ước PCT cũng như việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài đáp ứng các điều kiện đểđược bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp có thể nộp đơn đăng ký xác lập quyền sởhữu công nghiệp đối với sáng chế
Trang 1BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP
THỦ TỤC ĐĂNG KÝ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ THEO HIỆP ƯỚC HỢP TÁC
SÁNG CHẾ - PCT
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện
Ths Nguyễn Phan Khôi Lê Thị Ngọc Như
MSSV: 5115740 Lớp Luật Thương Mại 1
Khóa 37
Trang 2nghiệp đối với sáng chế theo Hiệp ước hợp tác sáng chế - PCT” Người viết đã nhận
được rất nhiều sự giúp đỡ từ Thầy Cô, bạn bè tại trường Qua đây, Người viết xin chân thành gửi lời cảm ơn đến quý Thầy Cô cùng các bạn Đặc biệt, người viết xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thạc sĩ Nguyễn Phan Khôi – người đã dành nhiều thời gian và tâm huyết tận tình hướng dẫn giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Với tất cả sự nỗ lực và cố gắng để tìm hiểu, nghiên cứu, người viết đã hoàn thành đề tài luận văn của mình nhưng do kiến thức còn hạn chế nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến tận tình và quý báu của quý Thầy Cô
để luận văn được hoàn thiện hơn
Trân trọng cảm ơn!
Trang 3
Ngày…tháng…năm 2014
Trang 4
Ngày…tháng…năm 2014 GVPB
Trang 5năm 1984Công ước Paris Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp năm
1883 sửa đổi năm 1967Hiệp định TRIPS Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại
của quyền sở hữu trí tuệ năm 1994Luật SHTT Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm
2009)
Trang 6MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU Trang
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu đề tài 2
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ VÀ HIỆP ƯỚC HỢP TÁC SÁNG CHẾ - PCT 4
1.1 Khái quát chung về xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế 4
1.1.1 Khái niệm sáng chế 4
1.1.1.1 Điều kiện chung đối với sáng chế được bảo hộ 5
1.1.1.2 Đối tượng không được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế 7
1.1.2 Xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế 8
1.1.2.1 Khái niệm xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế 8
1.1.2.2 Thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế 9
1.1.2.3 Đặc điểm xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế 10
1.1.2.4 Chủ đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế 10 1.1.2.5 Cơ quan xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế 10
1.1.2.6 Xu hướng phát triển của hệ thống xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế 11
1.1.3 Ý nghĩa của việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế 13
1.2 Hiệp ước hợp tác sáng chế - PCT 13
1.2.1 Lịch sử của Hiệp ước PCT 13
1.2.2 Mục tiêu của Hiệp ước PCT 15
1.2.3 Mối quan hệ giữa Hiệp ước PCT với các Điều ước quốc tế khác 17
Chương 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ VỀ ĐĂNG KÝ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ THEO HIỆP ƯỚC HỢP TÁC SÁNG CHẾ - PCT 19
2.1 Các nguyên tắc cơ bản 19
Trang 72.1.1 Nguyên tắc đối xử quốc gia 19
2.1.2 Nguyên tắc tối huệ quốc 21
2.2 Chủ thể có quyền nộp đơn 21
2.3 Quyền ưu tiên 22
2.3.1 Đơn quốc tế về sáng chế 22
2.3.1.1 Tờ khai xin bảo hộ sáng chế 23
2.3.1.2 Bản mô tả sáng chế 24
2.3.1.3 Yêu cầu bảo hộ sáng chế 24
2.3.1.4 Bản vẽ sáng chế 24
2.1.3.5 Bản tóm tắt sáng chế 24
2.3.2 Ngày nộp đơn và ngày ưu tiên 26
2.3.3 Yêu cầu hưởng quyền ưu tiên 27
2.4 Trình tự thủ tục đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế theo hiệp ước PCT 31
2.4.1 Giai đoạn quốc tế 31
2.4.1.1 Nộp đơn quốc tế 31
2.4.1.2 Tra cứu quốc tế 33
2.4.1.3 Công bố quốc tế 35
2.4.1.4 Xét nghiệm sơ bộ quốc tế 36
2.4.2 Giai đoạn quốc gia 37
2.5 Đăng ký sáng chế theo Hiệp ước PCT có chỉ định hoặc có chọn Việt Nam 41 2.5.1 Yêu cầu của việc nộp đơn đăng ký sáng chế có chỉ định hoặc có chọn Việt Nam 41
2.5.2 Cách thức nộp đơn đăng ký sáng chế có chỉ định hoặc có chọn Việt Nam 41 2.5.3 Quy trình đăng ký sáng chế theo Hiệp ước PCT có chỉ định hoặc có chọn Việt Nam 41
2.5.3.1 Đơn quốc tế có chỉ định Việt Nam 41
2.5.3.2 Đơn quốc tế có chọn Việt Nam 42
2.5.3.3 Yêu cầu hưởng quyền ưu tiên 42
2.5.3.4 Xử lý đơn trong giai đoạn quốc gia 43
Trang 82.6.1 Yêu cầu của việc nộp đơn đăng ký sáng chế có nguồn gốc Việt Nam 45
2.6.2 Cách thức nộp đơn đăng ký sáng chế có nguồn gốc Việt Nam 45
2.6.3 Quy trình đăng ký sáng chế theo Hiệp ước PCT có nguồn gốc Việt Nam 45 2.6.4 Thành phần, số lượng hồ sơ 46
2.6.5 Thời hạn tiến hành trình tự, thủ tục 46
2.7 Phí, lệ phí đăng ký quốc tế 46
Chương 3: THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐĂNG KÝ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ THEO HIỆP ƯỚC PCT 47
3.1 Những Thuận lợi của Hiệp ước PCT 47
3.1.1 Thuận lợi cho các cơ quan sáng chế 47
3.1.2 Thuận lợi cho người nộp đơn 49
3.1.3 Thuận lợi cho nền kinh tế và công nghiệp quốc gia 51
3.1.4 Lợi ích về việc tiếp cận thông tin 54
3.2 Những khó khăn khi tham gia Hiệp ước PCT 55
3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế theo hiệp ước PCT 55
3.3.1 Giải pháp đối với chủ sáng chế 55
3.3.2 Giải pháp đối với chính phủ 57
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xu thế mở cửa, tự do hóa thương mại như hiện nay, cùng với sự thâm nhập sâu và rộng của tất cả các nền kinh tế thì sở hữu trí tuệ nói chung và tỷ lệ số đơn đăng ký cấp bằng sáng chế và số bằng sáng chế được cấp trên dân số của một quốc gia nói riêng là một trong những chỉ số đánh giá trình độ phát triển KH - CN của quốc gia Một trong những đối tượng của sở hữu trí tuệ đang được quan tâm hiện nay là sáng chế Quyền sở hữu trí tuệ cho đối tượng này đã và đang được điều chỉnh bởi các luật quốc gia, các công ước, thỏa ước quốc tế Như chúng ta đã biết, quyền
sở hữu công nghiệp đối với sáng chế chỉ được xác lập theo thủ tục đăng ký và phạm
vi bảo hộ được xác định trong văn bằng Khi có tranh chấp xảy ra, văn bằng độc quyền sáng chế là chứng cứ duy nhất chứng minh quyền sở hữu công nghiệp của chủ sở hữu mà không cần chứng cứ khác Tuy nhiên, nhằm nâng cao hơn nữa việc bảo hộ sáng chế, các cá nhân, tổ chức cũng cần quan tâm tới việc bảo hộ các giải pháp kỹ thuật mới tại nước ngoài Tuy vậy, một số cá nhân, tổ chức dù ý thức được phải xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế nhưng lại chỉ tiến hành đăng ký ở Việt Nam không đăng ký ở nước ngoài Đó là điều rất đáng tiếc bởi bằng độc quyền sáng chế có hiệu lực ở Việt Nam nhưng không thể có hiệu lực ở nước khác được Nếu như muốn đầu tư ra nước ngoài, kể cả bán hàng cũng như mời đối tác nước ngoài để hợp tác đầu tư sản xuất hay chuyển giao công nghệ thì trước tiên phải đăng ký sáng chế ở quốc gia đó
Hiện nay, cá nhân và tổ chức Việt Nam có thể đăng ký sáng chế ra nước ngoài theo hình thức nộp đơn quốc tế PCT hoặc hình thức đăng ký trực tiếp tại từng quốc gia Nhưng trên thực tế cá nhân, tổ chức muốn sáng chế của mình được bảo hộ đểđược cấp bằng độc quyền sáng chế trực tiếp tại từng quốc gia Công việc này khá tốn nhiều thời gian và chi phí ngay cả với những nhà sáng chế, các tổ chức lớn, cá nhân có tiềm lực kinh tế, tài chính và nhân lực Kể từ khi PCT ra đời, những khó khăn này đã phần nào được giải quyết, từ năm 1993, Việt Nam đã tham gia Hiệp ước hợp tác sáng chế - PCT Hiệp ước này nhằm tạo ra một hệ thống nộp đơn quốc
tế đơn giản hơn cho phép người có sáng chế có thể đăng ký bảo hộ sáng chế đểđược cấp patent đồng thời tại nhiều nước khác nhau thay vì phải đăng ký cụ thể tại từng nước một Nhờ đó, việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp của nước ngoài vào Việt Nam và của Việt Nam ra nước ngoài hiện nay khá thuận lợi Đó là lý do tại sao ngày càng có nhiều nước quyết định tham gia vào Hiệp ước này, trong đó có Việt
Trang 10ước PCT cũng như việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài đáp ứng các điều kiện đểđược bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp có thể nộp đơn đăng ký xác lập quyền sởhữu công nghiệp đối với sáng chế tại Việt Nam theo các điều ước quốc tế liên quan
đến thủ tục nộp đơn quốc tế, người viết chọn đề tài “Thủ tục đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế theo Hiệp ước hợp tác sáng chế - PCT” làm đề tài tốt nghiệp cử nhân luật của mình.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về đối tượng của SHCN là sáng chế và hệ thống đăng ký xác lập quyền SHCN đối với loại đối tượng này theo Hiệp ước cùng với việc phân tích luật thực định và những thuận lợi, khó khăn của Hiệp ước Hợp tác sáng chế - PCT đối với Việt Nam, người viết đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế và hệ thống đăng ký xác lập quyền SHCN theo Hiệp ước ở Việt Nam từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động đăng ký xác lập quyền SHCN đối với sáng chế
3 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của một luận văn cử nhân, người viết tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến hệ thống đăng ký xác lập quyền SHCN đối với sáng chế theo Hiệp ước Hợp tác sáng chế - PCT và pháp luật thực định của Việt Namtrong việc thực thi theo Hiệp ước cùng với việc phân tích những thuận lợi, khó khăn, đánh giá khả năng xác lập quyền SHCN đối với sáng chế từ đó đưa ra những lập luận nhằm hoàn thiện vấn đề nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, người viết đã lựa chọn, sử dụng nhiều phương thức, thao tác để tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề trong luận văn như phương pháp sưu tầm thông tin, nghiên cứu lý luận dựa trên quy định của luật, nghị định, thông tư, giáo trình, sách, cập nhật các thông tin trên sách, báo, internet liên quan đến nội dung đề tài nghiên cứu…Đồng thời, người viết còn sử dụng phương pháp phân tích,
so sánh, thu thập số liệu, bình luận về các quy định của luật để giải quyết vấn đề
5 Kết cấu đề tài
Đề tài được chia thành ba phần: phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận.Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối
với sáng chế và Hiệp ước hợp tác sáng chế - PCT
Trang 11Chương 2: Những quy định cụ thể về đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp
đối với sáng chế theo Hiệp ước hợp tác sáng chế - PCT
Chương 3: Thuận lợi, khó khăn và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế theo Hiệp ước PCT
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ VÀ HIỆP ƯỚC HỢP TÁC
SÁNG CHẾ - PCT
Ở chương 1 người viết tập trung nghiên cứu một số khái niệm cơ bản về sáng chế,
các điều kiện để nhận được sự bảo hộ sáng chế, những đối tượng không được bảo
hộ dưới danh nghĩa sáng chế, các vấn đề về xác lập quyền SHCN đối với sáng chế như đặc điểm, thủ tục, ý nghĩa của việc đăng ký xác lập quyền SHCN đối với sáng chế…Bên cạnh đó người viết còn tìm hiểu về lịch sử và mục tiêu của Hiệp ước PCT
- Hiệp ước giúp đơn giản hóa thủ tục nộp đơn đăng ký sáng chế quốc tế.
