1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

pháp luật việt nam về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

84 1,3K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan có thẩm quyền giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài một cách hiệu quả nhằm đảm bảo quyền lợi của công dân Việt Nam cũng như công dân n

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUAN HỆ

LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Th.s Bùi Thị Mỹ Hương Họ và tên: Huỳnh Thị Tú

Bộ môn: Luật Thương Mại MSSV: 5115773

Lớp: Luật Thương Mại k37

Cần Thơ, Tháng/2014

Trang 2

GVHD:Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Huỳnh Thị Tú

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm chỉ dẫn tận tình của Cô Bùi Thị Mỹ Hương, người đã tạo điều kiện và dành nhiều thời gian giúp em có thể hoàn thành tốt nhất Luận văn tốt nghiệp

Vì kiến thức và thời gian có hạn, thêm vào đó là kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế nên Luận văn không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được ý kiến chỉ bảo, góp

ý của quý Thầy Cô, anh chị để luận văn được hoàn thiện hơn

Cuối cùng em xin kính chúc quý Thầy, Cô luôn dồi dào sức khỏe, gặt hái được nhiều thành công trong công tác giảng dạy, nghiên cứu

Xin trân trọng kính chào!

Cần Thơ, tháng 11 năm 2014 Sinh viên thực hiện

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

Cần Thơ, ngày 05 tháng 12 năm 2014

Trang 4

Mục lục

LỜI NÓI ĐẦU 8

1 Lý do chọn đề tài 8

2 Phạm vi nghiên cứu 9

3 Mục đích nghiên cứu 9

4 Phương pháp nghiên cứu 10

5 Bố cục đề tài 10

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 11

1.1 Khái niệm quan hệ ly hôn và quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài 11

1.1.1 Khái niệm quan hệ ly hôn 11

1.1.2 Khái niệm quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài 12

1.2 Nguồn luật điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài. 13

1.2.1 Nguồn luật điều chỉnh 13

1.2.1.1 Pháp luật quốc gia 13

1.2.1.2.Điều ước quốc tế 14

1.2.2 Phương pháp điều chỉnh 15

1.2.2.1 Phương pháp xung đột 15

1.2.2.2 Phương pháp thực chất 16

1.3 Xung đột pháp luật và nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật đối với vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài. 16

1.3.1 Xung đột pháp luật trong vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài 17

1.3.1.1 Khái niệm xung đột pháp luật 17

1.3.1.2 Nguyên nhân dẫn đến xung đột pháp luật 17

1.3.2 Nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật đối với vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài 18

1.3.2.1 Nguyên tắc luật quốc tịch 19

1.3.2.2 Nguyên tắc luật nơi cư trú 19

1.3.2.3 Nguyên tắc luật nơi có vật 20

1.3.2.4 Nguyên tắc luật tòa án 21

1.4 Hệ quả của việc ly hôn có yếu tố nước ngoài 21

1.4.1 Quan hệ nhân thân 21

1.4.1.1 Quan hệ giữa vợ chồng sau ly hôn 21

Trang 5

1.4.1.2 Quan hệ giữa cha mẹ và con cái 22

1.4.2 Quan hệ về tài sản 23

1.4.2.1 Quan hệ về tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn 23

1.4.2.2 Quan hệ về tài sản riêng của vợ chồng sau ly hôn 23

1.5 Lịch sử phát triển của pháp luật Việt Nam về ly hôn có yếu tố nước ngoài 24

1.5.1 Giai đoạn trước khi ban hành luật hôn nhân và gia đình năm 1959 24

1.5.2 Giai đoạn từ khi ban hành luật hôn nhân và gia đình năm 1959 đến trước khi có luật hôn nhân và gia đình năm 1986 26

1.5.3 Giai đoạn từ khi có luật hôn nhân và gia đình năm 1986 đến trước khi ban hành luật hôn nhân và gia đình năm 2000 27

1.5.4 Giai đoạn từ khi ban hành luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cho đến nay 28

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ QUAN HỆ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 29

2.1 Điều kiện xin ly hôn và những trường hợp hạn chế yêu cầu ly hôn có yếu tố nước ngoài 30

2.1.1 Điều kiện xin ly hôn có yếu tố nước ngoài 30

2.1.1.1 Năng lực hành vi dân sự của chủ thể xin ly hôn 30

2.1.1.2 Tính tự nguyện của chủ thể xin ly hôn 31

2.1.1.3 Quan hệ hôn nhân không trái với quy định pháp luật 31

2.1.2 Những trường hợp hạn chế quyền yêu cầu xin ly hôn 32

2.2 Căn cứ giải quyết ly hôn và hình thức ly hôn có yếu tố nước ngoài 32

2.2.1 Căn cứ giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài 32

2.2.2 Hình thức ly hôn có yếu tố nước ngoài 33

2.2.2.1 Thuận tình ly hôn có yếu tố nước ngoài 33

2.2.2.2 Đơn phương xin ly hôn có yếu tố nước ngoài 34

2.3 Giải quyết vấn đề tài sản và con cái sau ly hôn có yếu tố nước ngoài 28

2.3.1 Vấn đề tài sản sau ly hôn có yếu tố nước ngoài 28

2.3.2 Giải quyết vấn đề con cái sau ly hôn có yếu tố nước ngoài 29

2.4 Thẩm quyền của tòa án trong giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài 36

2.4.1 Thẩm quyền xét xử chung của Tòa án giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài 30

2.4.1.1 Ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài 31

2.4.1.2 Ly hôn giữa người nước ngoài với người nước ngoài 38

2.4.1.3 Ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân Việt Nam 42

Trang 6

2.4.2 Thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam giải quyết ly hôn có yếu tố

nước ngoài 43

2.4.2.1 Điều kiện về mặt chủ thể 43 2.4.2.2 Điều kiện về nơi cư trú của đương sự 43

2.4.3 Thẩm quyền xét xử theo cấp và lãnh thổ của Tòa án Việt Nam trong giải

quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài Error! Bookmark not defined

2.4.3.1 Trường hợp cả hai cùng cư trú tại Việt Nam Error! Bookmark not

defined

2.4.3.2 Một bên cư trú tại Việt Nam, một bên cư trú ở nước ngoài Error!

Bookmark not defined.

2.4.3.3 Cả hai cùng cư trú ở nước

ngoài………… ……… 41

2.5 Hồ sơ, trình tự, thủ tục giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài 49 2.5.1 Hồ sơ xin ly hôn 4922.5.2 Thủ tục gửi đơn kiện và nhận hồ sơ xin ly hôn có yếu tố nước ngoài

49 2.5.3 Trình tự giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài 50

2.5.3.1 Trường hợp công dân Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với công dân Việt Nam đã cư trú ở nước ngoài 51 2.5.3.2 Trường hợp các bên đều là công dân Việt Nam kết hôn ở nước ngoài theo pháp luật nước ngoài, nay họ về Việt Nam xin ly hôn 52 2.5.3.3 Trường hợp công dân Việt Nam ở nước ngoài kết hôn với người nước ngoài, được công nhận tại Việt Nam, nay công dân Việt Nam về nước và

người nước ngoài xin ly hôn 53 2.5.3.4 Trường hợp công dân Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với với người nước ngoài đang cư trú ở nước ngoài 54

2.6 Công nhận bản án, quyết định ly hôn của Tòa án nước ngoài và thời điểm

có hiệu lực của bản án, quyết định ly hôn có yếu tố nước ngoài được Tòa án

Việt Nam thụ lý giải quyết 55 2.6.1 Vấn đề công nhận bản án và quyết định ly hôn có yếu tố nước ngoài của

Tòa án nước ngoài 55 2.6.2 Thời điểm có hiệu lực của bản án, quyết định ly hôn có yếu tố nước ngoài được Tòa án Việt Nam thụ lý giải quyết 50

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP VỀ LY HÔN

CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 58

Trang 7

3.1 Thực trạng về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài hiện nay 58

3.1.1 Tình hình ly hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam 59

3.1.2 Những bất cập trong thực tiễn giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài 60

3.2 Nguyên nhân của vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài và nguyên nhân dẫn đến những bất cập trong giải quyết quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài hiện nay 64

3.2.1 Nguyên nhân của vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài 65

3.2.1.1 Do sự thiếu hiểu biết về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài 58

3.2.1.2 Sự bất đồng về ngôn ngữ, văn hóa, xã hội của các bên 66

3.2.1.3 Do bạo lực gia đình 67

3.2.1.4 Điều kiện về kinh tế gia đình sau kết hôn 67

3.2.2 Nguyên nhân dẫn đến những bất cập trong giải quyết quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài 65

3.3 Giải pháp về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài 64

3.3.1 Giải pháp về mặt xã hội trong quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài 64

3.3.1.1 Giải pháp về mặt giáo dục 64

3.3.1.2 Giải pháp về mặt kinh tế 72

3.3.1.3 Giải pháp tự bảo vệ 74

3.3.2 Giải pháp về pháp luật trong giải quyết quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài 75

KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện chính sách đổi mới, hội nhập, mở rộng mối quan hệ giao lưu với tất cả các nước trên thế giới Nhờ chính sách đó mà Việt Nam đã ngày càng được khẳng định vị thế trên trường quốc tế, bên cạnh đó Việt Nam cũng đạt được một số thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực đời sống và xã hội Nhờ vào những chính sách ấy đã tạo điều kiện cho công dân Việt Nam có điều kiện ra nước ngoài giao lưu, học tập, trao đổi kinh nghiệm trên tất cả các lĩnh vực Bên cạnh đó thì người nước ngoài sang Việt Nam đầu tư, sinh sống, và trao đổi hợp tác ngày càng nhiều hơn, ngoài ra cũng có một số lượng không nhỏ người Việt Nam định cư ở nước ngoài nay trở về Việt Nam kết hôn cũng ngày một nhiều hơn Chính vì thế mà kéo theo biết bao nhiêu hệ lụy trong xã hội xảy ra, mà trong đó

có vấn đề hôn nhân và gia đình, nhưng đặc biệt hơn là vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều và trở nên phổ biến hơn trong xã hội ngày nay

Gia đình được xem là tế bào của xã hội, gia đình có ấm no hạnh phúc, xã hội mới phát triển ổn định Hôn nhân hình thành nên gia đình, hôn nhân là kết quả của sự tự nguyện của nam và nữ để đi đến việc kết hôn tạo nên một gia đình trong xã hội Hôn nhân không chỉ đơn giản chỉ có công dân Việt Nam kết hôn với nhau mà trong thời buổi hội nhập thì nhu cầu kết hôn với người nước ngoài cũng diễn ra phổ biến hơn, mà chủ yếu là phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, kéo theo đó thì việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài ngày một nhiều và trở thành một vấn

đề hết sức phức tạp Ly hôn là một hiện tượng xã hội mang bản chất giai cấp sâu sắc,

do đó quan điểm về ly hôn của các chế độ chính trị khác nhau là không giống nhau Quan niệm về ly hôn dưới chế độ phong kiến thì người phụ nữ không có quyền ly hôn, chỉ người đàn ông mới có quyền ly hôn Ngày nay cùng với sự phát triển thì những quy định về vấn đề ly hôn cũng được chú trọng, ly hôn được xem là quyền cơ bản của công dân khi họ cảm thấy gia đình không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được Xuất phát từ thực tiễn, việc áp dụng quy định pháp luật để giải quyết quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài đã phát sinh nhiều bất cập, không những từ phía công dân

mà còn với những cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết vấn đề ly hôn có yếu

tố nước ngoài Vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài không chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật trong nước mà còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước ngoài và điều ước

Trang 9

quốc tế Vì thế mà quyền và lợi ích của chủ thể không chỉ giải quyết theo pháp luật một nước mà giải quyết tùy theo pháp luật của từng nước khác nhau và Điều ước quốc

tế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ này Đối với pháp luật Việt Nam thì quyền và lợi ích đó được bảo vệ trên cơ sở Hiến pháp, Luật, Nghị định, Thông tư và Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết và

là thành viên Nhằm tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan có thẩm quyền giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài một cách hiệu quả nhằm đảm bảo quyền lợi của công dân Việt Nam cũng như công dân nước ngoài thì việc điều chỉnh pháp luật về ly hôn có yếu tố nước ngoài hiện nay là một thách thức không nhỏ đối với pháp luật Việt Nam Yêu cầu không chỉ hoàn thiện pháp luật trong nước mà còn phải kể đến pháp luật nước ngoài và Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

