Tại Công ước này, ngoài việc đưa ra những định nghĩa quan trọng làm cơ sở thống nhất nhận thức về quyền của người khuyết tật, Công ước đã liệt kê quyền con người có ý nghĩa quan trọng đố
Trang 1Bộ Môn Luật Thương Mại
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2011-2015
Đề tài:
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Lớp: Luật Hành Chính – K37
Cần Thơ, 11/2014
Trang 2Lời Cảm Ơn
Trong suốt khoảng thời gian bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô, gia đình và bạn bè Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin được gửi lời cám ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại học Cần Thơ, Ban chủ nhiệm Khoa Luật cùng quý Thầy Cô là giảng viên Khoa Luật đã tận tình dạy bảo tôi, truyền đạt những kiến thức, những kinh nghiệm quý báu trong học tập và cả những kỹ năng sống ngoài xã hội, để tôi có được hành trang cần thiết bước vào đời
Đặc biệt hơn, tôi xin cám ơn Thầy Kim Oanh Na, tuy luôn bận
rộn với công việc giảng dạy, song thầy vẫn dành cho tôi sự quan tâm, giúp đỡ để tôi có điều kiện thuận lợi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này Nếu như không có những lời hướng dẫn, dạy bảo ân cần của thầy thì tôi nghĩ sẽ rất khó có thể hoàn thành được Một lần nữa, tôi xin chân thành cám ơn thầy
Trong quá trình viết cũng như tìm hiểu đề tài, dù đã rất cố gắng nhưng do vốn kiến thức còn hạn chế Vì vậy, những sai sót trong quá trình thực hiện đề tài là điều không thể tránh khỏi Vì vậy, tôi rất mong
sẽ nhận được những ý kiến đóng góp của quý Thầy Cô và các bạn sinh viên để vốn kiến thức cũng như đề tài luận văn tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn
Một lần nữa tôi xin chân thành cám ơn!
Cần Thơ, ngày 18 tháng 11 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Đinh Quốc Huy
Trang 3… …
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014
Trang 4… …
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014
Trang 6… …
Trang
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục luận văn 2
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ CHẾ ĐỘ CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI KHUYẾT TẬT 3
1.1 Một số khái niệm liên quan về người khuyết tật 3
1.1.1 Người khuyết tật 3
1.1.2 Quyền con người và quyền của người khuyết tật 4
1.1.3 Sức khỏe và chăm sóc sức khỏe người khuyết tật 7
1.2 Nguyên nhân và khó khăn mà người khuyết tật gặp phải 8
1.2.1 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng khuyết tật 8
1.2.2 Những khó khăn mà người khuyết tật gặp phải 9
1.3 Đặc điểm người khuyết tật và phân loại chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật 10
1.3.1 Đặc điểm người khuyết tật 10
1.3.2 Phân loại chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật 12
1.4 Nguyên tắc, mục đích và ý nghĩa của chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật 14
1.4.1 Nguyên tắc cơ bản của chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật 14
1.4.2 Mục đích của chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật 16
1.4.3 Ý nghĩa của chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật 16
1.5 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về quyền và chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật 17
1.5.1 Trong pháp luật quốc tế 17
1.5.2 Trong pháp luật Việt Nam 19
Trang 7KHỎE NGƯỜI KHUYẾT TẬT 22
2.1 Chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật trong Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật năm 2006 22
2.1.1 Quyền hưởng các dịch vụ y tế 22
2.1.2 Quyền được hỗ trợ chức năng và phục hồi chức năng 23
2.1.3 Quyền có mức sống thích đáng và được bảo trợ xã hội đầy đủ 24
2.1.4 Quyền được hỗ trợ để sống độc lập và hòa nhập vào cộng đồng 24
2.1.5 Quyền được hỗ trợ trong việc di chuyển 26
2.2 Chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật trong pháp luật Việt Nam 27
2.2.1 Chăm sóc sức khỏe ban đầu 27
2.2.2 Khám bệnh, chữa bệnh 30
2.2.3 Phục hồi chức năng 32
2.2.4 Những chính sách hỗ trợ chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật 35
2.3 Trách nhiệm của các chủ thể trong chăm sóc sức khỏe người khuyết tật 37
2.3.1 Đối với các tổ chức quốc tế 37
2.3.2 Đối với khu vực 38
2.3.3 Đối với một quốc gia 38
Chương 3: THỰC TRẠNG, NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN VÀ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN VẤN ĐỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI KHUYẾT TẬT 43
3.1 Thực trạng người khuyết tật và chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật tại Việt Nam 43
3.1.1 Đối với người khuyết tật 43
3.1.2 Đối với các vấn đề liên quan đến người khuyết tật 44
3.1.3 Đối với chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật 48
3.2 Thuận lợi và khó khăn về chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật 49
3.2.1 Những thuận lợi về chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật 49
3.2.2 Những khó khăn về chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật 51
3.3 Giải pháp nhằm hoàn thiện chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật 53
Trang 83.3.2 Bảo đảm thực hiện trách nhiệm của các chủ thể có liên quan đến vấn đề
chăm sóc sức khỏe người khuyết tật 53
3.3.3 Bảo đảm điều kiện, khả năng tiếp cận và hòa nhập cho người khuyết tật 54
3.3.4 Xã hội hóa các hoạt động trợ giúp người khuyết tật 54
3.3.5 Mở rộng mạng lưới cơ sở nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe người khuyết tật 55
3.3.6 Mở rộng mạng lưới và hỗ trợ cho hoạt động của các tổ chức của người khuyết tật và tổ chức vì người khuyết tật 55
3.3.7 Đầu tư tài chính cho hoạt động chăm sóc sức khỏe người khuyết tật 55
3.3.8 Hỗ trợ học nghề, giải quyết việc làm và thực hiện các chế độ bảo trợ xã hội cho người khuyết tật 56
3.3.9 Thực hiện việc bồi dưỡng, nâng cao kiến thức và cải tạo cơ sở vật chất 56
3.3.10 Tăng cường hợp tác quốc tế 57
KẾT LUẬN 58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong cuộc đời của mỗi con người, ai cũng đều phải trải qua giai đoạn sinh, lão, bệnh, tử Trong những giai đoạn này, thì dường như vấn đề làm thế nào để có một sức khỏe tốt, tránh được các bệnh tật, đảm bảo sống lâu, sống khỏe, sống có ích cho bản thân, gia đình và xã hội là một trong những mong muốn của tất cả mọi người Với những người từ khi sinh ra hoặc trong quá trình sinh sống nhưng vì một lý do nào đó dẫn đến bị khuyết tật thì nhu cầu chăm sóc sức khỏe đối với họ càng quan trọng hơn Vì người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm một chức năng nào đó khiến họ gặp nhiều khó khăn so với người bình thường Với họ, chỉ có vượt qua những khó khăn về bệnh, tật trước mắt thì mới có thể tạo điều kiện giúp họ hướng tới những cơ hội khác trong cuộc sống Do đó, việc chăm sóc sức khỏe đối với người khuyết tật là một vấn đề quan trọng được các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam quan tâm từ rất sớm
Bởi vậy, ngày 13 tháng 12 năm 2006 Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật và đến ngày 30 tháng 03 năm 2007 Công ước đã mở ra cho các nước tham gia ký kết Đây là bản Công ước về nhân quyền
đầu tiên của thế kỷ XXI – một công cụ pháp luật hữu hiệu đầu tiên bảo vệ quyền của
người khuyết tật và cũng được xem là một hành động cụ thể mà cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm đối với người khuyết tật Theo đó, Công ước đã đánh dấu một bước ngoặc quan trọng trong việc khẳng định quyền của người khuyết tật nói chung, quyền được bảo
vệ và chăm sóc sức khỏe nói riêng Tại Công ước này, ngoài việc đưa ra những định nghĩa quan trọng làm cơ sở thống nhất nhận thức về quyền của người khuyết tật, Công
ước đã liệt kê quyền con người có ý nghĩa quan trọng đối với người khuyết tật trong đó
có quyền được chăm sóc sức khỏe
Còn tại Việt Nam, với truyền thống nhân đạo “thương người như thể thương
thân” người khuyết tật đã nhận được rất nhiều sự quan tâm từ Đảng và Nhà nước Hiến
pháp qua các lần sửa đổi đều khẳng định rằng người khuyết tật được hưởng các quyền công dân trong đó có quyền được chăm sóc sức khỏe Ngoài ra, tại kỳ họp thứ 7, khóa XII ngày 17 tháng 6 năm 2010, Quốc hội đã thông qua Luật người khuyết tật Từ đó, đã
đánh dấu một bước tiến lớn về chính sách của Đảng và Nhà nước ta dành cho người
khuyết tật, đặc biệt là công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe và tạo điều kiện cho người khuyết tật hòa nhập vào cộng đồng Qua đó góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống cho người khuyết tật, tạo được môi trường thuận lợi cho người khuyết tật tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội và xây dựng môi trường xã hội ngày càng tốt hơn cho người khuyết tật Tuy nhiên, trong quá trình chăm sóc sức khỏe người khuyết tật đã phát sinh
Trang 10nhiều vấn đề như: Do số lượng người khuyết tật còn chiếm tỷ lệ cao nên việc chăm sóc sức khỏe còn gặp nhiều khó khăn Thêm vào đó các cơ sở y tế ở cấp xã còn thiếu người
có chuyên môn, kinh nghiệm về khám bệnh, chữa bệnh cho người khuyết tật Và vẫn còn nhiều rào cản trong việc khuyến khích người khuyết tật hòa nhập với cộng đồng
Xuất phát từ những cơ sở nêu trên, việc nghiên cứu đề tài: “Chăm sóc sức khỏe
