Các nhà kinh tế học đã có quá trình nghiên cứu sâu sắc ở nhiều khía cạnh khác nhau nhằm tìm khái niệm thuế theo cách đánh giá của mình Các Mác viết “thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
THANH TRA THUẾ
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
CN: NGỤY NGỌC ANH NGUYỄN THỊ THANH THOẢNG
Bộ môn: Luật Thương Mại MSSV: 5115757
Lớp: Luật Tư Pháp 1 Khóa 37
Cần Thơ, 8/2014
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 4OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
Trang 5MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU……… ……….1
CHƯƠNG 1 3
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THANH TRA THUẾ 3
1.1 Khái quát chung về thuế 3
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống thuế Việt nam 3
1.1.2 Khái niệm về thuế 7
1.1.3 Đặc điểm của thuế 8
1.1.4 Vai trò của thuế 10
1.1.5 Phân loại thuế 11
1.2 Khái quát chung về Thanh tra thuế 13
1.2.1 Khái niệm về Thanh tra thuế 13
1.2.2 Đặc điểm của thanh tra thuế 15
1.2.3 Vai trò của thanh tra thuế 16
1.2.4 Mục đích và yêu cầu của thanh tra thuế 16
1.2.5 Phân loại thanh tra thuế 18
1.2.6 Phân biệt giữa kiểm tra thuế và thanh tra thuế 18
CHƯƠNG 2 21
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THANH TRA THUẾ 21
2.1 Tổ chức bộ máy Thanh tra thuế 21
2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thanh tra thuế 23
2.2.1 Thanh tra Tổng cục thuế 23
2.2.2 Phòng thanh tra thuế thuộc Cục thuế 25
2.2.3 Đội thanh tra thuộc Chi Cục thuế 28
2.5 Các trường hợp phải Thanh tra thuế 30
2.5.1 Đối với doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng 30
2.5.2 Khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế 31
2.5.3 Để giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp hoặc Bộ trưởng Bộ Tài chính 33
2.5.4 Chia tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản, cổ phần hoá doanh nghiệp 34
2.6 Nguyên tắc hoạt động của Thanh tra thuế 36
2.6.1 Nguyên tắc tuân theo pháp luật 37
Trang 62.6.2 Nguyên tắc bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực 37
2.6.3 Nguyên tắc bảo đảm tính công khai, dân chủ, kịp thời 38
2.6.4 Nguyên tắc hiệu quả 38
2.6.5 Nguyên tắc đúng quy trình 38
2.6.6 Nguyên tắc đảm bảo tính không trùng lắp và không làm cản trở hoạt động bình thường của người nộp thuế 39
2.7 Phương pháp Thanh tra thuế 39
2.7.1 Phương pháp đối chiếu, so sánh 39
2.7.2 Phương pháp kiểm tra từ tổng hợp đến chi tiết 40
2.7.3 Phương pháp kiểm tra chứng từ gốc 40
2.7.4 Các phương pháp kiểm tra bổ trợ 41
2.8 Quy trình Thanh tra thuế 42
2.9 Quyền và nghĩa vụ của đối tượng Thanh tra thuế 52
2.9.1 Quyền của đối tượng Thanh tra thuế 52
2.9.2 Nghĩa vụ của đối tượng Thanh tra thuế 53
2.10 Tiêu chí đánh giá hoạt động của Thanh tra thuế 54
2.10.1 Các tiêu chí định lượng 54
2.10.2 Các tiêu chí định tính 55
CHƯƠNG 3 57
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THANH TRA THUẾ 57
3.1 Những thành tựu đạt được của công tác thanh tra thuế trong thời gian qua 57
3.2 Những vướng mắc của thanh tra thuế hiện nay 63
3.2.1 Thẩm quyền của thanh tra thuế chưa đủ mạnh 63
3.2.2 Quy trình thanh tra còn nhiều bất cập, hạn chế 66
3.2.3 Lực lượng thanh tra viên thuế 71
3.2.4 Cở sở dữ liệu về đối tượng nộp thuế 73
3.3 Kinh nghiệm thanh tra thuế của một số nước trên thế giới 75
3.3.1 Thực trạng thanh tra thuế ở một số nước 75
3.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 82
KẾT LUẬN 84
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Để duy trì tồn tại đồng thời với việc thực hiện chức năng của mình, Nhà nước cần có nguồn vật chất xã hội Bằng quyền lực chính trị, Nhà nước thu một bộ phận của cải xã hội để có được nguồn vật chất đó Quan hệ thu nộp những nguồn vật chất này chính là thuế Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, nói một cách khác nếu không có thuế thì Nhà nước không có điều kiện vật chất để tồn tại và phát triển
Hệ thống và chính sách thuế của từng giai đoạn còn phải phù hợp với tổ chức thực hiện thì mới phát huy được hết hiệu quả Để làm tốt điều này ngoài việc tăng cường quản lý còn phải tập trung chú trọng đến công tác thanh tra Đây là nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu trong công tác thuế Tuy nhiên, tình trạng vi phạm các chính sách, chế độ, luật thuế như khai man, trốn lậu thuế, chậm nộp thuế vẫn diễn ra thường xuyên và ngày càng tinh vi
Thanh tra là một trong những chức năng thiết yếu của quản lý thuế, tính hiệu quả của thanh tra thuế có ảnh hưởng chi phối đến hiệu quả của quản lý thuế , thanh tra thuế trong thời gian qua không chỉ có những đóng góp đáng kể vào chống thất thu thuế
mà còn nhằm đảm bảo công bằng, động viên đối với các chủ thể kinh tế phát huy nguồn lực của mình đẩy mạnh sản xuất, nâng cao năng suất lao động, chỉ ra rằng các hành vi gian lận, trốn lậu thuế sẽ bị phát hiên ( thể hiện tính hiệu quả của thanh tra thuế ) và những hậu quả do trốn lậu thuế đem lại ( xử lý kết quả sau thanh tra thuế ) Bên cạnh đó, công tác thanh tra thuế cũng có những hạn chế, nội dung và quy trình thanh tra cũng còn nhiều bất cập…không đáp ứng được những yêu cầu của công tác thanh tra thuế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “ Quy định của pháp luật về thanh tra thuế” có ý nghĩa thực tiễn thiết thực
2 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm làm rõ lý luận về thanh tra thuế, phân tích thực trạng và các nguyên nhân của thực trạng đó để tìm kiếm các giải pháp nhằm tăng cường công tác thanh tra thuế theo hướng hiện đại vừa đảm bảo hiệu lực vừa nâng cao hiệu quả của công tác thanh tra thuế nói riêng và cả quá trình quản lý thuế nói chung
3 Phạm vi nghiên cứu
Do phạm vi của thanh tra thuế là rất rộng nên luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về khái quát chung của thanh tra thuế, nhiệm vụ, quyền hạn, các trường hợp nào thì phải thanh tra thuế, các nguyên tắc thanh tra cũng như là quy trình thanh tra thuế như thế nào, qua đó thì công tác thanh tra thuế có những vướng mắc gì, nguyên nhân ra sao mà
Trang 8có thể tìm ra những giải pháp hoàn thiện để nâng cao hiệu quả thanh tra thuế đối với người nộp thuế
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích tổng hợp, diễn giải, quy nạp, so sánh,…
5 Kết cấu của đề tài
Kết cấu của luận văn gồm lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo Nội dung chính của luận văn được trình bày gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về thanh tra thuế
Chương 2: Quy định của pháp luật về thanh tra thuế
Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra thuế
Trang 9CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THANH TRA THUẾ
1.1 Khái quát chung về thuế
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống thuế Việt nam
Nước ta, dù đã hình thành từ rất lâu nhưng cho đến tận thuế kỷ XI, đời vua Trần Thái Tông (1225 –1237) thì việc đánh thuế mới được hình thành một cách có tổ chức quy cũ và có hệ thống
Thời phong kiến (từ thời nhà Trần) đến nửa cuối thế kỷ IX
Vào thời nhà Trần, sử sách ghi nhận có 2 loại thuế chính được áp dụng: thuế thân
và thuế điền
Thuế thân: phụ thuộc vào diện tích ruộng Ai có một hai mẫu ruộng thì phải đóng một năm một quan tiền; ai có bốn mẫu, thì đóng hai quan; ai có năm mẫu trở lên thì đóng ba quan Ai không có mẫu nào thì không phải đóng thuế
Thuế điền (thuế ruộng): Đóng bằng thóc Một mẫu ruộng tư thì chủ điền phải đóng
100 thăng thóc Còn ruộng công thì: đối với ruộng quốc khố: hạng nhất mỗi mẫu đánh thuế 6 thạch (80 thăng), hạng nhì mỗi mẫu 4 thạch; hạng ba mỗi mẫu 3 thạch; đối với thác điền (ruộng thưởng cho quan lại có công): hạng nhất mỗi mẫu đánh thuế 1 thạch thóc; hạng nhì 3 mẫu lấy 1 thạch; hạng ba 4 mẫu lấy 1 thạch Với ruộng ao thì mỗi mẫu lấy 3 thăng thóc thuế Ruộng muối thì phải đóng bằng tiền Việc đóng thuế kể từ lúc đó đã thành lệ và hầu như không có gì thay đổi đáng kể vào thời nhà Hồ, nhà Lê, ngoài việc quy định lại ngạch thuế, đặt thêm thuế đất bãi trồng dâu nuôi tằm
Đến thời Trịnh–Nguyễn phân tranh, ngoài việc duy trì các loại thuế như trước, Chúa Trịnh ở miền Bắc còn đặt ra thêm thuế tuần ty (đánh vào thuyền buôn), thuế muối, thuế thổ sản Còn ở miền Nam, ngoài thuế điền, thuế mỏ chúa Nguyễn đặt ra thêm thuế xuất cảng, nhập cảng (đánh vào các tàu buôn nước ngoài cập bến và rời khỏi cảng nước ta)
Dưới thời nhà Nguyễn, bên cạnh việc quy định lại các loại thuế đinh, thuế điền, vua Gia Long còn đặt ra các loại thuế mới như thuế sản vật (đánh vào việc khai thác quế ở rừng), thuế yến (đánh vào việc khai thác yến sào), thuế hương liệu, thuế đánh vào các tàu bè ngoại quốc ra vào buôn bán, thuế mỏ,…
Trang 10Chế độ thuế có từ thời vua Gia Long tiếp tục được duy trì đến thời vua Tự Đức và dấn sâu thêm bước đáng kể về tính chất phản động với việc có thêm loại thuế nha phiến đánh vào việc bán thuốc phiện
Sử sách đã ghi nhận một số triều đại được coi là tiến bộ (Lý, Trần, Lê Sơ): Ngoài việc giữ nước, mở mang kinh tế, phát triển dân trí và xây dựng một nền văn hóa có bản sắc dân tộc còn theo đuổi một số chính sách thuế hợp lòng dân, nêu được các mẫu mực
về việc sử dụng chi tiêu công theo quan điểm phục vụ quốc kế dân sinh, ích nước lợi nhà
