Một thực tế đáng ghi nhận đó là quyền lợi của NCTN đang chấp hành án phạt tù đã được luật hóa trong Luật THAHS năm 2010, với nhiều nhóm quyền mang tính nhân văn cao cả phù hợp với pháp l
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
- -
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
NGUYỄN CHÍ HIẾU LÂM THỊ KIM THOA
Bộ môn: Luật Tư pháp MSSV: 5115845
Cần Thơ, tháng 11 năm 2014
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 3
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
Trang 4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT BLHS Bộ luật Hình sự
BLDS Bộ luật dân sự
BLTTHS Bộ luật Tố tụng hình sự
NCTN Người chưa thành niên
THAHS Thi hành án hình sự
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 3
1.1 Những khái niệm liên quan 3
1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên 3
1.1.2 Khái niệm về thi hành án phạt tù 4
1.1.3 Khái niệm thi hành án phạt tù đối với NCTN 5
1.1.4 Đặc điểm tâm, sinh lý của NCTN đang chấp hành án phạt tù 6
1.2 Những quyền cơ bản của người chưa thành niên đang chấp hành án phạt tù 6
1.2.1 Trong những quy định của pháp luật quốc tế 7
1.2.2 Trong những quy định của pháp luật Việt Nam 11
1.3 Những nguyên tắc cơ bản của pháp luật thi hành án phạt tù đối với người chưa thành niên 13
1.3.1 Nguyên tắc pháp chế 14
1.3.2 Nguyên tắc dân chủ 15
1.3.3 Nguyên tắc nhân đạo 16
1.3.4 Nguyên tắc mọi người bị kết án đều bình đẳng trước pháp luật 19
1.4 Mục đích và ý nghĩa của việc thi hành án phạt tù đối với người chưa thành niên 20
1.4.1 Mục đích của việc thi hành án phạt tù đối với người chưa thành niên 20
1.4.2 Ý nghĩa của việc thi hành án phạt tù đối với người chưa thành niên 21
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 23
2.1 Trình tự, thủ tục thi hành án phạt tù đối với người chưa thành niên 23
2.1.1 Quyết định thi hành án phạt tù 23
2.1.2 Thi hành quyết định thi hành án phạt tù 26
2.1.3 Tiếp nhận người thi hành án phạt tù 27
Trang 62.2 Nhiệm vụ, quyền hạn và vai trò của cơ quan thi hành án phạt tù đối với người chưa thành niên 30
2.2.1 Nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan thi hành án phạt tù đối với người chưa thành niên 30 2.2.2 Vai trò của cơ quan thi hành án phạt tù đối với người chưa thành niên 32
2.3 Quyền và nghĩa vụ của người chưa thành niên đang chấp hành án phạt tù 33
2.3.1 Quyền của người chưa thành niên đang chấp hành án phạt tù 33
2.3.1.1 Chế độ quản lý, giáo dục văn hóa, pháp luật, học nghề, lao động 33 2.3.1.2 Chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ và vui chơi giải trí 38 2.3.1.3 Chế độ gặp liên lạc với thân nhân và nhận quà của phạm nhân 41 2.3.1.4 Chế độ chăm sóc y tế và giải quyết trường hợp phạm nhân chết 43 2.3.1.5 Chế độ khen thưởng, xử lý vi phạm, khiếu nại tố cáo của phạm nhân 47
2.3.2 Nghĩa vụ của người chưa thành niên đang chấp hành án phạt
tù 50
2.3.2.1 Chấp hành tốt quy định của pháp luật, nội quy trại giam
50 2.3.2.2 Nghĩa vụ học tập, lao động học nghề để cải tạo tốt 52
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 54
3.1 Thực trạng áp dụng pháp luật thi hành án phạt tù đối với người chưa thành niên 54
3.2 Những vướng mắc trong những quy định của pháp luật và thực tiễn 55
3.2.1 Những vướng mắc về mặt pháp luật 55 3.2.2 Những vướng mắc về thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật 58
3.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực tiễn về thi hành án phạt tù đối với Người chưa thành niên 65
3.3.1 Giải pháp chung 65
Trang 73.3.2 giải pháp cho từng vấn đề 67
KẾT LUẬN 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhiệm vụ của công tác thi hành án phạt tù đối với Người chưa thành niên là việc thực hiện đầy đủ các nội dung được ghi nhận trong bản án phạt tù của Tòa án, bên cạnh đó còn là việc tạo điều kiện cần thiết để những người chấp hành xong hình phạt
tù có thể trở lại cuộc sống bình thường Thi hành án phạt tù đối với Người chưa thành niên là vấn đề từ lâu mang tính xã hội và thời sự Hình phạt tù là hình phạt cách ly người phạm tội ra khỏi xã hội đưa họ vào môi trường trại giam để quản lý và giáo dục tập trung theo quy định của pháp luật để sau khi ra tù trở về với cuộc sống đời thường
họ thực sự được hòa nhập với gia đình, với cộng đồng ổn định cuộc sống, trở thành công dân có ích cho xã hội Vì thế, công tác thi hành án phạt tù nếu được thực hiện tốt trên thực tế sẽ dẫn đến những kết quả khả quan mang tính nền tảng đối với việc làm lại cuộc đời cho những người lầm lỡ Do vậy, đây là vấn đề không chỉ của bản thân đối tượng người chấp hành xong án phạt tù, của gia đình họ mà nó là vấn đề Nhà nước và
xã hội cùng quan tâm Đây là giai đoạn giáo dục, cải tạo, những phạm nhân Người chưa thành niên tại trại giam với mục đích uốn nắn những đối tượng phạm tội trở thành người tốt bằng những chủ trương, chính sách mang đậm tính nhân văn mà Đảng
và Nhà nước ta đề ra Nhưng trên thực tế, vấn đề này chưa được quan tâm thực sự, những chế độ mà Người chưa thành niên cần được hưởng chưa thật sự đến được với
họ do những quy định của pháp luật cũng như công tác thi hành của những cơ quan có liên quan chưa thật sự mang lại hiểu quả rõ nét Nhưng trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước, các cấp chính quyền, các cơ quan chức năng, cộng đồng xã hội và gia đình rất quan tâm tới công tác giáo dục cải tạo, tạo mọi điều kiện giúp cho Người chưa thành niên đang chấp hành án phạt tù nhận được những sự quan tâm tốt nhất để quá trình cải tạo, thật sự phát huy ý nghĩa trả về cho xã hội những con người tiến bộ Công tác giáo dục và cải tạo những đối tượng Người chưa thành niên chấp hành hình phạt tù trong quá trình thi hành hình phạt đã thu được một số kết quả nhất định Bên cạnh đó những khó khăn vướng mắc mà công tác này gặp phải đang thực sự là một khó khăn
và thách thức cho cơ quan thi hành án phạt tù (trực tiếp và gián tiếp) Với lý do trên
người viết đã lựa chọn nội dung: “Thi hành án phạt tù đối với Người chưa thành
niên – lý luận và thực tiễn” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình nhằm làm rõ
những nhận thức chung và thực tiễn thi hành công tác này ở nước ta hiện nay Qua đó đóng góp một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các chính sách pháp luật, xã hội về vấn đề này
2 Mục đích nghiên cứu
Hoạt động nghiên cứu khoa học luật luôn là hoạt động có mục đích Cũng không ngoại lệ, người viết lựa chọn và thực hiện đề tài này với mục đích: tìm hiểu các quy định của pháp luật, cũng như các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác thi hành án phạt tù đối với Người chưa thành niên Qua đó, chỉ ra được những vấn đề đạt được và những việc chưa làm được của công tác này, đồng thời người viết mong muốn đề tài có thể làm nguồn tài liệu cho những công trình nghiên cứu về sau
3 Phạm vi nghiên cứu
Trang 9Trong phạm vi đề tài nghiên cứu của mình, người viết chỉ tập trung nghiên cứu
về những quy định của pháp luật và thực trạng của việc thi hành án phạt tù đối với đối tượng phạm nhân là Người chưa thành niên, tìm ra một số nguyên nhân, hạn chế gây khó khăn cho quá trình cải tạo giáo dục đối tượng phạm tội và đề xuất hướng hoàn
thiện trong tương lai
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong suốt quá trình nghiên cứu, người viết sử dụng các phương pháp sau: phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu sách vở, phương pháp khoa học để tạo cơ
sở lý luận chung; phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp sưu tầm tài liệu thực tế… được sử dụng để làm sáng tỏ những bất cập của pháp luật về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là Người chưa thành niên
5 Kết quả nghiên cứu
Với cách tiếp cận vấn đề như trên, đề tài nghiên cứu đạt được kết quả như sau: Làm rõ quá trình thi hành án phạt tù đối với phạm nhân là Người chưa thành niên, phân tích những nguyên nhân gây hạn chế, dựa trên những quy định đã có nhằm đề
xuất hướng hoàn thiện
ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
Thi hành án phạt tù là một trong những hoạt động tư pháp của Nhà nước ta Đây là hoạt động cuối cùng trong tố tụng hình sự, nhằm đảm bảo cho bản án phạt tù của Tòa án có hiệu lực pháp luật được thực hiện trên thực tế Nó có vai trò rất quan trọng thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật hình sự, thể hiện hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước trong việc xử lý trừng trị và giáo dục người có hành vi phạm tội
1.1 Những khái niệm và đặc điểm liên quan đến NCTN
1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên
Khái niệm người chưa thành niên (NCTN) không phải là một khái niệm mới và
nó đã được ghi nhận qua các Điều ước quốc tế Tuy nhiên, trong các văn bản thực định lại có những tên gọi khác nhau như là NCTN, trẻ vị thành niên, trẻ em,… theo quy định tại Điều 1 Công ước Quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 có ghi nhận “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” Có thể thấy Công ước này không thiết lập được một độ tuổi
cụ thể chung mà độ tuổi này được ghi nhận một cách khác nhau trong luật pháp của
Trang 10các quốc gia khác nhau, theo đó cùng với sự phát triển của lứa tuổi thì trẻ em sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình tăng dần theo sự thay đổi của thời gian
Tham khảo thêm văn bản pháp luật quốc tế có liên quan đến NCTN như: văn bản “Các nguyên tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ NCTN bị tước tự do” tại mục a quy tắc số 11 quy định “NCTN là người dưới 18 tuổi Giới hạn độ tuổi thấp hơn mức này theo đó không được phép tước tự do của trẻ em cần được pháp luật quy định” Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp luật với NCTN thông qua ngày 29/11/1985 thì “NCTN là trẻ em hay người ít tuổi tuỳ theo từng hệ thống pháp luật có thể bị xét xử vì phạm pháp theo một phương thức khác với việc xét xử người lớn” (Quy tắc số 2.2 mục a)
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, độ tuổi NCTN được xác định thống nhất trong Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999, Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm
2003, Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005, và một số văn bản quy phạm pháp luật khác Tất cả các văn bản này đều quy định NCTN là người chưa đủ 18 tuổi Ví dụ, tại Điều
68 BLHS năm 1999 nói rõ “NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự theo Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung BLHS không trái với quy định của Chương này”, tại Điều 303 BLTTHS năm 2003 chương XXXII Thủ tục tố tụng đối với NCTN, cũng đề cập hai nhóm từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, hay tại Điều 18 BLDS năm 2005 quy định “người chưa đủ mười tám tuổi là NCTN”
Như vậy, khái niệm NCTN được xây dựng dựa trên sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần của con người và được cụ thể hóa bằng giới hạn độ tuổi trong các văn bản pháp luật của từng quốc gia Theo đó, người ta quy định, những quyền và nghĩa vụ
cụ thể của NCTN
Trong pháp luật Việt Nam cụm từ “người chưa thành niên” dùng để chỉ những
người chưa đủ 18 tuổi Pháp luật nước ta quy định như vậy là vì qua thực tế nghiên cứu, thì thể chất và tâm lý người Việt Nam chỉ phát triển toàn diện khi đủ 18 tuổi Đến tuổi này con người mới thực sự trưởng thành và kiểm soát được suy nghĩ và hoàn toàn
có thể chịu trách nhiệm với hành vi của mình gây ra