người khuyết tật theo Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật năm 2006 và pháp luật Việt Nam” là một vấn đề cấp thiết cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn Từ những lý
do đó người viết chọn đề tài này để làm luận văn tốt nghiệp Cử nhân Luật cho mình
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật
theo Công ước quyền của người khuyết tật 2006 và pháp luật Việt Nam Về pháp luật Việt Nam thì chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật được tìm hiểu thông qua Luật người khuyết tật năm 2010; Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009; Luật bảo hiểm y tế năm 2008; Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là chủ yếu tìm hiểu chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật, các vấn đề liên quan đến chăm sóc sức khỏe và thực trạng trong chế độ chăm sóc sức khỏe đối với người khuyết tật
3 Mục tiêu nghiên cứu
Để làm sáng tỏ các vấn đề về chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật trong
pháp luật quốc tế nói chung cũng như pháp luật Việt Nam nói riêng, trên cơ sở đó đánh giá quá trình chăm sóc sức khỏe dành cho người khuyết tật Từ đó nêu lên thực trạng, những thuận lợi, khó khăn và sau đó đưa ra những giải pháp về chăm sóc sức khỏe dành cho người khuyết tật được tốt hơn trong quá trình phát tiển kinh tế - xã hội như hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu người viết có kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như: Phân tích, đánh giá, so sánh, tổng hợp Đồng thời có sử dụng phương pháp liệt kê các văn bản pháp luật có liên quan đến chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật
Trang 11Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ CHẾ ĐỘ
CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI KHUYẾT TẬT
Trong nội dung chương này, người viết chủ yếu tập trung trình bày những vấn đề
cơ bản liên quan đến NKT và chế độ CSSK NKT bao gồm: Khái niệm về NKT; quyền con người và quyền của NKT; SK và CSSK NKT Từ đó tìm hiểu về đặc điểm NKT, những nguyên nhân dẫn đến KT và những khó khăn mà NKT gặp phải Tiếp đến là phân loại, nguyên tắc, mục đích và ý nghĩa của chế độ CSSK NKT Ngoài ra, người viết còn trình bày sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật đối với quyền của NKT
và chế độ CSSK NKT trong pháp luật quốc tế cũng như trong pháp luật Việt Nam
1.1 Một số khái niệm liên quan về người khuyết tật
1.1.1 Người khuyết tật
Như chúng ta đã biết, NKT là những người bất hạnh vì nhiều nguyên nhân khác nhau như: Bệnh, tật, tai nạn hay bẩm sinh họ không có khả năng lao động chân tay hiệu quả như bao người khác Áp lực tâm lý đối với NKT cũng rất lớn, đó là những mặc cảm,
tự ti về khiếm khuyết trên cơ thể, là những gánh nặng mà họ đem đến cho gia đình và xã hội Vì vậy, họ chính là những đối tượng cần được tạo điều kiện trong cuộc sống hơn người bình thường Để đảm bảo quyền và lợi ích cho NKT, việc hiểu như thế nào cho
đúng về khái niệm NKT là một điều hết sức cần thiết
Như vậy, cần phân biệt 02 luận điểm trái ngược nhau Một bên quan niệm vấn đề
KT là ở chính tại con người và chú trọng rất ít hoặc không để ý đến các yếu tố về môi trường xã hội và môi trường vật thể xung quanh người đó, quan điểm này được gọi là quan điểm mô hình KT cá nhân hay mô hình KT dưới góc độ y tế Một cách nhìn nhận khác lại cho rằng KT là một sản phẩm của xã hội, được bắt nguồn từ môi trường vật thể
và môi trường xã hội không đáp ứng được những nhu cầu của từng cá nhân hoặc từng nhóm đối tượng cụ thể Theo mô hình này, xã hội tạo ra NKT bằng cách công nhận chuẩn mực lý tưởng về một con người hoản hảo về thể chất lẫn tinh thần
Từ đó có thể thấy được cả 02 mô hình này đều có những điểm mạnh và hạn chế nhất định, phụ thuộc vào mục tiêu điều chỉnh của hệ thống luật pháp Mô hình KT cá nhân hoặc y tế có thể phát huy tốt tác dụng trong một số lĩnh vực cụ thể như y tế, phục hồi chức năng và bảo đảm xã hội Trong khi đó, mô hình KT xã hội có thể là một công cụ quan trọng để giải quyết các nguyên nhân gốc rễ của NKT bị tách biệt khỏi cuộc sống, vấn đề về những bất lợi và vấn đề về phân biệt đối xử Mô hình xã hội ghi nhận rằng câu trả lời cho câu hỏi liệu ai đó có bị xếp vào danh sách NKT hay không có liên quan chặt chẽ đến các yếu tố như văn hóa, thời gian và môi trường
Theo Công ước quốc tế về quyền của NKT năm 2006, NKT được hiểu là: “Những
người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương
Trang 12tác với những rào cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”.1
Còn theo Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998, khái niệm về người tàn tật được
hiểu như sau: “Người tàn tật không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người bị khiếm
khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới dạng tàn tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn”.2
Luật NKT được ban hành vào năm 2010 đã thay thế cho Pháp lệnh về người tàn
tật năm 1998 Theo đó, Luật đã chính thức sử dụng khái niệm “người khuyết tật” thay cho khái niệm “người tàn tật” để phù hợp với khái niệm và xu hướng nhìn nhận của thế
giới về vấn đề KT
Như vậy, theo quy định của Luật NKT năm 2010 thì: “NKT được hiểu là người bị
khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”.3
Theo cách hiểu này thì NKT bao gồm cả những người bị KT bẩm sinh, người bị khiếm khuyết do tai nạn, thương binh, bệnh binh Luật NKT Việt Nam đã đưa ra khái niệm NKT dựa vào mô hình xã hội, tuy nhiên còn chung chung so với khái niệm được quy định trong Công ước quốc tế về quyền của NKT năm 2006.4
Thông qua quy định của các hệ thống pháp luật khác nhau cho thấy, để đưa ra
được một khái niệm thuyết phục, phù hợp và thống nhất về NKT là một điều không hề dễ
dàng Tuy nhiên, cho dù tiếp cận ở bất cứ góc độ nào, thì nhất thiết cách định nghĩa đó phải phản ánh được thực tế là NKT có thể gặp các rào cản do yếu tố xã hội, môi trường hoặc con người khi tham gia vào hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội Phải đảm bảo được rằng, họ có quyền và trách nhiệm tham gia vào mọi hoạt động của đời sống như bất cứ công dân nào với tư cách là quyền của con người Với những cách tiếp cận đó, có thể đưa
ra khái niệm NKT như sau:
NKT là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của NKT vào các hoạt động xã hội dựa trên cơ sở bình đẳng như những chủ thể khác
1.1.2 Quyền con người và quyền của người khuyết tật
Quyền con người
Quyền con người trước hết là quyền của mỗi cá nhân được hưởng, được tôn trọng
và được bảo vệ Đặc biệt là đối với những nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội và
PGS.TS Nguyễn Hữu Trí (chủ biên), “Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam”, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, năm 2011, trang 19-20
Trang 13theo Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 cần phải đảm bảo rằng: “Mọi người đều có quyền được công nhận tư cách là con người trước pháp luật ở mọi nơi”.5
Trong lịch sử của nhân loại, thuật ngữ quyền con người vẫn thường được sử dụng, nhưng cho đến nay, chúng ta cần phải thừa nhận rằng rất khó có thể tìm thấy một định nghĩa triết học “kinh điển” nào nói về quyền con người
Quyền con người là một phạm trù đa diện, do đó quyền con người có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau và hiện nay trên thế giới cũng có rất nhiều quan điểm trái ngược nhau (theo một tài liệu của LHQ, có đến gần 50 định nghĩa về quyền con người đã
Ngoài ra, còn có quan điểm cho rằng quyền con người là quyền hiển nhiên xuất hiện một cách bẩm sinh, mà cá thể ở đây là con người cho nên nó phụ thuộc vào bất cứ
điều kiện truyền thống, văn hóa, cộng đồng hay Nhà nước nào
Quan điểm khác coi quyền con người là quyền pháp lý vì cho rằng quyền con người phải do Nhà nước xác định và được cụ thể hóa trong các quy định của pháp luật Chính vì vậy, không thể đưa ra một khái niệm khoa học hoàn chỉnh về quyền con người,
được cộng đồng quốc tế công nhận và ủng hộ tuyệt đối
Ở Việt Nam, một số định nghĩa về quyền con người do một số chuyên gia, cơ
quan nghiên cứu nêu ra Tuy nhiên, những cách định nghĩa đó cũng không hoàn toàn giống nhau Nhưng xét chung, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và được bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.7 Một trong những thay đổi lớn nhất của Hiến pháp năm 2013 chính là chế định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được đề cao, thể hiện sự nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn trong việc thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đề cao nhân tố con người, coi con người
là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển
Do đó, từ góc độ luật học chúng ta có thể khái quát chung về quyền con người như
sau: “Quyền con người được hiểu là nhu cầu cần thiết, chính đáng và phổ biến của con
người được xã hội thừa nhận và pháp luật ghi nhận”
5
Điều 6, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948
6
Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, “Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người”, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2009, trang 41
7
Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, “Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người”, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2009, trang 42