1.1 Khái quát chung về xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế
1.1.1 Khái niệm sáng chế
Theo từ điển tiếng Việt, sáng chế là nghĩ và chế tạo ra cái trước đó chưa từng
có Đây là các hiểu cơ bản và thông thường của hầu hết tất cả mọi người về sáng chế Ví dụ James Watts sáng chế ra động cơ nước, Alfred Nobel sáng chế ra công thức chế tạo thuốc nổ TNT…Theo đó, động cơ hơi nước hoặc thuốc nổ được gọi là một sáng chế Tuy nhiên theo cách hiểu này thì khái niệm sáng chế là một phạm trù khá rộng và chưa rõ ràng
Dưới góc độ pháp luật, sáng chế được định nghĩa một cách đầy đủ hơn Trong
ấn phẩm số 917 ra ngày 17/10/2006 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO có định nghĩa: “Sáng chế là một giải pháp mới và sáng tạo cho một vấn đề kỹ thuật Sáng chế có thể là việc tạo ra một thiết bị, sản phẩm, phương pháp hay quy trình hoàn toàn mới hoặc đơn giản chỉ là cải tiến một sản phẩm, quy trình đã có” Hầu hết pháp luật của các nước trên thế giới không đưa ra khái niệm sáng chế trừ một sốnước như Nhật Bản, Liên Xô cũ Theo điều 2 Luật sáng chế của Nhật Bản thì sáng chế “là sự sáng tạo vượt bậc của những ý tưởng kỹ thuật dựa trên việc ứng dụng các quy luật tự nhiên”1.Trong định nghĩa này không nhắc đến tính mới và sáng tạo của giải pháp kỹ thuật nhưng lại nhấn mạnh rằng giải pháp đó là dựa trên việc ứng dụng các quy luật tự nhiên
Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 cũng đưa ra khái niệm sáng chế như sau: “Sáng chế là giải pháp kĩ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên”2.Trong khái
Trang 13niệm này, giải pháp kỹ thuật là tập hợp cần và đủ các thông tin về cách thức kỹthuật và phương tiện kỹ thuật nhằm giải quyết một vấn đề xác định Cụ thể là:
- Bản chất của sáng chế là một giải pháp kỹ thuật, tạo ra phương tiện mới, sản phẩm mới về nguyên lý kỹ thuật, chưa từng tồn tại hoặc đã tồn tại trong một nhóm nhỏ song không phổ biến và là bí mật đối với cộng đồng, tức sáng chế vẫn có thể là
mô tả chi tiết kỹ thuật tạo ra một sản phẩm kỹ thuật hoặc quy trình kỹ thuật bí mật;
- Không có khả năng áp dụng để giải thích thế giới;
- Có khả năng áp dụng trực tiếp hoặc qua thử nghiệm để ứng dụng vào sản xuất và đời sống;
- Có giá trị thương mại, mua bán bằng sáng chế (patent) và giấy phép (licence);
- Bảo hộ bằng quyền sở hữu công nghiệp
1.1.1.1 Điều kiện chung đối với sáng chế được bảo hộ
Pháp luật quốc tế cũng như pháp luật của các nước trên thế giới đều quy định việc bảo hộ sáng chế bởi bằng độc quyền sáng chế Tuy nhiên, không phải bất kỳsáng chế nào cũng được bảo hộ, cũng được cấp bằng độc quyền Để được bảo hộ, sáng chế phải đáp ứng một số tiêu chuẩn nhất định Những tiêu chuẩn đó là tính mới, trình độ sáng tạo, khả năng áp dụng công nghiệp và quan trọng là sáng chế đó phải thuộc đối tượng được bảo hộ, tức là không nằm trong những đối tượng bị loại trừ Tuy nhiên ở các quốc gia khác nhau phạm vi đối tượng bảo hộ là không hoàn toàn giống nhau
Luật SHTT Việt Nam năm 2005 quy định: Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:3
a) Có tính mới;
b) Có trình độ sáng tạo;
c) Có khả năng áp dụng công nghiệp
- Tính mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới
Theo quy định tại Luật SHTT Việt Nam năm 2005 thì4:
Sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên
Trang 14
Sáng chế được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về sáng chế đó.
Sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu được công bố trong các trường hợp sau đây với điều kiện đơn đăng ký sáng chế được nộp trong thời hạn sáu tháng
- Giải pháp kỹ thuật đó phải có trình độ sáng tạo
Theo quy định tại Luật SHTT Việt Nam năm 2005 thì: “Sáng chế được coi là có trình độ sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác ởtrong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên, sáng chế đó là một bước tiến sáng tạo, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng”5
- Giải pháp kỹ thuật phải có khả năng áp dụng công nghiệp trong các lĩnh vực kinh tế xã hội
Theo quy định tại Luật SHTT Việt Nam năm 2005 thì: “Sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện được việc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung của sáng chế và thu được kết quả ổn định”6
Hiệp định TRIPS cũng quy định: “Patent phải được cấp cho bất kỳ một sáng chếnào, dù là sản phẩm hay là quy trình, thuộc mọi lĩnh vực công nghệ với điều kiện sáng chế đó phải mới, có trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp Các patent phải được cấp và các quyền patent phải được hưởng không phân biệt nơi
Trang 15tạo ra sáng chế, lĩnh vực công nghệ và bất kể các sản phẩm được nhập khẩu hay được sản xuất trong nước”7.
Theo Bộ luật sở hữu trí tuệ Pháp năm 1996 thì bằng độc quyền sáng chế (Brevet) được cấp cho các sáng chế đáp ứng được ba điều kiện sau:
- Sáng chế phải có khả năng áp dụng trong công nghiệp theo nghĩa rộng nhất bao gồm cả trong lĩnh vực nông nghiệp
- Sáng chế phải mới, một sáng chế được coi là mới nếu nó chưa được công chúng biết đến trước khi nộp đơn xin cấp văn bằng bảo hộ
- Sáng chế phải có tính sáng tạo, được coi là có tính sáng tạo nếu sáng chếkhông nảy sinh một cách hiển nhiên đối với người có trình độ trung bình làm việc trong lĩnh vực tương ứng
Theo quy định của Luật sáng chế của Hoa Kỳ thì bất kỳ sáng chế (invention) hay phát minh (discovers) nào đáp ứng ba yêu cầu là: tính mới (novel), không hiển nhiên (non - obvious) và hữu ích (useful) thì đều có thể được cấp văn bằng bảo hộđộc quyền sáng chế8
Như vậy, nhìn chung pháp luật quốc tế cũng như hầu hết các quốc gia đều coi tính mới, tính sáng tạo và hữu ích của một sáng chế là các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ
1.1.1.2 Đối tượng không được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế
Có những sáng chế đáp ứng cả ba điều kiện nêu trên là tính mới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp nhưng vẫn không đủ tiêu chuẩn để được bảo
hộ Đó là những sáng chế thuộc đối tượng loại trừ, bao gồm9:
Những phát minh về nguyên liệu hoặc chất có tồn tại sẵn trong tự nhiên;
Lý thuyết khoa học hoặc phương pháp toán học;
Giống cây trồng hoặc giống động vật, những quy trình sinh học cơ bản để tạo ra giống cây trồng hay động vật đó mà không phải là quy trình vi sinh;
Các biểu đồ, các quy tắc hay phương pháp chẳng hạn như để tiến hành kinh doanh, kế hoạch thực hiện các công việc thuần túy trí óc hoặc chơi trò chơi;chương trình máy tính;
7 Điều 27, Hiệp định TRIPS.
Trang 16 Phương pháp chữa bệnh cho người hay động vật, phương pháp chẩn đoán bệnh cho người hay động vật (không bao gồm các sản phẩm để sử dụng trong các phương pháp đó).