Như vậy, có thể khái niệm: NCTN là người dưới 18 tuổi chưa phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần, tâm sinh lý và nhân cách, chưa có đầy đủ về quyền và nghĩa
vụ của một công dân1
1.1.2 Khái niệm thi hành án phạt tù
Hình phạt tù về thực chất là tước một số quyền tự do, giam giữ người bị kết án phạt tù tại trại giam, cách ly người đó khỏi môi trường xã hội bình thường để thực hiện các mục đích của hình phạt là đảm bảo công lý, công bằng xã hội, cải tạo, giáo dục người phạm tội và phòng ngừa tội phạm2 Và để thực hiện được mục đích của hình phạt tù pháp luật nước ta đã xây dựng một hệ thống các cơ quan có chức năng thực hiện những nhiệm vụ của hình phạt tù đặt ra, đó là hệ thống các cơ quan thi hành án phạt tù Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật Thi hành án hình sự (THAHS) năm
1 Lê Văn Nhựt (2010), Những vấn đề lý luận chung về tình hình tội phạm người chưa thành niên thực
hiện, luận văn tốt nghiệp, khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ
2 PGS.TS Võ Khánh Vinh, PGS.TS Nguyễn Mạnh Kháng (chủ biên): Pháp luật thi hành án hình sự
Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp, 2006, tr.222
Trang 112010 thì “thi hành án phạt tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc phạm nhân phải chịu sự quản lý giam giữ, giáo dục, cải tạo để họ trở thành người có ích cho xã hội”
Thi hành án phạt tù là việc của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền tác động trực tiếp tới đối tượng phải chấp hành án buộc họ phải thực hiện những quy định của pháp luật liên quan đến hình phạt tù trong thời gian bị giam giữ, đồng thời tuân thủ theo sự hướng dẫn của những người phụ trách giám sát họ Cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm đưa những người bị kết án đi chấp hành hình phạt tại Trại giam và tổ chức thực hiện các biện pháp cải tạo, giáo dục nhằm giúp họ nhanh chóng trở thành người lương thiện Cơ quan và cá nhân có thẩm quyền thi hành án phạt tù được nhân danh Nhà nước, sử dụng quyền lực Nhà nước để buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại Trại giam Do vậy, thi hành án phạt tù là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước
Cơ quan thi hành án phạt tù là cơ quan nhà nước được thành lập hợp pháp và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và trật tự pháp lý cũng như phải chịu sự giám sát
từ những cơ quan tổ chức và cá nhân trong xã hội Pháp luật quy định thẩm quyền và trình tự, thủ tục thực hiện thẩm quyền thi hành án phạt tù Như vậy, thi hành án phạt tù không những mang tính quyền lực nhà nước mà còn mang tính thủ tục pháp lý, do đó những hoạt động trong thi hành án phạt tù phải tuân thủ pháp luật về thi hành án phạt
tù và những văn bản liên quan
1.1.3 Khái niệm thi hành án phạt tù đối với NCTN
Hình phạt tù đối với NCTN là hình phạt nghiêm khắc nhất, theo đó NCTN phạm tội sẽ bị cách ly với môi trường xã hội bình thường bước vào một môi trường mới để chấp hành bản án mà Tòa án đã tuyên đối với tội phạm mà họ đã thực hiện trên thực tế, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật Theo nguyên tắc của BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 “hình phạt tù đối với NCTN chỉ là việc giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội và khi
xử phạt không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với NCTN phạm tội” Do vậy, việc thi hành án phạt tù đối với NCTN chỉ là việc thi hành hình phạt tù có thời hạn
Như vậy, theo người viết thì thi hành án phạt tù đối với NCTN là việc mà cơ
quan nhà nước và người có thẩm quyền trong thi hành án phạt tù tiếp nhận và áp dụng những biện pháp cải tạo, giáo dục phù hợp với quy định của pháp luật về thi hành án phạt tù đối với những NCTN bị kết án, trong thời gian họ chấp hành án tại Trại giam
Bên cạnh việc thực hiện những mục đích mà hình phạt tù đặt ra như hiện thực hóa bản án mà Tòa án đã tuyên, thì thi hành án phạt tù đối với NCTN còn là việc giáo dục, cải tạo họ trở thành người công dân có ích cho xã hội, NCTN phạm tội được đưa vào loại trại giam có mức độ quản chế ít nghiêm khắc nhất, với những chế độ ưu tiên dành cho đối tượng được sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước ta Có thể nói thi hành án phạt tù đối với NCTN là việc áp dụng một cơ chế giáo dục đặc biệt, có sự song hành giữa việc học văn hóa ứng xử, văn hóa tri thức và học nghề để họ có thể làm lại cuộc đời khi họ chấp hành xong bản án
NCTN phạm tội là một đối tượng cần sự quan tâm và bảo vệ của pháp luật nước
ta nên việc thi hành án phạt tù đối với họ, cũng cần có sự quan tâm đặc biệt ngoài tính cưỡng chế nghiêm khắc của hình phạt tù để họ hiểu ra lỗi lầm của mình trong quá khứ, thì vấn đề thuyết phục, giáo dục, dạy dỗ họ là việc cần được đề cao hàng đầu Một mặt
là kéo họ ra khỏi những sai lầm bồng bột của tuổi trẻ, mặt khác là cải tạo, uốn nắn mở
Trang 12ra cho họ một tương lai mới sáng lạng hơn, tạo cho họ niềm tin vào cuộc sống để từ đó
tự giác chấp hành tốt bản án của mình, để sớm quay về với gia đình, xã hội nhưng hơn hết là giúp họ có thể tự mình thoát ra được những mặc cảm tội lỗi, những việc làm trái pháp luật mà họ đã từng mắc phải Thông qua đó việc thi hành án phạt tù đối với NCTN cũng nhằm mục đích thể hiện tính nhân văn của Nhà nước ta trong quá trình lập pháp
1.1.4 Đặc điểm tâm, sinh lý của NCTN đang chấp hành án phạt tù
Ở lứa tuổi chưa thành niên nhiều chức năng tâm lý của con người cũng có nhiều thay đổi, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển trí tuệ, khả năng tư duy Các nghiên cứu tâm lý học cho thấy rằng hoạt động tư duy của NCTN hoạt động tích cực và có tính độc lập tư duy phát triển mạnh NCTN có khả năng và rất ưa thích khái quát các vấn
đề Sự phát triển mạnh của tư duy lý luận liên quan chặt chẽ với khả năng sáng tạo3
Từ chỗ nhìn nhận được những phẩm chất mang tính khái quát của người khác dần dần NCTN tự phát hiện ra thế giới nội tâm của bản thân mình Các em ở lứa tuổi này cảm nhận được những rung động của bản thân và hiểu rằng đó là trạng thái cái tôi của mình Biểu tượng về cái tôi của NCTN chưa thật rõ nét Do đó, sự đánh giá về bản thân không ổn định và có tính mâu thuẫn
Ở giai đoạn này các em rất nhạy cảm, tính nhạy cảm của trẻ vị thành niên đối với hành vi thể hiện sự chưa trưởng thành và thiếu tính chịu trách nhiệm, NCTN dễ bị tổn thương và thiếu kiểm soát đối với môi trường xung quanh, chúng không tự thoát khỏi được những ảnh hưởng tiêu cực trong môi trường Chúng ít có khả năng hạn chế sự bốc đồng và giữ tự chủ; ít có khả năng hơn người lớn trong việc xem xét lựa chọn các hành động thay thế và thiếu độ chín trong việc đánh giá những rủi ro và hậu quả; ít suy tính tới tương lai và do đó chúng ít có khả năng nhận thức rõ những hậu quả trong hành động của mình
Tóm lại, trong những giai đoạn phát triển của con người lứa tuổi chưa thành niên
có một ý nghĩa vô cùng quan trọng Đây là thời kỳ phức tạp nhất, nhiều biến động nhất nhưng cũng là thời kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng thành sau này Nhưng cái ảnh hưởng quyết định đối với sự phát triển tâm lý chính là mối quan hệ xung quanh, đặc biệt là mối liên hệ giữa cá nhân và người lớn Đây là lứa tuổi các em không còn là trẻ con nữa, nhưng chưa hẳn là người lớn Sự thay đổi điều kiện sống, điều kiện hoạt động của NCTN trong giai đoạn này là rất quan trọng Ở lứa tuổi này, các em cần được tôn trọng nhân cách, cần được phát huy tính độc lập nhưng cũng cần được chăm sóc chu đáo và đối xử tế nhị
Thực tế là NCTN vẫn còn đang phát triển để hoàn thiện nhân cách nên ngay cả khi NCTN thực hiện một tội ác ghê tởm thì cũng không thể coi đó là bằng chứng để có thể kết luận rằng NCTN đó hư hỏng, sa đọa đến mức không thể cứu vãn nổi Từ những nghiên cứu về sự thay đổi của tâm sinh lý NCTN pháp luật nước ta đã sử dụng chúng như một công cụ để xây dựng những nguyên tắc pháp luật quan trọng để hoàn thiện hơn những quy định của pháp luật đối với NCTN Theo đó, tại Điều 69 BLHS ghi nhận “việc xử lý NCTN phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội” Và quy định này đã trở
3 TS Nguyễn Đình Đặng Lực: Vai trò của pháp luật trong quá trình hình thành nhân cách, Nxb Chính
trị Quốc gia, 2013, tr.284
Trang 13thành nguyên tắc áp dụng xuyên suốt trong quá trình thi hành án phạt tù đối với NCTN của pháp luật nước ta
1.2 Những quyền cơ bản của NCTN đang chấp hành án phạt tù
1.2.1 Trong những quy định của Luật pháp quốc tế
NCTN là nguồn nhân lực vô cùng quan trọng cho sự phát triển của nhân loại trên toàn thế giới Họ là những con người chưa phát triển toàn diện về tâm sinh lý, và đang trong quá trình hoàn thành nhân cách, rất bồng bột trong suy nghĩ và hành động nên việc chăm sóc bảo vệ tốt cho họ là một việc làm vô cùng ý nghĩa Đó là trách nhiệm không chỉ của mỗi quốc gia riêng biệt đối với công dân của đất nước mình, mà
nó còn là sự chung tay góp sức của mọi tổ chức trên toàn thế giới nhằm bảo vệ họ tránh sự phân biệt đối xử dưới bất kì lý do nào Một trong những lý do NCTN cần sự quan tâm hơn cả đó là khi họ đang phải chấp hành những hình phạt nghiêm khắc mà pháp luật đặt ra, bởi vì khi phải rơi vào hoàn cảnh ấy thì quyền lợi của họ rất dễ bị xâm phạm, sự thiếu tôn trọng hay cái nhìn khắt khe của xã hội đối với họ là điều không tránh khỏi Hiểu được tầm quan trọng của NCTN đối với sự phát triển của nhân loại nên có rất nhiều văn bản của Liên hợp quốc quy định các quyền cơ bản đối với những NCTN đang phải chấp hành án phạt tù tại trại giam
Công nhận và bảo vệ nhân quyền là một bộ phận quan trọng trong luật pháp quốc tế do vậy cũng rất dễ hiểu khi có rất nhiều văn kiện pháp luật quốc tế đề cập đến quyền của tù nhân là NCTN, xoay quanh yêu cầu đối xử công bằng như: họ phải được đối xử nhân đạo trong quá trình bị giam giữ, bao gồm không bị tra tấn, đối xử tàn bạo,
vô nhân đạo Họ phải được đảm bảo các điều kiện sinh hoạt tối thiểu với tư cách con người Họ phải được liên hệ với thế giới bên ngoài, với gia đình, người thân Nhà tù, nơi giam giữ không phải là nơi để hành hạ con người, mà phải là nơi giáo dục con người trở thành những công dân tốt…
Theo đó, những quyền cơ bản của tù nhân là NCTN bao gồm:
Quyền được đối xử nhân đạo: Theo nội dung Công ước quốc tế về quyền trẻ em
năm 1989 tại Điều 37 ghi nhận: không trẻ em nào bị tra tấn hay bị đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm Những người dưới 18 tuổi khi gây ra những hành động phạm pháp sẽ không bị áp dụng hình phạt tử hình hoặc tù chung thân mà không có khả năng được phóng thích Mọi trẻ em bị tước quyền tự do phải được đối xử nhân đạo với sự tôn trọng phẩm giá vốn có của con người, theo cách thức
có tính đến nhu cầu của những người ở lứa tuổi các em, đặc biệt mọi trẻ em bị tước quyền tự do phải được cách ly với người lớn, trừ trường hợp vì lợi ích tốt nhất của trẻ
mà không nên làm như vậy, và các em phải có quyền duy trì sự tiếp xúc với gia đình qua thư từ và các cuộc viếng thăm, trừ những trường hợp ngoại lệ
Quyền được đối xử công bằng 4 : đây được xem là một trong những quy định
nổi bật của pháp luật quốc tế về việc đối xử với tù nhân là NCTN, theo đó hệ thống tư pháp đối với NCTN cần nâng cao các quyền cùng sự an toàn của NCTN như: được bày tỏ ý kiến, nâng cao sức khỏe về thể chất và tinh thần Đồng thời, các nguyên tắc về việc bảo vệ NCTN bị tước tự do cần được áp dụng một cách công bằng không có bất
4 Xem thêm “Công ước về quyền dân sự chính trị” (ICCPR) được Đại hội đồng liên hợp quốc thông qua