Trang 14Quyền của người khuyết tật
NKT cũng là con người nên họ rất cần sự cảm thông, chia sẻ và bảo vệ của xã hội Hiện tại, NKT đang phải gánh chịu sự phân biệt đối xử, bạo hành và sự lạm dụng chính
từ gia đình và cộng đồng, nhất là đối với phụ nữ và trẻ em KT Đa phần NKT đều ít được tiếp cận với các dịch vụ cơ bản của xã hội như: Giáo dục, y tế, các dịch vụ hỗ trợ việc làm đặc biệt là những đối tượng sống ở vùng sâu, vùng xa và vùng nông thôn
Do đó việc đưa ra các quy định về quyền của NKT sẽ góp một phần quan trọng trong việc bảo vệ NKT Cùng với đó, sự hình thành khái niệm quyền của NKT cũng sẽ tạo ra cơ sở pháp lý giúp cho NKT không còn tiếp nhận thụ động sự chăm sóc của những người xung quanh mà sẽ trở thành chủ thể được hưởng các quyền trong pháp luật Từ đó,
sẽ gạt bỏ đi các rào cản trong xã hội, tạo cơ hội cho NKT cùng hòa nhập và phát triển
Vì NKT cần được trao những quyền cần thiết cho sự phát triển, nên quyền của NKT là tất cả những gì mà NKT cần có để được sống, được hòa nhập một cách lành mạnh và không bị phân biệt đối xử Vì thế, quyền của NKT được xây dựng dựa trên những nhu cầu, đặc điểm trong cuộc sống của NKT Như vậy, quyền của NKT chính là những đặc quyền tự nhiên được hưởng, được làm, được tôn trọng và được thực hiện nhằm đảm bảo sự sống còn, tham gia và phát triển toàn diện
Ngoài ra, tại Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 có quy định: “Mọi
người sinh ra đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và các quyền” Theo quy định này,
NKT cũng sẽ được hưởng quyền tự do và bình đẳng trong việc hưởng các quyền con người và như vậy quyền của NKT chính là quyền con người được cụ thể hóa cho phù hợp với nhu cầu, đặc trưng và tính chất cuộc sống của NKT
Bên cạnh đó trong pháp luật quốc tế, quyền của NKT được quy định trong nhiều Công ước và riêng ở Công ước quốc tế về quyền của NKT năm 2006 thì quyền của NKT
được quy định một cách cụ thể và đầy đủ nhất Công ước đã bao quát được tất cả các khía
cạnh, trong đó bao gồm 05 nhóm quyền, cụ thể là: Quyền được sống và được đối xử bình
đẳng; quyền được đảm bảo tự do an toàn; quyền được bảo vệ; quyền được tham gia;
quyền được hỗ trợ đặc biệt, có cơ hội và được phát triển bằng chính công việc do bản thân tự do lựa chọn
Còn trong pháp luật Việt Nam, đầu tiên quyền của NKT được quy định trong các bản Hiến pháp, tiếp theo đó là Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998 và trải qua nhiều giai
đoạn, quyền của NKT được phát triển trong các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau
Cho đến hôm nay, pháp luật về quyền của NKT ở nước ta đang dần được hoàn thiện, nhiều quyền của NKT đã được quy định một cách đầy đủ, trong đó cụ thể nhất đó là Luật NKT năm 2010 Luật NKT năm 2010 đưa ra các quyền cơ bản của NKT bao gồm: Tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội; sống độc lập, hòa nhập cộng đồng; được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội; được CSSK, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng,
Trang 15phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch
vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ KT.8
1.1.3 Sức khỏe và chăm sóc sức khỏe người khuyết tật
Đề cập đến SK, chúng ta thường nghe những câu nói phổ biến như: “Sức khỏe là
vàng”, “sức khỏe là vốn quý nhất”, “mất sức khỏe là mất tất cả” Hiện tại, đối với
chúng ta có lẽ ai cũng đã biết và quan tâm nhiều đến tầm quan trọng của SK, đặc biệt là
đối với những nhóm NKT thì vấn đề SK, CSSK đối với họ càng quan trọng và cấp thiết
hơn
Tuy nhiên, trước đây việc CSSK NKT chủ yếu dựa vào người thân trong gia đình hoặc từ lòng hảo tâm của các cá nhân, tổ chức, nhà thờ hay nhà chùa Sau đó, trải qua nhiều giai đoạn việc CSSK NKT được chuyển dần từ mục đích từ thiện của các nhân, tổ chức sang trách nhiệm của Nhà nước và cộng đồng Song, cho đến nay vẫn chưa có một văn bản nào đưa ra định nghĩa về SK và CSSK NKT Nên vì thế, chúng ta chỉ có thể hiểu
và đưa ra các khái niệm này dựa trên cơ sở các nghiên cứu và quy định về SK và CSSK con người nói chung
Đến nay, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa ra định nghĩa về SK của con người
như sau: “SK là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không
chỉ bao gồm tình trạng không có bệnh hay thương tật”.9
Đối với NKT, do các đặc trưng về tình trạng bệnh, tật nên đối với họ rất khó có
thể đạt được trạng thái thoải mái toàn diện về SK như những người bình thường Mong
ước lớn nhất của NKT chính là được khôi phục hoặc hỗ trợ khôi phục các bộ phận bị
khiếm khuyết, sớm ổn định SK để tự mình thực hiện được các hoạt động, sinh hoạt hằng ngày, tiến tới tham gia các hoạt động học tập, lao động để nuôi sống bản thân, từ đó có những đóng góp cho đất nước và xã hội Vì thế, có thể hiểu SK NKT là tình trạng ổn định toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội Để NKT đạt được sự ổn định về SK thì phải quan tâm hợp lý cả 03 mặt đó là: SK thể chất, SK tâm thần và SK xã hội.10
Ngoài ra, Công ước của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cũng như pháp luật các nước trong đó có Việt Nam đã đặt ra 05 quan điểm cơ bản, chủ yếu chỉ đạo công tác CSSK con người, trong đó có NKT, đó là: SK là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội; Đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển; Thực hiện CSSK toàn diện; Xã hội hóa các hoạt động CSSK; Phát triển nhân lực y
PGS.TS Nguyễn Hữu Trí (chủ biên), “Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam”, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, năm 2011, trang 144-145
11
GS.TS Trương Việt Dũng (chủ biên), TS Nguyễn Duy Luật, “Tổ chức và quản lý y tế”, Nxb Y học, Hà Nội,
năm 2007, trang 46-58
Trang 16Từ 05 quan điểm chỉ đạo này và nhằm để đạt được sự chăm sóc toàn diện 03 mặt của SK NKT một cách hợp lý, có thể hiểu CSSK NKT bao gồm chăm sóc y tế và chăm sóc ngoài y tế Trong đó, chăm sóc y tế bao gồm: Phòng bệnh; khám bệnh, chữa bệnh;
điều dưỡng, phục hồi chức năng những công việc này do ngành y tế đảm nhiệm Còn
về chăm sóc ngoài y tế bao gồm: Tập luyện thể dục thể thao; chăm sóc về dinh dưỡng; vệ sinh môi trường những công việc này do các ngành khác đảm nhiệm
1.2 Nguyên nhân và khó khăn mà người khuyết tật gặp phải
1.2.1 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng khuyết tật
Qua nghiên cứu, người viết nhận thấy có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến KT Trong đó, nguyên nhân do KT bẩm sinh gây ra chiếm 36%, do bệnh tật chiếm 32%, do hậu quả từ chiến tranh chiếm 14% và do tai nạn lao động chiếm 6%.12
Nhưng ở đây người viết chỉ đề cập đến một nguyên nhân dẫn đến tình trạng KT phổ biến và chiếm tỷ lệ cao nhất đó là nguyên nhân do KT bẩm sinh
KT bẩm sinh hay còn được gọi là dị tật bẩm sinh, đây là tên gọi chung chỉ các bất thường của thai nhi Một trẻ sơ sinh có thể mắc một hoặc nhiều KT, KT bẩm sinh có thể
được phát hiện sớm trong khi mang thai, lúc sinh hoặc thậm trí nhiều năm sau khi sinh
KT bẩm sinh có thể gây ra thay đổi bề ngoài của trẻ hoặc làm ảnh hưởng đến các cơ quan chức năng Các KT này được hình thành từ một số lỗi trong quá trình hình thành và phát triển của các cơ quan chức năng Phần lớn các KT bẩm sinh xảy ra trong thời kỳ 03 tháng
Hiện tại có tới 3000 KT bẩm sinh khác nhau được phát hiện, nhưng có 03 nhóm chính về KT bẩm sinh đó là: KT cấu trúc, KT di truyền và các KT gây ra bởi nhiễm khuẩn hay các yếu tố độc hại từ môi trường.14 Dưới đây chính là những đặc điểm cơ bản của từng dạng KT bẩm sinh, cụ thể:
Về KT cấu trúc: KT cấu trúc chỉ các trường hợp KT hoặc biến dạng bất thường
bởi một hay nhiều bộ phận của cơ thể Nhiều dạng KT bên ngoài đơn giản, dễ phát hiện
và dễ điều trị, ví dụ như chân bị khoèo Nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều dạng KT phức tạp liên quan tới nội tạng như tim, ruột Điển hình thường gặp của KT cấu trúc là KT ống thần kinh, có tỷ lệ 01 trên 350 thai nhi KT ống thần kinh gây ra bởi sự không toàn vẹn
12
Qũy những trái tim Huế, “Hiệu quả chương trình cấp xe lăn cho NKT ở Việt Nam do tổ chức DOVE Fund, P.E.T
International và Qũy những trái tim Huế phối hợp thực hiện”, cap-xe-lan-cho-nguoi-khuyet-tat-o-viet-nam-do-to-chuc-dove-fund-p-e-t-international-va-quy-nhung-trai-tim-hue- phoi-hop-thuc-hien/ , [truy cập ngày 28/8/2014]
http://www.heartsforhue.org/hieu-qua-chuong-trinh-13
Bác sĩ Nguyễn Công Nghĩa, “Khuyết tật bẩm sinh – những điều cần biết”,
http://www.benhvienphusanhanoi.vn/Chiti%E1%BA%BFt/tabid/103/mid/1129/ArticleID/393/PreTabId/456/dnnprin tmode/true/Default.aspx?SkinSrc=%5BG%5DSkins%2F_default%2FNo+Skin&ContainerSrc=%5BG%5DContaine rs%2F_default%2FNo+Container , [truy cập ngày 21/8/2014]
14
Bác sĩ Nguyễn Công Nghĩa, “Khuyết tật bẩm sinh – những điều cần biết”,
http://www.benhvienphusanhanoi.vn/Chiti%E1%BA%BFt/tabid/103/mid/1129/ArticleID/393/PreTabId/456/dnnprin tmode/true/Default.aspx?SkinSrc=%5BG%5DSkins%2F_default%2FNo+Skin&ContainerSrc=%5BG%5DContaine rs%2F_default%2FNo+Container , [truy cập ngày 21/8/2014]
Trang 17của ống sống hay não bộ, thường gặp hơn nữa trong KT cấu trúc là KT tim với tỷ lệ 01 trên 125 thai nhi.15