Tựu trung lại, hệ thống thuế trong các triều đại phong kiến ở nước ta có đặc điểm chung là thiếu những chuẩn mực về đạo lý và pháp lý cần thiết, đáp ứng về cơ bản và lâu dài ý chí và lợi ích của nhân dân Việc thu thuế và sử dụng công quỹ trong rất nhiều trường hợp lại do các bậc vua chúa toàn quyền quyết định không phải dựa trên các suy nghĩ chính chắn mà xuất phát từ ý thích hoặc tính khí thay đổi rất thất thường của mình Bên cạnh chế độ trung ương tập quyền rất gò bó, lịch sử còn ghi nhận tình trạng “Phép vua thua lệ làng” đã hình thành từ rất lâu ở các địa phương mà hậu quả tất yếu là đẻ ra một chế độ thuế hà khắc, một tầng lớp quan lại nhũng nhiễu cho nhân dân trong hàng ngàn năm qua Kết cục bi thảm nhưng đầy lô gích đã xảy ra như là một tất yếu lịch sử không thể đảo ngược: chế độ phong kiến suy tàn vào cuối thế kỷ XIX, để lại một đất nước kém mở mang rơi vào sự thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp
Thời Pháp thuộc
Cơ chế tài chính do Pháp thiết lập ở Đông Dương đầu thế kỷ XX không nằm ngoài mục đích bao trùm là vơ vét của cải của thuộc địa Dưới thời Pháp thuộc, thuế được huy động vào hệ thống ngân sách thuộc địa gồm nhiều tầng nấc, nhưng chúng lại không được chuyển về chính quốc, theo đúng mục tiêu của chủ nghĩa thực dân Hệ thống ngân sách của nhà nước thuộc địa bao gồm:
Ngân sách Đông Dương và các ngân sách phụ thuộc của nó là: ngân sách đặc biệt
về tiền vay nợ và ngân sách riêng của sở hỏa xa
Ngân sách các xứ bên trong liên bang: Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Cao miên, Ai lao và Quảng Châu Văn (một vùng đất Trung Quốc dưới quyền ủy trị của Pháp trong 99 năm)
Ngân sách các tỉnh và thành phố
Ngân sách xã ở các làng
Trên thực tế, một hệ thống ngân sách như vậy đã thể hiện như một hệ thống cực kỳ phản động, mang tính chất bóc lột và vơ vét Nhưng chính nó đã tạo tiền đề quan trọng
Trang 11dẫn đến cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, chấm dứt ách đô hộ của chế độ thực dân Pháp trong gần 100 năm
Sau cách mạng tháng 8/1945 đến năm 1975 (ở miền Bắc)
Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8 đến năm 1954
Sau khi dành được chính quyền, Chính phủ ta chủ trương một số biện pháp như: bãi bỏ thuế thân, thuế thổ trạch ở thôn quê và một số tạp thuế vô lý; miễn thuế điền thổ cho vùng bị lụt và giảm thuế điền 20% trong toàn quốc; đình chỉ thu thuế ở miền Nam (Nam trung bộ và Nam bộ).…
Sau năm 1946, khi đã ổn định được tình hình, nhà nước, một mặt, bắt đầu cải tiến chế độ thuế, tăng thuế suất nhiều loại thuế; mặt khác, vẫn tiếp tục dựa vào những đóng góp mới như: Quỹ “Tham gia kháng chiến” năm 1949, Quỹ “Công lương” năm
1950 và bắt đầu chuyển hướng thu một vài thứ thuế bằng hiện vật (thóc gạo) như Quỹ
“Công lương” và thuế điền thổ Mặt khác, Chính phủ cũng động viên nhân dân cho nhà nước vay dưới các hình thức công phiếu và công trái, đồng thời còn dựa vào nguồn phát hành tiền tệ
Đến năm 1951, bên cạnh việc thống nhất quản lý tài chính nhà nước,chính phủ còn ban hành chính sách thuế mới được xây dựng trên nguyên tắc: công bằng, thích hợp với hoàn cảnh kinh tế–xã hội và điều kiện chiến tranh Chính sách thuế thống nhất gồm 7 thứ thuế là: thuế nông nghiệp, thuế công thương nghiệp, thuế hàng hóa, thuế xuất nhập khẩu, thuế sát sinh, thuế trước bạ, thuế tem Trong số các loại thuế này thì thuế nông nghiệp giữ vai trò quan trọng Tuy vậy, các loại thuế này vẫn chưa được cấu trúc thành một hệ thống hoàn chỉnh và cũng chưa có tác dụng đáng kể
Từ năm 1954 đến năm 1975
Đây là thời kỳ mà nền tài chính đứng trước nhiều thuận lợi và thử thách mới Một mặt, Việt Nam đã đánh đuổi được thực dân Pháp ra khỏi bờ cõi một cách vĩnh viễn, nhưng mặt khác, đất nước lại bị chia cắt Sau hiệp định Genéve, Chính phủ chỉ lần lượt ban hành các loại thuế mới trên cơ sở sửa đổi, bổ sung các chế độ đã ban hành từ năm
1951 ở vùng tự do cũ để áp dụng thống nhất
Trong thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa, thuế công thương nghiệp được sửa đổi đáng kể: từ một hệ thống thuế suất tương đối ít chuyển sang một hệ thống và nhiều hình thức thuế khác nhau, áp dụng trên nhiều khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa, sử dụng nhiều loại thuế suất khác nhau (cả thuế suất tỷ lệ, thuế suất lũy tiến lẫn thuế suất cố định) có sự phân biệt giữa các ngành nghề sản xuất, kinh doanh, phân biệt kinh tế tập thể và tư nhân và nhiều biện pháp ưu đãi khác nhau
Trang 12Trong thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, nhà nước đã áp dụng thí điểm chế độ thu mới gọi là thu quốc doanh Mức thu quốc doanh được xác định riêng cho từng mặt hàng tuỳ theo giá cả nhà nước quy định và chỉ thu ở khâu sản xuất Năm
1962, nhà nước còn ban hành chế độ trích nộp và sử dụng lợi nhuận của các xí nghiệp Theo chế độ này, lợi nhuận của các xí nghiệp quốc doanh phải trích nộp một phần vào Ngân sách Nhà nước ; phần lợi nhuận còn lại, xí nghiệp được dùng để lập quỹ xí nghiệp, bổ sung kinh phí chuyên dùng, đầu tư một phần vào việc kiến thiết cơ bản mở rộng của xí nghiệp và bổ sung vốn lưu động Các xí nghiệp công tư hợp doanh trong thời kỳ này được chuyển sang làm nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước như các xí nghiệp quốc doanh, có nghĩa là phải nộp thu quốc doanh và lợi nhuận chứ không phải nộp thuế như trước Chế độ thuế này được duy trì ở miền Bắc cho đến ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Giai đoạn từ năm 1990 đến nay
Từ giữa những năm 80, cùng với công cuộc đổi mới và mở cửa nền kinh tế, hệ thống thuế Việt Nam đã được nghiên cứu và đến năm 1990 một hệ thống thuế mới được hình thành bao gồm hệ thống chính sách thuế và hệ thống quản lý thuế Giai đoạn này được đặc trưng bởi sự hình thành một hệ thống thuế hoàn chỉnh nhất từ trước đến nay, bao gồm 9 sắc thuế: Thuế nông nghiệp; Thuế doanh thu; Thuế tiêu thụ đặc biệt; Thuế lợi tức; Thuế xuất, nhập khẩu (mậu dịch và phi mậu dịch); Thuế tài nguyên; Thuế thu nhập; Thuế nhà đất; Thuế vốn (khoản thu do việc sử dụng vốn NSNN) Ngoài ra còn một số phí và lệ phí Tuy có nhiều loại thuế nhưng mỗi doanh nghiệp chỉ
áp dụng phổ biến từ 2 đến 3 loại thuế
Đến nay, trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung trong khuôn khổ cuộc cải cách thuế bước 2 (bước 1 được tiến hành từ giữa những năm 80 đến năm 2000 như đã nêu trên),
hệ thống pháp luật về thuế bao gồm:
1 Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp
2 Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất
3 Luật thuế giá trị gia tăng
4 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt
5 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp
6 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
7 Pháp lệnh thuế tài nguyên
8 Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
Trang 131 Chính sách thuế được cải cách và đổi mới trong khi các cơ chế kinh tế khác chậm đổi mới, chưa thích ứng kịp thời làm giảm hiệu quả của chính sách mới ban hành
2 Việc hướng dẫn luật thuế do máy móc, thiếu thực tế nên có trường hợp chồng chéo, không rõ ràng làm cho người chấp hành gặp khó khăn, hoặc làm cho thuế
có các tác động trái ngược nhau đến hoạt động kinh tế
3 Nhiều khi công cụ thuế sử dụng được một cách tuỳ tiện, thiếu cân nhắc kết hợp với các chính sách đầu tư, thương mại…không đúng đắn đã làm cho môi trường kinh doanh trở nên thiếu lành mạnh
4 Sử dụng công cụ thuế phục vụ quá nhiều các chính sách xã hội làm mất tính trung lập của thuế
5 Tính khả thi, tính hợp lý của một luật thuế còn hạn chế nên xét trên giác độ từng sắc thuế thì dẫn đến sau thời gian thực hiện phải sửa đổi, bổ sung
6 Hệ thống chính sách thuế còn chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và chưa đảm bảo được tính tương thích với các nền kinh tế thị trường khác trong khu vực
7 Trong thời gian qua các sắc thuế vẫn chưa đạt được mục tiêu đơn giản, rõ ràng.1
1.1.2 Khái niệm về thuế
Sự xuất hiện Nhà nước đòi hỏi cần phải có của cải vật chất cần thiết chi cho hoạt động thường xuyên của bộ máy Nhà nước nhằm đảm bảo cho Nhà nước tồn tại, duy trì quyền lực và thực hiện chức năng quản lý xã hội của mình Trong điều kiện có các giai cấp, tồn tại chế độ tư hữu cùng với phạm vi hoạt động của Nhà nước ngày càng mở rộng thì chế độ đóng góp theo phương thức tự nguyện của dân cư trong chế độ cộng sản nguyên thủy không còn phù hợp nữa Ðể có được lượng của cải cần thiết, Nhà nước đã sử dụng quyền lực của mình ban hành pháp luật, ấn định bắt buộc các thể nhân và pháp nhân phải đóng góp cho Nhà nước một phần của cải mà họ làm ra và
1
Nguyễn Thị Mỹ Linh, Thuế thực hành, Nxb Thống Kê, 2009, tr 24
Trang 14hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước Ban đầu những của cải vật chất này được thu nộp dưới hình thức hiện vật, dần dần thuế được chuyển sang hình thức tiền
tệ Ðồng thời với việc ấn định nghĩa vụ thu nộp của cải vật chất đối với dân cư, Nhà nước đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ đó bằng bộ máy cuỡng chế của Nhà nước.2 Như vậy, thuế là hiện tượng tất yếu, ra đời và tồn tại cùng với Nhà nước, từ đó đến nay, thuế đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài và khái niệm về thuế cũng không ngừng được hoàn thiện Tuy nhiên, để đưa ra khái niệm về thuế hoàn toàn không đơn giản Các nhà kinh tế học đã có quá trình nghiên cứu sâu sắc ở nhiều khía cạnh khác nhau nhằm tìm khái niệm thuế theo cách đánh giá của mình Các Mác viết
“thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước”.3 Bằng cách định nghĩa khác, các nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng thuế là “một hình thức phân phối thu nhập tài chính của nhà nước để thực hiện chức năng của mình, dựa vào quyền lực chính trị, tiến hành phân phối sản phẩm thặng dư của xã hội một cách cưỡng chế và không hoàn lại”.4