Chính vì mục đích đó mà người viết đã chọn đề tài “Pháp luật Việt Nam về quan

hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài” nhằm hoàn thiện pháp luật, đơn giản hóa quá trình

giải quyết, cũng như đưa đến việc xác định đúng thẩm quyền giải quyết vấn đề ly hôn

có yếu tố nước ngoài Đồng thời người viết muốn tìm hiểu sâu và hiểu rõ hơn về những quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài Bên cạnh đó cũng nhằm phổ biến sự hiểu biết của người viết về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài được rộng rãi và giúp cộng đồng hiểu rõ hơn và tuân thủ đúng pháp luật nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ, đặc biệt là người phụ nữ, giúp họ có kiến thức cơ bản về vấn đề hôn nhân với người nước ngoài

2 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, người viết chủ yếu đi sâu nghiên cứu các vấn đề lý luận chung đến quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài Sau đó, người viết tìm hiểu và phân tích những quy định của pháp luật Việt Nam về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài, người viết phân tích những vấn đề cơ bản của pháp luật Việt Nam quy định về từ luật hình thức đến luật nội dung trong các vấn đề liên quan đến quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài Đồng thời, người viết cũng nêu lên thực trạng ly hôn có yếu

tố nước ngoài trong xã hội thời gian gần đây và thực trạng trong thực tiễn giải quyết các vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài, cũng như những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó để người viết đưa ra một số giải pháp về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

và giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng ly hôn có yếu tố nước ngoài như hiện nay

3 Mục đích nghiên cứu

Những quy định của pháp luật về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài đã được nhà nước ta xây dựng, tuy nhiên việc áp dụng những quy định đó vào thực tiễn cũng

Trang 10

gặp nhiều bất cập Mặc dù, các cơ quan, tổ chức, cá nhân đã hiểu luật nhưng việc thực hiện đúng của các cơ quan này cũng có nhiều khó khăn Pháp luật về quan hệ ly hôn

có yếu tó nước ngoài hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, vậy làm thế nào để giải quyết tốt nhất về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài hiện nay và trong tương lai cũng

là một vấn đề không đơn giản Vì thế, người viết nhận thấy rằng phải đi sâu vào nghiên cứu những quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam để làm sáng tỏ các khái niệm liên quan đến quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài, cũng như những thủ tục liên quan đến quá trình giải quyết vụ việ ly hôn có yếu tố nước ngoài Người viết đã nghiên cứu có hệ thống từ những lý luận đến các vấn đề pháp lý liên quan đến quan hệ ly hôn

có yếu tố nước ngoài, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của công dân, đảm bảo ổn định trật tự xã hội Trên cơ sở đó có thể đưa ra những hướng đi cụ thể, tìm ra những giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

và có thể góp phần khắc phục hậu quả của ly hôn có yếu tố nước ngoài Mặt khác, giúp cho người viết có thể hiểu sâu hơn, hoàn thiện hơn, nâng cao khả năng tích lũy, cũng

cố kiến thức pháp luật của bản thân

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, người viết chú trọng đến việc tìm hiểu các quy định pháp luật liên quan đến đề tài Từ việc nghiên cứu những quy định pháp luật cụ thể người viết đã đối chiếu, so sánh với thực tế việc áp dụng các quy định đó áp dụng vào cơ sở của cuộc sống Trong phạm vi hẹp nghiên cứu về đề tài, người viết đã dựa vào các phương pháp phân tích, thu thập, thống kê, trích lọc các bài viết có lên quan đến đề tài ly hôn có yếu tố nước ngoài của người viết, và phương pháp đối chiếu, so sánh giữa lý luận và thực tiễn để làm cơ sở của những kiến nghị nhằm giải quyết những bất cập để hoàn thiện hơn các quy định điều chỉnh về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài Ngoài ra người viết còn sưu tầm, thống kê số liệu, tổng hợp thêm các tài liệu liên quan từ thông tin sách, báo, tạp chí, internet…kèm theo một số phương pháp khác mà người viết đã vận dụng trong luận văn này

5 Bố cục đề tài

Ngoài phần lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính được trình bày trong ba chương:

Chương 1: Lý luận chung về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

Chương 2: Pháp luật về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

Chương 3: Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài

Trang 11

Ly hôn là vấn đề phức tạp nó không chỉ ảnh hưởng đối với đương sự khi ly hôn

mà nó còn ảnh hưởng đến con cái gia đình và xã hội Một mặt ảnh hưởng đến tâm lý của con cái khi cuộc sống bị đảo lộn, đó cũng chính là lý do khiến cho nhiều đứa dễ sa ngã nếu không nhận được sự chăm sóc, dạy dỗ một cách tốt nhất của chính người trực tiếp nuôi dưỡng con trẻ nhằm xoa dịu tâm lý con cái khi cha mẹ đột ngột xa nhau.Mặc

dù vấn đề ly hôn hiện nay chưa nhận được nhiều sự ủng hộ từ xã hội, vì thế trong quá trình giải quyết vụ án ly hôn thẩm phán luôn cân nhắc và hòa giải để hàn gắn tình cảm hai bên Nhưng đến cuối cùng thì họ vẫn nhất quyết ly hôn thì buộc thẩm phán cũng phải chấp nhận Ly hôn là chính yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên tự nguyện ly hôn, không một ai có thể đưa ra yêu cầu ly hôn mà không phải là hai bên đương sự

Ly hôn là một vấn đề phức tạp, nhưng đối với vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài lại càng phức tạp vì nó ảnh hưởng đến hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia, sự khác biệt về phong tục tập quán cũng như văn hóa khác nhau của mỗi nước Chính vì vậy để hiểu rõ hơn vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài từ khái niệm về ly hôn và ly hôn có yếu tố nước ngoài, xung đột pháp luật của các nước về vấn đề ly hôn, lịch sử phát triển của vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài, phương pháp điều chỉnh vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài Người viết tập trung chủ yếu trong chương 1 này

1.1 Khái niệm quan hệ ly hôn và quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

Pháp luật Việt Nam hiện nay cũng chưa có khái niệm nào liên quan đến quan hệ

ly hôn có yếu tố nước ngoài, nhưng bằng cách tổng hợp các quy định về ly hôn cũng như ly hôn có yếu tố nước ngoài để có được khái niệm về ly hôn có yếu tố nước ngoài Trước hết là tìm hiểu về khái niệm ly hôn theo pháp luật Việt Nam

1.1.1 Khái niệm quan hệ ly hôn

Trong quan hệ hôn nhân, kết hôn được xem là bước khởi đầu của mối quan hệ hôn nhân và xác lập nên mối quan hệ vợ chồng nhằm xây dựng nên một gia đình hạnh phúc, ấm no và bền vững, nhưng trong xã hội ngày nay không thể phủ nhận vấn đề

Trang 12

hôn nhân không hạnh phúc trong quá trình sống chung, làm phát sinh nhiều mâu thuẫn

và không thể hàn gắn được nữa thì tính tất yếu của những vấn đề ấy trong mối quan hệ hôn nhân là dẫn đến việc ly hôn Ly hôn là một sự kiện pháp lý nhằm chấm dứt mối quan hệ hôn nhân mà chỉ có vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng mới có quyền yêu cầu xin

ly hôn Nhưng quyền ly hôn của vợ chồng luôn được nhà nước đảm bảo và kiểm soát nhằm hạn chế việc lạm dụng quyền ly hôn mà dẫn đến những hậu quả không tốt cho gia đình và xã hội Nhà nước luôn đảm bảo quyền tự do của cá nhận vì vậy vấn đề ly hôn cũng được nhà nước chú trọng và được cụ thể hóa bằng một quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nhằm đảm bảo quyền lợi của các chủ thể tham gia và

cụ thể tại Khoản 8 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình quy định:“Ly hôn là chấm

dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc

chồng hoặc cả hai vợ chồng” Như vậy, ly hôn là hành vi có ý chí của cả 2 vợ chồng

và được nhà nước công nhận bằng một bản án hoặc một quyết định ly hôn của tòa án

Ly hôn là một mặt của mối quan hệ hôn nhân, nhưng đó lại là mặt trái của xã hội nhưng nó không thể thiếu trong mối quan hệ hôn nhân Không thể xem vấn đề ly hôn

là mặt tiêu cực trong mối quan hệ hôn nhân bởi vì khi ở trong một vài trường hợp ly hôn lại là cách tốt nhất đề giải quyết những mâu thuẫn hay khó khăn mà cả hai vợ chồng không thể hòa hợp được nữa Vì vậy, ly hôn là giải pháp cuối cùng nhằm giải phóng cho cả hai vợ chồng để họ có thể tự do, thấy thoải mái hơn khi chấm dứt mối quan hệ hôn nhân khi hạnh phúc đã không còn nữa Ly hôn không chỉ đơn thuần là giải thoát cho cả hai vợ chồng mà nó còn giải thoát cho các thành viên khác trong gia đình thoát khỏi sự bế tác trong cuộc sống

1.1.2 Khái niệm quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

Trong thời buổi hội nhập kinh tế thế giới hiện nay thì vấn đề ly hôn nó không chỉ

bó hẹp trong phạm vi một quốc gia mà nó còn liên quan đến nhiều quốc gia bằng việc kết hôn giữa công dân của các quốc gia khác nhau trên thế giới, dẫn đến tình trạng ly hôn có yếu tố nước ngoài xảy ra như hiện nay Chính vì sự liên quan của nhiều quốc gia khác nhau trong vấn đề ly hôn, vì vậy cần xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp nhằm điều chỉnh mối quan hệ này để bảo vệ quyền và lợi ích không chỉ đối với công dân Việt Nam mà còn nhằm đảm bảo lợi ích của công dân các nước trong mối quan hệ

ly hôn Bên cạnh đó cũng nhằm bảo vệ mối quan hệ giao lưu hợp tác với các nước trên thế giới Đối với mối quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài thì không chỉ có pháp luật một quốc gia điều chỉnh mà nó còn chịu sự điều chỉnh của quốc gia khác, hay Điều ước quốc tế tham gia điều chỉnh mối quan hệ này

Trang 13

Đối với khái niệm ly hôn có yếu tố nước ngoài hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào quy định về vấn đề này Nhưng căn cứ điều khoản trong Luật Hôn nhân và

gia đình năm 2000 cụ thể là tại khoản 14 Điều 8 quy định “Quan hệ hôn nhân và gia

đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình: giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài” và tại

khoản 4 Điều 100 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Các quy định

của chương này cũng được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài” từ những

quy địn tại hai điều khoản này của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 chúng ta có thể suy ra được khái niệm ly hôn có yếu tố nước ngoài như sau:

Ly hôn có yếu tố nước ngoài là ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; giữa hai công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài; hoặc giữa hai công dân Việt Nam với nhau mà tài sản lên quan đến quan hệ ly hôn ở nước ngoài hoặc căn

cứ chấm dứt quan hệ hôn nhân theo pháp luật nước ngoài

1.2 Nguồn luật điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

Nguồn luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài là những hình thức chứa đựng nguyên tắc cơ bản của pháp luật nhằm điều chỉnh mối quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài Căn cứ vào đó ta có thể chia nguồn luật điều chỉnh về vấn đề này

thành hai loại là: pháp luật quốc gia và điều ước quốc tế

1.2.1 Nguồn luật điều chỉnh

1.2.1.1 Pháp luật quốc gia

Nguồn pháp luật quốc gia gồm pháp luật trong nước và pháp luật nước ngoài Nguồn pháp luật trong nước là loại nguồn khá phổ biến để điều chỉnh quan hệ ly hôn

có yếu tố nước ngoài bởi nó chứa đựng các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề này Pháp luật trong nước là hệ thống pháp luật thành văn, vì vậy pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nó nằm rải rác trong các văn bản pháp luật bao gồm:

Hiến pháp: là nguồn quan trọng nhất vì nó là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất,

trong đó quy định tất cả các nguyên tắc cơ bản về mặt pháp lý đối với tất cả các vấn đề quan trọng của đất nước Vì vậy, quyền hôn nhân đã được quy định cụ thể trong Hiến

Trang 14

pháp các năm 1946, 1959, 1980, 2000 và được khẳng định một lần nữa trong Hiến pháp 2013

Bộ luật dân sự: Về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng được Bộ luật dân

sự điều chỉnh vì đây cũng là một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và được quy định cụ thể tại phần thứ 7 của Bộ luật dân sự

Luật hôn nhân và gia đình: Luật hôn nhân và gia đình là luật chuyên ngành điều

chỉnh về mối quan hệ hôn nhân gia đình và trong luật này cũng điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và điều chỉnh cụ thể hơn về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài Và Luật Hôn nhân và gia đình 2000 đã dành hẳn Chương XI để điều chỉnh về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự: Qui định về thẩm quyền xét xử, cũng như quy định

trình tự, thủ tục ly hôn có yếu tố nước ngoài và vấn đề công nhận và cho thi hành bản

án nước ngoài tại Việt Nam

Ngoài Luật hôn nhân và gia đình, thì còn nhiều văn bản khác cũng điều chỉnh

về vấn đề này gồm có: Luật quốc tịch 2008, Nghị định 138/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, Nghị định 24/2013/NĐ – CP qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân

và gia đình về quan hệ Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Nghị định này có hiệu lực ngày 15/5/2013 thay thế Nghị định 68/2002/NĐ – CP Nhờ vào việc ban hành các văn bản này của cơ quan có thẩm quyền góp phần quan trọng để điều chỉnh về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài mà đặc biệt là ly hôn có yếu tố nước ngoài Bên cạnh đó việc ra đời của dự thảo Luật Hôn nhân và gia đình ra đời cũng góp phần không nhỏ vào việc áp dụng pháp luật để điều chỉnh vấn đề này Và mói đây nhất là vào ngày 19/06/2014 Quốc hội đã thông qua Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 sẽ chính thức có hiệu lực vào ngày 01/01/2015 thay thế cho Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sẽ góp phần quan trong vào nguồn điều chỉnh về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

1.2.1.2.Điều ước quốc tế

Điều ước quốc tế là văn bản pháp lý thể hiện sự thỏa thuận giữa các chủ thể của luật quốc tế trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện nhằm ấn định, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ quốc tế và đảm bảo được các nguyên tắc

cơ bản của luật quốc tế

Đối với vấn đề hôn nhân và gia đình thì điều ước quốc tế chứa đựng các quy phạm xung đột nhằm điều chỉnh mối quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước

Trang 15

ngoài, trong đó có vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài Điều ước quốc tế không quy định cụ thể việc điều chỉnh ly hôn có yếu tố nước ngoài mà chủ yếu là quy định nguyên tắc chọn luật áp dụng để điều chỉnh vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài Hiện nay thì Việt Nam chưa tham gia và ký kết điều ước đa phương về lĩnh vực hôn nhân và gia đình với các nước nhưng vấn đề ký kết và tham gia điều ước song phương về quan

hệ hôn nhân và gia đình thì ngày càng được mở rộng Điều ước quốc tế về Ly hôn có yếu tố nước ngoài được áp dụng ở Việt Nam hiện nay đó là những Hiệp định tương trợ

tư pháp mà Việt Nam đã tham gia ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp đã góp phần giải quyết hàng loạt vấn đề về hợp tác tư pháp mà đặc biệt là lĩnh vực ly hôn có yếu tố nước ngoài nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của công dân trên lãnh thổ của nhau Một

số hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã ký kết với các nước như: Với Nga vào năm 1998, Séc và Slovakia năm 1982, Cu Ba 1984, Ba Lan năm 1993, Trung Quốc và Lào 1998, Pháp năm 2001 Việc tham gia ký kết hiệp định với các nước đã đánh dấu bước phát triển trong mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước có liên quan trong nhiều lĩnh vực, góp phần thúc đẩy mối quan hệ pháp lý giữa các nước, nhằm bảo vệ môi trường thuận lợi hợp tác giải quyết nhiều vấn đề phức tạp, trong đó có vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài

1.2.2 Phương pháp điều chỉnh

Hiện nay, Tư pháp quốc tế Việt Nam cũng như Tư pháp quốc tế của đa số các nước trên thế giới đều có những cách thức và biện pháp khác nhau để điều chỉnh nhằm phân định quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia vào quan hệ dân sự mang tính quốc tế Hai phương pháp mà hầu hết các quốc gia áp dụng đó là phương pháp xung đột và phương pháp thực chất

1.2.2.1 Phương pháp xung đột

Phương pháp xung đột là phương pháp điều chỉnh gián tiếp các vấn đề liên quan

về quan hệ hôn nhân trong đó có quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài, là phương pháp điều chỉnh chủ yếu thông qua các quy phạm xung đột để giải quyết vấn đề liên quan Quy phạm xung đột là loại quy phạm không trực tiếp giải quyết cụ thể quyền và nghĩa

vụ của các bên mà chỉ đưa ra phương pháp chọn luật một nước nào đó để giải quyết vấn đề quyền và nghĩa vụ của các bên trong mối quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài Nếu quy phạm xung đột dẫn chiếu đến nước nào thì pháp luật của nước đó được áp dụng, việc dẫn chiếu đó có thể dẫn chiếu ngược lại hoặc là dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba

Trang 16

Theo một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật đã được quy định cụ thể để giải quyết và tại khoản 1

Điều 104 quy định: “Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài với

nhau thường trú tại Việt Nam được giải quyết theo Luật này”, trong trường này, dẫn

chiếu đến pháp luật Việt Nam được áp dụng Còn quy định tại khoản 3 Điều này dẫn chiếu có thể áp dụng đến pháp luật của nước thứ ba nước nơi có bất động sản

Tóm lại, phương pháp xung đột một mặt nó luôn được hoàn thiện và pháp điển

hóa trong hệ điều kiện quốc tế hóa đời sống quốc tế, mặt khác nó cũng lại luôn được

bổ sung và hoàn thiện hóa trong luật pháp của mỗi quốc gia Phương pháp xung đột được áp dụng khá phổ biến để điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung và

ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng thông qua việc áp dụng các quy phạm xung đột Quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài ngày càng đa dạng và phức tạp hơn vì vậy phương pháp điều chỉnh về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng trở nên đa dạng

và phức tạp để phù hợp hơn và các quy phạm xung đột được áp dụng ngày càng nhiều

để điều chỉnh vấn đề này

1.2.2.2 Phương pháp thực chất

Phương pháp thực chất được xây dựng trên cơ sở của những quy định thực chất nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề phát sinh trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, đặc biệt là trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Nó quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vào mối quan hệ đó

Các quy phạm thực chất có thể nằm trong điều ước quốc tế hay còn gọi là quy phạm thực chất thống nhất, còn các quy phạm thực chất được xây dựng trong các văn bản pháp luật của mỗi nước được gọi là quy phạm thực chất trong nước Các quy định

cụ thể điều chỉnh quyền và nghĩa vụ trong quan hệ hôn nhân nói chung và quan hệ ly hôn nói riêng là quy phạm thực chất trong nước Còn các quy định điều chỉnh quyền

và nghĩa vụ trong điều ước quốc tế và hiệp định tương trợ tư pháp là quy phạm thực chất thống nhất Quy phạm thực chất thống nhất sẽ có giá trị pháp lý cao hơn quy phạm thực chất trong nước Vì vậy, khi giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài thì vừa chịu sự điều chỉnh của quy phạm thực chất trong nước và sự điều chỉnh của quy phạm thực chất thống nhất, mà quy phạm thực chất thống nhất có quy định khác với quy phạm thực chất trong nước thì sẽ áp dụng quy phạm thực chất thống nhất để giải quyết các vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài

1.3 Xung đột pháp luật và nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật đối với vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài

Trang 17

1.3.1 Xung đột pháp luật trong vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài

1.3.1.1 Khái niệm xung đột pháp luật

Trong tư pháp, luật Tư pháp quốc tế thì “Xung đột pháp luật xảy ra khi hai hay

nhiều hệ thống pháp luật đồng thời cùng điều chỉnh một quan hệ pháp luật này hay một quan hệ pháp luật khác” 1

Hay trong một định nghĩa khác thì xung đột pháp luật

được hiểu là: “Hệ thống pháp luật của hai hay nhiều quốc gia cũng có thể được áp

dụng để đều chỉnh một mối quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài.” 2

Vì vậy, xung đột pháp luật có thể được hiểu là hiện tượng pháp luật của hai hay nhiều quốc gia cùng điều chỉnh một vấn đề liên quan đến quan hệ dân sự có yếu tố

nước ngoài

Hôn nhân và gia đình là một mối quan hệ của tư pháp quốc tế, mà ly hôn có yếu

tố nước ngoài lại là một phần thuộc mối quan hệ hôn nhân và gia đình, vì vậy xung đột

về ly hôn có yếu tố nước ngoài thường hay xảy ra Để giải quyết vấn đề ly hôn có yếu

tố nước ngoài thì phải chịu sự điều chỉnh pháp luật của các quốc gia khác nhau Xung

đột pháp luật cũng mang lại một số tiêu cực cho các cơ quan tiến hành giải quyết vấn

đề ly hôn có yếu tố nước ngoài hay các chủ thể tham gia vào quan hệ đó đối với các quốc gia Cùng một vấn đề nhưng lại chịu sự điều chỉnh của nhiều quốc gia khác nhau dẫn đến tình trạng khó khăn trong việc xác định thẩm quyền giải quyết của các quốc gia Bên cạnh đó, việc xung đột thẩm quyền cũng có sự thay đổi hệ thống pháp luật của các quốc gia đề phù hợp và cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi của các chủ thể tham gia vào mối quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài Nhưng xung đột pháp luật cũng mang lại một số mặt tích cực như với việc tiếp cận của nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cũng giúp cho các quốc gia liên quan có thể nhận thấy được những hạn chế của hệ thống pháp luật của nước mình từ đó điều chỉnh cho phù hợp và hoàn thiện

hơn

1.3.1.2 Nguyên nhân dẫn đến xung đột pháp luật

Xét từ định nghĩa về xung đột pháp luật về ly hôn có yếu tố nước ngoài thì có hai nguyên nhân chủ yếu dẫn đến xung đột pháp luật là: Pháp luật về hôn nhân và gia đình của các quốc gia hữu quan khác nhau hay pháp luật của các quốc gia khác nhau nên xây dựng pháp luật về hôn nhân và gia đình cũng khác nhau, do sự phát triển các quan

hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài

Giáo trình tư pháp quốc tế - trường Đại học Luật Hà Nội, trang 27

Trang 18

Thứ nhất: Pháp luật về vấn đề ly hôn của các quốc gia khác nhau Xét về mặt nội

dung nếu pháp luật điều chỉnh về ly hôn giữa các quốc gia giống nhau thì vấn đề xung đột pháp luật sẽ không xảy ra vì tình huống pháp luật của hai hay nhiều quốc gia cũng

có thể điều chỉnh một mối quan hệ mà không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết

vụ việc của các cơ quan liên quan, đem lại thuận lợi cho các cơ quan liên quan trong giải quyết vấn đề của tất cả các quốc gia thay vào đó là các cơ quan tố tụng không cần phải chọn luật được áp dụng để điều chỉnh một vấn đề liên quan Mỗi một quốc gia có nền văn hóa, kinh tế, phong tục tập quán khác nhau vì vậy quy định pháp luật của các quốc gia cũng khác nhau xuất phát từ những đặc điểm đó dẫn đến quy định về mặt

pháp luật của các nước là không hoàn toàn giống nhau

Ví dụ: Như trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình có quốc gia thừa nhận chế độ đa thê nhưng cũng có quốc gia hoàn toàn ngược lại quy định chế độ hôn nhân phải một

vợ một chồng và không thừa nhận mối quan hệ hôn nhân đa thê Vì vậy, cần phải xây

dựng quy định thống nhất về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nhằm đảm bảo

quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia vào mối quan hệ đó

Nếu như nguyên nhân thứ nhất được xem là điều kiện cần là nguyên nhân dẫn đến xung đột pháp luật thì nguyên nhân thứ hai được xem là điều kiện đủ để đưa đến

việc xung đột pháp luật của các quốc gia

Thứ hai: Do sự phát triển của các mối quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố

nước ngoài Chính thời buổi hội nhập quốc tế tạo điều kiện thiết lập, giao lưu quan hệ giữa các nước ngày càng mở rộng đưa đến sự phát triển trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài mà quan hệ hôn nhân và gia đình cũng là một thành phần của sự phát triển

