Đồng thời, nhằm thực hiện các nhiệm vụ mà Nghị quyết 26-NQ/TW về Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn do Ban Chấp hành Trung ương đề ra, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và cụ thể hóa bằng Nghị
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
ĐÁNH GIÁ TIÊU CHÍ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
VÀ THỰC TRẠNG TẠI XÃ TÂN HÒA, HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Hữu Lạc Nguyễn Thị Yến Oanh
MSSV: 5115831
Lớp Luật hành chính - K37
Cần Thơ 11/2014
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn của nước ta trong những năm gần đây đạt nhiều thành tựu to lớn Tuy nhiên những thành tựu đó chưa thật sự tương xứng với tiềm năng và lợi thế hiện có của nước ta Nông nghiệp thì phát triển nhưng chưa bền vững, chưa phát huy tốt nguồn lực cộng đồng dân cư cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp dẫn đến việc sản xuất chủ yếu là nhỏ lẽ, phân tán rời rạc không tập trung Nông dân phải đối mặt với nhiều rủi ro như: thiên tai, dịch bệnh, thị trường… Trình độ sản xuất của người dân còn thấp Đời sống vật chất và tinh thần thì còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao Thấy
được thực tiễn đó, Trung ương Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách
nhằm phát triển nông thôn trong giai đoạn hiện nay Ngày 5/8/2008 tại Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ra Nghị quyết số 26–NQ/TW về Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn Sau 20 năm đổi mới đất nước đây là lần đầu tiên Đảng ta có một nghị quyết toàn diện nhất về Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn trong điều kiện kinh
tế thị trường hội nhập Đồng thời, nhằm thực hiện các nhiệm vụ mà Nghị quyết 26-NQ/TW
về Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn do Ban Chấp hành Trung ương đề ra, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và cụ thể hóa bằng Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP của Chính phủ: Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn và hai Quyết định, một là Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ
về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; hai là: Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thực hiện Chương trình MTQG xây dựng
nông thôn mới 2010 - 2020 Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 nhằm xây dựng
xã nông thôn mới có kinh tế phát triển đời sống vật chất và tinh thần của dân cư được nâng cao; phát triển theo quy hoạch, có kết cấu kinh tế - hạ tầng hiện đại, môi trường sinh thái
được bảo vệ; dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa được giữ gìn và phát huy; an ninh tốt,
quản lý dân chủ; chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao1
Cũng như các tỉnh thành khác trên cả nước, tỉnh Đồng Tháp cũng đã và đang tiến hành xây dựng nông thôn mới Lai Vung là một huyện nằm ở phía Nam của tỉnh và là một trong số các huyện được sự chú trọng quan tâm phát triển đời sống của người dân trong địa phương Việc xây dựng nông thôn mới đã và đang được các ban ngành, đoàn thể trong
1
Tài liệu hỏi đáp về nông thôn mới 2012
Trang 3huyện chú trọng thúc đẩy để nâng cao đời sống của nhân dân trong huyện và giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của cha ông để lại
Việc xây dựng nông thôn mới mang lại diện mạo mới cho nông thôn Việt Nam hiện nay nhằm nâng cao đời sống vật chất lẫn tinh thần cho nông dân nông thôn Tuy nhiên để xây dựng được mô hình NTM các địa phương còn gặp rất nhiều khó khăn và tồn tại, cũng như các thách thức mà địa phương cần giải quyết Xuất phát từ những vấn đề trên tác giả đã
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tiêu chí xây dựng nông thôn mới và thực trạng tại xã Tân Hòa, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp” với mong muốn tìm ra được những
vướng mắc khó khăn, tồn tại ở địa phương Từ đó đưa ra một số giải pháp để địa phương sớm hoàn thành Bộ tiêu chí quốc gia
Khi tiến hành nghiên cứu đề tài này, tác giả muốn thông qua quá trình nghiên cứu để
đánh giá được tình hình xây dựng nông thôn mới tại địa phương Và đề xuất được một số
giải pháp nhằm phát huy các điểm mạnh vốn có của xã và khắc phục những khó khăn khi xây dựng nông thôn mới
3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này tập trung nghiên cứu nội dung của Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông
thôn mới được quy định tại Quyết định số 491/QĐ-TTg Đồng thời sử dụng các văn bản pháp luật và các tài liệu có liên quan để đánh giá kết hợp với hai phương diện lý luận và thực tiễn
4 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, trên nền tảng cơ sở lý luận duy vật biện chứng
của Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, người viết vận dụng kết hợp các phương pháp so sánh, phân tích, đối chiếu, tổng hợp…và đặc biệt là phương pháp phân tích luật viết để tiến hành đánh giá, phân tích những quy định của pháp luật về xây dựng nông thôn mới
5 Kết cấu đề bài
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được chia làm 03 chương:
- Chương 1: Khái quát chung về nông thôn và nông thôn mới
Chương này giới thiệu về cơ sở lý luận từ các khái niệm cơ bản về nông thôn và nông thôn mới đến mục tiêu, nguyên tắc xây dựng nông thôn mới Sau đó trình bày kinh nghiệm thực tiễn trong xây dựng nông thôn mới đi từ quá trình hình thành tư tưởng xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam đến một số địa phương cụ thể trong công cuộc xây dựng
Trang 4nông thôn mới Sau cùng là một số bài học rút ra từ những kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới Để hỗ trợ cho Chương 2
- Chương 2: Đánh giá tiêu chí xây dựng nông thôn mới
Trọng tâm của chương này là đánh giá việc xây dựng nông thôn mới theo 19 tiêu chí
được thực hiện tại xã Tân Hòa, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp dựa trên các quy định của