Mặc dù có nhiều cách định nghĩa về thuế như vậy nhưng chúng ta đều có thể nhận thấy nét chung sau: thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức hoặc cá nhân phải nộp cho nhà nước.5 Khoản thu nộp mang tính bắt buộc là mỗi cá nhân, tổ chức phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của bộ máy Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thuế, đổi lại, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế được thực hiện lại góp phần phát triển kinh tế thị trường và thúc đẩy sự phát triển của Đất nước sau này
1.1.3 Đặc điểm của thuế
- Thuế là khoản thu mang tính bắt buộc Tính bắt buộc thể hiện ở chỗ, đối với
người nộp thuế, đây là nghĩa vụ chuyển giao tài sản của họ cho Nhà nước khi có đủ điều kiện mà không phải là quan hệ thanh toán dù trong hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng Đối với cơ quan thu thuế, khi thay mặt Nhà nước thực hiện các hành vi nhất định cũng không được phép lựa chọn thực hiện hay không thực hiện hành vi thu thuế,
có sự phân biệt đối xử với người nộp thuế Đặc tính bắt buộc của thuế là một trong những dấu hiệu quan trọng để phân biệt thuế với các khoản thu trên cơ sở tự nguyện hình thành nên ngân sách nhà nước Điều này có ý nghĩa pháp lý quan trọng khi ban
Trang 15hành pháp luật về thuế và chi phối phương pháp thực hiện thu thuế của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tính bắt buộc xuất phát từ việc Nhà nước là người cung ứng phần lớn hàng hóa công cộng cho xã hội Đặc tính của hàng hóa công cộng là có thể sử dụng chung và khó có thể loại trừ Ít có người dân nào tự nguyện trả tiền cho việc thụ hưởng hàng hóa công cộng do Nhà nước đầu tư cung cấp như quốc phòng, môi trường, pháp luật, vệ sinh phòng dịch, vv…Vì vậy, để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng ấy, nhà nước phải sử dụng quyền lực của mình để nhân dân phải nộp thuế cho nhà nước 6Tính bắt buộc này thường được ghi nhận trong Hiến pháp của các quốc gia Hiến pháp
Việt Nam năm 2013 quy định ở Điều 47 rằng “Mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo
luật định”.7 Các luật thuế sẽ do các cơ quan quyền lực nhà nước ấn định, ban hành tránh việc thu thuế tuỳ tiện Ví dụ như khoản 4 Điều 70 của Hiến pháp Việt nam 2013
có quy định rằng chỉ có Quốc Hội mới có quyền quy định, sửa đổi, bãi bỏ các thứ thuế.8 Thuế thể hiện tính chất bắt buộc là được thực hiện thông qua con đường quyền lực Nhà nước (qua hệ thống pháp luật thuế) Do đó, đối tượng nộp thuế không có quyền trốn thuế hoặc mong muốn tự mình ấn định hay thoả thuận mức đóng góp của mình mà chỉ có quyền chấp thuận Những đối tượng nộp thuế vi phạm luật
sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật để buộc họ phải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế
- Thuế là khoản thu của ngân sách nhà nước mang tính không hoàn trả trực tiếp
và không đối giá Số tiền thuế phải nộp không gắn trực tiếp với lợi ích cụ thể mà
người nộp thuế được hưởng từ hàng hóa công cộng do nhà nước cung cấp Các cá nhân, tổ chức thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước không có quyền đòi hỏi Nhà nước phải cung cấp trực tiếp cho họ một lượng hàng hóa dịch vụ cụ thể nào đó Tuy nhiên, cá nhân và tổ chức có quyền nêu ý kiến của mình nếu như những gì mà họ nhận được từ sự đầu tư của Nhà nước là quá thấp trong khi số thuế họ phải nộp quá cao hoặc họ cũng có thể kiểm tra việc chi tiêu của ngân sách nhà nước thông qua đại biểu của họ ở các cơ quan đại diện (như Quốc hội, Hội đồng nhân dân) và thông qua các báo cáo thường niên của các cơ quan này Đặc điểm này của thuế nhằm phân biệt giữa thuế với phí và lệ phí Phí và lệ phí cũng là các khoản thu mang tính bắt buộc nhưng tính bắt buộc của phí và lệ phí gắn trực tiếp với việc khai thác và hưởng thụ lợi ích từ những dịch vụ công cộng nhất định do nhà nước cung cấp mà theo quy định của pháp luật có thu phí hoặc lệ phí.9 Các khoản thu nộp từ thuế sử dụng chủ yếu là để tạo ra những sản phẩm công nhằm phục vụ cho lợi ích công cộng Vậy được hiểu vì sao thuế
Trang 16là khoản thu không có tính hoàn trả và những lợi ích đó không thể xác định chính xác
được theo giá trị vật chất
1.1.4 Vai trò của thuế
Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với sự thay đổi phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, thuế đóng vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước
Với chức năng phân phối lại thu nhập quốc dân, thuế bằng nhiều cách hình thành nên nguồn tài chính tập trung lớn nhất phục vụ cho chi tiêu công cộng, đó là ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước được tập hợp từ nhiều nguồn thu khác nhau, nhằm đảm bảo yêu cầu chi tiêu chung cho nhu cầu công cộng Trong tất cả các nguồn, thông thường số thu về thuế chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số thu ngân sách nhà nước Đây là nguồn thu ổn định nhất được kế hoạch hoá tốt trên cơ sở dự báo kế hoạch và tiềm năng phát triển kinh tế của đất nước trong một năm Hầu như mọi khoản chi tiêu của ngân sách nhà nước đều dựa vào sự đóng thuế của người dân Vì vậy, xã hội có trách nhiệm phải tôn trọng người nộp thuế, những người thông qua hành vi của mình đóng góp tài chính cho nhà nước một cách trực tiếp và gián tiếp
Thuế là công cụ điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội
Một trong những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường là có sự chênh lệch lớn
về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội Kinh tế thị trường càng phát triển thì khoảng cách giàu-nghèo giữa các tầng lớp dân cư ngày càng có xu hướng gia tăng Sự phát triển mọi mặt của một đất nước là thành quả của sự nỗ lực của
cả cộng đồng, mỗi thành viên trong xã hội đều có những đóng góp nhất định Nếu không chia sẻ thành quả phát triển kinh tế cho mọi thành viên sẽ thiếu công bằng và tạo nên sự đối lập về quyền lợi và của cải giữa các tầng lớp dân cư và gây ra bất ổn xã hội Chính vì vây, Nhà nước cần phải can thiệp vào quá trình phân phối thu nhập, của cải của xã hội vì thuế là công cụ quan trọng mà Nhà nước sử dụng để tác động vào quá trình này
Việc điều hoà thu nhập giữa các tầng lớp dân cư được thực hiện một phần thông qua thuế gián thu mà đặc biệt là hình thức thuế tiêu thụ đặc biệt Loại thuế này có đối tượng chịu thuế chủ yếu là các hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng cao cấp, đắt tiền Các hàng hoá, dịch vụ này thông thường chỉ có những người có thu nhập cao trong xã hội mới
có thể sử dụng và hoặc sử dụng nhiều, qua đó điều tiết bớt một phần thu nhập của họ Các sắc thuế trực thu, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân với việc sử dụng thuế suất luỹ
Trang 17tiến là loại thuế có tác dụng rất lớn trong vấn đề điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng
số lượng, quy mô các cơ sở sản xuất, kinh doanh, ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, mặt hàng họ được phép kinh doanh cũng như các định mức chi tiêu đặc thù và các phương thức hạch toán riêng có Từ công tác thu thuế mà cơ quan thuế sẽ phát hiện ra những khó khăn mà họ gặp phải để giúp đỡ họ tìm mọi biện pháp tháo gỡ Đồng thời, cũng qua công tác thu thuế, cơ quan thuế cập nhật được nhiều kiến thức quản lý kinh
tế để phục vụ tốt hơn cho việc kiểm tra, kiểm soát sau này Như vậy, qua công tác quản lý thu thuế mà có thể kết hợp kiểm tra, kiểm soát toàn diện các mặt hoạt động của các cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt quản lý Nhà nước về mọi mặt của đời
sống kinh tế - xã hội
Thuế góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển
Thuế trong cơ chế thị trường không chỉ đóng vai trò là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, mà còn là một công cụ làm đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển Theo quan điểm công bằng, bất kỳ một tổ chức, cá nhân khi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế của mình với đất nước, họ được quyền thụ hưởng và cung ứng những lợi ích công cộng nhất định và được tạo thuận lợi nhất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình.10 Bên cạnh đó, phụ thuộc vào chủ trương kinh tế đất nước, mà nhà nước có thể dùng thuế để tác động, tạo thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh ở một số ngành, vùng để khuyến khích sản xuất, kinh doanh phát triển nhằm tạo
ra một cơ cấu hợp lý hơn
1.1.5 Phân loại thuế
Lợi ích của việc phân loại thuế là tạo ra một cách tiếp cận tổng hợp đối với cơ cấu thuế Căn cứ theo đặc điểm, công dụng, chức năng và vai trò của từng loại thuế đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội và tuỳ theo mục tiêu, yêu cầu của quản lý mà người ta có thể đưa ra các cách phân loại thuế khác nhau, từ đó nhằm sử dụng phát huy vai trò tích cực của từng công cụ thuế trong quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế Dưới đây là một số cách phân loại chủ yếu
10
Trung học Phổ thông chuyên Sơn La, Chức năng và vai trò của thuế, Phap-Luat/Chuc-nang-va-vai-tro-cua-thue-358 [truy cập ngày 21/8/2014]
Trang 18http://thptchuyensonla.edu.vn/news/GD- Phân loại thuế dựa trên mục đích điều tiết
Cách phân loại này nhằm chỉ ra ai thực sự là người sẽ nộp thuế và ai sẽ là người chịu gánh nặng về thuế Từ đó, giúp nhà làm luật đưa ra cách thức thu thuế phù hợp Theo phân chia này, thuế được phân loại thành thuế trực thu và thuế gián thu
- Thuế trực thu là loại thuế mà nhà nước thu thuế trực tiếp vào phần thu nhập của