đó Nếu như trước đây các quốc gia không có sự giao lưu với nhau thì xung đột pháp luật sẽ không xảy ra Ví dụ, vào thời kỳ phong kiến các quốc gia chỉ thực hiện chính sách kinh tế tự cung tự cấp, sự giao lưu dân sự khác cũng ít phát triển trong quan hệ giữa các quốc gia, hiện tượng xung đột pháp luật không phát triển thường xuyên Đến thời kỳ tư bản chủ nghĩa được xem là thời kỳ phát triển mạnh mẽ quan hệ thương mại trong phạm vi một quốc gia cũng như trên phạm vi toàn thế giới, vấn đề xung đột pháp luật nảy sinh thường xuyên hơn trước Vì vậy, sự phát triển của quan hệ dân sự có yếu

tố nước ngoài là một trong những nguyên nhân dẫn đến xung đột pháp luật trong quan

hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và quan hệ về ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng

1.3.2 Nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật đối với vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài

Trang 19

Hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng điều chỉnh về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài gọi là hiện tượng xung đột pháp luật Đối với vấn đề ly hôn

có yếu tố nước ngoài pháp luật Việt Nam có đưa ra cụ thể để điều chỉnh vấn đề này giúp chọn luật phù hợp để giải quyết xung đột pháp luật về ly hôn có yếu tố nước ngoài để giải quyết một cách phù hợp nhất Tại khoản 2 và 3 Điều 104 Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2000 có quy định: “Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam

không thường trú tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng”; “ Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.” Từ hai quy định trên có thể thấy rằng pháp luật Việt Nam áp dụng

hai nguyên tắc luật nơi cư trú và luật nơi có tài sản để giải quyết mối quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài Đối với pháp luật về tố tụng thì Việt Nam còn áp dụng nguyên tắc luật tòa án để giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài

1.3.2.1 Nguyên tắc luật quốc tịch

Nguyên tắc luật quốc tịch (Lex nationalis) hay còn được gọi là luật bản quốc được hiểu là luật của quốc gia mà đương sự đó là công dân Chính nguyên tắc luật quốc tịch để xác định pháp luật áp dụng để giải quyết vấn đề trong việc áp dụng pháp luật của quốc gia mà đương sự là công dân Trong pháp luật Việt Nam cũng được quy định về nguyên tắc luật quốc tịch để giải quyết quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Như quy định tại Khoản 1 Điều 762 của Bộ luật dân sự 2005 quy định về việc xác định năng lực hành vi dân sự tuân theo nguyên tắc luật quốc tịch của đương sự, đối quan hệ hôn nhân và gia đình cũng được áp dụng nguyên tắc này để xác định thẩm quyền tòa

án nước nào hay pháp luật nước nơi đương sự có quốc tịch để giải quyết các vụ việc liên quan đến quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài Ngoài ra nguyên tắc này còn được quy định trong hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Ba Lan tại khoản 1 Điều

26 thì: “Việc ly hôn phải tuân theo nước ký kết mà vợ chồng là công dân ở thời điểm

đưa đơn ly hôn” Điều này cũng cho thấy, pháp luật áp dụng sẽ dựa theo nguyên tắc

luật quốc tịch, pháp luật áp dụng sẽ là pháp luật của nước mà hay người là công dân, hay quốc gia mà người đó là công dân, hay hai quốc gia mà vợ chồng mang quốc tịch, chứ không xem xét đến vấn đề nơi cư trú của đương sự

1.3.2.2 Nguyên tắc luật nơi cư trú

Luật nơi cư trú (Lex domicilii) được hiểu là luật của quốc gia, mà ở đó đương sự

có nơi cư trú ổn định Đối với những quốc gia coi trọng quy chế lãnh thổ sẽ áp dụng hệ thuộc luật nơi cư trú với những nguyên tắc đó thì đương sự ở quốc gia nào thì pháp luật quốc gia đó sẽ được áp dụng Vì vậy theo nguyên tắc này thì việc điều chỉnh quan

Trang 20

hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài sẽ dựa theo pháp luật của nước mà đương sự cư trú Tuy nhiên mỗi quốc gia sẽ có khái niệm về nơi cư trú sẽ không hoàn toàn giống nhau, tùy theo điều kiện của từng nước mà có quy định về nơi cư trú phù hợp với pháp luật của từng quốc gia Cụ thể như pháp luật Việt Nam quy định về nơi cư trú tại khoản 2

Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Trong trường hợp bên là công dân

Việt Nam không thường trú tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn

sẽ được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung vợ chồng” theo điều

khoản này thì pháp luật sẽ được áp dụng để giải quyết vấn đề ly hôn là dựa vào nơi cư trú của đương sự Không chỉ được quy định trong pháp luật Việt Nam và còn được áp dụng nguyên tắc nơi cư trú mà Việt Nam cùng các nước ký kết thông qua Hiệp định tương trợ tư pháp Ví dụ: Tại khoản 1 điều 25 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý giữa Việt Nam và Liên Bang Nga năm 1998 quy định: Quan hệ nhân thân và quan hệ giữa tài sản vợ chồng được xác định theo pháp luật của bên ký kết nơi họ cùng cư trú Vậy việc áp dụng hệ thuộc luật nơi cư trú không chỉ nằm trong quy định của quốc gia

mà nó còn là quy định thống nhất dựa trên sự thỏa thuận của các quốc gia bằng điều ước quốc tế để giải quyết xung đột pháp luật về ly hôn có yếu tố nước ngoài, góp phần đơn giản hóa quá trình dẫn chiếu quy phạm xung đột để các cơ quan có thẩm quyền giải quyết nhanh chóng việc ly hôn có yếu tố nước ngoài

1.3.2.3 Nguyên tắc luật nơi có vật

Luật nơi có vật (Lex reisita) theo tư pháp quốc tế luật nơi có vật được hiểu là “Vật

(tài sản) hiện đang tồn tại ở nước nào thì luật của nước đó được áp dụng đối với tài sản đó”3 Hệ thuộc luật nơi có vật được áp dụng rộng rãi trong các mối quan hệ trong

đó có mối quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài Nguyên tắc này áp dụng chủ yếu để giải quyết quan hệ về sở hữu có yếu tố nước ngoài, trong đó gải quyết tranh chấp về bất động sản sau vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài Do bất động sản có đặc trưng là bất động không thể di dời, gắn liền với đất đai và tài sản của quốc gia Vì vậy sẽ ảnh hưởng đến nền chính trị của quốc gia đó Vì thế để giải quyết vấn đề về ly hôn mà có liên quan đến tài sản là bất động sản thì pháp luật các quốc gia sẽ điều chỉnh và giải quyết vấn đề bất động sản có liên quan đến quốc gia của mình Đối với pháp luật Việt Nam đã có quy định cụ thể tại khoản 3 Điều 104 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

để điều chỉnh xung đột liên quan đến tài sản là bất động sản sau khi ly hôn có yếu tố

nước ngoài cụ thể là: “ Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài sau khi ly

hôn tuân theo pháp luật của nơi có bất động sản đó” Tại quy định này cũng thể hiện

rõ đối với công dân mang quốc tịch của quốc gia nào, việc ly hôn được tiến hành ở bất

Giáo trình Tư pháp quốc tế Đại học luật Hà Nội trang 48

Trang 21

cứ nơi đâu thì sẽ không ảnh hưởng đến việc giải quyết tài sản là bất động sản liên quan, vì khi giải quyết bất động sản thì sẽ tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó

1.3.2.4 Nguyên tắc luật tòa án

Luật tòa án (Lex fori) được hiểu là pháp luật của nước nơi có tòa án đó.Theo khoa học pháp lý và ở Việt Nam nói riêng thì Luật Tòa án được hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa rộng là Luật tòa án gồm có luật nội dung và luật hình thức, còn theo nghĩa hẹp thì luật tòa án chỉ gồm có luật hình thức Đối vấn đề giải quyết các vụ án có yếu tố nước ngoài

về nguyên tắc thì tòa án chỉ áp dụng pháp luật của nước mình Đây là nguyên tắc được hầu hết các nước ghi nhận và được áp dụng phổ biến nhất trong tư pháp quốc tế Theo

Khoản 3 Điều 2 Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự năm 2004 qui định: “Bộ luật tố tụng dân sự

được áp dụng đối với việc giải quyết các vụ viêc dân sự có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó” Như vậy, tòa án

Việt Nam sẽ giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài theo trình tự thủ tục và áp dụng pháp luật Việt Nam trừ trường hợp có điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia

ký kết

1.4 Hệ quả của việc ly hôn có yếu tố nước ngoài

Nếu như kết hôn được xem là cơ sở pháp lý hình thành nên mối quan hệ hôn

nhân, mà tài sản có liên quan đến mối quan hệ đó, thì ly hôn lại được xem là cơ sở để chấm dứt mối quan hệ hôn nhân và tài sản đó Đối với pháp luật Việt Nam thì giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài về quan hệ tài sản của vợ chồng sau ly hôn

sẽ tuân theo pháp luật của nước vợ chồng cư trú hoặc mang quốc tịch Còn đối vấn đề

ly hôn có yếu tố nước ngoài có liên quan đến giải quyết về bất động sản sẽ tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó Hiện nay pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể, riêng biệt để giải quyết quan hệ nhân thân và tài sản đối với trường hợp ly hôn có yếu tố nước ngoài, vì vậy khi giải quyết vấn đề này tòa án sẽ áp dụng pháp luật chung về điều kiện cũng như căn cứ cho ly hôn, nếu trường hợp ly hôn có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền của tòa án Việt Nam, thì tòa án Việt Nam sẽ thụ lý và giải quyết dựa vào cơ sở pháp lý từ Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự và các văn bản liên quan để giải quyết các vấn đề hệ quả sau ly hôn có yếu tố nước ngoài và có liên quan đến mối quan hệ nhân thân và tài sản liên quan

1.4.1 Quan hệ nhân thân

1.4.1.1 Quan hệ giữa vợ chồng sau ly hôn

Trang 22

Quan hệ giữa vợ chồng sẽ chấm dứt bằng một bản án hoặc một quyết định của Tòa án do yêu cầu của một hoặc cả hai cùng nhau quyết định yêu cầu chấm dứt mối quan hệ này Sau khi bản án hoặc quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật thì mối quan hệ hôn nhân của hai vợ chồng sẽ chấm dứt và hai người có quyền kết hôn với người khác mà không phải chịu bất cứ sự ràng buộc nào nữa Quyền và nghĩa vụ giữa

vợ chồng cũng chấm dứt sau ly hôn cho dù vợ, chồng có thỏa thuận được với nhau hay không thì tòa án cũng quyết định cho họ ly hôn Mối quan hệ nhân thân giữa vợ chồng như nghĩa vụ yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau và nghĩa vụ chung thủy sẽ đương nhiên chấm dứt sau khi bản án hoặc quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật Mối quan hệ nhân thân và tài sản của vợ chồng chấm dứt sau ly hôn, việc chấm dứt có thể do yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên cùng đồng ý chấm dứt mối quan hệ này và được tòa án công nhận bằng một bản án hoặc một quyết định có hiệu lực để làm căn cứ chấm dứt mối quan hệ này