Hiệp định TRIPS cũng quy định “Các thành viên có thể loại trừ không cấp patent cho những sáng chế cần phải bị cấm khai thác nhằm mục đích thương mại trong lãnh thổ của mình để bảo vệ trật tự công cộng hoặc đạo đức xã hội, kể cả đểbảo vệ cuộc sống và sức khỏe của con người và động vật hoặc thực vật hoặc đểtránh gây nguy hại nghiêm trọng cho môi trường, với điều kiện những ngoại lệ đó được quy định không chỉ vì lý do duy nhất là việc khai thác các sáng chế tương ứng
bị pháp luật của nước đó ngăn cấm”10
Ở Hoa Kỳ, các học thuyết, các ý tưởng trừu tượng, các quy luật hiện tượng tựnhiên không phải là đối tượng được cấp bằng sáng chế Tuy nhiên, phạm vi các đối tượng có thể được bảo hộ theo văn bằng sáng chế được quy định rất rộng: Các phát minh, các giống cây trồng mới, các phương pháp chữa bệnh, một số các chương trình phần mềm máy tính (các chương trình liên quan đến phương pháp thực hiện các hoạt động kinh doanh, thương mại điện tử) cũng có thể được xem xét để cấp văn bằng độc quyền sáng chế
Những quy định về đối tượng loại trừ còn tùy thuộc vào quan điểm của từng quốc gia Có thể ở nước này, một sáng chế được bảo hộ nhưng ở nước khác sáng chế lại thuộc đối tượng loại trừ
1.1.2 Xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế
1.1.2.1 Khái niệm xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế
Mỗi quốc gia có cách quy định về hệ thống đăng ký xác lập quyền phù hợp với những đặc điểm, điều kiện của mình và hệ thống xác lập quyền SHCN được coi là dấu hiệu thể hiện trình độ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia cũng như mức
độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, người viết chủ yếu đề cập đến đăng ký xác lập quyền SHCN đối với sáng chế theo nguyên tắc đăng ký bảo hộ với Cơ quan có thẩm quyền dưới hình thức cấp Văn bằng bảo hộ
Theo nghĩa khách quan: đăng ký xác lập quyền SHCN đối với sáng chế được hiểu là các thủ tục pháp lý do pháp luật quy định mà các chủ thể phải tiến hành nhằm chính thức ghi nhận sự bảo hộ từ phía Nhà nước quyền sở hữu của mình đối với đối tượng SHCN là sáng chế
10
Khoản 2, Khoản 3, Điều 27 Hiệp định TRIPS.
Trang 17Theo nghĩa chủ quan: đăng ký xác lập quyền SHCN đối với sáng chế là hành vi của các chủ thể thực hiện các trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật nhằm đạt được sự công nhận từ phía Nhà nước quyền sở hữu của họ đối với đối tượng SHCN
là sáng chế và hệ quả theo sau là sự bảo hộ của nhà nước đối với đối tượng đó
1.1.2.2 Thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế
Các nước trên thế giới hiện nay đều quy định quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế được xác lập trên cơ sở bằng độc quyền sáng chế (Patent) do cơ quan có thẩm quyền cấp Pháp luật các nước đều áp dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên, theo
đó nếu có từ hai chủ thể trở lên đều nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ với cùng một sáng chế, thì văn bằng bảo hộ được cấp cho người nộp đơn sớm nhất trong sốnhững người nộp đơn đó
Về thủ tục xét nghiệm đơn, pháp luật các nước đều quy định đơn xin cấp bằng độc quyền sáng chế nộp cho cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ phải qua xét nghiệm hình thức trước khi được cấp văn bằng bảo hộ Tuy nhiên việc xét nghiệm nội dung cũng như quá trình thực hiện xét nghiệm nội dung để cấp bằng sáng chế ởtừng nước lại có những điểm khác nhau Nhưng nhìn chung, ta có thể phân thành những nhóm sau11:
- Nhóm thứ nhất là nhóm bằng độc quyền sáng chế được cấp ngay sau khi xét nghiệm hình thức mà không cần phải tiến hành xét nghiệm nội dung sáng chế Hiện nay được áp dụng tại một số nước đang phát triển ở Trung Đông, Nam Mỹ và một
số nước Đông Nam Á Việc cấp bằng sáng chế diễn ra khoảng từ 6 đến 18 tháng sau ngày nộp đơn Thủ tục xét nghiệm này thuộc hệ thống xét nghiệm sau hay còn gọi
là hệ thống cấp bằng sáng chế không qua xét nghiệm Tức là việc xét nghiệm nội dung sáng chế chỉ diễn ra nếu sau này có xảy ra tranh chấp về hiệu lực của bằng sáng chế được cấp
- Nhóm thứ hai là nhóm thuộc hệ thống xét nghiệm trước, theo đó một sáng chế
để được cấp văn bằng bảo hộ phải trải qua cả 2 giai đoạn xét nghiệm hình thức và xét nghiệm nội dung Việc xét nghiệm nội dung được thực hiện khoảng vài tháng sau ngày nộp đơn Việc xét nghiệm này có thể kéo dài từ 1 đến 3 năm Chỉ sau khi
đã xét nghiệm nội dung mà sáng chế thỏa mãn các tiêu chuẩn được cấp văn bằng bảo hộ thì bằng độc quyền sáng chế mới được cấp Cơ chế xét nghiệm này được áp dụng ở Liên Bang Nga hiện nay
Trang 18
- Nhóm thứ ba là nhóm thuộc hệ thống xét nghiệm theo yêu cầu, được áp dụng ởnhiều nước tiên tiến hiện nay Đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ sau khi qua xét nghiệm hình thức sẽ được công bố sau 18 tháng kể từ khi nộp đơn Người nộp đơn
có thời gian nhất định để nộp đơn yêu cầu xét nghiệm nội dung (thời gian này rất khác nhau tùy từng nước) Nếu quá thời hạn nêu trên mà không có yêu cầu xét nghiệm thì đơn coi như đã bị rút bỏ
Việt Nam là nước thuộc hệ thống xét nghiệm đơn theo yêu cầu Pháp luật Việt Nam quy định quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế được xác lập trên cơ sởbằng độc quyền sáng chế do Cục Sở hữu trí tuệ - cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Người có yêu cầu được cấp bằng độc quyền sáng chế phải gửi đơn đến Cục Sởhữu trí tuệ một cách trực tiếp hoặc qua bưu điện
1.1.2.3 Đặc điểm xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế
Xuất phát từ những tính chất đặc thù của đối tượng SHCN là sáng chế, việc xác lập quyền SHCN đối với sáng chế có những đặc điểm khác biệt so với quyền sở hữu các loại tài sản thông thường và cả với quyền tác giả Có thể nhận thấy một số điểm khác biệt sau:
- So với xác lập quyền đối với tài sản hữu hình:
Hầu hết quyền sở hữu đối với tài sản hữu hình được xác lập và bảo hộ một cách
tự động, vô thời hạn trong khi quyền đối với phần lớn các đối tượng SHCN nói chung và sáng chế nói riêng được xác lập trên cơ sở đăng ký bảo hộ tại cơ quan có thẩm quyền theo trình tự, thủ tục chặt chẽ;
Căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với tài sản hữu hình là sự xuất hiện các sự kiện pháp lý quy định trong Bộ luật dân sự trong khi đó quyền SHCN đối với sáng chếphát sinh trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ do cơ quan có thẩm quyền cấp theo trình tự, thủ tục luật định
1.1.2.4 Chủ đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế
Chủ đơn đăng ký xác lập quyền SHCN đối với sáng chế là tổ chức, cá nhân nộp đơn đăng ký sáng chế Khi văn bằng bảo hộ sáng chế được cấp, chủ đơn sẽ được ghi nhận là chủ văn bằng bảo hộ Chủ đơn có thể tự mình hoặc thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam tiến hành thủ tục đăng ký quyền SHCN tại Cục SHTT
1.1.2.5 Cơ quan xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế
Cơ quan xác lập quyền SHCN đối với sáng chế là cơ quan có trách nhiệm, thẩm quyền tiếp nhận và tiến hành các thủ tục đăng ký xác lập quyền SHCN, ở hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới, cơ quan xác lập quyền SHCN là một cơ quan thuộc
Trang 19Chính phủ với sự độc lập tương đối về mặt cơ cấu tổ chức và trách nhiệm pháp lý nhằm đảm bảo các quyết định của cơ quan về cấp, từ chối, đình chỉ, hủy bỏ hiệu lực một đối tượng SHCN hoặc quyết định giải quyết tranh chấp giữa các bên được đưa
ra một cách độc lập, không bị can thiệp bởi mệnh lệnh hành chính của cơ quan cấp trên mà chỉ có thể bị khiếu nại theo thủ tục khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện theo thủtục tố tụng tại tòa án
Việc tổ chức hệ thống cơ quan xác lập quyền SHCN đối với sáng chế phụ thuộc vào điều kiện, đặc điểm của từng quốc gia Vị trí, chức năng, phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan xác lập quyền SHCN cũng phụ thuộc vào quy định của từng nước: Cơ quan có thể được quyền yêu cầu lưu giữ và theo dõi hoạt động kinh doanh của chủ sở hữu quyền SHCN (Pháp); một số có thể giải quyết vấn đề liên quan đến việc bảo hộ cạnh tranh (như ở Pê-ru); một số có thể chịu trách nhiệm đối với toàn
bộ hệ thống SHTT (như ở In-đô-nê-xi-a) hoặc có thể chỉ giới hạn ở việc quản lý bằng độc quyền sáng chế Nhìn chung, ở hầu hết các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng, cơ quan có chức năng xác lập quyền SHCN đối với sáng chế là cơ quan SHTT quốc gia, có trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hệ thống SHTT Bên cạnh việc xây dựng và tổ chức hệ thống cơ quan xác lập quyền SHCN quốc gia, các nước trong đó có Việt Nam đã và đang nỗ lực xây dựng hệ thống các cơ quan xác lập quyền SHCN mang tính khu vực và quốc tế nhằm đơn giản hóa thủ tục xác lập quyền SHCN đối với sáng chế, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể trong việc tiến hành các thủ tục xác lập quyền sở hữu đối với các đối tượng SHCN nói chung và sáng chế nói riêng
1.1.2.6 Xu hướng phát triển của hệ thống xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối
với sáng chế
Cũng như tất cả các quốc gia đang phát triển trên thế giới, mục tiêu của Việt Nam là duy trì và thúc đẩy sự phát triển toàn diện trong đó có sự phát triển của hệthống SHCN nói chung và sáng chế nói riêng Để có thể nâng cao hiệu quả bảo hộSHCN, một yêu cầu mang tính tiền đề được đặt ra đó là hoàn thiện hệ thống và cơ chế xác lập quyền SHCN vì xác lập quyền là điều kiện tiên quyết để quyền SHCN được bảo hộ Sự phát triển mạnh mẽ và những thành tựu của khoa học, công nghệcùng với nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi cơ chế xác lập quyền SHCN phải linh hoạt, đơn giản, thuận tiện, phù hợp với các chuẩn mực chung của thế giới và phải được tiến hành một cách nhanh chóng, chính xác Một hệ thống xác lập quyền linh hoạt, khoa học, ngắn gọn với nguyên tắc tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho
Trang 20các chủ thể tham gia vào quá trình xác lập quyền là một trong những điều kiện góp phần nâng cao hiệu quả của hệ thống SHCN quốc gia.
