1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

pháp luật về hợp đồng gia công hàng hóa

65 786 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 710,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một chế định pháp luật đặc thù của pháp luật xã hội chủ nghĩa, chế độ hợp đồng kinh tế bao gồm các quy phạm pháp luật về nguyên tắc ký kết hợp đồng kinh tế, tư cách chủ thể tham gia c

Trang 1

Cần Thơ, tháng 12 / 2014

Giảng viên hướng dẫn:

ThS Nguyễn Mai Hân

Bộ môn Luật Thương mại

Sinh viên thực hiện:

Lê Trần Minh Châu MSSV: 5115694 Lớp: Luật Thương mại 1-K37

Trang 3

GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân SVTH: Lê Trần Minh Châu

LỜI CẢM ƠN

Trải qua gần bốn năm học tập tại Khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ em đã tích góp được những kiến thức vô cùng quý báu mà thầy cô đã tận tâm truyền thụ Đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn toàn thể quý thầy cô của Trường Đại học Cần Thơ nói chung và tất cả quý thầy cô Khoa Luật nói riêng đã tận tình chỉ dạy em qua từng môn học, thầy cô truyền đạt cho em những chuỗi kiến thức mà nhờ đó em tích lũy thêm được vào quá trình nghiên cứu và công tác của em sau này Đặc biệt, em

xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Mai Hân, Giảng viên Bộ môn Luật Thương mại,

Khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ đã tận tình hướng dẫn cho em trong quá trình làm luận văn Mặc dù, Cô bận rộn trong công tác giảng dạy cũng như gia đình nhưng Cô đã dành thời gian quý để hướng dẫn và sửa chữa những sai sót một cách cẩn thận và chu đáo để em kịp thời sửa chữa bổ sung, hoàn thiện luận văn đúng tiến

độ

Do thời gian tìm hiểu và nghiên cứu đề tài có thời hạn, luận văn của em không thể tránh khỏi những thiếu sót Nhưng với quyết tâm phấn đấu hoàn thành luận văn Người viết hy vọng nhận được những ý kiến đóng góp từ thầy cô cũng như các bạn

để người viết hoàn thành đề tài được tốt hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Cần Thơ, ngày 01 tháng 12 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Lê Trần Minh Châu

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN LUẬN VĂN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Cần Thơ, ngày 01 tháng 12 năm 2014 Giảng viên hướng dẫn

Trang 5

GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân SVTH: Lê Trần Minh Châu

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Cần Thơ, ngày 01 tháng 12 năm 2014 Hội đồng phản biện

Trang 6

MỤC LỤC Trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Phạm vi nghiên cứu 1