và để ngỏ cho các quốc gia ký, phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết số 2200 ngày 16/12/1966 và có hiệu lực
từ ngày 23/03/1976
Trang 14cứ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, độ tuổi, ngôn ngữ, tôn giáo, quốc tịch, hoàn cảnh xuất thân, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác…
Quyền được đáp ứng nhu cầu về vật chất, tinh thần và nơi ở: đây là những vấn
đề được quan tâm hàng đầu trong “Các nguyên tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ NCTN bị tước tự do” theo đó: việc giam giữ NCTN chỉ tiến hành với điều kiện đã cân nhắc đầy đủ các nhu cầu cụ thể, địa vị và những nhu cầu đặc biệt theo lứa tuổi, tính cách, giới tính, và thể loại tội phạm cũng như tình trạng sức khỏe, thể chất và tinh thần của họ và bảo vệ cho họ tránh khỏi những ảnh hưởng có hại và các tình thế rủi ro Tiêu chuẩn cơ bản để tách biệt các dạng khác nhau của NCTN bị tước tự do là việc cung cấp các loại hình chăm sóc thích hợp nhất đối với những nhu cầu cụ thể của từng cá nhân có liên quan và việc bảo vệ sức khỏe, sự toàn vẹn về thể chất, tinh thần và đạo đức của họ Trong mọi cơ sở giam giữ nên tách riêng NCTN ra khỏi người trưởng thành, trừ khi họ là thành viên trong một gia đình NCTN bị tước tự do có quyền được hưởng những tiện nghi và dịch vụ đáp ứng mọi yêu cầu về sức khỏe và phẩm giá con người Về nơi ở của họ, phải được đảm bảo về ánh sáng để kích thích các giác quan,
cơ hội kết giao với những người cùng lứa tuổi và tham gia các hoạt động thể dục, thể thao và vui chơi giải trí Thiết kế cấu trúc của những cơ sở giam giữ những NCTN cần hạn chế tối thiểu nguy cơ hỏa hoạn và bảo đảm việc sơ tán an toàn ra khỏi cơ sở giam giữ Không được đặt chúng ở những khu vực được biết là có hại cho sức khỏe hoặc các mối nguy hiểm hay rủi ro khác Nơi ngủ và nơi vệ sinh phải được đảm bảo tiêu chuẩn để NCTN có thể sử dụng đáp ứng nhu cầu cá nhân một cách riêng tư sạch sẽ và lịch sự
Quyền riêng tư cá nhân 5 : tuy là bị giam giữ trong trại giam sống giữa một tập
thể người nhưng họ vẫn có quyền riêng tư trong việc sử dụng đồ dùng cá nhân của mình Theo đó, những đồ dùng cá nhân mà NCTN quyết định không dùng đến hoặc bị tịch thu cần được cất giữ an toàn, cần có bản thống kê và có chữ ký của họ Trong chừng mực có thể, NCTN có quyền được sử dụng quần áo riêng của mình Các cơ sở giam giữ cần được đảm bảo rằng NCTN đều có quần áo riêng thích hợp với khí hậu và
đủ để đảm bảo sức khỏe tốt cũng như không được mang tính chất hạ thấp nhân phẩm hoặc nhục mạ
Quyền được học văn hóa: theo tinh thần của văn bản “Quy tắc tiêu chuẩn tối
thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp luật với NCTN” thì đời sống tinh thần, cũng như việc chuẩn bị một tương lai mới là một nhu cầu thiết yếu làm động lực cho quá trình cải tạo, chấp hành án của NCTN Theo đó mọi NCTN đang ở độ tuổi bắt buộc phải đến trường đều được hưởng sự giáo dục phù hợp với nhu cầu và khả năng của mình, và hướng vào việc chuẩn bị cho NCTN trở lại với xã hội Sự giáo dục đó cần được cung cấp ở các trường học cộng đồng nằm ngoài cơ sở giam giữ bất cứ khi nào
có thể và trong bất kỳ trường hợp nào, bởi những giáo viên có đủ trình độ giảng dạy thông qua các chương trình được gắn với hệ thống giáo dục của quốc gia, để khi được trả tự do NCTN có thể tiếp tục học tập mà không gặp bất kỳ khó khăn nào Ngoài ra, đối với những NCTN ngoài độ tuổi bắt buộc đến trường nhưng muốn được tiếp tục học cần được cho phép và cần cố gắng cho các em được tiếp cận sự giáo dục phù hợp
5 Xem thêm “Các nguyên tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ NCTN bị tước tự do” thuộc văn bản Tập hợp các
nguyên tắc bảo vệ tất cả người bị giam hay bị cầm tù dưới bất cứ hình thức nào năm 1988
Trang 15Những văn bằng, chứng chỉ học vấn họ nhận được trong quá trình bị giam giữ cần được tôn trọng sau khi họ được trả tự do và không được ghi dưới bất kỳ hình thức nào
là họ đã bị giam giữ tập trung
Quyền được học nghề 6 : việc giáo dục đào tạo nghề và việc làm cho đối tượng
này được ghi nhận như là một nghĩa vụ bắt buộc của cơ quan tư pháp NCTN có quyền được đào tạo những ngành nghề thích hợp theo ý muốn của bản thân để chuẩn bị cho
họ có công ăn việc làm trong tương lai Ở những nơi có điều kiện, cần lựa chọn những ngành nghề có cơ hội việc làm cao, để họ dễ dàng tìm được công việc, ổn định cuộc sống sau khi được trả tự do Trong thời gian bị giam giữ nếu họ có làm việc tại trại giam thì họ cũng cần được trả thù lao công bằng, vấn đề tạo việc làm cho NCTN trong thời kì bị giam giữ không nhằm mục đích mang lại lợi ích cho trại giam hay một bên thứ ba mà cần phải đặt lợi ích của NCTN lên hàng đầu
Quyền được chăm sóc sức khỏe 7 : đây cũng là một việc làm quan trọng, trước
khi họ nhập trại, cơ quan tiếp nhận họ phải kiểm tra sức khỏe để chắc chắn rằng họ có đầy đủ điều kiện để chấp hành án hoặc là phát hiện bệnh để cách ly và có những cách điều trị riêng biệt, trong quá trình chấp hành án họ cần được hưởng sự chăm sóc sức khỏe thường xuyên, để đảm bảo khả năng phát triển bình thường của cơ thể cả về thể chất và tinh thần Khi NCTN bị ốm đau, tai nạn cần được thông báo cho thân nhân hay người giám hộ biết tình trạng sức khỏe thực sự của họ
Quyền được vui chơi giải trí: đây là một việc làm thiết yếu bởi vì mục đích
sống của con người không chỉ dừng lại ở việc ăn uống, nghỉ ngơi mà nó phải gắn liền với đời sống tinh thần khỏe mạnh thoải mái, nó tạo một động lực tốt để mỗi người cảm thấy lạc quan hơn trong cuộc sống, tại quy tắc số 47 trong các nguyên tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ NCTN bị tước tự do ghi nhận: “mọi NCTN đều có quyền có một khoảng thời gian thích hợp để luyện tập tự do hàng ngày ở ngoài trời bất cứ khi nào thời tiết cho phép Trong khoảng thời gian đó nên tổ chức huấn luyện thể dục và giải trí thích hợp Cần cung cấp đầy đủ khoảng không, phương tiện và các trang thiết bị của hoạt động này” Ngoài việc được tham gia các hoạt động thể thao để duy trì sức khỏe NCTN còn được tham gia phát triển các kỹ năng nghệ thuật, thủ công mà họ muốn Để làm được những điều đó thì yêu cầu các cơ sở giam giữ phải đảm bảo cho họ có đầy
đủ khả năng về thể chất để sẵn sàng tham gia vào các hoạt động thiết yếu, vào bất cứ khi nào
Quyền tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng 8 : mọi tù nhân là NCTN cần được phép
thỏa mãn nhu cầu cuộc sống tinh thần và tôn giáo của mình, chẳng hạn như họ được tham gia vào các buổi lễ hoặc cuộc họp được tổ chức trong trại giam hoặc tự mình thực hành các nghi lễ tôn giáo và được có sách vở hay vật dụng cần thiết liên quan đến tôn giáo và các chỉ dẫn của giáo phái mình
6 Xem thêm văn bản “Nguyên tắc căn bản của hành vi đối xử với tù nhân” ngày 14/12/1990
7 Xem thêm văn bản “Quy định tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử với tù nhân” được thông qua tại Cuộc họp
lần thứ nhất của Liên Hợp Quốc về Ngăn ngừa Tội phạm và Đối xử với Người phạm tội, tổ chức tại Geneva năm
1955, và được Hội đồng Kinh tế - Xã hội phê chuẩn vào năm 1957 và năm 1977
8 Xem thêm văn bản “Quy định tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử với tù nhân” Nghị quyết được UCOSOC
thông qua ngày 13/05/1977
Trang 16Giam giữ tù nhân không phải là việc loại trừ họ ra ngoài cuộc sống của cộng đồng, mà họ vẫn còn là một bộ phận của cộng đồng vẫn có quyền hạn như một con người vì thế nhiệm vụ tái hòa nhập cộng đồng cho họ không chỉ là trách nhiệm của cơ
sở giam giữ mà nó còn là sự giúp sức của những tổ chức xã hội Do vậy, mối liên hệ giữa gia đình – trại giam – tổ chức xã hội là cực kỳ quan trọng nó sẽ thúc đẩy quá trình hiện thực hóa những quy định của pháp luật được nhanh chóng đi vào đời sống, góp phần cải thiện công tác cải tạo phạm nhân là NCTN
1.2.2 Trong những quy định của pháp luật Việt Nam
Mỗi quốc gia trên thế giới, đều giải quyết vấn đề NCTN phạm tội theo những mức độ, cách thức khác nhau, tuỳ thuộc vào những điều kiện, tập quán, pháp luật của mỗi nước Một trong những hoạt động mà các nước trên toàn cầu đang nỗ lực thực hiện là tìm mọi cách để bảo đảm hệ thống tư pháp NCTN, tuân thủ theo đúng luật pháp quốc tế về quyền con người Kể từ năm 1989, với tốc độ ngày càng cao, các nước trên thế giới đã và đang đưa những nguyên tắc quốc tế vào các luật và chính sách quốc gia của mình trong đó có Việt Nam
Bảo đảm quyền của NCTN phạm tội là bảo đảm cho những quy định của pháp luật về quyền con người được thực hiện trên thực tế, phù hợp với thông lệ quốc tế Pháp luật tuy là yếu tố quan trọng không thể thiếu, nhưng không phải là yếu tố duy nhất bảo đảm cho các em được hưởng thụ các quyền, cũng như không bị tước mất quyền của mình trong hoàn cảnh đối mặt với pháp luật và là đối tượng xem xét của pháp luật Trên cơ sở các văn bản pháp luật quốc tế, hệ thống tư pháp NCTN ở Việt Nam đã được quan tâm nghiên cứu và ngày càng hoàn thiện Việc bảo đảm quyền của NCTN phạm tội phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa hiện có của Việt Nam Sự phù hợp này thể hiện trên cả hai phương diện đó là xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật
Một thực tế đáng ghi nhận đó là quyền lợi của NCTN đang chấp hành án phạt
tù đã được luật hóa trong Luật THAHS năm 2010, với nhiều nhóm quyền mang tính nhân văn cao cả phù hợp với pháp luật quốc tế, và những quyền cơ bản của con người được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 bao gồm: quyền được học văn hóa, học nghề, lao động phù hợp với lứa tuổi, vui chơi giải trí, chăm sóc sức khỏe, liên lạc gặp
gỡ với thân nhân… Trọng tâm của những quy định về quyền lợi của NCTN đang chấp hành án phạt tù là nhằm đảm bảo việc tước quyền tự do không dẫn đến việc vi phạm hoặc tước các quyền khác mà những NCTN được hưởng theo Hiến pháp và những đạo luật liên quan Những quyền cơ bản của họ bao gồm:
Quyền được đáp ứng đầy đủ về mặt vật chất 9 : NCTN luôn nhận được sự quan
tâm hơn người trưởng thành về chế độ ăn, mặc, ở để đảm bảo sự phát triển bình thường của cơ thể theo đó phạm nhân là NCTN được bảo đảm tiêu chuẩn định lượng
ăn như phạm nhân người đã thành niên và được tăng thêm về thịt, cá nhưng không quá 20% so với định lượng Ngoài tiêu chuẩn ăn mặc và tư trang như người đã thành niên, mỗi năm NCTN được cấp thêm quần áo theo mẫu thống nhất và đồ dùng cá nhân khác theo quy chế trại giam Chỗ nằm tối thiểu của NCTN là 3 mét vuông (m2) so với người
đã thành niên là 2 mét vuông (m2)
9 Xem thêm Điều 52 Luật THAHS năm 2010
Trang 17Quyền được vui chơi giải trí 10 : tại Điều 37 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận
“thanh niên được Nhà nước, gia đình và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân, đi đầu trong công tác sáng tạo và bảo vệ tổ quốc, nó là một trong những nhu cầu thiết yếu đối với cuộc sống của mỗi người và đặc biệt là lứa tuổi mới lớn” Do vậy, trong pháp luật về THAHS ghi nhận “thời gian sinh hoạt văn hóa, văn nghệ và vui chơi giải trí của phạm nhân là NCTN được tăng gấp hai lần so với phạm nhân là người đã thành niên
Quyền được liên lạc gặp gỡ thân nhân: tại Điều 53 Luật THAHS năm 2010 quy
định “phạm nhân là NCTN được gặp thân nhân không quá ba lần trong 01 tháng mỗi lần gặp không quá 03 giờ, trường hợp đặc biệt được gặp không quá 24 giờ Phạm nhân được liên lạc điện thoại với thân nhân mỗi tháng không quá bốn lần, mỗi lần không quá 10 phút, có sự giám sát của cán bộ trại giam và tự chịu chi phí”
