1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật việt nam

71 911 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu Với đề tài “Vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam”, người viết tập trung phân tích những vấn đề lý luận chung về nuôi con nuôi có yếu tố

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT o0o

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

KHÓA 37 (2011 – 2015)

Đề tài:

VẤN ĐỀ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Ths Bùi Thị Mỹ Hương Nguyễn Hải Đông

Bộ Môn: Luật Thương Mại MSSV: 5115705

Cần Thơ, 11/ 2014

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Phạm vi nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục đề tài 3

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 4

1.1 Khái niệm về nuôi con nuôi và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 4

1.1.1 Khái niệm nuôi con nuôi 4

1.1.2 Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 5

1.2 Bản chất và tầm quan trọng của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 6

1.2.1 Bản chất của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 6

1.2.1.1 Bản chất xã hội 6

1.2.1.2 Bản chất pháp lý 6

1.2.2 Tầm quan trọng của việc nuôi con nuôi có yếu nước ngoài 7

1.3 Mục đích và ý nghĩa của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 8

1.3.1 Mục đích của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 8

1.3.2 Ý nghĩa của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 8

1.4 Đặc trưng về quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 9

1.4.1 Đối tương điều chỉnh 9

1.4.1.1 Yếu tố chủ thể 10

1.4.1.2 Yếu tố khách thể 10

1.4.1.3 Sự kiện pháp lý 11

1.4.1.4 Yếu tố nơi cư trú 12

1.4.2 Phương pháp điều chỉnh 13

1.4.2.1 Phương pháp thực chất 13

1.4.2.2 Phương pháp xung đột 14

1.4.3 Nguồn luật điều chỉnh 15

1.4.3.1 Điều ước quốc tế 15

1.4.3.2 Pháp luật quốc gia 16

1.4.4 Nguyên tắc điều chỉnh 16

Trang 3

1.4.4.1 Nguyên tắc luật quốc tịch của đương sự (Lex patriace) 16

1.4.4.2 Nguyên tắc luật nơi cư trú của đương sự ( Lex domicile) 17

1.4.4.3 Nguyên tắc luật Tòa án (Lexfori) 17

1.5 Lược sử hình thành và phát triển chế định pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong pháp luật Việt nam 18

1.5.1 Trước năm 1945 18

1.5.2 Từ năm 1945 đến 1959 19

1.5.3 Từ năm 1959 đến 1986 19

1.5.4 Từ năm 1986-2000 20

1.5.5 Từ năm 2000 đến nay 22

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH ĐIỀU CHỈNH VỀ QUAN HỆ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 24

2.1 Điều kiện nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 24

2.1.1 Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi 24

2.1.1.1 Điều kiện đối với người nước ngoài thường trú tại Việt Nam 24

2.1.1.2 Điều kiện đối với người nước ngoài thường trú ở nước ngoài 26

2.1.2 Điều kiện đối với người được nhận nuôi 27

2.1.2.1 Điều kiện đối với trẻ em Việt Nam được nhận làm con nuôi nước ngoài……… 27

2.1.2.2 Điều kiện đối với trẻ em nước ngoài được nhận làm con nuôi……… 28

2.2 Hệ quả pháp lý của nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 28

2.2.1 Quan hệ giữa cha mẹ nuôi với con nuôi 28

2.2.2 Quan hệ giữa con nuôi với cha mẹ đẻ 32

2.2.3 Quan hệ giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi 33

2.3 Thẩm quyền giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 36

2.3.1 Thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam 36

2.3.2 Thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại cơ quan đại diện 36

2.4 Trình tự, thủ tuc giải quyết việc đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 37

2.4.1 Trình tự, thủ tục giải quyết việc đăng ký nuối con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam 37

2.4.2 Trình tự, thủ tục giải quyết việc đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại cơ quan đại diện 41

Trang 4

2.4.3 Trình tự, thủ tục giải quyết việc đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước

ngoài tại khu vực biên giới 42

2.4.3.1 Trình tự, thủ tục giải quyết việc người nước ngoài tại khu vực biên giới nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi 42

2.4.3.2 Trình tự, thủ tục giải quyết việc công dân Việt Nam ở khu vực biên giới nhận trẻ em nước láng giềng làm con nuôi 43

2.5 Chấm dứt việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 44

2.5.1 Thẩm quyền chấm dứt việc nuôi con nuôi 44

2.5.2 Hệ quả pháp lý của việc chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi 44

2.6 Hoạt động của tổ chức nuôi con nuôi nước ngoài 45

2.6.1 Điều kiện thành lập 45

2.6.2 Hồ sơ xin đăng xin cấp phép hoạt động tại Việt Nam 46

2.6.3 Trình tự, thủ tục cấp giấy phép hoạt động cho tổ chức nuôi con nuôi nước ngoài tại Việt Nam 46

2.6.4 Sửa đổi nội dung giấy phép, gia hạn giấy phép và thu hồi giấy của tổ chức nuôi con nuôi nước ngoài tại Việt Nam 47

2.6.5 Quyền và nghĩa vụ của tổ chức nuôi con nuôi nước ngoài hoạt động tại Việt Nam 50

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VỀ VẤN ĐỀ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 52

3.1 Thực trạng về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 52

3.1.1 Thành tựu về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 52

3.1.1.1 Tạo ra cơ chế xử lý vấn đề nuôi con nuôi quốc tế minh bạch hơn so với thời kỳ trước đây 52

3.1.1.2 Trình tự, thủ tục giải quyết cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài………54

3.1.1.3 Hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nuôi con nuôi ngày được mở rộng……… 55

3.1.1.4 Tìm được mái ấm gia đình thay thế cho trẻ em 55

3.1.1.5 Về công tác kiểm tra, thanh tra việc thực hiện nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 56

3.1.2 Những tồn tại, bất cập trong việc giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 56

3.1.2.1 Thủ tục, trình tự giải quyết việc nuôi con nuôi còn bất cập 56

3.1.2.2 Về việc quản lý thông tin của trẻ khi đã được giao làm con nuôi nước ngoài………57

3.1.2.3 Nhận thức chưa đúng về vấn đề nuôi con nuôi 57 3.1.2.4 Sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan liên quan đến việc giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn chồng chéo và chưa

Trang 5

tốt……… 58 3.1.2.5 Chưa bảo đảm ưu tiên việc nuôi con nuôi trong nước trước khi cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài 58 3.1.2.6 Còn thiếu sự minh bạch trong việc tiếp nhận và sử dụng các khoản hỗ trợ nhân đạo của tổ chức, cá nhân nước ngoài 59

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam 59

3.2.1 Về trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 60 3.2.2 Về việc quản lý thông tin của trẻ em khi đã được giao nhận làm con nuôi nước ngoài 60 3.2.3 Nâng cao nhận thức về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 61 3.2.4 Về vấn đề minh bạch trong việc tiếp nhận và sự dụng hỗ trợ nhân đạo của tổ chức, cá nhân nước ngoài 62 3.2.5 Về công tác phối hợp giữa các cơ quan liên quan đến việc giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài……… 62

KẾT LUẬN 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nuôi con nuôi là một chế định quan trọng trong pháp luật hôn nhân và gia đình trước đây Bộ luật dân sự năm 2005 quy định, quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi của cá nhân được pháp luật công nhận và bảo hộ; việc nhận con nuôi và được nhận làm con nuôi được thực hiện theo quy định của pháp luật Việc thi hành pháp luật về nuôi con nuôi đã góp phần giúp cho nhiều trẻ

em có được mái ấm gia đình thay thế trong và ngoài nước, giúp cho nhiều đứa trẻ

có hoàn cảnh khó khăn được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục tốt trở thành những người có ích cho xã hội Đồng thời, thông qua việc giải quyết nuôi con nuôi cũng góp phần quan trọng bảo đảm cho những người đơn thân hoặc cặp vợ chồng hiếm con được thực hiện quyền làm cha mẹ

Hiện nay, do nhu cầu hội nhập, với chính sách khuyến khích, mở rộng quan

hệ đối ngoại với các nước trên thế giới, việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ngày càng gia tăng, song hiện tượng nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài có những diễn biến đa dạng và phúc tạp Ngoài bản chất và mục đích cao đẹp của việc nuôi con nuôi là nhằm xây dựng mối quan hệ gia đình, thiết lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và đứa trẻ được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho đứa trẻ có cuộc sống tốt hơn, cũng còn xuất hiện những việc làm phi đạo đức, lợi dụng danh nghĩa cho trẻ làm con nuôi để thu gom, môi giới, dẫn dắt mua bán trẻ em Do vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một trong những vấn đề dân sự có yếu tố nước ngoài được điều chỉnh bởi ngành luật tư pháp quốc tế nên những quan hệ phát sinh trong quan hệ này chịu sự điều chỉnh đặc biệt

Như chúng ta đã biết, bất kỳ một lĩnh vực nào trong đời sống cũng cần có sự điều chỉnh của pháp luật, nó cần phải có nguyên tắc, các quy định cụ thể để hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, nếu không có sự điều chỉnh của pháp luật thì các mối quan hệ sẽ trở nên rối rắm Lĩnh vực nuôi con nuôi nói chung cũng như nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng, việc bảo vệ quyền lợi của người được nuôi

và người nhận nuôi là một lĩnh vực quan trọng trong thực tiễn đời sống Đây là công việc khó khăn, đòi hỏi thời gian và sự tham gia của không chỉ các cơ quan nhà nước

mà của toàn xã hội Luật Nuôi con nuôi ra đời với những điều khoản quy định riêng

về lĩnh vực nuôi con nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước đối với những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, những chồi non của đất nước, tạo tính thống nhất, đồng bộ trong việc giải quyết nuôi con nuôi