các pháp nhân hoặc thể nhân Tính chất trực thu của loại thuế trực thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế đồng thời là người chịu thuế Thuế trực thu thường đánh trên thu nhập, lợi nhuận, và tài sản Thuế trực thu có ưu điểm là đảm bảo sự công bằng trong việc điều tiết thu nhập của người nộp thuế, điều chỉnh khoảng cách giàu nghèo của các cá nhân trong xã hội nhưng hay gây ra sự phản ứng của người chịu thuế vì họ “trực tiếp” thấy được sự “mất mát” thu nhập, tài sản của họ khi nộp thuế Cảm nhận này sẽ mạnh hơn khi nhà nước sử dụng tiền thuế mà người dân đã đóng không đúng mục đích, nạn tham nhũng quá nhiều và những phúc lợi xã hội mà người đóng thuế nhận được là quá
ít Thông thường vì phản ứng tâm lý này mà thuế trực thu thường khó thu, cơ chế quản
lý phức tạp, tốn kém và người đóng thuế thường tìm cách tránh hoặc trốn thuế.11 Hơn nữa, việc theo dõi, tính toán và thu thuế phức tạp, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân với diện thu thuế rộng và phân tán Vì vậy, nếu không có biện pháp quản lý thu thuế hiệu quả thì dễ dẫn đến hạn chế tác dụng của loại thuế này trong việc tập trung số thu đầy
đủ, kịp thời về cho ngân sách nhà nước Ví dụ ở nước ta thuộc loại thuế này gồm: thuế
thu nhập doanh nghiệp, thuế lợi tức, thuế thu nhập dân cư…
- Thuế gián thu là do các nhà sản xuất, thương nhân hoặc người cung cấp dịch vụ
nộp cho Nhà nước thông qua việc cộng số thuế này vào giá bán cho người tiêu dùng chịu Ví dụ như: thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt… Khác với thuế trực thu, người nộp thuế chính là người phải chịu thuế, với thuế gián thu, người nộp thuế và người chịu thuế (người trả thuế) không đồng nhất Do điều tiết một cách gián tiếp vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ thông qua
cơ chế giá nên với thuế gián thu, người chịu thuế (người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ)
ít có cảm giác bị Nhà nước đánh thuế Vì vậy, loại thuế này cũng ít gây ra những phản ứng từ phía người chịu thuế mỗi khi Chính phủ có chủ trương tăng thuế Ưu điểm nổi bật của thuế gián thu là nó có khả năng đáp ứng nguồn thu kịp thời, ổn định cho ngân sách nhà nước Tuy nhiên, thuế gián thu cũng có những hạn chế nhất định, đó là: do thuế gián thu được tính trên giá cả hàng hoá, dịch vụ, không tính tới điều kiện, hoàn cảnh của đối tượng chịu thuế, vì vậy, không đảm bảo được sự công bằng xã hội, thậm chí còn mang tính luỹ thoái Có nghĩa là, bất kể người tiêu dùng là người giàu hay
11
Lê Thị Nguyệt Châu, Giáo trình Luật thuế, 2009, tr 9
Trang 19người nghèo, thu nhập cao hay thấp, nếu cùng tiêu dùng một lượng hàng hoá, dịch vụ như nhau thì cùng phải chịu một mức điều tiết thuế như nhau Số thuế này nếu so với thu nhập của người giàu và người nghèo thì rõ ràng chúng mang tính luỹ thoái: tỷ lệ giữa tiêu dùng so với thu nhập của người nghèo cao hơn tỷ lệ này của người giàu, và đương nhiên tỷ lệ giữa thuế gián thu so với tổng thu nhập của người nghèo lớn hơn người giàu.12 Ví dụ ở nước ta thuộc loại thuế này bao gồm: Thuế giá trị gia tăng, thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt
Sự phân loại thuế trực thu và thuế gián thu có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng chính sách, pháp luật Trên thực tế, sự phân biệt giữa tính chất trực thu và gián thu không có ranh giới tuyệt đối, do sự biến động giá cả hang hóa trên thị trường, trong một số trường hợp thuế gián thu sẽ biến đổi thành thuế gián trực thu
Phân loại thuế dựa trên đối tượng tính thuế
Căn cứ vào đối tượng đánh thuế, thuế được phân làm các loại như:
Thuế đánh vào tài sản (là loại thuế đánh vào bản thân tài sản chứ không phải đánh lên phần thu nhập phát sinh từ tài sản đó) như thuế nhà, đất, thuế vốn, thuế chuyển nhượng tài sản,…
Thuế đánh vào thu nhập (chỉ thực hiện đối với những đối tượng có giá trị thặng dư phát sinh từ tài sản, sức lao động) như thuế lợi tức, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao…
Thuế đánh vào việc khai thác hoặc sử dụng một số tài sản như thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất nông nghiệp,13…
1.2 Khái quát chung về Thanh tra thuế
1.2.1 Khái niệm về Thanh tra thuế
Thanh tra (tiếng Anh là Inspest) xuất phát từ nguồn gốc La tinh (Inspectare) có nghĩa là “nhìn vào bên trong” , chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một số đối tượng nhất định Theo tự điển Pháp luật Anh-Việt, thanh tra “là
sự kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra” Từ điển Luật học (tiếng Đức) giải thích thanh tra “là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định–sự tác động có tính trực thuộc” Theo tự điển tiếng Việt “thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp” Với nghĩa này, Thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm: “xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy định” Thanh tra thường
Trang 20đi kèm với một chủ thể nhất định: “Người làm nhiệm vụ thanh tra” “đoàn thanh tra
của Bộ” và “đặt trong phạm vi quyền hành của một chủ thể nhất định”.14
Theo Luật Thanh tra năm 2010, quy định về tổ chức, hoạt động thanh tra Nhà
nước và thanh tra nhân dân, Thanh tra Nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý
theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối
với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá
nhân Còn Thanh tra Nhà nước lại bao gồm luôn cả Thanh tra hành chính và Thanh tra
chuyên ngành Ở đây, phạm vi nghiên cứu của đề tài là Thanh tra thuế mà Thanh tra
thuế là một bộ phận của Thanh tra chuyên ngành nên chúng ta cần phải tìm hiểu khái
niệm về Thanh tra chuyên ngành là gì?
“Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành
pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn –kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc
ngành, lĩnh vực đó”.15 Theo đó, Luật Thanh tra xác định thanh tra chuyên ngành là một
loại Thanh tra Nhà nước được thành lập theo ngành, lĩnh vực
Theo Giáo trình nghiệp vụ thuế thì thanh tra thuế được hiểu là “hoạt động kiểm
tra của tổ chức chuyên trách làm công tác kiểm tra của cơ quan thuế đối với đối tượng
thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành vi trái pháp luật”.16
Từ những phân tích trên ta có thể rút ra được khái niệm về “thanh tra thuế là một
loại hình thanh tra chuyên ngành, theo đó Cơ quan thuế (chủ thể quản lý) thực hiện
hoạt động thanh tra đối với các đơn vị, tổ chức và cá nhân chịu sự quản lý trong việc
thực hiện pháp luật về thuế, xử lý các vi phạm pháp luật thuế nhằm nâng cao tính tuân
thủ của người nộp thuế, đồng thời đề xuất hoàn thiện cơ chế chính sách pháp luật
thuế”.17
Theo đó, Thanh tra thuế có chức năng thiết yếu trong quản lý thuế để kiểm tra,
xem xét việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn
chặn và xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về thuế, bảo đảm tính công
bằng trong thực thi pháp luật thuế, đồng thời làm cho người nộp thuế luôn có ý thức
rằng có một hệ thống giám sát hiệu quả đang tồn tại, từ đó thúc đẩy họ tự giác tuân thủ
pháp luật thuế
14
Blogspot, Khái niệm thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm sát,
http://ttgtvt.blogspot.com/2011/03/khai-niem-thanh-trakiem-tra-giam-sat.html , [truy cập ngày 16-9-2014]
Trang 211.2.2 Đặc điểm của thanh tra thuế
Thứ nhất, thanh tra thuế có phạm vi rộng Hoạt động thanh tra thuế được tiến
hành đối với mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân hoạt động trong phạm vi điều chỉnh của
các luật thuế, chịu sự quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thuế, đối tượng nộp thuế bao
gồm mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân trong xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của các luật thuế
Thứ hai, thanh tra thuế là công tác rất khó khăn, phức tạp vì nó đụng chạm trực
tiếp đến lợi ích kinh tế của đối tượng nộp thuế Để che giấu các hành vi trốn thuế nhằm bảo vệ các lợi ích vật chất của mình, các đối tượng nộp thuế thường tìm mọi biện pháp cản trở, gây khó khăn cho công tác thanh tra của cơ quan thuế
Thứ ba, thanh tra thuế là công việc đòi hỏi rất cao về năng lực chuyên môn và
phẩm chất đạo đức của người cán bộ làm việc trong lĩnh vực này Để xác định đúng
đắn nghĩa vụ thuế của đối tượng thanh tra , đòi hỏi người cán bộ thuế không chỉ nắm chắc được các luật thuế mà còn phải nắm bắt được bản chất các hoạt động kinh tế của đối tượng thanh tra, tức là người cán bộ thanh tra còn phải có sự am hiểu sâu rộng về kinh tế, giỏi kế toán, sâu sắc trong tư duy logic…Đồng thời, người cán bộ thanh tra thuế cần phải có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh vững vàng thì thường xuyên phải làm việc trong môi trường có sự cám dỗ về vật chất.18
Thứ tư, thanh tra thuế là một giai đoạn của chu trình quản lý thuế Thanh tra
thuế có tác động tới hầu hết các giai đoạn của chu trình quản lý thuế: kê khai thuế, tuyên truyền hỗ trợ và cưỡng chế nợ thuế Xét theo chức năng của quản lý thuế thì thanh tra thuế là công cụ, phương tiện để nhà nước quản lý thuế Do vậy thanh tra thuế chính là một giai đoạn để quản lý Nhà nước của cơ quan thuế, mà hoạt động quản lý của cơ quan thuế từ việc xây dựng các mục tiêu kế hoạch trong giai đoạn nhất định đến việc tổ chức để thực hiện các mục tiêu kế hoạch đó và sau cùng là tiến hành thanh tra thuế, từ kết quả của việc thực hiện đó như thế nào để nhằm đảm bảo cho hoạt động của
cơ quan thuế đạt được hiệu quả cao
Thứ năm, thanh tra thuế có tính độc lập: đây là đặc điểm vốn có, xuất phát từ bản