1.3 Những nguyên tắc của pháp luật thi hành án phạt tù đối với NCTN
Nguyên tắc được hiểu là những tư tưởng, quan điểm cơ bản mang tính chỉ đạo các hành động cụ thể, nguyên tắc thường được thể hiện dưới hình thức các luận điểm, các nguyên lý có tính xuất phát điểm, định hướng và nhất thiết phải được tôn trọng và quán triệt trong một loạt việc làm11 Nguyên tắc phản ánh bản chất, những tính chất đặc thù của sự vật hiện tượng, nguyên tắc không phải là một phạm trù bất biến mà nó
có cả một quá trình hình thành, phát triển hoàn thiện cùng với các giai đoạn phát triển của chính sự vật hiện tượng đó Như vậy, nguyên tắc vừa mang tính phổ biến vừa mang tính đặc thù của sự ra đời, hình thành của một sự vật cụ thể trong những giai đoạn, xã hội khác nhau
Như vậy, có thể xác định nguyên tắc cơ bản của việc tổ chức và hoạt động thi hành án phạt tù đối với NCTN chính là những tư tưởng quan điểm thể hiện bản chất nhân dân, dân chủ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được vận dụng vào tổ chức hoạt động thi hành án phạt tù đối với NCTN và được nâng lên thành những luận điểm nguyên lý có tính chỉ đạo việc định hình tổ chức và hoạt động thi hành án phạt
11 PGS.TS Võ Khánh Vinh PGS.TS Nguyễn Mạnh Kháng (chủ biên): Pháp luật thi hành án hình sự
Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Tư Pháp, 2006, tr.45
Trang 18hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ” Pháp chế là chế độ xã hội, mà ở đó những suy nghĩ và hành vi, quyết định của các tổ chức, cá nhân đều sử dụng pháp luật làm thước đo chuẩn mực Đảm bảo nguyên tắc pháp chế là yêu cầu hàng đầu trong tổ chức và hoạt động thi hành án nói chung và thi hành án phạt tù đối với NCTN nói riêng Tại Điều 4 Luật THAHS năm 2010 có quy định “việc thi hành án hình sự phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, đảm bảo lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân” Tuy nhiên, khi vận dụng nguyên tắc này vào lĩnh vực tổ chức và hoạt động thi hành án phạt tù thì nó phải xuất phát từ những luận điểm chung về pháp chế đồng thời phải đảm bảo được những thuộc tính riêng của lĩnh vực này
Trong các quan hệ tổ chức và hoạt động thi hành án phạt tù đối với NCTN thì những quy định của pháp luật phải được giữ vị trí thượng tôn, mà trước hết là những quy định riêng của pháp luật về thi hành án phạt tù tiếp theo là những quy định liên quan, từ khâu tổ chức đến triển khai công tác thi hành án phải được đặt trong khuôn khổ của pháp luật Do vậy, hệ thống những văn bản hướng dẫn thi hành án phạt tù cũng phải chặt chẽ, đồng bộ phải được ban hành một cách khách quan trên sự công bằng về quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cơ quan thi hành án và xã hội cũng như người phải chấp hành án
Xuất phát từ sự bất bình đẳng của các bên tham gia quan hệ và khả năng cưỡng chế thực hiện tối đa (một bên tham gia quan hệ là cơ quan mang quyền lực nhà nước, một bên là đối tượng phạm nhân là NCTN còn thiếu những nhận thức đúng đắn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình, là người phải tuân thủ mọi nội dung được quy định trong bản án) từ đó cho ta thấy được nguyên tắc pháp chế có những ảnh hưởng to lớn trong việc bảo vệ quyền lợi của phạm nhân là NCTN Bởi vì, khi các cơ quan thi hành
án phạt tù tuân thủ nguyên tắc pháp chế là thực hiện nghiêm chỉnh nội dung bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì nó sẽ loại bỏ sự tùy tiện, vô tổ chức, thiếu kỷ luật trong thi hành án phạt tù đối với NCTN trên nhiều phương diện như: đảm bảo thực hiện đầy đủ những chế độ ưu đãi mà nhà nước quy định cho họ cao hơn phạm nhân là người thành niên hay đó là giới hạn lại những nghĩa vụ mà họ phải thực hiện khi chưa
đủ 18 tuổi Bên cạnh đó, vai trò của cơ quan quản lý thi hành án phạt tù cũng rất quan trọng, thông qua cơ chế giám sát cơ quan này sẽ xử lý nghiêm minh những trường hợp
vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thi hành án phạt tù từ phía những người tổ chức thi hành án tạo ra sự nghiêm minh, công bằng với người phải chấp hành án
Để những quy định của pháp luật được áp dụng đúng đắn theo tinh thần của những nhà làm luật, được tuân thủ, áp dụng đồng bộ là một đòi hỏi khách quan đối với những cán bộ của cơ quan tổ chức công tác thi hành án phạt tù Để nguyên tắc pháp
Trang 19chế phát huy hiệu quả đòi hỏi công tác xây dựng, hoàn thiện và thực thi pháp luật thi hành án phạt tù đối với NCTN phải bắt kịp với những thay đổi phát sinh trong thực tiễn Bởi lẽ, việc hoàn thiện pháp luật là công cụ hữu hiệu và vững chắc nhất trong việc xác lập trật tự và nâng cao hiệu quả thi hành án phạt tù đối với NCTN Bên cạnh
đó, cần phát huy vai trò của cơ quan quản lý thi hành án trong cả nước theo cơ chế tập trung thống nhất, nâng cao vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức địa phương
1.3.2 Nguyên tắc dân chủ
Dân chủ được hiểu là quyền làm chủ thuộc về nhân dân, nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua hai cơ chế là trực tiếp và gián tiếp Tại Điều 2 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận “Nước Cộng hòa xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân ” Do vậy, nguyên tắc dân chủ vừa là mục tiêu vừa là nguyên tắc xuyên suốt quá trình đổi mới ở nước ta nhất là trong điều kiện vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được nêu thành một nguyên tắc Hiến định Nội dung của nguyên tắc dân chủ rất đa dạng được thể hiện rất rộng rãi trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và trong những quy định của pháp luật Trong lĩnh vực THAHS nói chung và thi hành án phạt tù đối với NCTN nói riêng nguyên tắc dân chủ cũng được thể hiện tính đồng bộ và xuyên suốt
Trước hết là dân chủ trong các quy phạm pháp luật của nhà nước, các thiết chế bảo đảm thi hành án phạt tù đối với NCTN phải được thông báo rộng rãi đến các tổ chức, cá nhân trong xã hội bằng những phương thức phổ biến nhất để họ biết và thực hiện việc giám sát của mình cho phù hợp Bên cạnh đó, việc lấy ý kiến nhân dân trong việc ban hành những quy phạm pháp luật liên quan đến thi hành án phạt tù đối với NCTN cũng là một việc làm cần thiết, để nhân dân có thể thực hiện những quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong lĩnh vực xây dựng pháp luật
Thiết lập những hình thức tổ chức dân chủ phù hợp với việc thi hành án phạt tù
để khuyến khích, động viên những người phải chấp hành án thực hiện tốt nghĩa vụ của mình như các hình thức tự quản của phạm nhân được tổ chức nhằm phát huy tính tích cực, tính tự giác, sáng tạo của phạm nhân, giúp họ tự chủ được công việc của mình cũng là tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thi hành án của cơ quan chức năng
Bảo đảm tính công khai, minh bạch, rõ ràng trong thi hành án hình sự Trật tự, quy trình thủ tục thi hành án phạt tù đối với NCTN phải được quy định rõ ràng và được thực thi nghiêm chỉnh nhằm bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ thi hành án Có những hình thức hữu hiệu để những người có liên quan đến việc thi hành án được bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình khỏi sự xâm hại trái phép từ phía cơ quan thi hành án, trong đó có quyền khiếu
Trang 20nại, tố cáo hành vi trái pháp luật của những người và những cơ quan thi hành án với các cơ quan có thẩm quyền phải được bảo đảm một cách có hiệu lực
1.3.3 Nguyên tắc nhân đạo
Pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng luôn mang tính giai cấp sâu sắc Chúng xuất hiện cùng với nhà nước và là sản phẩm của xã hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định Ngay từ khi ra đời, pháp luật hình sự đã là một công cụ sắc bén của giai cấp thống trị, trong cuộc đấu tranh duy trì quyền lực Nhà nước và trật tự
xã hội do giai cấp thống trị đặt ra Bên cạnh bản chất giai cấp, pháp luật hình sự còn có tính xã hội sâu sắc 12 Không chỉ bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị mà nó còn bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mọi người trong xã hội, và đặc biệt là đối với NCTN Thông qua Nhà nước, pháp luật hình sự ghi nhận những cách ứng xử hợp lý, khách
quan được đông đảo người chấp nhận và phù hợp với lợi ích của số đông trong xã hội
Nhân đạo được hiểu là đạo đức, tình yêu thương với ý thức tôn trọng giá trị phẩm chất con người Được đối xử nhân đạo được coi là một quyền cơ bản của NCTN, được Liên hợp quốc công nhận tại Điều 37 Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 Nhân đạo từ lâu đã trở thành một truyền thống của dân tộc ta khi ứng xử với bên trong và bên ngoài, ở tầm quan hệ giữa các cá nhân với nhau hay với dân tộc, quốc gia khác Truyền thống này đã được thể chế hóa thành nguyên tắc, chính sách, chủ trương chung của Đảng và pháp luật của Nhà nước Thể hiện tính ưu Việt của chế độ Xã hội Chủ nghĩa, được thể hiện trong Hiến pháp năm 2013 qua việc quy định “mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm” Khi xác định nguyên tắc xử lý tội phạm Điều 3 BLHS khẳng định chính sách khoan hồng nhân đạo được áp dụng “khoan hồng đối với người phạm tội tự thú, thành khẩn khai báo tố giác đồng phạm…” Điều 69 quy định nguyên tắc xử phạt đối với NCTN phạm tội “Việc xử
lý NCTN phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội”
Đối với NCTN đang chấp hành hình phạt tù, pháp luật có những quy định riêng thể hiện một chính sách hết sức nhân đạo nhằm giáo dục cứu vớt họ, không để những tác động trừng trị ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách của họ Ngay trong chế độ thi hành hình phạt tù nhà lập pháp cũng quy định điều kiện thuận lợi nhất cho việc giáo dục cải tạo và ít chịu những tác động trừng trị nhất đối với loại đối tượng này
12 TS Phạm Văn Beo: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam (phần chung), Nxb Chính trị quốc
gia, 2010, tr.78
Trang 21Trong thi hành án phạt tù đối với NCTN nguyên tắc nhân đạo được thể hiện ngay trong mục đích của việc thi hành án đã được quy định ở BLHS là nhằm thực thi công lý, bảo đảm sự công bằng cho mọi thành viên trong xã hội trước pháp luật, kết hợp chặt chẽ với giáo dục người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội Do vậy, nguyên tắc nhân đạo đòi hỏi hoạt động thi hành án phạt tù trước hết phải tôn trọng nhân phẩm và danh dự của cá nhân người chấp hành án13 Theo đó pháp luật nghiêm cấm, các hành vi đày đọa về thân thể, các hành vi xâm phạm nhân phẩm, danh dự đối với những người đang chấp hành án phạt tù Có thể xem nguyên tắc nhân đạo là một trong những nguyên tắc đặc thù thể hiện rõ nét bản chất của pháp luật hình sự, qua đó
có thể thấy những ý nghĩa nhân văn cao cả mà phạm nhân là người NCTN nhận được khi cơ quan thi hành án phạt tù áp dụng đầy đủ và đúng đắn nguyên tắc này vào thực tiễn
Nguyên tắc nhân đạo được thể hiện trong pháp luật về thi hành án phạt tù đối với NCTN bao gồm:
Nhân đạo trong những nguyên tắc áp dụng Luật hình sự: Theo quy định tại
Điều 27 BLHS hiện hành về mục đích của hình phạt ghi nhận “hình phạt không chỉ nhằm mục đích trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới” Còn khi quy định về nguyên tắc xử lý đối với NCTN phạm tội tại Điều 69 BLHS hiện hành lại không ghi nhận mục đích trừng trị mà
“việc xử lý NCTN phạm tội chủ yếu là nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội” Qua đó, ta thấy được sự nhân nhượng, ý thức vị tha của nhà làm luật đối với đối tượng đặc biệt này