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu đề tài 2

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG GIA CÔNG HÀNG HÓA 3

1.1 Khái quát về đồng gia công hàng hóa 3

1.1.1 Khái niệm về hợp đồng 3

1.1.2 Khái niệm hợp đồng gia công hàng hóa 6

1.1.2.1 Khái niệm về hàng hóa 6

1.1.2.2 Định nghĩa khái niệm hợp đồng gia công hàng hóa 7

1.2 Đặc điểm của hợp đồng gia công hàng hóa 8

1.3 Các hình thức gia công hàng hóa 9

1.3.1 Theo quyền sở hữu nguyên liệu 10

1.3.2 Theo giá gia công 10

1.4 Vai trò của hợp đồng gia công hàng hóa trong nền kinh tế hiện nay 10

1.4.1 Đối với kinh tế quốc dân 10

1.4.2 Đối với doanh nghiệp 12

1.5 Cơ sở pháp lý của hợp đồng gia công hàng hóa 12

1.5.1 Điều ước quốc tế 12

1.5.2 Pháp luật quốc gia 13

1.5.3 Tập quán thương mại quốc tế 13

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG GIA CÔNG HÀNG HÓA 15

Trang 7

2.1 Nguyên tắc khi giao kết hợp đồng gia công hàng hóa 15

2.1.1 Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật đạo đức xã hội 15

2.1.2 Nguyên tắc tự nguyên, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng 17

2.2 Chủ thể giao kết hợp đồng gia công hàng hóa 18

2.2.1 Chủ thể là thương nhân 18

2.2.2 Chủ thể không phải là thương nhân 19

2.3 Trình tự giao kết hợp đồng gia công hàng hóa 20

2.4 Đối tượng của hợp đồng gia công hàng hóa 21

2.5 Hình thức của hợp đồng gia công hàng hóa 22

2.6 Nội dung của hợp đồng gia công hàng hóa 24

2.6.1 Điều khoản tên hàng, số lượng 25

2.6.2 Điều khoản phẩm chất 25

2.6.3 Điều khoản thời gian sản xuất và giao sản phẩm 26

2.6.4 Điều khoản giá cả 26

2.6.5 Điều khoản hiệu lực của hợp đồng 26

2.6.6 Thanh lý nguyên vật liệu 27

2.6.7 Tranh chấp và giải quyết tranh chấp 27

2.7 Quyền và nghĩa vụ của các bên 29

2.7.1 Quyền và nghĩa vụ của bên đặt gia công 29

2.7.2 Quyền và nghĩa vụ của bên nhận gia công 30

2.8 Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng gia công 32

2.8.1 Khái quát về vi phạm hợp đồng gia công 32

2.8.2 Các trách nhiệm pháp lý khi vi phạm hợp đồng gia công 33

2.8.2.1 Buộc thực hiện đúng hợp đồng 33

Trang 8

2.8.2.2 Phạt vi phạm 34

2.8.2.3 Bồi thường thiệt hại 35

2.8.2.4 Tạm ngừng, đình chỉ và hủy bỏ hợp đồng 35

2.9 Các trường hợp được miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng gia công 36 2.9.1 Miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận 36

2.9.2 Xảy ra sự kiện bất khả kháng 37

2.9.3 Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia 39

2.9.4 Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng 39

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VIỆC KÝ KẾT, THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG GIA CÔNG HÀNG HÓA HIỆN NAY VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN 41

3.1 Đánh giá chung về cơ hội và thách thức 41

3.1.1 Cơ hội 41

3.1.2 Thách thức 41

3.2 Thực trạng và hướng hoàn thiện về giao kết hợp đồng 42

3.2.1 Đề nghị giao kết hợp đồng 42

3.2.2 Hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng 43

3.3 Thực trạng và đề xuất hoàn thiện về chế tài giải quyết tranh chấp trong hợp đồng gia công hàng hóa 44

3.3.1 Quy định liên quan đến chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 44

3.3.2 Quy định liên quan đến chế tài phạt vi phạm 45

3.3.3 Quy định liên quan đến chế tài tạm ngưng thực hiện hợp đồng 47

3.3.4 Hậu quả pháp lý của hình thức hủy bỏ hợp đồng 48

KẾT LUẬN 50 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU

Nếu hợp đồng gia công hàng hóa diễn ra tốt đẹp nó sẽ mang lại lợi ích cho các bên tham gia hợp đồng Tuy nhiên, trên thực tế việc giao kết hợp đồng gia công hàng hóa vẫn gặp những rủi ro ngoài ý muốn của các chủ thể và kết quả không phản ánh được sự công bằng, cũng như mang lại lợi ích cho các bên Bởi vậy, việc hiểu biết cũng như nắm bắt những quy định của pháp luật về hợp đồng gia công hàng hóa trong thương mại giúp các chủ thể hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro trong quan hệ hợp đồng

Xuất phát từ những nguyên nhân trên, người viết đã lựa chọn và nghiên cứu

đề tài: “Pháp luật về hợp đồng gia công hàng hóa”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu các vấn đề chế độ pháp lý của hợp đồng gia công hàng hóa trong đời sống hiện tại Qua đó, đánh giá những điểm phù hợp cũng như những điểm chưa phù hợp những thuận lợi và khó khăn trong các quy định của pháp luật có liên quan

và trong phạm vi khả năng của bản thân, người viết đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm khắc phục những điểm còn hạn chế của pháp luật góp phần hoàn thiện vấn đề pháp luật về hợp đồng gia công hàng hóa hiên nay ở nước ta

3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung phân tích những điểm phù hợp và những bất cập trong các quy định về hợp đồng gia công hàng hóa trong nước chủ yếu trong Bộ luật Dân sự

Trang 10

năm 2005, Luật Thương mại 2005 Bên cạnh đó có sự phân tích các quy định pháp luật có liên quan trên nhiều phương diện lý luận và thực tiễn

4 Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở khoa học pháp lý và những nội dung lý luận về luật học là nền tảng trong việc nghiên cứu Phương pháp duy vật biện chứng được sử dụng như là cơ sở phương pháp luận để xây dựng toàn bộ các vấn đề của luận văn Bên cạnh đó người viết vận dụng kết hợp các phương pháp thu thập tài liệu từ sách, báo, thông qua mạng internet…, so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp và đặc biệt là phương pháp phân tích luật viết để tiến hành đánh giá, phân tích, bình luận những quy định của pháp luật về hợp đồng gia công hàng hóa