1.4.1.2 Quan hệ giữa cha mẹ và con cái

Quan hệ vợ chồng sẽ chấm dứt sau ly hôn nhưng bên cạnh đó một số mối quan

hệ vẫn còn sau ly hôn trong đó có mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái sau ly hôn Có thể thấy con cái là người chịu ảnh hưởng nhiều nhất trong mối quan hệ hôn nhân đỗ vỡ của cha và mẹ cuối cùng thì những đứa trẻ phải chịu cuộc sống có cha hoặc mẹ chứ không thể tiếp tục chung sống với cả hai người, ảnh hưởng cả về mặt thể chất và tinh thần của con, có thể tác động đến tâm lý của con trẻ và ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường nhất của họ Con cái là do cha mẹ tạo ra, vì vậy cả cha và mẹ có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con cái cả trước và sau ly hôn, theo luật định thì quyền và nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con cái đều như nhau không có sự khác biệt Đối với con chưa thành niên hay con đã thành niên nhưng bị một số hạn chế như tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động hay không có tài sản để nuôi chính bản thân mình căn cứ vào điều kiện của cha hoặc mẹ sau khi ly hôn thì họ sẽ được cha hoặc mẹ chăm sóc giáo dục nuôi dưỡng để đảm bảo lợi ích của con cái sau này Vấn đề con cái sau ly hôn không chỉ dừng lại ở đó mà còn phát sinh một

số vấn đề như: sau ly hôn con cái không thể chung sống với cả cha lẫn mẹ, do vậy việc giao con cho một trong hai người nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là điều hết sức cần thiết Vì vậy, khi giải quyết vấn đề con cái sau ly hôn thì tòa án cần cân nhắc thật kỹ trước khi đưa ra quyết định giao con cho ai nuôi dưỡng để đảm bảo cuộc sống cũng như môi trường giáo dục cho con cái tốt nhất Bên cạnh giải quyết việc giao con cho ai nuôi dưỡng còn có vấn đề cấp dưỡng cũng như vấn đề thay đổi quyền nuôi con cũng là một trong những vấn đề phát sinh từ ly hôn cũng như ly hôn có yếu tố nước ngoài

Trang 23

Vì vậy, để xác định được người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con cái đều trên cơ sở đảm bảo lợi ích cho con cái có thể phát triển một cách tốt nhất, hoàn thiện nhất giúp con có thể hòa nhập với môi trường mới để không ảnh hưởng đến tâm sinh lý của con cái sau này Để giải quyết vấn đề con cái sau ly hôn có yếu tố nước ngoài thì Tòa án luôn phải xem xét thật kỹ để có thể giao con cho người trực tiếp nuôi dưỡng phù hợp nhất

1.4.2 Quan hệ về tài sản

Vấn đề tài sản vợ chồng sau ly hôn là một vấn đề hết sức phức tạp, và việc chia

tài sản vợ chồng sau ly hôn cũng có rất nhiều khó khăn, khó khăn từ việc xác định tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Vì vậy, về chia tài sản sau ly hôn có yếu tố nước ngoài thì càng gặp nhiều khó khăn hơn nữa, bởi không chỉ

có tài liên quan ở trong nước mà có cả tài sản liên quan ở nước ngoài, đặc biệt là tài sản liên quan đến bất động sản ở nước ngoài, vì thế khi giải quyết chia tài sản vợ chồng sau ly hôn có yếu tố nước ngoài mà có liên quan đến tài sản ở nước ngoài thì không chỉ áp dụng pháp luật trong nước mà còn áp dụng pháp luật nước ngoài đặc biệt

là Điều ước quốc tế

1.4.2.1 Quan hệ về tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn

Vợ, chồng sẽ ngang bằng nhau về khối tài sản chung có được trong thời kỳ hôn nhân, khi đó vợ chồng ly hôn về nguyên tắc thì khối tài sản chung đó sẽ được chia đôi, mỗi người một nữa khối tài sản chung đó Vì vậy, khi giải quyết tài sản chung vợ chồng còn phải xem xét một số yếu tố khác tạo nên khối tài sản chung đó như tình trạng của mỗi bên, công sức đóng góp của họ vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung đó để đảm bảo quyền và lợi ích của mỗi bên khi chia tài sản chung

vợ chồng sau ly hôn Ngoài ra quyết định chia tài sản chung vợ chồng còn phải đảm bảo cho lợi ích và tạo điều cho con cái cũng có môi trường sống tốt hơn Việc chia tài sản sẽ không làm mất đi giá trị sử dụng của tài sản đó Tùy trường hợp tài sản có thể chia bằng giá trị hoặc bằng hiện vật Trong trường hợp bên nào nhận giá trị tài sản lớn hơn khối phân nữa được chia thì họ sẽ trả cho phía bên kia phần chênh lệch của giá trị tài sản đó Trên nguyên tắc khi chia tài sản phải đảm bảo lợi ích của các bên sau ly hôn

để họ đảm bảo được cuộc sống sau ly hôn

1.4.2.2 Quan hệ về tài sản riêng của vợ chồng sau ly hôn

Cũng như việc chia tài sản chung vấn đề xác định tài sản riêng của vợ chồng sau

ly hôn cũng vô cùng phức tạp, mà đặc biệt là ly hôn có yếu tố nước ngoài và việc xác định tài sản riêng mà có yếu tố nước ngoài lại càng khó khăn hơn nhiều, vì có một số

Trang 24

tài sản liên quan ở nước ngoài và chia tài sản có liên quan đến bất động sản ở nước ngoài cũng không hề dễ dàng đối với các cơ quan pháp luật của Việt Nam Theo quy định của pháp luật Việt Nam mà cụ thể là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 xác

định: “Việc chia tài sản khi ly hôn có thể do các bên tự thỏa thuận, nếu không thỏa

thuận được thì có thể yêu cầu tòa án giải quyết Tài sản riêng của bên nào thì thuộc sở hữu của người đó” 4

Sau khi ly hôn thì tài sản của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của

bên đó và không phải chia lại bất kỳ phần tài sản nào cho bên kia Để được nhận tài sản riêng đó thì vợ, chồng phải chứng minh được đó là tài sản riêng của mình để Tòa

án có căn cứ công nhận đó là tài sản riêng của mình Việc chứng minh có thể do bên kia thừa nhận hoặc các giấy tờ liên quan thuộc sở hữu của mình trước hoặc trong thời

kỳ hôn nhân Trong trường hợp không chứng minh được tài sản đó là tài sản riêng của mình thì khối tài sản riêng đang tranh chấp sẽ được coi là tài sản chung5

Khi giải quyết chia tài sản riêng vợ chồng sau ly hôn, thì Tòa án cần xem xét thật

kỹ khối tài sản riêng ẩn chứa trong khối tài sản chung hiện có nhằm tránh đi những trường hợp thật sự là tài sản riêng nhưng phải đưa ra chia và xem đó là tài sản chung

vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

1.5 Lịch sử phát triển của pháp luật Việt Nam về ly hôn có yếu tố nước ngoài

Hôn nhân là một hiện tượng xã hội mang tính giai cấp, vì vậy trong từng giai đoạn lịch sử ở mỗi chế độ khác nhau, giai cấp thống trị xã hội đều thông qua nhà nước

và pháp luật quy định chế độ hôn nhân phù hợp với lợi ích của giai cấp mình và nhà nước mình từ đó đưa ra những điều kiện thích hợp nhằm xóa bỏ chế độ hôn nhân, chấm dứt mối quan hệ vợ chồng hay còn gọi là ly hôn Vì vậy, ly hôn có yếu tố nước ngoài không chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật một nước mà còn chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật các nước khác nhau, hay các điều ước quốc tế mà quốc gia liên quan tham gia ký kết Khi nghiên cứu ly hôn có yếu tố nước ngoài, cần nghiên cứu lịch

sử hình thành cũng như sự phát triển của ly hôn có yếu tố nước ngoài để thấy rõ pháp luật điều chỉnh vấn đề này qua từng thời kỳ có những điểm gì giống và khác nhau để hoàn thiện vấn đề mình nghiên cứu Có thể dựa vào ba mốc lịch sử của Luật Hôn nhân

và gia đình các năm 1959, năm 1986 và năm 2000 để chia lịch sử phát triển của pháp luật Việt Nam thành 4 giai đoạn để tìm hiểu pháp luật về hôn nhân và gia đình cụ thể

là ly hôn có yếu tố nước ngoài

1.5.1 Giai đoạn trước khi ban hành luật hôn nhân và gia đình năm 1959

Khoản 1 Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

Khoản 3 Điều 27 luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

Trang 25

Ở giai đoạn này với sự ra đời của Việt Nam dân chủ cộng hòa vẫn còn nhiều khó khăn trong việc chống giặc ngoại xâm, vì thế pháp luật trong thời kỳ này cũng ít và hạn chế hơn, vì trong gia đoạn này cả nước chủ yếu tập trung vào bảo vệ đất nước còn non trẻ, nên quy định dân sự cũng hạn chế hơn và vấn đề hôn nhân và gia đình nói chung và ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng chưa có quy định nhiều

Nhưng đến ngày 17/04/1946 Sắc lệnh số 51 ra đời đã đánh dấu bước phát triển mới trong việc quy định vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài Tại Sắc lệnh 51 cũng quy định cụ thể thẩm quyền của Tòa án giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

và có quy định cụ thể tại Điều 1 Sắc lệnh 51 như sau: “Trong toàn cõi Việt Nam, tòa

án Việt Nam có thẩm quyền đối với mọi người, bất cứ quốc tịch nào” Tuy nhiên, ở

quy định này không quy định cụ thể về vấn đề giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài mà chỉ quy định chung chung về thẩm quyền

Trong giai đoạn này một văn bản có giá trị cao nhất lần đầu tiên đề cập đến quan

hệ hôn nhân đó là Hiến pháp năm 1946, được Quốc Hội thông qua ngày 9/11/1946 tại

Điều 9 Hiến pháp cũng quy định cụ thể: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi

phương diện” Đây là cơ sở pháp lý đầu tiên nêu lên quyền bình đẳng giữa nam và nữ

trong mối quan hệ hôn nhân, đó cũng chính là nguyên tắc giải quyết quan hệ hôn nhân trong thời kỳ mới, và nguyên tắc này nhanh chóng được thể hiện trong các sắc lệnh ra đời sau đó Một quy định mới về giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài, ích đề cập đến là thủ tục hòa giải trong tố tụng khi giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài trong giai đoạn hiện tại thông qua sắc lệnh 85-SL được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua ngày 22/5/1950 Cùng ngày thì Sắc lệnh số 97- SL cũng được ra đời, quy định sửa đổi một số quy lệ, chế định dân luật và tuyên bố bãi bỏ việc thi hành ba bộ luật dân sự (bộ dân luật Bắc kỳ 1931, Bộ dân luật Trung kỳ 1936 và bộ dân luật giản yếu Nam kỳ 1983) trên toàn cõi Việt Nam Đánh dấu bước phát triển mới

và đề cập nhiều hơn về quan hệ hôn nhân và gia đình và vấn đề ly hôn là sắc lệnh số

159 – SL được ban hành ngày 17/11/1950 Mặc dù có đề cập nhiều đến quan hệ hôn nhân nhưng sắc lệnh cũng chưa đề cập đến quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài và vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài, Sắc lệnh này cũng được xem là nền tảng cho pháp luật Việt Nam về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài sẽ được phát triển tiếp sau đó

Nhìn chung thì pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn nhân và gia đình thời kỳ này đã có bước phát triển và cũng đã đề cập đến quan niệm về

ly hôn nhưng chưa có một quy định cụ thể để điều chỉnh về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài đặc biệt là ly hôn có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên các quy

Trang 26

định này sẽ là nền tảng cho sự phát triển của pháp luật liên quan điều chỉnh vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài sau này

1.5.2 Giai đoạn từ khi ban hành luật hôn nhân và gia đình năm 1959 đến trước

khi có luật hôn nhân và gia đình năm 1986

Ở giai đoạn này thì pháp luật điều chỉnh về quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung và ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng cũng có sự phát triển Mặc dù không

có nhiều văn bản điều chỉnh cụ thể nhưng pháp luật nội dung đã được điều chỉnh tiến

bộ hơn trước và quan tâm nhiều hơn về vấn đề hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Đánh dấu sự phát triển của pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài là Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 được ra đời từ nền tảng là

sự điều chỉnh của Hiến pháp năm 1946 đã quy định cụ thể vấn đề hòa giải, sự thuận tình ly hôn, và quan hệ hôn nhân và gia đình cũng đã được tách khỏi ngành luật dân

sự, và trở thành một ngành luật điều chỉnh cụ thể hơn về quan hệ hôn nhân và gia đình lúc bấy giờ Mặc dù đã có quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 về quan

hệ hôn nhân và gia đình nhưng vẫn chưa có điều luật nào điều chỉnh cụ thể về ly hôn

có yếu tố nước ngoài

Ngoài ra trong giai đoạn này cũng có một số Thông tư điều chỉnh về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài cụ thể là thông tư 09/TATC ngày 28/6/1974 và thông tư 11/TATC ngày 12/7/1974 sự ra đời của hai Thông tư này cũng góp phần đưa các vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài đã có sự phát triển Đối với Thông tư 09/TATC hướng dẫn việc ly hôn ở biên giới Việt - Trung, còn đối với Thông tư 11/TATC nêu ra một số nguyên tắc về thủ tục ly hôn có yếu tố nước ngoài trong đó có quy định về thực hiện ủy thác trong tư pháp quốc tế.6