chất của thanh tra, thanh tra thuế chủ động và độc lập trong việc lập kế hoạch thanh tra, phân bổ nguồn lực thanh tra, trong việc ra quyết định và kết luận thanh tra và độc lập trong cách quan hệ ứng xử với đối tượng được thanh tra khi cần thiết
18
Nguyễn Thị Liên, Giáo trình nghiệp vụ thuế, Nxb tài chính, 2008, tr.218
Trang 221.2.3 Vai trò của thanh tra thuế
- Thanh tra, kiểm tra người nộp thuế đã góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật về thuế
Hệ thống thuế ở nước ta hiện nay bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau Mỗi sắc thuế điều tiết đến một số đối tượng xã hội nhất định và có những phương pháp quản lý thu thuế khác nhau Về cơ bản mỗi sắc thuế khi được ban hành đều đã được nghiên cứu kỹ
và chuẩn bị chu đáo nhưng do đặc điểm nền kinh tế nước ta đang ở thời kỳ chuyển đổi
và hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới nên không trách khỏi những khiếm khuyết, bất cập Chính vì vậy thanh tra thuế có nhiệm vụ cung cấp các căn cứ, các bằng chứng cụ thể phản ánh các hoạt động quản lý thuế diễn ra trên thực tế, để phục vụ cho việc hoàn thiện, bổ sung các chính sách thuế sao cho phù hợp
- Thanh tra, kiểm tra thuế là phương tiện phòng ngừa, răn đe các hành vi vi phạm pháp luật thuế và tội phạm nảy sinh trong việc thực hiện pháp luật thuế
Hoạt động thanh tra thuế trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế Theo đó, vừa phòng ngừa các hành vi phạm pháp luật thuế có thể xảy ra; vừa sử dụng các biện pháp chế tài bằng mệnh lệnh hoặc các quyết định hành chính nhằm xử lý và răn đe hành vi vi phạm pháp luật của người nộp thuế Việc kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật thuế là biện pháp hữu hiệu nhất đối với việc phòng ngừa các loại tội phạm có thể phát sinh trong việc thực hiện pháp luật thuế
- Thanh tra, kiểm tra người nộp thuế có vai trò quan trọng trong việc cải cách thủ tục hành chính thuế
Triển khai thực hiện pháp luật thuế, cũng đồng thời với việc triển khai thực hiện các thủ tục hành chính thuế Qua hoạt động thanh tra thuế phát hiện những người nộp thuế thực hiện không đúng và không đủ các thủ tục hành chính thuế để kịp thời chấn chỉnh Đồng thời phát hiện những khiếm khuyết, những thủ tục không phù hợp với thực tế để kiến nghị bổ sung hoàn thiện, nâng cao hiệu lực pháp luật thuế
1.2.4 Mục đích và yêu cầu của thanh tra thuế
- Thanh tra thuế là một trong những chức năng thiết yếu trong quản lý thuế Để phát
huy được chức năng đó cần phải hướng vào những mục đích sau đây:
+ Phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hiện tượng trốn lậu thuế, xâm tiêu tiền thuế, dây dưa nợ đọng thuế đối với các đối tượng nộp thuế và cơ quan
Trang 23thu thuế, bảo đảm hiệu quả của các chính sách thuế mà nhà nước ban hành để tránh bị thất thoát từ các khoản thu thuế của ngân sách nhà nước
+ Phát hiện những điểm bất hợp lý, chồng chéo giữa những kẽ hở trong các luật, pháp lệnh thuế và các văn bản hướng dẫn thực hiện để kịp thời bổ sung, sửa đổi xác lập căn cứ cải tiến hệ thống tổ chức, đổi mới công tác thu thuế nhằm đạt hiệu quả cao Bảo đảm pháp luật thuế được thi hành nghiêm trên thực tế, đảm bảo sự cân bằng trong nghĩa vụ nộp thuế, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thực hiện nghĩa vụ nộp thuế
+ Điều tra xác minh, làm sáng tỏ những vấn đề mà xã hội dư luận quan tâm, đơn thư tố giác của quần chúng nhân dân Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan quản lý thuế mà cụ thể là cán bộ thực hiện công tác thanh tra, nâng cao ý thức trách nhiệm tuân thủ các quy định của pháp luật thuế
- Yêu cầu của công tác thanh tra thuế
Thanh tra thuế là hoạt động có tính chất pháp lý cao, liên quan đến lợi ích kinh tế
và chính trị của nhiều đối tượng trong xã hội Do đó, công tác thanh tra thuế phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
+ Thanh tra thuế phải đảm bảo chính xác, khách quan, trung thực, xử lý đúng người đúng tội, không bao che cho các đối tượng được thanh tra Đây chính là những yêu cầu hàng đầu của thanh tra thuế vì chỉ khi đảm bảo những yêu cầu này mới đạt được mục đích của công tác thanh tra thuế, mới làm cho thanh tra thuế thực sự trở thành cán cân công lý, mới có sự tin tưởng của quần chúng nhân dân
+ Thanh tra thuế phải đảm bảo công khai, dân chủ, kịp thời, tạo điều kiện tốt nhất
để quần chúng nhân dân tham gia ý kiến Đảm bảo công khai, dân chủ là yêu cầu quan trọng trong công tác thanh tra, vì thông qua đó phát huy được sức mạnh và vai trò của quần chúng nhân dân trong thanh tra thuế nhằm khắc phục những yếu kém, bất cập trong quản lý Nhà nước, ngăn chặn đúng lúc những hành vi tiêu cực, tránh những tổn thất nặng nề cho Nhà nước và nhân dân
+ Thanh tra thuế phải đảm bảo thực hiện đúng các luật thuế, ngăn ngừa, loại trừ các hành vi trốn, lậu thuế Đây là yêu cầu thiết yếu của công tác thanh tra thuế, đạt được yêu cầu này thì công tác thanh tra thuế mới làm tròn chức năng và nhiệm vụ của mình.19
19
Nguyễn Thị Liên, Giáo trình nghiệp vụ thuế, Nxb Tài chính 2008, tr.218
Trang 241.2.5 Phân loại thanh tra thuế
Phân loại theo thời gian
Với tiêu chí phân loại này thì thanh tra thuế được chia làm hai loại:
+ Thanh tra thuế theo chương trình, kế hoạch được tiến hành theo chương trình, kế
hoạch đã được phê duyệt Căn cứ vào nguồn lực hiện có, tình hình chấp hành pháp luật
thuế trên địa bàn và mục tiêu quản lý thuế, cơ quan thuế xây dựng kế hoạch thanh tra
và trình cấp thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra đã được
phê duyệt
+ Thanh tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, ca nhân có dấu
hiệu vi phạm pháp luật thuế, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do
cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao
Phân loại theo phạm vi
Với tiêu chí phân loại này thì thanh tra thuế được chia làm hai loại:
+ Thanh tra toàn phần: cơ quan chức năng tiến hành thanh tra toàn diện các mặt công
tác của một cơ quan thuế, một cá nhân hoặc toàn bộ quá trình kê khai nộp thuế với tất
cả các sắc thuế có liên quan của một đối tượng nộp thuế
+ Thanh tra từng phần: Hình thức này thường được áp dụng khi thanh tra một hoặc
một vài sắc thuế; một hoặc một số kỳ tính thuế hoặc một vài quy trình quản lý thuế
Phân loại theo địa điểm tiến hành thanh tra
+ Thanh tra tại cơ quan thuế
+ Thanh tra tại cơ sở của đối tượng thanh tra 20
1.2.6 Phân biệt giữa kiểm tra thuế và thanh tra thuế
Về mặt lý luận và thực tiễn, thanh tra thuế và kiểm tra thuế là hai hoạt động
không thể thiếu được của công tác lãnh đạo, quản lý của cơ quan thuế nhằm đảm bảo
pháp luật về thuế được thực thi đúng đắn và hiệu quả Trên thực tế, người ta thường
hay nhầm lẫn giữa khái niệm thanh tra thuế và kiểm tra thuế Do đó, cần phân biệt
điểm giống và khác nhau giữa hoạt động thanh tra thuế và kiểm tra thuế trong cơ quan
thuế
Thanh tra thuế cũng là một hoạt động kiểm tra nên thanh tra thuế và kiểm tra thuế
cũng có những điểm giống nhau:
20
Nguyễn Thị Liên, Giáo trình nghiệp vụ thuế, Nxb Tài chính, 2008, tr.222
Trang 25+ Một là, thanh tra thuế và kiểm tra thuế đều là một nội dung quan trọng của quản lý
thuế Thanh tra thuế và kiểm tra thuế đều có cùng một mục đích là phát hiện, ngăn ngừa, xử lí những vi phạm pháp luật thuế, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thuế, thúc đẩy người nộp thuế tự giác tuân thủ pháp luật thuế, qua đó kiến nghị hoàn thiện
cơ chế quản lí thuế, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế
+ Hai là, đối tượng của thanh tra thuế, kiểm tra thuế là người nộp thuế nói chung,
bao gồm tổ chức, cá nhân nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế
+ Ba là, thanh tra thuế, kiểm tra thuế đều có nội dung là kiểm tra việc chấp hành
pháp luật thuế của người nộp thuế
+ Bốn là, về phương pháp, thanh tra thuế, kiểm tra thuế đều phải xem xét hoạt
động thực tế của đối tượng thanh tra để phát hiện, phân tích, đánh giá thực trạng đối tượng thanh tra một cách chính xác, khách quan, xử lí vi phạm, chỉ ra nguyên nhân để người nộp thuế có biện pháp khắc phục
Có thể nói giữa hoạt động thanh tra và kiểm tra có mối quan hệ chặt chẽ, gần gũi
và có nhiều điểm giao thoa nhau, có mối quan hệ đan chéo nhau.Tuy nhiên với tư cách
là một hoạt động độc lập, thanh tra có nhiều điểm khác biệt với kiểm tra:
Tuy nhiên, giữa thanh tra thuế và kiểm tra thuế cũng có những điểm khác nhau sau:
+ Một là, chủ thể của thanh tra thuế là bộ phận chuyên trách về công tác thanh tra
thuộc CQT, còn chủ thể của kiểm tra thuế thường đa dạng hơn so với chủ thể của thanh tra thuế, bao gồm bộ phận thanh tra thuế, bộ phận kiểm tra thuế và các bộ phận chức năng khác
+ Hai là, về phạm vi hoạt động: kiểm tra thuế thường có phạm vi rộng, diễn ra liên
tục, ở nhiều khâu với hình thức đa dạng, còn phạm vi hoạt động của thanh tra thuế thường hẹp hơn Thanh tra thuế thường có sự chọn lọc, đôi khi thông qua kiểm tra thuế
có thể thấy những dấu hiệu phức tạp mà nếu cứ tiến hành kiểm tra thuế thì không làm
rõ được, bởi vậy, cần chọn ra những nội dung nào đó để thanh tra thuế
+ Ba là, thanh tra thuế thường kiểm tra những vấn đề đã xảy ra ở trong quá khứ,
khi các nghiệp vụ kinh tế đã phát sinh, hoàn thành, còn nội dung của kiểm tra thuế có thể là những vấn đề hiện tại, đang xảy ra Tất nhiên, nội dung kiểm tra bao gồm cả những nội dung cụ thể của kiểm tra trước, kiểm tra trong và kiểm tra sau khi các hoạt động kinh tế phát sinh
Trang 26+ Bốn là, thời gian để tiến hành một cuộc thanh tra thuế thường dài hơn so với thời