Về KT gen và di truyền: KT di truyền gây ra bởi những lỗi của một hay nhiều gen
di truyền được thừa hưởng từ bố mẹ hoặc do mất đoạn, thay đổi cấu trúc hay thêm nhiễm sắc thể Trong rối loạn nhiễm sắc thể, thường gặp nhất là hội chứng nhiễm sắc thể Rối loạn nhiễm sắc thể thường xảy ra do lỗi vào thời điểm tinh trùng gặp trứng Khi người mẹ càng lớn tuổi, nguy cơ rối loạn nhiễm sắc thể cho thai nhi càng cao Điển hình của nhóm này là các bệnh như thoát vi rốn, hở thành bụng, khoèo chân
Về KT do nhiễm khuẩn hay các yếu tố độc hại: Nhiễm khuẩn của người mẹ khi
mang thai, nghiện rượu hoặc một số thuốc dùng khi mang thai có thể gây ra KT thai nhi Ngoài ra, khi tiếp xúc thường xuyên với nồng độ cao của một số hóa chất độc hại như: Chất phóng xạ, thủy ngân, chì thì cũng có thể gây ra dị tật
1.2.2 Những khó khăn mà người khuyết tật gặp phải
Vươn lên hòa nhập cộng đồng là ước mơ và là mong mỏi của tất cả mọi NKT Việc khiếm khuyết đi một phần về thể chất không làm mất đi giá trị cũng như năng lực của NKT, nhưng do những rào cản vô hình như: Sự phân biệt đối xử từ cộng đồng xã hội,
sự mặc cảm của bản thân về sự khiếm khuyết của mình đã khiến cho việc hòa nhập cộng
đồng của nhiều NKT gặp nhiều khó khăn như: Khó khăn trong học tập, việc làm, hôn
nhân, tâm lý Dưới đây chính là một số khó khăn mà NKT gặp phải:
Về học tập: Với những khiếm khuyết của mình, trình độ học vấn của NKT rất
thấp, đặc biệt là ở những NKT trí tuệ hoặc cơ quan thu nhận cảm giác (khiếm thính, khiếm thị) có khả năng tiếp thu trí thức khó khăn, KT vận động ít bị ảnh hưởng hơn Do
đó, NKT cần có một hình thức giáo dục đặc biệt phù hợp với đặc điểm khiếm khuyết của
mình, điều này đôi khi yêu cầu đầu tư về cơ sở vật chất nhiều hơn so với giáo dục thông thường Vì vậy, nếu sự hỗ trợ từ phía chính quyền, cơ quan giáo dục và bản thân người giáo dục không tốt thì việc duy trì học tập tiếp lên cao sẽ khó có thể đạt được
Về việc làm: Khó khăn trong học tập cũng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng xin
việc của NKT, vì trình độ học vấn chung của NKT thấp hơn so với những người bình thường Ngoài ra, yêu cầu của một số công việc phải có ngoại hình và phải có một SK tốt, nhưng với những khiếm khuyết của mình, NKT khó có thể đáp ứng được Điều này cũng có thể giảm thiểu bằng cách tránh những công việc liên quan đến những hạn chế của mình Ví dụ như: KT ở chân thì không nên chọn những công việc đi lại quá nhiều
Về hôn nhân: Trong lĩnh vực hôn nhân, NKT gặp rất nhiều khó khăn so với người
bình thường, điều này có rất nhiều nguyên nhân Nhưng theo nguyên lý chung thì con
15
Bác sĩ Nguyễn Công Nghĩa, “Khuyết tật bẩm sinh – những điều cần biết”,
http://www.benhvienphusanhanoi.vn/Chiti%E1%BA%BFt/tabid/103/mid/1129/ArticleID/393/PreTabId/456/dnnprin tmode/true/Default.aspx?SkinSrc=%5BG%5DSkins%2F_default%2FNo+Skin&ContainerSrc=%5BG%5DContaine rs%2F_default%2FNo+Container , [truy cập ngày 21/8/2014]
Trang 18người có xu hướng lựa chọn bạn đời có một bộ gen tốt, do vậy NKT thường bị cho là lựa chọn “dưới tiêu chuẩn” nên nhiều người lại có những ý nghĩ cho rằng NKT chỉ nên kết hôn với NKT, điều đó đã thể hiện một sự phân biệt đối xử hết sức rõ ràng Tiếp theo là những lo sợ về mặt di truyền, khả năng chăm sóc con cái kém, khó khăn về kinh tế và xấu hổ với xã hội Thêm vào đó là sự kỳ thị, được thể hiện qua cả giới tính và như thường
lệ thì người phụ nữ vẫn là người chịu thiệt thòi nhiều hơn, cùng bị KT nhưng nam giới có khả năng lập gia đình cao hơn so với nữ giới Ngoài ra, nhóm NKT do chất độc màu da cam và KT bẩm sinh cũng khó có thể kết hôn so với những nhóm KT khác
Về tâm lý: Tâm lý khá đông của NKT là mặc cảm, tự đánh giá thấp bản thân mình
so với những người bình thường Ở những NKT nhìn hoặc NKT thiếu chi, thì họ có các biểu hiện tâm lý giống như mặc cảm ngoại hình, tức là sự chú trọng quá mức đến khiếm khuyết cơ thể Tiếp đến là nỗi ám ảnh sợ xã hội, một kiểu trốn tránh và sợ hãi khi thực hiện các hoạt động mang tính chất cộng đồng Tuy nhiên, điều này không phải lúc nào cũng đúng, nhiều NKT vẫn luôn cố gắng nỗ lực tồn tại và phát triển
Về kỳ thị và phân biệt đối xử: Cản trở lớn nhất đối với NKT đó chính là sự kỳ thị,
nó là rào cản vô hình nhưng vô cùng tàn nhẫn, đẩy nhiều NKT ra bên lề của cuộc sống
Và kỳ thị không phải là vấn đề thuộc vật chất, theo những nghiên cứu của các nhà khoa học nó là vấn đề thuộc tâm lý và sự ý thức sâu xa của cuộc sống, của con người Ngoài
ra, kỳ thị còn xảy ra đối với nhóm thiểu số và mang những đặc điểm bị cho là bất lợi Người ta bắt gặp thái độ đó với nhóm người nhiễm HIV, những người đồng tính luyến ái,
tội nhân sau khi ra tù
Về bạo lực: NKT có nhiều khả năng là nạn nhân của bạo hành hoặc hãm hiếp, vì ít
có khả năng tự bảo vệ, chăm sóc và phòng ngừa Nhiều nghiên cứu cho thấy, bạo hành trẻ
em KT xảy ra hằng năm cao hơn so với những trẻ có cùng vị thế nhưng không bị KT
Đặc biệt là phụ nữ và các trẻ em gái KT dễ bị tổn thương và lạm dụng Như vậy, NKT
nói chung dễ trở thành đối tượng của bạo lực hơn cả về mặt thể xác lẫn tinh thần
1.3 Đặc điểm người khuyết tật và phân loại chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật
1.3.1 Đặc điểm người khuyết tật
NKT trước hết là những con người nên họ mang những đặc điểm chung về mặt kinh tế - xã hội, đặc điểm tâm sinh lý như những người khác trong xã hội Tuy nhiên, với những đặc điểm riêng về từng dạng KT nên NKT được đặt trên 02 phương diện:16
Về phương diện pháp lý: Làm rõ các đặc điểm của NKT là một trong những cơ sở,
căn cứ khoa học tác động đến việc quy định, ban hành, thực thi, áp dụng pháp luật và chính sách đối với NKT
16
PGS.TS Nguyễn Hữu Trí (chủ biên), “Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam”, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, năm 2011, trang 21
Trang 19Về phương diện triết học: Điều chỉnh mối quan hệ giữa NKT với “phần còn lại”
của xã hội và giữa NKT với nhau thì “cái chung” phải bao hàm “cái riêng” nhưng “cái riêng” thì bao giờ cũng phong phú hơn “cái chung”
Như vậy, đặc điểm NKT được đặt dưới 02 góc độ:
Đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ kinh tế - xã hội
Trước hết NKT là nhóm cư dân đặc biệt nên phải chịu thiệt thòi về mặt kinh tế -
xã hội và nhân khẩu học.17 Những gia đình có NKT thường có xu hướng thiếu nguồn nhân lực cho lao động, nên vì vậy có năng lực sản xuất thấp hoặc có quá nhiều người sống phụ thuộc dẫn đến gánh nặng về kinh tế Bên cạnh đó trình độ học vấn của các thành viên trong gia đình thường không cao nên chất lượng lao động thấp Nhiều chủ hộ gia đình lại chính là NKT có SK yếu Tài sản của gia đình NKT thường nghèo nàn, thu nhập ở mức thấp, chính vì điều đó điều kiện sống và sinh hoạt không tốt, ảnh hưởng xấu
đến cuộc sống, SK của các thành viên trong gia đình Ngoài ra, NKT từ 15 tuổi trở lên rất
khó có việc làm, hầu hết NKT chưa bao giờ đi làm hoặc đã từng đi làm nhưng vẫn bị tình trạng thất nghiệp KT chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp của họ
Mặt khác, vì tình trạng KT của mình, NKT phải gánh chịu rất nhiều thiệt thòi và khó khăn trong cuộc sống Để khắc phục vấn đề này, NKT chủ yếu dựa vào gia đình và những nguồn giúp đỡ đối với họ Những khó khăn càng trở lên trầm trọng hơn do thái độ tiêu cực của cộng đồng đối với NKT, mà cụ thể nhất ở đây đó chính là sự kỳ thị và phân biệt đối xử Điều này diễn ra dưới nhiều hình thức, ở nhiều bối cảnh khác nhau Trong cộng đồng, nhiều người coi NKT là đáng thương, là gánh nặng của xã hội Về nhận thức pháp luật, nhiều người không hề biết đến những quy định của pháp luật về NKT Từ đó dẫn đến sự kỳ thị, phân biệt đối xử và điều đó nó diễn ra ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực
Bên cạnh đó, hoạt động hỗ trợ, trợ giúp cho NKT còn rất hạn chế Ngoài ra, sự hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng còn mang tính từ thiện nhiều hơn là phát triển con người Hầu hết NKT được hỗ trợ như bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, lương thực nhưng lại ít
được trợ giúp trong việc làm, dạy nghề và tham gia các hoạt động xã hội
Đặc điểm của NKT dưới góc độ dạng tật và mức độ KT
KT được phân loại dựa theo các quan điểm khác nhau của những nhà nghiên cứu, nhưng nói chung thường dựa vào tiêu chí của sự khiếm khuyết trên các bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng Tại Việt Nam, việc phân loại NKT thường dựa trên quy định
về dạng KT và mức độ KT Theo đó, các dạng KT bao gồm: KT vận động; KT nghe, nói;
KT nhìn; KT thần kinh, tâm thần; KT trí tuệ và KT khác.18 Mỗi loại KT này có những
đặc điểm nhất định về tâm, sinh lý qua đó tác động đến các nhu cầu và sự hòa nhập của
NKT
17
PGS.TS Nguyễn Hữu Trí (chủ biên), “Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam”, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, năm 2011, trang 22
18
Điều 3, Khoản 1, Luật người khuyết tật năm 2010
Trang 20Dưới đây chính là đặc điểm của từng dạng KT:
Khuyết tật vận động: Là những người có cơ quan vận động bị tổn thương, biểu
hiện dễ thấy nhất đó là khó khăn trong việc ngồi, nằm, di chuyển, cầm, nắm NKT vận
động gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt cá nhân, vui chơi, học tập và lao động, nhưng