5 Kết cấu đề tài

Đề tài gồm có: Lời cảm ơn, lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục Bên cạnh đó, đề tài được chia thành ba chương được trình bài theo thứ tự từ cơ sở lý luận tiếp theo là quy định của pháp luật và cuối cùng là thực trạng

và hướng hoàn thiện Cụ thể như sau:

- Chương 1: Lý luận chung về hợp đồng gia công hàng hóa

Chương này người viết khái quát về hợp đồng gia công hàng hóa, các khái niệm có liên quan đặc điểm, các hình thức gia công, vai trò của hợp đồng gia công trong cuộc sống hiện nay qua đó làm rõ ý nghĩa của hợp đồng

- Chương 2: Quy định pháp luật về hợp đồng gia công hàng hóa

Trọng tâm của chương này là làm rõ các quy định của pháp luật có liên quan đến hợp đồng gia công hàng hóa Bên cạnh đó, phân tích những điểm phù hợp và chưa phù hợp trong những quy định này

- Chương 3: Thực trạng việc ký kết, thực hiện hợp đồng gia công hàng hóa hiện nay và hướng hoàn thiện

Nội dung chính của chương nêu lên thực tiễn hoạt động gia công hàng hóa hiện nay qua đó đánh giá được những cơ hội và thách thức để từ đó làm cơ sở đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng gia công hàng hóa

Do thời gian nghiên cứu có hạn và có phần hạn chế về kiến thức thực tiễn cho nên trong quá trình nghiên cứu đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong

Trang 11

nhận được những ý kiến nhận xét, đóng góp tận tình, quy báo từ quý Thầy Cô và các bạn để người viết có thể củng cố và hoàn thiện đề tài nghiên cứu

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG GIA CÔNG HÀNG HÓA

1.1 Khái quát về đồng gia công hàng hóa

1.1.1 Khái niệm về hợp đồng

Để tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân cũng như mỗi tổ chức phải tham gia nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau Trong đó, việc các bên thiết lập với nhau những quan hệ, để qua đó chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, đóng vai trò quan trọng, là một tất yếu đối với đời sống xã hội Tuy nhiên, việc chuyển giao các lợi ích vật chất đó không phải tự nhiên hình thành bởi tài sản (vốn là hiện thân của các lợi ích vật chất) không thể tự tìm đến với nhau để thiết lập các quan hệ Các quan hệ tài sản chỉ được hình thành từ

những hành vi có ý chí của các chủ thể Mác nói rằng: “Tự chúng, hàng hóa không thể đi đến thị trường và trao đổi với nhau được Muốn cho những vật đó trao đổi với nhau, thì những người giữ chúng phải đối xử với nhau như những người mà ý chí nằm trong các vật đó” 1

Mặt khác, nếu chỉ có một bên thể hiện ý chí của mình mà không được bên kia chấp nhận cũng không thể hình thành một quan hệ để qua đó thực hiện việc chuyển giao tài sản hoặc làm một công việc đối với nhau được Do đó, chỉ khi nào

có sự thể hiện và thống nhất ý chí giữa các bên, thì quan hệ trao đổi lợi ích vật chất mới được hình thành Quan hệ đó được gọi là quan hệ hợp đồng dân sự Như vậy,

cơ sở đầu tiên để hình thành một hợp đồng dân sự là việc thỏa thuận bằng ý chí tự nguyện của các bên Tuy nhiên, hợp đồng đó chỉ có hiệu lực pháp luật (chỉ được pháp luật công nhận và bảo vệ) khi ý chí của các bên phù hợp với ý chí của Nhà

nước Các bên được tự do thỏa thuận để thiết lập hợp đồng, nhưng sự “tự do” ấy

phải được đặt trong giới hạn bởi lợi ích của người khác, lợi ích chung của xã hội và trật tự công cộng Nếu để các bên tự do vô hạn, thì hợp đồng dân sự sẽ trở thành phương tiện để kẻ giàu bóc lột người nghèo và sẽ là nguy cơ đối với lợi ích của xã hội Vì vậy, phải đi xa hơn nữa trong vấn đề tăng cường sự can thiệp của Nhà nước

1

Các Mác: “Tư bản”, Quyển 1, tập I, NXB Sự thật, Hà Nội, 1973, Tr 163

Trang 12

vào các “quan hệ pháp luật tư”, các việc dân sự… không được bỏ qua một khả

năng tối thiểu nào để mở rộng sự can thiệp của Nhà nước vào những quan hệ dân luật 2

Khi ý chí của các bên trong hợp đồng phù hợp với ý chí của Nhà nước, thì hợp đồng dân sự có hiệu lực như pháp luật đối với các bên giao kết Nghĩa là, từ lúc

