.4.1 Điểm bất cập 57
3.4.2 Hướng hoàn thiện 60
3.5 Bất cập về lãi suất cầm đồ và hướng giải quyết nhằm hoàn thiện 61
3.5.1 Điểm bất cập 61
3.5.2 Hướng hoàn thiện 65
3.6 Nguyên nhân gây bất cập và hướng hoàn thiện trong hoạt động quản lí các cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ 67
3.6.1 Nguyên nhân gây bất cập trong việc quản lí 67
3.6.2 Hướng hoàn thiện trong việc quản lí các cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế nước ta hiện nay đang trên đà phát triển mạnh mẽ, trong bối cảnh đó, nhiều người cần huy động vốn nhanh để đáp ứng nhu cầu thực tế của mình, trong khi việc vay vốn ở các Ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng bên ngoài có một số hạn chế như thủ tục phiền hà gây mất thời gian, số tiền vay ở tại các nơi này thì khá lớn, nên không phù hợp với những trường hợp vay cá nhân với số tiền vay nhỏ, theo đó giao dịch tại cửa hàng cầm đồ là nơi có thể đáp ứng kịp thời hơn để có số vốn vay nhanh chóng, kết hợp với thủ tục nhanh gọn lẹ
Trong những năm vừa qua Việt Nam thực hiện chuyển đổi mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đã tiến hành cải cách đầy ấn tượng để cải thiện môi trường đầu tư trong nước Những cải cách này đã góp phần nên một môi trường thuận lợi cho việc tăng trưởng khu vực kinh tế tư nhân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước Giao lưu dân sự ngày càng nhộn nhịp hơn trong sự tăng trưởng nền kinh tế đất nước trong đó có giao dịch dân sự bằng biện pháp bảo đảm, ở lĩnh vực kinh doanh tư nhân hiện nay giao dịch bảo đảm dân sự phổ biến nhất được xem là giao dịch cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ, nơi cho vay tín dụng cá nhân với thủ tục nhanh gọn, lãi suất cạnh tranh với các tổ chức tín dụng khác với điều kiện là phải có tài sản có giá trị để đảm bảo và loại tài sản này phải phù hợp với quy định của pháp luật
Với đề tài “Pháp luật về giao dịch cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ” Người
viết muốn phân tích những lí luận cũng như quy định của pháp luật về cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ và làm rõ những vấn đề về thực trạng trong giao dịch cầm cố này cũng như tình hình áp dụng pháp luật trong hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ Khi mà thực
tế hiện nay, loại giao dịch này vi phạm rất nghiêm trọng về các mặt như: Không lập hợp đồng cầm đồ khi khách hàng đến vay tiền, từ đó dẫn đến các cơ quan chức năng khó kiểm tra và quản lí về an ninh trật tự vì cầm đồ là loại hình kinh doanh thuộc doanh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo qui định của pháp luật Bên cạnh đó, tài sản được bên khách hàng mang đến cửa hàng cầm đồ thì không thuộc sở hữu hợp pháp của họ và thông thường các tài sản không chính chủ đó là những tang vật vụ án do hành vi phạm pháp mà
Trang 9có được, nhưng các chủ cửa hàng cũng không quan tâm đến nguồn gốc, xuất xứ của tài sản mà vẫn cho cầm cố Hơn thế nữa, họ còn tiếp tay, móc nối cho kẻ gian thực hiện hành
vi phạm với rất nhiều vụ phức tạp trên địa bàn cả nước Ngoài ra, các chủ cơ sở còn cho phép khách hàng cầm cố những tài sản không thuộc danh mục tài sản cho phép được cầm
cố như: giấy chứng minh nhân dân (CMND), thẻ sinh viên, thẻ ngành, bằng Đại học, sổ
hộ khẩu, đặc biệt là giấy tờ nhà đất cũng được phép cầm cố tại cửa hàng cầm đồ gây nhiều phức tạp trong xã hội Đó là những vấn đề xã hội xảy ra phổ biến nhất hiện nay trong hoạt động kinh doanh cầm đồ cần được làm sáng tỏ về qui định của pháp luật khi
mà những qui định về biện pháp chế tài còn khá nhẹ không đủ răn đe hành vi vi phạm, đặc biệt là chủ cửa hàng kinh doanh dịch vụ cầm đồ so với lợi nhuận mà họ thu thì họ vi phạm quá nhẹ nhàng và khá bình thường nên họ sẳn sàng chấp nhận hình phạt
Từ những thực tế đó đã gây nhiều bức xúc trong dư luận không tốt về lĩnh vực cầm
đồ cũng như ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, qua đó, người viết muốn nghiên cứu trong bài luận văn tốt nghiệp của mình để làm rõ những lí luận, quy định của pháp luật cũng như thực tiễn về loại hình giao dịch này đồng thời đưa ra những
đề xuất nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về hoạt động trong lĩnh vực này
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Với đề tài “Pháp luật về giao dịch cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ” người
viết nghiên cứu ở một số vấn đề về lí luận, quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật trong lĩnh vực giao dịch cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ Trên cơ sở đó, người viết xem xét việc áp dụng các quy định của pháp luật vào thực tiễn trên địa bàn cả nước để chỉ ra những tồn tại, vướng mắc trong quy định của pháp luật về giao dịch cầm
cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ, góp phần lập lại an ninh trật tự và phòng chống tội phạm
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong phạm vi đề tài này, người viết tập chung nghiên cứu chủ yếu là hợp đồng cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ, phân tích các quy định của pháp luật liên quan đến hợp đồng cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ như Bộ luật Dân sự năm 2005, Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 về giao dịch bảo đảm (NĐ 163/2006/NĐ-CP0, Nghị định 11/2012/NĐ/CP ngày 22 tháng 2 năm 2012 về sửa đổi bổ sung một số
Trang 10điều Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 về giao dịch bảo đảm (NĐ 11/2012/NĐ-CP), Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình (NĐ 167/2013/NĐ-CP) và Thông tư 33/2010/TT-BCA ngày 5 tháng 10 2010 quy định cụ thể điều kiện an ninh trật tự đối với một sô ngành nghề kinh doanh có điều kiện (TT 33/2010/TT-BCA) Bên cạnh đó, người viết còn phân tích những thực tiễn liên quan đến hoạt động kinh doanh này
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài là các phương pháp phân tích luật viết Bên cạnh đó, người viết còn áp dụng phương pháp diễn dịch, quy nạp, liệt kê, so sánh, đối chiếu nhằm đi sâu vào từng điều luật cụ thể và tìm hiểu nội dung, tính hữu hiệu cũng như mặt hạn chế từ đó đưa ra hướng giải quyết cho những vấn đề đặt ra
5 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì phần nội dung của
đề tài được chia thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về giao dịch cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ Chương 2: Quy định của pháp luật về giao dịch cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ
và một số đề xuất góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật
Trang 11Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO DỊCH CẦM CỐ TÀI SẢN TẠI CỬA HÀNG
CẦM ĐỒ
Khi tham gia vào quan hệ dân sự, nhìn chung các chủ thể có quyền và có nghĩa vụ tương ứng với nhau, lợi ích của chủ thể có quyền phụ thuộc hành vi thực hiện nghĩa vụ của chủ thể có nghĩa vụ Trong trường hợp chủ thể có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì lợi ích của chủ thể có quyền bị ảnh hưởng Để đảm bảo nghĩa vụ dân sự được thực hiện, pháp luật Việt Nam quy định các biện pháp nghĩa vụ dân
sự, trong đó biện pháp cầm cố tài sản là một trong những biện pháp phổ biến nhất hiện nay
1.1 Khái niệm và đặc điểm về cầm cố tài sản
1.1.1 Khái niệm về cầm cố tài sản
Để quyền dân sự của người có quyền chắc chắn được thỏa mãn, các bên trong quan
hệ nghĩa vụ có thể thỏa thuận, theo đó bên có nghĩa vụ giao cho bên có quyền một tài sản nhất định Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, thì bên có quyền đã có sẵn một tài sản mà người có nghĩa vụ đã giao cho mình
để từ tài sản đó khấu trừ phần nghĩa vụ chưa thực hiện Vì vậy, về ngữ nghĩa thì: Cầm cố tài sản là việc một người cầm trước một tài sản của người khác để đảm bảo cho quyền và lợi ích của mình Việc cầm cố tài sản thường được đặt ra bên cạnh một hợp đồng chính, nhưng cũng có thể đặt ra bên cạnh một hợp đồng phụ Bất luận ở trường hợp nào, cầm cố tài sản đều là kết quả của sự thỏa thuận từ hai phía và với mục đích: Bên có nghĩa vụ phải bằng tài sản của mình để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ đó trước bên có quyền
Điều 326 BLDS năm 2005 qui định “Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi
là bên cầm cố) giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ" Xuất phát từ sự thỏa thuận của các bên, cầm cố
tài sản được hình thành từ nhu cầu đảm bảo cho quan hệ chính được thực hiện Ví dụ, T vay tiền của B 10 triệu đồng, để đảm bảo cho nghĩa vụ vay tiền, các bên thỏa thuận giao kết hợp đồng cầm cố, theo đó T sẽ giao cho B một chiếc xe gắn máy để đảm bảo cho nghĩa vụ vay tiền và nếu như đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên A không thực hiện đúng
Trang 12như đã thỏa thuận thì bên B có quyền bán chiếc xe gắn máy này để bù trừ cho số tiền đã vay hoặc bên A có thể chuyển quyền sở hữu chiếc xe này cho bên B để bù trừ nghĩa vụ trả tiền vay Quan hệ chính trong ví dụ trên là “vay tiền”, còn việc cầm cố tài sản cho B chiếc
xe gắn máy là quan hệ phụ để đảm bảo cho quan hệ chính được diễn ra thuận lợi hơn
1.1.2 Đặc điểm của cầm cố tài sản