Xu hướng chung của thế giới hiện nay là đơn giản hóa đến mức tối thiểu các thủtục liên quan đến đăng ký bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế Cơ chế xác lập quyền phải được xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện sao cho các chủ thể sáng tạo có thể được đăng ký bảo hộ quyền sở hữu của mình tại cơ quan có thẩm quyền một cách nhanh chóng, thuận tiện nhất Cơ quan SHTT quốc gia phải đóng vai trò như một tổ chức hỗ trợ cho các chủ thể sáng tạo trong việc xác lập, bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ của mình
Trong những năm gần đây ở các nước có hệ thống SHTT phát triển như Mỹ, Nhật, Anh, Australia,…hàng loạt các chính sách, cơ chế nhằm tăng cường hiệu quảbảo hộ SHTT nói chung và hoàn thiện cơ chế xác lập quyền SHCN đối với sáng chếnói riêng đã được xây dựng và triển khai thực hiện Nhà nước ban hành các chính sách và triển khai các chương trình hành động nhằm một mặt hỗ trợ các chủ thểsáng tạo trong quá trình thực hiện xác lập quyền SHCN, mặt khác đề ra những yêu cầu, điều kiện cho các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong quá trình thực thi nhiệm vụ liên quan đến hoạt động xác lập quyền SHCN đối với sáng chế,…
Bên cạnh việc hoàn thiện cơ chế xác lập quyền ở cấp độ quốc gia, các nước cũng chú trọng tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế về vấn đề này Các điều ước quốc tế được ký kết nhằm thiết lập cơ sở pháp lý cho việc rút gọn, đơn giản hóa các thủ tục xác lập quyền SHCN đối với sáng chế của các quốc gia thành viên:
- Hiệp định TRIPS yêu cầu các thủ tục xác lập quyền phải hợp lý, đặc biệt là không được phức tạp quá;
- Công ước Paris hàm chứa những nguyên tắc cơ bản, nền tảng cho cơ chế xác lập quyền mang tính quốc tế;
- Hiệp ước hợp tác Patent cũng đưa ra những yêu cầu đối với các quốc gia thành viên về đơn giản hóa thủ tục liên quan đến trình tự, thủ tục cấp Bằng độc quyền sáng chế/giải pháp hữu ích
- Các hiệp ước này đã và đang tiếp tục được các quốc gia tham gia và nỗ lực triển khai các biện pháp nhằm thực thi hiệp ước trên thực tế Nhiều cuộc hội thảo, đàm phán được tổ chức nhằm đưa ra những cơ chế mới nâng cao hiệu quả thực thi hiệp ước hoặc đưa ra những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới Rõ ràng đơn giản hóa thủ tục xác lập quyền đối với mọi đối tượng SHCN nói chung và sáng chế nói riêng đang là xu hướng chung của thế giới hiện nay trong đó có Việt Nam
Trang 211.1.3 Ý nghĩa của việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế
Đăng ký xác lập quyền SHCN đối với sáng chế là sự ghi nhận bảo hộ một cách trực tiếp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về sự độc quyền của chủ sở hữu đối với đối tượng sáng tạo là sáng chế, từ đó ngăn cản người khác khai thác, sử dụng sáng chế mà không được sự cho phép của chủ sở hữu Việc đăng ký xác lập quyền SHCN đối với sáng chế một mặt đem lại cho chủ sở hữu đối tượng các quyền năng tương ứng về tài sản và nhân thân được đảm bảo bởi sự cưỡng chế của nhà nước đối với các đối tượng SHCN trong đó có sáng chế, mặt khác làm phát sinh nghĩa vụ của người thứ ba trong việc tôn trọng, không xâm phạm tới quyền SHCN đối với sáng chế đã được xác lập và bảo hộ
Kết quả của việc đăng ký xác lập quyền là văn bằng bảo hộ quyền SHCN do cơ quan có thẩm quyền cấp Văn bằng bảo hộ quyền SHCN được coi là chứng cứ ghi nhận sự đầu tư về thời gian, tiền của và trí tuệ của chủ thể sáng tạo; nó là bằng chứng pháp lý ghi nhận quyền độc quyền của chủ sở hữu đối với đối tượng SHCN
là sáng chế được bảo hộ
Trong trường hợp không thực hiện việc đăng ký xác lập quyền đối với sáng chếtheo quy định của pháp luật, chủ sở hữu không có căn cứ pháp lý để ngăn cản người khác khai thác, sử dụng sáng chế thuộc quyền sở hữu của mình Quyền này chỉ phát sinh trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo trình tự, thủ tục nhất định Nói cách khác, đăng ký quyền SHCN đối với sáng chế là một biện pháp hữu hiệu nhất để bảo vệ sáng chế tránh được sự xâm phạm của người khác
1.2 Hiệp ước hợp tác sáng chế - PCT
1.2.1 Lịch sử của Hiệp ước PCT
Hiệp ước hợp tác sáng chế - PCT đã bắt đầu manh nha từ năm 1966 khi Ban
Điều hành Công ước Paris về Bảo hộ sở hữu công nghiệp kêu gọi nghiên cứu tìm cách giảm bớt những gánh nặng có liên quan tới việc lập hồ sơ và cấp bằng cho cùng một sáng chế ở các quốc gia khác nhau đối với những người đăng ký và cơ quan sáng chế Kết quả là Hiệp định PCT của WIPO đã được ký kết tại Washington, D.C năm 1970 và có hiệu lực năm 1978 Hiệp định đã được sửa đổi năm 1979,
1984, 2001 và 2004 Hệ thống đăng ký PCT hiện có 148 quốc gia thành viên Hiệp ước này đã giải quyết tình trạng quá tải của hệ thống đăng ký sáng chế của các quốc gia và khắc phục một số hạn chế của Công ước Paris
Trang 22Nhờ đơn giản hóa quá trình lập hồ sơ đăng ký cấp bằng sáng chế nên PCT đã giúp những nhà sáng chế được bảo hộ bằng sáng chế của họ trên toàn thế giới Hiệp ước này cũng khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và các cá nhân tìm cách bảo hộ bằng phát minh sáng chế của họ ở nước ngoài.
Theo hiệp ước này, các công dân của một quốc gia tham gia ký kết chỉ cần một đơn đăng ký cấp bằng sáng chế duy nhất - thường được gọi là “ đơn quốc tế” – và gửi tới cơ quan sáng chế của nước họ hoặc tới WIPO với tư cách là Cơ quan tiếp nhận đơn Như vậy, đơn xin cấp bằng sáng chế của họ sẽ tự động được gửi tới tất cảcác quốc gia mà người nộp đơn chỉ định trong đơn của mình
Hiệp ước cho phép những người nộp đơn có thời gian dài hơn – 30 tháng – đểcam kết trang trải mọi chi phí dịch thuật, lệ phí hồ sơ trong nước và thực thi ở tất cảmọi quốc gia nơi họ muốn được bảo hộ Nhờ cho phép người nộp đơn có nhiều thời gian và thông tin hơn để đánh giá thế mạnh trong bằng sáng chế tương lai của họ và quyết định kế hoạch tiếp thị của mình, thời hạn 30 tháng giúp người nộp đơn lựa chọn tốt hơn những quốc gia nơi họ muốn yêu cầu bảo hộ Đây là một bước tiến quan trọng so với thời hạn ưu tiên 12 tháng đã được quy định trong Công ước Paris đối với những người nộp đơn xin cấp bằng sáng chế
Hệ thống đăng ký sáng chế qua PCT giúp việc đăng ký sáng chế nhiều quốc gia trở nên thuận tiện Việc đăng ký qua PCT giúp đơn giản hoá quá trình đăng ký tại từng nước, nghĩa là đăng ký một đơn PCT có thể chỉ định bảo hộ cho nhiều nước Tuy nhiên, quyết định có được cấp văn bằng bảo hộ hay không vẫn phụ thuộc vào quá trình xét nghiệm tại từng Cơ quan đăng ký sáng chế của từng quốc gia đồng thời quyền sáng chế được bảo hộ tại từng quốc gia mà sáng chế đó được cấp văn bằng bảo hộ
Sự phát triển của PCT cho thấy một điều chắc chắn là trong những năm tới sẽ có nhiều quốc gia, kể cả các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển, trởthành thành viên của PCT và việc sử dụng PCT, được chứng minh qua số lượng các đơn đã nộp, sẽ tiếp tục tăng đáng kể
Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Hiệp ước PCT vào ngày 10 tháng
3 năm 1993 Đây là Hiệp ước về đăng ký quốc tế sáng chế, theo đó tất cả các Đơn đăng ký quốc tế sáng chế đều được nộp cho Cơ quan nhận đơn được ấn định và tất
cả các sáng chế nộp theo những đơn này sẽ được tiến hành tra cứu quốc tế tại Cơ quan tra cứu quốc tế
Trang 23
1.2.2 Mục tiêu của Hiệp ước PCT
Theo như tên gọi, Hiệp ước hợp tác patent là một thỏa thuận hợp tác quốc tế trong lĩnh vực sáng chế Hiệp ước này thường được coi là tiến bộ quan trọng nhất trong hợp tác quốc tế về lĩnh vực này kể từ khi thông qua Công ước Paris Tuy nhiên đây
là một hiệp ước có quy mô lớn để hợp lý hóa và hợp tác trong việc nộp đơn, tra cứu, xét nghiệm đơn xin cấp bằng độc quyền sáng chế và phổ biến thông tin kỹ thuật có trong đó Hiệp ước PCT không quy định về việc cấp “bằng độc quyền sáng chếquốc tế” nhiệm vụ và trách nhiệm cấp bằng độc quyền sáng chế vẫn thuộc thẩm quyền của các cơ quan sáng chế ở những nước nơi có yêu cầu bảo hộ (“các Cơ quan được chỉ định”)
Mục tiêu cơ bản của PCT là bằng việc đơn giản hóa tạo ra một hệ thống hiệu quả
và tiết kiệm hơn so với các cách thức nộp đơn yêu cầu bảo hộ sáng chế ở nhiều nước trước đây hoặc theo truyền thống - vì lợi ích của người nộp đơn và của các cơ quan SHTT quốc gia Để đạt được những mục tiêu của mình, PCT đã:12
- Thiết lập một hệ thống quốc tế cho phép nộp một đơn riêng lẻ (“đơn quốc tế”) với một cơ quan sáng chế riêng (“Cơ quan nhận đơn”), bằng một ngôn ngữ có hiệu lực tại mỗi nước thành viên của PCT mà người nộp đơn nêu tên (“chỉ định”)trong đơn của mình;
- Quy định một cơ quan sáng chế riêng - Cơ quan nhận đơn để xét nghiệm hình thức đơn quốc tế;
- Tiến hành tra cứu quốc tế đối với mỗi đơn quốc tế để thiết lập một bản báo cáo trích dẫn các kỹ thuật đã biết có liên quan (chủ yếu là các tài liệu sáng chế đã công bố, phát hành liên quan đến những sáng chế trước đó) mà có thể phải được xem xét khi quyết định sáng chế đó có khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chếhay không;
- Quy định về việc công bố quốc tế các đơn quốc tế cùng với những báo cáo tra cứu quốc tế liên quan cũng như mối liên hệ của chúng với các Cơ quan được chỉđịnh;
- Quy định sự lựa chọn một xét nghiệm sơ bộ quốc tế đối với đơn quốc tế, việc này trao cho người nộp đơn và sau đó là các Cơ quan phải quyết định xem có cấp bằng độc quyền sáng chế hay không, một báo cáo trong đó nêu ý kiến về việc liệu
Trang 24
sáng chế yêu cầu bảo hộ có đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế nhất định về khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế hay không.