Trang 7

Việc dựa trên quy định của Luật nuôi con nuôi để giải quyết những vấn đề về nhận con nuôi, các nguyên tắc, điều kiện nuôi con nuôi, thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi; quyền, nghĩa vụ của cha mẹ nuôi, con nuôi và cha

mẹ đẻ, trách nhiệm của cơ quan tổ chức trong việc nuôi con nuôi Song, khi tiến hành công tác áp dụng pháp luật trên thực tiễn tuy gặt hái được những thành công nhất định nhưng bên cạnh đó cũng gặp không ít khó khăn, vướng mắc, bất cập về trình tự, thủ tục giải quyết, về công tác đánh giá, nhận thức về nuôi con nuôi đặc biệt là đối với vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Do vậy, vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài cần được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện về mặt pháp

lý cũng như về mặt áp dụng pháp luật trong thực tiễn sao cho pháp luật quốc gia phù hợp với luật pháp quốc tế góp phần thể chế hóa đường lối chính sách của Đảng

và nhà nước về giải quyết vấn đề trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em gặp phải bất hạnh trong cuộc sống

Từ những lý do khách quan về lý luận và thực tiễn nêu trên, người viết đã

suy nghĩ và lựa chọn đề tài “Vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp

luật Việt Nam” để làm đề tài tốt nghiệp khóa học của mình

2 Phạm vi nghiên cứu

Với đề tài “Vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt

Nam”, người viết tập trung phân tích những vấn đề lý luận chung về nuôi con nuôi

có yếu tố nước ngoài như khái niệm, bản chất, ý nghĩa của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài…Đồng thời, người viết tiến hành phân tích những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài như về nguyên tắc giải quyết, điều kiện nuôi con nuôi, thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi nước ngoài; quyền, nghĩa vụ của cha mẹ nuôi, con nuôi và cha mẹ đẻ, trách nhiệm của cơ quan tổ chức trong việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Dựa trên cơ sở lý luận cũng như cơ sở pháp lý, người viết đưa ra thực trạng

và giải pháp hoàn thiện về vấn nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam hiện nay

3 Mục đích nghiên cứu

Nuôi con nuôi là hoạt động nhân đạo làm phát sinh quan hệ cha mẹ và con mang tính chất lâu dài giữa một bên là người nhận nuôi và trẻ em được nhận nuôi bảo đảm cho những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục một cách tốt nhất trong môi trường gia đình Hiện nay Việt Nam là một trong những quốc gia có một số lượng lớn trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ em cơ nhỡ, trẻ em bị cha mẹ bỏ rơi, trẻ em bị ảnh hưởng chất độc hóa học

từ chiến tranh…chưa được quan tâm từ cộng đồng xã hội Hơn ai hết những đứa trẻ

Trang 8

đó cần phải có một mái ấm gia đình, cần có sự yêu thương chăm sóc trọn vẹn để các

em được phát triện toàn diện, hiểu được tầm quan trọng đó Nhà nước ta đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các chính sách hợp tác quốc tế nhằm để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho trẻ em, trong đó có quyền cho làm con nuôi của trẻ

Nhằm mục đích tạo sự công bằng, tiến bộ đảm bảo quyền lợi của trẻ em trong vấn đề nuôi con nuôi, hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật hiện nay về hợp tác quốc tế về nuôi con nuôi giữa các nước, tạo ra một môi trường thuận lợi nhất dành cho sự phát triển của trẻ em trong tương lai một cách rộng rãi và hiệu quả chúng ta cần phải tìm hiểu một cách sâu rộng và đầy đủ về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và các chính sách hợp tác quốc tế của nước ta về vấn đề nuôi con nuôi đề từ đó áp dụng trong thực tiễn nhằm đảm bảo quyền lợi của trẻ em Từ đó nêu cao tinh thần chính sách nhân đạo của Nhà nước ta, trách nhiện của các cơ quan chức năng trong vấn việc nuôi con nuôi đặc biệt là nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài là phương pháp phân tích truyền thống như: phương pháp phân tích câu chữ, kết hợp với phân tích và phân tích lịch

sử Ngoài ra còn sử dụng phương pháp diễn dịch, quy nạp, liệt kê, so sánh, đối chiếu… nhằm đi sâu vào từng điều luật cụ thể và tìm hiểu nội dung, tính hữu hiệu cũng như mặt hạn chế để từ đó đề ra hướng giải quyết cho những vấn đề đã đặt ra

5 Bố cục đề tài

Đề tài được nghiên cứu theo phương pháp truyền thống gồm 3 chương:

- Chương 1: Lý luận chung về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

- Chương 2: Nội dung pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh về quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

- Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

Trang 9

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ NUÔI CON NUÔI CÓ

YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Chương này người viết tập chung nghiên cứu về những vấn đề lý luận chung

về pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài như khái niệm, bản chất , đặc trưng

cơ bản về quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật điều chỉnh về quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài…Từ tiền đề lý luận chung sẽ tạo cơ sở cho hoạt động nghiên cứu về quy định pháp luật hiện hành về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

1.1 Khái niệm về nuôi con nuôi và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

1.1.1 Khái niệm nuôi con nuôi

Con nuôi là việc một người được người khác nhận làm con nhưng không trực tiếp sinh ra, người nhận con nuôi gọi là cha nuôi, mẹ nuôi Quan hệ pháp luật giữa cha mẹ nuôi và con nuôi giống như quan hệ pháp luật giữa cha mẹ đẻ và con đẻ Việc nhận con nuôi phải tuân theo những quy định của pháp luật1

Nuôi con nuôi là một hiện tượng xã hội, một chế định pháp lý đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử pháp luật Việt Nam Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi ; dựa trên ý chí chủ quan của các chủ thể tham gia quan hệ nuôi con nuôi2

Theo Điều 3 Luật nuôi con nuôi giải thích:“Nuôi con nuôi là việc xác lập

quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi Cha mẹ nuôi là người nhận con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký Con nuôi là người được nhận làm con nuôi sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký” Nếu như quan hệ cha mẹ đẻ

và con đẻ được xác lập trên cơ sở là quan hệ huyết thống thì quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi được thiết lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo nguyện vọng của các đương sự và sự tuân thủ các quy định của pháp luật về các điều kiện xác lập quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi Như vậy, quan

hệ cha mẹ nuôi – con nuôi là quan hệ ràng buộc một người vào một hoặc hai người khác, những người có liên quan không có quan hệ huyết thống với nhau như cha mẹ – con ruột, nhưng người nuôi xem như cha mẹ của người được nuôi, dù không sinh

ra người được nuôi; người được nuôi về phần mình, coi người nuôi như cha mẹ

1 Biên soạn Nguyễn Thùy Dương, Những vấn đề cơ bản và thuật ngữ của Bộ luật dân sự, trang 50

2 Tập thể tác giả, Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình – Đại học luật Hà Nội, trang 171

Trang 10

ruột Đó là quan hệ cha mẹ con không được xác lập bằng con đường sinh sản mà theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trên cơ sở đáp ứng nguyện vọng của các đương sự, đặc biệt là của người nuôi3 Việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi làm phát sinh giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận nuôi đầy đủ các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con và việc nuôi con nuôi chỉ có giá trị pháp

lý khi đã được đăng ký theo quy định của pháp luật

1.1.2 Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài hiện nay là vấn đề hiện được nhiều nước trên thế giới quan tâm Đặc biệt trong điều kiện toàn cầu hoá như hiện nay, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thực sự đã trở thành vấn đề nhân đạo mang tính toàn cầu

và đã được thể chế hoá trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia

Ở nước ta trong những năm gần đây nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được Nhà nước đặc biệt quan tâm bằng việc ban hành nhiều chính sách, văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nhằm

xử lý những sai phạm, làm cho việc cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài thực

sự mang tính nhân đạo, tìm mái ấm gia đình và hạnh phúc cho trẻ em

Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật nuôi con nuôi năm 2010 thì: “Nuôi

con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau tại Việt Nam giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài” Như vậy các quan hệ của các chủ

thể hình thành quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài bao gồm:

- Quan hệ nuôi con nuôi giữa người nước ngoài với trẻ em Việt Nam cư trú trên lãnh thổ Việt Nam hoặc cư trú ở nước ngoài

- Quan hệ nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với trẻ em nước ngoài ở Việt Nam hoặc ở nước ngoài

- Quan hệ nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài

- Quan hệ nuôi con nuôi giữa người nước ngoài với nhau phát sinh tại Việt Nam

Theo các trường nêu hợp trên, quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

đã được mở rộng không chỉ là quan hệ nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài mà còn bao gồm quan hệ nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam

3 Ts Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Tập 1 – Gia đình, trang

197

Trang 11

với nhau ở nước ngoài và quan hệ nuôi con nuôi giữa người nước ngoài với nhau ở

Việt Nam

1.2 Bản chất và tầm quan trọng của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

1.2.1 Bản chất của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

1.2.1.1 Bản chất xã hội

Nuôi con nuôi là một hoạt động xã hội mang tính nhân đạo được sự quan tâm

từ phía cộng đồng, đối với vấn đề xã hội này không chỉ tác động đối với một quốc gia cụ thể nào mà nó có tác động sâu rộng đến tất cả quốc gia trên toàn thế giới Vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài mang bản chất xã hội trong việc thể hiện tinh thần hợp tác giữa các quốc gia trên thế giới nhằm tìm kiếm gia đình thay thế cho những đứa trẻ gặp hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để chúng có cơ hội được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trong môi trường gia đình góp phần bảo vệ quyền lợi của trẻ em