Quan hệ cầm cố đòi hỏi phải có sự chuyển giao tài sản từ bên cầm cố sang bên nhận cầm cố và việc chuyển giao tài sản cũng là tiêu chí được dùng để phân biệt đâu là
hợp đồng cầm cố và đâu là hợp đồng thế chấp Khi tài sản được chuyển giao, bên nhận cầm cố sẽ giữ tài sản đó hoặc ủy quyền cho người thứ ba giữ tài sản; trường hợp ủy quyền cho người thứ ba thì bên nhận cầm cố vẫn phải chịu trách nhiệm chính trước bên cầm cố
về những thiệt hại gây ra cho tài sản cầm cố
Hợp đồng cầm cố phát sinh hiệu lực từ thời điểm chuyển giao tài sản Do hợp
đồng cầm cố là hợp đồng song vụ thực tại, nên nó chỉ phát sinh hiệu lực khi tài sản cầm
cố được chuyển giao và các bên trong giao kết đều có nghĩa vụ đối với nhau
Bên nhận cầm cố có thể xử lí ngay tài sản cầm cố khi đến hạn mà bên cầm cố không thực hiện nghĩa vụ Đây là điểm mạnh của biện pháp cầm cố hơn biện pháp thế
chấp, khi đến hạn mà bên cầm cố không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghiã vụ thì bên nhận cầm cố có thể xử lí ngay tài sản một cách dễ dàng và nhanh chóng hơn bên nhận thế chấp Bởi vì bên nhận thế chấp muốn xử lí tài sản thế chấp phải qua các bước như yêu cầu bên thế chấp giao tài sản thế chấp để xử lí, nếu bên thế chấp không giao thì bắt buộc bên nhận thế chấp phải kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết Như vậy, thủ tục xử lí tài sản của biện pháp thế chấp kéo dài và tính rủi ro cũng cao hơn bên biện pháp cầm cố tài sản
Ngoài các đặc điểm trên, biện pháp cầm cố còn có những đặc điểm chung với các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác như:
Cầm cố tài sản là một trong những biện pháp giao dịch bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ
Nghĩa vụ trong quan hệ cầm cố là nghĩa vụ phụ mang tính bổ sung cho nghĩa vụ chính là vay tiền Vì là nghĩa vụ đặt ra bên cạnh nghĩa vụ chính, là biện pháp bảo đảm
Trang 13nghĩa vụ chính được thực hiện, nhằm tránh tình trạng bên cầm cố vi phạm nghĩa vụ Cho nên nếu bên có nghiã vụ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình thì quyền yêu cầu của bên nhận cầm cố không được đặt ra
Quyền yêu cầu của bên nhận cầm cố chỉ phát sinh khi nghĩa vụ chính không thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác Phạm vi bảo đảm do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật qui định, trừ trường hợp các bên không
có thỏa thuận và pháp luật không có qui định thì được xem như nghĩa vụ chính được bảo đảm toàn bộ Xuất phát từ nguyên tắc tự do trong hợp đồng, các bên tự thỏa thuận về phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Các biện pháp bảo đảm điều nhằm mục đích ràng buộc và nâng cao trách nhiệm của các bên trong quan hệ nghĩa vụ dân sự
Cầm cố tài sản là một hình thức đảm bảo đối vật
Hợp đồng cầm cố là hợp đồng thực tế và có hiệu lực từ thời điểm chuyển giao tài sản đó cho bên nhận cầm cố Do vậy, biên bản bàn giao tài sản hay việc kí nhận tài sản đảm bảo là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ cầm cố tài sản Tài sản cầm cố được giao cho bên nhận cầm cố giữ để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa
vụ của người có nghĩa vụ đối với người có quyền Việc giao tài sản cho bên nhận cầm cố giữ là nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ và người có quyền bằng việc nắm giữ thực tại tài sản cầm cố Do đó, sẽ không có trường hợp ngoại lệ tài sản cầm
cố vẫn do người cầm cố giữ
Các bên trong hợp đồng cầm cố có quyền theo đuổi đối với tài sản cầm cố Cụ thể như bên cầm cố có quyền yêu cầu bên nhận cầm cố dừng việc khai thác công dụng hoặc hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố nếu như không có thỏa thuận1
Trang 14Bình đẳng thỏa thuận là yếu tố chi phối hầu hết trong các quy phạm pháp luật dân
sự, cho nên trong giao dịch bảo đảm dân sự việc thỏa thuận với nhau giữa các bên để xác lập nên hợp đồng cầm cố Tức là, trong hệ thống pháp luật hiện hành không có quy phạm nào quy định áp dụng biện pháp cầm cố tài sản là điều kiện bắt buộc để thực hiện một giao dịch dân sự
Quyền yêu cầu xử lí tài sản cầm cố chỉ được thực hiện khi bên cầm cố không thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình
Nếu như nghĩa vụ được đảm bảo bằng hợp đồng cầm cố không thực hiện hoặc thực hiện không đúng từ bên cầm cố, thì bên nhận cầm cố tài sản có quyền xử lí tài sản cầm cố theo phương thức đã thỏa thuận hoặc theo qui định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ và đây là quyền cơ bản và quan trọng nhất của bên nhận cầm cố Tuy nhiên, vì là biện pháp bảo đảm nên nếu bên cầm cố thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ của mình thì không cần áp dụng biện pháp bảo đảm Vì vậy, trong quan hệ cầm cố tài sản, khi bên cầm
cố thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình một cách có thiện chí trên tinh thần hợp tác thì sau khi thực hiện nghĩa vụ trả tiền xong, quan hệ đảm bảo xem như chấm dứt
Biện pháp cầm cố tài sản cũng sẽ tạo ra các quyền của bên nhận cầm cố với tài sản thay thế, quyền này cho phép một khi tài sản đảm bảo đã bị thay thế bởi một tài sản khác thì tài sản thay thế này phải có đầy đủ tính chất và qui chế pháp lí như tài sản trước đó
Trong quan hệ cầm cố tài sản đòi hỏi tài sản phải được chuyển giao cho bên nhận cầm cố, khi tài sản được chuyển giao bên nhận cầm cố sẽ giữ tài sản đó hoặc ủy quyền cho người thứ ba giữ tài sản; trong trường hợp ủy quyền cho người thứ ba giữ thì bên nhận cầm cố phải chịu trách nhiệm chính trước bên cầm cố về những thiệt hại gây ra cho bên cầm cố Hợp đồng cầm cố phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm giao tài sản, do tính chất của hợp đồng cầm cố là hợp đồng song vụ thực tại nên hiệu lực phát sinh khi tài sản được chuyển giao và các bên trong giao kết đều có nghĩa vụ với nhau Tài sản do bên nhận cầm
cố giữ sau khi hợp đồng có hiệu lực cho nên việc xử lí tài sản cầm cố có thể được xử lí ngay khi đến hạn mà bên cầm cố không thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình
1.1.3 So sánh giữa cầm cố và thế chấp tài sản
Trang 15Đất nước ta hiện đang vận động theo cơ chế thị trường, việc mua bán và trao đổi hàng hóa ngày càng có vị trí quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của đất nước Xã hội ngày càng phát triển nên các giao dịch dân sự cũng ngày càng được nhiều người sử dụng hơn trong cuộc sống Việc các giao dịch dân sự được sử dụng nhiều trong
đó có giao dịch về các biện pháp bảo đảm dân sự Phổ biến nhất hiện nay là giao dịch cầm
cố và thế chấp tài sản
1.1.3.1 Điểm giống nhau giữa cầm cố và thế chấp
Cầm cố và thế chấp tài sản đều là biện pháp giao dịch bảo đảm thực hiện nghĩa vụ xuất phát từ sự thỏa thuận của các bên trên nguyên tắc bình đẳng, thỏa thuận và tự nguyện Hợp đồng được xác lập nhằm mục đích nâng cao trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ hoặc ràng buộc, nâng cao trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ
Hai giao dịch này đều là việc mang tài sản thuộc sở hữu của mình để thực hiện bảo đảm nghĩa vụ trả tiền vay Khi nghĩa vụ chính không được thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì mới phát sinh quan hệ cầm cố và thế chấp Quyền yêu cầu của người có quyền hay bên nhận bảo đảm trong quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự chỉ phát sinh khi có hành vi vi phạm của bên có nghĩa vụ mà hành vi đó đã được các bên trong quan hệ dự liệu và ghi trong nghĩa vụ bổ sung Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân
sự được đặt ra bên cạnh nghĩa vụ chính nhằm phòng ngừa tình trạng vi phạm nghĩa vụ, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình Tuy nhiên vì là biện pháp bảo đảm, chỉ mang tính chất bảo đảm thực hiện cho nên khi chủ thể có nghĩa vụ thực hiện đúng hoặc đầy đủ nghĩa vụ của mình thì không cần áp dụng biện pháp bảo đảm hay nói chính xác hơn là trong trường hợp này, quyền yêu cầu hay hành vi thực hiện quyền của chủ thể có quyền trong nghĩa vụ phụ không có căn cứ phát sinh
Đối tượng của cầm cố tài sản và thế chấp tài sản đều là những lợi ích vật chất, đảm bảo các nghĩa vụ vật chất bằng các giá trị vật chất Lợi ích vật chất sử dụng trong các quan hệ giao dịch dân sự thường là các tài sản hay quyền tài sản hoặc một công việc phải làm
1.1.3.2 Điểm khác nhau giữa cầm cố và thế chấp
Trang 16Trong BLDS năm 1995 qui định, việc phân định giữa hợp đồng cầm cố và hợp đồng thế chấp dựa trên tiêu chí tài sản đó là động sản hay bất động sản Nếu là bất động sản là hợp đồng thế chấp và nếu là động sản là hợp đồng cầm cố Qui định như vậy đã gây khó khăn trong việc xác định tài sản là động sản, tài sản nào là bất động sản để tuân theo hình thức cầm cố hay thế chấp bởi BLDS năm 1995 không qui định cụ thể, rõ ràng căn cứ phân biệt tài sản là động sản hay bất động sản
Các khái niệm về tài sản ở BLDS năm 2005 cơ bản vẫn không có sự thay đổi nhiều so với BLDS năm 1995, vẫn sử dụng phương pháp liệt kê đối với bất động sản và loại trừ đối với động sản (tài sản không phải là bất động sản là động sản) Tuy nhiên, BLDS năm 2005 không căn cứ vào phân biệt động sản và bất động sản để quyết định hình thức hợp đồng bảo đảm là cầm cố hay thế chấp mà căn cứ vào nội dung thỏa thuận của các bên về việc có hay không sự chuyển giao tài sản giữa bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm Cầm cố tài sản thì người cầm cố phải chuyển giao tài sản đó để cho người nhận cầm