Thủ tục được đề cập ở phần trên thông thường được gọi là “giai đoạn quốc tế” của thủ tục PCT, trong khi đó thì thủ tục đề cập tới “giai đoạn quốc gia” nhằm mô tảphần cuối của thủ tục cấp bằng độc quyền sáng chế là nhiệm vụ của các Cơ quan đã được chỉ định, đó là các cơ quan của quốc gia hoặc đại diện cho những nước đã được chỉ định trong đơn quốc tế Theo thuật ngữ của PCT, việc đề cập tới Cơ quan
“quốc gia”, giai đoạn “quốc gia” hay phí “quốc gia” cũng đề cập tới cả thủ tục trước một cơ quan sáng chế khu vực
Đặc biệt ở những nước phát triển hơn với một số lượng lớn hơn các đơn xin cấp bằng độc quyền sáng chế, từ nhiều năm nay cơ quan sáng chế đã phải vật lộn với một khối lượng công việc nặng nhọc (dẫn tới việc trì hoãn) và với vấn đề sắp xếp các nguồn lực sao cho hợp lý nhất để đảm bảo rằng hệ thống sáng chế mang lại hiệu quả lớn nhất từ nguồn nhân lực sẵn có Theo hệ thống PCT, vào thời điểm đơn quốc
tế được gửi Cơ quan quốc gia, đơn quốc tế đã được Cơ quan nhận đơn thẩm định vềhình thức, được Cơ quan tra cứu quốc tế tra cứu và có thể đã được một Cơ quan xét nghiệm sơ bộ quốc tế xét nghiệm về nội dung Vì vậy mà các thủ tục tập trung ởgiai đoạn quốc tế đã giảm được khối lượng công việc của các cơ quan sáng chếquốc gia
Hiệp ước hợp tác sáng chế là điều ước quốc tế quy định về nộp đơn đăng ký nhằm đạt được sự bảo hộ độc quyền đối với sáng chế tại nhiều nước Hệ thống quy định một thủ tục đơn giản cho nhà sáng chế hoặc người nộp đơn để đăng ký và cuối cùng là được cấp bằng độc quyền sáng chế Một trong các mục đích khác của Hiệp ước là nhằm thúc đẩy sự trao đổi thông tin kỹ thuật chứa trong các tư liệu sáng chếgiữa các nước liên quan và cả trong cộng đồng khoa học liên quan, đó là các nhà sáng chế và ngành công nghiệp hoạt động trong lĩnh vực liên quan
Như vậy, ngoài mục đích đơn giản hóa thủ tục yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế, PCT còn có mục tiêu khác là nhằm phổ biến có hiệu quả các tri thức kỹ thuật chứa trong tư liệu sáng chế Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng hệ thống PCT không quy định việc cấp patent quốc tế mà chỉ là sự thống nhất về thủ tục nộp đơn trong việc cấp bằng độc quyền sáng chế
Trang 251.2.3 Mối quan hệ giữa Hiệp ước PCT với các Điều ước quốc tế khác 13
Nhu cầu hợp tác quốc tế trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1873 tại hội chợ sáng chế quốc tế ở Viennie Sau đó, ngày 20/3/1883 Công ước Paris đã được ký kết với sự tham gia của 14 nước thành viên Đây là Công ước quốc tế đa phương quan trọng đầu tiên về bảo hộ SHCN Từ khi ký kết đến nay, Công ước đã qua 7 lần sửa đổi Mục đích của Công ước Paris là nhằm xây dựng điều khoản có lợi cho việc đăng ký bảo hộ sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá… của công dân các nước thành viên Công ước, đồng thời xây dựng 1
số nguyên tắc chung đối với hệ thống bảo hộ quyền SHCN tại các nước thành viên trên cơ sở tôn trọng luật SHCN của các nước thành viên Tuy nhiên, những gánh nặng trong việc lập hồ sơ đăng ký sáng chế và tình trạng quá tải của hệ thống đăng
ký sáng chế của các quốc gia và một số hạn chế của Công ước Paris đã đòi hỏi sự ra đời của một Hiệp ước để giải quyết những vấn đề trên PCT là một Hiệp ước đơn giản hóa thủ tục nộp đơn khi người nộp đơn muốn yêu cầu bảo hộ sáng chế của mình ở nhiều nước trên thế giới Hiệp ước này tạo khả năng cho người nộp đơn đăng ký sáng chế thuộc một quốc gia thành viên có thể nhận được sự bảo hộ cho sáng chế của mình ở mỗi nước trong số nhiều nước thành viên khác bằng việc nộp đơn duy nhất tại Cơ quan sở hữu công nghiệp quốc gia của nước thành viên Hiệp ước PCT không cạnh tranh với Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp mà
bổ trợ cho Công ước này Trên thực tế, PCT là một thỏa thuận đặc biệt theo Công ước Paris và chỉ những nước thành viên của Công ước này mới được tham gia PCT Ngày 1/1/1995, cùng với sự ra đời của Tổ chức thương mại thế giới WTO, Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) được ký kết vào ngày 15/4/1994 cũng chính thức có hiệu lực Hiệp định TRIPS được xây dựng dựa trên những nguyên tắc đã có trong Công ước Paris Các quy định của Công ước Paris là cơ sở pháp lý quan trọng đầu tiên đặt nền tảng cho việc bảo hộ quốc tế quyền SHCN nói chung và sáng chế nói riêng Chúng ta thấy rằng mối quan hệ giữa Hiệp định TRIPS và Công ước Paris về bảo hộ quyền SHCN là sự
kế thừa và phát triển Sự kế thừa và phát triển này được thể hiện rất rõ trong các quy định của Hiệp định TRIPS Từ đó các nước thành viên WTO đã đi đến những thỏa thuận xây dựng một khung pháp lý hoàn thiện việc bảo hộ quyền SHCN với mục đích các quyền này được thực thi phù hợp, hiệu quả trong thực tế hiện nay, đặc biệt
là về khía cạnh thương mại Điều này thực chất chúng ta cũng có thể thấy rõ ngay
Trang 26
trong chính tên gọi của Hiệp định TRIPS Do đó, Hiệp ước PCT được coi là một sựthỏa thuận theo các điều ước quốc tế về SHCN trong đó có sáng chế mà nền tảng là Công ước Paris để đơn giản hóa thủ tục nộp đơn cấp bằng độc quyền sáng chế ở các quốc gia thành viên.
Nhìn chung, chương 1 người viết đã nêu khái quát những vấn đề lý luận chung liên
quan đến đăng ký xác lập quyền SHCN đối với sáng chế cũng như những vấn đề liên quan đến Hiệp ước hợp tác sáng chế - PCT Chuyển sang chương 2, trên cơ sở những quy định của Hiệp ước và pháp luật Việt Nam người viết nêu và từ đó phân tích cụ thể các nội dung liên quan đến trình tự, thủ tục đăng ký xác lập quyền SHCN đối với sáng chế theo Hiệp ước.
Trang 27CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ VỀ ĐĂNG KÝ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ THEO HIỆP ƯỚC HỢP
TÁC SÁNG CHẾ - PCT
Ở chương 2 người viết đề cập đến những quy định của Hiệp ước về đăng ký xác lập quyền SHCN đối với sáng chế như các nguyên tắc trong thực thi Hiệp ước, chủ thể nộp đơn quốc tế, quyền ưu tiên, trình tự, thủ tục của quy trình xử lý đơn quốc tế theo Hiệp ước PCT cũng như việc thực thi theo Hiệp ước của Việt Nam với tư cách
là thành viên Hiệp ước khi đơn quốc tế có chỉ định hoặc có chọn Việt Nam và Đơn quốc tế có nguồn gốc Việt Nam nộp theo Hiệp ước PCT.
tế có liên quan sẽ là các nguyên tắc được áp dụng khi thực thi Hiệp ước
2.1.1 Nguyên tắc đối xử quốc gia
“Trong lĩnh vực bảo hộ sở hữu công nghiệp, công dân của bất kỳ nước thành viên
nào cũng đều được hưởng các điều kiện thuận lợi như công dân của tất cả các nước thành viên khác mà luật tương ứng của các nước đó quy định hoặc sẽ quy định mà; hoàn toàn không ảnh hưởng đến các quyền được quy định riêng trong Công ước này Do đó, họ được hưởng sự bảo hộ và công cụ bảo vệ pháp luật chống mọi hành
vi xâm phạm quyền của mình như những công dân của nước thành viên khác, miễn
là tuân thủ các điều kiện và thủ tục quy định đối với công dân nước đó.
Tuy nhiên, không thể đặt ra cho công dân của các nước thành viên của Liên minh bất cứ điều kiện nào về việc cư trú hoặc việc đặt trụ sở tại nước được yêu cầu bảo
hộ để được hưởng bất kỳ quyền sở hữu công nghiệp nào.