pháp luật Song song đó, có sự phân tích đánh giá những kết quả đạt được và những tồn tại, hạn chế cũng như một số điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của xã khi tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới Từ đó, làm cơ sở để Chương 3 so sánh, đối chiếu để tìm ra giải pháp nhằm sớm hoàn thành mục tiêu
- Chương 3: Giải pháp trong xây dựng nông thôn mới
Chương này tập trung tìm ra giải pháp từ những giải pháp chung đến những giải pháp cụ thể cho từng tiêu chí trong Bộ tiêu chí quốc gia xây dựng nông thôn mới Góp phần cho việc xây dựng nông thôn mới được tiến hành có hiệu quả hơn và đúng tiến độ đã được
đạt ra
Do thời gian nghiên cứu có hạn và có phần hạn chế về kiến thức chuyên môn, nên trong quá trình nghiên cứu đề tài sẽ không tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến nhận xét, đóng góp tận tình của quý Thầy, Cô và các bạn để người viết cũng cố, bổ sung thêm kiến thức và điều chỉnh đề tài nghiên cứu được hoàn chỉnh hơn
Trang 5CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NÔNG THÔN VÀ NÔNG THÔN MỚI
1.1 Khái quát chung về nông thôn và nông thôn mới
1.1.1 Khái quát về nông thôn và nông thôn mới
1.1.1.1 Khái niệm về nông thôn
Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã2
Nông thôn là một hệ thống xã hội, một cộng đồng xã hội có những đặc trưng riêng biệt như xã hội nhỏ, trong đó có đầy đủ các yếu tố, các vấn đề xã hội và các thiết chế xã hội Nông thôn được xem xét như một cơ chế xã hội, trong đó có hàng loạt các yếu tố, các lĩnh vực nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau
1.1.1.2 Đặc trưng cơ bản của nông thôn
Hệ thống xã hội nông thôn được xác định theo ba đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất: Về các nhóm giai cấp và tầng lớp xã hội: ở nông thôn, đặc trưng chủ yếu
ở đây là nông dân, ngoài ra ở từng xã hội còn có các giai cấp, tầng lớp như địa chủ, phú
nông, nhóm thợ thủ công, buôn bán nhỏ,…
Thứ hai: Về lĩnh vực sản xuất: Đặc trưng rõ nét nhất của nông thôn là sản xuất nông
nghiệp; ngoài ra, còn có thể kể đến cấu trúc phi nông nghiệp bao gồm: dịch vụ, buôn bán, tiểu thủ công nghiệp có vai trò rất lớn đối với sản xuất nông nghiệp
Thứ ba: Về lối sống, văn hóa của từng loại cộng đồng: nông thôn thường rất đặc
trưng với lối sống văn hóa làng xã Đặc trưng này bao gồm rất nhiều khía cạnh như: từ hệ thống dịch vụ, sự giao tiếp, đời sống tinh thần, phong tục tập quán, chuẩn mực hành vi,…đến khía cạnh dân số, lối sống gia đình, sinh hoạt kinh tế,…ngay cả đến hệ thống
đường xá, năng lượng, nhà ở,… Đó là những đặc trưng cơ bản nhất để nhận diện về nông
thôn Và chính đặc trưng thứ ba đã tạo ra bản sắc riêng, diện mạo riêng cho hệ thống xã hội nông thôn3
1.1.1.3 Khái niệm nông thôn mới
Hiện nay chưa có một định nghĩa hay khái niệm chính thức về nông thôn mới Tuy nhiên theo tinh thần Nghị Quyết số 26 của Ban Chấp hành Trung Ương Đảng (khóa X) thì NTM là khu vực nông nghiệp có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại, cơ cấu
2
Nghị định số 41/2010/NĐ-CP của Chính phủ: Về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
Trang 6kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, gắn phát triển nông nghiệp với đô thị theo quy hoạch xã hội nông thôn dân chủ ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững, đời sống văn hóa và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị Đây không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà còn có liên quan đến vấn đề chính trị Việc xây dựng NTM sẽ giúp cho nông dân trở nên chăm chỉ, đoàn kết để cùng nhau chung tay xây dựng nông thôn mới đạt hiệu quả cao Làm thay đổi diện mạo vùng nông thôn trở nên giàu đẹp, dân chủ và văn minh
Với tinh thần đó, nông thôn mới có năm nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất: nông thôn có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại;
Thứ hai: sản xuất bền vững, theo hướng hàng hóa;
Thứ ba: đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; Thứ tư: bản sắc văn hóa được giữ gìn và phát triển;
Thứ năm: xã hội nông thôn được quản lý tốt và dân chủ
Để xây dựng nông thôn mới với năm nội dung đó, Thủ tướng Chính Phủ đã ký
Quyết định số 491/QĐ–TTg 16/04/2009 về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới bao gồm 19 tiêu chí Một là: Quy hoạch và phát triển theo quy hoạch; hai là: Giao thông; ba là: Thủy lợi; bốn là: Điện; năm là: Trường học; sáu là: Cơ sở vật chất văn hóa; bảy là: Chợ nông thôn; tám là: Bưu điện; chín là: Nhà ở dân cư; mười là: Thu nhập; mười một là: Hộ nghèo; mười hai là: Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên; mười ba là: Hình thức tổ chức; mười bốn là: Giáo dục; mười lăm là: Y tế; mười sáu là: Văn hóa; mười bảy là: Môi trường; mười tám là: Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh; mười chín là:
có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực, để hàng hóa làm ra
có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia
Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh
Trang 7công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa4
1.1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Đến năm 2015 có 20% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới;
Đến năm 2020 có 50% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới (theo bộ tiêu chí quốc gia
về nông thôn mới)5
1.1.3 Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới
Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới hướng tới thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia được quy định tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ
Xây dựng nông thôn mới theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ và hướng dẫn Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện
Được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình MTQG, chương
trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai ở nông thôn; có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư cho các thành phần kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư
Được thực hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo
an ninh quốc phòng của mỗi địa phương; quy hoạch và phát triển theo quy hoạch theo tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật do các Bộ ban hành
Là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; Đảng ủy, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực hiện; hình thành cuộc vận động “Toàn dân xây dựng nông thôn mới” do Mặt trận Tổ quốc chủ trì cùng các tổ chức chính trị - xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong việc xây dựng nông thôn mới
1.2 Kinh nghiệm thực tiễn trong xây dựng nông thôn mới
1.2.1 Quá trình hình thành và xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Trang 8Xây dựng nông thôn mới đã được hình thành từ khá sớm trong Đảng và Nhà nước
ta Nhưng chưa được gọi là xây dựng NTM mà được gọi với cái tên “công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn” nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tạo công ăn việc
làm, tăng thu nhập cho nông dân ở khu vực nông thôn, tạo tiền đề để giải quyết hàng loạt các vấn đề chính trị xã hội của đất nước, đưa nông thôn tiến lên bước văn minh hiện đại
Tại Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, họp từ ngày 18 tháng 2 đến ngày 2 tháng 3 năm 2002 đã đưa ra Nghị quyết về: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 – 2010”6 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Xây dựng một nền nông nghiệp bền vững, có năng suất và chất lượng cao; xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ngày càng hiện đại
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam họp từ ngày 18
tháng 4 đến ngày 25 tháng 4 năm 2006 đã định hướng pháp triển kinh tế nước ta: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hành hóa lớn, đa dạng, pháp triển nhanh và bền vững, có nâng suất, chất lượng
và khả năng cạnh tranh cao”
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 khóa X diễn ra từ ngày 9 đến ngày 17 tháng 7 năm 2008 đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW “Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn” Bên cạnh đó Chính phủ ban hành Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP: Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, được khai mạc
từ ngày 12/01/2011 và bế mạc vào ngày 19/01/2011 đại hội tiếp tục nhấn mạnh: “Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững, phát huy lợi thế nền nông nghiệp nhiệt đới”
Như vậy, qua các kỳ Đại hội, Hội nghị và các Nghị quyết của Đảng và Chính phủ,
có thể thấy sự phát triển trong tư duy của các nhà lãnh đạo ở nước ta trãi qua mỗi thời kỳ là phát triển toàn diện nền kinh tế nông nghiệp đến xây dựng nông thôn mới theo Bộ tiêu chí chung cho cả nước đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong quá trình phát triển nền kinh
tế nông nghiệp của đất nước
6
Báo Nhân Dân: Văn kiện hội nghị
http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30149&cn_id=115980, [05/8/2014]
Trang 91.2.2 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số địa phương
1.2.2.1 Xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Thái Bình
Với đặc thù của một tỉnh thuần nông, 90% dân số là nông dân, Chương trình xây dựng nông thôn mới là cơ may để Thái Bình bứt phá, mở ra diện mạo mới ở vùng quê có hàng nghìn năm tuổi này Sự chuyển biến đồng bộ đã đem lại sự đổi thay bước đầu Đến nay, toàn tỉnh đã có 72/267 xã cơ bản đạt 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới, về đích trước một năm theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ 18, 70% số xã còn lại đều đạt từ 10 đến 14 tiêu chí, phấn đấu đến năm 2018 hoàn thành chỉ tiêu 100% xã được công nhận xã nông thôn mới
Đạt những kết quả bước đầu, ngoài sự chỉ đạo xác sau của các cấp ủy, sự vào cuộc
của cả hệ thống chính trị, Thái Bình có một lộ trình thực hiện đầy sáng tạo, một cơ chế chính sách phù hợp, khơi dậy sự đồng thuận cao của nhân dân, phát huy được vai trò tự chủ
“dân làm để dân hưởng”…
Hoàn thiện quy hoạch – điểm đột phá:
Đó là mấu chốt xuất phát được các cấp ủy xác định cho toàn bộ lộ trình xây dựng
nông thôn mới ở Thái Bình Bằng tư duy khoa học, một lần nữa Thái Bình buộc các cấp ủy, chính quyền cơ sở phải xác định rõ phương hướng phát triển kinh tế – xã hội trên cơ sở quy hoạch định hướng phát triển trước mắt và lâu dài Bao gồm: Quy hoạch vùng sản xuất, quy hoạch khu dân cư và các công trình phúc lợi, quy hoạch hệ thống giao thông và thủy lợi Các quy hoạch này đều được niêm yết công khai, người dân có quyền tham gia và có nghĩa
vụ thực hiện Thông qua quy hoạch tổng thể và chi tiết, phân định rõ trách nhiệm của Nhà nước, của tập thể, của mỗi gia đình trong đầu tư xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng Chính vì thế mà người dân đồng thuận, tự giác thực hiện, sẵn sàng hiến đất, hiến công, tiền của cho các công trình phúc lợi, chỉnh trang đồng ruộng, hệ thống giao thông, thủy lợi trên địa bàn
Mặc dù “dồn điền, đổi thửa” không được đặt ra trong 19 tiêu chí, nhưng đây lại là cuộc cách mạng đất đai lớn của Thái Bình nhằm khắc phục hậu quả manh mún của đất để tạo ra vùng sản xuất, những cánh đồng mẫu lớn có sản lượng tập trung, chất lượng cao, ổn
định thị trường tiêu thụ, từng bước cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp Đến nay, Thái Bình
hình thành trên 1.000 cánh đồng mẫu, có quy mô từ 5 ha trở lên, khép kín từ sản xuất đến tiêu thụ, giá trị thương phẩm đạt 170 triệu đồng/ha Một số cánh đồng mẫu thực hiện luân canh, xen vụ như ở xã Song An (huyện Vũ Thư), xã Quỳnh Hải (huyện Quỳnh Phụ) đạt giá trị từ 270 đến 300 triệu đồng/ha