đa số NKT vận động có bộ não phát triển bình thường cho nên họ tiếp thu được chương
trình học tập, làm được những công việc có ích cho bản thân, gia đình và xã hội
Khuyết tật nghe, nói: Là những người có khó khăn đáng kể về nghe và nói, dẫn
đến hạn chế về đọc và viết Từ đó, dẫn đến những hạn chế trong sinh hoạt, làm việc, học
tập và hòa nhập vào cộng đồng Để giảm bớt khó khăn họ cần được dùng phương tiện trợ giúp (máy trợ thính), ngôn ngữ kí hiệu trong giao tiếp tổng hợp
Khuyết tật nhìn (KT về thị giác, khiếm thị): Là những người có KT về mắt như
hỏng mắt, không đủ sức nhận biết hữu hình bằng mắt hoặc nhìn thấy không rõ ràng NKT nhìn có trí tuệ phát triển bình thường, có 02 cơ quan phân tích thường rất phát triển đó là thính giác và xúc giác Ngôn ngữ, tư duy, hành vi và cách ứng xử của người này cũng giống như những người bình thường
Khuyết tật trí tuệ: Xét về mức độ, đây là nhóm KT thường phải chịu nhiều thiệt
thòi và nhiều khó khăn trong cuộc sống KT trí tuệ được xác định khi chức năng trí tuệ dưới mức trung bình khi chỉ số thông minh đạt gần 70 hoặc thấp hơn 70 trên một lần trắc nghiệm cá nhân Kế tiếp đó là thiếu hụt hoặc bị khiếm khuyết ít nhất là 02 trong số những hành vi thích ứng sau: Giao tiếp, tự chăm sóc, sống tại gia đình, kỹ năng xã hội/cá nhân,
sử dụng các tiện ích trong cộng đồng, tự định hướng, kỹ năng học đường, làm việc, giải trí, sức khỏe và an toàn Và cuối cùng đó là tật xuất hiện trước 18 tuổi NKT về trí tuệ có nhiều hạn chế làm ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của họ và người thân họ về trí tuệ
Trên đây là những nhóm NKT chiếm tỷ lệ chủ yếu trong tổng số NKT Xét ở góc
độ đặc điểm về tâm, sinh lý cho thấy tính đa dạng của KT và rõ ràng việc đảm bảo các
quyền của họ dưới phương diện pháp lý cũng cần phải tính đến yếu tố đặc thù của các dạng KT khác nhau Ngoài các nhóm NKT nói trên còn có các nhóm NKT khác như: Người bị rối loạn hành vi cảm xúc, người mắc hội chứng tự kỷ, người bị rối loạn ngôn ngữ, người đa tật
1.3.2 Phân loại chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật
Căn cứ vào chủ thể thực hiện CSSK NKT
Căn cứ vào chủ thể thực hiện CSSK NKT, có thể chia chế độ CSSK NKT thành các loại: Chế độ CSSK NKT do Nhà nước thực hiện; chế độ CSSK NKT do các tổ chức thực hiện và chế độ CSSK NKT do gia đình và bản thân NKT thực hiện, cụ thể như sau:
Chế độ CSSK NKT do Nhà nước thực hiện: Nhà nước là chủ thể thực hiện chủ
yếu, có trách nhiệm chính trong việc CSSK NKT Cụ thể, Nhà nước quy định Bộ Lao
Trang 21động – Thương binh và Xã hội thực hiện quản lý Nhà nước, Bộ Y tế thực hiện quản lý về
Theo mô hình các lĩnh vực hoạt động, gồm các lĩnh vực: Lĩnh vực y tế dự phòng; lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng; lĩnh vực đào tạo nhân lực y tế; lĩnh vực giám định, kiểm nghiệm, kiểm dịch; lĩnh vực dược, thiết bị y tế; lĩnh vực tuyên truyền, truyền thông và chính sách y tế.22
Tổ chức vì NKT là tổ chức xã hội, được thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động trợ giúp NKT, trong đó có trợ giúp về CSSK Các tổ chức vì NKT được hình thành rất đa dạng, bao gồm các tổ chức phi chính phủ, liên chính phủ, các tổ chức và đoàn thể khác.25
Ngoài ra, các tổ chức, đoàn thể khác cũng tham gia vào hoạt động CSSK NKT
Chế độ CSSK do gia đình và bản thân NKT thực hiện: Gia đình NKT có vai trò
quan trọng trong việc CSSK NKT, gia đình không chỉ thực hiện các hoạt động về giáo dục SK, thực hiện các biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu tình trạng KT và các nguy cơ
19
PGS.TS Nguyễn Hữu Trí (chủ biên), “Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam”, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, năm 2011, trang 152
20
PGS.TS Nguyễn Hữu Trí (chủ biên), “Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam”, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, năm 2011, trang 152
21
Khoản 2, Điều 81, Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009
22
PGS.TS Nguyễn Hữu Trí (chủ biên), “Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam”, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, năm 2011, trang 153
23
PGS.TS Nguyễn Hữu Trí (chủ biên), “Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam”, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, năm 2011, trang 153
24
PGS.TS Nguyễn Hữu Trí (chủ biên), “Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam”, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, năm 2011, trang 153
25
PGS.TS Nguyễn Hữu Trí (chủ biên), “Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam”, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, năm 2011, trang 154
Trang 22khác dẫn đến KT, mà còn phải có trách nhiệm tạo điều kiện để NKT được CSSK, tôn trọng ý kiến NKT trong việc quyết định những vấn đề liên quan đến CSSK cho bản thân NKT Ngoài ra, hơn ai hết, chính bản thân NKT là người hiểu rõ nhất về tình trạng SK của mình và nhu cầu CSSK cho bản thân Do đó, NKT cần có kiến thức, hiểu biết về SK, các biện pháp phòng ngừa bệnh, tật, tự chăm sóc cho bản thân để tăng cường SK
Căn cứ vào nội dung các hoạt động CSSK NKT
Căn cứ vào nội dung các hoạt động CSSK NKT, có thể chia chế độ CSSK NKT thành các loại như sau: Chế độ phòng bệnh; chế độ khám bệnh, chữa bệnh và chế độ chỉnh hình, phục hồi chức năng, cụ thể như sau:
Chế độ phòng bệnh: Mục đích của chế độ phòng bệnh là nhằm ngăn ngừa không
để KT xảy ra, làm giảm hoặc loại bỏ nguy cơ gây ra KT Đồng thời, còn ổn định, tăng
cường SK cho NKT Hiện nay chế độ phòng bệnh cho NKT tập trung vào các nội dung như: Tuyên truyền, giáo dục SK; tư vấn các biện pháp phòng ngừa và phát hiện sớm KT; phòng bệnh nói chung và các vấn đề khác Để đảm bảo thực hiện chế độ phòng bệnh hiệu quả, công bằng và đáp ứng được nhu cầu của NKT, đòi hỏi cần có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan Nhà nước, hệ thống cơ sở y tế và nhất là sự hoàn thiện không ngừng về nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng
Chế độ khám bệnh, chữa bệnh: Mục đích của chế độ này là nhằm phát hiện sớm
KT và chữa trị khi KT phát sinh Trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh, NKT được người có chuyên môn thực hiện các biện pháp y tế chuẩn đoán và chỉ định phương pháp
điều trị phù hợp Khi khám bệnh, chữa bệnh NKT được hưởng các quyền lợi theo quy định của pháp luật
Chế độ chỉnh hình và phục hồi chức năng: Chế độ này không chỉ nhằm mục đích
phục hồi khả năng của các bộ phận hoặc chức năng nào đó đã bị mất hoặc suy giảm, mà còn nhằm tăng cường các khả năng còn lại để hạn chế hậu quả của KT, giúp NKT sớm ổn
định SK Hoạt động phục hồi chức năng bao gồm hoạt động phẫu thuật chỉnh hình, trợ
giúp kỹ thuật cùng các phương tiện hỗ trợ sinh hoạt để NKT có thể đi lại, giao tiếp và thực hiện được các công việc khác trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày
1.4 Nguyên tắc, mục đích và ý nghĩa của chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật
1.4.1 Nguyên tắc cơ bản của chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật
Đa dạng hóa các hoạt động CSSK NKT
Hoạt động CSSK NKT khác với việc CSSK người không KT Bởi vì do sự thiếu hụt, bất thường về bộ phận hoặc chức năng nào đó của cơ thể đã cản trở NKT thực hiện vai trò, nhiệm vụ của mình, trong khi đó với những người bình thường có thể tự mình thực hiện được, cho nên việc CSSK NKT rất khó khăn và phức tạp
Ngoài rào cản lớn nhất là sự kỳ thị của xã hội và cộng đồng thì tâm lý mặc cảm, tự
ti của NKT trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh cũng làm ảnh hưởng tới quá trình
Trang 23CSSK Bản thân NKT luôn bị ám ảnh bởi bệnh, tật, luôn coi mình là gánh nặng của gia
đình và của xã hội, vì vậy NKT thường ít có sự hợp tác đầy đủ trong quá trình tư vấn hay
chữa trị Do đó, hoạt động CSSK NKT luôn được cộng đồng, xã hội đặc biệt quan tâm và
được thực hiện bằng nhiều biện pháp, nhiều cách thức khác nhau để mang lại một hiệu
quả cao nhất
Hoạt động CSSK NKT được thực hiện ở tầm vĩ mô như: Lồng ghép các yêu cầu CSSK NKT trong các chính sách về kinh tế - xã hội, các chương trình, dự án phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm và xóa đói giảm nghèo Còn ở tầm vi mô, CSSK NKT
được thực hiện đồng bộ bằng các hoạt động về chăm sóc y tế và các hoạt động chăm sóc
ngoài y tế
Thực hiện đa dạng các loại hình, các cơ sở CSSK Khai thác các nguồn đầu tư khác để tăng cường công tác CSSK NKT như: Bảo hiểm y tế tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ Đặc biệt chú trọng các hoạt động giúp đỡ NKT tham gia hội nhập vào xã hội như: Giáo dục hòa nhập, giáo dục chuyên biệt, cải thiện nhà ở
Xã hội hóa các hoạt động CSSK NKT
Các nguyên nhân gây ra KT vô cùng đa dạng nên thường dẫn đến các dạng tật và mức độ KT không giống nhau, trong khi đó NKT lại có hoàn cảnh gia đình, điều kiện kinh tế, nhu cầu CSSK khác nhau Vì thế, để đáp ứng nhu cầu cần thiết cho NKT cũng như đảm bảo mục đích CSSK, pháp luật về CSSK NKT quy định các kênh khác nhau để thực hiện hoạt động này
Xuất phát từ chức năng xã hội của mình, Nhà nước thống nhất quản lý nhà nước
và quản lý chuyên môn về CSSK NKT Hằng năm, Nhà nước bố trí ngân sách để thực hiện chế độ CSSK NKT Ngoài ra, Nhà nước còn khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu
tư, tài trợ, trợ giúp về tài chính, kỹ thuật, vật chất để thực hiện hoạt động CSSK NKT
đồng thời quy định trách nhiệm của gia đình NKT thực hiện các biện pháp giáo dục SK,
ngăn ngừa và giảm thiểu KT, khuyến khích sự vươn lên của chính bản thân NKT
Hiện nay, các hoạt động CSSK NKT mang tính chất toàn cầu, mở rộng ra phạm vi khu vực và thế giới, được chính phủ các nước, các tổ chức liên chính phủ, tổ chức phi chính phủ đặc biệt quan tâm
Ưu tiên hợp lý trong hoạt động CSSK NKT
Ưu tiên trong CSSK NKT là nhằm giúp NKT có đủ điều kiện để tiếp cận và sử
dụng các dịch vụ y tế cơ bản, thiết yếu theo nhu cầu của NKT Dựa vào mức độ KT cũng như các đặc điểm đặc thù của NKT mà pháp luật quy định đối tượng được ưu tiên trong lĩnh vực này gồm: NKT đặc biệt nặng, NKT nặng, trẻ em KT, người cao tuổi KT, phụ nữ
KT có thai, NKT có công với cách mạng Và chế độ ưu tiên trong CSSK được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: Miễn phí, giảm phí, ưu tiên trong thứ tự khám bệnh, chữa bệnh, cấp thuốc
Trang 24Ưu tiên trong CKSK NKT còn thể hiện sự công bằng xã hội Bởi công bằng ở đây
không có nghĩa là cung cấp các dịch vụ CSSK đồng đều cho mọi NKT, mà trước hết phải
ưu tiên cho trường hợp NKT rơi vào hoàn cảnh mà bản thân họ không tự giải quyết được
1.4.2 Mục đích của chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật
Thứ nhất, thể chế hóa đầy đủ và toàn diện chủ chương, đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước ta, thể hiện sự quan tâm của xã hội đối với việc bảo vệ, CSSK NKT
Thứ hai, tạo giải pháp hỗ trợ và tạo điều kiện tốt nhất giúp NKT tiếp cận được các
chương trình an sinh xã hội, hỗ trợ về cơ sở vật chất, nhằm giúp NKT ổn định SK, vượt qua những khó khăn của bệnh, tật, đảm bảo được cuộc sống và vươn lên hòa nhập vào cộng đồng
Thứ ba, thể hiện sự quan tâm của toàn xã hội và lòng nhân đạo sâu sắc giữa con
người với con người trong cùng một cộng đồng, đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng chính
1.4.3 Ý nghĩa của chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật
Ý nghĩa xã hội và nhân văn: Cũng như các chế độ khác, chế độ CSSK đối với
NKT thể hiện lòng nhân đạo sâu sắc giữa con người với con người trong cùng một cộng
đồng, trong mỗi một quốc gia và trên toàn thế giới Đó chính là sự sẻ chia, cảm thông
không biên giới với những người bất hạnh, “yếu thế” do những rủi ro nào đó gây ra Sự giúp đỡ về các điều kiện vật chất và tinh thần trong quá trình CSSK ban đầu, khám bệnh, chữa bệnh, chỉnh hình và phục hồi chức năng là nhằm đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng chính đáng của mọi NKT Từ đó, giúp khắc phục một phần nào đó các khó khăn, bất lợi
từ tình trạng KT, để có thể vượt qua những mặc cảm, tự ti về ngoài hình, về bệnh, tật để vươn lên khẳng định bản thân
Ý nghĩa pháp lý: Chế độ CSSK NKT bảo đảm quyền được CSSK của NKT Tuyên
ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 cũng đã khẳng định rằng: “Mọi người đều có
quyền được hưởng một mức sống thích đáng, đủ để đảm bảo SK và phúc lợi của bản thân
và gia đình, về các khía cạnh ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ của xã hội cần thiết, cũng như có quyền được bảo hiểm trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tàn phế, góa bụa, già nua hoặc thiếu phương tiện sinh sống do những hoàn cảnh khách quan vượt quá khả năng đối với họ”.26 Bằng việc quy định cụ thể trong Hiến pháp và luật chuyên ngành, pháp luật NKT đã tạo cơ sở để NKT thực hiện quyền được CSSK Đồng thời, quy
26
Điều 26, Khoản 1, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948
Trang 25định trách nhiệm của các bộ, ban, ngành, nhất là ngành y tế và cộng đồng xã hội trong
nâng cao chất lượng, hiệu quả và công bằng xã hội trong các hoạt động này
Ý nghĩa kinh tế: Chế độ CSSK NKT tạo điều kiện để NKT có cơ hội tham gia vào
các quyền khác Một khi SK được đảm bảo, NKT sẽ tìm kiếm được việc làm, mang lại nguồn thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình Với số lượng NKT khá đông như hiện nay, nếu như được CSSK phù hợp và hiệu quả thì NKT sẽ trở thành nguồn nhân lực tiềm tàng cho đất nước Thực tế cho thấy, NKT luôn được đánh giá cao về lòng tận tụy và luôn
có ý chí vươn lên trong công việc Ngoài ra, khi SK được đảm bảo NKT sẽ có cơ hội để tham gia vào các hoạt động xã hội khác, thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của một công dân, từ đó sẽ có nhiều đóng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
1.5 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về quyền và chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật
1.5.1 Trong pháp luật quốc tế
Đối với quyền của người khuyết tật
Trong những năm 40 và 50 của thế kỷ XX, LHQ mới chỉ tập trung vào việc thúc
đẩy các quyền của NKT về thể chất thông qua phương pháp tiếp cận an sinh xã hội Hiến
chương và các Công ước về quyền con người được các nước phê chuẩn trong giai đoạn này, nhưng vẫn chưa có các quy định riêng đề cập đến vấn đề NKT và quyền của NKT
Chính những bất lợi mà NKT phải đối mặt, cũng như tình trạng bị phân biệt đối xử mới được nhận thức rõ ràng hơn và từ đó được nêu thành vấn đề về quyền của NKT Việc dần thay đổi cách tiếp cận phúc lợi xã hội sang cách tiếp cận dựa vào quyền con người được thể hiện thông qua việc đề cập một cách cụ thể về NKT trong các Hiến chương, các Công ước và các sáng kiến về quyền con người được phê chuẩn từ những năm 1980 và trong nhiều các văn bản luật pháp quốc tế Tuy nhiên, thường không mang tính bắt buộc, nhưng vẫn được các tổ chức như LHQ và Ủy ban châu Âu thông qua
Bản tuyên bố của LHQ về quyền người chậm phát triển và Bản tuyên bố về quyền của NKT được thông qua vào những năm 70, đây được coi là văn kiện quốc tế đầu tiên quy định rõ các nguyên tắc nhân quyền liên quan đến NKT Tuy nhiên, các văn kiện này sớm bị chỉ trích bởi nhiều người cho rằng chúng chỉ thể hiện các quan điểm y tế và từ thiện đối với NKT
Vào thập niên 80, việc xác định lại các vấn đề NKT theo mô hình xã hội diễn ra ở khắp các quốc gia, đây được xem như là kết quả của các phong trào ủng hộ cho quyền của NKT đang dấy lên ở tầm quốc tế Các quyền con người của NKT trở thành một phần quan trọng trong chương trình nghị sự của các chính sách quốc tế
Chương trình hành động thế giới liên quan đến NKT được thông qua bởi LHQ tại phiên họp lần thứ 37 năm 1982, đây được xem là một chiến lược toàn cầu Theo đó “bình
đẳng cơ hội” được sử dụng làm nguyên tắc chỉ đạo để đạt được sự tham gia của NKT
Trang 26Giai đoạn 1983 – 1992 được LHQ lấy làm thập kỷ của NKT 02 văn kiện pháp lý quốc tế mới của Đại hội đồng LHQ gắn với quyền của NKT đó là: Các nguyên tắc bảo vệ người mắc bệnh tâm thần và Cải thiện việc CSSK tâm thần đã được thông qua vào năm
1991 Đây có thể được coi là tiêu chuẩn chung cho việc đánh giá việc thực hiện các quyền con người trong hệ thống SK tâm thần quốc gia
Vào kỳ họp thứ 56, Ủy ban nhân quyền đã thông qua Nghị quyết 2000/51 ngày 25/4/2000, mang tên “nhân quyền của NKT” Nghị quyết kêu gọi các chính phủ đưa các vấn đề nhân quyền liên quan đến NKT vào hoạt động giám sát thực hiện các điều ước quốc tế, để xem xét đưa ra các biện pháp tăng cường bảo vệ và giám sát các quyền con người của NKT
Các sáng kiến nhằm phát triển một Công ước về quyền của NKT được phát động bởi Mexico vào năm 2001, theo sau đó chính là nỗ lực của LHQ về việc đưa vấn đề quyền của NKT vào thành một phần của Cương lĩnh hành động được thông qua tại Hội nghị thế giới chống chủ nghĩa chủng tộc ở Durban, Nam Phi Ngay sau đó, Mexico đã
đưa ra đề nghị trước Đại hội đồng LHQ và đã thông qua một Nghị quyết vào ngày
28/11/2001, kêu gọi một Ủy ban lâm thời với nhiệm vụ xây dựng một Công ước quốc tế toàn diện, trọn vẹn về bảo vệ quyền và nhân phẩm của NKT
Ngày 19/12/2001, Đại hội đồng LHQ thông qua Quyết định 56/168 về việc thành lập một Ủy ban đặc biệt, nhằm xem xét các đề xuất xây dựng Công ước quốc tế toàn diện
và đầy đủ về NKT Tháng 6/2003, LHQ đã quyết định xúc tiến xây dựng Công ước này
Sau sáu năm với tám phiên họp, toàn thể đại biểu của các quốc gia thành viên do
Ủy ban đặc biệt của Đại hội đồng LHQ triệu tập để đóng góp xây dựng cho dự thảo của
Công ước
Ngày 13/12/2006, tại kỳ họp lần thứ 61 của Đại hội đồng LHQ, toàn thể đại biểu
đã nhất trí thông qua Công ước quốc tế về quyền của NKT Đây là văn bản quy phạm
pháp luật quốc tế đầu tiên khẳng định mọi sự tiếp cận của NKT đều dựa trên quyền của NKT
Công ước quốc tế về quyền của NKT năm 2006 ra đời nhằm vào việc thúc đẩy, bảo vệ và đảm bảo cho NKT được hưởng đầy đủ và bình đẳng tất cả quyền con người và quyền tự do cơ bản, đồng thời thúc đẩy sự tôn trọng phẩm giá vốn có của NKT.27
Đối với chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật
Do vấn đề NKT mới được pháp luật quốc tế đề cập vào những năm cuối của thế
kỷ XX Vì vậy, cũng như các chế độ khác (chế độ giáo dục, dạy nghề, việc làm, bảo trợ
xã hội, văn hóa, thể thao ), chế độ CSSK NKT cũng mới được quan tâm và điều chỉnh Lần đầu tiên vào năm 1989 trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em, Tổ chức LHQ quy
27
PGS.TS Nguyễn Hữu Trí (chủ biên), “Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam”, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, năm 2011, trang 86-96