đó, các bên đã tự nhận về mình nghĩa vụ pháp lý nhất định Sự “can thiệp” của Nhà

nước không những là việc buộc các bên phải giao kết hợp đồng phù hợp với lợi ích chung và đạo đức xã hội mà còn buộc các bên phải thực hiện hợp đồng đúng với những cam kết mà họ đã thỏa thuận Theo nội dung đã cam kết, dưới sự hỗ trợ của pháp luật, các bên phải thực hiện đối với nhau các quyền và nghĩa vụ dân sự

Khái niệm về hợp đồng dân sự cần phải được xem xét ở nhiều phương diện khác nhau Theo phương diện khách quan, thì hợp đồng dân sự là một bộ phận của quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau

Theo phương diện chủ quan, hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận để cùng nhau làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định Theo phương diện này, hợp đồng dân sự vừa được xem xét ở dạng cụ thể vừa được xem xét ở dạng khái quát Nếu

định nghĩa dưới dạng cụ thể, thì “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên

về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sản, làm một việc hoặc không làm một việc, dich vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cấu sinh hoạt, tiêu dùng” (Điều 1 Pháp lệnh hợp đồng dân sự) Sự liệt kê cụ thể bao

giờ cũng rơi vào tình trạng không đầy đủ và để quy định của pháp luật có thể bao trùm được toàn bộ các hợp đồng dân sự xảy ra trên thực tế, Bộ luật dân sự đã định

nghĩa nó ở dạng khái quát hơn: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lâp, thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự” (Điều 388 Bộ

luật dân sự hiện hành)

Như vậy, hợp đồng dân sự không chỉ là sự thỏa thuận để một bên chuyển giao tài sản, thực hiện một công việc cho bên kia mà có thể còn là sự thỏa thuận để thay đổi hay chấm dứt các nghĩa vụ đó Hợp đồng dân sự (nghĩa chủ quan) và pháp

2

V.I.Lênin toàn tập, Tập 36, NXB Sự thật, Hà Nội, 1989, Tr 577

Trang 13

luật về hợp đồng dân sự (nghĩa khách quan) là hai khái niệm không đồng nhất với nhau Hợp đồng dân sự theo nghĩa chủ quan là một quan hệ xã hội được hình thành

từ sự thỏa thuận của các bên để thỏa mãn nhu cầu trao đổi trong giao lưu dân sự Còn pháp luật về hợp đồng dân sự là sự thừa nhận, là yêu cầu của Nhà nước đối với các giao lưu dân sự đó.3

Các bộ cổ luật của Nhà nước đã từng tồn tại ở Việt Nam (như Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long) không có quy định riêng về hợp đồng

Nghĩa là, trong các thời kì đó, ở Việt Nam chưa có “luật riêng” về hợp đồng dân

sự, mặc dù trong thực tế hình thành rất nhiều quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể với nhau Ở thời kì đó, nếu có tranh chấp từ những hợp đồng trong thực tế, thì được giải quyết bằng quyền uy của người đứng đầu một cấp chính quyền nào đó mà không cần đến pháp luật Ngoài ra, cần phải nói thêm rằng, xét về nội dung kinh tế sẽ khó phân biệt giữa hợp đồng dân sự với hợp đồng kinh tế nếu nội dung của chúng đều là

sự mua bán và trao đổi các lợi ích vật chất

Ở nước ta hiện nay, cùng với sự phát triển chung của xã hội, các thành phần kinh tế ngày một đa dạng và phong phú làm cho các quan hệ kinh tế cũng thay đổi theo Hợp đồng kinh tế trở thành phương tiện phục vụ cho mục đích kinh doanh trên nguyên tắc các chủ thể tự nguyện, bình đẳng với nhau càng làm mờ nhạt ranh giới giữa nó với hợp đồng dân sự Có những quy định của pháp luật là cơ sở pháp lý để

áp dụng cho cả hai loại hợp đồng này mặc dù chúng thuộc đối tượng điều chỉnh của

hai ngành luật khác nhau

Trong khoa học pháp lý, hợp đồng kinh tế thường được hiểu theo hai nghĩa

Đó là nghĩa khách quan và nghĩa chủ quan

* Theo nghĩa khách quan

Hợp đồng kinh tế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ hợp đồng kinh tế giữa các tổ chức kinh tế (còn gọi là chế độ hợp đồng kinh tế, chế định hợp đồng kinh tế hay pháp luật về hợp đồng kinh tế) Là một chế định pháp luật đặc thù của pháp luật xã hội chủ nghĩa, chế độ hợp đồng kinh tế bao gồm các quy phạm pháp luật về nguyên tắc ký kết hợp đồng kinh tế, tư cách chủ thể tham gia các quan hệ hợp đồng kinh tế, trình tự, thủ tục, trình tự ký kết hợp đồng kinh tế, các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng cũng như các nguyên tắc là nội dung thực hiện