Có một cơ chế chính sách phù hợp trên cơ sở từ thực tiễn chỉ đạo:
Trang 10Ngay bước đầu triển khai Chương trình Quốc gia về Xây dựng Nông thôn mới theo Nghị quyết số 26-NQ/TW của Trung ương Đảng, Thái Bình cũng gặp nhiều lúng túng Tại
8 xã được tỉnh chọn làm điểm, hầu hết đề án đặt ra đều đòi hỏi phải có từ 50 đến 70 tỉ đồng mới thực hiện được 19 tiêu chí Có nghĩa là Thái Bình phải có trên 20.000 tỉ đồng mới thực hiện được chương trình này Đòi hỏi đó là một thực tế, nhưng bất khả thi, bởi nguồn ngân sách của trung ương và địa phương hạn hẹp Trong bối cảnh này, Thái Bình tự lựa chọn ưu tiên hướng đầu tư mang tính định hướng mà trước mắt là hoàn thiện quy hoạch và dồn điền,
đổi thửa Hỗ trợ mỗi xã 100 triệu đồng cho xây dựng đồ án quy hoạch và 600 triệu đồng
cho việc dồn điền, đổi thửa Kinh phí hỗ trợ này công bố công khai và chỉ được cấp phát khi đã hoàn thành và được phê duyệt Cơ chế minh bạch, công khai này là cơ sở để các địa phương chủ động phấn đấu Chưa đầy 2 năm, 100% xã trong toàn tỉnh đã hoàn thành đồ án quy hoạch và dồn điền, đổi thửa Đây là khó khăn ban đầu mà tỉnh Thái Bình đã vượt qua Trên cơ sở lộ trình, Thái Bình tập trung chỉ đạo phân vùng sản xuất, xây dựng hạ tầng, hoàn thiện các thiết chế cơ bản, kêu gọi đầu tư, giao quyền tự chủ cho cơ sở, với phương châm “dân làm để dân hưởng” Đó chính là nguồn cội huy động sức mạnh tổng hợp của nhân dân, các tổ chức xã hội và doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào xây dựng nông thôn mới Tuy nhiên, huy động nguồn lực tại chỗ là chính, song có sự hỗ trợ ngân sách của Nhà nước là quan trọng, vừa có tính khích lệ, vừa có yếu tố ràng buộc, nhưng mức hỗ trợ tỉ lệ bao nhiêu là phù hợp thì chưa có lời giải Thông qua cách nghĩ, cách làm của xã Thụy An, huyện Thái Thụy chỉ khoán hỗ trợ 30% kinh phí cho giá trị mỗi công trình khi đã hoàn thành, thật sự phát động được ý thức làm chủ của nhân dân Từ kinh nghiệm xã Thụy An, Thái Bình áp dụng phổ cập và nhân rộng mô hình đó Để hỗ trợ kịp thời, Thái Bình chuyển
đổi đầu tư bằng trực tiếp cấp vật liệu xi-măng, đến nay đã cấp phát trên 500.000 tấn cho cơ
sở Vì thế trong thời gian rất ngắn, Thái Bình đã hoàn công 219 km đường nội đồng, 351
km đường trục thôn, 473 km đường nhánh cấp 1 trục thôn, hàng chục ki-lô-mét đường trục
xã và 150 km kênh mương, làm thay đổi diện mạo ở nhiều làng quê khang trang, sạch đẹp;
đẩy nhanh tốc độ có nhiều xã hoàn thành 19 tiêu chí trước thời hạn Trên cơ chế hỗ trợ này,
từ thực tiễn triển khai của 6 xã: Thụy Văn, Thụy Phúc (huyện Thái Thụy), Nam Cường, Nam Thắng (huyện Tiền Hải), Bình Định, Vũ Tây (huyện Kiến Xương) là những xã không thuộc chỉ đạo điểm nhưng lại đạt 19 tiêu chí sớm nhất, Thái Bình đã đi đến thống nhất hạn mức hỗ trợ tối đa là 5 tỉ đồng cho một xã đã hoàn thành 19 tiêu chí; chỉ bằng 1/10 kinh phí
dự toán đòi hỏi của các dự án ban đầu đề ra Sự minh bạch, công khai mức hỗ trợ này tạo
đà cho nhiều địa phương huy động các nguồn vốn của các tổ chức, doanh nghiệp và nhân
dân đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Đến nay có 72 xã đã cơ bản đạt 19 tiêu chí, 70% số xã
Trang 11còn lại đều đạt từ 10 đến 14 tiêu chí Phấn đấu đến năm 2018, 100% số xã trong toàn tỉnh
được công nhận xã nông thôn mới
Phát huy vai trò tự chủ, tạo nên sức mạnh tổng hợp:
Đó là thành công lớn nhất trong chỉ đạo của Thái Bình Trong quá trình thực hiện
Chương trình MTQG về Xây dựng Nông thôn mới, Thái Bình luôn coi trọng công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của nhân dân Từ thực tiễn chỉ đạo cho thấy những việc gì Nhà nước lo thì dân sẽ ỷ lại Chỉ khi nào dân đồng thuận làm thì tỉnh mới hỗ trợ Trong 3 năm (2011 – 2013) tỉnh huy động nhân dân tự nguyện đóng góp 64 triệu ngày công, 224 tỉ đồng,
xã hội hóa 288,5 tỉ đồng, hiến 1.856,7 ha đất (ước hơn 1.000 tỉ đồng) xây dựng các công trình phúc lợi, hệ thống đường giao thông, thủy lợi; chưa kể hàng trăm tỉ đồng của dân tự nguyện tu sửa các công trình đền chùa, nhà thờ, nghĩa trang phù hợp với cảnh quan và quy hoạch Với vai trò tự chủ, dân làm để dân hưởng đã xuất hiện hàng nghìn điển hình tiêu biểu hiến đất, hiến tiền xây dựng kết cấu hạ tầng Cụ Chén ở xã Đông Thọ (TP Thái Bình) huy động con cháu đóng góp 400 triệu đồng Gia đình ông Trần Đăng Lân ở xã Nam Hà (huyện Tiền Hải) đầu tư hàng tỉ đồng xây dựng đường trục thôn, v.v…
Chỉ hơn 3 năm thực hiện Chương trình MTQG về Xây dựng Nông thôn mới, Thái Bình đã có những bước đi sáng tạo, mạnh bạo, đem lại hiệu quả bước đầu, thể hiện trên các mặt: Quy hoạch nông thôn mới được lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện bảo đảm quy trình, quy chuẩn, dân chủ, công khai, thống nhất cao trong Đảng và nhân dân Các cơ chế chính sách ban hành kịp thời và thực hiện nghiêm túc, hiệu quả; huy động tổng hợp nguồn lực của nhân dân, các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn mới và phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn Đây là cơ sở và là nền tảng để Thái Bình nhanh chóng trở thành tỉnh nông thôn mới với 100% số xã đạt 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới vào năm 20187
1.2.2.2 Xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bình Thuận
Việc triển khai thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới của tỉnh bắt đầu thực hiện từ năm 2009 với việc chọn 10 xã điểm, và đến năm 2011, tỉnh tiếp tục đưa thêm 11 xã Phấn đấu đến năm 2015 toàn tỉnh có 21 xã thực hiện đạt chuẩn Bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới Tuy nhiên đến thời điểm đầu năm 2013 nhìn chung tình hình chuyển biến còn rất chậm, nếu không có sự nỗ lực cao sẽ khó để Bình Thuận hoàn thành chỉ tiêu này
7
Nguyễn Trọng Thắng: Một số thành công và kinh nghiệm bước đầu xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Thái Bình,
tinh-thai-binh.html, [03/08/2014].