Các quy định liên quan đến các đòi hỏi về thủ tục xét xử và thủ tục hành chính, thẩm quyền xét xử, việc lựa chọn địa chỉ giao dịch hoặc chỉ định người đại diện nếu
có trong luật về sở hữu công nghiệp của mỗi nước thành viên được bảo lưu tuyệt đối”14
Trang 28Ngoài ra, Công ước Paris còn có quy định nguyên tắc được đối xử tương đương
công dân các nước thành viên của Liên minh: “Công dân của các nước không phải
thành viên Liên minh nhưng định cư hoặc có cơ sở thương mại hoặc công nghiệp thực sự và có hiệu quả trên lãnh thổ của một trong những nước thành viên của Liên minh sẽ được đối xử theo cùng một chế độ như công dân của các nước thành viên của Liên minh”15
Theo đó, Công ước Paris quy định rằng đối với việc bảo hộ sở hữu công nghiệp, mỗi nước thành viên phải dành cho công dân của các nước thành viên khác sự bảo
hộ tương tự như sự bảo hộ dành cho công dân của mình Chế độ đối xử quốc gia tương đương cũng phải được dành cho công dân của những nước không phải là thành viên của Công ước Paris nếu họ cư trú tại một nước thành viên hoặc nếu họ có
cơ sở kinh doanh tại một nước thành viên Quy định về chế độ đối xử quốc gia được đặt ra không chỉ nhằm bảo đảm quyền của người nước ngoài được bảo hộ mà còn bảo đảm rằng họ không bị phân biệt đối xử theo bất kỳ cách nào liên quan đến bảo
hộ quyền sở hữu công nghiệp Liên quan đến chế độ đối xử quốc gia, Công ước cũng đặt ra những ngoại lệ nhất định Các quy định của luật pháp quốc gia liên quan đến thủ tục xét xử và thủ tục hành chính, thẩm quyền xét xử, việc lựa chọn địa chỉgiao dịch hoặc chỉ định đại diện được bảo lưu
Hiệp định TRIPS cũng quy định về nguyên tắc đối xử quốc gia: “Mỗi Thành viên
phải chấp nhận cho các công dân của các Thành viên khác sự đối xử không kém thiện chí hơn so với sự đối xử của Thành viên đó đối với công dân của mình trong việc bảo hộ sở hữu trí tuệ, trong đó có lưu ý đến các ngoại lệ đã được quy định trong các điều ước quốc tế khác Các Thành viên chỉ có thể sử dụng các ngoại lệ liên quan đến các thủ tục xét xử và hành chính, kể cả việc chỉ định địa chỉ dịch vụ hoặc bổ nhiệm đại diện trong phạm vi quyền hạn của một Thành viên, nếu những ngoại lệ đó là cần thiết để bảo đảm thi hành đúng các luật và quy định không trái với các quy định của Hiệp định này và nếu cách tiến hành các hoạt động đó không
là sự hạn chế trá hình hoạt động thương mại”16
Theo đó, Hiệp định TRIPS đòi hỏi mỗi nước thành viên WTO dành sự bảo hộ cho công dân các nước thành viên khác “không kém thiện chí hơn” sự bảo hộ dành cho công dân của mình Nói cách khác, bất kể mức độ bảo hộ một nước thành viên dành cho công dân của mình, nước này buộc phải áp dụng tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu do Hiệp định TRIPS thiết lập cho công dân của các nước thành viên khác Nếu mức độ
Trang 29bảo hộ của nước thành viên đó thấp hơn hoặc ngang bằng với mức độ bảo hộ do Hiệp định TRIPS thiết lập, nước thành viên đó có thể giới hạn mức độ bảo hộ cho công dân của các nước thành viên theo tiêu chuẩn bảo hộ của Hiệp định TRIPS Nếu mức độ bảo hộ của nước thành viên đó cao hơn mức độ bảo hộ do Hiệp định TRIPS thiết lập, nước thành viên đó phải dành mức độ bảo hộ cao tương tự cho công dân của các nước thành viên khác.
2.1.2 Nguyên tắc tối huệ quốc
Hiệp định TRIPS đưa ra nguyên tắc tối huệ quốc, mà từ trước đến nay không được quy định trong phạm vi của quyền sở hữu trí tuệ ở cấp độ đa phương, là một điều khoản mới trong thỏa thuận sở hữu trí tuệ quốc tế Nguyên tắc này quy định
rằng: “Đối với việc bảo hộ sở hữu trí tuệ, bất kỳ một sự ưu tiên, chiếu cố, đặc quyền
hoặc sự miễn trừ nào được một Thành viên dành cho công dân của bất kỳ nước nào khác (dù là Thành viên hay không) cũng phải được lập tức và vô điều kiện dành cho công dân của tất cả các Thành viên khác với những trường hợp miễn trừ cụ thể”17 Trong khi nguyên tắc đối xử quốc gia cấm một nước thành viên phân biệt đối xửgiữa công dân của mình và công dân của các nước thành viên khác, nguyên tắc đối
xử tối huệ quốc cấm một nước thành viên phân biệt đối xử giữa công dân của hai nước thành viên khác Đối với bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, Hiệp định TRIPS đòi hòi các nước thành viên dành sự bảo hộ “lập tức và vô điều kiện” “ưu tiên, chiếu cố, đặc quyền hoặc miễn trừ” cho “công dân của bất kỳ nước nào khác” (bao gồm cảcông dân của nước không phải là thành viên) như sự bảo hộ dành cho công dân của mình ngay cả khi sự đối xử này ưu đãi hơn đối xử mà thành viên đó dành cho chính công dân của nước mình
2.2 Chủ thể có quyền nộp đơn
Hiệp ước PCT quy định18:
- Bất kỳ một người cư trú hoặc một công dân của một Nước thành viên đều có thểnộp đơn quốc tế
- Đại hội đồng có thể quyết định cho phép những người cư trú và công dân của bất
kỳ Nước thành viên nào của Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp mà không tham gia Hiệp ước này, nộp đơn quốc tế
Trang 30
2.3 Quyền ưu tiên
b) Đơn được nộp tại Việt Nam, trong đó có yêu cầu bảo hộ tại bất kỳ nước thành viên nào của Hiệp ước PCT, kể cả Việt Nam (sau đây gọi là Đơn PCT có nguồn gốc Việt Nam)
Đơn PCT có chỉ định hoặc có chọn Việt Nam khi có đủ các điều kiện sau đây:a) Người nộp đơn tiến hành các thủ tục đăng ký sáng chế tại cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp của Việt Nam (Giai đoạn quốc gia) theo quy định của Hiệp ước PCT trong thời hạn ba mươi mốt tháng kể từ ngày nộp đơn quốc tế hoặc
kể từ ngày ưu tiên (nếu đơn có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên)
b) Nộp phí, lệ phí về sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật
Đơn PCT có nguồn gốc Việt Nam phải được làm bằng tiếng Anh hoặc tiếng Nga và phải đáp ứng các yêu cầu về hình thức và nội dung quy định tại Hiệp ước PCT Người nộp đơn có thể nộp đơn cho cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp quốc gia hoặc cho Văn phòng quốc tế của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO)
Hiệp ước PCT quy định:20
(1) Các đơn xin bảo hộ sáng chế ở bất kỳ Nước thành viên nào đều có thể được nộp theo Hiệp ước PCT như là các đơn quốc tế
(2) Đơn quá trình theo quy định trong Hiệp ước PCT và Quy chế, phải bao gồm tờkhai xin bảo hộ sáng chế, bản mô tả sáng chế, một hoặc một số yêu cầu bảo hộ, một hoặc một số bản vẽ (nếu cần thiết) và bản tóm tắt
(3) Đơn quá trình phải:
(i) được làm bằng ngôn ngữ quy định
(ii) đáp ứng các yêu cầu quy định về hình thức
(iii) đáp ứng các yêu cầu quy định về tính thống nhất của sáng chế
Trang 31(iv) có kèm theo lệ phí quy định.
2.3.1.1 Tờ khai xin bảo hộ sáng chế 21
(1) Tờ khai xin bảo hộ sáng chế phải gồm các nội dung sau:
(i) kiến nghị việc thực hiện xem xét đơn quốc tế theo Hiệp ước PCT;
(ii) chỉ định Nước thành viên hoặc các nước khác mà ở đó sáng chế cần được bảo hộ trên cơ sở đơn quốc tế (“các Nước được chỉ định”); nếu với một Nước nào
đó được chỉ định mà có thể cấp patent khu vực và người nộp đơn muốn xin cấp patent khu vực chứ không phải xin cấp patent quốc gia thì phải chỉ ra điều đó trong
tờ khai; nếu theo Hiệp ước về patent khu vực mà người nộp đơn không thể hạn chếđơn của mình cho một số Nước thành viên nào đó của Hiệp ước PCT thì việc chỉđịnh một trong số các Nước thành viên này và việc nêu ra yêu cầu xin cấp patent khu vực phải được xem như là việc đã chỉ định tất cả các Nước thành viên của Hiệp ước đó; nếu theo luật quốc gia của Nước được chỉ định mà việc chỉ định Nước này cũng có ý nghĩa pháp lý như đơn xin cấp patent khu vực thì việc chỉ định này được xem như yêu cầu muốn được cấp patent khu vực;
(iii) tên và các chỉ dẫn khác theo quy định về người nộp đơn và người đại diện(nếu có);
(iv) tên sáng chế;
(v) tên và các chỉ dẫn khác theo quy định về tác giả sáng chế, nếu như luật quốc gia của ít nhất một trong số các Nước được chỉ định yêu cầu các chỉ dẫn này phải được kèm theo đồng thời với việc nộp đơn quốc gia Tuy nhiên, các chỉ dẫn nêu trên
có thể trình bày hoặc ở trong tờ khai hoặc ở một văn bản riêng gửi cho từng Cơ quan quốc gia được chỉ định nơi mà luật quốc gia yêu cầu phải nộp các chỉ dẫn đó, nhưng cho phép nộp các chỉ dẫn như vậy sau khi nộp đơn quốc gia
(2) Mọi sự chỉ định đều phải có kèm theo lệ phí trong thời hạn quy định
(3) Nếu người nộp đơn không đòi hỏi bất kỳ một hình thức bảo hộ nào được ởđiều 43 thì việc chỉ định một Nước có nghĩa là việc yêu cầu Nước được chỉ định cấp patent hoặc yêu cầu cấp patent có hiệu lực ở Nước được chỉ định
(4) Sự thiếu tên và các chỉ dẫn khác về tác giả sáng chế trong tờ khai sẽ không gây hậu quả gì ở bất kỳ Nước được chỉ định nào nếu luật quốc gia của Nước đó yêu cầu nộp các chỉ dẫn như vậy, nhưng cho phép nộp chúng sau khi nộp đơn quốc gia Việc không cung cấp các chỉ dẫn nêu trên bằng văn bản riêng sẽ không gây hậu quả ở bất
Trang 32kỳ Nước được chỉ định nào nếu luật quốc gia của Nước đó không yêu cầu phải cung cấp các địa chỉ như vậy.