Ngoài ra, bản chất xã hội của vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn được thể hiện ở chỗ mang lại cơ hội cho các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên toàn thế giới đặc biệt là tại các quốc gia nghèo về kinh tế, điều kiện chăm sóc, bảo vệ trẻ em con yếu kém, giúp tạo ra sự quan tâm của toàn xã hội trong việc chăm sóc bảo vệ trẻ em Hiện nay, việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế đã tạo điều kiện cho các quan hệ có yếu tố nước ngoài giữa các quốc gia ngày càng phát triển phong phú và đa dạng trong đó có quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài cũng như các vấn đề về dân tộc, tôn giáo và trình độ phát triển của các quốc gia ngày càng găn bó mật thiết Từ những thành tựu trên đã góp phần xóa dần sự phân biệt, gắn kết tất cả quốc gia với nhau, mở rộng các mối quan hệ về tình người, về tính hợp tác bình đẳng tôn trọng quyền lợi giữa các quốc gia với nhau Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thể hiện ý chí của tất cả các quốc gia trong việc định hướng phát triển toàn diện của trẻ em sao cho phù hợp với luật pháp quốc tế Sự quan tâm này xuất phát từ mục đích cao cả của cộng đồng và xã hội đối với việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho trẻ em

1.2.1.2 Bản chất pháp lý

Cơ quan có thẩm quyền chỉ có thể công nhận việc nuôi con nuôi khi ý chí của các bên đương sự thể hiện một cách rõ ràng đồng thời các bên đương sự phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện cần thiết theo quy định của pháp luật Bản chất pháp

lý của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là sự ghi nhận về mặt pháp lý của các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Trang 12

Bản chất pháp lý của vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trước tiên là

sự thể hiện ý chí của các bên đương sự trong việc xác lập quan hệ cha me nuôi - con nuôi Đây là sự thể hiện ý chí của người nhận con nuôi, sự thể hiện ý chí của cha mẹ

đẻ hoặc là của người giám hộ của người được cho làm con nuôi Trên cơ sở ý chí của các bên đương sự được một cách rõ ràng thì quan hệ pháp lý được xác lập và được pháp luật thừa nhận Sự công nhận quan hệ cha mẹ nuôi - con nuôi theo pháp luật quốc gia có ý nghĩa quyết định trong việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi trên cơ

sở xem xét về ý chí của các bên và những điều kiện cần thiết cho việc xác lập đúng theo quy định của nhà nước trên cơ sở đó cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành việc đăng ký và ra quyết định công nhận quan hệ giữa cha mẹ nuôi- con nuôi

Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một trong những quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, vì vậy bản chất pháp lý của quan hệ này cũng thuộc lĩnh vực chuyên ngành tư pháp quốc tế phát sinh trong quá trình giải quyết vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Từ những phân tích cho thấy các vấn đề liên quan đến vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đều chịu sự điều chỉnh bởi các nguyên tắc cơ bản của ngành luật tư pháp quốc tế và pháp luật quốc gia

1.2.2 Tầm quan trọng của việc nuôi con nuôi có yếu nước ngoài

Nhằm hoàn thiện hơn chính sách phát triển toàn diện của trẻ em, các quyền lợi ích hợp pháp chính đáng của trẻ em, đảm bảo cho trẻ em được chăm sóc giáo dục một cách tốt nhất Đảng và nhà nước ta đã xác định việc nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng có vai trò hết sức quan trọng trong chính sách bảo vệ quyền trẻ em hiện nay

Việc tạo ra một môi trường tốt nhất cho việc chăm sóc trẻ em Việt Nam hiện nay được nhà nước ta luôn chú trọng tạo mọi điều kiện thuận lợi để cho trẻ em có thể sống tốt và phát triển một cách toàn diện vấn đề được cụ thể hóa bằng các chính sách pháp luật, trong đó có các điều luật liên quan đến nuôi con nuôi được ban hành

và càng được hoàn thiện đặc biệt từ khi Luật nuôi con nuôi 2010 được ban hành

Trong những năm qua việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ngày càng phát triển rộng rãi góp phần tích cực trong việc mở rộng quan hệ quốc tế trong lĩnh vực nuôi con nuôi với các nước trên thế giới trong thời kỳ hội nhập, thúc đẩy giao lưu hợp tác hữu nghị tăng cường tinh thần đoàn kết quốc tế cũng như góp phần bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em tạo cho trẻ có môi trường tốt nhất nhằm hướng tới mục đích chung là sự phát triển toàn diện về mọi mặt của cho trẻ em hiện nay

Trang 13

1.3 Mục đích và ý nghĩa của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

1.3.1 Mục đích của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Theo Điều 2 Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy đinh “Việc nuôi con nuôi

nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảm đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình”

Việc nuôi con nuôi con nuôi là nhằm tạo ra một môi trường sống tốt đẹp cho trẻ em gặp hoàn cảnh khó khăn có được một cuộc sống tốt đẹp, tạo ra môi trường sống lành mạnh có điều kiện phát triển toàn diện về mọi mặt nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên toàn thế giới

Hiện nay, vấn nạn về buôn bán, lạm dụng, bóc lột sức lao động của trẻ em diễn biến ngày càng phúc tạp với nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi đặc biệt là ở các quốc gia kém phát triển và lang rộng ra toàn thế giới Trong đó, nước ta là một trong những quốc gia đang có số lượng lớn trẻ em làm nuôi ở nước ngoài, vì vậy công tác phòng chống tội phạm liên quan đến vấn đề nuôi con nuôi ngày càng gay gắt Trước tình hình thực tế đó, Đảng và Nhà nước ta đang ban hành những chính sách pháp luật để điều chỉnh các vấn đề phát sinh trong mối quan hệ pháp luật này Cùng với các văn bản pháp luật trong nước Nhà nước ta ngày càng tăng cường hợp tác với các quốc gia khác bằng việc ký kết các hiệp định, các điều ước quốc tế, các hiệp định tương trợ về vấn đề quyền lợi của trẻ em và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Hiện nay, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn được thể hiện vì lợi ích, mục đích của các quốc gia trong việc hướng đến sự phát triển của trẻ em sao cho phù hợp với luật pháp quốc tế Sự quan tâm này đòi hỏi xuất phát từ ý chí chung mang tính nhân đạo của cộng đồng xã hội đi đến việc xóa bỏ ý niệm nuôi con nuôi

vì vụ lợi đi ngược lại với đạo đức xã hội vì quyền lợi của trẻ em

1.3.2 Ý nghĩa của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng thể hiện quan hệ xã hội có tính nhân đạo, thể hiện truyền thống tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau giữa con người và con người, đặc biệt là đối với những đứa trẻ bị

mồ côi, không nơi nương tựa Cần khẳng định rằng, nuôi con nuôi là một trong những biện pháp tốt nhất và có hiệu quả nhất để giải quyết tình trạng trẻ em mồ côi, lang thang không nơi nương tựa Nuôi con nuôi đã tạo ra khả năng giải quyết một vấn đề xã hội phức tạp là hạn chế được tình trạng trẻ em lang thang tự kiếm sống, thậm chí phạm tội do không có sự chăm sóc, giáo dục cần thiết và thích hợp của gia

Trang 14

đình Nhà nước ta đã có những chính sách thích hợp để trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, không nơi nương tựa, bị mồ côi, bỏ rơi hoặc những trẻ em có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn được nhận làm con nuôi, để chúng được sống trong môi trường gia đình tốt hơn và đó cũng chính là một phần chính sách để ổn định xã hội

Đối với bản thân đứa trẻ, việc được nhận làm con nuôi có ý nghĩa sâu sắc làm thay đổi cơ bản số phận đứa trẻ Đứa trẻ làm con nuôi sẽ được sống trong môi trường thuận lợi nhất để có thể phát triển hài hòa về thể chất, nhân cách và tinh thần với sự “ yêu thương, thông cảm ” trong một gia đình nghèo đúng nghĩa của nó

Đối với người nuôi, việc nhận nuôi con nuôi đem lại cho họ sự thỏa mãn nhu cầu tình cảm, tinh thần, làm cân bằng các trạng thái tâm lý, ổn định cảm xúc, giúp họ vững vàng và tự tin hơn trong cuộc sống, bởi vì khi gắn bó với đứa trẻ, cuộc sống của học sẽ trở nên ý nghĩa hơn và gia đình cũng trọn vẹn hơn

1.4 Đặc trưng về quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

1.4.1 Đối tương điều chỉnh

Đối tượng điều chỉnh của pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài phức tạp bởi yếu tố nước ngoài: Yếu tố nước ngoài khác nhau tùy thuộc vào từng trường hợp khác nhau, có thể là chủ thể, pháp luật áp dụng, sự kiện pháp lý…

Việc xác định đúng yếu tố nước ngoài rất quan trọng, nhằm xác định thẩm quyền giải quyết việc nuôi con nuôi, giải quyết tranh chấp phát sinh, xác định pháp luật cần áp dụng, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của các bên

Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật nuôi con nuôi năm 2010 thì: “Nuôi

con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau tại Việt Nam giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài.”

Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc lĩnh vực điều chỉnh của ngành luật tư pháp quốc tế Việc xác định có yếu tố nước ngoài hay không có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đưa ra phương hướng giải quyết vấn đề xác định pháp luật áp dụng một cách chính xác Đồng thời, việc xác định yếu tố nước ngoài còn là căn cứ quan trong trong việc xác định thẩm quyền giải quyết giữa các quốc gia về lĩnh vực phát sinh trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thuộc quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài vì vậy đối tượng điều chỉnh trong quan hệ nuôi con nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài chính là những quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong vấn đề nuôi con nuôi

Trang 15

1.4.1.1 Yếu tố chủ thể

Khi đề cập đến yếu tố chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, có hai dạng chủ thể cơ bản:

Thứ nhất, công dân Việt Nam khi tham gia vào quan hệ nuôi con nuôi có yếu

tố nước ngoài phải có quyền năng chủ thể tức là có năng lực pháp luật và năng lực hành vi trước tiên theo pháp luật Việt Nam Năng lực pháp luật và năng lực hành vi

là những thuộc tính của chủ thể pháp luật, là đặc trưng không thể thiếu của chủ thể pháp luật Vấn đề năng lực pháp luật và năng lực hành vi ở đây trước hết được xác định trên cơ sở các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam

Thứ hai, Bên cạnh đó người nước ngoài cũng là chủ thể cơ bản của quan hệ

nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Hiện nay pháp luật Việt Nam và của nhiều nước trên thế giới có nét đặc trưng là đều lấy dấu hiệu quốc tịch để định nghĩa

người nước ngoài, theo quy định pháp luật Việt Nam định nghĩa “Người nước

ngoài” như sau: “là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm người có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch”4 Để tham gia vào quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài cũng như quan hệ con nuôi có yếu tố nước ngoài thì người nước ngoài phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi trước tiên là theo pháp luật của nước mà người đó là công dân hoặc pháp luật của nước mà người đó thường trú nếu người đó là người không quốc tịch

Theo quy định tại Điều 761 Bộ luật dân sự năm 2005 thì người nước ngoài

có năng lực pháp luật dân sự tại Việt Nam như công dân Việt Nam, trừ các trường hợp ngoại lệ.Tuy nhiên, để người nước ngoài tham gia trực tiếp vào quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thì người nước ngoài phải có năng lực hành vi Theo Điều 762 thì Việt Nam đã sử dụng chủ yếu nguyên tắc luật quốc tịch để xác định năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài Ngoài ra, trong một số trường hợp năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài được xác định theo pháp luật dân sự Việt Nam

1.4.1.2 Yếu tố khách thể

Yếu tố khách thể trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là những quan hệ về quyền nhân thân và quyền tài sản phát sinh khi xảy ra tranh chấp trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

- Về quyền tài sản: Theo quy định tại Điều 163 Bộ luật dân sự 2005 thì “Tài

sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” và, theo Điều 174 Bộ

luật dân sự 2005 thì “Tài sản bao gồm động sản và bất động sản” Tuy nhiên, trên

4 Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 138/2006NĐ-CP

Trang 16

thực tế vấn đề quy định về tài sản ở các quốc gia có những điểm khác nhau có quốc gia xem loại đó là tài sản, nhưng cũng cùng loại đó ở quốc gia khác thì không được xem là tài sản, có quốc gia xem đó là động sản, những cũng có quốc gia xem đó là bất động sản Đây là hiện tượng thường gặp trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, đặc biệt liên quan đến vấn đề thừa kế trong quan nuôi con nuôi có yếu

tố nước ngoài; tranh chấp về quyền sở hữu tài sản…Khi đó, việc lựa chọn luật áp dụng để giải quyết xung đột pháp luật, xung đột thẩm quyền xét xử và các vấn đề liên quan thuộc chuyên ngành tư pháp quốc tế được đề cập đến Về mặt nguyên tắc, luật áp dụng sẽ là luật của nước có tài sản đối với loại tài sản được xem là động sản

và luật nước mà đương sự có quốc tịch nếu loại tài sản đó được xem là bất động sản

- Về quyền nhân thân: Trong pháp luật Việt Nam và pháp luật các nước trên

thế giới, quyền nhân thân phát sinh trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được giải quyết dựa trên nguyên tắc luật nhân thân Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì tùy vào từng quan hệ cụ thể mà cho phép áp dụng hệ thuộc luật quốc tịch hay hệ thuộc luật cư trú của chủ thể để giải quyết Vấn đề lựa chọn áp dụng luật áp dụng để điều chỉnh xung đột về quyền nhân thân giữa các thành viên trong gia đình có yếu tố nước ngoài liên quan đến nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài xuất phát từ thực tế ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình Ngoài ra, xung đột pháp luật giữa các thành viên trong gia đình có yếu tố nước ngoài còn được điều chỉnh bởi luật nơi thực hiện hành vi

1.4.1.3 Sự kiện pháp lý

Sự kiện pháp lý làm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi

có yếu tố nước ngoài phải là sự kiện pháp lý xảy ra ở nước ngoài Nó có thể là sự kiện, hành vi …phù hợp với pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật nước ngoài Sự kiện pháp lý còn là hành vi pháp lý Hành vi pháp lý là hành vi hợp pháp xảy ra do các chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi thực hiện (làm chấm dứt quan hệ về nhân thân

và tài sản của đứa trẻ với cha, mẹ đẻ và làm phát sinh những quan hệ đó giữa cha,

mẹ nuôi và con nuôi) Hành vi của những người tham gia quan hệ pháp luật nuôi con nuôi nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong lĩnh vực nuôi con nuôi cần thiết phải có cả quyết định của cơ quan có thẩm quyền công nhận sự kiện hoặc hành vi theo thủ tục luật định Ví dụ: Để cho việc xác nhận con nuôi làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa người nhận nuôi và con nuôi thì cần thiết phải có quyết định về việc nhận con nuôi của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc Uỷ ban nhân cấp xã nếu việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt

Trang 17

Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam

Sự kiện pháp lý làm xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là sự kiện pháp lý xảy ra ở nước ngoài Về việc nhận nuôi con nuôi ở nước ngoài, pháp luật Việt Nam thường sử dụng quy tắc luật nơi thực hiện hành vi để giải quyết xung đột pháp luật phát sinh trong quan hệ này Trong trường hợp Việt Nam và nước hữu quan ký kết điều ước quốc tế thì xung đột pháp luật trong vấn đề này được điều chỉnh theo các quy phạm pháp luật ghi nhận trong các điều ước đó

Như vậy, việc xác định đúng thời điểm mà sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định đúng luật áp dụng để giải quyết xung đột pháp luật phát sinh giữa các bên, từ đó áp dụng luật chính xác trong việc giải quyết tranh chấp liên quan đến các chủ thể tham gia quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước

ngoài

1.4.1.4 Yếu tố nơi cư trú

Theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Dân sự 2005 quy định “Nơi cư trú của cá

nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống” Việc xác định nơi cư trú của các

bên đương sự có vai trò rất quan trọng trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nhằm mục đích giải quyết các vấn đề phát sinh trong quan hệ như việc lựa chọn áp dụng pháp luật các quy định liên quan đến nơi cư trú của các bên đương sự

Trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thì yếu tố cư trú được pháp luật quy định: Quan hệ giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; Quan

hệ giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; Quan hệ giữa công dân Việt Nam với nhau mà các căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài5 Từ quy định trên ta có thể rút ra yếu tố nơi cư trú trong quan

hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam bao gồm:

- Người nước ngoài cư trú trên lãnh thổ Việt Nam bao gồm: Giữa người nước ngoài với nhau thường trú trên lãnh thổ Việt Nam; Giữa người nước ngoài với người Việt Nam định cư trên lãnh thổ Việt Nam Đây là chủ thể phát sinh ngày càng tăng theo chiều hướng hội nhập và mở rộng quan hệ kinh tế của đất nước ta trong, vấn đề hôn nhân và gia đình ngày một gia tăng đặc biệt là vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

- Người nước ngoài cư trú ở nước ngoài: Giữa công dân Việt Nam định cư ở

5Khoản 14 Điều 08 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

Trang 18

nước ngoài với công dân Việt Nam định cư trên lãnh thổ Việt Nam; Giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau.Các chủ thể này chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước ngoài trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

Việc xác định dấu hiệu nơi cư trú trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong đó đặc biệt là quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là nền tảng cho việc thiết lập và áp dụng luật trong vấn đề giải quyết phát sinh trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

1.4.2 Phương pháp điều chỉnh

Phương pháp điều chỉnh của pháp luật điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài trong đó có quan hệ nuôi con nuôi là phương pháp xung đột và phương pháp thực chất Hai phương pháp này được kết hợp hài hoà và tác động tương hỗ với nhau trong điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nhằm bảo đảm sự thuận lợi cho các bên trong quá trình giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

1.4.2.1 Phương pháp thực chất

Phương pháp thực chất là phương pháp điều chỉnh dựa vào việc thể nhất hoá các quy phạm luật thực chất, cách thức giải quyết quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong pháp luật của từng nước, quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ này dưới dạng định ra các quy phạm thực chất thống nhất

Quy phạm thực chất là loại quy phạm trực tiếp phân định quyền và nghĩa vụ

cụ thể giữa các bên tham gia quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Quy phạm thực chất có thể được xây dựng trong các điều ước quốc tế (gọi là các quy phạm thực chất thống nhất) Việc xây dựng các quy phạm thực chất trong các điều ước quốc tế điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài cũng như trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là hết sức cần thiết Nó làm hài hoà sự khác biệt trong pháp luật của các quốc gia và có tính chất đơn giản hoá trong việc điều chỉnh các quan hệ này Khi các quốc gia kí kết với nhau điều ước quốc tế trong

đó có quy phạm thực chất thống nhất, cơ quan có thẩm quyền giải quyết sẽ dựa vào

đó để xem xét và giải quyết thực chất vấn đề trên cơ sở áp dụng ngay quy phạm đó.Việc áp dụng các quy phạm thực chất sẽ loại trừ vấn đề phải chọn luật và cả vấn

đề áp dụng luật nước ngoài

Quy phạm thực chất còn được xây dựng trong pháp luật quốc gia Loại quy phạm này gọi là quy phạm thực chất thông thường Tuy nhiên, về vấn đề này trong khoa học pháp lý các nước chưa có quan điểm thống nhất Song, cùng với các quy phạm xung đột và quy phạm thực chất thống nhất, các quy phạm thực chất thông