Trang 12Nhận định chung là cho đến thời điểm này, việc triển khai thực hiện Bộ tiêu chí ở nhiều xã trên địa bàn tỉnh đạt thấp Các xã điểm tuy có xây dựng kế hoạch phấn đấu thực hiện Bộ tiêu chí cho từng năm, nhưng biện pháp chưa cụ thể, tổ chức thực hiện thiếu tập trung, chưa chủ động Trong khi đó nguồn lực của trung ương và tỉnh hỗ trợ thấp, do đó kết quả đạt được bị hạn chế Đối với các xã điểm đến đầu năm 2013 có 9 xã đạt được từ 10-12/19 tiêu chí, 12 xã còn lại đạt dưới 10 tiêu chí, trong đó xã Tân Thuận – Hàm Thuận Nam chỉ đạt 4/19 tiêu chí, sẽ rất khó đạt chuẩn Bộ tiêu chí vào năm 2015
Trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện còn nặng về xây dựng cơ sở hạ tầng, chưa thực sự quan tâm đúng mức nhóm tiêu chí không đòi hỏi đến kinh phí, nhóm tiêu chí do người dân hoặc cộng đồng dân cư tự làm Trong lúc đó nhóm tiêu chí cần kinh phí thì hầu hết các xã chưa thực hiện lập danh mục công trình, phân loại, nguồn vốn đưa ra công khai cho người dân để tổ chức thực hiện
Việc phân chia kinh phí trực tiếp từ Chương trình NTM từ Trung ương đến tỉnh đã chậm, khi triển khai xuống địa phương thì việc phân chia và giải ngân kinh phí cũng rất chậm, cho nên dù hàng năm kinh phí hỗ trợ không nhiều nhưng phải chuyển tiếp đến năm sau Nguồn vốn ít không đủ theo nhu cầu triển khai chương trình còn việc huy động vốn
đầu tư của doanh nghiệp và người dân còn hạn chế Tiến độ thực hiện Đồ án quy hoạch còn
chậm so với yêu cầu; mặt khác một số chất lượng còn hạn chế chưa thực sự là “cẩm nang”
để tổ chức triển khai nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới
Từ những kết quả cũng như hạn chế trong xây dựng nông thôn mới trong những năm qua, có thể rút ra một số kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo điều hành và tổ chức thực hiện cho năm 2013 và những năm tiếp theo Trước hết cần xác định rõ việc xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, có ý nghĩa thực tiễn và giải quyết những bức xúc của nông dân
Đây vừa là nhiệm vụ cấp bách vừa là chiến lược lâu dài, nên trong tổ chức thực hiện đòi
hỏi cả hệ thống chính trị vào cuộc, chỉ đạo tập trung, thường xuyên và kiên trì Khắc phục
được tình trạng thiếu tập trung, thiếu kiên quyết, ngại khó trong chỉ đạo và tổ chức thực
hiện ở một số huyện, xã ở một số nơi như thời gian qua
Phải coi trọng công tác tuyên truyền, công tác tư tưởng để vận động nhân dân, tạo sự
đồng thuận và huy động mọi tầng lớp nhân dân tham gia, gắn với công khai dân chủ, tạo sự đoàn kết, đồng lòng cùng nhau góp sức xây dựng nông thôn mới Cùng với việc tuyên truyền, vận động người dân đóng góp ngày công, vật liệu cho xây dựng nông thôn mới, cấp
ủy, chính quyền thường xuyên theo dõi, phát hiện điển hình tiên tiến để kịp thời ghi nhận,
tôn vinh các tổ chức cá nhân có thành tích để khích lệ phong trào
Trang 13Chú trọng công tác kiểm tra tình hình thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, phát hiện chỉ đạo uốn nắng, khắc phục kịp thời sai sót; đồng thời làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong thực hiện điều hành và triển khai nhiệm vụ
Nhu cầu vốn cho chương trình là rất lớn và là khâu có tính chất quyết định trong khi xuất phát điểm và điều kiện của mỗi địa phương một khác, do đó Nhà nước cần phân chia
rõ ràng nguồn vốn hỗ trợ, có cơ chế huy động vốn để tạo hành lang pháp lý cho từng địa phương thực hiện Nhà nước vừa tăng đầu tư vào nông thôn vừa đặt mục tiêu thay đổi suy nghĩ ỷ lại, thụ động vốn tồn tại trong đại bộ phận dân cư nông thôn Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần còn nông dân mới chính là đối tượng ra quyết định và thực thi mọi việc Để có một chủ trương, chính sách đúng phải xuất phát từ lòng dân, dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra Xuất phát những việc đã làm, sự đồng lòng hiệp sức của nhân dân, sự quan tâm của các cấp, ngành, doanh nghiệp, sự quyết tâm của cấp ủy, chính quyền các cấp thì mới có thể hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới vào năm 2015, trước hết là 21
xã điểm8
1.2.2.3 Xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bến Tre
Từ khi triển khai xây dựng nông thôn mới, diện mạo vùng nông thôn của tỉnh Bến Tre đã có nhiều đổi mới Phát huy truyền thống vẻ vang Đồng Khởi năm 1960, Đảng bộ và nhân dân Bến Tre ra sức phấn đấu xây dựng nông thôn mới với tinh thần “Đồng Khởi mới” Đến nay, Châu Bình (Giồng Trôm) đang dẫn đầu với 16/19 tiêu chí, các xã còn lại
đạt từ 9 - 10/19 tiêu chí nông thôn mới Cuối năm 2013, toàn tỉnh Bến Tre có 5 xã thí điểm
hoàn thành 100% tiêu chí xây dựng nông thôn mới là Châu Bình (Giồng Trôm), Phú Nhuận (thành phố Bến Tre), Sơn Định (Chợ Lách), Hữu Định và Quới Sơn (Châu Thành)
Kinh nghiệm của nhiều địa phương ở Bến Tre khi xây dựng nông thôn mới là khéo léo vận động nhân dân chung sức, và lồng ghép các nguồn vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Nhiều gia đình tự nguyện hiến đất, góp công, góp của, cây, dỡ tường rào mở rộng mặt đường theo quy hoạch và đề án được duyệt
Trong khi ở nhiều địa phương, công tác đền bù giải phóng mặt bằng luôn là một thách thức không nhỏ, thì ở huyện Châu Thành, khi thực hiện xây dựng nông thôn mới, việc người dân hiến đất xây dựng giao thông nông thôn đã trở thành một phong trào rộng khắp Để mở rộng mặt bằng xây dựng giao thông nông thôn, người dân đã hiến hơn 39.000m2 đất và hơn 6.000 ngày công lao động, tổng trị giá hàng chục tỉ đồng