2.3.1.2 Bản mô tả sáng chế 22
Bản mô tả phải bộc lộ sáng chế một cách thật đầy đủ, rõ ràng sao cho chuyên gia trong lĩnh vực đó có thể thực hiện được sáng chế
2.3.1.3 Yêu cầu bảo hộ sáng chế 23
Yêu cầu hoặc các yêu cầu bảo hộ phải xác định được đối tượng xin bảo hộ Các yêu cầu bảo hộ phải rõ ràng, cô đọng Chúng phải hoàn toàn được bản mô tả sáng chế chứng minh
(i) người nộp đơn có thể nộp các bản vẽ đó khi nộp đơn quốc tế;
(ii) cơ quan được chỉ định bất kỳ có thể yêu cầu người nộp đơn nộp các bản vẽ đó trong thời hạn quy định
2.3.1.5 Bản tóm tắt sáng chế 25
Bản tóm tắt chỉ dùng cho mục đích thông tin kỹ thuật và không được sử dụng cho bất kỳ mục đích nào khác, đặc biệt không dùng để giải thích phạm vi xin bảo hộ
22 Điều 5, Hiệp ước PCT.
23 Điều 6, Hiệp ước PCT.
24 Điều 7, Hiệp ước PCT.
25
Khoản 3, Điều 3, Hiệp ước PCT.
Trang 342.3.2 Ngày nộp đơn và ngày ưu tiên
(1) Cơ quan nhận đơn sẽ xác nhận ngày nhận đơn quốc tế làm ngày nộp đơn quốc tế nếu ở thời điểm nhận đơn Cơ quan này nhận thấy rằng:28
(i) Người nộp đơn rõ ràng là không phải là không có quyền nộp đơn quốc tế cho
Cơ quan nhận đơn vì lý do quốc tịch hay nơi cư trú,
(ii) Đơn quốc tế được làm bằng ngôn ngữ quy định,
(iii) Đơn quốc tế chứa đựng ít nhất các yếu tố sau:
a) Một sự chỉ định rằng đơn là đơn quốc tế,
b) Sự chỉ định ít nhất một Nước thành viên,
c) Tên người nộp đơn như quy định,
d) Một phần mà bề ngoài của nó khiến phải hiểu đó là bản mô tả,
e) Một phần mà bề ngoài khiến phải hiểu đó là một hoặc các yêu cầu bảo hộ
(2) (a) Nếu ở thời điểm nhận đơn, Cơ quan nhận đơn nhận thấy rằng đơn quốc tếkhông thỏa mãn các yêu cầu đã nêu ở trên thì đề nghị người nộp đơn nộp bản sửa đổi theo yêu cầu, như quy định ở Quy chế
(b) Nếu người nộp đơn đáp ứng các yêu cầu trên, theo quy định của Quy chế, thì
Cơ quan nhận đơn chấp nhận ngày nhận được các sửa đổi theo yêu cầu là ngày nộp đơn quốc tế
(3) Theo Điều (64)(4) Hiệp ước, bất kỳ đơn quốc tế nào thỏa mãn các yêu cầu nêu trong các mục (i) đến (iii) khoản 1, và đã được chấp nhận ngày nộp đơn quốc tế đều
có hiệu lực như đơn quốc gia đúng thủ tục ở mỗi Nước được chỉ định từ ngày nộp đơn quốc tế, ngày đó được coi là ngày nộp đơn thực tế ở từng Nước được chỉ định
(4) Việc nộp bất kỳ đơn quốc tế nào thỏa mãn các yêu cầu nêu trong các mục (i) đến (iii) khoản 1, đều tương đương với việc nộp đơn quốc gia đúng thủ tục theo nghĩa của Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp
“Ngày ưu tiên” nhằm mục đích tính thời hạn, nghĩa là:29
a) là ngày nộp đơn có quyền ưu tiên như đã yêu cầu, khi đơn quốc tế có yêu cầu vềquyền ưu tiên theo Điều 8 Hiệp ước;
b) là ngày nộp của đơn sớm nhất có ngày ưu tiên như đã yêu cầu, nếu đơn quốc tếyêu cầu nhiều quyền ưu tiên theo Điều 8 Hiệp ước;
Trang 35c) là ngày nộp đơn quốc tế chính đơn này nếu đơn quốc tế không yêu cầu ngày ưu tiên theo Điều 8 Hiệp ước.
2.3.3 Yêu cầu hưởng quyền ưu tiên
Hiệp ước PCT quy định30:
(1) Đơn quốc tế, theo quy định ở Quy chế, có thể yêu cầu quyền ưu tiên của một hoặc một số đơn nộp trước đó ở Nước bất kỳ hoặc cho Nước bất kỳ là thành viên của cap về bảo hộ sở hữu công nghiệp
(2)(a) Theo các quy định của mục (b), các điều kiện và hiệu lực của bất kỳ yêu cầu
ưu tiên nào theo điểm (1) cũng phải tuân theo quy định ở điều 4 của Định ước Stokholm của Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp
(b) Đơn quốc tế có yêu cầu quyền ưu tiên của một hoặc nhiều đơn đã được nộp trước đó ở một Nước thành viên hoặc cho một Nước thành viên có thể nêu việc chỉđịnh Nước thành viên đó Nếu trong một đơn quốc tế có yêu cầu quyền ưu tiên của một hoặc nhiều đơn quốc gia được nộp ở một Nước được chỉ định nào đó hoặc nếu yêu cầu quyền ưu tiên của một đơn quốc tế khác, trong đó chỉ chỉ định một Nước thì các điều kiện và hiệu lực của yêu cầu quyền ưu tiên ở Nước đó sẽ do Luật quốc gia của Nước đó điều chỉnh
Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp quy định:31
A - (1) Bất kỳ người nào đã nộp đơn hợp lệ xin cấp patent hoặc xin đăng ký mẫu hữu ích tại một trong các nước thành viên của Liên minh hoặc người thừa kế hợp pháp của người đó, trong quá trình nộp đơn ở các nước khác sẽ được hưởng quyền
ưu tiên trong thời hạn ấn định dưới đây
(2) Mọi đơn tương đương với đơn quốc gia hợp lệ theo luật quốc gia của bất kỳnước thành viên của Liên minh hoặc theo các hiệp ước song phương hoặc đa phương ký kết giữa các nước thành viên của Liên minh đều được coi là đơn phát sinh quyền ưu tiên
(3) Đơn quốc gia hợp lệ là bất cứ đơn nào đủ để xác nhận ngày đơn đó được nộp tại quốc gia liên quan, bất kể số phận của đơn đó sau này sẽ ra sao
B - Do đó, việc nộp đơn sau đó tại bất kỳ nước thành viên nào khác trước khi kết thúc thời hạn nói trên đều không bị coi là vô hiệu bởi bất kỳ hành động nào được thực hiện trong khoảng thời gian đó, chẳng hạn bởi một đơn khác, bởi việc công bốhoặc khai thác sáng chế và những hành động đó không phát sinh bất kỳ quyền nào
Trang 36
cho người thứ ba hoặc bất kỳ quyền sở hữu cá nhân nào Mọi quyền mà bên thứ ba đạt được trước ngày nộp đơn đầu tiên - đơn là cơ sở cho quyền ưu tiên - vẫn được duy trì theo luật quốc gia của mỗi nước thành viên của Liên minh.
C - (1) Thời hạn nói trên là 12 tháng đối với sáng chế và mẫu hữu ích
(2) Thời hạn nói trên bắt đầu từ ngày nộp đơn đầu tiên; ngày nộp đơn đầu tiên không tính trong thời hạn
(3) Nếu ngày cuối cùng của thời hạn là ngày lễ chính thức hoặc ngày Cơ quan sởhữu công nghiệp không nhận đơn tại nước có yêu cầu bảo hộ, thời hạn sẽ được kéo dài tới ngày làm việc đầu tiên tiếp theo đó
(4) Đơn nộp sau hiểu theo nghĩa ở khoản (2) trên đây đề cập đến cùng một đối tượng như trong đơn đầu tiên nộp tại chính nước thành viên đó của Liên minh sẽđược coi là đơn đầu tiên và ngày nộp đơn đó sẽ là thời điểm mốc để tính thời hạn ưu tiên, nếu tại thời điểm nộp đơn sau, đơn nộp trước nói trên đã được rút bỏ, không được xem xét tiếp hoặc bị từ chối nhưng chưa đưa ra xét nghiệm công chúng và không để lại bất kỳ quyền nào chưa giải quyết và nếu chưa phải là cơ sở để xin hưởng quyền ưu tiên Lúc đó, đơn nộp trước sẽ không được dùng làm cơ sở để xin hưởng quyền ưu tiên nữa
D - (1) Bất kỳ ai muốn hưởng quyền ưu tiên trên cơ sở đơn nộp trước sẽ phải khai
rõ ngày nộp và nước nhận đơn đó Mỗi nước phải ấn định ngày muộn nhất phải khaicác dữ liệu đó
(2) Các dữ kiện nói trên phải được công bố trong các tài liệu của cơ quan có thẩm quyền, cụ thể là trong patent và các bản mô tả liên quan
(3) Các nước thành viên của Liên minh có thể yêu cầu bất kỳ người khai nào nói trên phải nộp bản sao (bản mô tả, bản vẽ v.v ) của đơn nộp trước Bản sao - được
cơ quan có thẩm quyền đã nhận đơn đó xác nhận - không đòi hỏi bất kỳ sự xác nhận nào khác và trong mọi trường hợp đều có thể nộp miễn phí tại bất kỳ thời điểm nào trong vòng 3 tháng kể từ ngày nộp đơn nộp sau Các nước thành viên có thể yêu cầu bản sao phải được nộp kèm theo giấy xác nhận ngày nộp đơn đó do chính cơ quan
có thẩm quyền nói trên cấp và kèm theo bản dịch
(4) Không được đưa ra bất kỳ yêu cầu nào khác tại thời điểm nộp đơn về hình thức đối với bản khai về quyền ưu tiên Mỗi nước thành viên của Liên minh phải ấn định hậu quả của việc không thoả mãn các yêu cầu về hình thức quy định trong Điều này nhưng hậu quả đó trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được vượt quá mức mất quyền ưu tiên
Trang 37(5) Sau đó, có thể yêu cầu nộp thêm bằng chứng Bất kỳ người nào xin hưởng quyền ưu tiên trên cơ sở đơn nộp trước đều phải chỉ ra số đơn đó; số đơn này phải được công bố như quy định tại khoản (2) trên đây.