Trang 27định vấn đề bảo vệ quyền của trẻ em KT, trong đó có quyền được CSSK (Điều 23) Sau
đó, đến năm 1991 LHQ thông qua văn kiện về Các nguyên tắc bảo vệ người bị bệnh tâm
thần và tăng cường CSSK tâm thần
Đến năm 2006, LHQ đã đánh dấu một bước ngoặc quan trọng của việc khẳng định
quyền của NKT nói chung, quyền được bảo vệ và CSSK nói riêng bằng việc thông qua Công ước quốc tế về quyền của NKT năm 2006 Tại Công ước này, ngoài việc đưa ra những định nghĩa quan trọng làm cơ sở cho việc thống nhất nhận thức về NKT, quy định các nguyên tắc chỉ đạo chung, Công ước còn liệt kê các quyền con người có ý nghĩa quan trọng đối với NKT, trong đó có quyền được CSSK quy định tại các Điều 25 và Điều 26
1.5.2 Trong pháp luật Việt Nam
Đối với quyền của người khuyết tật
Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1985: Ở giai đoạn này, các quy định của pháp
luật về NKT còn rất hạn chế và chủ yếu là các văn bản có tính chất định khung như: Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh Tất cả các văn bản này đều có ý nghĩa về mặt pháp lý trong giai
đoạn này đối với NKT, họ được thừa nhận các quyền như mọi công dân trong xã hội Tuy
nhiên, do bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội lúc này còn gặp nhiều khó khăn nên các điều kiện và cơ hội để NKT hòa nhập cộng đồng hầu như vẫn chưa được ghi nhận
Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2009: Trước khi Pháp lệnh về người tàn tật ra đời
nhiều văn bản có giá trị pháp lý cao được ban hành và đề cập đến người tàn tật như: Hiến pháp năm 1992, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, Bộ luật lao động năm 1994, Luật bảo
vệ SK nhân dân năm 1989, Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp năm 1993, Luật thuế
chuyển quyền sử dụng đất năm 1994
Đến năm 1998, lần đầu tiên ở nước ta một văn bản có hiệu lực pháp lý cao được
quy định dành riêng cho đối tượng tàn tật đó là Pháp lệnh về người tàn tật được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua vào ngày 30/7/1998, gồm 8 Chương và 35 Điều
Từ khi Pháp luật người tàn tật ra đời đến hết năm 2008, Quốc hội, Ủy ban thường
vụ Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành và cơ quan trung ương đã ban hành 19 luật chuyên ngành có chương, điều quy định về các nội dung liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của NKT, trách nhiệm của gia đình, nhà nước và xã hội đối với NKT Ví dụ như: Luật dạy nghề năm 2007, Luật giáo dục năm 2005, Luật trợ giúp pháp lý năm 2006, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2005
Ngoài ra, từ năm 1998 đến cuối năm 2008 Chính phủ và các bộ, ngành, cơ quan
đã ban hành trên 200 văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn tổ chức thực hiện các quy định của các văn bản Luật và Pháp lệnh Trong đó có 14 Nghị định của Chính phủ, 06
Quyết định và 01 Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, 25 Thông tư của bộ và liên bộ.28
28
PGS.TS Nguyễn Hữu Trí (chủ biên), “Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam”, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, năm 2011, trang 71
Trang 28Nhìn chung trong 10 năm kể từ khi Pháp lệnh người tàn tật ra đời, hệ thống văn bản pháp luật về trợ giúp người tàn tật do các cơ quan từ trung ương đến địa phương ban hành tương đối là đầy đủ Tuy nhiên, các chính sách và pháp luật về NKT trong giai đoạn này vẫn ảnh hưởng nhiều bởi tư duy bảo trợ xã hội cho đối tượng này
Giai đoạn từ năm 2010 đến nay: Ngày 09/01/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành Chỉ thị số 01/2006/CT-TTg về thực hiện đẩy mạnh các chính sách trợ giúp người tàn tật, theo đó Thủ tướng Chính phủ đã chỉ thị cho các Bộ, ngành tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các chính sách trợ giúp NKT, trong đó giao cho Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tiếp tục rà soát, đánh giá kết quả triển khai thực hiện Pháp lệnh về người tàn tật và các văn bản có liên quan, chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, đề xuất các biện pháp sửa đổi, bổ sung hoặc trình cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các chính sách đối với người tàn tật Xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ đề án hỗ trợ người tàn tật giai đoạn 2006 – 2010, tổ chức thực hiện đề án sau khi được phê duyệt.29
Tiếp theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 29/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 24/10/2006 về phê duyệt đề án trợ giúp người tàn tật giai
đoạn 2006-2010
Và cuối cùng tại kỳ họp thứ 7 ngày 17/6/2010, Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XII đã thông qua Luật NKT năm 2010, góp phần hoàn thiện hơn trong hệ thống chính sách dành cho NKT.30
Đối với chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật
Ở Việt Nam, Đảng, Nhà nước và toàn dân luôn tôn trọng và chăm lo bảo vệ cho
NKT cũng như CSSK đối với NKT Trong quy định của Hiến pháp qua các lần sửa đổi
đều khẳng định NKT được hưởng các quyền của công dân nói chung, trong đó có quyền được CSSK
Pháp lệnh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1979 cũng quy định rằng:
“Trẻ em KT được chăm sóc, điều trị và được dạy những nghề thích hợp”.31
Thông tư của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội số 06-LĐ/TBXH/TT ngày 20/08/1987 về việc cấp phát, sử dụng, thanh toán tiền chân tay giả và dụng cụ chỉnh hình
cũng quy định rằng: “Trẻ em tàn tật không nơi nương tựa và người tàn tật không nơi
nương tựa được cấp chân tay giả, dụng cụ chỉnh hình không phải trả tiền”.32
Luật bảo vệ CSSK nhân dân năm 1989 quy định trách nhiệm của Bộ Y tế, Bộ Lao
động – Thương binh và Xã hội trong việc phục hồi chức năng cho người tàn tật được quy định tại Điều 21
PGS.TS Nguyễn Hữu Trí (chủ biên), “Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam”, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, năm 2011, trang 61-78
Trang 29Trước khi Luật NKT năm 210 được Quốc hội thông qua, chế độ CSSK NKT được
cụ thể hóa trong Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998 và các luật chuyên ngành khác, cụ thể là Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 10/1999/TT-BYT hướng dẫn chức năng, nhiệm
vụ và tổ chức bộ máy của bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng thuộc Bộ ngành quản lý
Khi Luật NKT năm 2010 ra đời, chế độ CSSK NKT được quy định tại Chương III,
từ Điều 21 đến Điều 26 Ngoài ra, trong các luật chuyên ngành khác cũng có các điều khoản quy định về CSSK NKT như: Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009; Luật bảo hiểm y tế năm 2008; Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004
Từ đó, có thể nhận thấy rằng chế độ CSSK NKT được quy định khá đầy đủ và cụ thể trong hệ thống pháp luật Việt Nam và cơ bản phù hợp với quy định của Công ước quyền của NKT năm 2006 cũng như pháp luật của các nước trên thế giới
Trang 30Chương 2 CÔNG ƯỚC QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT NĂM 2006 VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHẾ ĐỘ CHĂM SÓC SỨC KHỎE
NGƯỜI KHUYẾT TẬT
Công ước quốc tế về quyền của NKT năm 2006, Luật NKT Việt Nam năm 2010 cùng với một số văn bản đã quy định chi tiết các vấn đề liên quan đến chế độ CSSK NKT Trong nội dung chương này, người viết tập chung tìm hiểu các quyền liên quan đến chế độ CSSK NKT được quy định trong Công ước quốc tế về quyền của NKT năm 2006, trong đó: Quyền được hưởng các dịch vụ y tế; Quyền được hỗ trợ chức năng và phục hồi chức năng; Quyền có mức sống thích đáng và được bảo trợ xã hội đầy đủ; Quyền được
hỗ trợ để sống và hòa nhập cộng đồng; Quyền được hỗ trợ trong việc di chuyển Còn trong pháp luật Việt Nam, người viết tập trung tìm hiểu các quy định trong Luật NKT năm 2010 và một số văn bản khác về CSSK NKT, trong đó gồm: CSSK ban đầu; Khám bệnh, chữa bệnh; Phục hồi chức năng và nêu ra một số chính sách hỗ trợ chế độ CSSK NKT Sau cùng, người vết đề cập về trách nhiệm của các chủ thể trong việc CSSK NKT
2.1 Chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật trong Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật năm 2006
2.1.1 Quyền hưởng các dịch vụ y tế
Giống như những người bình thường, NKT cũng có quyền được hưởng các dịch
vụ CSSK đạt tiêu chuẩn cao nhất mà không bị phân biệt đối xử vì lý do KT Xuất phát từ những đặc thù của NKT, việc hưởng các dịch vụ y tế đối với NKT là một điều thiết yếu
và hết sức cần thiết, để qua đó NKT có thể phục hồi chức năng, phục hồi SK và khả năng lao động cho bản thân
Quyền hưởng các dịch vụ y tế của NKT được quy định tại Điều 25, Công ước quốc tế về quyền của NKT năm 2006 Theo đó, Công ước quy định các quốc gia thành viên cần phải thực hiện các biện pháp phù hợp, để đảm bảo cho NKT có quyền được tiếp cận và hưởng các dịch vụ y tế phù hợp với lứa tuổi, trong đó có phục hồi về y tế Đặc biệt, các quốc gia thành viên cần:
Thứ nhất, cung cấp cho NKT sự chăm sóc và chương trình y tế cùng loại, cùng
chất lượng, cùng tiêu chuẩn miễn phí hoặc với một giá thành vừa phải có thể chấp nhận
Thứ hai, cung cấp những dịch vụ y tế đặc biệt mà NKT cần theo từng dạng tật của