8
Thành Nam:Kinh nghiệm từ xây dựng nông thôn mới,
http://binhthuan.vnpt.vn/detail/kinh-nghiem-tu-xay-dung-nong-thon-moi/40791/l1, [05/08/2014]
Trang 14Ông Hồ Văn Thiệt, Chi cục trưởng Chi cục phát triển nông thôn Bến Tre cho biết: Thời gian qua, công tác xây dựng nông thôn mới cấp xã tập trung vào phát triển kết cấu hạ tầng, góp phần cải thiện đáng kể bộ mặt hạ tầng vùng nông thôn Tới đây, các địa phương
sẽ chú trọng hơn đến phát triển sản xuất tăng thu nhập, nâng cao đời sống văn hoá tinh thần
và bảo vệ môi trường”9
1.2.3 Một số bài học rút ra từ kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới
Chương trình xây dựng nông thôn mới là chương trình lớn, toàn diện nhằm nâng cao
đời sống vật chất, tinh thần cho nông dân là mục tiêu cơ bản, do vậy phải thực hiện toàn
diện trên tất cả các lĩnh vực đời sống kinh tế – văn hóa – xã hội, đặc biệt phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của người dân, xây dựng có trọng tâm, trọng điểm; phát huy tối đa các nguồn lực, tranh thủ sự giúp đỡ của cấp trên, phát huy nội lực từ cộng đồng dân cư như: công sức, tiền bạc, quyền sử dụng đất; mở rộng và phát huy quyền làm chủ của người dân
Đầu tiên phải làm tốt công tác tuyên truyền, vận động giáo dục, thuyết phục để đội
ngũ cán bộ đảng viên và nhân dân trong xã nhận thức rõ và thấy được tầm quan trọng trong việc xây dựng nông thôn mới
Phát huy tốt quy chế dân chủ công khai, minh bạch, thực hiện tốt công tác kiểm tra giám sát, kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn những lệch lạc tạo niềm tin cho nhân dân
Xây dựng quy chế hoạt động, phân công rõ trách nhiệm cho từng bộ phận, từng thành viên, phân cấp, quản lý, cụ thể, rõ ràng, không để tình trạng né tránh, tập trung lãnh
đạo với phương châm “dễ làm trước khó làm sau” không nóng vội, càng không để mất cơ
hội
Các địa phương triển khai rất hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới theo phương thức lựa chọn nội dung, tiêu chí dễ triển khai thực hiện tập trung làm trước, khó làm dần qua các năm; những tiêu chí không cần kinh phí hoặc cần ít vốn mà vẫn có thể thực hiện được thì vận động các ban ngành, đoàn thể và người dân tích cực tham gia đóng góp thực hiện, làm cho công tác xã hội hóa trong xây dựng nông thôn mới đem lại hiệu quả thiết thực
9
Nhật Trường: Đồng lòng xây dựng nông thôn mới ở Bến Tre
http://vovworld.vn/vi-vn/Nong-thon-moi/Dong-long-xay-dung-nong-thon-moi-o-tinh-Ben-Tre/281497.vov [28/10/2014]
Trang 15CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ TIÊU CHÍ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
2.1 Đặc điểm địa bàn xã Tân Hòa, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
2.1.1 Thực trạng của xã Tân Hòa
Trang 16Xã Tân Hòa là xã nằm ở phía nam thị trấn huyện Lai Vung, xã có tổng diện tích tự nhiên là 1.968,7349 ha/ 23.844,4570 ha; chiếm 8,25% diện tích toàn huyện Diện tích đất nông nghiệp là 1.395,7829 ha (chiếm 70,89% diện tích của xã)
Xã có 5 ấp: Hòa Bình; Tân Thuận; Hòa Tân; Hòa Định; Tân Mỹ
Tiềm năng thế mạnh của xã là sản xuất nông nghiệp, trong đó chủ yếu là trồng lúa với diện tích 948,2728 ha, đất trồng cây lâu năm là 389,3758 ha, đất nuôi trồng thủy sản là 58,1118 ha
Nông nghiệp là ngành đem lại việc làm và thu nhập cho đại đa số người dân, tạo cơ
sở vững chắc cho xã hội Do vậy nông nghiệp có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và là lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế xã hội bền vững,
ổn định chính trị, đảm bảo quốc phòng, an ninh, giữ vững bản sắc dân tộc và bảo vệ môi
trường sinh thái Tuy nhiên với xu thế thương mại quốc tế nền nông nghiệp, nông thôn
đang gặp nhiều thách thức
Đối với quy hoạch, phải quản lý quy hoạch nông nghiệp nông thôn, hiện nay việc
quy hoạch chưa được đầu tư đúng mức, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của địa phương
Về hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật chỉ mới được định hình cơ bản, nên còn nhiều bất cập Nhất là giao thông, môi trường, trường học, cơ sở vật chất văn hóa… Sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ manh múng, chưa hình thành được hình thức sản xuất tập trung, tỷ
lệ hộ nghèo và cận nghèo còn cao, đời sống văn hóa ở nông thôn có tiến bộ nhưng chưa bền vững10
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
Xã Tân Hòa với vị trí nằm dọc theo sông Hậu, có Quốc lộ 54 đi qua, xã có nhiều
điều kiện thu hút đầu tư phát triển và giao lưu kinh tế
Địa hình tương đối bằng phẳng mang tính chất trũng, lòng chảo Đất chủ yếu là đất
phù sa chưa phân hóa kết hợp với điều kiện khí hậu của xã mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nhiệt độ cao quanh năm, ánh sáng dồi dào, lượng mưa khá lớn và phân bố thành hai mùa rõ rệt Thuận lợi cho phát triển nông nghiệp hàng hóa, nuôi trồng thủy sản và trồng cây ăn trái
Hệ thống kênh rạch phân bố đều trên khắp địa bàn xã, thuận lợi cho phát triển giao thông đường thủy và hệ thống tưới tiêu phục vụ sản xuất Nguồn nước mặt dồi dào đáp ứng cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp
10
Báo cáo xây dựng nông thôn mới xã Tân Hòa, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2013 - 2020
Trang 17Dân số của xã khá đông là nguồn nhân lực quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương11
2.2 Đánh giá thực trạng xây dựng nông thôn mới tại xã Tân Hòa, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