cố quản lý và sử dụng Còn đối với thế chấp tài sản thì người thế chấp được giữ tài sản thế chấp, chỉ dùng quyền sở hữu tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ Theo đó, Điều 326
BLDS năm 2005 qui định: “Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố)
giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố)
để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự” Còn thế chấp thì được qui định tại khoản 1, Điều
342 BLDS năm 2005 “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp)
dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đối với bên kia và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp” Giữa cầm cố và thế chấp thì bên
nhận cầm cố có thể xử lí tài sản ngay và nhanh chóng tài sản cầm cố Còn đối với bên nhận thế chấp thì không thể xử lí ngay tài sản thế chấp đó mà phải thông qua việc yêu cầu bên thế chấp giao tài sản ra để xử lí khi mà đến hạn bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình, cho nên việc xử lí tài sản có phần rủi ro cao
1.2 Khái niệm và đặc điểm về cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ
1.2.1 Khái niệm về cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ
“Cầm đồ” là hình thức cầm cố tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng vay Hình thức cầm đồ được coi như một hoạt động chuyên môn, theo đó người
Trang 17bán (người vay nợ) có quyền chuộc lại vật đã bán trong thời gian được xác định Hết thời hạn đó mà người bán (người vay nợ) không trả tiền để nhận lại tài sản thì chủ hiệu cầm đồ đương nhiên trở thành chủ sở hữu của vật đó Giá chuộc lại (kể cả vốn lẫn lãi) do hai bên thỏa thuận khi bắt đầu giao dịch Trong thời hạn cầm đồ, tài sản thuộc sở hữu của người bán, người mua (chủ hiệu cầm đồ) không được chuyển dịch và sử dụng tài sản đó.3
Cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ là một trong những giao dịch của cầm cố tài
sản và được pháp luật ban hành qua các văn bản luật về dịch vụ cầm đồ theo đó, “Kinh
doanh dịch vụ cầm đồ là việc thương nhân cho khách hàng vay tiền và nhận giữ hàng hóa hoặc tài sản của khách hàng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng cầm cố”
Kinh doanh dịch vụ cầm đồ gồm hoạt động kinh doanh cho vay tiền với điều kiện người vay phải có tài sản cầm cố4 Theo đó, người vay tiền có tài sản cầm cố gọi là bên cầm đồ, người cho vay tiền nhận tài sản cầm cố gọi là bên nhận cầm đồ Tài sản, hàng hóa dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng cầm đồ gọi là tài sản, hàng hóa cầm đồ5 Thực tế luật chỉ quy định thế nào là kinh doanh dịch vụ cầm đồ và hiện tại không có khái niệm nào đề cập đến khái niệm như thế nào là cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ Theo pháp luật Dân sự thì cầm cố tài sản là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và được
qui định cụ thể tại Điều 326 thì: “Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm
cố) giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự” Việc cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ được thực
hiện theo qui định tại các Điều từ 326 đến Điều 340 của Bộ luật này và các văn bản khác
về hoạt động của cửa hàng cầm đồ Như vậy từ khái niệm về kinh doanh dịch vụ cầm đồ
và cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ có thể định nghĩa như sau: “Cầm cố tài sản tại
cửa hàng cầm đồ là việc chủ cửa hàng cầm đồ cho khách hàng vay tiền theo đó khách hàng phải chuyển giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên chủ cửa hàng
để đảm bảo thực hiện nghiã vụ trả tiền vay” Nghĩa vụ được đảm bảo ở đây được hiểu
là nghĩa vụ trả tiền vay theo hợp đồng vay tiền Điều 471 BLDS năm 2005 “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên bên vay;
Trang 18khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có qui định” Việc cho vay ở cửa hàng cầm đồ có bảo đảm với lãi suất kèm theo theo đúng qui định của pháp luật, lãi suất cho vay được qui định cụ thể tại Điều 476 “Lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố với loại vay tương ứng” Như vậy, trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ
1.2.2 Đặc điểm về cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ
Trong đời sống kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, cùng với nhịp độ phát triển của nền kinh tế, nhu cầu cuộc sống ngày càng cao từ đó nhu cầu cần vốn để đáp ứng kịp thời là điều tất yếu diễn ra trong đời sống Đa số việc cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ với mục đích chủ yếu là vay tiền nhanh chóng để phục vụ nhu cầu sinh hoạt nhỏ của bản thân khi mà họ chưa xoay sở được vốn nhưng họ có tài sản để làm vật bảo đảm Nhờ đó, cửa hàng cầm đồ ra đời và hoạt động có thể đáp ứng được nhu cầu
đó, đồng thời phát sinh lợi nhuận từ việc cho vay này Một số đặc điểm đặc trưng như sau:
Thứ nhất, nghĩa vụ được bảo đảm trong giao dịch cầm đồ là việc chuyển giao tài
sản thuộc sở hữu của khách hàng hoặc của người thứ ba nhưng có giấy ủy quyền hợp lệ Tài sản là những đối tượng được chuyển giao trên thực tế, có thật, có giá trị mua bán, trao đổi và không có tranh chấp trong thời điểm giao dịch cầm đồ Những tài sản này thông thường là các loại tài sản hữu hình có đăng kí quyền sở hữu như: xe gắn máy, xe ô tô,…hoặc những tài sản không có đăng kí quyền sở hữu như: vàng bạc đá quí, các thiết bị điện tử như điện thoại di động, laptop, đồng hồ đeo tay… và đây cũng là các loại tài sản được khách hàng đem cầm nhiều nhất và phổ biến nhất tại các cửa hàng cầm đồ
Thứ hai, tài sản mà khách hàng đem cầm cố thì được chủ cửa hàng định giá để
thỏa thuận việc vay tiền và tiến hành kí kết hợp đồng Tài sản được chủ cửa hàng cất giữ tại kho lưu trữ của cửa hàng để đảm bảo việc vay tiền
Trang 19Thứ ba, khách hàng chủ yếu trong hoạt động này là những cá nhân có nhu cầu cần
vốn nhỏ nhưng cần gấp số tiền, khách hàng thường lui tới các cửa hàng này là những người chơi lô đề, cá độ, đánh bạc,… hay là phần đông sinh viên của các trường, còn doanh nghiệp thì ít đến những nơi này
Thứ tƣ, việc lập hợp đồng cầm đồ là bắt buộc trong các giao dịch cầm đồ, đối với
tài sản có giá trị lớn thì chủ cửa hàng lập hợp đồng theo mẫu, còn đối với tài sản có giá trị nhỏ thì hợp đồng chủ yếu gọi là “biên lai cầm đồ” tất cả được in sẳn trong cửa hàng Thông thường khi đến cầm tài sản tại cửa hàng cầm đồ thì bên cửa hàng đưa ra biên lai cầm đồ hay hợp đồng theo mẫu để kí kết giao dịch Việc lập hợp đồng có ý nghĩa giúp cho bên chủ cửa hàng dễ dàng báo cáo cho các cơ quan chức năng khi họ đến kiểm tra, và chứng minh họ có giao dịch cầm cố tài sản với những tài sản hợp pháp theo đúng quy định của pháp luật Còn đối với khách hàng thì hợp đồng cầm đồ là bằng chứng giúp họ
có thể chuộc lại tài sản khi đến hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng So với các tổ chức tín dụng thì việc vay tiền tại cửa hàng cầm đồ có thủ tục nhanh gọn hơn và vay được tiền nhanh chóng hơn và đây cũng chính là ưu điểm mà khách hàng tìm đến đây để giao dịch vay vốn
Thứ năm, khi đến thời hạn ghi trong hợp đồng, khách hàng phải đến cửa hàng để
chuộc lại tài sản và đóng tiền nợ gốc và lãi phát sinh theo thỏa thuận Nếu như đến hạn
mà khách hàng không đến chuộc lại tài sản thì bên cửa hàng có quyền thanh lí tài sản theo như đã thỏa thuận trong hợp đồng để thu hồi vốn cho cửa hàng Bên phía chủ cửa hàng cầm đồ thường thu lợi nhuận bằng hai cách: một là, cho vay lấy lãi, trong trường hợp này bên khách hàng đến chuộc lại tài sản khi đến thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng hay biên lai cầm đồ Hai là, mua đồ với giá rẻ, trong trường hợp này bên cầm đồ không trả tiền để nhận lại tài sản
Nhƣ vậy: Do nhu cầu tất yếu trong đời sống, con người muốn thỏa mãn một số
nhu cầu cho bản thân, nhưng đôi khi họ lại không xoay sở vốn kịp thời, nên việc đem tài sản đi cầm đồ để vay tiền là sự lựa chọn được nhiều người nghĩ đến.Việc giao dịch tại cửa hàng cầm đồ nhanh chóng và nhận được vốn nhanh nên có thể đáp ứng một cách nhanh chóng các nhu cầu của khách hàng
Trang 201.3 Sơ lƣợc về pháp luật cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ từ năm 1986 đến nay
Trải qua nhiều giai đoạn trong lịch sử, đất nước ta đã ghi nhận nhiều dấu móc trong lịch sử, mỗi dấu móc sẽ có những nét đặc trưng bên cạnh giống nhau còn có nét riêng biệt Đề cập đến giai đoạn trước năm 1986, đặt biệt là giai đoạn đất nước mới thống nhất năm 1976, Nhà nước ta bắt tay vào khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh với mô hình Liên Xô cũ gọi là mô hình “quan liêu, bao cấp” một mô hình bộc lộ nhiều khuyết điểm và kìm hãm sự phát triển nền kinh tế đất nước Do Nhà nước quản lí nền kinh tế, hình thức sở hữu toàn dân dẫn đến giai đoạn này không có chổ đứng cho kinh tế tư nhân
vì thế pháp luật về giao dịch dân sự về dịch bảo đảm dân sự lúc này còn khá mờ nhạt Cửa hàng cầm đồ là mô hình kinh doanh chủ yếu là của tư nhân, trong giai đoạn này, mô hình
tư nhân không có sự tồn tại cho nên không có sự xuất hiện loại dịch vụ này là điều tất
yếu
1.3.1 Giai đoạn từ 1986 đến khi có BLDS năm 1995