Ngoài những quy định trên thì Thông tư 11 còn quy định Tòa án có thẩm quyền thụ lý điều tra, hòa giải và xét xử các vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài trong những

trường hợp sau đây: Việc xin ly hôn giữa một bên là công dân Việt Nam và một bên là

công dân nước ngoài, cả hai bên đương sự này đều đang cư trú tại Việt Nam 7

Nhìn chung, ở giai đoạn này thì pháp luật điều chỉnh về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và đặc biệt là vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài được đề

Trang 27

cập và quy định khá cụ thể Có thể xem giai đoạn này là giai đoạn mở đầu cho pháp luật điều chỉnh về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

1.5.3 Giai đoạn từ khi có luật hôn nhân và gia đình năm 1986 đến trước khi ban

hành luật hôn nhân và gia đình năm 2000

Hòa cùng khí thế của cả nước đi lên xây dựng đất nước và tiến hành nhiều công cuộc đổi mới và mở rộng quan hệ với các nước, vì vậy cũng có nhiều thay đổi để phù hợp hơn với tình hình hiện tại của đất nước Một trong những đổi mới quan trọng là sửa đổi, bổ sung pháp luật trên tất cả các vấn đề pháp lý, trong đó là việc mở rộng pháp luật điều chỉnh về ly hôn có yếu tố nước ngoài

Chính vì thế, năm 1986 Luật Hôn nhân và gia đình được ban hành thay thế cho Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, và dành hẳn một chương quy định về quan hệ

vợ chồng, quan hệ tài sản, quan hệ cha mẹ và con cái, quy định ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài… Đây được xem là bước phát triển, tiến bộ mới trong công tác lập pháp ở nước ta về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, nó không chỉ thể hiện sự quan tâm của nhà nước về hôn nhân có yếu tố nước ngoài mà còn phản ánh xu thế thời đại là các quy định pháp luật Việt Nam đã bước đầu có những nội dung phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế

Ngày 15/12/1993 Chủ tịch nước đã công bố pháp lệnh quy định về mối quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài và có hiệu lực ngày 1/03/1994 đã đánh dấu bước phát triển mới về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trong đó việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được quy định cụ thể thành một chương riêng tại mục 4 Chương 2 của pháp lệnh này Cũng trong pháp lệnh này quy tại khoản 1 Điều 12 quy định về nguyên tắc lựa chọn

pháp luật giải quyết việc ly hôn cụ thể như sau: “Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam

với người nước ngoài cũng như việc phát sinh từ ly hôn, được giải quyết theo pháp luật của nước nơi họ cư trú chung vào thời điểm ly hôn, nếu họ không có nơi thường trú chung vào thời điểm đó thì theo pháp luật nơi thường trú chung cuối cùng của họ, nếu họ chưa có nơi thường trú chung thì áp dụng pháp luật Việt Nam”

Ngoài ra, trong giai đoạn này còn có hai văn bản luật ra đời góp phần không nhỏ vào việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài mà trong đó là vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài đó là sự ra đời của Bộ Luật Dân Sự năm 1995 và Luật Quốc tịch năm Việt Nam 1988 Đối với Bộ Luật Dân Sự năm 1995 thì được quy định cụ thể

tại Điều 38 của Bộ Luật này: “Ly hôn được coi là quyền của mỗi bên vợ chồng, khi đó

vợ hoặc chồng hoặc cả vợ và chồng có quyền yêu cầu Tòa án cho chấm dứt quan hệ

Trang 28

hôn nhân khi có lý do chính đáng” Trong khi đó, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1988

cũng đã có Nghị định hướng dẫn về việc đăng ký hộ tịch là Nghị định 88/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 đã quy định cụ thể về vấn đề hộ tịch trong ly hôn có yếu tố nước ngoài

Ở giai đoạn này có nhiều điểm mới hơn quy định cụ thể hơn về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài đặc biệt là vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng được chú trọng hơn so với hai giai đoạn trước

1.5.4 Giai đoạn từ khi ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cho đến

nay

Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã góp phần không nhỏ trong việc điều

chỉnh các quan hệ Hôn nhân và gia đình Việt Nam.Tuy nhiên Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 cũng bộc lộ một số mặt hạn chế và không phù hợp với giai đoạn hiện tại của tình hình trong nước cũng như thế giới Vì vậy, luật Hôn nhân và gia đình năm

2000 được Quốc hội thông qua ngày 9/06/2000 tại kỳ họp thứ 7 khóa X và có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2001, trên cơ sở cụ thể hóa Hiến pháp năm 1992, và các văn bản pháp luật khác như Bộ luật dân sự về hôn nhân và gia đình Kế thừa và phát huy những nguyên tắc cơ bản các quy định không còn phù hợp ở luật Hôn nhân và gia đình năm

1986 là một yêu cầu bức thiết, đáp ứng yêu cầu của đất nước trong thời kỳ hộ nhập

số 68/2002/NĐ – CP Và mới đây nhất là Nghị định số 24/2013/NĐ – CP hướng dẫn luật Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và có hiệu lực ngày 15/05/2013 thay thế cho Nghị định 68/2002/NĐ – CP

Ở giai đoạn này thì Luật Hôn nhân và gia đình đã hoàn thiện hơn, về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và việc ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng đã được quy định cụ thể để điều chỉnh vấn đề này, góp phần không nhỏ vào quá trình giải quyết việc ly hôn có yếu tố nước ngoài được hiệu quả hơn

Trang 29

Bên cạnh đó là sự ra đời mới nhất của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chính thức có hiệu lực ngày 1/1/2015 sẽ góp phần không nhỏ giúp cho hệ thống pháp luật Việt Nam về quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung và ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng ngày càng được hoàn thiện hơn nữa trong giai đoạn hiện nay

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ QUAN HỆ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Ở chương 1 người viết chủ yếu đưa ra những lý luận chung về ly hôn cũng như ly hôn có yếu tố nước ngoài để có cái nhìn tổng quan hơn về pháp luật trong vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài, người viết sẽ tập trung nghiên cứu ở chương 2 này Mặc dù quy định pháp luật về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài chỉ gói gọn trong một điều

Trang 30

luật cụ thể là tại Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định “Việc ly hôn

giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thừng trú tại Việt Nam được giải quyết theo quy định của Luật này; trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chông; nếu họ không

có nơi thường trú chung thì theo pháp luật Việt Nam; việc giải quyết tài là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó”

những quy định của điều này mang tính chất dẫn chiếu đến việc chọn pháp luật áp dụng, việc chọn luật áp dụng có thể là áp dụng pháp luật nước ngoài hoặc pháp luật Việt Nam để giải quyết quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài Pháp luật nước ngoài chỉ được áp dụng trong trường hợp có xảy ra tranh chấp với một nước cụ thể để có thể xác định pháp luật của nước nào được áp dụng để giải quyết, nhưng việc áp dụng pháp luật nước ngoài không trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam mag nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam khó có thể xác định Vì thế, pháp luật Việt Nam sẽ được áp dụng, khi áp dụng pháp luật Việt Nam trong quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài được người viết áp dụng cụ thể tại các mục: 2.1 điều kiện xin ly hôn và những trường hợp hạn chế yêu cầu ly hôn có yếu tố nước ngoài, 2.2 căn cứ giải quyết

ly hôn và hình thức ly hôn có yếu tố nước ngoài, 2.3 giải quyết vấn đề tài sản và con cái sau ly hôn Với các mục này người viết chủ yếu áp dụng những quy định tại Chương III và Chương X về những quy định chung của pháp luật Việt Nam để giải quyết ly hôn trong nước để áp dụng tại các mục nêu trên cho quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài Ngoài ra, tại chương 2 này người viết cũng phân tích những quy định về thủ tục cũng như thẩm quyền xét xử các vụ việc liên quan đến quan hệ ly hôn có yếu

tố nước ngoài

2.1 Điều kiện xin ly hôn và những trường hợp hạn chế yêu cầu ly hôn có yếu tố nước ngoài

2.1.1 Điều kiện xin ly hôn có yếu tố nước ngoài

2.1.1.1 Năng lực hành vi dân sự của chủ thể xin ly hôn

Trang 31

Việc kết hôn có yếu tố nước ngoài phải đủ điều kiện về năng lực của hai chủ thể xin kết hôn Vì vậy, năng lực xin ly hôn của chủ thể cũng phải được chú trọng.Việc vợ chồng có yêu cầu tòa án giải quyết cho ly hôn cũng phải xem xét đến tình trạng năng lực của chủ thể xin ly hôn, vì một người mất năng lực hành vi dân sự không thể yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn ngay cả việc người giám hộ thay họ nộp đơn yêu cầu tòa

án cho ly hôn cũng không thể được tòa án chấp nhận.Vì người mất năng lực hành vi có nghĩa là họ không có năng lực pháp luật về ly hôn nên không có căn cứ để giải quyết cho họ ly hôn.Trong việc giải quyết vấn đề xin ly hôn thì tòa án luôn xem xét đến yếu

tố là năng lực hành vi tố tụng của đương sự để làm căn cứ giải quyết cho ly hôn Vì vậy, nếu một người mất năng lực hành vi không đủ khả năng nhận thức được thì tòa án khó có thể chấp nhận giải quyết cho họ xin ly hôn, vì thế vấn đề năng lực tố tụng dân

sự của chủ thể xin ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng được giải quyết tương tự như thủ tục ly hôn ở Việt Nam hiện nay

2.1.1.2 Tính tự nguyện của chủ thể xin ly hôn

Việc xác lập quan hệ vợ chồng cũng trên sự tự nguyện của cả hai thông qua giấy chứng nhận kết hôn và được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.Vì vậy, quyền xin ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng là một trong những quyền nhân thân cơ bản của con người nên khi vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng muốn ly hôn phải căn cứ trên sự tự nguyện và không chịu sự ép buộc hay đe dọa nào khác Việc xác định tính tự nguyện của việc ly hôn là do các thẩm phán khi tiến hành hòa giải của hai bên để xem hai người có thật sự muốn ly hôn và việc ly hôn ấy có dựa trên sự tự nguyện của cả vợ và chồng Trong quá trình giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam mà tòa án thấy được sự không ưng thuận trong đơn ly hôn thì có thể bác đơn xin

ly hôn mà không cần phải xem xét đến nội dung của đơn.Vì thế, khi ly hôn có yếu tố nước ngoài thì vấn đề tự nguyện để đưa ra quyết định xin ly hôn cũng cần phải được chú trọng vì không thể xét về mặt nội dung mà không xét đến yếu tố tự nguyện xin ly hôn của đương sự

2.1.1.3 Quan hệ hôn nhân không trái với quy định pháp luật

Muốn chấm dứt mối quan hệ hôn nhân bằng con đường ly hôn thì trước hết mối quan hệ hôn nhân đó là không trái với quy định pháp luật hay là mối quan hệ hôn nhân hợp pháp, nghĩa là quan hệ hôn nhân được xác lập đúng quy định pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.Trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn thì khi yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn, Tòa án sẽ không công nhận quan hệ hôn nhân đó Vì vậy, việc ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng được giải quyết theo pháp luật Việt Nam cũng căn cứ vào các điều kiện nêu trên

Trang 32

2.1.2 Những trường hợp hạn chế quyền yêu cầu xin ly hôn

Ly hôn là chấm dứt mối quan hệ vợ chồng nhưng bên cạnh đó pháp luật cũng có quy định những trường hợp hạn chế quyền yêu cầu ly hôn và được cụ thể tại khoản 2

Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 như sau: “Trong trường hợp vợ đang

mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn” Vì vậy, việc hạn chế quyền yêu cầu xin ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng được

áp dụng điều luật này Nhưng điều luật không đề cập đến quyền yêu cầu ly hôn của

người vợ khi họ đang mang thai hoặc nuôi con dưới mười hai tháng tuổi nên trong trường hợp này người vợ vẫn có quyền yêu cầu tòa án giải quyết cho ly hôn Mặt khác,

điều luật này cũng được áp dụng trong trường hợp người vợ đang mang thai với người khác hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi mà đứa trẻ không phải là con của người chồng thì người chồng cũng không có quyền yêu cầu xin ly hôn

Điều luật đưa ra nhằm bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ khi họ đang trong thời

kỳ cần sự quan tâm chăm sóc của người chồng, mặc dù cho mối quan hệ ấy đã rạn nứt nhưng người chồng cũng nên cố gắng dành tình cảm cho vợ, còn việc con dưới mười hai tháng tuổi cũng gặp nhiều khó khăn.Vì vậy, việc hạn chế quyền yêu cầu xin ly hôn đối với người chồng cũng phù hợp với pháp luật cũng như phù hợp với đạo đức mà xã hội đã có từ lâu

2.2 Căn cứ giải quyết ly hôn và hình thức ly hôn có yếu tố nước ngoài

2.2.1 Căn cứ giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài

Căn cứ ly hôn là “tình tiết, hay điều kiện được quy định mà chỉ khi có những tình

tiết hay điều kiện đó, tòa án mới được xử cho ly hôn” 8

Về vấn đề xác định căn cứ cho ly hôn thì pháp luật Việt Nam cũng đã quy định

cụ thể tại Điều 89 luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 bao gồm hai căn cứ và các căn

cứ này cũng được áp dụng để giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài

Khi tòa án nhận đơn ly hôn của vợ, chồng, hoặc cả hai vợ chồng thì trước tiên tòa

án sẽ tiến hành điều tra và hòa giải nhằm đoàn tụ gia đình, nếu hòa giải không thành

thì tòa án mới đưa ra xét xử và chỉ xử cho ly hôn khi “Tình trạng trầm trọng, đời sống

chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được” 9

Vậy ở đây cần hiểu rõ thế nào là “quan hệ hôn nhân trầm trọng, đời sống chung

không thể kéo dài” “Tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài” không

Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam

Khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình 2000

Trang 33

có nghĩa đơn thuần là tình yêu của hai vợ chồng không còn nữa, mà có thể nói đến một thực trạng mâu thuẫn trong gia đình sâu sắc đến mức không thể giải quyết được nữa, tình cảm giữa vợ chồng không thể hàn gắn, tình trạng đó nó không chỉ ảnh hưởng đến hai vợ chồng mà còn ảnh hưởng đến các thành viên khác trong gia đình, ảnh hưởng

đến con cái Vì thế, có thể hiểu “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo

dài” là quan hệ vợ chồng đã có nhiều mâu thuẫn đến mức vợ chồng không thể chịu

đựng được nhau nữa, các thành viên trong gia đình không thể nào tiếp tục sống chung với nhau nữa, quan hệ vợ chồng không thể tồn tại được nữa.Vì vậy, khi giải quyết cho

họ ly hôn thì tòa án cần phải xem xét lợi ích của vợ chồng, con cái, gia đình và xã hội trong mối quan hệ hôn nhân đó, từ đó các thẩm phán mới có cách nhìn toàn diện về vấn đề để giải quyết ly hôn mang lại kết quả tích cực, nhằm thúc đẩy các mối quan hệ hôn nhân và gia đình phát triển phù hợp với đạo đức xã hội và lợi ích chung của toàn

xã hội Ở đây có thể thấy rằng từ tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài sẽ dẫn đến hậu quả là mục đích hôn nhân không đạt được

Việc Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định căn cứ ly hôn là phù hợp với tình hình thực tế cũng như trong quá trình giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài, nhưng trong điều luật cũng chưa xác định yếu tố lỗi của các bên dẫn đến mối quan hệ hôn nhân tan vỡ

2.2.2 Hình thức ly hôn có yếu tố nước ngoài

2.2.2.1 Thuận tình ly hôn có yếu tố nước ngoài

Vợ chồng cùng nhau đồng ý ly hôn và yêu cầu tòa án giải quyết cho ly hôn có yếu tố nước ngoài, vấn đề này đã được quy định cụ thể tại Điều 90 Luật Hôn nhân và gia đình 2000

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận về tài sản và con trên cơ sở đảm quyền lợi chính đáng của

vợ con; nếu không thỏa thuận được hoặc tuy có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án quyết định, vì vậy, sự thuận tình ly hôn giữa vợ chồng có ý nghĩa quan trọng để Tòa án có thể công nhận hay không công nhận

sự thuận tình ly hôn của họ Tòa án chỉ công nhận thuận tình ly hôn khi cả hai vợ chồng thật sự muốn chấm dứt mối quan hệ hôn nhân này, do mâu thuẫn vợ chồng sau sắc, tình cảm của họ không còn nữa, mục đích hôn nhân của họ không đạt được và không thể tiếp tục kéo dài cuộc sống khi mối quan hệ hôn nhân đã thật sự chấm dứt từ

Trang 34

họ Khi cả hai người thống nhất quyết định ly hôn thì Tòa án tiến hành hòa giải, nếu hòa giải không thành thì tòa án sẽ quyết định cho họ ly hôn Vì ly hôn là do sự thuận tình nên có thể họ đã thỏa thuận trong vấn đề chia tài sản và người chăm sóc con cái Trong trường hợp nếu họ không thỏa thuận được vấn đề tài sản và ai chăm sóc con cái thì có thể nhờ tòa án giải quyết

Như vậy, Điều 90 của luật Hôn nhân và gia đình 2000 đã đảm bảo được vấn đề tự

do ly hôn, khi giải quyết thì Tòa án là nơi cần xem xét kỹ, giải quyết đúng đắn việc ly hôn trên cơ sở căn cứ chung do luật định Gắn việc giải quyết thuận tình ly hôn với các vấn đề tài sản, con cái nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các bên đặc biệt là phụ nữ và trẻ em Trên cơ sở của pháp luật Việt Nam thì vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng được áp dụng để giải quyết

2.2.2.2 Đơn phương xin ly hôn có yếu tố nước ngoài

Đơn phương xin ly hôn có yếu tố nước ngoài là chấm dứt quan hệ hôn nhân trên

cơ sở là bản án hoặc quyết định công nhận theo yêu cầu của một bên vợ hoặc chồng Đơn phương xin ly hôn là ý chí của một chủ thể và xuất phát từ một bên mà không có

sự đồng thuận của cả hai vợ chồng.Thông thường các trường hợp đơn phương xin ly hôn có yếu tố nước ngoài là do mâu thuẫn, mà một người ở một nơi không liên lạc với nhau, có thể bị đơn ở nước ngoài và không muốn ly hôn nhưng nguyên đơn yêu cầu đơn phương xin ly hôn Về vấn đề giải quyết đơn phương ly hôn có yếu tố nước ngoài hết sức phức tạp vì khi giải quyết tại tòa án thì không nhận được sự hợp tác của vợ chồng, làm tốn nhiêu thời gian để giải quyết, có thể do không thống nhất được nội dung ly hôn của hai bên, vì vậy cũng gặp nhiều khó khăn trong vấn đề chứng minh chứng cứ để các bên bảo vệ quyền lợi cho mình Vì thế, tòa án căn cứ vào những quy định pháp luật để xem xét giải quyết các vấn đề phát sinh trong vụ án ly hôn có yếu tố

nước ngoài và đã được quy định tại Điều 91 cụ thể là: “Khi một bên vợ hoặc chồng

yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án xem xét, giải quyết việc

ly hôn.”

Khi Tòa án nhận được đơn yêu cầu xin ly hôn của vợ hoặc chồng thì tòa án sẽ tiến hòa giải, nếu hòa giải không thành thì Tòa án sẽ đưa vụ việc ly hôn đó ra giải quyết Trong quá trình giải quyết ở giai đoạn hòa giải, nếu người có yêu cầu xin ly hôn rút lại đơn thì tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án Việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài đúng đắn có ảnh hưởng lớn đến đối với việc đấu tranh chống ảnh hưởng của tư tưởng ích kỹ, cá nhân, coi thường pháp luật, không có trách nhiệm trong quan hệ hôn nhân Về mặt quy định pháp luật về vấn đề này khá phù hợp với vấn

Trang 35

đề ly hôn cũng như việc ly hôn có yếu tố nước ngoài, nhằm giải quyết kịp thời, nhanh chống mối quan hệ hôn nhân do một bên yêu cầu

2.3 Giải quyết vấn đề tài sản và con cái sau ly hôn có yếu tố nước ngoài

Ly hôn là hệ quả cuối cùng do sự mâu thuẫn của vợ chồng không thể hàn gắn

được nữa, vì thế giải pháp cuối cùng cho sự mâu thuẫn đó là dẫn đến phải ly hôn, và việc ly hôn đó được Tòa án công nhận bằng một bản án hay quyết định Tuy nhiên, việc giải quyết vấn đề tài sản và con cái sau ly hôn cũng hết sức phức tạp và có rất

nhiều khó khăn vì đây là quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

2.3.1 Vấn đề tài sản sau ly hôn sau ly hôn có yếu tố nước ngoài

Chia tài sản sau ly hôn có thể do sự thỏa thuận của cả hai vợ chồng được Tòa án công nhận sự thỏa thuận đó, nếu họ không thể thỏa thuận được vấn đề chia tài sản vợ chồng sau ly hôn thì đương sự có thể yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản trong quá trình giải quyết vụ việc ly hôn hoặc có thể tách ra bằng một vụ kiện yêu cầu chia tài sản độc lập với vụ án ly hôn Việc chia tài sản sau ly hôn có thể xem là một vấn đề phức tạp nhất khi giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài, bởi vì việc giải quyết vấn đề liên quan đến tài sản không chỉ có ở một quốc gia mà có thể có tài sản ở các quốc gia khác nhau, khi đó, việc pháp luật áp dụng để giải quyết cũng có thể có ở nhiều quốc gia Nếu, tài sản là động sản và bất động sản ở trên lãnh thổ Việt Nam thì pháp luật Việt Nam sẽ được áp dụng chia tài sản sau ly hôn Ngược lại, nếu tài sản là bất động sản ở nước ngoài thì sẽ áp dụng pháp luật của nước nơi có bất động sản đó và

đó là pháp luật nước ngoài

Việc phân chia tài sản sau ly hôn trên cơ sở bình đẳng giữa vợ và chồng trong gia đình, đều đó đã được ghi nhận tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Về vấn đề tài sản riêng cũng được pháp luật Việt Nam công nhận, vì thế khi chia tài sản sau ly hôn, bên nào có chứng cứ, chứng minh rằng đó là tài sản riêng của mình thì sẽ thuộc quyền

sở hữu của bên đó Còn nguyên tắc chia tài sản chung vợ, chồng sau ly hôn đã được

ghi nhận của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “tài sản của vợ chồng về

nguyên tắc phải chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập duy trì, phát triển tài sản này….” 10

Nhìn chung, việc phân chia tài sản chung vợ chồng sau ly hôn đều dựa trên

nguyên tắc chia đôi tài sản, nhưng trong quá trình giải quyết Tòa án cũng càn xem xét đánh giá khách quan để tạo nên sự công bằng, dựa trên công sức tạo lập nên tài sản

Trang 36

chung đó để có những quyết định thấu tình, đạt lý, đảm bảo quyền lợi của các đương

sự

Ngoài ra, Tòa án cần xem xét các quy định về tài sản chung đối với trường hợp

vợ chồng sống chung với gia đình hay các tài sản liên quan đến quyền sở hữu của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 hoặc các quy định của pháp luật có liên quan đến vấn

đề chia tài sản chung vợ chồng sau ly hôn có yếu tố nước ngoài

2.3.2 Giải quyết vấn đề con cái sau ly hôn có yếu tố nước ngoài

Con cái là do cha mẹ sinh ra, nên nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con cái cũng là do cả cha và mẹ cùng nhau dạy dỗ con cái nên người, giáo dục con cái trở thành người có ích cho xã hội Điều này cũng đã được Luật Hôn nhân và gia đình năm