2.2.1 Quy hoạch và thực trạng quy hoạch tại xã
2.2.1.1 Tiêu chí 1: Quy hoạch và thực trạng quy hoạch
Quy hoạch là bố trí, sắp xếp địa điểm, diện tích sử dụng các khu chức năng trên địa bàn xã; khu dân cư (bao gồm cả chỉnh trang các khu dân cư hiện có và bố trí khu dân cư mới); phát triển hạ tầng – kinh tế, xã hội, các khu sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ,… theo chuẩn NTM
Xã Tân Hòa chưa có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển hạ tầng – kinh tế
xã hội Và những quy hoạch cần lập mới theo yêu cầu (được quy định tại Điều 7, Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC):
- Quy hoạch chung (quy hoạch tổng thể) về sử dụng đất bố trí dân cư và hạ tầng công cộng; đất sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp – dịch
vụ và hạ tầng phục vụ sản xuất kèm theo của xã đến năm 2020
- Quy hoạch chi tiết khu dân cư và hạ tầng công cộng trung tâm xã; khu sản xuất
và hạ tầng sản xuất nông nghiệp; khu sản xuất và hạ tầng sản xuất công nghiệp – dịch vụ theo chuẩn mới của xã Tân Hòa đến 2020
Như vậy dựa và thực trạng để so sánh với tiêu chí quy hoạch trong Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới tại phụ lục 01 thì tiêu chí 1 về quy hoạch và phát triển theo quy hoạch tại xã chưa đạt
2.2.2 Hạ tầng kinh tế - xã hội
2.2.2.1 Tiêu chí 2: Giao thông
Theo tiêu chí số 2 thì đường giao thông nông thôn được phân loại như sau:
Đường liên xã: là đường nối trung tâm hành chính xã với quốc lộ, tỉnh lộ, hoặc
đường liên xã khác khác (gọi chung là đường đến trung tâm xã)
Đường liên thôn: là đường trục chính nối các thôn, các điểm dân cư phục vụ cho
nhân dân ở thôn và các thôn lân cận đi lại thường xuyên
Đường liên xóm: là đường nối giữa các hộ gia đình trong cùng điểm dân cư nối với
mạng lưới giao thông chung (đường liên thôn, đường xã, đường huyện, tỉnh lộ, quốc lộ)
11
Đề án xây dựng Nông thôn mới xã Tân Hòa, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2013-2020
Trang 18Đường trục chính nội đồng: là đường chính nối từ đồng ruộng đến khu dân cư Đối
với các xã có quốc lộ, tỉnh lộ, đường huyện, đường xã, đường thôn (gọi chung là hệ thống giao thông) đáp ứng được yêu cầu đi lại của xe cơ giới phục vụ sản xuất nông nghiệp; đối với các xã có hệ thống giao thông chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại của xe cơ giới phục vụ sản xuất nông nghiệp thì trong quy hoạch (tiêu chí 1) phải lập kế hoạch và tiến hành xây dựng đường trục nội đồng phục vụ việc đi lại của xe cơ giới12
Trong những năm qua, xã Tân Hòa cũng đã có tập trung khai thác nguồn lực ở địa phương với phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, nên hệ thống giao thông nông thôn được cải thiện Tuy nhiên, so với chỉ tiêu về tiêu chí xây dựng nông thôn mới thì cần phải tiếp tục nâng cấp và tu sửa
Bảng 01: Hệ thống giao thông của xã Tân Hòa STT Loại đường Chiều dài
-1 – -1,5 Nhựa –
Đan –
Cấp phối – Đất
Qua bảng 01, ta thấy hệ thống giao thông tại xã chưa được hoàn thiện với nhiều loại
đường xá khác nhau nhưng cũng đã phần nào đáp ứng nhu cầu đi lại, giao lưu mua bán của
người dân trong vùng Tuy nhiên một số trục đường huyện lộ, trục liên ấp do thời gian xây
12
Tài liệu hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí về nông thôn mới tỉnh Đồng Tháp đến năm 2020
Trang 19dựng đã khá lâu nên một số đoạn đường đã xuống cấp xuất hiện nhiều ổ gà, nhiều nơi bị sụt lún nghiêm trọng, cần phải tu sửa sớm, hay trục đường nội đồng, đường đất rất lầy lội vào mùa mưa gây nhiều khó khăn trong việc đi lại của người dân Vì vậy cần phải sớm lên kế hoạch xây dựng và nâng cấpnhững đoạn đường trong xã13
So sánh tình hình thực tế tại địa phương với phụ lục 01 thì tiêu chí 2 về giao thông chưa đạt
2.2.2.2 Tiêu chí 3: Thủy lợi
Xã đạt tiêu chí thủy lợi khi đáp ứng đủ 02 yêu cầu sau:
1) Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và phục vụ dân sinh;
2) Số km kênh mương do xã quản lý được đảm bảo phục vụ tưới tiêu, kiên cố hóa cống đập đạt tỷ lệ ≥ 45%14
Hệ thống thủy lợi của xã cơ bản đáp ứng được yêu cầu sản xuất và dân sinh Hệ thống cầu cống gồm có 55 cây cầu và 53 cống (cống hở có: 7 cống; cống tròn có: 46 cống)
Hệ thống công trình thủy lợi phục vụ sản xuất được xây dựng và triển khai tốt tạo điều kiện thuận lợi cho việc tưới tiêu cho người dân Tuy nhiên để đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân lâu dài thì cần phải xây sửa lại và nâng cấp thêm
Trên địa bàn xã hiện có 23 kênh chính, trong đó: có 2 kênh do tỉnh quản lý, 4 kênh
do huyện quản lý và xã quản lý 17 kênh Hệ thống kênh, mương phân bố đều ở các ấp, đem
đến nguồn nước ngọt dồi dào để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên cần có kế
hoạch nạo vét, tôn tạo định kỳ đảm bảo thông suốt cho hệ thống kênh mương
So sánh đối chiếu với các yêu cầu của Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới tại phụ lục 01 thì tiêu chí này xã đã đạt được
2.2.2.3 Tiêu chí 4: Tiêu chí về điện
Có hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện;
Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn đạt tỷ lệ ≥ 98%15
Nguồn điện của xã lấy tự trạm 110/22KV huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
Trang 20- Trạm biến áp: Hiện tại xã có 22 trạm biến áp đạt yêu cầu
Như vậy, hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện tại xã cơ bản đạt
so với tiêu chí trong bộ tiêu chí đề ra
Tỷ lệ hộ dân sử dụng điện đạt 99,85%, trong đó tỷ lệ hộ dân sử dụng điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật khoảng 8,1%16