Bước sang giai đoạn năm 1986, sau đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng Nhà nước ta đã thay đổi nền kinh tế, đưa đất nước chuyển sang một trang sử mới với nhiều chính sách thay đổi mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu “sánh vai với cường quốc năm châu” Kết quả đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, đưa đất nước ta cơ bản thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu Chuyển sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước thừa nhận sự đa dạng của các thành phần kinh tế, quyền tự do kinh doanh, giao dịch được mở rộng và nhu cầu đảm bảo cho các giao dịch rất cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, đồng thời góp phần ổn định và phát triển kinh tế-xã hội Từ thực tế đó, pháp luật về giao dịch bảo đảm dân sự ra đời
Các biện pháp giao dịch bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bắt đầu được qui định
từ một văn bản của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam “qui định về thế chấp tài sản để vay vốn ngân hàng” ban hành kèm theo quyết định số 156/NH-QĐ ngày 18/11/1989 Văn bản này chỉ qui định thế chấp là hình thức bảo đảm nghĩa vụ, nhưng nó đã tạo tiền đề cho việc xây dựng các chế định bảo đảm nghĩa vụ khác Bộ luật Hàng hải ra đời đầu tiên vào ngày ngày 30/6/1990 thừa nhận quyền cầm cố, thế chấp của chủ tàu đối với loại tài sản đặc biệt
là tàu biển
Trang 21Tiếp theo sau qui định về thế chấp tài sản để vay vốn ngân hàng là sự ra đời của pháp lệnh hợp đồng ngày 29/4/1991 có qui định về các biện pháp bảo đảm dân sự Pháp lệnh ghi nhận bốn biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bao gồm cầm cố, thế chấp, đặt cọc và bảo lãnh Mặc dù thời gian này có bốn biện pháp bảo đảm nghĩa vụ, nhưng lĩnh vực dân sự còn tương đối phức tạp và cần điều chỉnh nhiều mối quan hệ Mỗi biện pháp còn qui định khái quát chung, chưa chi tiết như đối với biện pháp cầm cố tài sản, pháp lệnh chỉ đề cập đến: Tài sản dùng để cầm cố và phương thức xử lí tài sản trong khi trên thực tế phát sinh nhiều vấn đề cần pháp luật điều chỉnh Chẳng hạn như về quyền của các bên trong hợp đồng cầm cố, trong trường hợp nào thì chấm dứt hợp đồng cầm cố, đó là những vấn đề pháp lệnh chưa đề cập đến
1.3.2 Giai đoạn từ BLDS năm 1995 đến khi có BLDS năm 2005
Hai hình thức bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự mới được qui định thêm bên cạnh cầm cố và thế chấp khi có sự ra đời của BLDS năm 1995 đó là kí cược và kí quỹ Yếu tố tài sản là động sản hay bất động sản dùng để phân biệt hình thức cầm cố và thế chấp trong BLDS năm 1995, nhưng Bộ luật lại không đưa ra khái niệm cụ thể về động sản
và bất động sản, vì thế đã gây ra không ít khó khăn cho các bên tham giao giao dịch dân
sự trong vấn đề xác định đâu là hợp đồng cầm cố và đâu là hợp đồng thế chấp Sau khi BLDS năm 1995 ra đời, Nhà nước ban hành một số văn bản dưới luật nhằm hướng dẫn như Quyết định số 71/1998/QĐ-NHNN ngày 19/02/1998 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành quy định về cầm cố tài sản của tổ chức tín dụng vay vốn
từ quỹ phát triển nông thôn do Ngân hàng thế giới (WB) tài trợ Văn bản này được sửa đổi bổ sung bởi Quyết định số 141/1998/QĐ-NHNN ngày 20/04/1998 và Quyết định số 273/1999/QĐ-NHNN ngày 02/08/1999 sửa đổi bổ sung Quyết định số 141/1998/QĐ-NHNN, Quyết định số 71/1998QĐ-NHNN Nghị định 08/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10/03/2000 về đăng kí giao dịch bảo đảm, Nghị định 178/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/12/1999 về bảo đảm tiền vay tổ chức tín dụng và được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 85/2002/NĐ-CP ngày 25/10/2002.Việc áp dụng các quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cũng đã đáp ứng nhu cầu thực tế, nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số quy định không phù hợp và thiếu một số quy định cấp thiết Vì thế, BLDS năm 2005 ra đời đã thay đổi một số nội dung cơ bản của các biện pháp bảo đảm đối vật trong những
Trang 22qui định về bảo đảm nghĩa vụ dân sự, nhằm tạo cơ chế thông thoáng cho việc áp dụng các quy định này Trong giai đoạn này, với qui chế dịch vụ cầm cố ban hành kèm theo Quyết định số 185/QĐ/NH5 ngày 6/9/1994 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, các bên lại có
vẻ như không được quyền tự do thỏa thuận về phương thức xử lí tài sản cầm cố: Văn bản chỉ dự liệu về khả năng bán đấu giá tài sản trong trường hợp người cầm cố không có khả năng thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm cụ thể là Điều 15 qui định “Bên cầm cố được quyền bán vật cầm cố để thu hồi nợ trong các trường hợp: Hết thời hạn vay nợ, người có tài sản cầm cố từ chối trả nợ hoặc không có khả năng thanh toán nợ, người có tài sản cầm
cố chết mà không có người thừa kế hoặc người được quyền thừa kế tuyên bố không nhận thừa kế và doanh nghiệp của người có tài sản cầm cố bị giải thể hoặc phá sản” và Điều 16 qui định “Việc bán tài sản cầm cố được thực hiện theo phương thức bán đấu giá công khai
và theo quy định của pháp luật” Dẫu sao văn bản này đã không còn hiệu lực thi hành sau khi có BLDS và Quy chế thế chấp, cầm cố và bảo lãnh vay vốn Ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 217/QĐ-NH ngày 17/8/1996 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Theo phụ lục số 2 kèm theo Thông tư số 07-TMDL/QLTT ngày 18/5/1992 của Bộ Thương mại và Du lịch, các cơ sở dịch vụ cầm đồ, khi xin phép kinh doanh, điều được yêu cầu xuất trình một giấy chứng nhận của phòng Công chứng Nhà nước hoặc của UBND xã, phường, thị trấn, xác nhận rằng chủ cơ sở có đủ tài sản để đảm bảo cho việc thực hiện các nghĩa vụ của người nhận cầm đồ Trong trường hợp người nhận cầm đồ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ tài sản của mình đối với người cầm đồ-đặt biệt là nghĩa vụ hoàn trả tài sản cầm cố bằng hiện vật, thì người sau này có quyền yêu cầu bán đấu giá tài sản đảm bảo để nhận tiền thanh toán Loại hình bảo đảm pháp định này (không có tên gọi chính thức như cầm cố hay thế chấp) được áp dụng trong vài năm và đã bị hủy bỏ sau khi có Nghị định số 02/CP ngày 5/01/1995 của Chính Phủ và Thông tư liên Bộ số 02/TT/LB ngày 3/10/1995 của Ngân hàng Nhà nước và Bộ Thương mại, đặt các cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ dưới sự chi phối của chế độ pháp lí của doanh nghiệp tư nhân Cũng như Thông tư liên Bộ số 02 đã qui định, việc xử lí các tài sản cầm cố cho cơ sở dịch vụ cầm đồ có thể được thực hiện theo cách thức do hai bên thỏa thuận Sau đó, Thông tư 13/1999/TT-BTM ngày 19 tháng 05 năm 1999 hướng dẫn kinh doanh dịch vụ cầm đồ ra đời thay thế cho Thông tư số 02/TT/LB, Thông tư này về nội dung đã thay đổi một số qui định về hàng hóa, tài sản dùng để cầm đồ và tài sản, hàng hóa
Trang 23không được phép cầm đồ, nội dung qui định cụ thể hơn theo đó, ở Thông tư này qui định tài sản phải là động sản, trong khi tại Thông tư 02 thì nói về quyền về tài sản cụ thể tại Mục I khoản 2.1 qui định “Tài sản cầm được cầm cố có quyền về tài sản được phép giao dịch” như vậy, so với văn bản mới thì quy định rõ ràng hơn, tại mục I Khoản 3.1 Thông
tư 13/1999/TT-BTM qui định “tài sản cầm cố là động sản, có giá trị mua bán, trao đổi
thuộc quyền sở hữu hợp pháp của khách hàng”
1.3.3 Giai đoạn từ BLDS năm 2005 đến nay
BLDS năm 2005 ra đời đã thay đổi tiêu chí phân biệt giữa cầm cố và thế chấp, theo
đó dựa vào yếu tố chuyển giao tài sản hoặc không chuyển giao tài sản So với trước đây, BLDS năm 2005 cô đọng rất nhiều, các qui định về cầm cố tài sản được qui định từ Điều
326 đến Điều 341 rõ ràng và chi tiết hơn Trong lịch sử phát triển, biện pháp bảo đảm cầm
cố tài sản và các giao dịch bảo đảm dân sự khác nói chung được qui định khá chi tiết trong các văn bản pháp luật Cùng với việc Nhà nước xây dựng các văn bản pháp luật qui định về các biện pháp bảo đảm nói chung và cầm cố tài sản nói riêng nhằm tạo môi trường pháp lí làm nền tảng cho sự công bằng, bình đẳng, ổn định góp phần thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế đất nước Hiện tại, về giao dịch cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ được áp dụng chung về cầm cố tài sản trong pháp luật dân sự được quy định tại Điều 341 BLDS năm 2005 “Việc cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ được thực hiện theo quy định tại các Điều từ Điều 326 đến Điều 340 của Bộ luật này và các văn bản pháp luật khác về hoạt động của cửa hàng cầm đồ”, và các văn bản hướng dẫn về giao dịch bảo đảm như Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm, Nghị định 11/2012/NĐ-CP về sử đổi
bổ sung một số điều Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm ngoài việc áp dụng BLDS năm 2005 Ngoài các văn bản phía trên, việc giao dịch cầm đồ còn áp dụng Thông tư số 33/2010/TT-BCA của Bộ Công an qui định cụ thể điều kiện về an ninh, trật
tự đối với một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện vì kinh doanh dich vụ cầm đồ là loại hình kinh doanh có điều kiện nên việc áp dụng Thông tư này là cơ sở pháp lí có hiệu lực hiện tại, văn bản quy định về điều kiện an ninh trật tự đối với một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện có Nghị định 72/2009/NĐ-CP ngày 3/09/2009 của Chính phủ và văn bản về xử lí vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự cụ thể: Quy định tại Điều