Nhân đạo trong những quy định của pháp luật về chế độ sinh hoạt, ăn ở, chăm sóc sức khỏe, lao động trong thời gian họ bị giam giữ: đây là một yếu tố quan trọng
nhằm bảo đảm sức khỏe cho phạm nhân Thể hiện sự quan tâm kịp thời của Nhà nước
và xã hội đối với đời sống vật chất và tinh thần của phạm nhân, qua đó thể hiện thái độ tôn trọng những quyền và lợi ích hợp pháp mà họ không bị mất đi dù họ đang phải chấp hành án phạt tù
Nhân đạo trong việc đảm bảo cho đối tượng phạm nhân là NCTN được tiếp tục học tập: trong thời gian NCTN bị giam giữ, trại giam vẫn duy trì việc dạy văn hóa,
giáo dục pháp luật, giáo dục công dân bảo đảm hợp lý chất lượng Theo đó, NCTN được học văn hóa vào tất cả các ngày trong tuần trừ ngày chủ nhật, lễ, tết Thời gian học tập văn hóa, nghe phổ biến pháp luật được trừ vào thời gian lao động, nhằm hình thành thói quen sinh hoạt cộng đồng, ý thức tôn trọng cộng đồng, tuân thủ, phục tùng pháp luật của NCTN phải chấp hành hình phạt Thông qua đó còn tránh tâm lý mặc cảm, tự ti, đố kị, thù địch xa lánh cộng động của phạm nhân sau khi chấp hành xong án phạt tù để tái hòa nhập cộng đồng
Nhân đạo trong những quy định về quy chế giảm, miễn, hoặc tạm đình chỉ thi hành án: trong những trường hợp nhất định tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho
người bị kết án từ đó giúp họ có niềm tin hơn vào pháp luật vào cơ quan quản lý Nhà nước, để phấn đấu cải tạo tốt sớm hoàn thành bản án trở về với xã hội Để những quy định đó mang lại hiệu quả tốt nhất ngoài sự tận tụy của những người trực tiếp thi hành
13 PGS.TS Võ Khánh Vinh PGS.TS Nguyễn Mạnh Kháng (chủ biên): Pháp luật thi hành án hình sự
Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Tư Pháp, 2006, tr.54
Trang 22án thì sự động viên khuyến khích của gia đình người thân của phạm nhân cũng rất quan trọng Vì thế, trong luật THAHS cũng dành một phần quy định về chế độ thăm gặp phạm nhân của thân nhân cũng như việc liên lạc, trao đổi, thư từ hàng tháng của phạm nhân với gia đình người thân
Tuy nhiên, nguyên tắc nhân đạo trong thi hành án phạt tù đối với NCTN không
đồng nghĩa với việc nương nhẹ, bỏ qua một cách vô căn cứ đối với những người không chấp hành bản án mà Tòa án đã tuyên đối với họ Việc thực thi nguyên tắc nhân đạo trên thực tế không được làm mất tính nghiêm minh của pháp luật, không được phép vi phạm những nguyên tắc khác, mà nguyên tắc nhân đạo phải là một sự hỗ trợ đắc lực cho những nguyên tắc khác để góp phần nâng cao hiệu quả của công tác thi hành án phạt tù đối với NCTN trong tiến trình cải cách tư pháp
1.3.4 Nguyên tắc mọi người bị kết án đều bình đẳng trước pháp luật
Nguyên tắc công bằng được xem là một trong những mục tiêu quan trọng mà hệ thống pháp luật tiến bộ đang hướng đến Để hoàn chỉnh được vai trò là chuẩn mực chung, điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã hội, pháp luật xã hội chủ nghĩa phải bảo đảm và hướng đến sự công bằng trên nhiều phương diện, trong đó công bằng trước pháp luật là một vấn đề cần được quan tâm nhiều, đặc biệt là đối với những người đang bị kết án Yêu cầu này xuất phát từ nguyên tắc Hiến định về quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật14 Trong lĩnh vực thi hành án phạt tù đối với NCTN nguyên tắc này được thể hiện thông qua việc bình đẳng trong các quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi Luật THAHS, không phân biệt giới tính, địa vị xã hội, thành phần giai cấp, dân tộc, trình độ văn hóa, những tội phạm mà bản thân NCTN gây ra Mọi sự thiên vị, dễ dãi với người này khắt khe, quyết liệt với người kia đều trái với nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, trước nghĩa vụ chấp hành bản án theo tinh thần pháp quyền
xã hội chủ nghĩa
Trên thực tế, nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật là nguyên tắc dễ bị vi phạm
và ảnh hưởng tiêu cực nhất, bởi vì áp dụng nguyên tắc này hoàn toàn dựa trên ý chí chủ quan của người có nghĩa vụ thi hành án Nó phụ thuộc nhiều vào thái độ, cách ứng
xử của người đang chấp hành án đối với người quản lý trực tiếp họ
Sự vi phạm nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật sẽ gây ra những hiệu ứng trái chiều trong việc thực hiện mục đích của hình phạt, nó sẽ đi ngược lại với những quy định mà pháp luật đang hướng đến nhằm cải tạo NCTN đang chấp hành án phạt tù Nó kéo theo nhiều hệ lụy không chỉ bản thân người đang chấp hành án không được hưởng
sự công bằng bình đẳng, không được hưởng những quyền mà pháp luật thừa nhận cho
họ, mà còn gây nên sự chán nản mất lòng tin của những người bị kết án đối với cơ quan thi hành án và pháp luật Mặt khác, làm cho tính nhân đạo, ý nghĩa nhân văn, tính dân chủ trong hoạt động thi hành án phạt tù đối với NCTN bị sai lệch Do đó, không chỉ dừng lại ở những quy phạm pháp luật liên quan đến nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật mà bên cạnh đó, cần có sự kết hợp trong việc kiểm tra, giám sát của các ngành chức năng để nguyên tắc mọi người bị kết án đều bình đẳng trước pháp luật
14 PGS.TS Võ Khánh Vinh PGS.TS Nguyễn Mạnh Kháng (chủ biên): Pháp luật thi hành án hình sự
Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Tư Pháp, 2006, tr.56
Trang 23thực sự mang lại hiệu quả trên thực tế, góp phần vào công tác giáo dục cải tạo NCTN đang chấp hành án phạt tù đạt được những mục đích đã đặt ra
1.4 Mục đích và ý nghĩa của việc thi hành án phạt tù đối với NCTN
1.4.1 Mục đích của việc thi hành án phạt tù đối với NCTN
Phạm nhân là NCTN là một đối tượng cần nhiều sự quan tâm của pháp luật và
sự giúp đỡ của cơ quan trực tiếp giáo dục cải tạo họ Do vậy, việc thi hành án đối với NCTN là nhằm mục đích hiện thực hóa những nguyên tắc mang đậm tính riêng biệt
mà pháp luật hình sự dành riêng cho đối tượng này
Thứ nhất, Thi hành án phạt tù đối với NCTN chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ
họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành người có ích cho xã hội Trước hết, thi hành án phạt tù đối với NCTN là việc giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm Bởi vì, đây là lứa tuổi đang trong quá trình hình thành nhân cách, do sự bồng bột hiếu thắng, thiếu tự chủ nên những tội phạm mà NCTN gây ra chỉ phản ánh những dấu hiệu
và tính nhất thời chứ không phải là một bản tính xấu cố hữu trong con người Họ cần
có thời gian để suy ngẫm về hành động của mình, ở một môi trường có sự dẫn dắt, giúp đỡ bằng một hệ thống giáo dục tập trung Tuy trại giam là nơi giam giữ những người phạm tội, nhưng ở một chừng mực nào đó họ vẫn cần được đối xử công bằng về những quyền mà họ không bị tước đi điều này được quy định cụ thể tại khoản 3 Điều
10 Quy chế công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người đang chấp hành án phạt tù (ban hành kèm theo Quyết định số 35/QĐ-VKSTC-V4 ngày 29 tháng 01 năm 2013 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao) “Đảm bảo an toàn về tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của phạm nhân và các quyền khác của
họ không bị pháp luật tước bỏ được tôn trọng”
Thứ hai, việc thi hành án phạt tù đối với NCTN nhằm giúp họ phát triển lành
mạnh, bởi khi một người đã phạm tội, đồng nghĩa với việc những suy nghĩ của họ đã lệch lạc bởi một nguyên nhân nào đó, bản tính của họ đã bị thay đổi xấu đi vì hành động phạm tội mà họ đã gây ra, và trong một chừng mực nào đó môi trường xã hội nơi họ đang sống đã không còn phù hợp cho sự phát triển nhân cách con người của họ Do vậy, việc đưa họ đến một môi trường khác với những cách dạy dỗ khắt khe, có nề nếp và nguyên tắc rõ ràng là tạo điều kiện để cho họ có thể thay đổi tâm tính của mình theo một chiều hướng tốt hơn, có một sự phát triển lành mạnh trong nhân cách, cũng như khôi phục lại những bản tính tốt mà họ đã đánh mất bởi những sai lầm trong quá khứ Thông qua những cách giáo dục tại trại giam trong việc dạy văn hóa ứng xử, cũng như xóa mù chữ và dạy giáo dục công dân còn nhằm mục đích giúp họ tiếp tục sống như một công dân bình thường không bị mặc cảm về thân phận thực tế của mình Ngoài sự phát triển bình thường về tinh thần thì sự phát triển lành mạnh về thể chất cũng được quan tâm, nó được thể hiện trong những quy định về chế độ vui chơi giải trí lành mạnh của NCTN trong một ngày hay đó là việc lao động vừa với sức lực và lứa tuổi của mình
Cuối cùng, thi hành án phạt tù đối với NCTN thể hiện tính nhân văn sâu sắc, có
thể nói đây là nhiệm vụ quan trọng nhất mang tính chủ đạo của công tác thi hành án phạt tù đó là giúp phạm nhân là NCTN có thể trở thành một người có ích cho xã hội Thay đổi bản tính từ một con người hung hăng, hóng hách trở thành người lương thiện
là một việc làm không dễ, đòi hỏi những người trực tiếp thực hiện công tác này phải thực sự tâm huyết, nhẫn nại, có lòng bao dung và tinh thần trách nhiệm, thì công việc trồng người này mới có thể mang lại hiệu quả cao nhất
Trang 24Giúp ích cho xã hội trước tiên đó là giảm bớt đi một phần tử xấu và qua bản thân người đó cũng là cách để chúng ta răn đe những người khác không phạm tội Tiếp theo đó là trong việc dạy văn hóa pháp luật và dạy nghề là trại giam đã mang đến cho
họ một việc làm trong tương lai, để khi trở về tái hòa nhập cộng đồng họ có thể giúp ích cho bản thân và gia đình không còn là một gánh nặng cho xã hội, không mặc cảm
vì một phần quá khứ lầm lỡ của mình Qua đó, cũng là giúp họ không quay lại con đường xấu trước kia
1.4.2 Ý nghĩa của thi hành án phạt tù đối với NCTN
Thi hành án phạt tù đối với NCTN là một biện pháp nghiêm khắc nhất của Nhà nước ta đối với đối tượng này Việc làm đó có ý nghĩa vô cùng to lớn trên phương diện lập pháp cũng như đời sống xã hội và bản thân người phạm tội Theo người viết thì việc làm này có những ý nghĩa quan trọng sau đây:
Đối với quá trình lập pháp: những quy định của pháp luật thi hành án phạt tù
liên quan đến đối tượng NCTN được xem là một bước tiến quan trọng Bởi nó hoàn thiện hơn về mặt pháp lý, quy định đầy đủ tất cả các đối tượng ở những độ tuổi khác nhau có khả năng chịu trách nhiệm hình sự, góp phần vào công cuộc đấu tranh không
bỏ soát tội phạm của pháp luật hình sự nước ta Cũng như đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế, trong thời kì mà tội phạm NCTN không ngừng gia tăng như hiện nay Bên cạnh đó, những quy định của pháp luật liên quan đến thi hành án phạt tù đối với NCTN giúp chúng ta có cái nhìn rõ nét hơn về quá trình lập pháp qua các thời
kỳ, cũng như việc thấy được những nguyên tắc mang tính Hiến định đã được thể hiện đồng bộ và xuyên suốt, cho thấy sự quan tâm rõ nét của Đảng và Nhà nước ta trong việc đảm bảo cho những quyền cơ bản và lợi ích hợp pháp của những NCTN đang chấp hành án phạt tù được thực hiện trên thực tế
Đối với phạm nhân là NCTN: trong quá trình thi hành án phạt tù thông qua
những biện pháp cải tạo thì cơ quan thi hành án phạt tù đã trực tiếp giáo dục nhân cách những đối tượng phạm tội là NCTN trở thành người tốt, tu dưỡng đạo đức, hình thành cho họ những mục đích sống tốt hơn đồng thời giúp họ nhanh chóng tái hòa nhập cộng đồng sống lương thiện làm lại cuộc đời, điều đó phần nào làm cho xã hội loại bỏ được những phần tử xấu
Đối với xã hội: thông qua những cơ chế chính sách, những văn bản quy phạm
pháp luật, cũng như quá trình cải tạo giáo dục những NCTN phạm tội tại trại giam là
