Ở Việt Nam, theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ thì “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”.. Theo quy định tại kh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NIÊN KHOÁ 2011 - 2015
Đề tài:
THỦ TỤC ĐĂNG KÝ QUYỀN TÁC GIẢ
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Ths Nguyễn Phan Khôi Phạm Kiều Diễm
Bộ môn: Luật Tư pháp MSSV: 5115788
Lớp: Luật Thương mại 1 - K37
Cần Thơ, 12/2014
Trang 2Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn và tham gia báo cáo ngày hôm nay ngoài nổ lực của bản thân, em còn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình từ phía gia đình, thầy cô và bạn bè, vì vậy em xin gửi lời cảm ơn đến :
Trước tiên, là quý thầy cô, đặc biệt là quý thầy cô trong Khoa Luật trường Đại học Cần Thơ đã đồng hành cùng em trên con đường đi tìm tri thức và tận tình chỉ dạy cho em trong suốt bốn năm trên giảng đường đại học
Tiếp theo, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy
Nguyễn Phan Khôi, thầy đã dành nhiều thời gian quý
báu, nhiệt huyết và tận tình hướng dẫn cho em trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Và cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh động viên, chia sẽ những lúc em khó khăn nhất, giúp em có thêm nghị lực để hoàn thành tốt việc học tập
Bằng tất cả khả năng và sự cố gắng của bản thân để hoàn thành luận văn này, nhưng do còn nhiều hạn chế về kiến thức nên không trách khỏi sự sai sót Rất mong sự đóng góp ý kiến của Thầy, Cô và các bạn
Trân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày 10 tháng 11 năm 2014
Sinh viên thực hiện: Phạm Kiều Diễm
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Cần Thơ, ngày 2 tháng 12 năm 2014
Giảng viên hướng dẫn
Trang 4NHẬN XÉT CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
Cần Thơ, ngày 2 tháng 12 năm 2014
Hội đồng phản biện
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục của đề tài 3
Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TÁC GIẢ VÀ ĐĂNG KÝ QUYỀN TÁC GIẢ 4
1.1 Lý luận chung về quyền tác giả 4
1.1.1 Khái niệm quyền tác giả 5
1.1.2 Đặc điểm quyền tác giả 7
1.1.2.1 Quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản 7
1.1.2.2 Quyền tác giả có thể trở thành đối tượng của các giao dịch mua bán (chuyển quyền sử dụng) 7
1.1.2.3 Quyền tác giả chú trọng bảo hộ hình thức thể hiện nhiều hơn là nội dung của tác phẩm 8
1.1.2.4 Quyền tác giả xác lập theo cơ chế bảo hộ tự động 8
1.1.3 Lịch sử hình thành và phát triển về quyền tác giả 8
1.1.3.1 Lịch sử hình thành và pháp triển về quyền tác giả trên thế giới 8
1.1.3.2 Lịch sử hình thành và phát triển về quyền tác giả của Pháp luật Việt Nam 9 1.1.3.3 Các Công ước, Hiệp định Việt Nam tham gia 12
1.2 Lý luận chung về đăng ký quyền tác giả 15
1.2.1 Khái niệm về đăng ký quyền tác giả 15
1.2.2 Đặc điểm về đăng ký quyền tác giả 17
1.2.3 Lịch sử các quy định về đăng ký quyền tác giả 17
1.2.4 Ý nghĩa của việc đăng ký quyền tác giả 19
1.3 Quy trình xử lý đơn đăng ký quyền tác giả của một số quốc gia trên thế giới 20
1.3.1 Quy trình xử lý đơn đăng ký quyền tác giả ở Hoa Kỳ 20
1.3.2 Quy trình xử lý đơn đăng ký quyền tác giả ở Nhật Bản 23
Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ THỦ TỤC ĐĂNG KÝ QUYỀN TÁC GIẢ 26
2.1 Khái quát các quy định hiện hành 26
2.1.1 Luật quy định 26
Trang 62.1.2 Nghị định được ban hành 26
2.1.3 Thông tư, quyết định, nghị quyết hướng dẫn thi hành 26
2.2 Chủ thể tiến hành đăng ký quyền tác giả 27
2.2.1 Tác giả 27
2.2.2 Chủ sở hữu quyền tác giả 28
2.2.3 Tổ chức, cá nhân được ủy quyền đăng ký quyền tác giả 29
2.3 Chủ thể tiếp nhận đăng ký quyền tác giả 30
2.4 Bộ hồ sơ đăng ký Quyền tác giả 30
2.5 Hình thức đăng ký quyền tác giả 31
2.5.1 Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả 31
2.5.2 Cá nhân, pháp nhân nước ngoài 31
2.6 Quy trình xử lý đơn đăng ký quyền tác giả 32
2.6.1 Tiếp nhận đơn đăng ký 34
2.6.2 Công bố đơn đăng ký 34
2.6.3 Cấp văn bằng và những vấn đề phát sinh 34
2.6.3.1 Cấp văn bằng 34
2.6.3.2 Phí, lệ phí đăng ký quyền tác giả 34
2.6.3.3 Thời hạn bảo hộ quyền tác giả 35
2.6.3.4 Đăng bạ và công bố đăng ký quyền tác giả 36
2.6.3.5 Cấp lại, đổi, hủy hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả 36
2.6.4 Tranh chấp trong quá trình đăng ký quyền tác giả 37
2.6.4.1 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp 37
2.6.4.2 Các biện pháp giải quyết tranh chấp 39
2.6.5 Khiếu nại, tố cáo trong quá trình đăng ký quyền tác giả 40
2.6.5.1 Chủ thể có quyền nộp đơn khiếu nại, tố cáo 40
2.6.5.2 Thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo 41
2.6.5.3 Thủ tục giải quyết khiếu nại 41
2.6.5.4 Pháp luật điều chỉnh 42
2.6.5.5 Xử lý sau khi có quyết định giải quyết khiếu nại 42
2.7 Chủ thể đăng ký quyền tác giả là người nước ngoài 43
2.7.1 Loại hình tác phẩm được đăng ký bảo hộ 43
2.7.2 Nơi nộp đơn và thời hạn giải quyết 44
2.7.3 Hồ sơ đăng ký quyền tác giả 45
2.7.4 Các bước tiến hành 45
Trang 7Chương 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH THỦ TỤC ĐĂNG KÝ QUYỀN TÁC GIẢ THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM MỘT SỐ VƯỚNG MẮC
VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN 47
3.1 Thực tiễn áp dụng những quy định về thủ tục đăng ký quyền tác giả 47
3.1.1 Thành tựu đạt được trong việc áp dụng quy định đăng ký quyền tác giả 48
3.1.2 Hạn chế trong việc áp dụng quy định đăng ký quyền tác giả 49
3.2.2.1 Ý thức pháp luật của mọi người còn hạn chế 49
3.1.2.2 Tác động của yếu tố kinh tế-xã hội 49
3.1.2.3 Hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện 50
3.2 Nguyên nhân 53
3.2.1 Nguyên nhân khách quan 54
3.2.2 Nguyên nhân chủ quan 54
3.3 Giải pháp và một số kiến nghị về thủ tục đăng ký quyền tác giả 55
3.3.1 Một số giải pháp 55
3.3.1.1 Một số giải pháp mang tính thực tiễn 62
3.3.1.2 Một số giải pháp mang tính pháp lý 56
3.3.2 Một số kiến nghị 57
3.3.2.1 Quy định pháp luật đối với người nước ngoài 57
3.3.2.2 Quy định pháp luật đối với người Việt Nam 58
KẾT LUẬN 60
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Những tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học hay những cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa như “đứa con” của tác giả Đó là giá trị vật chất lẫn tinh thần của họ Một tác phẩm, để được hiện hữu trong cuộc sống đó là một quá trình nghiên cứu đầy mồ hôi và nước mắt Vì thế tác phẩm do tác giả sáng tạo ra được ví như “những đứa con tinh thần” của tác giả Để tác phẩm được bảo vệ và phát triển, “bay cao và vươn xa hơn” đến được với công chúng thì cần làm thủ tục đăng ký quyền tác giả
Ngày nay, sự tiến bộ và nâng cao không ngừng của công nghệ, cũng đang đặt ra những thách thức quan trọng đối với quyền tác giả cơ bản cũng như thủ tục đăng ký quyền tác giả Việc sao chép và truyền dữ liệu ngày càng dễ dàng và đơn giản Vì vậy
dễ xảy ra xâm phạm đối với lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng Tuy đã có nhiều phương pháp bảo vệ, chẳng hạn dùng hàng rào ngăn cản bằng thủ công như dán tem vào tác phẩm sách, báo,… thì chưa đủ để ngăn cản hàng nhái, hàng nhập lậu tinh vi đến mức giống như thật Mặt khác phương pháp bảo vệ bằng công nghệ, dùng mã hóa đi kèm khóa thuê bao hoặc khóa trả phí thì quá chắc chắn làm tác phẩm khó đến được người tiêu dùng,… dẫn đến việc mất tính thương mại nhất định, thêm vào đó là nhu cầu của con người trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, muốn sử dụng nhưng không muốn trả tiền Để góp phần vào sứ mạng của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) là thúc đẩy bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên toàn thế giới, cũng như trợ giúp cho việc mở rộng tầm ảnh hưởng và lợi ích của hệ thống sở hữu trí tuệ quốc tế đến tất cả các quốc gia Việt Nam đã có rất nhiều cố gắng vượt bậc trong công tác xây dựng pháp luật về sở hữu trí tuệ đặc biệt là thủ tục đăng ký quyền tác giả Đánh dấu là sự ra đời của Luật Sở hữu trí tuệ; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ; Nghị định 100/CP ngày 21 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan; Nghị định 85/CP ngày 20 tháng 9 năm 2011 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan; Quyết định số 88/2006/QĐ-BVHTTDL ngày 17 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch về việc ban hành các mẫu tờ khai, giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan; Nghị quyết 69/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2010 về việc đơn giản hoá thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ngoài ra, song song
Trang 9theo đó là phương pháp tuyên truyền pháp luật, thực thi để mọi cá nhân tự giác ý thức
về quyền lợi của họ Nhưng trên thực tế, những quy phạm pháp luật hiện hành điều chỉnh quyền sở hữu trí tuệ đối với thủ tục đăng ký quyền tác giả vẫn còn nhiều bất cập, gây khó khăn cho việc thực thi pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ đối với thủ tục đăng
ký quyền tác giả theo pháp luật của Việt Nam hiện nay
Do đó, nhằm góp phần tìm hiểu thực trạng những quy định pháp luật còn rải rác, thiếu hệ thống, thiếu thống nhất thì cần phải có một sự nghiên cứu, đánh giá nghiêm túc, khách quan của pháp luật về thủ tục đăng ký quyền tác giả Từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện thủ tục đăng ký quyền tác giả và pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, phát huy được giá trị từ trí tuệ, đưa Luật Sở hữu trí tuệ sẽ đi vào đời sống và ngày càng được áp dụng rộng rãi hơn Đây cũng chính là lý do người viết
chọn đề tài “Thủ tục đăng ký quyền tác giả theo quy định của pháp luật Việt
Nam” để làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Người viết nghiên cứu đề tài “Thủ tục đăng ký quyền tác giả theo quy định của
pháp luật Việt Nam” nhằm phân tích một số vấn đề lý luận, pháp lý về thủ tục đăng
ký quyền tác giả theo quy định của pháp luật Việt Nam Trên cơ sở đó, người viết cũng xem xét việc áp dụng các quy định pháp luật về thủ tục đăng ký quyền tác giả để chỉ ra những tồn tại, vướng mắc trong quy định của pháp luật về thủ tuc đăng ký quyền tác giả khi áp dụng trong thực tế Bên cạnh đó, người viết cũng tìm hiểu một số thực trạng về thủ tục đăng ký quyền tác giả, vấn đề khiếu nại Từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật Việt Nam, góp phần bảo vệ giá trị trí tuệ
3 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu luận văn cử nhân luật, người viết chủ yếu tập trung vào các vấn đề sau: lý luận chung về quyền tác giả và tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật về thủ tục đăng ký quyền tác giả ở Việt Nam Trên cơ sở của Luật
sở hữu trí tuệ, Nghị định 85/2011/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 100/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm
2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Nghị định 3198/2013/VBHN-BVHTTDL ngày 3 tháng 9 năm 2013 của Bộ văn hóa thể thao
và du lịch quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật
sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài là phương pháp phân tích truyền thống như: phương pháp phân tích câu chữ, kết hợp với phân tích phát triển và lịch sử Ngoài ra người viết còn sử dụng các phương pháp diễn dịch, quy nạp, liệt kê, so sánh,
Trang 10đối chiếu,…nhằm đi sâu vào từng điều luật cụ thể và tìm hiểu nội dung, tính hữu hiệu cũng như mặt hạn chế từ đó đưa ra hướng giải quyết cho từng vấn đề đặt ra
5 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục thì phần nội dung của đề tài được chia thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về quyền tác giả và đăng ký quyền tác giả
Chương 2: Quy đinh của pháp luật Việt Nam hiện hành về đăng ký quyền tác giả Chương 3: Thực tiễn áp dụng quy định thủ tục đăng lý quyền tác giả theo quy định pháp luật Việt Nam - một số vướng mắc và hướng hoàn thiện
Trang 11Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TÁC GIẢ VÀ ĐĂNG KÝ
QUYỀN TÁC GIẢ
Quyền tác giả là một trong những quyền quan trọng trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ,
và những tác phẩm được sáng tạo ra góp phần làm giàu kho tàng tri thức cho nhân loại, phục vụ nhu cầu vật chất và tinh thần cho con người Vì vậy, quyền lợi của các chủ thể quyền tác giả luôn được pháp luật bảo hộ Thông qua thủ tục đăng ký quyền tác giả theo quy định của pháp luật Việt Nam Trong chương 1, người viết chủ yếu tập trung làm rõ thế nào là quyền tác giả Trên cơ sở đó đưa ra khái niệm, đặc điểm quyền tác giả, người viết còn nêu lịch sử hình thành và phát triển của quyền tác giả Về phần thủ tục đăng ký quyền tác giả cơ bản cũng nêu những vấn đề chung như phần lý luận chung về quyền tác giả thì người viết còn xác định thêm ý nghĩa và của việc đăng ký quyền tác giả theo quy định của pháp luật Việt Nam
1.1 Lý luận chung về quyền tác giả
Quyền tác giả là một bộ phận cấu thành quyền sở hữu trí tuệ Các điều ước quốc
tế, pháp luật của các quốc gia đều đã quan tâm nhiều đến việc bảo hộ quyền tác giả nhằm ngăn chặn tình trạng xâm phạm quyền tác giả ngày càng có xu hướng gia tăng trong những thập niên gần đây Nền kinh tế pháp triển mạnh cũng đã mang đến sức ép không nhỏ cho tiến trình toàn cầu và hội nhập kinh tế cũng như sự pháp triển không ngừng của khoa học công nghệ thì việc bảo hộ quyền tác giả là phương thức hữu hiệu nhất để bảo vệ sự sáng tạo nhằm tạo lập môi trường văn hóa đa dạng giữa các quốc gia Từ đó, cũng góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về thủ tục đăng ký quyền tác giả
Trước khi vào khái niệm quyền tác giả thì người viết sẽ tìm hiểu về khái niệm
“tác giả” để làm rõ hơn về quyền tác giả Công ước Berne không xác định chính xác khái niệm quyền tác giả, mà dành việc quy định này cho các quốc gia Luật sở hữu trí tuệ cũng không định nghĩa thuật ngữ “tác giả” mà tại Điều 736 Bộ luật dân sự 2005,
tác giả được xác định là: “Người sáng tạo tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; người sáng tạo ra các tác phẩm phái sinh từ tác phẩm của người khác, tác phẩm tác phong, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn là tác phẩm của các tác phẩm phái sinh” Tại điều 8 Nghị định 100/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 21 tháng
9 năm 2006 cũng đã giải thích chi tiết về khái niệm tác giả, theo đó tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học Theo như giải thích của nghị định trên, thì tác giả phải là thể nhân, vì chỉ có thể nhân mới có khả năng lao động trí tuệ để sáng tạo ra tác phẩm Điều này có nghĩa là pháp nhân hoặc các chủ thể khác không thể là tác giả, mà chỉ có thể là người nắm giữ các quyền kinh tế hoặc được gọi là chủ sở hữu quyền Theo quy định Điều 37 Luật sở hữu
Trang 12trí tuệ Trong trường hợp tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả thì tác giả có quyền nhân thân tại khoản 1, 2 và 4 Điều 19 Luật sở hữu trí tuệ và quyền được hưởng tiền nhuận bút, thù lao và quyền lợi vật chất khác theo thỏa thuận với chủ sở hữu quyền tác giả
1.1.1 Khái niệm quyền tác giả
Quyền tác giả hay còn được gọi là tác quyền (tiếng Anh: Copyright1) là độc quyền một tác phẩm của người sáng tác Quyền tác giả được dùng để bảo vệ các sáng tạo tinh thần có tính chất văn hóa (còn gọi là tác phẩm) thí dụ: các bài viết về văn học, khoa học, sáng tác nhạc, ghi âm, tranh vẽ, hình ảnh, phim và các chương trình truyền hình Quyền bảo vệ các lợi ích cá nhân và lợi ích kinh tế của các tác giả trong mối liên quan tác phẩm này
Quyền tác giả còn gọi là bản quyền được đề cập lần đầu tiên trên thế giới vào năm 1481 tại Milan - Italy qua sự kiện công tước xứ Milan cấp độc quyền in một sản phẩm cho một nhà in của Milan Ngay sau đó, những bảo hộ tương tự cũng được cấp cho các nhà in ở Ý, Đức, Pháp và Tây Ban Nha Quyền tác giả được pháp luật nhiều nước trên thế giới thừa nhận nhưng mức độ công nhận ở phạm vi khác nhau Khi nói đến quyền tác giả, đó không phải là một quyền riêng lẻ mà là một tập hợp gồm nhiều quyền khác nhau Các quyền đó được phân chia thành hai nhóm chủ yếu Công ước Berne quy định quyền tác giả bao gồm quyền tinh thần và quyền kinh tế Các quyền tinh thần hướng tới việc bảo vệ toàn tác phẩm và bảo vệ cho danh dự của người sáng tác tác phẩm, trong khi các quyền kinh tế lại hướng đến bảo vệ quyền lợi cho người chủ sở hữu đối với các lợi ích kinh tế có thể khai thác được từ tác phẩm
Ở Việt Nam, theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ thì “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”
Như vậy, về mặt khách quan có thể hiểu, quyền tác giả là tổng hợp các quy phạm pháp luật về quyền tác giả nhằm xác định và bảo vệ quyền của tác giả, chủ sở hữu, xác định nghĩa vụ của các chủ thể trong việc sử dụng các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; quy định trình tự thực hiện và bảo vệ các quyền tác giả khi có hành vi xâm phạm Còn về mặt chủ quan, quyền tác giả là tổng hợp các quyền, nghĩa vụ của tác giả, chủ
sở hữu quyền Các quyền này hướng tới mục đích nhằm đem lại cho người sáng tác những lợi ích vật chất và tinh thần tương xứng với công sức lao động trí tuệ mà họ đã
1
Khái niệm Quyền tác giả hay tác quyền, tiếng Anh: copyright là độc quyền của một tác giả cho tác phẩm của người này Bản quyền (copyright) là thuật ngữ được các quốc gia theo hệ thống pháp luật Anh-Mỹ (án lệ) dùng chỉ cho quyền phi vật thể đối với các tác phẩm trí tuệ Quyền này tương tự như quyền tác giả (tiếng Pháp: droit d'auteur; tiếng Đức: Urheberrecht) ở Việt Nam nói riêng và các quốc gia theo hệ thống luật lục địa châu Âu như Đức hoặc một số quốc gia Châu Âu khác
Trang 13bỏ ra, thông qua đó họ được độc quyền kiểm soát việc khai thác và sử dụng tác phẩm của mình Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ thì quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới một dạng hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa, đã đăng ký hay chưa đăng ký Điều này có nghĩa là quyền tác giả phát sinh tại thời điểm tạo ra tác phẩm Quyền tác giả bao gồm những quyền nhân thân
và quyền tài sản của tác giả liên quan đến tác phẩm, các quyền này được sự bảo hộ của pháp luật Theo quy định tại Điều 738 Bộ luật Dân sự 2005 và Điều 19, 20 Luật Sở hữu trí tuệ:
Quyền nhân thân2: là quyền gắn liền với mỗi cá nhân, thuộc về tác giả Bao gồm đặt tên cho tác phẩm, đứng tên thật hoặc đặt bút danh trên tác phẩm, công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm, bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm Quyền nhân thân được xác định vào thới điểm mà tác phẩm được tạo ra và mang lại giá trị tinh thần cho tác giả Đặc trưng của quyền nhân thân là tồn tại vĩnh viễn, độc lập với quyền tài sản là tiền đề làm phát sinh các quyền tài sản Về bản chất luôn gắn liền với tác giả, không thể chuyển giao và để lại thừa kế (trừ quyền công bố tác phẩm)
Quyền tài sản3: là quyền do chủ sở hữu thực hiện hoặc cho phép người khác khai thác, sử dụng hoặc chuyển giao bao gồm: sao chép tác phẩm, cho phép tạo tác phẩm phái sinh, phân phối nhập khẩu bản gốc và bản sao tác phẩm, truyền đạt tác phẩm đến công chúng, cho thuê bản gốc hoặc bản sao chương trình máy tính Quyền này mang tính chất tài sản, theo thông lệ, loại trừ những trường hợp giới hạn quyền được pháp luật quy định thì chủ sở hữu quyền tác giả có quyền cho phép hoặc ngăn cấm việc khai thác, sử dụng tác phẩm của mình Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng các quyền tài sản phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả Các quyền tài sản được bảo hộ có thời hạn và mang giá trị vật chất cho chủ sở hữu quyền tác giả
Các loại hình tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ quyền tác giả bao gồm: tác phẩm văn học, khoa hoc, sách giáo khoa, bài giảng, bài phát biểu, tác phẩm báo chí, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm sân khấu, tác phẩm điện ảnh, tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm nhiếp ảnh, tác phẩm kiến trúc, bản họa sơ đồ, bản
đồ, tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian, chương trình dữ liệu máy tính, sưu tập dữ liệu
2 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005
3 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005
Trang 141.1.2 Đặc điểm quyền tác giả
Quyền tác giả là một bộ phận cấu thành quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ, do vậy quyền tác giả cũng mang những đặc trưng cơ bản của quyền sở hữu trí tuệ Quyền
sở hữu trí tuệ nói chung cũng như quyền tác giả nói riêng, ngoài việc mang tính sở hữu tài sản thông thường (tài sản hữu hình), quyền sở hữu trí tuệ còn có đối tượng sở hữu mang tính đặc thù là tài sản vô hình, tài sản phi vật thể hình thành từ hoạt động sáng
tạo của con người Vì thế, quyền tác giả có một số đặc điểm cơ bản sau:
1.1.2.1 Quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản
Quyền tác giả gắn liền với nhân thân, danh tiếng của người sáng tạo, là sự thể hiện quyền cơ bản của con người, quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo Quyền nhân thân bao gồm quyền nhân thân gắn với tài sản và quyền nhân thân không gắn với tài sản Quyền nhân thân không gắn với tài sản là những quyền gắn liền với giá trị nhân thân của tác giả không thể chuyển giao Quyền này gắn liền với tác giả kể cả khi quyền sử dụng, định đoạt tác phẩm đã được chuyển giao, nó được bảo hộ vô thời hạn Quyền nhân thân gắn với tài sản là quyền cho hay không cho người khác sử dụng tác phẩm, quyền này có thể chuyển giao và gắn liền với các chế định về quyền tài sản trong quyền tác giả Đối với quyền tài sản, theo Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ quyền tác giả bao gồm quyền sử dụng và quyền được hưởng thù lao Thông thường chủ sở hữu quyền tác giả và tác giả là những người được hưởng thù lao Mọi hành vi sử dụng tác phẩm mà không xin phép chủ sở hữu đều bị coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả
1.1.2.2 Quyền tác giả có thể trở thành đối tượng của các giao dịch mua bán (chuyển quyền sử dụng)
Theo khoản 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ, quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu Chuyển nhượng quyền tác giả
là việc chủ sở hữu quyền tác giả chuyển giao quyền sở hữu đối với các quyền quy định tại khoản 3 Điều 19, Điều 20 của Luật Sở hữu trí tuệ cho tổ chức, cá nhân khác theo hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật có liên quan Tác giả không được chuyển nhượng các quyền nhân thân quy định tại Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ, trừ quyền công
bố tác phẩm (Điều 45 Luật Sở hữu trí tuệ) Trong trường hợp tác phẩm có đồng chủ sở hữu thì việc chuyển nhượng phải có sự thỏa thuận của tất cả các đồng chủ sở hữu; trong trường hợp có đồng chủ sở hữu nhưng tác phẩm có các phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập thì chủ sở hữu quyền tác giả có quyền chuyển nhượng quyền tác giả đối với phần riêng biệt của mình cho tổ chức, cá nhân khác
Trang 151.1.2.3 Quyền tác giả chú trọng bảo hộ hình thức thể hiện nhiều hơn là nội dung của tác phẩm
Quyền tác giả phát sinh kể từ ngày tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định Quyền quy định này quyền tác giả chỉ phát sinh khi tác phẩm định hình ở dạng vật chất nhất định, điều đó có nghĩa quyền tác giả không phát sinh đối với những ý tưởng sáng tạo, pháp luật không bảo hộ ý tưởng Sáng tạo được bảo hộ theo quyền tác giả là sự sáng tạo theo việc lựa chọn các từ ngữ, nốt nhạc, màu sắc, hình khối Các chế định về tác giả bảo hộ sở hữu các quyền đối với những tác phẩm nghệ thuật nhằm chống lại những người “sao chép”, đó là những người lấy và sử dụng hình thức của tác phẩm nguyên gốc đã được tác giả thể hiện
1.1.2.4 Quyền tác giả xác lập theo cơ chế bảo hộ tự động
Quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh tại thời điểm tác phẩm sáng tạo được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định, không phân biệt tác phẩn đã công bố hoặc chưa công bố, đã đăng ký bảo hộ hoặc chưa đăng ký bảo hộ Chủ sở hữu tác phẩm có quyền đăng ký thuộc sở hữu của mình tại cơ quan bản quyền tác giả Việc đăng ký bản quyền tác giả cũng không bắt buộc Tuy nhiên, nếu tác giả sáng tạo đăng ký tác phẩm với Cục Bản quyền tác giả thì không có nghĩa vụ phải chứng minh quyền tác giả, quyền liên quan thuộc về mình khi có tranh chấp, trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại
1.1.3 Lịch sử hình thành và phát triển về quyền tác giả
1.1.3.1 Lịch sử hình thành và pháp triển về quyền tác giả trên thế giới
Khi mà nền kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu “cái ăn chưa no, cái lo chưa đến” vật chất còn thiếu thốn đủ thứ thì làm sao con người lo đến giá trị tinh thần Thí dụ như trong lúc ngẫu hứng tác giả sáng tác một bài thơ, một bài hát hay đơn thuần vài ba câu nói nhằm phân giải cảm xúc nhưng vô tình được yêu thích và truyền bá rộng rãi, đến lúc này tác giả mới muốn mọi người biết đến tác phẩm đó là mang tên mình Nhưng làm thế nào để chứng minh là tác giả của một tác phẩm trong thời kì Cổ đại và Trung đại là điều không đơn giản, khi mà người ta chưa biết đến quyền của một tác phẩm trí tuệ Hay cùng với phát minh in (khoảng năm 1440), các tác phẩm bắt đầu có các bản sao, sao chép dễ dàng hơn, có thể được sản xuất ở số lượng lớn làm cho việc kinh doanh của những nhà in đầu tiên gặp khó khăn
Vì thế, để chống lại việc sao chép một cách dễ dàng, các nhà in đã xin các quyền lợi đặc biệt từ phía chính quyền, không cho phép in lại một tác phẩm ít nhất là trong một thời gian nhất định và đi đầu trong phong trào này là ở Pháp và Đức Đến thời kỳ Phục Hưng, “cái tôi” con người trở nên quan trọng hơn và đặc biệt là quyền tác giả cũng được ưu ái cho những người sáng tạo ra tác phẩm của họ Nhưng việc bảo hộ này
Trang 16chỉ dành cho người sáng tạo như là một cá nhân tức là quyền nhân thân và tác giả chưa
có quyền tài sản cho tác phẩm của mình Tuy nhiên đây cũng có thể được xem là bước đầu quyền tác giả được ghi nhận ở giá trị tinh thần Đến giữa thế kỷ XVI các đặc quyền lãnh thổ được đưa ra, cấm in lại trong một vùng nhất định, trong một thời gian nhất định Khi các nhà xuất bản bắt đầu trả tiền nhuận bút cho tác giả thì họ tin rằng cùng với việc này họ có được một độc quyền kinh doanh, ngay cả khi họ không có đặc quyền cho tác phẩm này Vì thế mà việc in lại bị cấm khi các quyền từ tác giả được mua lại
Đến thế kỷ XVIII, lần đầu tiên có các lý thuyết về các quyền giống như sở hữu cho các lao động trí óc và hiện tượng của sở hữu trí tuệ Năm 1710 trong một bộ phận của nước Anh lần đầu tiên một độc quyền sao chép của tác giả được công nhận và chủ
sở hữu được quyền nhượng quyền lại cho nhà xuất bản, trong khi đó tác giả vẫn có quyền lợi thuộc về mình Theo đó, tác phẩm phải được ghi nhận trong một danh mục của hiệp hội các nhà xuất bản và phải có thêm ghi chú “copyright” để được bảo vệ Vào năm 1795 tại Mỹ, phương pháp này cũng đã được đưa vào ứng dụng nhưng phải yêu cầu ghi vào danh mục của hiệp hội Có thể thấy ý tưởng về sở hữu trí tuệ được giải thích bằng thuyết về quyền tự nhiên
Ở Pháp, Sở hữu văn học và nghệ thuật đưa ra trong hai bộ luật vào năm 1791 và năm 1793 Tại nước Phổ một bảo vệ tương đương cũng được đưa ra vào năm 1837, trong năm này Hội đồng liên bang của liên minh Đức quyết định thời hạn bảo vệ từ khi tác phẩm ra đời là 10 năm, thời hạn này được kéo dài thành 30 năm sau khi tác giả qua đời Trong liên minh Bắc Đức việc bảo vệ quyền tác giả được đưa vào năm 1857 và được đế chế Đức thu thập và tiếp tục mở rộng sau đó Tại châu Âu chỉ thị liên minh châu Âu chỉ có tính chất khuôn khổ và phải được bổ sung bằng các luật lệ của từng quốc gia Bắt đầu từ ngày 13 tháng 9 năm 2003 một quyền tác giả được sửa đổi có hiệu lực tại Đức mà trong đó, ngoài việc vô hiệu hóa các phương pháp bảo vệ chống sao chép cho các mục đích thương mại cũng như cá nhân đều sẽ bị xử phạt
1.1.3.2 Lịch sử hình thành và phát triển về quyền tác giả của Pháp luật Việt Nam Giai đoạn trước khi Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam ra đời
Trong bối cảnh hiện nay, việc bảo hộ quyền tác giả là mối quan tâm của nhiều quốc gia, kể cả các nước phát triển và đang phát triển Nhiều quốc gia đã ban hành đạo luật về quyền tác giả từ rất sớm Cùng với đó là sự phát triển không ngừng của khoa học, công nghệ và sự giao lưu thương mại, văn hoá giữa các nước ngày càng mở rộng, các đạo luật về quyền tác giả của nhiều nước vẫn tiếp tục được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới Trong khi đó, tại Việt Nam do hoàn cảnh lịch sự của đất nước trải qua hàng nghìn năm đô hộ, dân ta sống trong chiến tranh, bom đạn nên vấn đề quy định về
Trang 17phát luật nói chung, quyền tác giả nói riêng còn nhiều hạn chế Tuy nhiên, Nhà nước Việt Nam đã nhanh chóng xây dựng đất nước, ban hành một số văn bản pháp luật mà trong đó có quy định bảo hộ quyền tác giả, ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 Nhà nước ghi nhận những quyền cơ bản của công dân liên quan đến quyền tác giả Đó
là quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản của công dân, là việc Nhà nước cam kết bảo
hộ quyền lợi của trí thức, tôn trọng quyền tư hữu tài sản của công dân nói chung và
của tác giả nói riêng Tại Hiến pháp năm 1946 chỉ có Điều 13 quy định: “quyền lợi các giới cần lao trí thức và chân tay được đảm bảo” Còn Hiến pháp năm 1959 quy định
mở rộng hơn, tại Điều 21 quy định: “… Nhà nước khuyến khích tính sáng tạo và tinh thần tích cực trong lao động của những người lao động chân tay và lao động trí óc”
Ở Điều 34 “Công dân Việt Nam dân chủ Cộng hoà có quyền tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học, nghệ thuật và tiến hành các hoạt động văn hoá khác Nhà nước khuyến khích và giúp đỡ tính sáng tạo của những công dân theo đổi sự nghiệp khoa học, văn nghệ và các sự nghiệp văn hoá khác” Tư tưởng lập pháp đó đã tiếp tục được
thể hiện tại Hiến pháp năm 1980 và tại Điều 60 Hiến pháp năm 1992
Như vậy, pháp luật về bảo hộ quyền tác giả ở Việt Nam ra đời muộn hơn nhiều nước trên thế giới khoảng gần 100 năm Trong khi đó vào khoảng năm 1886 đã có nhiều nước trên thế giới cùng nhau kí kết công ước đầu tiên về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật thì đến năm 1986 với Nghị định 142/HĐBT, lần đầu tiên ở Việt Nam, một văn bản riêng biệt về quyền tác giả được ban hành với một số quy định cơ bản về chế độ nhuận bút đối với các tác phẩm chính trị-xã hội, văn học-giáo dục, văn học-nghệ thuật, khoa học-kỹ thuật Quy định này đã góp phần đánh dấu mốc lịch sử cho tác giả, là căn cứ để cơ quan bảo hộ quyền tác giả, thực hiện quyền đăng ký quyền tác giả và giải quyết các tranh chấp về quyền tác giả Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế mới, đòi hỏi pháp luật cũng phải điều chỉnh kịp thời Ngày 02 tháng 12 năm
1994, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thông qua pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả Nếu Nghị định 142/HĐBT chưa quy định bảo hộ chương trình phần mềm máy tính, thời hạn bảo hộ quyền tác giả còn quá ngắn (30 năm sau khi tác giả mất), sau đó Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả ra đời, đã quy định đầy đủ hơn về đối tượng bảo hộ có cả chương trình máy tính, về thời hạn bảo hộ đã nâng lên trong suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo tác giả qua đời Ngoài ra, Pháp lệnh còn quy định cụ thể mốc thời hạn bảo hộ đối với tác phẩm bảo hộ đồng tác giả, tác phẩm di cảo
Tiếp theo đó tại kỳ hợp thứ 8 khoá IX, ngày 28 tháng 10 năm 1995, Quốc hội đã thông qua Bộ luật dân sự, trong đó có quy định về quyền tác giả Có 36 Điều quy định riêng về sở hữu trí tuệ tại chương I, Phần 6 và phần thứ 7 Bộ luật dân sự đã điều chỉnh hầu hết các quan hệ dân sự về quyền sở hữu trí tuệ trong đó có quyền tác giả lần đầu