14 khoản 2 điểm b và điểm c như sau “phạt tiền từ 2.000.000-5.000.000 đồng đối với
Trang 24hành vi nhận cầm cố tài sản mà theo qui định tài sản đó phải có giấy tờ sở hữu hoặc đăng
kí nhưng không có các giấy tờ đó và điểm c quy định cầm cố, thế chấp tài sản mà không
có hợp đồng theo quy định và khoản 3 điểm e quy định phạt tiền từ 5.000.000-10.000.000 đồng đối với hành vi cầm cố tài sản do trộm cắp, lừa đảo, chiếm đoạt hoặc do hành vi vi phạm khác mà có” tại Nghị định 73/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010, nhưng hiện tại thì văn bản này được thay thế bởi nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 và nội dung của nghị định mới này có sự thay đổi hơn so với quy định cũ như sau: Về mức phạt tiền từ 2.000.000-5.000.0000 đồng ngoài hành vi không lập hợp đồng và nhận cầm cố mà không
có giấy tờ sở hữu thì còn có thêm hành vi cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác mà không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố Bên cạnh
đó, việc phạt tiền từ 5.000.000-10.000.000 đồng là hành vi cho vay tiền có cầm cố tài sản, nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt nam công bố tại thời điểm cho vay, đây là điểm khác biệt với văn bản cũ vì văn bản cũ không
có quy định xử phạt hành chính trong việc lãi suất cho vay Ngoài ra, Nghị định này còn tăng mức phạt cho hoạt động cầm cố tài sản do trộm cắp, lừa đảo, chiếm đoạt hoặc do người khác phạm tội mà có từ 5.000.000-10.000.000 đồng lên 20.000.000-30.000.000, đây là điểm mới quy định nhằm ngăn chặn hành vi lợi dụng dịch vụ cầm đồ để tiêu thụ hàng hóa là tang vật vụ án Từ đó, có thể đẩy lùi tình hình phức tạp về an ninh trật tự trên địa bàn cả nước Ngoài ra, việc xử lí tài sản bảo đảm được áp dụng quy định tại Thông tư 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN ngày 6 tháng 6 năm 2014 thông tư liên tịch hướng dẫn một số vấn đề về xử lí tài sản bảo đảm là văn bản có hiệu lực pháp lí hiện hành
Nhƣ vậy, ở nước ta do lịch sử của đất nước có nhiều giai đoạn khác nhau, nên
việc ban hành văn bản qui định về giao dịch bảo đảm cũng có sự khác biệt và các văn bản sau ra đời làm hoàn thiện hơn các qui định của văn bản trước, giúp cho pháp luật nước ta ngày càng hoàn thiện hơn, bảo đảm quyền và lợi ích cho các bên trong hợp đồng tốt hơn, đồng thời việc quy định chặt chẽ của pháp luật góp phần phòng chống tội phạm lợi dụng khe hỡ của pháp luật mà thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
1.4 Ý nghĩa cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ trong đời sống kinh tế-xã hội
Hội nhập nền kinh tế thế giới, kinh tế nước ta ngày càng phát triển và đạt được nhiều thành tựu đáng kể Bên cạnh đó, đời sống kinh tế của nhân dân ngày càng cao, đòi
Trang 25hỏi phải có cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu cần thiết Cần số vốn nhanh chóng có thể giúp cho chúng ta đáp ứng được một số nhu cầu cấp bách cho cuộc sống, cho nên dịch vụ cầm
đồ được xem là một trong những địa điểm đến để có số vốn nhanh chóng nhằm đáp ứng nhu cầu riêng của mình Đa số, khách hàng đến vay tiền tại cửa hàng cầm đồ chủ yếu là cần có số tiền gấp để đáp ứng nhu cầu trong sinh hoạt khi họ chưa có vốn kịp từ các nguồn khác
Cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ là việc đem tài sản thuộc sở hữu của mình hoặc đem tài sản của người thứ ba mà có giấy tờ ủy quyền hợp lệ đi cầm cố để cho đảm bảo cho việc vay tiền an toàn cho bên chủ cửa hàng Pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ được xây dựng không ngoài mục đích đảm bảo cho khả năng của các chủ thể tham gia hợp đồng tự chịu trách nhiệm về tài sản, hạn chế các rủi ro có thể xảy ra khi bên cầm đồ không thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay, khi đó bên nhận cầm đồ có thể xử lí tài sản để thu hồi vốn
Việc lập hợp đồng cầm đồ là cơ sở pháp lí cho bên chủ cửa hàng cầm đồ và khách hàng đã có tham gia giao dịch cầm đồ và đảm bảo cho khả năng tự chịu trách nhiệm về tài sản, đảm bảo nguyên tắc tự do, bình đẳng, tự nguyện Việc quy định về chuyển giao tài sản cầm đồ cho bên cửa hàng lưu giữ cũng như các loại giấy tờ nhân thân liên quan đã tạo môi trường lành mạnh và hạn chế các rủi ro có thể xảy ra cho các bên Nâng cao trách nhiệm của các bên khi tham gia hợp đồng cầm đồ khi đã kí hợp đồng, bên cửa hàng có trách nhiệm bảo quản tài sản theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm tín an toàn về tài sản cho khách hàng khi họ đến chuộc tài sản và đóng các khoản liên quan Còn khách hàng phải tuân thủ đúng những điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng, nếu như không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình thì bên cửa hàng có quyền xử lí tài sản như đã thỏa thuận để thu hồi vốn Việc đem tài sản cầm cố được xác lập nhằm đảm bảo cho nghĩa vụ chính là nghĩa vụ trả tiền vay với mục đích nhằm nâng cao trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ bên cầm đồ đồng thời cũng là biện pháp phòng ngừa rủi ro khi bên nhận cầm đồ không thực hiện nghĩa vụ trả tiền Ngoài ra, việc lập hợp đồng cầm đồ còn ràng buộc trách nhiệm của bên cầm đồ đối với bên nhận cầm đồ
Trang 26Chương 2 QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIAO DỊCH CẦM CỐ TÀI SẢN TẠI CỬA
HÀNG CẦM ĐỒ
Cầm cố tài sản là nghĩa vụ phụ được đặt bên cạnh nghĩa vụ trả tiền vay trong hợp đồng vay và đảm bảo cho việc vay tiền Tại cửa hàng cầm đồ việc cầm cố tài sản mang tính chất chung như là việc cầm cố tài sản trong BLDS cho nên việc giao kết hợp đồng cầm đồ là cơ sở pháp lí cho hợp đồng cầm cố có hiệu lực pháp luật và hoạt động cầm cố này được pháp luật ghi nhận trong BLDS năm 2005 và các văn bản khác liên quan đến hoạt động cầm cố này
2.1 Giao kết hợp đồng cầm cố tại cửa hàng cầm đồ
2.1.1 Hình thức hợp đồng cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ
Điều 327 BLDS năm 2005 qui định “Việc cầm cố tài sản phải được lập thành văn
bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính” Việc lập văn bản
trong giao dịch là điều kiện bắt buộc để có giá trị pháp lí, cho nên hợp đồng giao kết bằng miệng sẽ không có giá trị pháp lí khi phát sinh tranh chấp
Thỏa thuận về hợp đồng cầm cố có thể thỏa thuận lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính và phải đảm bảo các nội dung về tên các bên liên quan, tài sản cầm
cố, thời hạn, quyền và nghĩa vụ các bên, phạm vi bảo đảm, giá trị tài sản, chủng loại, phương thức xử lí tài sản cầm cố,…
Cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ là việc cho vay tiền phải lập thành văn bản gọi
là “hợp đồng cầm đồ”, có hai hình thức hợp đồng khi giao dịch cầm đồ là hợp đồng theo mẫu và biên lai cầm đồ Đối với loại giao dịch có tài sản có giá trị lớn thì thường được kí kết với hợp đồng theo mẫu, còn đối với “biên lai cầm đồ” thì được dùng để giao kết với những tài sản có giá trị nhỏ Thông thường tại cửa hàng cầm đồ thì biên lai sẽ được sử dụng nhiều hơn hợp đồng theo mẫu Đối với, biên lai cầm đồ được xem là bằng chứng pháp lí chứng mình rằng hai bên đã có tham gia giao dịch cầm đồ tại cửa hàng, về bản chất pháp lí thì mẫu biên lai này không phải là hợp đồng cầm cố tài sản theo quy định chung như hợp đồng dân sự, vì theo quy định của pháp luật thì nội dung của các loại biên lai cầm đồ này không mang đầy đủ bản chất của một hợp đồng như: không có tên của bên
Trang 27chủ cửa hàng chỉ có tên của khách hàng, không có quy định về lãi suất, không có quy định quyền và nghĩa vụ của các bên,… nhưng không vì thế mà giao dịch cầm đồ sẽ vô hiệu, vì theo quy định của BLDS năm 2005 thì “hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp vi phạm về hình thức, trừ trường hợp có quy định khác”6 Vì vậy, thông qua biên lai cầm đồ
có thể hiểu đây là hợp đồng được giao kết bằng lời nói và sẽ không bị vô hiệu về mặc hình thức Khi khách hàng đến vay tiền thì chủ cửa hàng đem hợp đồng hoặc biên lai ra điền vào mẫu để giao dịch cầm đồ và yêu cầu bên cầm đồ kí tên vào biên lai hay hợp đồng
Việc lập hợp đồng trong giao dịch cầm đồ giúp cho bên nhận cầm đồ có đầy đủ tài liệu chứng minh họ đã giao kết hợp đồng với những tài sản theo đúng quy định của pháp với cơ quan chức năng khi họ đến kiểm tra, ngoài ra, việc lập hợp đồng giúp bên chủ cửa hàng có bằng chứng pháp lí khi họ gặp rủi ro trong việc kiện tụng liên quan đến tranh chấp tài sản Đối với bên cầm đồ thì việc kí kết hợp đồng là bằng chứng pháp lí chứng minh họ có tham gia giao dịch cầm đồ tại cửa hàng Nội dung của hợp đồng phải thể hiện
đầy đủ các yếu tố: về hàng hoá, tài sản cầm đồ phải ghi rõ: Tên, chủng loại, nhãn mác, ký
hiệu, số hiệu Giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc Giấy đăng ký lưu hành nếu pháp luật
có quy định đối với hàng hoá, tài sản đó Chất lượng, tình trạng và giá trị tại thời điểm ký hợp đồng; Số tiền vay, lãi suất, thời hạn cầm đồ và phương thức thanh toán Việc xử lý hàng hoá, tài sản cầm đồ khi thanh lý hợp đồng Các cam kết khác do hai bên thoả thuận