ta đang răn đe những đối tượng khác không vướng vào con đường phạm tội tương tự, đây được xem là một cách thức phòng ngừa tội phạm Dựa vào việc giảng dạy văn hóa, pháp luật cho những đối tượng NCTN phạm tội trong trại giam cũng là cách để những giáo viên trực tiếp giảng dạy họ rút ra được những kinh nghiệm thực tiễn liên quan đến tâm lý của những đối tượng này, góp phần trong việc giảng dạy những phần
tử cá biệt khác ngoài xã hội ngay khi chúng chưa thực hiện hành vi phạm tội, việc làm này có thể giảm thiểu phần nào số lượng NCTN thực hiện tội phạm
Trang 25CHƯƠNG 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ
ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
Một trong những đặc điểm của cơ quan thi hành án phạt tù là tổ chức và hoạt động theo trật tự pháp lý, nghĩa là pháp luật thi hành án hình sự quy định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền đồng thời quy định trình tự thủ tục để Cơ quan thi hành án phạt
tù thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mình15 Thi hành hình phạt tù diễn
ra theo một quá trình gồm nhiều hoạt động kế tiếp nhau, được bắt đầu từ việc ra quyết định thi hành án, đưa người bị kết án đến trại giam để chấp hành án, tổ chức thực hiện các biện pháp cải tạo, giáo dục người chấp hành án, trả tự do cho người bị kết án Và những hoạt động này được thực hiện theo những thủ tục được ghi nhận trong pháp luật THAHS
2.1 Trình tự, thủ tục thi hành án phạt tù đối với NCTN
Theo quy định tại Điều 106 Hiến pháp năm 2013 thì “bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng;
cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” Tại Điều 255 BLTTHS năm 2003 “những bản án phạt tù được đưa ra thi hành là những bản án đã có hiệu lực pháp luật” Một bản án chỉ phát sinh hiệu lực khi nội dung của bản án đó phản ánh sự thật khách quan, một cách có căn cứ và không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do pháp luật tố tụng hình sự quy định Thế nhưng, bản án của Tòa án chỉ trở thành điều kiện thi hành hình phạt tù khi bản án đó tuyên hình phạt tù và đã có hiệu lực pháp luật và còn thời hiệu thi hành, nó được đưa ra thi hành khi có quyết định thi hành án của Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm hoặc ủy thác cho Tòa án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án Theo khoản 1 Điều 256 BLTTHS năm 2003 quy định “trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày bản án quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc kể
từ ngày nhận được bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, quyết
15 PGS.TS Võ Khánh Vinh PGS.TS Nguyễn Mạnh Kháng (chủ biên): Pháp luật thi hành án hình sự
Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Tư Pháp, 2006, tr.242
Trang 26định tái thẩm, Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án hoặc ủy thác cho Tòa án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án Từ những quy định của pháp luật cho thấy không có bất kỳ lý do nào Tòa án được quyền tạm hoãn hoặc gia hạn việc ra quyết định đối với phần nội dung của bản án phạt tù đã có hiệu lực pháp luật
Như vậy, bản án phạt tù mặc dù đã phát sinh hiệu lực để đưa ra thi hành trên thực tế, nó cũng chỉ được thi hành khi có quyết định thi hành án của người có thẩm quyền Cần lưu ý rằng, thi hành án phạt tù khác hẳn với thi hành án dân sự, căn cứ vào quy định của pháp luật, việc ra quyết định thi hành án không phải là nhiệm vụ của Viện kiểm sát hay của cơ quan thi hành án như trong thi hành án dân sự, mà đó là trách nhiệm của Tòa án, cụ thể là nhiệm vụ của Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm hoặc
ủy thác cho Chánh án Tòa án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án Và việc ủy thác cho Tòa án khác chỉ được thực hiện trong những trường hợp như: sau khi Tòa án đã xử
sơ thẩm vụ án ra quyết định thi hành án và đã gửi cho cơ quan Công an cùng cấp để thi hành nhưng cơ quan Công an cùng cấp đã thông báo bằng văn bản cho Tòa án biết là người bị kết án đã chuyển đi nơi khác và có địa chỉ cụ thể hoặc trong trường hợp Tòa
án đã xét xử sơ thẩm có căn cứ về việc người bị kết án đang cư trú trên địa bàn hành chính khác16 Quyết định thi hành án xét đến cùng là văn bản áp dụng pháp luật, có ý nghĩa bắt buộc trong việc đưa bản án phạt tù có thời hạn ra thi hành nhằm đảm bảo hiệu lực và hiệu quả bản án của Tòa án
Các điều kiện thi hành hình phạt trên đây mặc dù có ý nghĩa độc lập với nhau nhưng giữa chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau Khi bản án phạt tù đã có hiệu lực pháp luật thì tất yếu đòi hỏi Chánh án Tòa án có thẩm quyền phải ra quyết định thi hành án trong thời gian luật định Ngược lại, Chánh án Tòa án có thẩm quyền chỉ có thể ra quyết định thi hành án trên cơ sở bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Điều đó khẳng định rằng, bản án phạt tù có hiệu lực pháp luật và quyết định thi hành
án là những điều kiện cần và đủ để thi hành hình phạt tù trên thực tế
Một quyết định thi hành án phạt tù phải bao gồm đầy đủ nội dung cần thiết được ghi nhận tại Điều 21 Luật THAHS năm 2010 “quyết định thi hành án phải ghi rõ
họ tên, chức vụ người ra quyết định; bản án quyết định được thi hành; tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành quyết định thi hành án; ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người
bị kết án; thời hạn chấp hành án phạt tù, thời hạn chấp hành hình phạt bổ sung Trường hợp người bị kết án đang tại ngoại, quyết định thi hành án phải ghi rõ trong thời hạn
16 Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ năm “Thi hành bản án và quyết định của Tòa án” của Bộ luật Tố tụng hình
sự
Trang 2707 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định người bị kết án phải có mặt tại cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người đó cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người đó làm việc”
Việc quy định trong thời hạn 07 ngày đối với người có nghĩa vụ chấp hành án đang tại ngoại phải đến cơ quan thi hành án có thẩm quyền để đi chấp hành bản án Điều này có ý nghĩa rất quan trọng, khoảng thời gian này tạo cơ hội cho người bị kết
án có thể sắp xếp công việc gia đình trước khi đi thi hành nghĩa vụ Đối với NCTN bị kết án thì càng có ý nghĩa hơn vì đây là thời điểm để họ gặp gỡ những người thân thiết, có thể thông qua đó họ nhận được những lời động viên, khuyến khích từ người thân, bạn bè, thầy cô, có thể nhìn nhận được sự quan tâm chia sẻ từ những người xung quanh đối với họ, từ đó có thêm động lực và một tâm lý thoải mái để hoàn thành tốt bản án của mình Thực tế ghi nhận, khi hết thời hạn bảy ngày được ghi trong quyết định thi hành án mà NCTN phạm tội có lý do chính đáng như: người có nghĩa vụ chăm nom nuôi dưỡng giáo dục NCTN đó bị bệnh phải cần sự chăm sóc của người đó, gia đình có ma chay của người thân thích, hay gia đình hoặc bản thân họ xảy ra những việc khẩn cấp khác thì đối tượng nhận quyết định thi hành án đó thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, để báo cáo cho Viện kiểm sát ra lệnh gia hạn về thời gian có mặt để thực hiện việc chấp hành án Thiết nghĩ, việc làm này không được ghi nhận trong Luật nhưng nó hoàn toàn phù hợp với đạo lý của con người cũng như đường lối chủ trương của Đảng dành cho đối tượng phải chấp hành
án
Để tạo điều kiện cho việc gửi và tiếp nhận quyết định thi hành án phạt tù của Tòa án, khoản 2 Điều 21 Luật THAHS đã quy định theo hướng trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định thi hành án phạt tù và hình phạt bổ sung, Tòa án đã
ra quyết định phải gửi quyết định thi hành án cho người chấp hành án; Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu; trại tạm giam nơi người phải chấp hành án đang bị tạm giam; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người phải chấp hành án đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ hoặc đang tại ngoại; Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành
án có trụ sở Từ những quy định về thời gian và những cơ quan cụ thể sẽ tạo sự dễ dàng, linh hoạt trong việc chuyển quyết định thi hành án đến những đối tượng cần nhận Qua đó, hạn chế được việc chậm trễ về thời gian, hay gửi không đúng địa chỉ Việc làm này sẽ đảm bảo được quyền lợi đối với người bị kết án theo quy định của pháp luật
2.1.2 Thi hành quyết định thi hành án phạt tù
Trang 28NCTN là một đối tượng đang trong quá trình phát triển về nhận thức và điều khiển hành vi của mình Do vậy, họ nhận được nhiều sự quan tâm từ những nhà làm Luật thông qua việc quy định về thủ tục tố tụng đối với bị can, bị cáo là NCTN có sự khác biệt theo hướng giảm bớt những biện pháp ngăn chặn có thể làm ảnh hưởng xấu đến tâm lý và sự phát triển bình thường của họ so với đối tượng người thành niên Tuy nhiên, trong những trường hợp nhất định để đảm bảo cho quá trình tố tụng hình sự diễn ra một cách nhanh chóng, kịp thời cũng như nhằm ngăn chặn những trường hợp xấu nhất có thể xảy ra thì NCTN vẫn có thể bị bắt để tạm giam theo quy định tại Điều
303 BLTTHS năm 2003 theo đó “NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị tạm giam trong trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, NCTN từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị tạm giam trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng”
Để tạo sự dễ dàng trong việc thi hành quyết định thi hành án phạt tù của đối tượng NCTN tại Điều 22 Luật THAHS năm 2010 quy định cụ thể trình tự thủ tục trong trường hợp NCTN bị kết án phạt tù đang bị tạm giam và trường hợp người bị kết
án phạt tù đang tại ngoại; đồng thời xác định cơ quan thi hành án có trách nhiệm tống đạt quyết định thi hành án, hoàn chỉnh hồ sơ thi hành án phạt tù hoặc áp giải thi hành
án Cụ thể như sau:
Trường hợp người bị chấp hành án phạt tù đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ và trại tạm giam Công an cấp tỉnh: trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận
được quyết định thi hành án, trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp huyện phải tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án
và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoàn chỉnh hồ sơ lập danh sách người chấp hành án phạt tù báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an
Trường hợp người chấp hành án phạt tù đang bị tạm giam tại trại tạm giam thuộc Bộ Công an thì trại tạm giam phải tống đạt quyết định thi hành án cho người bị
kết án, hoàn chỉnh hồ sơ lập danh sách người chấp hành án phạt tù báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc trại tạm giam thuộc Bộ Công an thì cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an ra quyết định đưa người chấp hành án đi chấp hành án
Trang 29Trường hợp người chấp hành án phạt tù đang tại ngoại thì trong thời hạn 07
ngày kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, người chấp hành án phải có mặt tại trụ sở cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu được chỉ định trong quyết định thi hành án Qua thời hạn trên mà người đó không có mặt, Cảnh sát hỗ trợ tư pháp hoặc cảnh vệ tư pháp thực hiện áp giải thi hành án Việc áp giải người chấp hành án phạt tù chỉ được thực hiện khi có lệnh áp giải của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh khi người chấp hành án không
có mặt đúng thời gian theo quy định mà không có lý do rõ ràng, không trình báo với
cơ quan thi hành án có thẩm quyền Và việc áp giải thi hành án phạt tù phải được đảm bảo các yêu cầu về chính trị, nghiệp vụ, pháp luật bảo đảm tuyệt đối an toàn về tính mạng, sức khỏe cho cán bộ, chiến sỹ và quần chúng nhân dân; không được xâm phạm trái pháp luật tínnh mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người bị áp giải Đồng thời tuân theo “Quy trình bắt áp giải bị can bị cáo người có quyết định thi hành án phạt