Trang 18tiên được quy định tập trung trong chương I phần thứ sáu từ Điều 745 đến Điều 779 Trong điều kiện đất nước chuyển đổi cơ chế quản lý từ tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Quy định quyền tác giả trong Bộ luật dân sự đã thừa kế và phát triển các quy định của Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả, đồng thời đánh dấu bước ngoặc mới trong việc xây dựng hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Việc kế thừa các quy đinh cơ bản của pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả như: khái niệm tác giả, thời điểm phát sinh quyền tác giả; thì Bộ luật dân sự 1995 đã thêm các quy định mới cụ thể hơn về chủ sở hữu tác phẩm, quy định liên quan đến nghĩa vụ của người biểu diễn Đặc biệt là quy định về thủ tục đăng ký quyền tác giả, giải quyết tranh chấp về quyền tác giả được quy định cụ thể hơn trong các văn bản pháp luật Tuy nhiên, quyền tác giả có thể xem là được hình thành từ bản Hiến pháp năm 1946 và các bản Hiến pháp sau đó nhưng mãi đến Bộ luật Dân sự năm 1995 ra đời thì quy định về quyền tác giả mới được ghi nhận nhiều hơn
Giai đoạn từ khi Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam ra đời đến nay
Trong giai đoạn hiện nay, khi mà các sản phẩm trí tuệ đã đứng vị trí nhất định trong toàn bộ đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của nhân loại thì việc bảo hộ quyền tác giả ngày càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết Đặc biệt là vấn đề lập pháp, với sự ra đời của Bộ luật dân sự năm 2005 đã dành 3 chương trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, trong
đó có quyền tác giả, tại Điều 739 Bộ luật dân sự đã khẳng định quyền nhân thân thuộc
về tác giả và quyền này tồn tại vô thời hạn Đây là những tiến bộ trong hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ Nếu như Bộ luật dân sự năm 1995 quy định các quan hệ dân sự thì đối tượng điều chỉnh của Bộ luật dân sự năm 2005 rộng hơn điều chỉnh cả các quan hệ kinh tế và thương mại Chưa dừng lại ở đó, ngày 19 tháng 11 năm 2005 tại kỳ họp thứ
8, Quốc hội khóa X đã thông qua quy định chuyên ngành về Luật sở hữu trí tuệ với 6 phần, 18 chương và 222 điều đã đánh dấu sự pháp triển của pháp luật sở hữu tuệ của Việt Nam Luật sở hữu trí năm 2005, điều chỉnh các quan hệ sáng tạo, bảo hộ quyền tài sản trí tuệ của ba đối tượng gồm quyền tác giả, quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng Trong đó quyền tác giả, quyền liên quan và các vấn đề liên quan đến hai quyền này được quy định ở phần hai với 6 chương, gồm
45 điều Tiếp theo đó Nghị định số 100/2006/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bằng nghị định 85/2011/NĐ-CP, hai Nghị định trên đã hướng dẫn cụ thể hơn Luật sở hữu trí tuệ năm 2005
Sau sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào ngày 7 tháng 1 năm 2006, từ nền kinh tế bao cấp thành nền kinh tế thị trường cũng đã và đang mang đến những cơ hội và thách thức không chỉ cho nền kinh tế đất nước mà còn cho cả hệ thống pháp luật Riêng đối với lĩnh vực sở hữu trí
Trang 19tuệ để kịp thời điều chỉnh các vấn đề mới cũng như những hạn chế nhất định thì ngày
19 tháng 6 năm 2009, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII đã thông qua luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ 2005 và có hiệu lực ngày 1 tháng 1 năm
2010 Ngay cả Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm
1999, ngày 19 tháng 6 năm 2009 có quy định mức phạt tối đa là 200.000.000 đồng và
3 năm tù giam, đối với hành vi thuộc tội phạm quyền tác giả Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 cũng đã quy định, đặc biệt là Nghị định 131/2013 của Chính phủ quy định chi tiết mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân là 250.000.000 đồng, đối với tổ chức
là 500.000.000 đồng đối với các hành vi xâm phạm quyền sỡ hữu trí tuệ Gần đây nhất
là ngày 28 tháng 11 năm 2013, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp năm 2013, cho thấy sự quan trọng ngày càng lớn của sáng tạo từ trí tuệ,
theo quy định tại Điều 40 thì “mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó”, hay Điều 62 quy định: “phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nhà nước ưu tiên đầu tư
và khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, phát triển, chuyển giao, ứng dụng có hiệu quả thành tựu khoa học và công nghệ; bảo đảm quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Nhà nước tạo điều kiện để mọi người tham gia và được thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động khoa học và công nghệ” Nếu
trong các bản Hiến pháp trước quyền sở hữu trí tuệ chỉ được nói chung chung, gộp trong các quyền khác thì ở Hiến pháp năm 2013, quy định cụ thể sự bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
1.1.3.3 Các Công ước, Hiệp định Việt Nam tham gia
Để xác lập hành lang pháp lý an toàn, phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế, xây dựng hệ thống tư tưởng tiến bộ, nhân văn về quyền con người Và bảo hộ quyền tác giả chính là phương tiện để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình, là công cụ quản lý, giữ gìn trật tự xã hội về quyền tác giả, ngăn chặn những sản phẩm độc hại, bất lợi cho cộng đồng và lợi ích quốc gia Vì vậy, Việt Nam đã tham gia các Công ước, Hiệp định bảo vệ quyền tác giả điển hình như:
Công ước Berne4
Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, còn được gọi ngắn là Công ước Berne, được ký kết tại thành phố Berne của Thụy Sĩ năm 1886, lần
4 Trang thông tin điện tử Cục Bản quyền tác giả: Công ước Bern,
http://cov.gov.vn/cbq/index.php?option=com_glossary&id=57, [ngày truy cập 11-8-2014]
Trang 20đầu tiên thiết lập và bảo vệ quyền tác giả giữa các quốc gia có chủ quyền Công ước được hình thành sau các nổ lực vận động của Victor Hugo, tác giả nổi tiếng người Pháp Trước khi Công ước Berne ra đời, các quốc gia từ chối quyền tác giả của các tác phẩm ngoại quốc Công ước Berne đã sửa vài lần ở Berlin năm 1908, Rome năm 1928, Brussels năm 1948, Stockholm năm 1967 và Paris năm 1971 Từ năm 1967 Công ước Berne được quản lý bởi Tổ chức sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) Gần như tất cả các quốc gia thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) tuân thủ hầu hết các điều khoản của công ước này Quyền tác giả theo Công ước này là tự động, không cần phải đăng ký, không cần phải viết thông báo tác quyền Công ước cho phép tác giả được hưởng tác quyền suốt đời cộng thêm tối thiểu 50 năm sau đó Tuy nhiên các quốc gia tuân thủ Công ước được nâng thời hạn hưởng tác quyền dài hơn, như Cộng đồng Châu
Âu đã làm năm 1993, Hoa Kỳ cũng gia hạn tác quyền trong Đạo luật Kéo dài Bản quyền Sonny Bono năm 1998
Ngày 26 tháng 7 năm 2004, Chính phủ Việt Nam đã nộp văn kiện gia nhập Công ước Berne Trong văn kiện này, nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tuyên
bố bảo lưu các quy định tại Điều 33(1) của Công ước Berne và áp dụng chế độ ưu đãi dành cho các nước đang phát triển theo Điều II và Điều III của phụ lục Công ước Công ước Berne có hiệu lực tại Việt Nam kể từ ngày 26 tháng 10 năm 2004 Đặc biệt, ngày 23 tháng 9 năm 2009 Việt Nam đã chính thức được bầu vào Ủy ban điều phối của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới tại cuộc họp lần thứ 47 Đại hội đồng WIPO ở Geneve, Thụy Sỹ Đây là một cơ hội lớn khi tham gia Ủy ban, Việt Nam sẽ có điều kiện tham gia nhiều hơn trong quá trình hoạch định hướng phát triển của WIPO theo hướng cân bằng, trong đó có tính lợi ích của các nước đang phát triển
Công ước Rome5
Công ước bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng được kí kết ngày 26 tháng 10 năm 1961 tại Rome, vì vậy còn được gọi là Công ước Rome Công ước để mở cho tất cả quốc gia thành viên của Công ước Berne hoặc Công ước quyền tác giả toàn cầu (UCC) Văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hoặc gia nhập phải được gửi tới Tổng thư ký Liên hợp quốc Các nước tham gia có thể đưa ra bảo lưu về việc áp dụng một số quy định cụ thể tại Công ước Công ước gồm 34 điều với các quy định bảo đảm sự bảo hộ tại các quốc gia thành viên, đối với các buổi trình diễn của người biểu diễn, các bản ghi âm của các nhà sản xuất bản ghi âm các các chương trình phát sóng của các tổ chức phát sóng
5 Trang Thông tin điện tử Cục Bản quyền tác giả, Công ước Rome,
http://cov.gov.vn/cbq/index.php?option=com_glossary&id=60 , [truy cập ngày 12-9-2014],
Trang 21Người biểu diễn là các diễn viên, ca sĩ, vũ công, nhạc công, và những người khác biểu diễn các tác phẩm văn học hoặc nghệ thuật được bảo hộ, chống lại các hành vi cụ thể không được sự đồng ý của họ Các hành vi này gồm: phát sóng và truyền đạt tới công chúng cuộc biểu diễn trực tiếp của họ; định hình các cuộc biểu diễn trực tiếp của họ; sao chép các bản định hình, hoặc nếu việc sao chép này được thực hiện nhằm các mục đích khác với các mục đích mà họ đã đồng ý
Nhà sản xuất bản ghi âm được hưởng quyền cho phép hoặc ngăn cấm việc sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm của họ Theo Công ước Rome bản ghi âm là bất kì sự định hình các âm thanh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh khác dành riêng cho cơ quan thính giác Khi các bản ghi âm được công bố nhằm mục đích thương mại thì việc sử dụng (như là phát sóng hoặc truyền đạt tới công chúng bằng bất kì hình thức nào, tại nhà hàng, khách sạn,…), phải trả thù lao tương xứng cho những người biểu diễn, hoặc cho những nhà sản xuất bản ghi âm
Tổ chức phát sóng được hưởng quyền cho phép hoặc ngăn cấm việc tái phát sóng chương trình phát sóng của họ; định hình chương trình phát sóng và sao chép các bản định hình này; truyền đạt đến công chúng các buổi phát sóng truyền hình nếu việc truyền đạt này được thực hiện tại nơi để mở cho công chúng tham dự bằng việc thanh toán phí vào cửa Công ước Rome cho phép những ngoại lệ trong luật pháp quốc gia đối với các quyền nêu trên như là sử dụng cá nhân, sử dụng các trích đoạn ngắn trong việc đưa tin thời sự, định hình tạm thời bằng phương tiện của các tổ chức phát sóng và phục vụ cho việc phát sóng của chính tổ chức phát sóng, sử dụng chỉ nhằm mục đích giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học
Thời hạn bảo hộ phải kéo dài ít nhất cho đến khi kết thúc thời hạn 20 năm, tính từ khi kết thúc năm bản ghi âm, cuộc biểu diễn được định hình (trường hợp cuộc biểu diễn không được định hình thì tính từ khi nó được tiến hành), chương trình phát sóng được thực hiện Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO), Tổ chức Văn hóa, Giáo dục
và Khoa học của Liên hợp quốc (UNESCO) và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) là các tổ chức đồng quản lí Công ước Các tổ chức đồng quản lí chỉ định Ban thư ký Một
ủy ban liên Chính phủ được thành lập gồm đại diện của 12 quốc gia kí kết, có nhiệm
vụ xem xét và giải quyết các vấn đề liên quan đến Công ước
Công ước Rome không quy định về việc tạo ra một Liên hiệp và tài chính riêng Đến ngày 15 tháng 7 năm 2009 Công ước Rome có 88 quốc gia thành viên Công ước Rome có hiệu lực tại Việt Nam ngày 1 tháng 3 năm 2007
Hiệp định TRIPs