gian một cuộc kiểm tra thuế do tính chất các vụ việc tiến hành của thanh tra thuế phức tạp, tinh vi
+ Năm là, về hình thức tổ chức: thanh tra thuế bắt buộc phải thành lập đoàn thanh
tra, phải có quyết định thanh tra còn kiểm tra thuế đôi khi không thành lập đoàn kiểm tra và không cần có quyết định kiểm tra
+ Sáu là, về trình độ nghiệp vụ: thanh tra thuế đòi hỏi cán bộ thuế phải có nghiệp vụ
giỏi, am hiểu tình hình kinh tế- xã hội, có khả năng chuyên sâu vào lĩnh vực thanh tra hướng đến do nội dung thanh tra thuế thường là những vấn đề phức tạp, bản chất vấn
đề thường được che giấu có chủ ý nên khó nhận biết Còn nội dung của hoạt động kiểm tra thuế ít phức tạp hơn nên không nhất thiết đòi hỏi trình độ nghiệp vụ như thanh tra thuế. 21
Từ những phân tích trên, có thể rút ra các nhận xét sau: Thanh tra thuế và kiểm tra thuế mặc dù có sự phân biệt nhưng chỉ là tương đối Việc phân biệt thanh tra thuế và kiểm tra thuế không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn trong việc tổ chức, chỉ đạo, điều hành để tránh sự chồng chéo giữa thanh tra và kiểm tra, giảm phiền hà cho các tổ chức cá nhân là đối tượng thanh tra và kiểm tra, nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra
Tóm lại, thanh tra thuế và kiểm tra thuế là hai khái niệm khác nhau nhưng có liên
hệ qua lại, gắn bó và đều là những hoạt động không thể thiếu trong công tác quản lý thuế
21
Nguyễn Xuân Thành, Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra người nộp thuế ở Việt nam trong giai đoạn hiện
nay, 2013, tr.23
Trang 27CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THANH TRA THUẾ
2.1 Tổ chức bộ máy Thanh tra thuế
Đội Thanh tra
Các phòng thanh tra
Vụ thanh tra Tổng Cục thuế
Thanh tra Bộ Tài chính
Trang 28Luật Quản lý thuế đã thực sự chuyển từ cơ chế quản lý đối tượng sang cơ chế quản lý theo chức năng Theo đó, công tác thanh tra thuế cũng thay đổi cả về tổ chức,
cơ chế hoạt động và đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra
Theo Quyết định số 115/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 28/09/2009, Quyết định số 108/QĐ-BTC ngày 14/01/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, quyết định số 503/QĐ-TCT ngày 29/03/2010 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của hệ thống thanh tra, kiểm tra thuế các cấp, cơ cấu tổ chức của hệ thống thanh tra thuế bao gồm ba cấp từ trung ương đến địa phương gồm Vụ thanh tra Tổng cục Thuế, các phòng thanh tra thuộc các Cục Thuế và Đội thanh tra thuộc Chi Cục thuế
Bộ phận thanh tra thuộc Tổng cục Thuế (Vụ thanh tra): là đơn vị thuộc Tổng
cục Thuế, thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành trong phạm vi quản lý Nhà nước của Tổng cục Thuế, có nhiệm vụ chủ yếu là: thực hiện chức năng thanh tra thuế, kiểm tra thuế đối với người nộp thuế; thanh tra giải quyết tố cáo về hành vi trốn thuế, gian lận thuế của người nộp thuế trong phạm vi quản lý Nhà nước của Tổng cục Thuế
Bộ phận thanh tra Cục Thuế (các phòng thanh tra thuế): là đơn vị thuộc Cục
Thuế, thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuế trong phạm vi quản lý Nhà nước địa phương của Cục Thuế Phòng thanh tra thuế chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Cục trưởng Cục Thuế và sự chỉ đạo về công tác nghiệp vụ thanh tra của Thanh tra Tổng cục Thuế Phòng thanh tra thuế có nhiệm vụ: giúp Cục trưởng Cục Thuế triển khai thực hiện công tác thanh tra thuế trong việc chấp hành pháp luật thuế; giải quyết
tố cáo về hành vi trốn lậu thuế, gian lận thuế liên quan đến người nộp thuế thuộc phạm
vi Cục Thuế quản lý
Bộ phận thanh tra Chi cục thuế (Đội thanh tra thuế): là đơn vị thuộc Chi cục
thuế, thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành, có nhiệm vụ chủ yếu là: Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc kê khai thuế, hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, nộp thuế, quyết toán thuế và chấp hành chính sách, pháp luật thuế đối với người nộp thuế và các tổ chức, cá nhân được uỷ nhiệm thu thuế theo phân cấp và thẩm quyền quản lý của Chi cục trưởng Chi cục Thuế
Tổ chức bộ máy thanh tra thuế tùy theo tình hình thực tế tại mỗi địa phương (chủ yếu tại các Cục Thuế) Nếu như trước đây Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh được thành lập 03 phòng thanh tra thuế thì nay được thành lập không quá 04 phòng thanh tra thuế Cục Thuế thành phố Hà Nội được phép thành lập 04 phòng thanh tra Đối với các Cục Thuế địa phương khác, số lượng phòng thanh tra được phép thành lập phụ thuộc vào các ngưỡng mới như số thu hàng năm hoặc số lượng NNT trực thuộc sự
Trang 29quản lý của Cục Thuế thay cho các ngưỡng số biên chế khoán hoặc ngưỡng số thu hàng năm trước đây Cụ thể, đối với Cục Thuế tỉnh, thành phố khác (trừ Hà Nội và TP
Hồ Chí Minh) có số thu hàng năm từ trên 3.000 tỷ đồng trở lên (trừ thu từ dầu thô và tiền thu về đất), hoặc quản lý thuế từ 2.000 doanh nghiệp trở lên được phép thành lập không quá 02 phòng thanh tra thuế Cục Thuế tỉnh, thành phố loại vừa có số thu hàng năm từ 1.000 tỷ đồng đến dưới 3.000 tỷ đồng (trừ thu từ dầu thô và tiền thu về đất), hoặc quản lý thuế từ 2.000 doanh nghiệp trở xuống) được phép tổ chức không quá 01 phòng thanh tra thuế, riêng đối với Cục Thuế các tỉnh miền núi, trung du, đồng bằng
có quy mô nhỏ (có số thu hàng năm dưới 1.000 tỷ đồng trừ tiền thu về đất và dầu thô),
có thể sắp xếp tổ chức phòng kiểm tra thuế phù hợp với tuỳ thực tế nhiệm vụ quản lý thuế tại địa phương.23
Theo Luật Thanh tra chuyên ngành, Vụ Thanh tra Tổng cục Thuế được Tổng cục trưởng chỉ đạo, thanh tra Cục Thuế địa phương do Cục trưởng Cục Thuế chỉ đạo, thanh tra thuế các Chi cục Thuế sẽ do chi cục trưởng chỉ đạo Thủ trưởng CQT trực tiếp chỉ đạo hoạt động thanh tra thuế cấp mình quản lý, lập và xây dựng tổ chức thanh tra, bố trí lực lượng cán bộ chỉ đạo hoạt động thanh tra, chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý và tổ chức thanh tra cấp trên về công tác thanh tra Xây dựng Chương trình kế hoạch thanh tra, ra quyết định thanh tra, kết luận thanh tra và tổng hợp kết quả thanh tra cấp trực tiếp quản lý
2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thanh tra thuế
2.2.1 Thanh tra Tổng cục thuế
- Thanh tra Tổng cục Thuế có Chánh Thanh tra và một số Phó Chánh thanh tra; làm việc theo tổ chức phòng kết hợp với chế độ chuyên viên Thanh tra viên24 thuộc Thanh tra Thuế là công chức Nhà nước, được bổ nhiệm vào ngạch thanh tra để thực hiện nhiệm
vụ thanh tra trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng cục Thuế
Tiêu chuẩn chung của thanh tra viên:
-Trung thành với tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có
ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung thực, công minh, khách quan
- Tốt nghiệp đại học, có kiến thức quản lý nhà nước và am hiểu pháp luật, đối với thanh tra viên chuyên ngành còn có kiến thức chuyên môn về chuyên ngành đó
- Có văn bằng hoặc chứng chỉ về nghiệp vụ thanh tra
- Có ít nhất 2 năm làm công tác thanh tra (không kể thời gian tập sự) , trừ trường hợp là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Công an nhân dân công tác ở cơ quan, tổ chức, đơn vị khác từ 5 năm trở lên chuyển lên thanh tra nhà nước
Trang 30 Cơ cấu tổ chức
Quyết định số 115/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 28/09/2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuế trực thuộc Bộ Tài chính quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Tổng cục Thuế: “Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm pháp luật thuế; phòng, chống tham
TỔ CHỨC THEO SỰ NGHIỆP
TỔ CHỨC THEO CHỨC NĂNG
- Vụ Chính sách;
- Vụ Pháp chế;
- Vụ Dự toán thu thuế;
- Vụ Kê khai và Kế toán thuế;
- Cục Công nghệ thông tin;
- Trường Nghiệp vụ thuế;
- Tạp chí Thuế
CƠ CẤU TỔ CHỨC TỔNG CỤC THUẾ
Trang 31nhũng, tiêu cực và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc sử dụng tài sản, kinh phí được giao theo quy định của pháp luật”.25
Từ những nhiệm vụ và quyền hạn của Tổng cục thuế ta có thể thấy được Tổng Cục thuế thanh tra thuế đối với trường hợp là thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, người nộp thuế, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại với cơ quan quản lý thuế hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc xem xét lại quyết định của cơ quan quản lý thuế, hành
vi hành chính của công chức quản lý thuế khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành
vi đó trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình, để từ đó Tổng cục thuế cần phải kiểm tra, rà soát, giải quyết các vụ khiếu nại, tố cáo diễn ra phức tạp, xử
lý theo thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật, đưa công tác tiếp dân, nhận và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của công dân tại cơ quan thuế được thực hiện nhanh chống, chính xác, khách quan, đảm bảo đúng trình tự thủ tục và đúng quy trình của pháp luật Ngoài ra, Tổng cục thuế còn triển khai thanh tra
về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, các hành vi tham nhũng có thể diền ra trên tất
cả các lĩnh vực đặc biệt là lĩnh vực quản lý thuế Vì vậy, công tác thanh tra của cơ quan có thẩm quyền là một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát hiện những vụ việc tham nhũng, hình thức thanh tra cần phải có trọng tâm như trường hợp thanh tra đột xuất phải có những dấu hiệu nhất định, hay thanh tra thường xuyên được tiến hành theo chương trình, kế hoạch, và thường hay phát sinh những những hành vi tham nhũng Từ vào từng vụ việc cụ thể, căn cứ vào tính chất và mức độ mà có thể có những biện pháp để xử lý khác nhau