Điều 327 BLDS năm 2005 không có qui định việc công chứng, chứng thực hợp đồng cầm cố tài sản là một hình thức của hợp đồng có hiệu lực và khi giao địch tại cửa hàng cầm đồ thì hợp đồng cũng không cần phải công chứng chứng thực tại các cơ quan
2.1.2 Chủ thể trong hợp đồng cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ
Trong giao dịch cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ, chủ thể phải giao tài sản để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ gọi là bên cầm đồ (hay còn gọi là khách hàng) Bên được giữ tài sản để bảo đảm quyền lợi của mình gọi là bên nhận cầm đồ (hay còn gọi là chủ cửa hàng) Các bên trong quan hệ cầm cố đồ có thể là người sản xuất, kinh doanh hoặc người tiêu dùng Thông thường họ là cá nhân vì đa số mục đính chính của họ là mong muốn có
Trang 28
số tiền nhanh chóng để phục vụ nhu cầu bản thân, nhưng phải thỏa mãn các yêu cầu về năng lực chủ thể Vì số tiền vay tại cửa hàng cầm đồ không cao kèm theo thời hạn vay ngắn nên thông thường các đối tượng như tổ chức, hộ gia đình ít vay tín dụng ở đây
Bên cầm đồ:
Tại Khoản 1, Điều 3 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ
về giao dịch bảo đảm và đã được sửa đổi bổ sung tại Khoản 1, Điều 1 Nghị định 11/2012/NĐ-CP qui định: “Bên bảo đảm là bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình, dùng quyền sử dụng đất của mình, dùng uy tín hoặc cam kết thực hiện công việc đối với bên nhận bảo đảm để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của chính mình hoặc của người khác, bao gồm bên cầm cố, bên thế chấp, bên đặt cọc, bên ký quỹ, bên bão lãnh và tổ
chức chính trị xã hội tại cơ sở trong trường hợp tín chấp” Theo đó có thể hiểu “Bên cầm
đồ là bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình hoặc của người thứ ba giao cho bên nhận cầm đồ để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ vay tiền của chính mình hoặc của người khác” Ví dụ: Anh A kí kết hợp đồng cầm đồ với anh B (chủ cửa hàng), theo đó A giao
cho B chiếc laptop của mình để vay số tiền 2 triệu đồng Từ đó, bên cầm đồ trong quan hệ cầm cố là bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình đến cửa hàng cầm đồ để đảm bảo nghĩa
vụ vay tiền của mình là anh A” “Hoặc anh A đem chiếc xe gắn máy của chị B là chị gái của mình đến cửa hàng cầm đồ C để cầm đồ và có giấy tờ ủy quyền hợp lệ từ chị B trong trường hợp này A là người chuyển giao tài sản cho B nên A là bên cầm đồ‟ Bên cầm đồ
là cá nhân và phải thỏa mãn những điều kiện nhất định
Đối với cá nhân là bên cầm đồ, BLDS năm 2005 có qui định tại khoản 3, Điều 14
“Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người
đó chết” Một người được xem là có đầy đủ năng lực hành vi dân sự thì phải là người từ
đủ 18 tuổi trở lên, ngoại trừ các trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Cá nhân phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự thì mới được tham gia giao dịch cầm đồ vì họ phải chịu trách nhiệm về những gì mà mình đã kí kết trong hợp đồng Ngoài ra, theo Khoản 2 Điều 20 BLDS năm 2005 qui định, đối với cá nhân là người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu có tài sản riêng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thì cũng có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự Nhưng đối với tài sản có giá trị lớn hoặc tài sản có đăng kí quyền sở hữu, thì phải có sự đồng ý của cha mẹ
Trang 29theo quy định taị Điều 77 khoản 2 Luật 53/2014/QH13 luật hôn nhân và Gia đình ngày 19 tháng 6 năm 2014.7
Chủ thể giao dịch cầm đồ cũng phải đáp ứng đủ điều kiện trong hợp đồng cầm cố nói chung Khi đến cầm đồ, người vay phải từ 18 tuổi trở lên, có chứng minh nhân dân (CMND), có chứng từ sở hữu đối với những tài sản có đăng kí sở hữu, phải chịu trách nhiệm chịu trách nhiệm về xuất xứ của vật mình trước pháp luật và cửa hàng được phép giữ vật này cùng với vật cầm Ví dụ: A đem chiếc xe gắn máy của mình hiệu Air Blade đến cửa hàng cầm đồ của B cầm với giá 10 triệu đồng, để được vay tiền thì A phải từ 18 tuổi trở lên và phải xuất trình CMND, các loại giấy tờ như giấy đăng kí xe mang tên A để chủ cửa hàng kiểm tra, giữ lại chiếc xe và giấy tờ liên quan theo quy định của pháp luật hoặc có thể ủy quyền cho người thứ ba giữ
Bên nhận cầm đồ:
Bên nhận cầm đồ hay bên nhận cầm cố hoặc là được gọi là bên chủ cửa hàng được gọi là bên nhận bảo đảm nói chung, theo qui định tại Điều 3 khoản 2 Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm thì bên nhận bảo đảm là “Bên có quyền trong quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp cầm cố tài sản” Bên nhận cầm cố trong giao dịch cầm đồ là chủ cửa hàng cầm đồ và phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự như cá nhân bên cầm cố Và bên chủ cửa hàng sẽ là bên được phép giữ tài sản của bên cầm đồ hoặc ủy quyền cho người thứ ba giữ theo quy định tại Điều 16 Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm “Sau khi nhận chuyển giao tài sản cầm cố, bên nhận cầm cố trực tiếp giữ tài sản hoặc ủy quyền cho bên thứ ba giữ tài sản; trường hợp ủy quyền cho người thứ ba giữ tài sản thì bên nhận cầm
cố vẫn phải chịu trách nhiệm trước bên cầm cố về việc thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 332 BLDS năm 2005 và nghĩa vụ khác theo thỏa thuận với bên cầm cố” Nhưng thực tế tại cửa hàng cầm đồ thì tài sản cầm cố luôn được cửa hàng giữ
Ngoài ra, bên chủ cửa hàng là những thương nhân kinh doanh dịch vụ cầm đồ và loại hình kinh doanh này nằm trong doanh mục kinh doanh có điều kiện được qui định tại
7 Con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng; trừ trường hợp là bất động sản, động sản có đăng kí quyền sở hữu, quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý bằng văn
Trang 30Nghị định 72/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 03 tháng 09 năm 2009 qui định điều kiện
về an ninh trật tự đối với một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện và Thông tư 33/2010/TT-BCA của Bộ Công an ngày 05 tháng 10 năm 2010 qui định cụ thể về an ninh trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện tại Điều 3 khoản 98 Thương nhân phải đáp ứng yêu cầu sau:
Điều kiện an ninh, trật tự trong việc thành lập dịch vụ cầm đồ: tại Điều 4 Thông
tư 33/2010/TT-BCA qui định:
- Người đứng đầu doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện và người đại diện theo pháp luật của cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự phải có lí lịch rõ ràng
và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 3 Nghị định số
72/2009/NĐ-CP.9
- Phải duy trì và đảm bảo thực hiện đúng các điều kiện về an ninh, trật tự trong suốt hoạt động kinh doanh; chấp hành quy định về trật tự, an toàn công cộng, vệ sinh môi trường và không nằm trong khu vực, địa điểm mà pháp luật cấm hoạt động kinh doanh
Đảm bảo các điều kiện về phòng cháy chữa cháy
2 Người chưa đủ 18 tuổi, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự; người nghiện ma túy
3 Người đã bị khởi tố hình sự mà các cơ quan tố tụng đang tiến hành điều tra, truy tố, xét xử
4 Người đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phường, xã, thị trấn; đang chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, quản chế, cấm cư trú, bị phạt tù được hưởng án treo đang trong thời gian thử thách; người đang trong thời gian được tạm hoãn chấp hành hình phạt tù; được tạm hoãn đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục
5 Người có tiền án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia; tội do lỗi cố ý có mức án từ 10 năm trở lên hoặc các tội khác liên quan trực tiếp đến ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự mà chưa được xóa án tích; người đã bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác nhưng chưa đủ thời hạn để được coi là chưa bị xử lý
vi phạm hành chính
Trang 31Trách nhiệm chung và riêng đối với các ngành nghề có điều kiện an ninh trật tự:
được quy định tại Điều 6 Thông tư 33/2010/TT-BCA
Trách nhiệm chung:
Người đứng đầu doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện, người đại diện theo pháp luật của cơ sở kinh doanh chịu trách nhiệm trước pháp luật trong việc chấp hành các quy định về an ninh, trật tự và thực hiện các nội dung sau:
- Chỉ được tiến hành hoạt động kinh doanh khi có Giấy chứng nhận đủ điều kiện về
an ninh, trật tự do cơ quan Công an có thẩm quyền cấp; tổ chức thực hiện và hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra người làm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện tại cơ sở chấp hành đúng các quy định của Nghị định 72/2009/NĐ-CP, Nghị định 107/2009/NĐ-CP, Nghị định 109/2009/NĐ-CP, hướng dẫn tại Thông tư này và các quy định của pháp luật có liên quan trong suốt quá trình hoạt động
- Chấp hành việc kiểm tra, hướng dẫn của cơ quan Công an có thẩm quyền
- Báo cáo định kỳ hàng quý (tuần cuối cùng của tháng thứ ba) cho cơ quan Công
an nơi đã cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự về tình hình chấp hành các quy định của pháp luật và những vấn đề khác có liên quan đến an ninh, trật tự trong quá trình hoạt động kinh doanh