tù, dẫn giải người làm chứng của lực lượng cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc công an nhân dân theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự” (ban hành kèm theo Quyết định số 1502/2008/QĐ-BCA (C11) ngày 10/9/2008 của Bộ trưởng Bộ Công an)
Thông qua quy định về trình tự, thủ tục thi hành quyết định thi hành án phạt tù
ta thấy được tính nghiêm minh của pháp luật trong việc đưa người bị kết án đi chấp hành án Cũng như, có những biện pháp cưỡng chế cần thiết nếu người đó không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình Đồng thời, quy định các cơ quan có liên quan cũng phải
thực hiện nhiệm vụ của mình một cách nghiêm minh và đúng pháp luật
2.1.3 Tiếp nhận người thi hành án phạt tù
Để tạo điều kiện cho việc tiếp nhận người phải chấp hành án phạt tù được tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, Điều 26 Luật THAHS đã quy định đầy đủ, cụ thể những quyền và nghĩa vụ của cơ quan tiếp nhận phạm nhân: trại giam, trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện được chỉ định thi hành án phải tiếp nhận người chấp hành án phạt tù khi có đầy đủ hồ sơ quy định tại Điều 25 Luật THAHS; Việc tiếp nhận phải được lập thành biên bản sau khi tiếp nhận,
cơ quan tiếp nhận phải tổ chức khám sức khỏe ngay cho người tiếp nhận để lập hồ sơ sức khỏe phạm nhân
Việc quy định cơ quan tiếp nhận phải tổ chức khám sức khỏe ngay cho người được tiếp nhận để lập hồ sơ sức khỏe phạm nhân có ý nghĩa rất quan trọng, là bước khởi đầu để phân loại quản lý phạm nhân, theo quy định khi kiểm tra sức khỏe phạm nhân nếu phạm nhân đạt yêu cầu thì được chuyển vào giam tập trung, những phạm nhân có sức khỏe không tốt (ho, cảm cúm, bệnh ngoài da ) hay có vết tích của thương
Trang 30tật thì sẽ được giam giữ riêng để cán bộ y tế của trại giam điều trị cho khỏe hẳn rồi mới đưa vào giam giữ tập trung
Bên cạnh đó, việc khám sức khỏe còn giúp phân loại bố trí công việc lao động cho phù hợp với từng đối tượng, quản lý giam giữ, phòng, chữa bệnh và lập phác đồ điều trị đối với phạm nhân bị bệnh nặng (viêm gan siêu vi, bệnh tim, bệnh lao,…) hoặc
tổ chức cho phạm nhân cai nghiện ma túy theo quy định của pháp luật Từ đó hạn chế được tình trạng phạm nhân bị nhiễm HIV/AIDS, nghiện ma túy, mắc các bệnh xã hội như lao, giang mai và các bệnh nặng, nguy hiểm khác trong trại giam diễn biến phức tạp gây khó khăn trong công tác thi hành án phạt tù
Đối với phạm nhân bị nhiễm HIV/AIDS: khi kiểm tra sức khỏe để tiếp nhận vào trại giam thì phạm nhân phải khai báo rõ tiền sử sử dụng ma túy, mại dâm và HIV/AIDS, riêng các trường hợp có nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS cao (nghiện hút, tiêm chích ma túy, mại dâm…) đều phải được xét nghiệm máu để phát hiện HIV Những trường hợp có HIV dương tính thì trại giam lập hồ sơ sức khỏe riêng để theo dõi, quản lý và thực hiện các biện pháp cần thiết để phòng lây nhiễm cho người khác
Cơ quan tiếp nhận phổ biến cho phạm nhân những quy định về nội quy trại giam như: phạm nhân phải nghiêm chỉnh chấp hành bản án, quyết định của Tòa án, tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh, tuân thủ sự hướng dẫn của cán bộ trại giam, tự giác rèn luyện và giúp đỡ phạm nhân khác cùng cải tạo tiến bộ trở thành người có ích cho xã hội; nghiêm cấm mọi hành vi vi phạm pháp luật, nội quy trại giam hoặc cản trở việc chấp hành án phạt tù của phạm nhân khác Phạm nhân có trách nhiệm kịp thời tố giác hành vi vi phạm của phạm nhân khác; phải thực hiện đúng quy định về thời gian, hiệu lệnh lễ tiết trong sinh hoạt, học tập, lao động, nghỉ ngơi và vui chơi giải trí; trong giao tiếp với nhau phạm nhân phải sử dụng tiếng Việt trừ phạm nhân là người nước ngoài, người dân tộc thiểu số chưa biết tiếng Việt và xưng hô với nhau là “tôi”, “anh” hoặc
“chị”; phạm nhân xưng hô với cán bộ là “tôi” và “cán bộ”, xưng hô với khách là “tôi
và “quý khách” và phải đứng cách xa từ 5m đến 7m phải bỏ mũ nón và cầm ở tay phải 17
Bên cạnh đó, phổ biến cho phạm nhân thực hiện những quy định sau: “chỉ được đưa vào buồng giam những đồ dùng cần thiết; trường hợp có tư trang chưa dùng đến,
có tiền thì phải gửi trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện quản lý; trường hợp phạm nhân có nhu cầu được chuyển số tiền, đồ dùng cá nhân, tư trang cho thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp và tự chịu chi phí thì trại
17 Nội quy trại giam (ban hành kèm theo Thông tư số 36/2011/TT-BCA ngày 26 tháng 5 năm 2011 của
Bộ trưởng Bộ Công an)
Trang 31giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm thực hiện việc chuyển hoặc giao trực tiếp cho người đó tại nơi chấp hành án; Không được sử dụng tiền mặt, giấy tờ có giá tại nơi chấp hành án Việc phạm nhân mua lương thực, hàng hóa khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt tại trại giam được thực hiện bằng hình thức ký sổ; không được đưa vào nơi chấp hành án đồ vật thuộc danh mục cấm do Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định”
Theo thông tư số 58/2011/TT-BCA ngày 09/8/2011 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về đồ vật cấm đưa vào trại giam và việc thu giữ, xử lý đồ vật cấm Theo đó,
đồ vật cấm bao gồm 11 loại, cụ thể là: Các loại vũ khí, đồ vật nổ; Công cụ hỗ trợ; Chất gây mê, chất độc, chất cháy, chất gây cháy, chất phóng xạ, hóa chất độc dược; Các chất ma túy và các tân dược có thành phần gây nghiện; Rượu bia và các chất kích thích khác; Các đồ dùng bằng kim loại và đồ vật khác như dây lưng, dây điện, dây đàn, đồ làm bằng sành sứ, đá thủy tinh phích nước, đồ vật sắc nhọn và các vật có thể dùng làm hung khí; tiền Việt Nam, ngoại tệ, chứng chỉ có giá, vàng, bạc, đá quý, kim loại quý; Các loại giấy tờ khác như chứng minh thư nhân dân, hộ chiếu, hộ khẩu, giấy chứng nhận nghề, bằng cấp chứng chỉ và các giấy tờ chứng nhận khác; Các loại thiết bị kỹ thuật, điện tử; Các loại ấn phẩm; các đồ vật khác có thể gây mất an toàn trại giam, gây nguy hại cho bản thân phạm nhân và người khác, ảnh hưởng xấu đến vệ sinh môi trường hoặc để sử dụng vào mục đích đánh bạc
Việc quy định danh mục những đồ vật cấm đưa vào trại giam góp phần hạn chế tình trạng mất cấp, phạm nhân đánh nhau gây rối trật tự an ninh trong trại giam, hạn chế cháy nổ mất an toàn đến tính mạng và tài sản, hay ngăn ngừa trường hợp phạm nhân bỏ trốn có mang theo giấy tờ tùy thân
2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn và vai trò của cơ quan thi hành án phạt tù đối với NCTN
Theo quy định tại khoản 1 Điều 16 Luật THAHS năm 2010 thì: “trại giam là cơ quan thi hành án phạt tù”, là nơi giam giữ những người phải chấp hành án phạt tù, dù đối tượng đó là người đã thành niên hay chưa thành niên Ngoài ra, theo quy định tại Điều 171 Luật THAHS quy định: “Bộ trưởng Bộ Công an căn cứ yêu cầu quản lý nguời bị tạm giam, tạm giữ để quyết định đưa người chấp hành án phạt tù có thời hạn
từ 05 năm trở xuống, không phải là NCTN người nước ngoài, người mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm hoặc nghiện ma túy để phục vụ việc tạm giam, tạm giữ Số lượng người chấp hành án phạt tù phục vụ việc tạm giam, tạm giữ được tính theo tỷ lệ trên tổng số người bị tạm giam, tạm giữ nhưng tối đa không vượt quá 15%” Bên cạnh đó, tại công văn số 58/TC VIII ngày 14/01/2010 về việc hướng dẫn thủ tục đưa phạm nhân
đi chấp hành án và trích xuất quy định “số lượng phạm nhân chấp hành án tại trại tạm giam không vượt quá 15% so với tổng số người đang bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân chấp hành hình phạt tù tại Trại tạm giam và những phạm nhân có mức án tù từ 5 năm trở xuống, không phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tái phạm người nước
Trang 32ngoài” Như vậy, từ các quy định trên đây cho thấy có ba chủ thể thực hiện công tác thi hành án phạt tù đối với NCTN đó là: Trại giam, Trại tạm giam và Nhà tạm giữ
2.2.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án phạt tù đối với NCTN
So với Pháp lệnh thi hành án phạt tù năm 1993 và Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của pháp lệnh thi hành án phạt tù năm 2007 chỉ quy định “trại giam là nơi chấp hành hình phạt của người bị kết án tù” thì, khoản 1 Điều 16 Luật THAHS năm
2010 đã xác định đúng và chính xác hơn về địa vị pháp lý của trại giam khi quy định
“trại giam là cơ quan thi hành án phạt tù” Trên cơ sở pháp điển hóa các quy định phù hợp của Pháp lệnh thi hành án phạt tù năm 1993, pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của pháp lệnh thi hành án phạt tù năm 2007 và quy định của pháp luật khác có liên quan, khoản 1 Điều 16 Luật thi hành án hình sự đã quy định trại giam có 12 nhiệm
Bên cạnh những nhiệm vụ, quyền hạn chung áp dụng cho tất cả các đối tượng phạm nhân đang chấp hành án thì cơ quan thi hành án phạt tù còn có những nhiệm vụ quyền hạn mang tính đặc thù riêng dành cho đối tượng phạm nhân là NCTN như:
Phân loại phạm nhân18 khi nhập trại theo lứa tuổi, giới tính, khả năng nhận thức, hành vi thực hiện tội phạm… để tạo sự dễ dàng trong công tác cải tạo, giáo dục, phân nhóm để học tập, lao động, sinh hoạt tại nơi giam giữ
Xây dựng khu quản lý riêng với những chế độ dành cho NCTN phạm tội theo quy định của pháp luật như xây dựng kiên cố, đầy đủ ánh sáng, vệ sinh môi trường, chổ nằm tối thiểu của mỗi phạm nhân NCTN là 03 mét vuông (m2 )
Tổ chức các lớp dạy văn hóa pháp luật bắt buộc cho phạm nhân là NCTN vào các ngày trong tuần (trừ ngày chủ nhật, lễ, tết)
Thường xuyên thực hiện việc thông báo về tình hình chấp hành án, cũng như việc học văn hóa, giáo dục pháp luật, học nghề của phạm nhân về cho gia đình (đối với phạm nhân thành niên là 06 tháng một lần, đối với phạm nhân là NCTN là mỗi tháng thông báo một lần)
Cải tạo giáo dục phạm nhân là NCTN, ngăn ngừa họ phạm tội mới đồng thời tạo mọi điều kiện cần thiết giúp những người chấp hành án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong hình phạt
Đối với những nhiệm vụ này, đòi hỏi những cán bộ thi hành án trong quá trình thực thi pháp luật, phải quán triệt được những nội dung mang tính đường lối nghiêm minh nhưng nhân đạo của Đảng và Nhà nước đối với đối tượng phạm nhân là NCTN,
để tránh lạm dụng những biện pháp cứng rắn, đôi khi là hà khắc, khiến cho người chịu hình phạt không nhận thức được mục đích giáo dục, cải tạo của việc thi hành án phạt
tù đối với họ dẫn đến hiệu quả không cao Thông qua quá trình cải tạo giáo dục họ cơ quan thi hành án phạt tù có thể nhìn nhận được những tiến bộ mà họ đạt được, qua đó
18 Xem thêm Điều 27 Luật THAHS năm 2010
Trang 33thực hiện các thủ tục đề nghị đặc xá cho phạm nhân theo đúng quy định của pháp luật, hay đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét giảm thời hạn chấp hành án nhằm khuyến khích động viên những đối tượng chấp hành án cải tạo tốt
2.2.2 Vai trò của cơ quan thi hành án phạt tù đối với NCTN
Theo quy định của pháp luật về thi hành án phạt tù, thì NCTN phạm tội buộc phải chấp hành án phạt tù tại trại giam Theo đó, cơ quan thi hành án phạt tù mà hiện thân là những cán bộ phục vụ trong trại giam, đây là những con người trực tiếp chịu trách nhiệm hướng dẫn cho đối tượng NCTN phạm tội chấp hành đúng đắn và đầy đủ hình phạt mà Tòa án đã tuyên đối với họ, từ khi họ nhập trại cho đến khi trở về tái hòa nhập cộng đồng Do vậy, vai trò của cơ quan thi hành án phạt tù rất quan trọng, không chỉ đối với bộ máy quản lý nhà nước mà còn có ý nghĩa trong việc giúp ích cho đối tượng NCTN phạm tội, được hưởng những quyền cơ bản mà pháp luật dành cho họ cũng như hướng dẫn họ thực hiện đúng những nghĩa vụ mà một người phạm nhân cần làm trong thời gian chấp hành hình phạt