Trang 19

thường là quy phạm được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài, trong đó có quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Các quy phạm thực chất này được ghi nhận trong các văn bản pháp luật Việt Nam ban

hành Ví dụ như Điều 31 Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định “ Giấy tờ, tài liệu

trong hồ sơ của người nhận con nuôi, hồ sơ của tổ chức con nuôi nước ngoài do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận phải được hợp pháp hóa lãnh sự khi sử dụng ở Việt Nam, trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh

sự theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.” Rõ ràng các quy phạm thực chất trong pháp luật

quốc gia điều chỉnh trực tiếp quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

1.4.2.2 Phương pháp xung đột

Phương pháp xung đột là phương pháp điều chỉnh dựa vào các quy tắc được

ấn định để áp dụng pháp luật của một nước chỉ định nhằm giải quyết quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài phát sinh thông qua các quy phạm xung đột

Phương pháp xung đột được hình thành và phát triển trên nền tảng hệ thống các quy phạm xung đột của quốc gia và các quy phạm xung đột trong các điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên.Quy phạm xung đột là quy phạm pháp luật ấn định pháp luật của nước nào phải được áp dụng để điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi

có yếu tố nước ngoài trong một tình huống cụ thể Như vậy, quy phạm xung đột là loại quy phạm pháp luật “dẫn chiếu”, theo đó các cơ quan có thẩm quyền chọn được

hệ thống pháp luật tối ưu để điểu chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.Khác với các loại quy phạm pháp luật thông thường, quy phạm xung đột được cấu thành bởi hai bộ phận là phạm vi (tương tự phần “giả định” ) và hệ thuộc (tương

tự phần “ quy định”), không có phần chế tài

Để giải quyết xung đột pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, các nước thường sử dụng một số kiểu hệ thuộc cơ bản sau: Luật nhân thân (lex personalis) bao gồm luật quốc tịch (lex patriae) và luật nơi cư trú (lex domicili); luật nơi thực hiện hành vi (lex loci astus) và luật toà án (lex fori)

Phương pháp xung đột được áp dụng tương đối phổ biến để điều chỉnh quan

hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Quy phạm xung đột không trực tiếp quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, mà nó chỉ ra việc áp dụng pháp luật của một nước nào đó để điều chỉnh quan hệ này

Ví dụ, Khoản 1 Điều 29 Luật nuôi con nuôi 2010 ghi nhận “Người Việt Nam

định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người Việt

Trang 20

Nam làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật nước nơi người đó thường trú và quy định tại Điều 14 của Luật này”

Như vậy, phương pháp xung đột áp dụng điều chỉnh về quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam là từ các nguồn pháp luật quốc gia và các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết hoặc gia nhập với các quốc gia trên thế giới

1.4.3 Nguồn luật điều chỉnh

1.4.3.1 Điều ước quốc tế

Hiện nay trong mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước trên thế giới nhất là các nước trong khu vực Đông Nam Á thì Điều ước quốc tế với tư cách là nguồn luật điều chỉnh quan trọng trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đặc biệt là quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đóng vai trò rất quan trọng

Điều ước quốc tế là văn bản pháp lý thể hiện sự thỏa thuận giữa các chủ thể pháp luật quốc tế giữa các quốc gia trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện nhằm quy định thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên ký kết trong quan hệ quốc tế sao cho phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc gia và luật pháp quốc

tế6

Trong vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài điều ước quốc tế là nguồn luật quan trọng trong quá trình giải quyết các quan hệ phát sinh trong vấn đề này về vấn đề xung đột phát luật xãy ra ngày càng nhiều trong lĩnh vực dân sự có yếu tố nước ngoài vì vậy mà hiện nay Nhà nước ta rất chú trọng trong việc mở rộng quan

hệ hợp tác về nuôi con nuôi với các nước trên thế giới thông qua việc ký kết và gia nhập các điều ước quốc tế song phương với các quốc gia trong đó có cả Hiệp định tương trợ tư pháp về vấn đề nuôi con nuôi Các điều ước quốc tế đã góp phần tích cực trong việc đề ra các nguyên tắc thỏa thuận áp dụng góp phần hạn chế hiện tượng xung đột pháp luật xảy ra là cơ sở pháp lý cho việc điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ngày càng được hoàn thiện về mặt pháp lý

Việc áp dụng điều ước quốc tế sẽ được thực hiện theo nguyên tắc ưu tiên áp dụng, đối với quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài cũng thuộc đối tượng của luật hôn nhân và gia đình nên áp dụng theo qui định tại Khoản 2 Điều 7 Luật hôn

nhân và gia đình năm 2000 “ Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế.”

6 Nông Quốc Bình và Nguyễn Hồng Bắc, Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kì hội nhập quốc tế, Nxb Tư pháp Hà Nội, 2006, tr 122

Trang 21

1.4.3.2 Pháp luật quốc gia

Pháp luật quốc gia là loại nguồn khá phổ biến so với các loại nguồn khác, pháp luật quốc gia bao gồm một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp, Luật và các văn bản dưới luật

Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một loại quan hệ nằm trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Hiện nay pháp luật Việt Nam điều chỉnh về quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài như: Bộ luật Dân sự năm 2005; Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Luật nuôi con nuôi năm 2010; Nghị định 19/2011/NĐ/CP, đây là những cơ sở quan trọng trong vấn đề điều chỉnh phù hợp đối với các vấn đề phát sinh liên quan đến quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

1.4.4 Nguyên tắc điều chỉnh

1.4.4.1 Nguyên tắc luật quốc tịch của đương sự (Lex patriace)

Nguyên tắc luật quốc tịch của đương sự là nguyên tắc được áp dụng phổ biến trong quan hệ dân sự quốc tế, đặc biệt là trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu

tố nước ngoài Đây là nguyên tắc thường được áp dụng để giải quyết các vấn đề liên quan đến các chủ thể tham gia vào quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài7.Theo đó, nguyên tắc luật quốc tịch quy định pháp luật của nước mà các bên mang quốc tịch sẽ được áp dụng nhằm giải quyết vấn đề trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong đó có quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Ngoài các quy định của Bộ luật Dân sự 2005 thì nguyên tắc luật quốc tịch còn được ghi nhận trong hầu hết các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết, gia nhập với các quốc gia trên thế giới như: Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi giữa Việt với Pháp, Đan Mạch, Ai len,…

Trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng thì khi xảy ra hiện tượng xung đột pháp luật thì Việt Nam cũng áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch để giải quyết Tuy nhiên, việc xác định quốc tịch của một chủ thể là công dân của quốc gia nào là một vấn đề hết sức quan trọng, vì nguyên tắc luật quốc tịch chịu sự điều chỉnh của điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài và cả pháp luật của quốc gia sở tại Vì vậy, khi quan hệ nuôi con nuôi phát sinh giữa công dân nước nào thì sẽ áp dụng pháp luật của nước đó để điều chỉnh

Tóm lại, việc xác định quốc tịch của các bên đương sự tham gia trong quan

7 Đại học luật Hà Nội, Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb, Đại học quốc gia, Hà Nội, 2001 tr 55

Trang 22

hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là rất cần thiết, nhằm xác định pháp luật của nước nào sẽ phải được áp dụng để giải quyết về vấn đề hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

1.4.4.2 Nguyên tắc luật nơi cư trú của đương sự ( Lex domicile)

Nguyên tắc luật cư trú của các bên đương sự hiện nay được áp dụng rộng rãi trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng Theo nguyên tắc này thì quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài sẽ được điều chỉnh theo pháp luật của nước mà đương sự có nơi cư trú.Nguyên tắc này không chỉ áp dụng phổ biến chỉ ở pháp luật trong nước mà còn được thể hiện trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết với các nước: Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi giữa Việt Nam với Italia, Đan Mạch, Thụy Điển…Theo Điều 9 của Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi giữa Việt Nam với

Pháp “Người thường trú trên lãnh thổ của nước ký kết này muốn xin nhận trẻ em là

công dân của nước ký kết kia và thường trú trên lãnh thổ của nước ký kết đó làm con nuôi phải liên hệ với Cơ quan trung ương của nước ký kết nơi người xin nhận nuôi thường trú…”

Theo Luật nuôi con nuôi năm 2010 đã ghi nhận liên quan đến vấn đề này

như sau: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở

nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật nước nơi người đó thường trú và quy định tại Điều 14 của Luật này 8 ” Đây được xem là nguyên tắc cơ bản được áp dụng phổ biến không chỉ ở Việt

Nam mà còn ở các quốc gia khác.Việc áp dụng nguyên tắc này đã góp phần đơn giản hóa quá trình dẫn chiếu các quy phạm xung đột, góp phần tích cực trong việc điều chỉnh các mối quan hệ liên quan đến nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

1.4.4.3 Nguyên tắc luật Tòa án (Lexfori)

Nguyên tắc luật của nước nơi có tòa án có thẩm quyền được áp dụng trong nhiều lĩnh vực như: Tố tụng dân sự, kinh doanh thương mại, hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài, cụ thể trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Trong quan hệ này nguyên tắc luật của nước nơi Tòa án có thẩm quyền sẽ được áp dụng để xác định pháp luật áp dụng để giải quyết các vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Khi đó, để giải quyết các vấn đề liên quan đến việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thì do Ủy ban nhân dân cấp Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã (nếu ở khu vực biên giới) hoặc Cơ quan đại