Trang 22Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền Sở hữu trí tuệ (TRIPs) được ký kết ngày 15 tháng 4 năm 2004, có hiệu lực vào năm 1995 trong khuôn khổ Hiệp định Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới TRIPs đã tổng hợp và xây dựng trên cơ sở các hiệp định quan trọng và mới nhất về sở hữu trí tuệ do Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) thực thi với Công ước Paris về bảo hộ tài sản Công nghiệp và Công ước Berne về Bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật theo Hiệp định TRIPs, các nước phát triển hoàn toàn thực thi hiệp định này vào ngày 1 tháng 1 năm 1996 Các quốc gia đang phát triển và những nước thành viên đang trong thời kỳ quá độ sang kinh tế thị trường được phép lùi ngày thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quy định trong TRIPs đến ngày 1 tháng 1 năm 2000 Các nước kém phát triển được thực hiện bắt đầu thực hiện nghĩa vụ vào ngày 1 tháng 1 năm 2006 và có khả năng được kéo dài thời hạn chuyển giao nếu có yêu cầu Hiệp định TRIPs khẳng định phạm vi bảo hộ quyền tác giả bao gồm sự thể hiện và không bao gồm các ý tượng, trình tự, phương pháp tính hoặc các khái niệm toán học (Điều 9.2) Các chương trình máy tính, dù dưới dạng mã nguồn hay mã máy, đều được bảo hộ quyền tác giả như những tác phẩm văn học (Điều 10.1) Các cơ sở dữ liệu, bộ sưu tập dữ liệu hoặc tư liệu khác điều phải được bảo hộ quyền tác giả thậm chí cơ sở dữ liệu chứa đựng dữ liệu không được bảo hộ quyền tác giả (Điều 10.2) Việt Nam tham gia Hiệp định TRIPs đã tạo nên nền tảng vững chắc trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh công tác thực thi pháp luật về Sở hữu trí tuệ
1.2 Lý luận chung về đăng ký quyền tác giả
1.2.1 Khái niệm về đăng ký quyền tác giả
Trong thực tế đời sống xã hội có nhiều công việc phải đăng ký như khi phát sinh các sự việc sinh, tử, kết hôn, giám hộ, nuôi con nuôi (đăng ký hộ tịch) hoặc phát sinh nhu cầu sở hữu hoặc sử dụng tài sản (đăng ký sở hữu, sử dụng nhà cửa, xe cộ, tàu thuyền); khi phát sinh các nhu cầu khác: (đăng ký lao động, du lịch, mua bán tài sản, đăng ký nghĩa vụ quân sự) song cũng có nhiều việc đăng ký theo tự nguyện của người
có nhu cầu Đăng ký thường được hiểu là công việc của một cơ quan Nhà nước hoặc một tổ chức, cá nhân nào đó thực hiện việc ghi nhận hay xác nhận về một sự việc hay một tài sản nhằm đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của người được đăng ký cũng như tổ chức cá nhân đứng ra thực hiện việc đăng ký
Và ngày nay, các sản phẩm trí tuệ có vai trò ngày càng quan trọng trong cuộc sống, cùng với đó, nhận thức của các tổ chức, cá nhân trong việc bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan ngày càng được nâng cao Các chủ thể đã tích cực sử dụng các biện pháp hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, trong đó có việc đăng ký quyền tác giả tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Trang 23Theo quy định tại Khoản 1 Điều 49 Luật Sở hữu trí tuệ, đăng ký quyền tác giả là việc tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả nộp đơn và hồ sơ kèm theo (gọi chung là đơn) cho Cục Bản quyền tác giả để ghi nhận các thông tin về tác giả, tác phẩm, chủ sở hữu quyền tác giả Ngoài ra đăng ký quyền tác giả còn được hiểu trong lĩnh vực quyền tác giả, là việc khai báo các thông tin về tác phẩm, tác giả, chủ sở hữu và hợp đồng có liên quan tới các quyền của tác giả đối với tác phẩm, để được cấp giấy chứng nhận và vào
sổ đăng ký của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đăng ký quyền tác giả không phải là thủ tục bắt buộc để được hưởng quyền tác giả Việc đăng ký bảo hộ không phải là cơ
sở xác lập quyền tác giả; tác phẩm dù có đăng ký hay không đăng ký quyền tác giả đều được hưởng sự bảo hộ như nhau Tuy nhiên, việc đăng ký quyền tác giả lại cần thiết và rất có ý nghĩa trong việc bảo vệ quyền tác giả, đặc biệt trong việc chứng minh quyền tác giả khi có tranh chấp xảy ra
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 49 Luật Sở hữu trí tuệ, tác giả, chủ sở hữu
quyền tác giả đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả không có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả thuộc về mình khi có tranh chấp (trừ trường hợp có người khác cũng có chứng cứ ngược lại, tức là cũng có Giấy chứng nhận quyền tác giả đối với chính tác phẩm mà tác giả đã được cấp giấy chứng nhận) Giấy chứng nhận đăng
ký quyền tác giả là bằng chứng mặc nhiên xác nhận tư cách và quyền của tác giả, chủ
sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm đã đăng ký
Nếu tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả không đăng ký quyền tác giả thì khi có tranh chấp xảy ra các chủ thể này phải có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả của mình đối với tác phẩm đó, tức phải tự mình cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh quyền tác giả của mình đối với tác phẩm Trong nhiều trường hợp việc tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả chứng minh quyền của mình là rất khó, thậm chí không thể chứng minh được mình là tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm có tranh chấp Thủ tục đăng ký quyền tác giả không quá phức tạp và chi phí rất nhỏ so với lợi ích thiết thực mang lại Vì vậy, khi sáng tạo ra tác phẩm, đặc biệt các tác phẩm sáng tạo, có giá trị thương mại và nhiều khả năng bị sử dụng trái phép, chiếm đoạt thì tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả nên nhanh chóng thực hiện đăng ký quyền tác giả Theo quy định tại
Điều 52 Luật sở hữu trí tuệ 2005 thì “trong thời hạn mười lăm ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn hợp lệ, cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan có trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan cho người nộp đơn Trong trường hợp từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan thì cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan phải thông báo bằng văn bản cho người
Trang 24nộp đơn” Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam
1.2.2 Đặc điểm về đăng ký quyền tác giả
Việc đăng ký quyền tác giả không phải là thủ tục bắt buộc Quyền tác giả là quyền của tổ chức, các nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu Quyền tác giả được ghi nhận cho các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học như sách, bài giảng, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm sân khấu, tác phẩm điện ảnh, tác phẩm tạo hình và
mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm nhiếp ảnh, tác phẩm kiến trúc, phần mềm máy tính Quyền tác giả tự động phát sinh từ thời điểm tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định, bất kể tác phẩm đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký Mặc dù không phải là yêu cầu bắt buộc để được thụ hưởng quyền, nhưng đăng ký quyền tác giả với Cục Bản quyền tác giả sẽ mang lại thuận lợi cho người được ghi nhận là tác giả, chủ sở hữu khi có tranh chấp xảy ra
1.2.3 Lịch sử các quy định về đăng ký quyền tác giả
Tại một số quốc gia chủ yếu là Mỹ la tinh, đăng ký được coi là điều kiện về sự hiện hữu của quyền tác giả đối với tác phẩm, như quy định của Luật quyền tác giả
Argentina, Colombia, Costa Rica, Liberia, Nicaragua, Panama, Paraguay, Tây Ban Nha Hay đăng ký để xác lập hiệu lực của hợp đồng tương ứng, chủ yếu là đối với các bên thứ ba, như quy định của Luât quyền tác giả Argentina, Brazin, Canada, Chi-lê, Panama, Paraguay, Bồ Đào Nha, Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ Một số quốc gia chỉ coi việc đăng ký như là một điều kiện về thủ tục mà không coi đó là điều kiện phát sinh quyền tác giả hoặc hiệu lực của hợp đồng được đăng ký, như quy định của Luật quyền tác giả Bangladesh, Philippin, Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, như quy định của Luật
quyền tác giả Colombia, Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, đối với đăng ký hợp đồng Một số nước thì yêu cầu đăng ký bắt buộc tác phẩm không có bất kỳ ảnh hưởng tới quyền tác giả, hoặc chỉ như là một khả năng lựa chọn nhằm đạt được bằng chứng hiển nhiên Công ước Berne (Điều 5(2)) coi việc hưởng và thi hành các quyền không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục hình thức nào như là đăng ký; Công ước quyền tác giả toàn cầu (UCC), cũng không cho phép yêu cầu đăng ký như là điều kiện của quyền tác giả Qua các dấu ấn lịch sử khác nhau, cùng với sự phát triển của hệ thống luật thì Luật Sở hữu trí tuệ cũng có sự phát triển đáng kể Cũng như lịch sử hình thành quyền tác giả thì thủ tục đăng ký quyền tác giả cũng được quy định ngay từ bản hiến pháp đầu tiên vào năm 1946, tư tưởng lập pháp để hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật
đã tiếp tục được thể hiện tại Hiến pháp 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp 2013 đang có
hiệu lực thi hành Năm 1986 với Nghị định 142/HĐBT, lần đầu tiên ở Việt Nam một
Trang 25văn bản riêng biệt về quyền tác giả đã được ban hành với những quy định cơ bản, ban đầu với sự giúp đỡ của hãng VAB (Hãng bảo hộ quyền tác giả của Liên Xô cũ) Trước yêu cầu của sự phát triển, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh
về quyền tác giả vào tháng 10 năm 1994 Tại kì họp thứ 8 khoá IX, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Bộ luật Dân sự, trong đó có các quy định về thủ tục đăng ký quyền tác giả Nhằm đáp ứng quá trình hội nhập của Việt Nam và thể chế hóa các quy định
về bảo hộ quyền tác giả trong Bộ luật Dân sự, Nhà nước đã ban hành một số văn bản
hướng dẫn thủ tục đăng ký quyền tác giả theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ Cho thấy chuỗi liên kết giữa các văn bản như: Nghị định 100/CP ngày 21 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan; Nghị định 85/CP ngày 20 tháng 9 năm 2011 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về
quyền tác giả và quyền liên quan; Quyết định số 88/2006/QĐ-BVHTTDL ngày 17 tháng
10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch về việc ban hành các mẫu tờ khai, giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan; Nghị quyết 69/NQ-CP
ngày 27 tháng 12 năm 2010 về việc đơn giản hoá thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hay Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Di sản Văn hoá, Luật Điện ảnh, Luật Quảng cáo cũng có một số điều khoản quy định về thủ tục đăng ký quyền tác giả, nhằm tăng cường quản lí ở các lĩnh vực đặc biệt quan trọng này Luật Hải quan đã có quy định các biện pháp bảo hộ tại biên giới đối với hàng hóa xuất nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ
Hệ thống các chế tài về hành chính, dân sự và hình sự đã được hình thành, đảm bảo cho các quy định pháp luật về thủ tục đăng ký quyền tác giả được thi hành với bộ máy cưỡng chế của Nhà nước Tại Bộ luật Hình sự sửa đổi tháng 6 năm 2009 có quy định mức phạt tối đa là 200 triệu đồng và 3 năm tù giam, đối với các hành vi thuộc tội phạm quyền tác giả Luật xử lí vi phạm hành chính năm 2012 đã quy định mức phạt phạt tối đa là 500 triệu đồng đối với hành vi của tổ chức xâm hại quyền tác giả, quyền liên quan
Đồng thời với hệ thống pháp luật quốc gia đã được định hình như trên Việt Nam còn ký kết các Hiệp định song phương về thiết lập quan hệ quyền tác giả, Hiệp định Thương mại giữa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kì, Hiệp định về bảo hộ quyền
sở hữu trí tuệ giữa Việt Nam và Liên bang Thụy Sỹ cũng đang có hiệu lực thi hành Cùng với các điều ước quốc tế song phương trên, Việt Nam đã là thành viên của
5 điều ước quốc tế đa phương gồm Công ước Berne bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ
Trang 26thuật và khoa học; Công ước Rome bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm,
tổ chức phát sóng; Công ước Brussel bảo hộ tín hiệu vệ tinh mang chương trình truyền qua vệ tinh đã mã hóa; Công ước Geneva bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống lại việc sao chép bất hợp pháp bản ghi âm của họ Hiệp định Trips về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ Các công ước song phương và đa phương trên đã trở thành một bộ phận của pháp luật quốc gia về quyền tác giả, thủ tục đăng
ký quyền tác giả
Có thể khẳng định rằng hoạt động lập pháp, lập quy về thủ tục đăng ký quyền tác giả đã có bước phát triển vượt bậc, tạo lập được hành lang pháp lí an toàn, khuyến khích các hoạt động sáng tạo phát triển, đồng thời bảo hộ thành quả lao động sáng tạo
đã kết tinh trong các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học Luật pháp đó đảm bảo hài hòa lợi ích giữa người sáng tạo, nhà sử dụng, và công chúng hưởng thụ; bảo
vệ lợi ích quốc gia trong hội nhập; thể hiện tính thống nhất, minh bạch và khả thi Về
cơ bản nó phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, tạo cơ sở pháp lí cho các hoạt động bảo hộ tại quốc gia và hội nhập quốc tế có bước phát triển mới
1.2.4 Ý nghĩa của việc đăng ký quyền tác giả
Khác với quyền sở hữu công nghiệp, việc bảo hộ phải được xác lập thông qua hoạt động đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền là Cục Sở hữu Trí tuệ, đối với các tác phẩm thuộc đối tượng của quyền tác giả, pháp luật bảo hộ ngay từ khi tác phẩm
ra đời và thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định Vì vậy, có thể khẳng định dù
có được đăng ký hay không thì tác phẩm vẫn được pháp luật bảo hộ, cũng như việc đăng ký bảo hộ quyền tác giả trong trường hợp này là tùy thuộc vào bản thân tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả Tuy nhiên, như ta đã biết, các tác phẩm do tác giả sáng tạo
ra thì thường bị sao chép một cách dễ dàng Vì vậy, tác giả và chủ sở hữu tác phẩm nên tiến hành đăng ký bản quyền đối với tác phẩm khi do chính mình sáng tạo ra Việc đăng ký quyền tác giả có những ý nghĩa nhất định:
Thứ nhất, trong trường hợp có tranh chấp xảy ra, Giấy chứng nhận đăng ký này
là bằng chứng tốt nhất chứng minh quyền sở hữu của tác giả đối với tác phẩm Điều này có nghĩa là mặc dù bản thân tác giả là người sáng tạo ra tác phẩm nhưng để chứng minh được điều đó thì tác giả cũng phải chứng minh tư cách sở hữu của mình đối với tác phẩm Nhưng dù với bất kỳ bằng chứng nào đi nữa thì giấy chứng nhận luôn là bằng chứng thuyết phục nhất để bảo vệ quyền lợi của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả Sự thuyết phục này thể hiện qua việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp và công nhận một cách hữu hiệu quyền tác giả đó Đó không có nghĩa chỉ có Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả mới có thể bảo hộ tốt quyền tác giả vì việc đăng ký quyền
Trang 27tác giả không phải là thủ tục bắt buộc, mà vấn đề người viết muốn đề cập ở đây là sự chứng minh sẽ trở nên dễ dàng và thuyết phục, ít tốn thời gian, tiền bạc trong quá trình thu thập chứng cứ để chứng minh, đồng thời có thể ngăn chặn kịp thời hành vi xâm phạm với tư cách là tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả Sự thật bao giờ cũng là chân lý Thứ hai, Giấy chứng nhận đăng ký bản quyền cũng là một loại giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tác phẩm, được sử dụng khi định giá tài sản của công ty trong trường hợp cổ phần hóa, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp Không những mang đến quyền mà còn mang về giá trị kinh tế cho tác giả, chủ sở hữu
Thứ ba, việc đăng ký còn giúp cho chủ sở hữu tiến hành một số thủ tục hành chính với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thí dụ trong trường hợp chủ sở hữu muốn xin Giấy phép phát hành trò chơi trực tuyến (game) thì một trong những tờ cần thiết đó
là phải có Giấy chứng nhận đăng ký bản quyền đối với game đó Từ đó, tạo nên chuỗi liên kết từ quyền này dẫn đến quyền kia cho tác giả, chủ sở hữu, nếu cá nhân không có quyền tác giả, không có quyền chủ sở hữu thì cũng không thể nào tự tiến hành làm thủ tục đăng ký phát hành game
Thứ tư, đối với cơ quan nhà nước, hàng ngày có rất nhiều công việc phải giải quyết, không thể nào mà hoàn thành nhanh được cả “khối việc”, chẳng hạn như việc tranh chấp trong quyền tác giả thì lúc nào cũng phức tạp và khó khăn để giải quyết Nhưng ngay từ đầu tác giả, chủ sở hữu tiến hành đăng ký quyền tác giả để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả thì việc giải tranh chấp sẽ giải quyết đơn giản hơn, hay có thể là tác giả không để ra “khẽ hở” thì sẽ không có vấn đề xảy ra Từ đó
mà việc sao chép, buôn lậu giảm xuống, cơ quan nhà nước sẽ giảm “gánh nặng” Thứ năm, việc đăng ký quyền tác giả, từ việc mang lợi ích đến với cá nhân tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; cơ quan nhà nước thì việc đem đến tích cực cho kinh tế-
xã hội là điều hiển nhiên Nạn sao chép, in lậu, sử dụng tác phẩm giảm xuống, cá nhân, tổ chức sẽ xin phép hay mua bản quyền lại thì vừa bảo vệ được quyền cho tác giả mà còn đem đến nguồn kinh tế cho tác giả, những tác phẩm có giá trị và được công chúng yêu thích thì có giá trị về mặt kinh tế là rất cao Khi mà cuộc sống tốt hơn thì sự
tự giác và ý thức sẽ cao hơn từ đó mà xã hội sẽ giảm vấn nạn xâm phạm đến tài sản trí tuệ
1.3 Quy trình xử lý đơn đăng ký quyền tác giả của một số quốc gia trên thế giới
1.3.1 Quy trình xử lý đơn đăng ký quyền tác giả ở Hoa Kỳ
Quyền tác giả tại Hoa Kỳ được bảo hộ bởi văn bản luật cao nhất là Hiến pháp Liên bang Sự bảo hộ đó được cụ thể hóa, tập trung tại Luật quyền tác giả (Luật bản quyền) năm 1976 và sửa đổi năm 1988 Còn ở Việt Nam ngoài Hiến pháp quyền tác giả cũng được quy định cụ thể tại Luật chuyên ngành, Luật sở hữu trí tuệ năm 2005
Trang 28hiện hành Theo Điều 19 và Điều 20 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 của Việt Nam thì quyền tác giả được quy định rất rộng về quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả Trong khi đó, theo Luật bản quyền của Hoa Kỳ, quyền nhân thân hẹp hơn, chỉ bao gồm: quyền đứng tên trên tác phẩm, quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm Đối với quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, tác giả chỉ có quyền cấm những thay đổi gây thiệt hại đến uy tính, danh dự, nhân phẩm của tác giả Quy định rõ ràng này tránh những trường hợp của tác giả lạm dụng quyền nhân thân cản trợ việc khai thác tác phẩm của chủ sở hữu, hạn chế khả năng tiếp cận của người sử dụng đối với tác phẩm
Vì vậy, mà hơn bao giờ hết các tác giả, chủ sở hữu ở Hoa Kỳ cần bảo vệ quyền tác giả của mình bằng việc đăng ký quyền tác giả
Quy định về đăng ký quyền tác giả của Hoa Kỳ được quy đinh tại Điều 408, Điều
409 Điều 410, Điều 411, Điều 412 và Điều 708 của Luật quyền tác giả của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Tại Điều 408 Luật quyền tác giả của Hoa Kỳ, quy định chung về đăng
ký được phép: “vào bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn bảo hộ quyền tác giả lần đầu đang tồn tại đối với bất kỳ tác phẩm đã hoặc chưa công bố nào mà quyền tác giả đối với tác phẩm đó được bảo hộ trước ngày 1/1/1978, và trong khoảng thời gian tồn tại của bất kỳ quyền tác giả được bảo hộ vào hoặc sau ngày đó, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc bất kỳ quyền độc quyền nào đối với tác phẩm có thể đạt được yêu cầu đăng ký bản quyền” Chủ sở hữu quyền tác giả gửi đến Cục Bản quyền tác giả hồ sơ yêu cầu
nộp đăng ký quyền tác giả quy định cụ thể tại Điều 408 Luật quyền tác giả của Hoa Kỳ cùng với đơn và khoản lệ phí quy định tại Điều 409 và 708 của Luật quyền tác giả của Hoa Kỳ Quy trình đăng ký quyền tác giả được xác lập như sau:
Đăng ký lần đầu tiên
Hồ sơ đăng ký một tác phẩm gửi tới Thư viện Quốc hội Mỹ, Cục Bản quyền Hồ
sơ bao gồm: i) Mẫu đơn đăng ký được điền đúng và đầy đủ; ii) Phí làm hồ sơ không được hoàn trả cho mỗi bản đăng ký; iii) Một bản lưu không được hoàn trả của tác phẩm cần đăng ký Yêu cầu về bản lưu khác nhau trong từng tình huống cụ thể
Các hình thức đăng ký bao gồm: Đăng ký qua mạng, đăng ký với mẫu đơn điền sẵn, đăng ký với mẫu đơn giấy Việc đăng ký quyền tác giả sẽ có hiệu lực kể từ ngày Cục Bản quyền tác giả nhận đơn đăng ký và các yêu cầu kèm theo (phí nộp đơn, tác phẩm bảo hộ) Nếu người nộp đơn tiến hành nộp đơn qua mạng, người nộp đơn sẽ nhận được một “email” phản hồi xác nhận đơn đăng ký được tiếp nhận bởi Cục Bản quyền tác giả Trường hợp nộp đơn theo hình thức mẫu đơn giấy, người nộp đơn sẽ không nhận được phản hồi xác nhận rằng đơn được tiếp nhận Muốn biết chính xác ngày nộp đơn, người nộp đơn có thể yêu cầu dịch vụ xác nhận thông báo ngày nhận đơn từ các Công ty chuyển phát nhanh hoặc bưu điện
Trang 29Đăng ký gia hạn Để đăng ký gia hạn cần:
Mẫu đăng ký RE được điền đầy đủ và phù hợp, và nếu cần, phụ lục của mẫu
đăng ký RE và phí hồ sơ không được hoàn trả cho mỗi mẫu đăng ký (như đối với đăng
ký lần đầu) Mỗi phụ lục đăng ký cần được gửi kèm với bản tác phẩm lưu đang được
xem xét
Đăng ký trước Việc đăng ký trước là dịch vụ được thực hiện cho những tác
phẩm đã từng bị vi phạm phát hành Yêu cầu bản lưu đặc biệt Có những yêu cầu bản
lưu đặc biệt cho các loại tác phẩm khác nhau Tác phẩm sưu tập chưa xuất bản Theo
những điều kiện nhất định, một tác phẩm có thể được đăng ký theo hình thức chưa
xuất bản với tư cách là "tác phẩm sưu tập", cùng với đơn đăng ký và phí Tra cứu dữ
liệu quyền tác giả Dữ liệu bản quyền tác giả tại Cục Bản quyền tác giả luôn được mở
để cho việc tự tra cứu và nghiên cứu của mọi công dân thông qua trang web của Cục
Bản quyền Mọi công dân có quyền yêu cầu Cục Bản quyền tiến hành việc tra cứu
thông tin phục vụ cho mục đích cá nhân của mình và phải trả phí tra cứu Để đăng ký