Đối với bộ máy nhà nước: cơ quan thi hành án phạt tù là cơ quan giúp việc cho
Bộ Công an trong việc quản lý phạm nhân, nó có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn
ổn định trật tự trong phạm vi nơi giam giữ, canh giữ nghiêm ngặt hạn chế đến mức tối thiểu trường hợp phạm nhân đánh nhau, gây rối trong trại giam Ngoài những vai trò mang tính nghiệp vụ, chuyên môn của những người thực thi pháp luật thì cơ quan thi hành án phạt tù còn có vai trò giáo dục, cải tạo những phạm nhân là NCTN trở thành người tốt Những người cán bộ quản lý ở đây phải xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm, nêu cao tinh thần trách nhiệm, tận tụy với công việc Họ là những người thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với phạm nhân, do vậy ngoài trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, pháp luật còn phải thường xuyên tích lũy kinh nghiệm nâng cao năng lực công tác và có lòng nhân ái Công tác cải tạo phạm nhân là một nhiệm vụ đặc biệt khó, đòi hỏi một quá trình lâu dài Để làm được điều đó cán bộ quản giáo phải thực sự tâm huyết, có lương tâm, biết nhìn ra những cái tốt trong mỗi phạm nhân, từ đó động viên giúp đỡ họ cải tạo tốt Ngoài ra, cán bộ quản giáo còn phải hiểu rõ hoàn cảnh gia đình, tâm tư, tình cảm của từng phạm nhân, trên cơ sở đó có biện pháp giáo dục phù hợp và đem lại hiệu quả cao
Đối với phạm nhân là NCTN: đây là đối tượng còn non trẻ về tuổi tác, suy nghĩ
và hành động nên việc giúp họ hiểu được những quyền và nghĩa vụ của mình trong thời gian chấp hành hình phạt tù là một việc làm có ý nghĩa Bởi vì, chỉ khi hiểu được các quyền mà pháp luật quy định dành cho họ, thì họ mới có tâm lý thoải mái để chấp hành án Đồng thời, thông qua việc phổ biến các quyền, thì cán bộ trại giam tạo cơ hội cho họ thấy được bản thân mình vẫn còn có ý nghĩa đối với xã hội, điều đó sẽ giúp họ giảm bớt sự tự ti, tránh được những mặc cảm đối với thân phận của mình Hay việc những cán bộ trại giam sử dụng những công việc thường nhật của mình như một công
cụ, để nhắc nhở hướng dẫn họ thực hiện những nghĩa vụ của mình một cách thân thiện,
Trang 34không áp đặt bằng những thái độ khắt khe, cũng là cách để phạm nhân là NCTN nhận thức được trách nhiệm của mình đối với bản án phạt tù Việc làm này đòi hỏi những cán bộ thi hành án tại trại giam phải có sự nhiệt tình, tận tụy với công việc và có những kiến thức cần thiết về tâm sinh lý của NCTN để hiểu họ hơn thì mới mang lại hiệu quả cao nhất Chính những cán bộ này là người gần gũi với đối tượng, hiểu rõ những tâm tư nguyện vọng của họ nhất từ đó có điều kiện động viên khuyến khích họ cải tạo tốt, sớm trở về với xã hội
Đối với thân nhân người phạm tội: cơ quan thi hành án phạt tù chính là cầu nối
giữa gia đình và đối tượng phải chấp hành án, cán bộ cơ quan thi hành án bằng trách nhiệm của mình mang những tâm tư nguyện vọng của phạm nhân chưa thành niên gửi gấm đến gia đình, để họ hiểu được con em mình, đồng thời tin tưởng ở cơ quan thi hành án phạt tù, từ đó động viên khuyến khích đối tượng chấp hành án cải tạo tốt Thông qua đó có thể giúp ích được phần nào công tác cải tạo, giáo dục phạm nhân
Đối với xã hội: cơ quan thi hành án phạt tù là cơ quan chịu trách nhiệm trực
tiếp giáo dục phạm nhân là NCTN phạm tội, nên vai trò của họ là thông qua nhiệm vụ của mình uốn nắn, dạy dỗ để trả về cho xã hội những phần tử tốt, có ích cho cộng đồng sau khi bản án kết thúc
2.3 Quyền và nghĩa vụ của NCTN đang chấp hành án phạt tù
2.3.1 Quyền của NCTN đang chấp hành án phạt tù
2.3.1.1 Chế độ quản lý, giáo dục văn hóa, pháp luật, học nghề, lao động
Chế độ quản lý
Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật THAHS năm 2010 về chế độ quản lý, giáo dục, học văn hóa học nghề, lao động thì: phạm nhân là NCTN được giam giữ theo chế độ riêng phù hợp với sức khỏe, giới tính và đặc điểm nhân thân Về chế độ quản
lý, giam giữ phạm nhân được thực hiện theo quy định tại Nghị định 117/2011/NĐ-CP ngày 15/12/2011 của chính phủ về tổ chức quản lý phạm nhân và chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt, chăm sóc y tế đối với phạm nhân Theo đó, tại khoản 1 Điều 6 quy định
“phạm nhân phải được giam giữ trong buồng giam theo quy định, khi ra khỏi buồng giam phải có lệnh của giám thị trại giam Trước khi phạm nhân vào buồng giam và sau khi mở cửa buồng giam cho phạm nhân ra ngoài, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ được giao trách nhiệm phải điểm danh, kiểm diện Cán bộ, nhân viên trại giam không có nhiệm vụ và mọi người khác nếu không được phép của Giám thị trại giam không được vào khu vực buồng giam, không được tiếp xúc với phạm nhân; trại giam phải được bảo vệ nghiêm ngặt và an toàn, các lực lượng vũ trang bảo vệ, tuần tra canh gác 24/24 giờ Các buồng giam phải được xây dựng chắc chắn, có đủ ánh sáng và đảm bảo vệ sinh môi trường”
Những quy định về quản lý phạm nhân là NCTN trong pháp luật thi hành án phạt tù, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo vệ những đối tượng này Nhằm tránh sự va chạm với những đối tượng phạm nhân đặc biệt nguy hiểm khác, một mặt là bảo vệ NCTN không để họ bị kích động, lôi kéo bởi những đối
Trang 35tượng phạm nhân thành niên, đã phạm tội nhiều lần dẫn đến nguy cơ coi thường nội quy giam giữ, không tôn trọng nhân viên trại giam, trở thành đối tượng khó giáo dục, cải tạo làm cho mục đích của thi hành án phạt tù không đạt được hiệu quả như mong muốn của nhà làm luật Mặt khác, việc tách riêng đối tượng NCTN và phạm nhân đã thành niên tạo thuận lợi cho công tác quản lý phạm nhân theo đội, nhóm học tập, lao động, sinh hoạt Đồng thời, những quy định khắc khe, mang tính nghiêm minh trong việc điểm danh, kiểm diện phạm nhân cũng nhằm mục đích tạo lập cho phạm nhân là NCTN một tác phong làm việc nghiêm túc, có kỷ cương, nề nếp
sở và học nghề” Bên cạnh đó, Nghị định 117/2011/NĐ-CP còn quy định thêm “phạm nhân là NCTN phải thực hiện bắt buộc học chương trình tiểu học, phổ cập trung học
cơ sở; phải học văn hóa vào tất cả các ngày trong tuần, trừ ngày chủ nhật, ngày lễ, tết; mỗi ngày một buổi, mỗi buổi bốn giờ (4h)” Khi phạm nhân đủ 18 tuổi thì chuyển sang thực hiện chế độ giáo dục đối với người đã thành niên19 Với quy định này tạo điều kiện cơ bản nhất cho phạm nhân có thể học văn hóa để hướng họ đến một lối sống bình thường với xã hội Có lẽ với việc họ ít được giáo dục trong xã hội nên việc nhận thức về các quan hệ xung quanh còn hạn chế, dễ bị tác động từ các yếu tố bên ngoài, chưa hiểu quy định của pháp luật nên rất dễ vi phạm Bắt buộc học văn hóa là yếu tố tất yếu đầu tiên để họ hình thành lại nhận thức về xã hội một cách đúng đắn, để sau này khi họ ra khỏi trại giam đối diện với cuộc sống xã hội có nhiều vấn đề phức tạp thì
họ có thể suy nghĩ kỹ và tìm ra hướng giải quyết, thay vì trước kia họ chỉ quyết định theo cảm tính
Bên cạnh đó phạm nhân là NCTN còn được giáo dục chuẩn mực đạo đức, các
kỹ năng sống cơ bản; được phổ biến thời sự, chính sách pháp luật, giáo dục công dân theo chương trình, nội dung do Bộ Công an, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp biên soạn; được tư vấn, trợ giúp tâm lý, giáo dục hỗ
19 Tại khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BGDĐT của Bộ Công an,
Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp và Bộ Giáo dục và Đào tạo: Thời gian học chương trình xóa mù chữ cho phạm nhân mỗi tuần học bốn buổi mỗi buổi bốn giờ (trừ các ngày chủ nhật, lễ, tết)
Trang 36trợ các thủ tục pháp lý cần thiết để có điều kiện thuận lợi tái hòa nhập cộng đồng, trở thành người có ích cho xã hội20
Để tạo thuận lợi cho việc thi hành Điều 51 Luật THAHS năm 2010 thì Thông
tư liên tịch số 02/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BGDĐT của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp và Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn áp dụng những điều khoản
cụ thể Theo đó, nơi giam giữ phạm nhân có nghĩa vụ thực hiện việc bắt buộc học chương trình tiểu học hoặc giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ và phổ cập trung học cơ
sở đối với phạm nhân là NCTN Đối với những phạm nhân đã thôi học hoặc bỏ học giữa chừng chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở thì được xem xét
hồ sơ, học bạ để có thể tổ chức dạy văn hóa đối với họ cho phù hợp Khi phạm nhân hoàn thành xong chương trình học tại nơi giam giữ sẽ được tổ chức xét và cấp bằng tốt nghiệp Trường hợp phạm nhân được dạy văn hóa trong trại giam mà hết thời hạn chấp hành án thì được bảo lưu kết quả học tập để có thể tiếp tục học văn hóa tại các cơ sở giáo dục trong hệ thống quốc dân
Chương trình nội dung giáo dục pháp luật, giáo dục công dân cho phạm nhân bao gồm: những nội dung cơ bản về những thành tựu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước và địa phương, những chủ trương, chính sách mới của Đảng, liên quan đến phạm nhân và tái hòa nhập cộng đồng của người chấp hành xong án phạt tù; quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, pháp luật; nội quy trại giam và các quy định về tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù, xếp loại chấp hành án phạt tù, các chuẩn mực đạo đức xã hội trong các mối quan hệ với bản thân, với người khác, với công việc, với gia đình và cộng đồng…, ngoài ra, pháp luật cũng khuyến khích và tạo điều kiện để để phạm nhân tự học văn hóa để nâng cao trình độ và khuyến khích thân nhân NCTN gửi sách vở, báo chí, đồ dùng học tập, dụng cụ thể dục thể thao, vui chơi giải trí cho con em họ theo quy định của pháp luật
Theo quy định tại khoản 4 Điều 14 Nghị định 117/2011/NĐ-CP phạm nhân là NCTN được ưu tiên bố trí học nghề, nâng cao tay nghề theo nguyện vọng phù hợp với
độ tuổi, trình độ văn hóa, giới tính sức khỏe, điều kiện thực tế của trại giam Thời gian học nghề được trừ vào thời gian lao động Dạy nghề cho phạm nhân là vấn đề mang tính nhân đạo sâu sắc, nó vừa phải đảm bảo những yêu cầu của công tác dạy nghề nói chung trong xã hội, vừa phải đảm bảo các yêu cầu nghiệp vụ trong công tác quản lý, giam giữ, giáo dục người đang chấp hành án phạt tù
Nghề nghiệp không chỉ đảm bảo cho người lao động có thu nhập để thõa mãn các nhu cầu vật chất, mà còn là yếu tố rất quan trọng để hình thành, củng cố, phát triển nhân cách đảm bảo các giá trị tinh thần của con người “Thực hiện Quyết định số 138/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 31/7/1998 phê duyệt Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm đã xác định một trong những nội dung của chương trình là: Nâng cao hiệu quả công tác giam giữ, giáo dục cải tạo người phạm tội, tổ chức dạy nghề, mở rộng mô hình các trung tâm dạy nghề cho phạm nhân và xúc tiến việc làm cho họ sau khi mãn hạn tù nhằm giúp người phạm tội mau chóng tái hòa nhập
xã hội Quyết định số 245/QĐ-TTg ngày 29/02/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án tăng cường năng lực giáo dục, dạy nghề cho phạm nhân trong các trại
20 Xem thêm thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BGDĐT của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp và Bộ Giáo dục và Đào tạo