2000 đã cụ thể hóa bằng một điều luật quy định về nghĩa vụ của cả cha và mẹ đối với

con cái cụ thể là: “Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng,

chăm sóc….trở thành công dân có ích cho xã hội” 11

Tuy nhiên, giữa cha và mẹ đã có những mâu thuẫn không thể hàn gắn được nữa, nên họ đã quyết định ly hôn, khi cả cha và mẹ ly hôn thì con cái sẽ là người chịu ảnh hưởng nhiều nhất về tâm sinh lý, tình cảm và sự hồn nhiên trong trẻo của con cái, làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của đứa trẻ Việc chăm sóc, giáo dục đứa trẻ sau ly hôn cũng do chính cha mẹ, vì khi cha mẹ ly hôn thì không có nghĩa là chấm dứt luôn nghĩa vụ chung của cha mẹ là chăm sóc, nuôi dạy con Tại khoản 1 Điều 92 Luật

Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ

trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng…người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con” Con cái không thể tiếp tục sống chung cùng với cả cha và mẹ khi

mà cả hai đã ly hôn; Do đó, việc giao con chưa thành niên cho cha hoặc mẹ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là một điều thiết thực Và điều này không phải tước đi quyền làm cha, làm mẹ đối với con trẻ mà chỉ nhằm giúp cho được trẻ được ổn định về

cả mặt tinh thần và thể chất sau khi cha mẹ đã ly hôn Và việc quyết định giao con cho

ai nuôi thì Tòa án cần xém xét đến hoàn cảnh thực tế, nhằm đảm bảo lợi ích về mọi mặt đối với đứa trẻ

Ngoài ra, nếu con đã từ đủ chín tuổi trở lên thì cần phải xem xét nguyện vọng của con, còn trường hợp con dưới ba tuổi sẽ do mẹ nuôi dưỡng, nếu cả hai vợ chồng không

có sự thỏa thuận khác Nhưng thực tiễn cũng có một số trường hợp con dưới ba tuổi do cha nuôi vì khi người mẹ không hoàn thành nghĩa vụ đối với con dưới ba tháng tuổi

2.4 Thẩm quyền của tòa án trong giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài

Khoản 1 Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

Trang 37

Ly hôn có yếu tố nước ngoài là một vấn đề hết sức phức tạp và gặp rất nhiều khó

khăn trong vấn đề giải quyết, bởi vì nó không chỉ liên quan đến một quốc gia mà nó có liên quan đến nhiều quốc gia khác nhau.Vì vậy, khi cơ quan có thẩm quyền thông thường là tòa án giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài của mỗi nước khi tiếp nhận đơn của đương sự thì trước hết cơ quan đó xác định có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mình không để có thể áp dụng cơ sở pháp luật của quốc gia mình để giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài

Đối với Việt Nam, thì pháp luật được áp dụng để giải quyết vấn đề ly hôn có yếu

tố nước ngoài được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và các Điều ước

mà Việt Nam tham gia ký kết Trong trường hợp có Hiệp định tương trợ tư pháp cùng điều chỉnh về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài, thì cần phải xem điều ước đó có quy định khác với pháp luật Việt Nam hay không trưừng hợp Hiệp định tương trợ có quy định khác với pháp luật Việt Nam thì Hiệp định tương trợ sẽ được áp dụng còn ngược lại thì sẽ áp dụng pháp luật Việt Nam để xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam

Vì thế, khi giải quyết Tòa án phải xem xét đương sự có phải là công dân của nước mà Việt Nam tham gia ký kết hiệp định tương trợ hay không, có chịu sự điều chỉnh của hiệp định tương trợ hay không, nếu đương sự là người không quốc tịch hoặc không phải là công dân các quốc gia mà Việt Nam ký kết hiệp định tương trợ tư pháp, thì giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam về thẩm quyền chung và thẩm quyền riêng được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004

2.4.1 Thẩm quyền xét xử chung của Tòa án giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố

nước ngoài

Thẩm quyền xét xử chung là thẩm quyền đối với những vụ việc mà Tòa án nước

đó có thẩm quyền xét xử nhưng tòa án của một quốc gia khác cũng có thẩm quền xét

xử cùng một vấn đề Khi mà Tòa án của nhiều nước điều có thẩm quyền xét xử đối với một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, thì thẩm quyền xét xử thuộc về Tòa án nào phụ thuộc vào việc nộp đơn của đương sự Với pháp luật Việt Nam thì thẩm quyền xét

xử chung được quy định tại Khoản 2 Điều 410 Bộ luật tố tụng dân sự 2004

2.3.1.1 Ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài

Các trường hợp có thể xảy ra khi ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài là, cả hai cùng sống tại Việt Nam, cả hai cùng sống ở nước ngoài hay trường hợp một người sống ở Việt Nam và một người sống ở nước ngoài Căn cứ giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài đối với các trường hợp trên được quy định cụ thể tại điểm g khoản 2 Điều 410 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 và Tòa án Việt Nam có thẩm quyền

Trang 38

xét xử chung các trường hợp này, cụ thể điểm g khoản 2 Điều 410 Bộ luật Tố tụng dân

sự quy định: “Vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam” Vì

vậy, khi công dân Việt Nam ly hôn với người nước ngoài thì không cần xác định ai là người nộp đơn kiện, bởi vì theo quy định này chỉ cần họ là công dân Việt Nam thì tòa

án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết Do đó, dù họ cùng sinh sống ở Việt Nam, sinh sống ở nước ngoài hay một người sinh sống tại Việt Nam một sinh sống ở nước ngoài, cho dù họ là nguyên đơn hay bị đơn thì Tòa án Việt Nam vẫn có thẩm quyền giải quyết vụ ly hôn của họ

2.3.1.2 Ly hôn giữa người nước ngoài với người nước ngoài

Vấn đề ly hôn giữa những người nước ngoài với nhau cũng có các trường hợp tương tự như ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài đó là: Cả hai người nước ngoài cư trú tại Việt Nam, cả hai thường trú ở nước ngoài hoặc một người

thường trú tại Việt Nam, một người ở nước ngoài

Trường hợp thứ nhất: Cả hai cùng thường trú tại Việt Nam

Căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 410 Bộ Luật Tố tụng dân sự

2004 thì “bị đơn là công dân nước ngoài, người không quốc tịch cư trú, làm ăn, sinh

sống lâu dài tại Việt Nam hoặc có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam” theo quy định tại

điều luật này thì Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các vụ việc ly hôn đối với

cả hai đều là người nước ngoài, khi một bên xin ly hôn và phù hợp với điều kiện quy định tại điểm b khoản 2 Điều 410, chủ thể bao gồm bị đơn là người nước ngoài hoặc là người không quốc tịch cả hai được xem là người nước ngoài vì vậy pháp luật Việt Nam áp dụng về thẩm quyền xét xử ly hôn giữa hai người nước ngoài thường trú tại Việt Nam

Pháp luật Việt Nam quy định bị đơn phải cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam, tuy nhiên về vấn đề một người nước ngoài phải cư trú, làm ăn, sinh sống bao lâu tại Việt Nam thì được xem là lâu dài, thì pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể,

vậy “người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam” được xem là

người nước ngoài thường trú tại Việt Nam Một người nước ngoài cư trú tại Việt Nam chỉ dưới hai hình thức là tạm trú và thường trú, tạm trú thì có thể xác định một khoảng thời gian rõ ràng, trong khi đó thì thường trú không xác định được khoảng thời gian là bao lâu nên chỉ có thể xem thường trú là làm ăn, sinh sống lâu dài Vì vậy, có thể hiểu người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam là người nước ngoài thường trú tại Việt Nam

Trang 39

Như vậy, khi hai người nước ngoài cùng thường trú tại Việt Nam, khi họ xin ly hôn thì Tòa án Việt Nam sẽ có thẩm quyền giải quyết mà không cần xác định ai là bị đơn hay ai là nguyên đơn, bởi vì chồng là bị đơn, hay vợ là bị đơn và ngược lại thì họ đều thường trú tại Việt Nam Do đó trong trường hợp này khi thụ lý tòa án không cần xem xét ai là nguyên đơn và thuộc thẩm quyền giải quyết ly hôn giữa hai người nước ngoài thường trú tại Việt Nam

Trường hợp thứ hai: Cả hai cùng thường trú ở nước ngoài:

Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 410 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 thì Tòa án Việt Nam có thẩm quyền xét xử chung đối với trường hợp ly hôn có yếu tố

nước ngoài, và hai người nước ngoài thường trú ở nước ngoài quy định cụ thể “Bị đơn

là công dân nước ngoài, người không quốc tịch cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại

Việt Nam hoặc có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam” Trong trường hợp này cả hai người

đều không sống tại Việt Nam, tòa án Việt Nam có thẩm quyền khi họ có tài sản liên

quan tại Việt Nam “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản

có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự, giấy tờ có giá được tồn tại nhiều dạng khác nhau như: séc, cổ phiếu, tính phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, hối phiếu…

Ngoài tiền, vật, giấy tờ có giá thì tài sản còn được xác định là quyền tài sản và

quyền tài sản được quy định tại Điều 181 Bộ Luật Dân sự 2005 “Quyền tài sản là

quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ”, theo nghĩa rộng thì quyền tài sản được hiểu là quyền của cá

nhân tổ chức được pháp luật cho phép thực hiện hành vi đối với tài sản của mình và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ đem lại lợi ích vật chất cho mình

Vì thế, khi hai người nước ngoài muốn xin ly hôn mặc dù họ không còn thường trú tại Việt Nam, nhưng họ có các loại tài sản được quy định của Bộ luật dân sự 2005 thì vẫn được tòa án Việt Nam thụ lý theo thẩm quyền chung để giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài

Trang 40

Tuy nhiên theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2000 thì xác định quan

hệ hôn nhân và gia đình có yếu nước ngoài là: “Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu

tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình: giữa công dân Việt Nam với người

nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam, giữa công dân

Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp

luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài” 13

Việc ly hôn

giữa hai người nước ngoài với nhau chỉ được xem là quan hệ hôn nhân và gia đình có

yếu tố nước ngoài khi cả hai cùng thường trú tại Việt Nam, nhưng trong trường hợp

này hai người nước ngoài không thường trú tại Việt Nam mà họ thường trú ở nước

ngoài, vì thế trong trường hợp này không được xem là quan hệ hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam về hôn nhân và gia đình nên không thể

áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam điều chỉnh về quan hệ của họ

Nhưng, theo quy định tại khoản 2 Điều 410 “Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ

việc dân sự có yếu tố nước ngoài”, mà vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài lại được

quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 405 và kết hợp với Điều 1 Bộ luật Tố tụng dân sự

năm 2004 Như vậy, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các vụ việc hôn nhân

và gia đình mà có ít nhất một bên đương sự là người nước ngoài, người Việt Nam định

cư ở nước ngoài, hay giữa các công dân Việt Nam với nhau, nhưng căn cứ để xác lập,

thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân và gia đình theo pháp luật nước ngoài, phát sinh

tại nước ngoài hay tài sản có liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình ở nước ngoài

Từ những phân tích trên có thể thấy những quy định của bộ luật Tố tụng dân sự 2004

sẽ rộng hơn những quy định về giải quyết các vấn đề về hôn nhân và gia đình có yếu

tố nước ngoài theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Theo phạm vi áp dụng của

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 thì trường hợp ly hôn giữa hai người nước ngoài

không cùng thường trú tại Việt Nam

Do đó, trong trường hợp ly hôn giữa hai người nước ngoài không thường trú tại

Việt Nam thì Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết nếu họ có tài sản trên lãnh

thổ Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 410 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004

Trường hợp thứ ba: Một người thường trú tại Việt Nam và một người thường trú ở

nước ngoài

Đối với trường hợp người Việt Nam ở nước ngoài kết hôn với người nước

ngoài, và hôn nhân đó được công nhận tại Việt Nam, nay người Việt Nam về nước và

người nước ngoài xin ly hôn, khi đó người Việt Nam không còn quốc tịch Việt Nam

Khoản 14 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2000

Ngày đăng: 03/10/2015, 05:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w