Vì vậy đối chiếu với các yêu cầu của Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới tại phụ lục 01 thì tiêu chí này xã đã đạt được
Hệ thống cơ sở giáo dục – đào tạo trên địa bàn của xã hiện có:
+ Trường mẫu giáo: Do địa bàn dân cư dàn trải, không tập trung nên xã có 4
điểm trường Quy mô có 5 phòng học Cơ sở vật chất chưa hoàn chỉnh, cần phải nâng cấp
2.2.2.5 Tiêu chí 6: Cơ sở vật chất văn hóa
Xã đạt tiêu chí Cơ sở văn hóa khi đáp ứng đủ 02 yêu cầu sau:
1) Có Trung tâm Văn hóa – Học tập cộng đồng xã đạt chuẩn theo quy định của
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại Thông tư số 12/2010/TT-BVHTTDL ngày 22 tháng 12 năm 2010, Quy định mẫu về tổ chức, hoạt động và tiêu chí của các Trung tâm Văn hóa – Thể thao xã
Trang 212) 100% ấp hoặc liên ấp có Nhà văn hóa và Khu thể thao đạt chuẩn theo quy
định của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch tại Thông tư số
06/2011/TT-BVHTTDL ngày 08/03/2011 quy định mẫu về tổ chức, hoạt
động và tiêu chí của Nhà văn hóa – Khu thể thao thôn19
Do điều kiện kinh tế - xã hội trong xã mà hiện nay xã vẫn chưa có nhà văn hóa xã và nhà văn hóa ấp, chưa có khu sinh hoạt thể dục thể thao cho người dân Nên tiêu chí này chưa đạt
2.2.2.6 Tiêu chí 7: Chợ nông thôn
Chợ theo quy hoạch, đạt chuẩn theo quy định khi đáp ứng đủ 02 yêu cầu:
1) Về công trình kỹ thuật: Có đủ các công trình của chợ nông thôn do xã quản lý (chợ hạng 3) được quy định trong TCVN 9211:2012 Chợ - tiêu chuẩn thiết kế ban hành tại Quyết định 3621/QĐ-BKHCN ngày 28/12/2012 của Bộ trưởng
Bộ Khoa học và Công nghệ về công bố Tiêu chuẩn quốc gia
được nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa của người dân trong xã, nhất là người dân nằm ở
vùng sâu, xa thị trấn và các trung tâm21
Xã chưa đạt về tiêu chí chợ nông thôn do xã mới chỉ có 2/4 chợ đạt chuẩn theo quy
Trang 22Có ít nhất 01 điểm cung cấp được 01 dịch vụ bưu chính và viễn thông đạt tiêu chuẩn ngành theo quy định của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông tại Quyết định số 463/QĐ-BTTTT ngày 22/03/2012 về việc ban hành hướng dẫn thực hiện tiêu chí ngành thông tin và truyền thông về xây dựng NTM Có phủ sóng hoặc mạng để truy cập internet
đến thôn (ấp)22
Xã có một Bưu điện tương đối khang trang với đầy đủ trang thiết bị liên lạc trong nước và quốc tế, có đường truyền internet đến từng ấp Tuy nhiên cần chỉnh trang và bổ sung thêm các trang thiết bị để phục vụ nhu cầu cho người dân trong xã
So sánh mức độ đạt được so với tiêu chí 8 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới (phụ lục 01) thì tiêu chí này đạt
2.2.2.8 Tiêu chí 9: Nhà ở dân cư
Xã được công nhận đạt tiêu chí Nhà ở dân cư khi đáp ứng đủ 02 yêu cầu:
1) Trên địa bàn không còn hộ gia đình ở trong nhà tạm, nhà dột nát;
2) Tỷ lệ hộ gia đình có nhà đạt tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng ≥ 70%23
Toàn xã tất cả các hộ gia đình đều có nhà Nhà ở của nhân dân tại các ấp phân bố mang đậm nét đặc trưng của vùng ĐBSCL, nhà ở hình thành theo các tuyến dân cư dọc theo các sông rạch gắn liền các trục giao thông thủy bộ, thuận lợi cho việc sản xuất và sinh hoạt của người dân Và kiến trúc nhà ở chủ yếu nhà trệt kiểu nhà vườn, xây dựng kiên cố
và bán kiên cố, kiến trúc đa dạng phù hợp với cảnh quan thiên nhiên
Hiện trạng xã Tân Hòa có 3.342 căn nhà, trong đó: nhà kiên cố có 407 căn; nhà bán kiên cố có 963 căn; nhà thiếu kiên cố có 1.131 căn; nhà đơn sơ có 841 căn
Đánh giá chung nhà ở theo tiêu chuẩn của Bộ Xây Dựng, xã có tỷ lệ nhà đạt kiên cố
Trang 23Thu nhập bình quân đầu người trong xã ước đạt 16,4 triệu đồng/người năm 2013 Trong khi đó thu nhập bình quân chung của tỉnh là 24,8 triệu đồng/người/ năm25 Như vậy, thu nhập bình quân theo đầu người/năm của xã so với bình quân chung của tỉnh là còn khá thấp Chính vì thế cần phải tăng cường đầu tư cho phát triển kinh tế chung của xã Thực hiện các chương trình xóa đói giảm nghèo, lồng ghép nhiều dự án đã phát huy tác dụng từng bước nâng cao đời sống nhân dân Nhìn chung đời sống người dân được cải thiện phần nào, các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống như điện nước, khám chữa bệnh, văn hóa, giáo dục…được đáp ứng, góp phần nâng cao đời sống về vật chất và tinh thần cho nhân dân
đẩy lùi tệ nạn xã hội Tuy nhiên do trình độ của người dân còn hạn chế; số người tham gia
sản xuất qua đào tạo rất ít và do tính sợ rủi ro nên họ chưa mạnh dạn thử trồng những loại cây trồng mới cho địa phương để nâng cao thu nhập
So sánh mức độ đạt được so với tiêu chí 10 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới thì tiêu chí này xã chưa đạt được
So sánh mức độ đạt được so với tiêu chí 11 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới thì tiêu chí này chưa đạt được
2.2.3.3 Tiêu chí 12: Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên
Xã được công nhận đạt tiêu chí 12 khi có tỷ lệ lao động có việc làm trên dân số trong độ tuổi lao động đạt từ 90% trở lên28
Tổng số lao động trong độ tuổi lao động của xã là 8.646 người, lao động có việc làm 8.300 người Cơ cấu lao động trên các lĩnh vực: Nông nghiệp 6.021 người chiếm 69,64%; công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp khoảng 347 người, chiếm 4,01% và 2.278 người lao
động trong lĩnh vực dịch vụ thương mại chiếm 26,35% Như vậy, tỷ lệ lao động có việc
làm thường xuyên của xã trên 90%