quyền tác giả thì tác giả cần phải có:
- Hồ sơ yêu cầu nộp để đăng ký quyền tác giả6
- Đơn đăng ký quyền tác giả7
- Các khoản lệ phí8 Các khoản lệ phí sẽ được thanh toán cho Cục trưởng Cục
Bản quyền tác giả
Sau khi đã nộp hồ sơ, đơn và đóng lệ phí Cơ quan đăng ký sẽ thẩm định hồ sơ: Nếu thẩm định phù hợp với quy định Cơ quan đăng ký xác định là các hồ sơ
nộp xác lập đối tượng có thể được bảo hộ quyền tác giả và các yêu cầu về hình thức và
pháp lý của Điều 410 Luật quyền tác giả Hoa Kỳ đã được đáp ứng, khi đó, Cơ quan
đăng ký sẽ đăng ký yêu cầu và cấp cho người nộp đơn một chứng chỉ về sự đăng ký có
dấu của Cục Bản quyền tác giả Chứng chỉ này sẽ bao hàm những thông tin nêu trong
đơn cùng với số chứng nhận và ngày có hiệu lực của đăng ký Trong bất kỳ thủ tục tố
tụng nào chứng chỉ đăng ký được cấp trước hoặc trong vòng 5 năm sau khi công bố
lần đầu tác phẩm sẽ xác lập chứng cớ hiển nhiên (prima facie evidence) về giá trị pháp
lý của quyền tác giả và của các sự kiện tuyên bố trong chứng chỉ đó Giá trị chứng cứ
theo chứng chỉ đăng ký cấp sau đó phụ thuộc vào phán quyết của Toà án Ngày có
hiệu lực của đăng ký quyền tác giả sẽ là ngày mà đơn, các tài liệu nộp, và lệ phí tất cả
đã được Cục Bản quyền tác giả tác giả nhận, sau khi chúng được Cơ quan đăng ký
quyền tác giả hoặc Toà án có thẩm quyền xác định sau đó là có thể chấp nhận cho
6 Khoản b, điều 408 Luật Quyền tác giả của Hoa Kỳ
7 Điều 409 Luật Quyền tác giả của Hoa Kỳ
8 Điều 708 Luật Quyền tác giả của Hoa Kỳ
Trang 30đăng ký
Nếu trong trường hợp không phù hợp với các quy định của Điều 410 Luật quyền tác giả Hoa Kỳ, Cơ quan đăng ký quyết định là các tài liệu được nộp không xác lập đối tượng có thể được bảo hộ quyền tác giả hoặc quyết định là yêu cầu này không
có hiệu lực theo bất kỳ lý do nào khác, Cơ quan đăng ký từ chối đăng ký và thông báo cho người nộp đơn bằng văn bản lý do của việc từ chối đó
Từ đó cho thấy việc đa dạng hóa các hình thức đăng ký và nâng cấp cơ sở dữ liệu cho việc đăng ký như của Cục Bản quyền tác giả Hoa Kỳ là một tham khảo hữu ích cho Việt Nam Tại Hoa Kỳ, người nộp đơn có thể lựa chọn một trong ba hình thức đăng ký quyền tác giả Tại Việt Nam, chỉ có cách thức nộp đơn duy nhất là nộp đơn theo mẫu giấy cùng các tài liệu gửi kèm và nộp tại Cục Bản quyền
1.3.2 Quy trình xử lý đơn đăng ký quyền tác giả ở Nhật Bản
Hoa Kỳ cùng với Nhật Bản là một trong những nước có nền Luật Bản quyền phát triển hàng đầu thế giới Ngày 23 tháng 6 năm 2013, Nhật Bản đã chính thức thông qua Luật bản quyền sửa đổi; lần đầu tiên quy định những hành vi tải nhạc, hình ảnh, phim, video, trò chơi, phần mềm có bản quyền trên Internet về máy tính của người thuộc phạm vi xét xử của Bộ luật hình sự Người vi phạm luật này có thể phải chịu mức phạt
tù giam tối đa là hai năm, và đi kèm với đó là một khoản tiền bồi thường lên tới 2 triệu yên Việc đăng ký quyền tác giả ở Nhật Bản được quy đinh trong chương 10 từ Điều
75 đến Điều 78.2 được chia làm 4 nội dung như sau:
Đăng ký tên thực: Tác giả của tác phẩm khuyết danh hoặc ký danh đã công bố
có quyền được đăng ký tên thật trên tác phẩm đó, bất kể hiện tại có sở hữu quyền tác giả hay không Trong di chúc, tác giả có thể chỉ định người đăng ký theo qui định khoản trên sau khi chết Người đã đăng ký tên thực được suy đoán là tác giả của tác phẩm có đăng ký tên thực đó
Đăng ký ngày tháng năm phát hành lần thứ nhất Người phát hành tác phẩm
của chủ sở hữu quyền tác giả hoặc tác phẩm khuyết danh, ký danh có thể được đăng ký ngày tháng năm phát hành lần thứ nhất hoặc ngày tháng năm công bố lần thứ nhất Tác phẩm đã đăng ký ngày tháng năm phát hành lần thứ nhất hoặc ngày tháng năm công
bố lần thứ nhất được suy đoán là đã phát hành đầu tiên hoặc công bố đầu tiên vào ngày tháng năm đăng ký đó
Đăng ký ngày tháng năm sáng tác Tác giả tác phẩm chương trình máy tính có
thể đăng ký ngày tháng năm sáng tác chương trình máy tính Tuy nhiên, không áp dụng khoản này nếu đã quá 6 tháng kể từ khi sáng tác Tác phẩm đăng ký theo khoản trên được suy đoán là sáng tác trong ngày tháng năm đã đăng ký
Trang 31Đăng ký quyền tác giả Nếu không đăng ký, các điểm sau đây sẽ không có hiệu lực đối với bên thứ ba Chuyển đổi quyền tác giả ngoại trừ các trường hợp kế thừa thông thường như thừa kế tài sản, sửa đổi do ủy thác quyền hoặc hạn chế thanh lý tài sản đối với quyền tác giả đó Tạo lập, chuyển đổi, sửa đổi hoặc chấm dứt hợp đồng cầm cố quyền tác giả (ngoại trừ sự dứt quyền do nhập vào một quyền cao hơn, hoặc hết quyền tác giả, hết quyền thế chấp) hoặc hạn chế thanh lý tài sản trong hợp đồng cầm cố quyền tác giả đó
Thủ tục đăng ký: Tổng cục trưởng Tổng cục văn hóa sẽ ghi chép vào danh bạ đăng ký quyền tác giả và lưu trữ nội dung đăng ký theo qui định khoản 1 điều 75, khoản 1 điều 76, khoản 1 điều 76.2 hoặc điều 77 Luật Bản quyền Nhật Bản Toàn bộ hoặc một phần Danh bạ đăng ký quyền tác giả theo qui định Nghị định chính phủ có thể được tạo ra trên đĩa từ (Bao gồm các vật liệu dựa theo phương pháp này để có thể ghi giữ các nội dung một cách an toàn chính xác Áp dụng tương tự trong khoản 4) Tổng cục trưởng Tổng cục văn hóa phải đưa ra thông cáo trên Công báo chính phủ sau khi thi hành đăng ký theo qui định khoản 1 điều 75 Luật Bản quyền Nhật Bản Bất cứ
ai cũng có thể yêu cầu Tổng cục trưởng Tổng cục văn hóa cấp phát bản trích lục, bản sao danh bạ đăng ký quyền tác giả hoặc bản sao các hồ sơ phụ thuộc; yêu cầu được xem danh bạ đăng ký quyền tác giả hoặc các hồ sơ phụ thuộc; yêu cầu cấp phát giấy tờ ghi nội dung của một phần danh bạ đăng ký quyền tác giả đã được tạo ra trên đĩa từ Người có yêu cầu trên đây phải nộp lệ phí qui định bởi Nghị định chính phủ sau khi tính toán kỹ lưỡng các số tiền chi phí thực tế Không áp dụng qui định khoản trên khi người có nghĩa vụ nộp lệ phí theo qui định cùng khoản là Cơ quan nhà nước Không
áp dụng các qui định của Phần 2, Phần 3 Luật Thủ tục hành chính (Luật số 88 năm 1993) đối với biện pháp xử lý liên quan đến việc đăng ký được quy định tại khoản 1 điều này Không áp dụng qui định của Luật Công khai thông tin Cơ quan hành chính đối với Danh bạ đăng ký quyền tác giả cũng như các hồ sơ phụ thuộc Không áp dụng qui định của Phần 4 Luật Bảo vệ thông tin cá nhân do Cơ quan hành chính nắm giữ (Luật số 58 năm 2003) đối với thông tin cá nhân (thông tin cá nhân theo qui định khoản 3 điều 2 cùng Luật) được ghi trong Danh bạ đăng ký quyền tác giả và các hồ sơ phụ thuộc Ngoài các qui định trong Chương này, Nghị định chính phủ sẽ qui định các nội dung cần thiết khác liên quan đến việc đăng ký theo qui định khoản 1 điều này Luật Bản quyền của Nhật Bản còn có một quy định đặc thù đó là đặc lệ đối với chương trình máy tính Việc đăng ký chương trình máy tính, ngoài qui định trong chương Luật Bản quyền, còn được áp dụng tại bộ Luật khác
Tóm lại, với những giá trị tác phẩm của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả mang lại nền tri thức cho nhân loại thì chúng ta cần bảo tồn và phát huy Ngày nay, quốc tế
Trang 32đang cùng nổ lực để bảo vệ những di sản văn học, nghệ thuật và Việt Nam cũng không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về thủ tục đăng ký quyền tác giả Vì vậy, các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả cần đăng ký quyền tác giả để tự bảo vệ quyền của mình cũng như góp phần bảo vệ tài sản sở hữu trí tuệ
Trang 33Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ
THỦ TỤC ĐĂNG KÝ QUYỀN TÁC GIẢ
Ở các nước công nghiệp phát triển, quyền tác giả ngày càng trở nên quan trọng về khía cạnh thương mại Ban đầu, quyền tác giả chỉ bảo hộ các tác phẩm truyền thống như sách, tranh vẽ… Sau này, quyền tác giả đã mở rộng phạm vi bảo hộ ra các đối tượng như: các tác phẩm nghệ thuật và âm nhạc, băng ghi âm, phim, các nhà phát sóng
và những loại hình nghệ thuật khác Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và công nghệ giải trí đã đề cao giá trị của quyền tác giả, đồng thời đặt ra những vấn
đề cần giải quyết Và vấn đề đầu tiên cần phải kể đến là hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục đăng ký quyền tác giả ở Việt Nam Ở chương 2, người viết sẽ tìm hiểu khái quát về các quy định pháp luật hiện hành, chủ thể tiến hành đăng ký quyền tác giả, chủ tiếp nhận đăng ký quyền tác giả, quy trình xử lý đơn đăng ký quyền tác giả và các vấn đề liên quan đến thủ tục đăng ký quyền tác giả
2.1 Khái quát các quy định hiện hành
2.1.1 Luật quy định
Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 Tại kì họp thứ 8 khóa XI ngày 29 tháng 11 năm
2005, Quốc hội đã thông qua Luật sở hữu trí tuệ và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm
hữu trí tuệ năm 2005 về quyền tác giả và quyền liên quan
Nghị định 85/2011/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm
2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự
Nghị định 3198/2013/VBHN-BVHTTDL ngày 3 tháng 9 năm 2013 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan
2.1.3 Thông tư, quyết định, nghị quyết hướng dẫn thi hành
Thông tư số 29/2009/TT-BTC ngày 10 tháng 12 năm 2009 của Bộ Tài chính Thông tư quy định về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp giấy chứng nhận quyền tác giả, quyền liên quan
Trang 34Quyết định số 88/2006/QĐ-BVHTTDL ngày 17 tháng 10 năm 2006 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quyết định về việc ban hành các mẫu tờ khai, giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan
Quyết định số 4036/2013/QĐ-BVHTTDL ngày 14 tháng 11 năm 2013 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của Cục Bản quyền tác giả
Quyết định số 15/2009/QĐ-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quyết định về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Văn phòng đại diện
Cục Bản quyền tác giả tại thành phố Hồ Chí Minh
Quyết định số 16/2009/QĐ-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quyết định về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Văn phòng đại diện Cục Bản quyền tác giả tại thành phố Đà Nẵng
Nghị quyết 69/2010/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ Nghị
quyết quy định về việc đơn giản hoá thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản
lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
2.2 Chủ thể tiến hành đăng ký quyền tác giả
2.2.1 Tác giả