họ, như phát hiện sớm và can thiệp sớm, nếu phù hợp và các dịch vụ được thiết kế nhằm giảm thiểu và ngăn ngừa KT tăng thêm, bao gồm ở trẻ em và người cao tuổi.34
Trang 31Thứ ba, cung cấp các dịch vụ y tế này ở những nơi càng gần với cộng đồng mà
NKT sinh sống càng tốt, kể cả ở những khu vực nông thôn, vùng sâu và vùng xa.35
Thứ tư, yêu cầu cán bộ chuyên môn y tế cung cấp chăm sóc y tế cho NKT với
cùng một chất lượng như cho những người khác, kể cả trên cơ sở đồng ý tự nguyện và hiểu biết, như bằng cách nâng cao nhận thức về quyền con người, nhân phẩm, sự tự lực
và nhu cầu của NKT, thông qua đào tạo và tuyên truyền tiêu chuẩn y đức cho cơ sở y tế công và tư.36
Thứ năm, các quốc gia không được phân biệt đối xử với NKT trong việc cung cấp
bảo hiểm y tế và bảo hiểm sinh mệnh nếu như loại bảo hiểm này được luật pháp quốc gia cho phép và các loại bảo hiểm này phải được cung cấp theo phương thức công bằng và hợp lý.37
Thứ sáu, các quốc gia cũng cần đề ra những biện pháp để ngăn ngừa sự từ chối
cung cấp các dịch vụ CSSK, chăm sóc y tế, thực phẩm hoặc thức uống mang tính phân biệt đối xử trên cơ sở sự KT.38
2.1.2 Quyền được hỗ trợ chức năng và phục hồi chức năng
Đây được xem là một trong những quyền đặc thù của NKT, nhằm tạo điều kiện
cho họ đạt được và duy trì sự độc lập ở mức tối đa năng lực nghề nghiệp, xã hội, tinh thần, thể chất và có thể hòa nhập trọn vẹn, hoàn toàn vào mọi khía cạnh của đời sống và
xã hội
Theo Điều 26, Công ước quốc tế về quyền của NKT năm 2006, để đạt được những mục đích đó, các quốc gia thành viên cần thực thi các biện pháp phù hợp và có hiệu quả Trong đó, bao gồm sự hỗ trợ đồng cảnh, giúp NKT đạt được và duy trì tối đa sự độc lập, khả năng đầy đủ về thể chất, trí tuệ, xã hội và nghề nghiệp, sự hòa nhập và tham gia đầy
đủ vào lĩnh vực của đời sống
Để đạt được những điều đó, các quốc gia thành viên cần tổ chức, cần tăng cường
và mở rộng các chương trình, dịch vụ toàn diện về hỗ trợ chức năng và phục hồi chức năng, nhất là trong lĩnh vực y tế, việc làm, giáo dục và các dịch vụ khác trong xã hội Phải bảo đảm được rằng những chương trình và những dịch vụ như vậy phải sẵn có, tiện dụng cho tất cả mọi NKT, kể cả những NKT ở vùng nông thôn, NKT ở vùng sâu vùng
xa Ngoài ra, phải cung cấp cho NKT trong giai đoạn sớm nhất nếu có thể và dựa trên nhu cầu, khả năng và sức lực của từng người
Bên cạnh đó, các quốc gia thành viên cần phải thúc đẩy sự phát triển công tác tập huấn ban đầu và phải liên tục bồi dưỡng cho các đội ngũ cán bộ và nhân viên chuyên môn về dịch vụ tập luyện và phục hồi chức năng Ngoài ra, cần tăng cường số lượng, thúc
Trang 32đẩy sẵn có sự hiểu biết và cùng với việc sử dụng các thiết bị, kỹ thuật hỗ trợ dành riêng
cho NKT bởi vì chúng có mối liên quan mật thiết đến hỗ trợ việc tập luyện và phục hồi chức năng cho NKT
2.1.3 Quyền có mức sống thích đáng và được bảo trợ xã hội đầy đủ
Công ước quốc tế về quyền của NKT năm 2006 quy định, tất cả NKT trên thế giới
đều có quyền có được một mức sống đầy đủ cho bản thân và gia đình họ Trong đó bao
gồm có đầy đủ thức ăn, quần áo, nhà ở và có quyền không ngừng cải thiện điều kiện sống
và sinh hoạt hằng ngày Khi những vấn đề này được đảm bảo thì vấn đề SK và CSSK đối với NKT sẽ được quan tâm và đạt được nhiều hiệu quả hơn
Khi NKT gặp khó khăn về đời sống vật chất và sinh hoạt hằng ngày, NKT có quyền được nhận bảo trợ xã hội và được hưởng quyền này như bao người khác, nhưng không bị phân biệt đối xử vì lý do KT
Quyền có mức sống thích đáng và được bảo trợ xã hội đầy đủ được quy định tại
Điều 28, Công ước quốc tế về quyền của NKT năm 2006 Theo đó, các quốc gia thành
viên phải thực thi những bước phù hợp để bảo vệ và thúc đẩy việc công nhận quyền này, bao gồm các biện pháp như:
Thứ nhất, bảo đảm cho NKT được tiếp cận bình đẳng đối với các dịch vụ về nước
sạch, bảo đảm cho họ được tiếp cận với các dịch vụ, thiết bị và hỗ trợ khác để phục vụ cho những nhu cầu cần thiết của họ xuất phát từ tình trạng KT.39
Thứ hai, bảo đảm quyền của NKT, trong đó đặc biệt quan tâm đến phụ nữ, trẻ em
gái KT và người cao tuổi KT để họ có thể tiếp cận được với các chương trình phúc lợi xã hội và các chương trình xóa đói giảm nghèo.40
Thứ ba, bảo đảm cho NKT và gia đình họ đang sống trong tình cảnh nghèo đói
được tiếp cận với sự hỗ trợ và giúp đỡ của Nhà nước về những chi phí liên quan đến KT,
bao gồm được đào tạo đầy đủ, tư vấn, hỗ trợ tài chính, CSSK, nghỉ dưỡng và động viên tạm thời một cách thích hợp.41
Thứ tư, bảo đảm cho NKT được tiếp cận với các chương trình xã hội về nhà ở
công cộng.42
Thứ năm, bảo đảm cho NKT được tiếp cận bình đẳng với những lợi ích và các
chương trình phúc lợi hưu trí.43
2.1.4 Quyền được hỗ trợ để sống độc lập và hòa nhập vào cộng đồng
Quyền được hỗ trợ để sống độc lập và hòa nhập cộng đồng cũng có thể coi là một trong những quyền đặc thù của NKT Bởi vì NKT có quyền được sống độc lập trong một
Trang 33cộng đồng, có những sự chọn lựa bình đẳng như bao người khác Và vấn đề này cũng chiếm một phần quan trọng trong hoạt động CSSK đối với NKT
Theo Điều 19, Công ước quốc tế về quyền của NKT năm 2006 quy định các quốc gia thành viên cần tiến hành những biện pháp hữu hiệu và thích hợp để tạo điều kiện cho NKT được hưởng thụ đầy đủ quyền này, đảm bảo sự hòa nhập và tham gia đầy đủ của họ vào cộng đồng Trong đó, bao gồm:
Thứ nhất, NKT có cơ hội chọn lựa khu vực cư trú và nơi họ sống, người mà họ
sống cùng dựa trên sự bình đẳng như những người khác và không bị bắt buộc phải sống trong một điều kiện cụ thể nào.44
Thứ hai, NKT được tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ tại nhà, tại khu vực cư trú hoặc
các dịch vụ hỗ trợ cộng đồng khác, trong đó có sự hỗ trợ về mặt cá nhân ở mức cần thiết
Thứ ba, phải có các dịch vụ và cơ sở hạ tầng công cộng để NKT có thể tiếp cận và
sử dụng trên cơ sở bình đẳng như những người khác và phải đáp ứng với những nhu cầu cần thiết của NKT.46
Ngoài ra, theo Điều 9, Công ước quốc tế về quyền của NKT năm 2006 còn quy
định để NKT có thể sống độc lập và tham gia trọn vẹn vào mọi khía cạnh của cuộc sống,
các quốc gia thành viên phải tiến hành các biện pháp thích hợp để đảm bảo cho NKT
được tiếp cận trên cơ sở bình đẳng như những người khác đối với môi trường vật chất, hệ
thống giao thông, thông tin, truyền thông Trước hết bao gồm: Các tòa nhà, đường sá, giao thông, các trang thiết bị trong nhà và ngoài trời, bao gồm trường học, nhà ở, cơ sở y
tế và nơi làm việc Bên cạnh đó, còn có các dịch vụ thông tin, liên lạc và dịch vụ khác, trong đó có dịch vụ điện tử và dịch vụ cấp cứu
Thế nhưng, điều này cũng cần phải nêu ra những biện pháp cụ thể mà các quốc gia thành viên phải thực hiện để xóa bỏ những trở ngại và những rào cản đối với NKT trong việc tiếp cận với môi trường vật chất, hệ thống giao thông, thông tin, truyền thông, trong
đó bao gồm:
Thứ nhất, cần phát triển, tăng cường và giám sát thi hành việc thực hiện những
tiêu chuẩn tối thiểu và định hướng về khả năng tiếp cận của các cơ sở hạ tầng và dịch vụ dành cho công chúng.47
Thứ hai, cần bảo đảm được rằng các cơ sở tư nhân cung cấp những cơ sở vật chất
và dịch vụ cho công chúng phải cân nhắc mọi khía cạnh liên quan đến khả năng tiếp cận
Trang 34Thứ ba, cung cấp các chương trình đào tạo, chương trình tập huấn cho những chủ
thể có liên quan về những vấn đề mà NKT phải đối mặt trong việc tiếp cận các cơ sở hạ tầng và dịch vụ công cộng.49
Thứ tư, cung cấp các dấu hiệu bằng chữ nổi Braille và bằng những hình thức khác
dễ đọc, dễ hiểu trong các tòa nhà và cơ sở hạ tầng công cộng.50
Thứ năm, cung cấp những hình thức trợ giúp trực tiếp và trung gian, bao gồm
những hướng dẫn, người đọc và người phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu chuyên nghiệp để tạo
Thứ sáu, tăng cường các hình thức trợ giúp thích hợp khác cho NKT để đảm bảo
cho họ tiếp cận với các nguồn thông tin, hệ thống liên lạc mới, trong đó bao gồm có internet.52
Thứ bảy, khuyết khích thiết kế, phát triển, sản xuất và phân phối những công nghệ
và hệ thống thông tin, truyền thông dễ tiếp cận ngay từ giai đoạn đầu, nhờ đó các công nghệ và hệ thống này sẽ dễ tiếp cận với một mức chi phí tối thiểu dành cho NKT.53
2.1.5 Quyền được hỗ trợ trong việc di chuyển
Quyền được hỗ trợ trong việc di chuyển được quy định tại Điều 20, Công ước quốc tế về quyền của NKT năm 2006 Đây cũng được xem là một hoạt động trong việc CSSK của NKT Theo đó NKT được các quốc gia thành viên thực hiện những biện pháp hữu hiệu để đảm bảo sự độc lập trong việc đi lại ở mức cao nhất có thể, trong đó bao gồm:
Thứ nhất, tạo điều kiện cho NKT lựa chọn trong việc di chuyển cá nhân theo cách
thức và thời gian họ chọn, với một mức giá có thể chấp nhận được.54
Thứ hai, tạo điều kiện cho NKT được tiếp cận với các phương tiện, thiết bị, công
nghệ hỗ trợ di chuyển và các hình thức trợ giúp hoặc người trợ giúp tại chỗ có chất lượng với một giá thành vừa phải.55
Thứ ba, các quốc gia thành viên phải có trách nhiệm trong việc cung cấp đào tạo
thích hợp về kỹ năng di chuyển cá nhân cho NKT và cùng với đội ngũ nhân viên chuyên môn làm việc với NKT.56
Thứ tư, khuyến khích các cơ sở sản xuất phương tiện, thiết bị và công nghệ hỗ trợ
di chuyển có tính đến mọi khía cạnh về sự di chuyển của NKT.57