2.2.2 Phòng thanh tra thuế thuộc Cục thuế
Phòng Thanh tra thuế chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Cục trưởng Cục Thuế
và sự chỉ đạo về công tác nghiệp vụ thanh tra của Thanh tra Tổng cục thuế
- Phòng thanh tra thuế thuộc Cục thuế có Trưởng Phòng thanh tra và các Phó Phòng thanh tra, cùng với chuyên viên chính (hoặc/và kiểm soát viên chính), chuyên viên (hoặc/và kiểm soát viên) thuộc biên chế của Phòng thanh tra thuế
25
Quyết định số 115/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 28/09/2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuế trực thuộc Bộ Tài chính quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Tổng cục Thuế, điều 2, khoản 18
Trang 32 Cơ cấu tổ chức
Cục Thuế thành phố Hà Nội và Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh có không quá
06 Phòng Kiểm tra thuế; 04 Phòng Thanh tra thuế, trong đó có 01 Phòng Thanh tra thuế đối với doanh nghiệp lớn doanh nghiệp có tính chất đặc thù, có phạm vi kinh doanh liên quan đến nhiều địa bàn tỉnh, thành phố
CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY CỤC THUẾ
Cục Thuế các tỉnh, thành phố khác
a) Phòng Tuyên truyền - Hỗ trợ người nộp thuế;
b) Phòng Kê khai và Kế toán thuế; c) Phòng Quản lý nợ và Cưỡng chế
nợ thuế;
d) Một số Phòng Kiểm tra thuế;
đ) Một số Phòng Thanh tra thuế;
e) Phòng quản lý thuế thu nhập cá nhân;
g) Phòng Tổng hợp - Nghiệp vụ -
Dự toán h) Phòng Kiểm tra nội bộ;
i) Phòng Tổ chức cán bộ;
k) Phòng Hành chính - Quản trị - Tài vụ - ấn chỉ;
d) Một số phòng Kiểm tra thuế;
đ) Một số phòng Thanh tra thuế;
e) Phòng Quản lý thuế thu nhập cá
Trang 33Quy định về cơ cấu, số lượng Phòng Kiểm tra thuế, Phòng Thanh tra thuế như sau:
- Cục Thuế tỉnh, thành phố có số thu hàng năm từ 3.000 tỷ đồng trở lên trừ thu từ dầu thô và tiền thu về đất hoặc quản lý thuế trên 2.000 doanh nghiệp, được tổ chức không quá 03 Phòng Kiểm tra thuế và 02 Phòng Thanh tra thuế, trong đó có 01 Phòng Thanh tra thuế đối với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có tính chất đặc thù
- Cục Thuế tỉnh, thành phố có số thu hàng năm từ 1.000 tỷ đồng đến dưới 3.000
tỷ đồng trừ thu từ dầu thô và tiền thu về đất, hoặc quản lý thuế từ 2.000 doanh nghiệp trở xuống, được tổ chức không quá 02 Phòng Kiểm tra thuế và 01 Phòng Thanh tra thuế
Riêng đối với Cục Thuế các tỉnh miền núi, trung du, đồng bằng có quy mô nhỏ (có số thu hàng năm trừ tiền thu về đất và dầu thô dưới 1.000 tỷ đồng), tuỳ theo thực tế nhiệm vụ quản lý thuế tại địa phương, số lượng phòng có thể ít hơn so với quy định tại điểm 1.2 khoản 1 Điều này nhưng vẫn phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các chức năng quản lý chủ yếu: tuyên truyền - hỗ trợ, xử lý tờ khai, quản lý thu nợ, thanh tra, kiểm tra
Quyết định số 108/QĐ-BTC ngày 14/01/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thuế trực thuộc Tổng cục Thuế: “Trực tiếp thanh tra, giám sát việc kê khai thuế, hoàn thuế, miễn, giảm thuế, nộp thuế, quyết toán thuế và chấp hành chính sách, pháp luật về thuế đối với người nộp thuế, tổ chức và cá nhân quản lý thu thuế, tổ chức được uỷ nhiệm thu thuế thuộc thẩm quyền quản lý của Cục trưởng Cục Thuế”.26
Theo đó, cho thấy Cục thuế thanh tra trong trường hợp là Cục thuế sẽ có trách nhiệm trực tiếp thanh tra, giám sát về việc người nộp thuế khai sai dẫn đến làm thiếu
số tiền phải nộp hoặc không khai thuế, hoàn thuế là việc Ngân sách nhà nước trả lại cho cơ sở kinh doanh hoặc tổ chức, cá nhân mua hàng hóa, dịch vụ số tiền thuế đầu vào đã trả khi mua hàng hóa, dịch vụ mà cơ sở kinh doanh còn chưa được khấu trừ trong kỳ tính thuế hoặc hàng hóa, dịch vụ trong trường hợp tiêu dùng của tổ chức, cá nhân đó không thuộc diện chịu thuế, để cơ quan thanh tra xem xét các trường hợp nào
là được hoàn thuế, điều kiện để được hoàn…có thực hiện đúng với quy định của pháp luật hay không và các vấn đề tương tự như miễn, giảm thuế, nộp thuế, quyết toán thuế,
và chấp hành chính sách, pháp luật về thuế đối với người nộp thuế
26
Quyết định số 108/QĐ-BTC ngày 14/01/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thuế trực thuộc Tổng cục Thuế, điều 2, khoản 9
Trang 342.2.3 Đội thanh tra thuộc Chi Cục thuế
Cơ cấu tổ chức
Căn cứ quy định mô hình tổ chức bộ máy tại khoản 1, khoản 2 Điều này và tình hình nhiệm vụ quản lý thuế của từng Chi cục Thuế, Cục trưởng Cục Thuế xem xét, quyết định cụ thể số lượng các Đội Kiểm tra, Đội thuế liên xã, phường hoặc ghép các
bộ phận công tác giữa các Đội cho phù hợp, đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ quản lý thuế được giao
CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY CHI CỤC
c) Một số Đội Kiểm tra thuế;
d) Đội Quản lý nợ và Cưỡng chế
f) Đội Trước bạ và thu khác;
g) Đội Quản lý thuế thu nhập cá nhân;
h) Một số Đội thuế liên xã, phường
Chi cục Thuế thực hiện thu
c) Đội Thanh tra thuế;
d) Một số Đội Kiểm tra thuế;
đ) Đội Quản lý nợ và Cưỡng
i) Đội Trước bạ và thu khác;
k) Một số Đội thuế liên xã
phường
Trang 35Đối với các Chi cục Thuế có quy mô số thu từ 1000 tỷ đồng/năm trở lên, quản lý
từ 5000 doanh nghiệp trở lên, Cục trưởng Cục Thuế xem xét, quyết định cho phù hợp với thực tế quản lý:
Tách Đội Kê khai - Kế toán thuế và Tin học thành Đội Kê khai - Kế toán thuế và Đội Tin học; tách Đội Tổng hợp - Nghiệp vụ - Dự toán thành Đội Pháp chế và Đội Nghiệp vụ - Dự toán; tách Đội Hành chính – Nhân sự - Tài vụ - Ấn chỉ thành Đội Hành chính – Nhân sự - Tài vụ và Đội Quản lý Ấn chỉ
Đối với Chi cục Thuế miền núi, hải đảo có quy mô nhỏ, Cục trưởng Cục Thuế xem xét, quyết định số Đội ít hơn so với quy định nêu trên nhưng vẫn phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các chức năng quản lý chủ yếu: tuyên truyền - hỗ trợ, xử lý tờ khai, quản lý thu nợ, thanh tra, kiểm tra
Quyết định số 503/QĐ-TCT ngày 29/03/2010 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Chi cục Thuế trực thuộc Cục Thuế quy định: “Thanh tra, giám sát việc kê khai thuế, hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, nộp thuế, quyết toán thuế và chấp hành chính sách, pháp luật thuế đối với người nộp thuế và các tổ chức, cá nhân được uỷ nhiệm thu thuế theo phân cấp và thẩm quyền quản lý của Chi Cục trưởng Chi cục Thuế”.27
Đội thanh tra thuộc Chi cục thuế cũng thanh tra thuế theo các trường hợp như Cục thuế nhưng Thanh tra Chi cục Thuế thực hiện thanh tra người nộp thuế theo địa bàn quản lý
Nhìn chung thanh tra thuế đã phân định rõ nhiệm vụ của cơ quan thanh tra thuế các cấp theo hướng: Thanh tra Tổng cục Thuế tập trung nghiên cứu hoàn thiện cơ chế, quy trình thanh tra, hỗ trợ thanh tra thuế tại các Cục Thuế có số lượng người nộp thuế lớn và trực tiếp thanh tra những người nộp thuế lớn, hoạt động kinh doanh phức tạp, có chi nhánh trên toàn quốc hoặc có các hoạt động giao dịch quốc tế Thanh tra Cục Thuế thực hiện thanh tra người nộp thuế theo địa bàn quản lý và hướng dẫn, chỉ đạo và hổ trợ Thanh tra Chi cục Thuế tổ chức hoạt động kiểm tra trên địa bàn, cuối cùng, Thanh tra Chi cục Thuế thực hiện thanh tra người nộp thuế theo địa bàn quản lý
Như vậy, các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ phận thanh tra thuế được quy định cụ thể ở các cấp từ Tổng Cục, Cục, đến Chi cục Thuế để đảm bảo chức năng thanh tra được thực hiện thống nhất trong toàn ngành thuế Nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra chuyên ngành Thuế chỉ được giao cho Cơ quan thuế các cấp và thủ
27
Quyết định số 503/QĐ-TCT ngày 29/03/2010 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Chi cục Thuế trực thuộc Cục Thuế, điều 2, khoản 7
Trang 36trưởng Cơ quan thuế các cấp Chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của thanh tra thuế được gắn với thẩm quyền trong lĩnh vực thanh tra của thủ trưởng Cơ quan thuế các cấp Trong mỗi giai đoạn, chức năng, nhiệm vụ cụ thể của thanh tra thuế có thể khác nhau nhưng đều xoay quanh những nhiệm vụ, quyền hạn chủ yếu của bộ máy thanh tra thuế Về cơ bản, nhiệm vụ và quyền hạn của thanh tra thuế các cấp cũng có những điểm như thanh tra chuyên ngành, đó là: xây dựng kế hoạch thanh tra trình thủ trưởng
cơ quan phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch đó; thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn-kỹ thuật, quy tắc quản lý ngành, lĩnh vực; thanh tra những vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật khi được cơ quan thanh tra cấp trên giao, thanh tra những vụ việc khác do cấp trên giao Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra của mình
2.5 Các trường hợp phải Thanh tra thuế
Theo quy định của Luật quản lý thuế năm 2006 được sửa đổi, bổ sung năm 2012
có ghi nhận các trường hợp phải thanh tra thuế như sau:
2.5.1 Đối với doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng
Kinh doanh đa dạng đó là một chiến lược phát triển của doanh nghiệp , trong đó một tổ chức có thể mở rộng hoạt động bằng cách là kinh doanh nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau Phạm vi kinh doanh rộng thì chưa có một căn cứ nào để xác định tiêu chí đánh giá mức độ hoạt động của doanh nghiệp có phạm vi rộng Tuy nhiên, chỉ có tiêu chí để xác định qui mô doanh nghiệp la dựa vào vốn, lao động, doanh thu và nộp vào Ngân sách Nhà nước Vậy quy mô và phạm vi có thể được hiểu là có đồng nghĩa với nhau hay không ? Nếu là đồng nghĩa thì tại sao Luật Quản lý thuế lại không quy định cụ thể từ quy mô để ta có thể dễ dàng xác định hơn, nhưng lại dùng từ là phạm vi kinh doanh rộng mà không giải thích rõ ràng nghĩa của cụm từ này Họa chăng, ta chỉ đánh giá phạm vi kinh doanh rộng là dựa vào cơ sở vật chất bên ngoài và phạm vi hoat động …