Ngoài ra, có thể cho phép nộp một đơn mẫu hữu ích tại một nước với yêu cầu hưởng quyền ưu tiên trên cơ sở một đơn sáng chế và ngược lại
E - Không một nước thành viên nào của Liên minh được từ chối quyền ưu tiên hoặc từ chối một đơn sáng chế vì lý do người nộp đơn yêu cầu hưởng quyền ưu tiên phức hợp, thậm chí cả khi các quyền ưu tiên bắt nguồn từ nhiều nước khác nhau, hoặc vì lý do đơn có yêu cầu hưởng một hoặc nhiều quyền ưu tiên có chứa một hoặc nhiều yếu tố không nằm trong đơn hoặc các đơn là cơ sở yêu cầu hưởng quyền ưu tiên với điều kiện là trong cả hai trường hợp đó đơn phải thoả mãn tính thống nhất của sáng chế theo quy định của luật quốc gia
Với những yếu tố không nằm trong đơn hoặc các đơn là cơ sở yêu cầu hưởng quyền
ưu tiên, việc nộp đơn sau làm phát sinh quyền ưu tiên theo những điều kiện thông thường
F - (1) Nếu kết quả xét nghiệm khẳng định rằng đơn sáng chế bao gồm nhiều sáng chế, người nộp đơn có thể tách đơn thành một số lượng nhất định các đơn riêng và giữ ngày nộp đơn ban đầu làm ngày nộp đơn của mỗi đơn đó và giữnguyên quyền ưu tiên, nếu có
(2) Người nộp đơn cũng có thể tự mình chủ động tách đơn sáng chế và giữ ngày nộp đơn ban đầu làm ngày nộp đơn của mỗi đơn mới tách và giữ nguyên quyền ưu tiên, nếu có Mỗi nước thành viên của Liên minh có quyền xác định các điều kiện cho phép tách đơn như vậy
G - Quyền ưu tiên không thể bị từ chối với lý do là một số yếu tố của sáng chế có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên không xuất hiện trong số các yêu cầu bảo hộ của đơn nộp ở nước xuất xứ với điều kiện là toàn bộ các tài liệu của đơn đó bộc lộ rõ các yếu tố như vậy
H - (1) Đơn xin cấp bằng tác giả sáng chế nộp tại nước mà người nộp đơn có quyền tự lựa chọn giữa đơn xin cấp patent và đơn xin cấp bằng tác giả sáng chế sẽphát sinh quyền ưu tiên như quy định trong Điều này với những điều kiện và hậu quả giống như đơn xin cấp patent
(2) Tại nước mà người nộp đơn có quyền tự lựa chọn giữa việc xin cấp patent và việc xin cấp bằng tác giả sáng chế, người nộp đơn xin cấp bằng tác giả sáng chế sẽ
Trang 38xin cấp bằng tác giả sáng chế, theo những quy định của Điều này liên quan đến đơn xin cấp patent.
Theo đó, Công ước Paris quy định quyền ưu tiên đối với sáng chế, mẫu hữu ích
Cụ thể là trên cơ sở một đơn hợp lệ đầu tiên đã được nộp tại một trong số các nước thành viên, trong một thời hạn nhất định (12 tháng đối với sáng chế và mẫu hữu ích)người nộp đơn có thể nộp đơn yêu cầu bảo hộ tại bất cứ nước thành viên nào khác
và các đơn nộp sau sẽ được coi như đã được nộp vào cùng ngày với ngày nộp đơn đầu tiên Nói cách khác, những đơn nộp sau đó sẽ có quyền ưu tiên đối với các đơn
có thể đã được những người khác nộp trong khoảng thời gian ưu tiên nói trên cho chính sáng chế, mẫu hữu ích đó Ngoài ra, những đơn nộp sau dựa trên cơ sở đơn nộp đầu tiên sẽ không bị ảnh hưởng bởi bất cứ sự kiện nào có thể xảy ra trong khoảng thời gian ưu tiên, chẳng hạn như việc công bố sáng chế Một trong những lợi ích thiết thực nhất của quy định này là khi người nộp đơn muốn đạt được sự bảo
hộ ở một số nước, họ không buộc phải nộp đồng thời tất cả các đơn tại nước xuất xứ
và các nước khác mà có đến 12 tháng để quyết định xem nên nộp đơn yêu cầu bảo
hộ ở những nước nào và tiến hành thủ tục nộp đơn ở các nước được lựa chọn
Việc rút hoặc từ chối đơn đầu tiên không làm mất khả năng được hưởng quyền ưu tiên của người nộp đơn Người nộp đơn có thể yêu cầu hưởng quyền ưu tiên từnhiều đơn cũng như có thể yêu cầu hưởng quyền ưu tiên từ một phần của một đơn nộp trước
Như vậy, Trong trường hợp người nộp đơn đăng ký sáng chế tại Việt Nam muốn hưởng quyền ưu tiên theo quy định của Công ước Paris, yêu cầu hưởng quyền ưu tiên của người nộp đơn sẽ được chấp nhận nếu đáp ứng các điều kiện sau đây32:a) Người nộp đơn là công dân Việt Nam hoặc công dân của nước Thành viên của Công ước Paris hoặc cư trú, có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam hoặc tại nước Thành viên Công ước đó;
b) Đơn đầu tiên đã được nộp tại Việt Nam hoặc tại nước Thành viên của Công ước Paris và đơn đó có chứa phần tương ứng với yêu cầu hưởng quyền ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế
c) Đơn đăng ký được nộp trong thời hạn sau đây kể từ ngày nộp đơn đầu tiên: mười hai tháng đối với đơn đăng ký sáng chế;
32
Điều 10, Nghị định 103/2006/NĐ-CP.
Trang 39d) Trong đơn đăng ký sáng chế, người nộp đơn có nêu rõ yêu cầu hưởng quyền ưu tiên và có nộp bản sao đơn đầu tiên nêu tại điểm b khoản này trong trường hợp nộp tại nước ngoài, trong đó có xác nhận của Cơ quan nhận đơn đầu tiên;
đ) Nộp đủ lệ phí yêu cầu hưởng quyền ưu tiên
2.4 Trình tự thủ tục đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế theo hiệp ước PCT
Hiệp ước PCT là một hiệp ước quốc tế về sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nộp đơn yêu cầu cấp bằng sáng chế, đơn tra cứu thông tin cho các đơn này, việc xét nghiệm chúng cũng như công bố thông tin kỹ thuật về các đơn này Mục tiêu chủyếu của PCT là đơn giản hóa các thủ tục nộp đơn khi người nộp đơn yêu cầu bảo hộsáng chế của mình ở nhiều nước trên thế giới và làm cho việc nộp đơn đó trở nên có lợi cho cả người nộp đơn và các cơ quan quản lý quốc gia quốc gia về SHCN mà sáng chế đó được yêu cầu bảo hộ
Để đạt được mục tiêu trên, PCT đã thiết lập một hệ thống quốc tế cho phép việc nộp vào một cơ quan quản lý quốc gia về SHCN duy nhất gọi là “Cơ quan nhận đơn” (Cơ quan có thẩm quyền nhận đơn quốc tế về sáng chế tại Việt Nam là Cục SHTT)33 một đơn duy nhất gọi là “Đơn quốc tế” bằng một ngôn ngữ có hiệu lực trong mỗi nước thành viên PCT mà người nộp đơn chỉ định trong đơn của mình Trình tự thủ tục đăng ký sáng chế theo Hiệp ước PCT bao gồm hai giai đoạn:34a) Giai đoạn quốc tế bao gồm: nộp đơn quốc tế; tra cứu quốc tế; công bố quốc
tế và xét nghiệm sơ bộ quốc tế;
b) Giai đoạn quốc gia/khu vực
2.4.1 Giai đoạn quốc tế
Trang 40
Một đơn quốc tế có hiệu lực kể từ ngày nộp đơn quốc tế của đơn đăng ký quốc gia tại các quốc gia thành viên của PCT nơi người nộp đơn chỉ định trong đơn của mình Nó cũng có hiệu lực của một đơn xin cấp bằng độc quyền sáng chế khu vực tại các quốc gia thành viên của PCT nơi là thành viên của một thỏa ước sáng chếkhu vực, miễn là chúng đã được chỉ định cho một bằng độc quyền sáng chế khu vực( đó là bằng độc quyền sáng chế của ARIPO, bằng độc quyền sáng chế của Khu vực Á-Âu (Eurasian), bằng độc quyền sáng chế của khu vực châu Âu hoặc bằng độc quyền sáng chế của OAPI).
Hiệp ước PCT quy định một số tiêu chuẩn đối với đơn quốc tế Một đơn quốc tếđược chuẩn bị theo đúng những tiêu chuẩn này có thể sẽ được tất cả các quốc gia thành viên PCT chấp nhận, miễn là hình thức và nội dung của đơn được đề cập và
sẽ không cần thiết phải có những sửa đổi sau này bởi những yêu cầu của quốc gia hoặc của khu vực khác nhau (và chi phí kéo theo) Luật pháp quốc gia không thểđòi hỏi việc tuân thủ những yêu cầu liên quan tới hình thức hoặc nội dung của đơn quóc tế khác với hoặc ngoài những yêu cầu được Hiệp ước PCT quy định35
Việc chuẩn bị và nộp đơn quốc tế chỉ phải chịu một khoản phí duy nhất và khoản phí này có thể được trả bằng một loại tiền tại một Cơ quan - Cơ quan nhận đơn.Việc thanh toán phí quốc gia cho các Cơ quan được chỉ định có thể được trì hoãn Phí quốc gia có thể thanh toán chậm hơn nhiều so với ngày nộp đơn theo hình thức truyền thống của Công ước Paris
Các khoản phí phải thanh toán cho Cơ quan tiếp nhận đơn quốc tế bao gồm 3 khoản chính:
- phí tiếp nhận - trang trải cho công việc của Cơ quan nhận đơn;
- phí tra cứu - trang trải cho công việc của Cơ quan tra cứu quốc tế;
- phí quốc tế - trang trải cho công việc của Văn phòng quốc tế
Người nộp đơn nếu là một thể nhân và là công dân và cư trú tại một quốc gia mà thu nhập quốc dân theo đầu người của quốc gia đó ở dưới một mức đã định, dựa trên các số liệu thu nhập mà Liên Hợp Quốc sử dụng để xác định phạm vi đánh giá
về phần đóng góp vào số liệu đó, có quyền được giảm phí PCT khá nhiều, bao gồm
cả phí quốc tế Nếu có nhiều người nộp đơn thì mỗi người đều phải thỏa mãn tiêu chuẩn nói trên
Ngôn ngữ được dùng để có thể nộp đơn quốc tế phụ thuộc vào các yêu cầu của Cơ quan nhận đơn mà tại đó đơn được nộp và của Cơ quan tra cứu quốc tế - nơi phải
35
Điều 27(1), Hiệp ước PCT.