Tác giả là những người bằng lao động trí tuệ của mình, trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện dưới dạng vật chất nhất định Trong trường hợp có hai người hoặc nhiều tạo ra tác phẩm thì những người đó là các đồng tác giả Những người sáng tạo ra tác phẩm phái sinh, làm các công việc dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn cũng được coi là tác giả của tác phẩm phái sinh này Tác giả được bảo hộ phải là công dân Việt Nam và công dân nước ngoài sáng tạo tác phẩm trên lãnh thổ Việt Nam hoặc của tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam, hoặc theo điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên Với khái niệm trên, chỉ những người trực tiếp làm ra tác phẩm thông qua hoạt động của tư duy sáng tạo mới được coi là tác giả Những người cung cấp tư liệu, góp ý kiến cho việc sáng tạo, làm phản biện, hướng dẫn khoa học không thể là tác giả của tác phẩm Kết quả của lao động do tư duy sáng tạo mang lại phải định hình dưới dạng vật chất nhất định (trên giấy, phim nhựa, băng đĩa từ, băng đĩa lade, gỗ, kim loại hoặc bất kì loại hình vật chất nào đã có và sẽ có trong tương lai) Điều đó có nghĩa quyền tác giả không phát sinh đối với những ý tưởng sáng tạo, pháp luật không bảo hộ ý tưởng Pháp luật chỉ bảo hộ những ý tưởng về văn học, nghệ thuật và khoa học đã được hình thành bằng tác phẩm và định hình ở bất kì dạng vật chất nào Cần phân biệt tác giả và những người khác đã đóng góp công sức vào việc tạo ra tác phẩm Tác giả đích thực
Trang 35của một tác phẩm là người đã trực tiếp tạo ra tác phẩm bằng lao động sáng tạo của mình Cá nhân, tổ chức làm công việc hỗ trợ, đóng góp ý kiến hoặc cung cấp phương tiện kỹ thuật, tư liệu, cung cấp tài chính, đưa ra các ý tưởng để người khác sáng tạo thì không phải là tác giả
2.2.2 Chủ sở hữu quyền tác giả
Trong Bộ luật dân sự, tuy không có định nghĩa trực tiếp về chủ sở hữu tác phẩm,
nhưng có thể liệt kê những người được coi chủ sở hữu tác phẩm Chủ sở hữu tác phẩm
có thể là một trong những chủ thể sau đây:
- Tác giả là chủ sở hữu toàn bộ hoặc một phần tác phẩm do mình sáng tác tạo, trừ
trường hợp tác phẩm được sáng tạo theo nhiệm vụ được giao, theo hợp đồng Hay nói cách khác chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả, trong trường hợp này, tác giả đồng thời
là chủ sở hữu quyền tác giả Nó là dạng cổ điển, bởi lẽ thông thường người sáng tạo là người đầu tư thời gian, tài chính và các điều kiện vật chất khác quyết định việc hình thành tác phẩm, như việc nhà văn viết tiểu thuyết, nhạc sĩ viết nhạc
- Các đồng tác giả là chủ sở hữu chung tác phẩm do họ cùng sáng tạo, trừ trường hợp tác phẩm được sáng tạo theo nhiệm vụ được giao, theo hợp đồng Dạng này cũng tương tự như dạng nêu trên Thay vì một người độc lập sáng tạo ra tác phẩm, bằng từ hai người trở lên cùng sáng tạo ra tác phẩm Trong trường hợp có phần riêng biệt, có thể tách ra độc lập, không gây phương hại tới phần khác, các đồng tác giả không có thỏa thuận khác thì tác giả của phần riêng biệt là chủ sở hữu đối với phần riêng biệt đó
- Cơ quan, tổ chức giao nhiệm vụ cho tác giả là chủ sở hữu toàn bộ hoặc một phần tác phẩm do tác giả sáng tạo theo nhiệm vụ mà cơ quan hoặc tổ chức giao Dạng này bao gồm việc sáng tạo tác phẩm theo nhiệm vụ do tổ chức quản lí nhân sự giao, như việc họa sĩ của nhà xuất bản vẽ bìa sách, trình bày minh họa sách và việc sáng tạo được thực hiện theo hợp đồng lao động, như việc “viết thuê”
- Cá nhân hoặc tổ chức giao kết hợp đồng sáng tạo với tác giả là chủ sở hữu toàn
bộ hoặc một phần tác phẩm do tác giả sáng tạo theo hợp đồng;
- Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của tác giả là chủ sở hữu tác phẩm được thừa kế trong trường hợp tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm đó Tùy theo hàng thừa kế, theo quy định pháp luật thừa kế, người thừa kế được hưởng quyền đối với di sản văn học, nghệ thuật và khoa học của người chết để lại là chủ sở hữu quyền tác giả
- Cá nhân hoặc tổ chức được chủ sở hữu tác phẩm chuyển giao các quyền của mình đối với tác phẩm theo hợp đồng là chủ sở hữu quyền được chuyển giao Dạng này bao gồm các trường hợp của chủ sở hữu quyền tác giả chuyển nhượng một, một số
Trang 36hoặc toàn bộ các quyền tài sản theo cam kết tại hợp đồng Tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng là chủ sở hữu
-Chủ sở hữu quyền tác giả là Nhà nước, dạng này bao gồm các trường hợp, tác phẩm còn trong thời hạn bảo hộ nhưng chủ sở hữu quyền đã chết, không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận di sản, hoặc không được quyền hưởng di sản hoặc trường hợp chủ sở hữu chuyển giao quyền tác giả cho Nhà nước Người quản lí tác phẩm khuyết danh được hưởng quyền của chủ sở hữu đến khi danh tính của tác giả xuất hiện Nhà nước là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm khuyết danh khi không thuộc các trường hợp nêu trên
-Tác phẩm thuộc về công chúng là những tác phẩm đã kết thúc thời hạn bảo hộ Điều đó có nghĩa không có tổ chức, cá nhân nào là chủ sở hữu các quyền tác giả Mọi
tổ chức, cá nhân đều có quyền sử dụng nó, nhưng phải tôn trọng các quyền nhân thân theo quy định pháp luật
Pháp luật về quyền tác giả bảo hộ thành quả lao động sáng tạo trí tuệ của cá nhân tác giả, đồng thời cũng bảo hộ thành quả đầu tư của pháp nhân hoặc chủ thể khác Do vậy bên cạnh việc bảo hộ các quyền tinh thần cũng như vật chất của tác giả, pháp luật còn quy định quyền và bảo hộ quyền của chủ sở hữu tác phẩm Chủ sở hữu tác phẩm thực chất được hiểu là chủ thể nắm giữ toàn bộ các quyền kinh tế đối với tác phẩm Các quyền kinh tế này bao gồm: quyền công bố, phổ biến tác phẩm, độc quyền khai thác tác phẩm, cho hoặc không cho người khác sử dụng tác phẩm và quyền khai thác tác phẩm và quyền được hưởng lợi ích vật chất từ việc cho người sử dụng khác sử dụng tác phẩm
2.2.3 Tổ chức, cá nhân được ủy quyền đăng ký quyền tác giả
Theo quy định tại Điều 50 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm
2009 thì tổ chức, cá nhân được tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả theo ủy quyền thì được phép nộp đơn đăng ký quyền tác giả Để được đăng ký quyền tác giả thì tổ chức,
cá nhân cần phải có giấy ủy quyền (điểm c, khoản 2 điều 50)
Tại Điều 57 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì tổ chức
tư vấn, dịch vụ quyền tác giả được đại diện cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả tiến hành thủ tục nộp đơn đăng ký quyền tác giả theo ủy quyền Tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật (khoản 1 điều
57 Nghị định 3198/2013) và người đứng đầu tổ chức, cá nhân hoạt động tư vấn, dịch
vụ quyền tác giả đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
- Là công dân Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
- Thường trú tại Việt Nam;
Trang 37- Có bằng tốt nghiệp đại học luật
2.3 Chủ thể tiếp nhận đăng ký quyền tác giả
Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Cá nhân, tổ chức
Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính:
- Cơ quan có thẩm quyền quyết định: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
- Cơ quan trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính: Cục Bản quyền tác giả
- Cơ quan phối hợp: Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch
Các chủ thể có thể nộp đơn đăng ký quyền tác giả ở những địa điểm sau:
Phòng Thông tin Quyền tác giả, Cục Bản quyền tác giả
Địa chỉ: Ngõ 151 Hoàng Hoa Thám, Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội
Điện thoại: 0438 234 304
Văn phòng Đại diện Cục Bản quyền tác giả tại Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: 170 Nguyễn Đình Chiểu, Phường 6, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh Điện thoại: 0839 308 086
Văn phòng Đại diện Cục Bản quyền tác giả tại Thành phố Đà Nẵng
Địa chỉ: 58 Phan Chu Trinh, Quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng
Điện thoại: 05113 606 967
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nơi tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan cư trú hoặc có trụ sở là nơi tiếp nhận đơn và chuyển về Cục Bản quyền tác giả xem xét, giải quyết theo thẩm quyền
2.4 Bộ hồ sơ đăng ký Quyền tác giả
Hồ sơ đăng ký quyền tác giả (đơn đăng ký quyền tác giả) được quy định tại Điều
50 khoản 2 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) bao gồm:
a) Tờ khai đăng ký quyền tác giả
Cá nhân, tổ chức nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả sử dụng Mẫu số 1: Tờ khai đăng ký quyền tác giả (Mẫu số 1 ban hành kèm theo Quyết định số 88/2006/QĐ-
BVHTTDL ngày 17 tháng 10 năm 2006 về việc ban hành các mẫu tờ khai, giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan) Tờ khai phải được làm bằng tiếng Việt và do chính tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc người được ủy quyền nộp hồ sơ ký tên và ghi đầy đủ thông tin về người nộp hồ sơ, tác giả tóm tắt nội dung tác phẩm, tên tác giả, tác phẩm được sử dụng làm tác phẩm phái sinh nếu tác phẩm
Trang 38đăng ký là tác phẩm phái sinh; thời gian, địa điểm, hình thức công bố; cam đoan về trách nhiệm đối với các thông tin ghi trong đơn
b) Hai bản sao tác phẩm đăng ký quyền tác giả
Một bản lưu tại Cục Bản quyền tác giả, một bản đóng dấu ghi số Giấy chứng nhận đăng ký gửi trả lại cho chủ thể được cấp Giấy chứng nhận đăng ký Đối với những tác phẩm có đặc thù riêng như tranh, tượng, tượng đài, phù điêu, tranh hoành tráng gắn với công trình kiến trúc; tác phẩm có kích thước quá lớn, cồng kềnh bản sao tác phẩm đăng ký được thay thế bằng ảnh chụp không gian ba chiều
c) Giấy uỷ quyền, nếu người nộp hồ sơ là người được uỷ quyền
d) Tài liệu chứng minh quyền nộp hồ sơ, nếu người nộp hồ sơ thụ hưởng quyền
đó của người khác do được thừa kế, chuyển giao, kế thừa;
e) Văn bản đồng ý của các đồng tác giả, nếu tác phẩm có đồng tác giả
f) Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu, nếu quyền tác giả thuộc sở hữu chung
Các tài liệu quy định về Giấy uỷ quyền, nếu người nộp hồ sơ là người được uỷ quyền; tài liệu chứng minh quyền nộp hồ sơ, nếu người nộp hồ sơ thụ hưởng quyền
đó của người khác do được thừa kế, chuyển giao, kế thừa; văn bản đồng ý của các đồng tác giả, nếu tác phẩm có đồng tác giả; văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu, nếu quyền tác giả, quyền liên quan thuộc sở hữu chung phải được làm bằng tiếng Việt; trường hợp làm bằng tiếng nước ngoài thì phải được dịch ra tiếng Việt và có công chứng, chứng thực Các tài liệu gửi kèm hồ sơ nếu là bản sao phải có công chứng, chứng thực
2.5 Hình thức đăng ký quyền tác giả
2.5.1 Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả
Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có thể trực tiếp
hoặc uỷ quyền cho tổ chức, cá nhân khác nộp 01 hồ sơ đăng ký quyền tác giả, quyền liên
quan tại trụ sở Cục Bản quyền tác giả hoặc Văn phòng đại diện của Cục Bản quyền tác giả tại Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Đà Nẵng hoặc Sở Văn hoá, Thể thao và
Du lịch nơi tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan cư trú hoặc
có trụ sở Hồ sơ có thể gửi qua đường bưu điện9