8 Khoản 1 Điều 29 Luật nuôi con nuôi năm 2010

Trang 23

diện Ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài sẽ áp dụng pháp luật Việt Nam Ngoài ra, khi quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài phát sinh có tranh chấp thì Tòa án nhân dân cấp Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của Công dân Việt Nam (nếu ở khu vực biên giới) sẽ áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam để giải quyết Như vậy, Tòa án Việt Nam được quyền áp dụng nguyên tắc luật của nước nơi có Tòa án có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp phát sinh liên quan đến quan hệ nuôi con nuôi

có yếu tố nước ngoài

1.5 Lược sử hình thành và phát triển chế định pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong pháp luật Việt nam

Theo từng thời gian, để phù hợp với sự nghiệp cách mạng của đất nước, phù hợp với tình hình phát triển của các điều kiện kinh tế, xã hội và thực tế của các quan

hệ hôn nhân và gia đình nói chung và quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng, trong đó có quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Nhà nước

ta đã kịp thời ban hành các văn bản pháp luật về hôn nhân và gia đình Hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình dần được hoàn thiện, là công cụ pháp lý của Nhà nước ta, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân

1.5.1 Trước năm 1945

Pháp luật phong kiến nước ta từ thế kỉ XV đến thể kỉ XIX tiêu biểu là hai bộ luật đó là: Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức được ban hành dưới triều Lê) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là Bộ luật Gia Long được ban hành dưới triều Nguyễn)

Hai bộ luật này quy định khá cụ thể việc điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi trong thời kỳ đó.Thể hiện rõ nét phong tục, tập quán truyền thống của người Việt Nam về gia đình Song các bộ luật này cũng không tránh khỏi hạn chế của chế độ phong kiến đang suy tàn, xu hướng duy trì chế độ phụ hệ vững chắc, triệt tiêu sự bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa con nuôi và con đẻ

Dưới thời Pháp thuộc, đất nước ta bị chia làm ba kì là Bắc kì, Trung kì và Nam kì Sau khi xâm lược Việt Nam và đặt ách đô hộ ở Nam kì, thực dân Pháp đã ban hành Bộ dân luật giản yếu Nam kì áp dụng ở Nam kì và ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đã Nẵng Bộ dân luật Bắc kì được ban hành vào ngày 30/03/1931 theo Nghị Định của Thống sứ Bắc kì để thi hành trên toàn Bắc kì từ ngày 01/07/1931 thay cho Bộ luật Gia Long Hoàng Việt Trung kì bộ luật được ban hành năm 1939 thi hành trên toàn Trung kì Về quan hệ gia đình, các bộ luật này đã quy định về vấn

đề nuôi con nuôi, quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ và con theo mô hình phương Tây Song pháp luật dân sự thời kì này có những mặt hạn chế nhất định đó là gia đình

Trang 24

vẫn mang nặng tư tưởng phong kiến, trọng nam khinh nữ, nhiều quy định về nghĩa

vụ của con còn rất khắc khe

1.5.2 Từ năm 1945 đến 1959

Ngay từ khi ra đời, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã quan tâm và coi trọng việc xây dựng hệ thống pháp luật nhằm củng cố và bảo vệ thành quả của cách mạng Tuy chưa có văn bản riêng điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhưng vấn đề này được quy định trong một số văn bản pháp luật khác, như trong Sắc lệnh số 53/SL ngày 20/10/1945 về quốc tịch Việt Nam Hiến pháp năm 1959 là cơ sở pháp lý quan trọng để điều chỉnh quan hệ gia đình trong thời kì này, tuy nhiên vẫn chưa có quy định cụ thể điều chỉnh trực tiếp quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài

Pháp luật trong nước về quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài còn hết sức đơn giản, chưa tập hợp thành hệ thống Nhà nước ta chủ trương chưa ban hành văn bản pháp luật riêng để điều chỉnh trực tiếp quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài

mà chỉ điều chỉnh quan hệ gia đình trong nước theo Hiến pháp 1946

Quan hệ hợp tác giữa nước Việt Nam dân chủ cộng hoà với các nước chủ yếu là các nước xã hội chủ nghĩa ở giai đoạn này mới bắt đầu kiến lập và dần được củng cố Trong bối cảnh đó, các quan hệ xã hội có yếu tố nước ngoài phát sinh, đòi hỏi phải được pháp luật điều chỉnh, tuy nhiên vấn đề quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài chưa phải là yêu cầu bức xúc

1.5.3 Từ năm 1959 đến 1986

Trong thời kì này, bản Hiến pháp mới của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà

đã được Quốc hội thông qua tại kì họp thứ 11 ngày 31/12/1959, tiếp tục ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ (Điều 24) Xuất phát từ tình hình thực tế của quan

hệ gia đình trong thời kì mới, Luật hôn nhân và gia đình đã được Quốc hội thông tại

kì họp thứ 11 ngày 29/12/1959.Luật đã điều chỉnh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng, giữa cha, mẹ và con.Tuy nhiên, Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 không

có quy phạm điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài

Ở miền Bắc, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 04 ngày 16/01/1961 kèm theo Điều lệ về đăng kí hộ tịch Ngày 21/06/1961, Bộ nội vụ ban hành Thông tư số 05/NV hướng dẫn thi hành Điều lệ về đăng kí hộ tịch nói trên Tuy nhiên, trong văn bản pháp luật này chưa quy định điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài đầy đủ nhưng những quy định này sẽ là nền móng cơ bản để chúng ta giải quyết quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài, đặc biệt là vấn đề con nuôi.Trong giai đoạn này, một số ít trường hợp người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi đã

Trang 25

được giải quyết Do vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài không được cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật nói trên nên khi giải quyết các việc này các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của ta còn gặp nhiều khó khăn và lúng túng

Ở miền Nam, cũng trong giai đoạn này, chính quyền Nguỵ Sài Gòn đã ban hành Bộ dân luật ngày 20/12/1972.Trong Bộ dân luật này đã quy định về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng Điều 248 Bộ dân luật Sài Gòn có quy định về vấn đề

nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, theo quy định này thì “Người Việt Nam có thể

lập người ngoại quốc làm con nuôi hay làm con nuôi của người ngoại quốc”

Sau khi đất nước thống nhất, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước ngày càng được mở rộng, do đó đã làm phát sinh ngày càng nhiều các quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài, đòi hỏi phải được pháp luật điều chỉnh ngay Để xử lý tình hình này, Việt Nam đã tiến hành đàm phán và kí kết các hiệp định tương trợ tư pháp với Cộng hoà dân chủ Đức (1980) , Liên Xô (1981), Tiệp Khắc (1982), Cu Ba (1984)…Các hiệp định này đã tạo lập một khung pháp lí khá hoàn chỉnh điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài như quan hệ pháp lí giữa vợ chồng, giữa cha

mẹ và con; vấn đề nuôi con nuôi; vấn đề xung đột pháp luật và xung đột thẩm quyền được giải quyết khá cụ thể

và củng cố chế độ gia đình xã hội chủ nghĩa, giữ gìn và phát huy những phong tục tập quán, truyền thống tốt đẹp về hôn nhân và gia đình, từng bước nâng cao nhận thức và ý thức của nhân dân trong việc thi hành các quy định của Luật hôn nhân và gia đình Về cơ bản, Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 kế thừa và tiếp tục phát huy những thành tựu lập pháp của Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, đồng thời

bổ sung những chế định quan trọng phù hợp với giai đoạn phát triển mới Lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật hôn nhân và gia đình, Nhà nước ta đã dành một chương riêng (Chương IX) để quy định về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.Trong chương này, các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được quy định tại Điều 52, 53 và 54 Đây là bước phát triển mới của Luật hôn nhân

Trang 26

và gia đình năm 1986, đáp ứng nhu cầu của tình hình mới và phản ánh xu hướng

mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình, bước đầu quy định về hôn nhân và gia đình

Trong khoảng thời gian này, Quốc hội đã thông qua một số văn bản pháp lí

có liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng như Luật quốc tịch năm 1988, Điều 14 quy định: trẻ em là công dân Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài không vì thế mà mất quốc tịch Việt Nam; Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em quy

định (Điều 7)“ Mọi trường hợp đưa trẻ em ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài vào

phải theo quy định của pháp luật “; Pháp lệnh lãnh sự năm 1990, trong đó có quy

định Cơ quan lãnh sự có thẩm quyền đăng kí kết hôn, nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài

Ngày 29/04/1992, Hội đồng bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 145/ HĐBT quy định tạm thời về việc cho người nước ngoài nhận con nuôi là trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi, bị tàn tật ở các cơ sở nuôi dưỡng do ngành lao động thương binh xã hội quản lí Sau đó, ngày 19/01/1993, Bộ lao động - thương binh - xã hội, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/TTLB hướng dẫn thi hành Quyết định 145/HĐBT Quyết định 145/HĐBT là văn bản pháp luật trong nước đầu tiên của Việt Nam cụ thể hoá nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam

và người nước ngoài Tuy nhiên trong quá trình thực hiện việc cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi, Quyết định 145/HĐBT đã bộc lộ một số hạn chế

Ngày 02/12/1993 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, trong đó Pháp lệnh

có đề cập đến nuôi con nuôi tại Điều 16, Điều 17 với nội dung quy định cơ chế giải quyết tranh chấp và xác định quyền và nghĩa vụ của người nuôi và con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi Để thi hành Pháp lệnh, ngày 30/11/1994 Nhà nước đã ban hành Nghị Định 184/CP quy định về thủ tục kết hôn, nhận con ngoài giá thú, nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài Theo Điều 16 của Nghị Định trên thì trẻ em được nhận làm con nuôi bao gồm trẻ ở cơ sở nuôi dưỡng, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được cha mẹ đồng ý và cả trường hợp trẻ em

bị bỏ lại ở các cơ sở y tế

Tiếp đó, ngày 25/05/1995, liên Bộ Tư pháp - Bộ Ngoại giao - Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 503/TTLB hướng dẫn chi tiết thi hành Nghị Định số 184/CP Ngày 28/08/1995, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 337/TT-PLQT hướng dẫn thi hành một số quy định của Thông tư số 503 nói trên