Nhưng trên phạm vi cả nước số lượng doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh
đa dạng và phạm vi kinh doanh rộng hiện đang tồn tại và hoạt động với số lượng lớn Thế nên cơ quan có chức năng Thanh tra cần phải phối hợp với cơ quan đăng ký kinh doanh và các ngành có liên quan để thường xuyên kiểm tra, rà soát số lượng doanh nghiệp đang hoạt động, phát hiện kịp thời các trường hợp thực tế có kinh doanh nhưng không đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế để đưa vào diện quản lý thuế Tăng cường kiểm soát chặt chẽ các nguồn thu; tập trung rà soát việc kê khaidoanh thu và chi phí không trung thực, thành lập doanh nghiệp để kinh doanh trốn thuế, cố tình dây
Trang 37dưa, chậm nộp thuế ; phát hiện các trường hợp kê khai không đúng, không đủ số thuế phải nộp để có biện pháp chấn chỉnh kịp thời 28
Qua đó có biện pháp xử lý đối với từng trường hợp vi phạm, ngăn chặn tình trạng doanh nghiệp kinh doanh nhưng không làm tròn nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước
2.5.2 Khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế
Vi phạm pháp luật về thuế là hành vi làm trái các quy định của pháp luật về thuế,
do tổ chức, cá nhân thực hiện một cách vô ý hoặc cố ý, gây thiệt hại đến trật tự công cộng và phải chịu trách nhiệm pháp lí về hành vi đó của mình
Có thể nhận thấy hành vi vi phạm pháp luật về thuế qua những hành vi được quy định tại điều 103 của Luật quản lý thuế như sau:
- Vi phạm các thủ tục thuế
- Chậm nộp tiền thuế
- Khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn
- Trốn thuế, gian lận thuế
Vi phạm các thủ tục thuế (Điều 105 luật Quản lý thuế):
- Nộp hồ sơ đăng ký thuế sau ngày hết hạn nộp hồ sơ đăng ký thuế
- Nộp hồ sơ khai thuế trong khoảng thời gian chín mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định hoặc ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định
- Nộp hồ sơ khai thuế trong khoảng thời gian từ ngày hết hạn phải nộp tờ khai hải quan đến trước ngày xử lý hàng hoá không có người nhận theo quy định của Luật hải quan đối với trường hợp theo quy định
- Khai không đầy đủ các nội dung trong hồ sơ thuế, trừ trường hợp người nộp thuế khai bổ sung trong thời hạn quy định
- Vi phạm các quy định về cung cấp thông tin liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế
- Vi phạm các quy định về chấp hành quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
28
Xuân Hùng, Thanh Hóa, Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu thuế,
http://www.baothanhhoa.vn/vn/kinh-te/n119903/Tang-cuong-cong-tac-thanh-tra,-kiem-tra-chong-that-thu-thue , [truy cập ngày 26-8-2014]
Trang 38 Chậm nộp tiền thuế (Điều 106 luật Quản lý thuế):
Người nộp thuế đã không thực hiện hành vi nộp thuế đúng với thời gian theo quy định của pháp luật: thời hạn do pháp luật quy định, thời hạn gia hạn nộp thuế, thời hạn ghi trong thông báo của cơ quan quản lý thuế, thời hạn trong quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế thì phải nộp đủ tiền thuế và bị xử phạt 0,05% mỗi ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp
Người nộp thuế khai sai dẫn đến làm thiếu số tiền phải nộp hoặc không khai thuế nếu tự giác khắc phục hậu quả bằng cách nộp đủ số tiền thuế phải nộp trước khi cơ quan có thẩm quyền phát hiện thì bị xử phạt chậm nộp thuế theo quy định tại Điều này, nhưng không bị xử phạt vi phạm thủ tục hành chính thuế, thiếu thuế, trốn thuế
Khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được
hoàn (Điều 107 luật Quản lý thuế):
Người nộp thuế đã phản ánh đầy đủ, trung thực các nghiệp vụ kinh tế làm phát sinh nghĩa vụ thuế trên sổ kế toán, hoá đơn, chứng từ nhưng khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn hoặc khai sai (nhưng không thuộc các trường hợp quy định là hành vi trốn thuế, gian lận thuế) dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn thì phải nộp đủ số tiền thuế khai thiếu, nộp lại số tiền thuế được hoàn cao hơn và bị xử phạt 10% số tiền thuế khai thiếu, số tiền thuế được hoàn cao hơn và phạt tiền thuế chậm nộp trên số tiền thuế thiếu hoặc số tiền thuế được hoàn cao hơn
Trốn thuế, gian lận thuế (Điều 108 luật Quản lý thuế):
- Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau chín mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định hoặc ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định
- Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp
- Không xuất hoá đơn khi bán hàng hoá, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hoá đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hoá, dịch vụ đã bán
- Sử dụng hoá đơn, chứng từ bất hợp pháp để hạch toán hàng hoá, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn
- Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn
Trang 39- Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan trong thời gian sáu mươi ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan
- Cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
- Cấu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hoá nhằm mục đích trốn thuế
- Sử dụng hàng hoá được miễn thuế không đúng với mục đích quy định mà không khai thuế
Để xác định thời điểm trốn thuế được coi là hoàn thành, phải thỏa mãn cả 2 điều kiện cần và đủ sau:
- Người nộp thuế đã thực hiện một hoặc nhiều trong chín hành vi vi phạm đã được liệt kê ở trên
- Đã hết thời hạn nộp hồ sơ kê khai thuế của kỳ tính thuế hoặc đã có quyết định hoàn thuế của cơ quan có thẩm quyền ra quyết định hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế
2.5.3 Để giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp hoặc Bộ trưởng Bộ Tài chính
Căn cứ theo Điều 116 của Luật Quản Lý Thuế số 78/2006/QH11
- Người nộp thuế, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại với cơ quan quản lý thuế hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc xem xét lại quyết định của cơ quan quản lý thuế, hành vi hành chính của công chức quản lý thuế khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình
- Công dân có quyền tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật về thuế của người nộp thuế, công chức quản lý thuế hoặc tổ chức, cá nhân khác
- Thẩm quyền, thủ tục, thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo Thời hạn, thủ tục khiếu nại, tố cáo, giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo
Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước Song trên thực tế, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; tình hình khiếu nại, tố cáo cho đến nay đã có chiều hướng giảm song chưa vững chắc Không ít vụ việc khiếu nại, tố cáo vẫn diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội Vậy nên, cơ quan thanh tra đã đóng vai trò tích cực và có hiệu quả thông qua việc xác
Trang 40minh, kết luận, kiến nghị Thủ trưởng cơ quan nhà nước giải quyết khiếu nại, tố cáo; kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc giải quyết khiếu nại, tố cáo ở các cấp, các ngành; tham gia chỉ đạo giải quyết các vụ việc khiếu kiện phức tạp, bức xúc Tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân thực hiện đầy đủ quyền khiếu nại, tố cáo của mình và tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, góp phần quản lý xã hội, bảo vệ quyền
và lợi ích hơp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân
Qua các trường hợp phải thanh tra thuế trên cho thấy vai trò của công tác thanh tra thuế ngày trở nên quan trọng Vì hoạt động thanh tra thuế trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế Theo đó, vừa phòng ngừa các hành vi phạm pháp luật thuế có thể xảy ra, vừa sử dụng các biện pháp chế tài bằng mệnh lệnh hoặc các quyết định hành chính nhằm xử
lý và răn đe hành vi vi phạm pháp luật của người nộp thuế
Việc kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật thuế là biện pháp hữu hiệu nhất đối với việc phòng ngừa các loại tội phạm có thể phát sinh trong việc thực hiện pháp luật thuế
2.5.4 Chia tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản, cổ phần hoá doanh nghiệp
Theo Luật Quản lý thuế năm 2006 quy định 3 trường hợp phải thanh tra thuế là đối với doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng, khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế, để giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp hoặc Bộ trưởng Bộ Tài chính Tuy nhiên, Thông tư số 156/2013/TT-BTC tại khoản 1- Điều 65 cũng đã ghi nhận thêm một trường hợp phải thanh tra thuế đối với doanh nghiệp bị chia tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản, cổ phần hoá
Hiện nay, việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản, cổ phần hóa công
ty là một xu hướng phổ biến trong đời sống doanh nghiệp Về thủ tục hành chính với
cơ quan nhà nước ngoài việc thay đổi đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh thì vấn đề thực hiện các thủ tục liên quan đến thuế và các nghĩa vụ về thuế là rất quan trong
Đối với Công ty bị chia phải làm thủ tục đóng mã số thuế với cơ quan thuế khi có quyết định chia công ty, các doanh nghiệp mới được chia phải thực hiện kê khai đăng
ký thuế với cơ quan thuế kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Đối với Công ty bị tách phải thực hiện thủ tục điều chỉnh đăng ký thuế với cơ quan thuế khi có quyết định tách doanh nghiệp, cơ quan Thuế phải thực hiện thủ tục