- Cung cấp cho cơ quan Công an có thẩm quyền: danh sách và thông tin có liên quan đến người làm trong cơ sở kinh doanh (kể cả người nước ngoài); sơ đồ mặt bằng khu vực sản xuất, kinh doanh; sơ đồ kho bảo quản; thống kê các phương tiện phục vụ cho công tác bảo vệ, phương tiện phòng cháy, chữa cháy; thông tin liên lạc tại cơ sở kinh doanh khi có yêu cầu
- Có sổ quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh và ghi đầy đủ các thông tin theo mẫu của Bộ Công an đã ban hành kèm theo Thông tư này
- Khi thay đổi người đứng đầu doanh nghiệp, chi nhánh và người đại diện theo pháp luật phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan Công an có thẩm quyền
- Có văn bản thông báo về thời gian hoạt động hoặc tạm ngừng hoạt động kinh doanh cho cơ quan Công an có thẩm quyền
Trang 32- Không cho thuê, mượn, chuyển nhượng hoặc sửa chữa Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự
Trách nhiệm trong ngành kinh doanh dịch vụ cầm đồ:
- Đối với những hàng hóa, tài sản cầm đồ thuộc sở hữu của người thứ ba phải có giấy ủy quyền hợp lệ của chủ sở hữu
- Không được nhận cầm đồ đối với hàng hóa, tài sản không rõ nguồn gốc hoặc tài sản do các hành vi vi phạm pháp luật mà có
- Khi có nghi ngờ hàng hóa, tài sản do phạm tội mà có phải thông báo ngay với cơ quan Công an có thẩm quyền kiểm tra, xử lý
Như vậy, đây là quy định cần thiết để thương nhân kinh doanh dịch vụ cầm đồ phải thực hiện đúng để có thể thành lập cơ sở kinh doanh
2.1.3 Đối tượng của hợp đồng cầm cố tại cửa hàng cầm đồ
Đối tượng của hợp đồng cầm đồ là những tài sản đảm bảo, theo quy định tại Điều 3 khoản 7 Nghị định 163/2006/NĐ-CP thì “Tài sản bảo đảm là tài sản mà bên bảo đảm dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm”.Theo đó, tài sản bảo đảm là những tài sản mà khách hàng dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ vay tiền đối với bên chủ cửa hàng Với tư cách là đối tượng nghĩa vụ dân sự nói chung cho nên đối tượng của cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ phải đáp ứng đầy đủ điều kiện tại khoản 1 Điều 4 Nghị định 163/2006/NĐ-CP “Tài sản bảo đảm do các bên thỏa thuận và thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ hoặc thuộc sở hữu của người thứ ba mà người này cam kết dùng tài sản đó để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ đối với bên có quyền Tài sản đảm bảo có thể là tài sản hiện có, tài sản hình thành trong tương lai và được phép giao dịch” Ngoài ra theo qui định tại điều 329 BLDS năm 2005 thì đối tượng là tài cầm đồ phải đáp ứng các yêu cầu sau:
Phải là tài sản thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố hoặc của người thứ ba nhưng có giấy tờ ủy quyền hợp lệ:
Khi bên cầm đồ giao tài sản cho bên chủ cửa hàng cầm đồ, từ thời điểm đó bên cầm đồ sẽ bị hạn chế một số quyền năng đối với tài sản của mình Bên chủ cửa hàng giữ
Trang 33tài sản đó đồng thời khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên cầm đồ không đến chuộc lại tài sản thì họ có quyền định đoạt tài sản theo thỏa thuận đã nghi trong hợp đồng hoặc biên lai cầm đồ Cho nên, tài sản là đối tượng cầm đồ phải thuộc sở hữu của người cầm đồ và nếu tài sản thuộc sở hữu chung của nhiều người, thì việc cầm cố tài sản đó phải được sự đồng ý của tất cả các đồng chủ sở hữu
Trong thực tế, việc xác định tài sản cầm cố có thuộc sở hữu của người cầm cố hay không sẽ tương đối dễ dàng nếu tài sản đó có giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu Nhưng sẽ
là một việc hết sức khó khăn nếu đối tượng của cầm cố là một loại tài sản không có đăng
kí quyền sở hữu Trong trường hợp này, người chủ cửa hàng hết sức thận trọng và chỉ nhận vật cầm đồ khi có đủ cở sở để khẳng định chắc chắn vật đó thuộc sở hữu của người cầm cố thì quyền lợi của mình mới được bảo đảm Theo thông lệ, những tài sản không có đăng kí quyền sở hữu được suy đoán là thuộc sở hữu của người chiếm hữu thực tế Mặt khác, để bên kia chấp nhận, người cầm đồ bao giờ cũng khẳng định tài sản đó thuộc sở hữu của mình Vì vậy, việc quy định phải xuất trình giấy CMND hoặc hộ chiếu còn giá trị
sử dụng để chủ cở sở kiểm tra, đối chiếu và photo lưu lại tại cở sở10 có ý nghĩa quan trọng cho người chủ cửa hàng nhận cầm đồ, để khi nào có phát hiện tài sản không thuộc sở hữu của người cầm đồ thì họ có thể nhờ lực lượng chức năng can thiệp để giải quyết vấn đề hoặc họ tự liên hệ với khách hàng thông qua địa chỉ trong tài liệu đã lưu lại Nhờ đó, đã hạn chế một phần việc lợi dụng cửa hàng cầm đồ để tiêu thụ tài sản do hành vi vi phạm pháp luật mà có được Nhưng nếu thực tế tài sản cầm cố đó không thuộc sở hữu của bên khách hàng và không biết tài sản của ai thì việc pháp luật qui định tài sản cầm cố phải thuộc sở hữu của bên cầm cố là một điều tương đối bất lợi đối với bên nhận cầm đồ Nếu tài sản không thuộc sở hữu của bên cầm đồ dù đó là do người cầm đồ lừa dối thì người nhận cầm đồ vẫn là người trước tiên phải gánh chịu hậu quả Nếu tài sản được thu hồi để giao về cho chủ sở hữu đích thực của nó, thì người nhận cầm đồ sẽ không còn gì để đảm bảo cho quyền lợi của mình nữa, không còn quyền ưu tiên trong việc thanh toán nợ từ tài sản cầm cố, nhưng trong trường hợp này thì bên chủ cửa hàng có quyền yêu cầu khách hàng trả nợ
10
Điểm I Điều 6 Thông tư 33/2010/TT-BCA ngày 25/10/2010 quy định cụ thể về an ninh trật tự đối với một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện
Trang 34 Đối tượng phải là tài sản được phép giao dịch: theo quy định tại khoản 10 Điều 3 Nghị định 163/2006/NĐ-CP thì tài sản được phép giao dịch là tài sản không bị cấm giao dịch theo quy định của pháp luật tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm
Tài sản có trong hiện tại: là tài sản thuộc sở hữu của bên cầm đồ, có trong thực tế
để có thể cầm nắm và di dời được Ví dụ như xe gắn máy, điện thoại di động, xe đạp,…
Tài sản không có tranh chấp: điều kiện về tài sản không có tranh chấp được hiểu là tài sản này không có tranh chấp về nghĩa vụ hợp pháp trong quan hệ pháp luật tại thời điểm kí kết hợp đồng cầm cố
Tài sản được xác định cụ thể:
Bản chất pháp lí của biện pháp cầm cố tài sản là sự dịch chuyển một tài sản từ người cầm cố sang người nhận cầm cố Vì vậy, đối tượng của nó đương nhiên phải là những tài sản cụ thể và có thể di dời được Điều 174 BLDS năm 2005 đã dựa vào tính chất loại trừ bất động sản để hiểu tài sản nào là động sản Tất cả những tài sản không phải
là bất động sản đều là động sản và có thể trở thành đối tượng cầm cố, dù đó là tài sản vô hình hay hữu hình, dù đó là vật đặc định hay vật cùng loại Đối tượng cầm cố có thể là toàn bộ một vật nhưng cũng có thể chỉ là một phần của vật đó Việc chuyển giao như vậy
ở đây có thể là chuyển giao vật chất-giao tài sản-hoặc chuyển giao cả về mặt pháp lí-hoặc chuyển giao cả giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu và cho dù chuyển giao vật chất hay chuyển giao về mặt pháp lí th vẫn không thể chuyển giao quyền sở hữu tài sản cầm cố và quyền sở hữu này vẫn nằm trong tay người cầm cố và người nhận cầm cố chỉ có quyền nắm giữ thực tại tài sản cầm cố mà thôi Có thể nói trong trường hợp này, biện pháp cầm
cố tạo ra cho bên nhận cầm cố một quyền đối vật với một tài sản cụ thể là tài sản cầm cố
Vì vậy, tài sản là bất động sản không thể là đối tượng của giao dịch cầm đồ vì bất động sản không được xác định cụ thể, không thể dịch chuyển cho chủ cửa hàng để bảo quản, cất giữ được vì bản chất pháp lí của cầm cố là phải chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm
cố giữ cho nên bất động sản không thể là đối tượng của hợp đồng cầm cố tài sản
Tài sản cầm cố thuộc loại phải đăng kí quyền sở hữu theo pháp luật, vì tài sản cầm
cố phải giao cho bên nhận cầm cố giữ Hiện tại, tài sản được nhiều người mang đi cầm đồ
Trang 35nhiều nhất là các loại tài sản có giá như: laptop, điện thoại di động, vàng nữ trang, xe gắn máy…
2.1.4 Nghĩa vụ được bảo đảm trong hợp đồng cầm cố tại cửa hàng cầm đồ
Nghĩa vụ bảo đảm là nghĩa vụ có giá trị và đang tồn tại, Điều 3 khoản 5 Nghị dịnh 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 về giao dịch bảo đảm quy định: “Nghĩa vụ được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ dân sự, có thể là nghĩa vụ hiện tại, nghĩa
vụ trong tương lai hoặc nghĩa vụ có điều kiện mà việc thực hiện nghĩa vụ đó được đảm bảo bằng một hoặc nhiều giao dịch bảo đảm” Theo đó, Cầm cố tài sản được giao kết chỉ
để đảm bảo thực hiện một nghĩa vụ vay tiền và làm phát sinh nghĩa vụ đối với nghĩa vụ được đảm bảo vì vậy để hợp đồng cầm cố có giá trị, nghĩa vụ được đảm bảo phải tồn tại
Đối tượng được đảm bảo trong hợp đồng cầm đồ là nghĩa vụ cầm tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ vay tiền Theo đó, bên cầm đồ giao tài sản thuộc sở hữu của mình
để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bên nhận cầm đồ bao gồm: nợ gốc, lãi vay, lãi quá hạn và phí
Ví dụ: A đem laptop của mình đến cửa hàng cầm đồ B để thực hiện giao dịch cầm
đồ để vay tiền, theo đó A sẽ giao cho cửa hàng B chiếc latop của mình để đảm bảo cho nghĩa vụ vay tiền bao gồm nợ gốc, lãi vay, lãi quá hạn và các phí liên quan
2.2 Thực hiện hợp đồng cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ
2.2.1 Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ
Hợp đồng cầm cố tài sản có hiệu lực theo qui định tại Điều 328 BLDS năm 2005
“Cầm cố tài sản có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố”
Về nguyên tắc, hợp đồng đảm bảo nói chung phát sinh hiệu lực từ thời điểm giao kết, khi các bên trong hợp đồng nói chung có thỏa thuận về thời điểm phát sinh hiệu lực Yếu tố chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố là yếu tố quyết định giá trị pháp lí của hợp đồng cầm cố, nếu như không có sự chuyển giao tài sản thì pháp luật không thừa nhận điều đó Quy định về nghĩa vụ giao tài sản cầm cố của bên cầm cố đồng thời với sự phát sinh hiệu lực của hợp đồng cầm cố sẽ làm phát sinh một quyền đối vật của bên nhận cầm cố tương ứng với nghĩa vụ giao tài sản của bên cầm cố Do đó, kể từ thời điểm tài sản cầm cố được giao cho bên nhận cầm cố theo đúng thỏa thuận thì hợp đồng cầm cố mới có hiệu lực
Trang 36Như vậy, tại cửa hàng cầm đồ việc giao kết hợp đồng có hiệu có hiệu lực kể từ thời điểm khi khách hàng chuyển giao tài sản cầm đồ cho bên nhận cầm đồ và kí biên lai cầm đồ
2.2.2 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ
Nhìn chung, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ là ngang nhau cơ bản như các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng cầm cố tài sản nói chung trong BLDS năm 2005
2.2.2.1 Quyền và nghĩa vụ của bên cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ
Nghĩa vụ của bên cầm đồ
Điều 330 BLDS năm 2005 quy định về nghĩa vụ bên cầm cố như sau:
Thứ nhất, phải giao tài sản cầm đồ theo đúng thỏa thuận:
Đối với những tài sản không có đăng kí quyền sở hữu, thì bên cầm đồ phải giao tài sản đó trực tiếp cho bên nhận cầm đồ để bên này chiếm hữu, quản lí trong thời hạn cầm
đồ Nếu tài sản cầm có số lượng lớn, và việc chiếm hữu quản lí nó phải có những điều kiện cần thiết mới thực hiện được, thì các bên có thể thỏa thuận để gửi tài sản đó ở một người thứ ba trên cơ sở hợp đồng gửi giữ Kể từ khi quyền chiếm hữu đối với tài sản cầm
cố đã được dịch chuyển cho người nhận cầm cố hoặc tài sản cầm cố đã được đưa vào nơi cất giữ thì bên cầm cố được coi là hoàn thành nghĩa vụ chuyển giao tài sản cầm cố
Thông qua việc chuyển giao tài sản, bên cầm cố tạm thời mất đi quyền chiếm hữu thực tế đối với vật Một khi bên nhận cầm cố đã thực tế chiếm hữu, quản lí và kiểm soát tài sản đó, thì bên cầm cố không thể đưa tài sản đó để thực hiện vào mục đích khác được nữa Ngoài ra, nếu đến hạn mà bên cầm cố không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, thì việc xử lí tài sản để thanh toán cũng thuận lợi Vì vậy, nếu biện pháp cầm cố được thực hiện theo phương thức này sẽ có độ an toàn và tính bảo đảm cao Nguyên tắc
cơ bản trong biện pháp cầm cố tài sản là bên cầm cố phải giao tài sản để bên nhận cầm cố giữ Tuy nhiên, để phù hợp với điều kiện của các bên và nếu không ảnh hưởng lớn đến độ
Trang 37an toàn của bên nhận cầm cố, thì các bên vẫn có thể thỏa thuận một phương pháp khác với nguyên tắc nói trên
Thứ hai, bên cầm cố báo cho bên nhận cầm cố về quyền của người thứ ba đối với
tài sản cầm cố, nếu có; trong trường hợp không thông báo thì bên nhận cầm cố có quyền hủy hợp đồng cầm cố tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố: quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố được hiểu là quyền chủ quan của một người khác đối với tài sản cầm cố,
mà quyền đó xuất hiện trước khi các bên thỏa thuận về biện pháp cầm cố Trong trường hợp không thông báo thì bên nhận cầm cố có quyền hủy hợp đồng cầm cố tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố
Thứ ba, thanh toán cho bên cầm cố chi phí hợp lí để bảo quản, giữ gìn tài sản cầm
cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Việc cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ, bên cầm
đồ phải thanh toán lãi suất theo như đã thỏa thuận trong hợp đồng cầm đồ và lãi suất hai bên thỏa thuận không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Việt Nam công bố tại thời điểm giao dịch Hiện tại, thì lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước ban hành là 9%/năm như vậy, việc cho vay tại cửa hàng cầm đồ lãi suất không được vượt quá 13,5%/năm
Ngoài quy định về nghĩa vụ của bên cầm cố tại BLDS thì nghĩa vụ của bên cầm đồ còn có quy định tại Thông tư 33/2010/TT-BCA, khi đến cầm đồ, thế chấp phải xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu còn giá trị sử dụng để chủ cơ sở kiểm tra, đối chiếu
và photocopy lưu lại tại cơ sở.11
Quyền bên cầm đồ
Bên cầm đồ có quyền sau đây theo Điều 331 BLDS năm 2005:
Thứ nhất, yêu cầu bên nhận cầm cố đình chỉ việc sử dụng tài sản cầm cố trong
trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 33312 của BLDS năm 2005, nếu do sử dụng mà tài sản cầm cố có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm súc giá trị: Tại cửa hàng cầm đồ, các loại
.11 Điểm I Điều 2 Thông tư 33/2013/TT-BCA
Trang 38tài sản được cầm cố là những động sản có giá trị, nếu như bên cầm đồ phát hiện chủ cửa hàng sử dụng tài sản cầm cố có nguy cơ làm giảm súc giá trị thì bên cầm đồ có quyền yêu cầu bên phía cửa hàng đình chỉ việc sử dụng tài sản cầm cố đó
Thứ hai, được bán tài sản cầm cố, nếu được bên nhận cầm cố đồng ý: Trong giao
dịch cầm đồ, bên cầm đồ được quyền bán tài sản cầm đồ nếu như bên nhận cầm đồ đồng
ý và bên cầm đồ phải thanh toán chi phí hợp lí cho bên nhận cầm đồ, để hợp đồng cầm đồ chấm dứt
Thứ ba, được thay thế tài sản cầm cố bằng một tài sản khác nếu có thỏa thuận:
Trong thời hạn cầm đồ, bên khách hàng có quyền thay thế một tài sản khác để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay cho bên cửa hàng nếu như có sự thỏa thuận của hai bên trong thời điểm giao dịch
Thứ tƣ, yêu cầu bên nhận cầm cố giữ tài sản cầm cố trả lại tài sản cầm cố khi
nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt: Tại cửa hàng cầm đồ, khi đến thời hạn để chuộc lại tài sản, khách hàng đến đóng tiền vốn và lãi suất để chuộc lại tài sản, thì họ có quyền yêu cầu bên chủ cửa hàng trả lại tài sản mà họ đã cầm cố
Thứ năm, yêu cầu bên nhận cầm cố bồi thường thiệt hại xảy ra với tài sản cầm cố:
Trong giao dịch cầm đồ, khi đến hạn chuộc lại tài sản và bên khách hàng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán các khoản chi phí thì bên phía cửa hàng phải trả lại tài sản cho khách hàng Sau khi nhận lại tài sản của mình, mà phát hiện những thiệt hại xảy ra đối với tài sản của mình thì bên khách hàng có quyền yêu cầu bên chủ cửa hàng bồi thường thiệt hại với tài sản cầm cố của mình
2.2.2.2 Quyền và nghĩa vụ của bên nhận cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ
Nghĩa vụ của bên nhận cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ
Điều 332 BLDS năm 2005 quy định nghĩa vụ của bên nhận cầm cố như sau:
Thứ nhất, bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố; nếu làm mất hoặc hư hỏng tài sản cầm
cố phải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố: Theo Điều 17 Nghị định 163/2006/NĐ-CP
về giao dịch bảo đảm qui định “Trong trường hợp tài sản cầm cố là vật có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị thì bên nhận cầm cố đang giữ tài sản đó phải thông báo cho
Trang 39bên cầm cố và yêu cầu bên cầm cố cho biết cách giải quyết trong một thời hạn nhất định; nếu hết thời hạn đó mà bên cầm cố không trả lời thì bên nhận cầm cố thực hiện biện pháp cần thiết để ngăn chặn Bên nhận cầm cố có quyền yêu cầu bên cầm cố thanh toán các khoản chi phí hợp lí, nếu bên nhận cầm cố không có lỗi trong việc xảy ra nguy cơ đó” Bên phía cửa hàng cầm đồ phải có kho bãi lưu giữ tài sản đúng quy định của pháp luật và nếu có thiệt hại xảy ra đối với tài sản cầm đồ trong thời hạn cầm đồ thì bên cửa hàng phải bồi thường thiệt hại đối với tài sản đó
Thứ hai, không được bán, trao đổi, tặng cho, cho thuê, cho mượn tài sản cầm cố;
không được đem tài sản cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác: Bên chủ cửa hàng phải có trách nhiệm trong trường hợp bán, trao đổi, tặng cho, cho thuê, cho mượn tài sản cầm cố, đem tài sản cầm cố để đảm bảo thực hiện khác được qui định tại điều 18 Nghị định 163/2006/NĐ-CP như sau: Trường hợp bên nhận cầm cố bán, trao đổi, tặng cho, cho thuê, cho mượn tài sản cầm cố, đem tài sản cầm cố để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trái với quy định tại khoản 2 Điều 332 BLDS năm 2005 thì bên cầm cố có quyền đòi lại tài sản trong các trường hợp sau đây:
+ Bên mua, bên nhận trao đổi, bên được tặng cho được xác lập theo thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều 247 BLDS13
; + Bên mua, bên nhận trao đổi tài sản cầm cố là động sản không thuộc diện phải đăng ký quyền sở hữu và ngay tình theo quy định tại Điều 257 Bộ luật Dân sự: “ Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng kí quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu
Trong trường hợp bên cầm cố không có quyền đòi lại tài sản từ bên mua, bên nhận trao đổi, bên được tặng cho theo quy định tại khoản 1 Điều này thì bên nhận cầm cố phải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố
13 Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu đối với tài sản đó,