Trang 27

Cũng trong giai đoạn này, ngày 01/02/2000 Việt Nam đã kí kết Hiệp định song phương với Cộng hoà Pháp hợp tác về lĩnh vực nuôi con nuôi Hiệp định đã quy định các vấn đề về đối tượng nhận con nuôi, cho làm con nuôi; thẩm quyền giải quyết việc nuôi con nuôi và luật áp dụng; trình tự, thủ tục giải quyết nuôi con nuôi… Hiệp định hợp tác về lĩnh vực nuôi con nuôi này tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình giải quyết cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi

Như vậy, trong giai đoạn này Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật khá đầy đủ, đồng bộ và tương đối chi tiết điều chỉnh các vấn đề thuộc quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.Các văn bản này đã góp phần vào việc thực hiện chính sách đối ngoại mở rộng của Nhà nước ta trong thời kỳ mới Đồng thời đã định

ra một cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Tư pháp với các Uỷ ban nhân dân tỉnh trong giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

1.5.5 Từ năm 2000 đến nay

Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 đã đóng góp một phần to lớn trong việc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình Tuy nhiên, trong giai đoạn đổi mới hiện nay, nhiều quy định trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 không còn phù hợp nữa do đó cần được nghiên cứu và bổ sung Để đáp ứng yêu cầu trong nước và quốc tế trong giai đoạn mới, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 được Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua ngày 9/6/2000 tại kỳ họp thứ 7 khoá X Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2001 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thay thế cho Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, Pháp lệnh 1993, Nghị Định 184/CP và các văn bản hướng dẫn thi hành Nghị Định

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã dành một chương (chương XI) quy định quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.Chương này gồm 7 điều từ Điều 100 đến Điều 106 Trong đó quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được

quy định tại Điều 105 “Người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam hoặc nhận trẻ

em nước ngoài thường trú tại Việt Nam làm con nuôi phải tuân theo quy định của Luật này và quy định trong pháp luật của nước mà người đó là công dân về điều kiện nhận nuôi con nuôi.” Sự ra đời của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã

đáp ứng được yêu cầu thực tế trong việc giải quyết quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng, nó có phạm vi điều chỉnh rộng hơn so với Luật Hôn nhân và gia đình năm

1986, Pháp lệnh 1993 và Nghị Định 184/CP Ngày 10/07/2002, Nghị Định 68/2002/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài đã được

Trang 28

Chính phủ thông qua Ngày 16/12/2000, Bộ Tư pháp ra thông tư số BTP hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị Định 68/2002/NĐ-CP Các văn bản pháp lí này đã tạo điều kiện cho việc áp dụng dễ dàng và thống nhất các quy định về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài của Luật hôn nhân và gia đình năm

07/2000/TT-2000

Hiện nay, với sự ra đời của Luật nuôi con nuôi năm 2010, Chính phủ đã ban hành cụ thể một số văn bản quan trọng nhằm hướng dẫn thi hành các quy định trong luật này Điển hình là Nghị định 19/2011/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật nuôi con nuôi, Thông tư 12/2011/TT-BTP hướng dẫn việc ghi chép, lưu trữ, sử dụng biểu mẫu nuôi con nuôi do Bộ Tư pháp ban hành và Thông tư 21/2011/TT-BTP về quản

lý Văn phòng nuôi con nuôi nước ngoài tại Việt Nam do bộ Tư pháp ban hành Các văn bản này được xem là những bổ sung và giải thích cần thiết cho bản thân chế định nuôi con nuôi theo Luật nuôi con nuôi hiện nay

Tóm lại, các vấn đề lý luận về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài hiện nay

là vấn đề đặt nền tảng cho việc hiểu và áp dụng cụ thể các quy định pháp luật quy định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Bên cạnh việc hiểu được bản chất nền tảng của chế định này, sự cần thiết của việc hiểu và áp dụng các chế định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn thể hiện qua việc xác định một cách chính xác cơ

sở pháp lý liên quan bên cạnh Luật nuôi con nuôi năm 2010 Có thể nói hiện nay, pháp luật tách các chế định về nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng ra khỏi pháp luật về hôn nhân và gia đình là một bước chuyển quan trọng cho việc xác định cụ thể và độc lập, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật chuyên ngành

Trang 29

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH ĐIỀU CHỈNH VỀ QUAN HỆ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Trong chương này, người viết tập trung phân tích những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh về quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài như điều kiện, hệ quả pháp lý, thẩm quyền, trình tự thủ tục nuôi con nuôi nước ngoài Thông qua việc phân tích quy định pháp luật sẽ tạo tiền đề cho người viết đưa ra những ưu điểm cũng như hạn chế của vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài hiện nay

2.1 Điều kiện nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Người nước ngoài muốn nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi và để trẻ em Việt Nam được cho làm con nuôi nước ngoài, về mặt pháp luật các bên đương sự phái thỏa mãn điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành quy định

về điều kiện nuôi con nuôi có yếu tố nươc ngoài

2.1.1 Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi

2.1.1.1 Điều kiện đối với người nước ngoài thường trú tại Việt Nam

Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành thì người nước ngoài thường trú tại Việt Nam muốn nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi sẽ phải đáp ứng đầy đủ những điều kiện quy định tại Điều 14 Luật nuôi con nuôi năm 20109 và pháp luật của nước nơi người đó thường trú ở đây chính là Việt Nam Vì vậy, những điều kiện

để người nước ngoài thường trú tại Nam được nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi là:

- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ: Điều kiện này đòi hỏi người nhận con

nuôi phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo pháp luật Việt Nam Theo quy định tại Điều 18, 19 Bộ luật dân sự năm 2005 thì người có năng lực hành vi dân sự

là người thành niên từ đủ mười tám tuổi trở lên (Trừ trường hợp quy định tại Điều

22, 23 Bộ luật dân sự năm 2005)

Quy định này có ý nghĩa đảm bảo cho người nhận nuôi con nuôi có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ khi nhận nuôi con nuôi và là người đại diện cho con nuôi của mình chưa thành niên trước pháp luật

- Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên: Quy định nhằm đảm bảo cho quan hệ gia

đình hợp lý như độ tuổi này có thể phân biệt rõ ràng bố mẹ và con cái Bố mẹ hơn con cái 20 tuổi, trải qua cuộc sống sẽ có kinh nghiệm và kiến thức để dạy dỗ con

9 Điều 9 Luật nuôi con nuôi năm 2010

Trang 30

cái, ngoài ra việc quy định độ tuổi này còn giúp hạn chế trường hợp nhận con nuôi sau đó phát sinh tình cảm nam nữ

- Có tư cách đạo đức tốt: Để có thể xây dựng một gia đình hạnh phúc cho

bản thân mình và con nuôi sau khi nhận nuôi con nuôi, thì người nhận nuôi con nuôi phải có đạo đức tốt Yêu thương và chăm sóc cho gia đình mình, cho đứa con mình nhận nuôi Nếu như không có đạo đức tốt: Trước hết, người đó sẽ ảnh hưởng tới nhân cách của con mình (vì bố mẹ là tấm gương cho con cái học tập, nếu bố mẹ không tốt sẽ ảnh hưởng tới nhân cách của đứa trẻ); người nhận nuôi con nuôi có đạo đức không tốt như có những hành vi bạo hành trong gia đình thì đây là điều rất cần được nghiêm cấm

- Có điều kiện thực tế bảo đảm việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo

dục con nuôi: Điều kiện thực tế này được Luật nuôi con nuôi 2010 cụ thể hóa đó là

điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở

Mục đích của việc nuôi con nuôi là: Việc nuôi con nuôi nhằm xác lập quan

hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình Như thế, ta rất cần phải chú trọng sao cho cuộc sống của đứa trẻ được nhận làm con nuôi ngày càng tốt hơn Chính vì thế mới có điều kiện này để đảm bảo cho đứa trẻ được nhận làm con nuôi được dạy dỗ tốt nhất, có tình cảm gia đình bao bọc Không những thế, điều kiện này đảm bảo cho gia đình nhận nuôi con nuôi có cuộc sống ấm no, hạnh phúc

Những trường hợp không được nhận nuôi con nuôi:

- Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc bị kết án mà chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông,

bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em; các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em; có hành vi xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội

- Cha, mẹ bị hạn chế một số quyền đối với con khi cha, mẹ đã bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; phá tán tài sản của con; có lối sống đồi truỵ, xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội Với những cha mẹ như vậy, không nên cho nhận nuôi con nuôi, vì nếu như khi nhận con nuôi về mà đối xử với con nuôi như

Trang 31

vậy thì không đảm bảo mục đích của việc nuôi con nuôi

Luật nuôi con nuôi năm 2010 còn có thêm những quy định cụ thể đối với những trường hợp không được nhận nuôi con nuôi như10:

- Người đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ

sở chữa bệnh Những người này bản thân không thể lo cho người khác được vì có thể người này đang vi phạm cần phải giáo dục hoặc có bệnh cần chữa trị Như thế,

họ không thể nhận con nuôi vì hoàn cảnh chưa cho phép họ lo cho con nuôi

- Đang chấp hành hình phạt tù Người đang chấp hành hình phạt tù, họ không thể nhận con nuôi, vì họ đang ở trong trại giam, không thể chăm sóc, dạy dỗ cho con nuôi, họ cũng không thể mang đến tình cảm cho con nuôi khi bản thân mình đang ở trong tù

- Ngoài ra, nếu là một cặp vợ chồng muốn nhận con nuôi, thì mong muốn nhận nuôi con nuôi phải xuất phát từ cả hai người và cả vợ chồng đều phải có đủ những điều kiện trên: có như vậy, đứa trẻ được nhận làm con nuôi mới có thể đảm bảo được sống trong một gia đình hạnh phúc, có tình yêu thương từ mọi người trong gia đình

Những người nước ngoài thường trú tại Việt Nam nếu có mong muốn nhận nuôi con nuôi là trẻ em Việt Nam nếu có đủ những điều kiện trên, mà không nằm trong những trường hợp không được nhận nuôi con nuôi thì làm hồ sơ và nộp lên

Bộ tư pháp Nếu người nhận nuôi con nuôi đã xác định được chính xác người mình muốn nhận nuôi thì ghi rõ trong hồ sơ xin nhận con nuôi Còn nếu người có mong muốn nhận con nuôi chưa xác định được đích danh đứa trẻ mà mình muốn nhận làm con nuôi thì có thể gửi đơn ghi rõ nguyện vọng muốn nhận trẻ em Việt Nam phù hợp với nguyện vọng và khả năng chăm sóc của mình làm con nuôi

2.1.1.2 Điều kiện đối với người nước ngoài thường trú ở nước ngoài

Để đảm cho trẻ em có được sự chăm sóc tốt nhất, pháp luật về nuôi con nuôi

đã quy định cụ thể về các điều kiện cụ thể đối với người nước ngoài thường trú ở nước ngoài được phép nhận nuôi con nuôi theo pháp luật Việt Nam.Người nước ngoài thường trú ở nước ngoài muốn nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi thì phái đáp ứng đủ các điều kiện theo luật định

10 Khoản 2 Điều 14 Luật nuôi con nuôi năm 2010

Trang 32

* Thường trú tại nước mà nước đó với Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi

Theo quy định tại Điều 29 Luật nuôi con nuôi năm 2010: Đối với người nước ngoài thường trú tại nước ngoài mà nước đó với Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi thì điều kiện để họ được nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi là phải có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 14 Luật nuôi con nuôi và đủ điều kiện theo pháp luật nước nơi người đó thường trú.Về nguyên tắc sẽ

ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về nuôi con nuôi nếu pháp luật về nuôi con nuôi của nước ta trái với điều ước quốc tế

Nếu đáp ứng được những điều kiện trên, người nước ngoài muốn nhận trẻ

em Việt Nam làm con nuôi thì làm hồ sơ theo quy định của pháp luật về nuôi con nuôi và nộp hồ sơ thông qua cơ quan trung ương về nuôi con quốc tế (hoặc tổ chức nuôi con nuôi được ủy quyền) của nước đó

* Thường trú tại nước mà nước đó chưa ký kết hoặc xin gia nhập điều ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi với Việt Nam

Hiện nay Việt Nam chỉ tiếp nhận hồ sơ đối với người nước ngoài thường trú tại nước mà Việt Nam ký kết điều ước hợp tác song phương về nuôi con nuôi nước ngoài, tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biết sẽ cho phép nhận nuôi con nuôi đối với người nước ngoài thường chú tại quốc gia chưa ký kết điều ước vì mục đích nhân đạo Hiện tại chưa có quy định cụ thể trường hợp cụ thể nào có thể được nhận nuôi con nuôi khi người nước ngoài thường trú tại nước chưa ký kết hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi với Việt Nam

2.1.2 Điều kiện đối với người được nhận nuôi

2.1.2.1 Điều kiện đối với trẻ em Việt Nam được nhận làm con nuôi nước ngoài

Bên cạnh những quy định về điều kiện, đối tượng là người nhận con nuôi phải đảm bảo thì việc quy định về điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi cũng hết sức quan trọng.Hiện nay pháp luật hiện hành điều chỉnh về điều kiện đối với trẻ em Việt Nam được cho làm con nuôi nước ngoài khi thỏa mãn điều kiện quy định tại Điều 8 Luật nuôi con nuôi năm 2010, theo đó trẻ em Việt Nam được cho làm con nuôi người nước ngoài phải thỏa mãn những điều kiện sau:

- Trẻ em dưới 16 tuổi

- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu được cha dượng, mẹ kế, cô, cậu,

dì, chú bác ruột nhận làm con nuôi.Theo điều luật có thể hiểu trẻ em trong trường

Trang 33

hợp này khi có người thân thuộc một trong các trường hợp trên, đang cư trú tại nước ngoài hoặc mang quốc tịch nước ngoài thì được pháp luật cho phép cho người được làm con nuôi nước ngoài

Việc quy định độ tuổi của người được nhận làm con nuôi từ 16 tuổi và từ đủ

16 đến dưới 18 tuổi thuộc một trong các trường hợp nêu trên là phù hợp với đối tượng người được nhận làm con nuôi, đảm bảo phù hợp với tính chất quan hệ cha

mẹ nuôi con nuôi đồng thời đảm bảo điều kiện thuận lợi trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục từ cha mẹ nuôi đối với trẻ em là con nuôi

Ngoài ra, bên canh việc quy định những điều kiện cụ thể về độ tuổi pháp luật

còn quy định “Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc cả

hai người là vợ chồng” 11 việc quy định này nhằm đảm bảo sự phù hợp với quan hệ cha mẹ nuôi, con nuôi với nhau được thiết lập trên cơ sở thiết lập pháp lý duy nhất phù hợp với bản chất của việc nhận nuôi con nuôi đặc biệt là trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

2.1.2.2 Điều kiện đối với trẻ em nước ngoài được nhận làm con nuôi

Đối với trường hợp người Việt Nam nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi thì điều kiện của đứa trẻ được làm con nuôi cũng phải thõa mãn quy định tại Điều 8 của luật nuôi con nuôi năm 2010 và tuân theo theo pháp luật của nước mà đứa trẻ

đó là công dân.Người Việt Nam ở trong nước nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi phải tuân thủ quy định tại Điều 40 Luật nuôi con nuôi năm 2010

2.2 Hệ quả pháp lý của nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

2.2.1 Quan hệ giữa cha mẹ nuôi với con nuôi

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì quan hệ cha mẹ nuôi con nuôi được xác lập thì quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng cũng giống như quan hệ giữa cha mẹ đẻ và con ruột.Theo đó Cha mẹ nuôi và con nuôi có các quyền và nghĩa vụ với nhau như sau:

* Nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng

- Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình (khoản 1 Điều 36 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000)

- Con có nghĩa vụ và quyền cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt

11 Khoản 3 Điều 8 Luật nuôi con nuôi 2010

Trang 34

khi cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật; trong trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ (khoản 2 Điều 36 Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2000)

* Quyền có tài sản riêng của con và quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với tài

sản riêng của con

- Quyền có tài sản riêng của con:

+ Con có quyền có tài sản riêng Tài sản riêng của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và các thu nhập hợp pháp khác (khoản 1 Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000);

+ Con từ mười lăm tuổi trở lên còn sống chung với cha mẹ có nghĩa vụ chăm

lo đời sống chung của gia đình; nếu có thu nhập thì đóng góp vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình (khoản 2 Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000);

- Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ đối với tài sản riêng của con

+ Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền quản lý tài sản riêng của con dưới mười lăm tuổi hoặc của con mất năng lực hành vi dân sự Cha mẹ có thể ủy quyền cho người khác quản lý tài sản riêng của con (khoản 2 Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000);

+ Cha mẹ không quản lý tài sản riêng của con trong trường hợp người tặng cho tài sản hoặc để lại tài sản thừa kế theo di chúc cho người con đã chỉ định người khác quản lý tài sản đó hoặc những trường hợp khác theo quy định của pháp luật (khoản 3 Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000);

+ Cha mẹ quản lý tài sản riêng của con từ đủ mười lăm tuổi trở lên khi con không tự quản lý tài sản của mình mà nhờ cha mẹ quản lý (khoản 1 Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000);

+ Nếu con từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi định đoạt tài sản riêng của mình mà là tài sản có giá trị lớn hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý của cha mẹ (khoản 2 Điều 46 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000);

* Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con gây ra

Cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây ra (Điều 40 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000), nhưng căn cứ vào khả năng nhận thức và tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình, Điều 606 Bộ Luật Dân sự năm 2005 quy định nghĩa vụ bồi thường của cha mẹ nuôi đối với thiệt hại do con nuôi gây ra như sau:

Trang 35

- Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường

- Cha mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do con chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây ra Nếu cha, mẹ nuôi không đủ tài sản để bồi thường mà người con gây

ra thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản riêng của con để bồi thường phần con thiếu, trừ Điều 621 Bộ luật dân sự năm 200512

- Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình

- Con chưa thành niên, con mất năng lực hành vi dân sự gây ra thiệt hại mà cha mẹ là người giám hộ thì cha mẹ được lấy tài sản của người con đó để bồi thường Nếu người con đó không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì cha mẹ là người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình

* Quyền thừa kế tài sản giữa cha mẹ nuôi và con nuôi

Theo quy định của Bộ luật dân sự 2005, cha nuôi, mẹ nuôi và con nuôi có quyền thừa kế tài sản của nhau khi người kia chết Nếu cha nuôi, mẹ nuôi hoặc con nuôi chết trước có để lại di chúc cho con nuôi hoặc cha nuôi, mẹ nuôi được hưởng

di sản thì con nuôi hoặc cha nuôi, mẹ nuôi sẽ được hưởng phần di sản theo di chúc.Trong trường hợp người lập di chúc không cho con hoặc cha, mẹ hưởng di sản hoặc hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất của người thừa kế theo pháp luật thì con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động hoặc cha,

mẹ vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật (Điều 669 Bộ luật dân sự 2005)13 Trong

13 Điều 669 Bộ Luật Dân sự 2005 quy định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc: “Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu

di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trù khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1 Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

Ngày đăng: 03/10/2015, 04:43

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w