3 Trường Đại học Luật Hà Nội, Đinh Văn Thanh-Nguyễn Minh Tuấn, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam,

NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, Tr 331

Trang 14

hơp đồng kinh tế, các điều kiện và giải quyết hậu quả của việc thay đổi, hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng kinh tế, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng kinh tế

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế sự thay đổi của các quan hệ kinh tế, chế độ hợp đồng kinh tế được Nhà nước quy định cũng thay đổi và phát triển theo

* Theo nghĩa chủ quan

Hợp đồng kinh tế là sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thẹc hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thỏa thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình (Điều 1 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế).4

Như vậy, xét về thực chất hợp đồng kinh tế cũng như hợp đồng dân sự đều là

sự thỏa thuận giữa các chủ thể về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ các chủ thể trong những quan hệ cụ thể

Tuy nhiên cũng có môt số quan điểm khác nhau giữa hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự theo quy định của pháp luật nước ta Sự khác nhau đó là về tư cách chủ thể, về mục đích, hình thức ký kết…

1.1.2 Khái niệm hợp đồng gia công hàng hóa

1.1.2.1 Khái niệm về hàng hóa

Hàng hóa là một trong những phạm trù cơ bản của kinh tế chính trị, theo học

thuyết Giá trị của Mác – Lênin, “Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán Hàng hóa thể hiện

ở dạng vật thể (hữu hình) hoặc phi vật thể (vô hình)” 5

Khái niệm này làm nổi bật đặc trưng của hàng hóa là được tạo ra để trao đổi mua bán chứ không phải để người sản xuất tiêu dùng nó, vì thế mục đích của hàng hóa là giá trị, là lợi nhuận của nó chứ không phải là giá trị sử dụng của nó Đây là khái niệm hàng hóa theo nghĩa rộng, theo khái niệm này, bất cứ thứ gì là sản phẩm của lao động nếu được đưa ra

Trang 15

trao đổi mua bán trên thị trường đều là hàng hóa mà không quan tâm nó tồn tại ở dạng trạng nào: hữu hình hay vô hình

Kế thừa quan điểm này, nhưng trong hoạt động thương mại, khái niệm hàng

hóa được định nghĩa hẹp hơn: “Hàng hóa là bất kỳ mặt hàng nào trong trao đổi thương mại, nhưng thông thường nhất là để chỉ nguyên vật liệu, ví dụ như: lúa mì,

cà phê, cao su,…”.6 Với cách hiểu này, hàng hóa được phân biệt với dịch vụ Vậy

dịch vụ là gì? Dịch vụ “gồm có các hoạt động về kinh tế chủ chốt như viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải đường bộ và đường biển, hàng không, kiểm toán, luật,

cơ khí,…”.7

Từ hai khái niệm trên cho thấy, hàng hóa và dịch vụ có sự khác biệt rõ nét, thể hiện qua sự hiện hữu vật chất của hai đối tượng này Ở hai khái niệm này, người ta phân biệt hàng hóa bằng tiêu chí hiện hữu vật chất của nó Hàng hóa là

những “nguyên vật liệu”, tức có nghĩa là nó tồn tại một cách khác quan mà ta có thể nhìn thấy được, ngược lại dịch vụ là những “hoạt động” nên ta chỉ cảm nhận được

nó chứ không thể nhìn thấy nó Đó là tiêu chí cơ bản để nhận diện hàng hóa tránh lẫn lộn giữa hàng hóa và dịch vụ

Ngoài ra, pháp luật Việt Nam cũng quy định: “Hàng hóa bao gồm: Tất cả những loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai” 8

Theo đó, pháp luật Việt Nam coi tài sản là hàng hóa Tài sản này

bao gồm động sản và bất động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai Quy định này còn chỉ rõ biểu hiện vật chất là hình thái tồn tại của hàng hóa Tuy nhiên, pháp luật lại không quy định rằng tài sản đó phải đem ra trao đổi mua bán trên thị trường, đây là một điều khiếm khuyết của Luật Thương mại 2005

Như vậy, tổng hợp các khái niệm trên, có thể định nghĩa khái niệm hàng hóa

như sau: “Hàng hóa là một thực thể tồn tại hoặc sẽ tồn tại dưới một dạng vật chất nhất định, được hình thành trong không gian và thời gian xác định và được đem ra trao đổi mua bán trên thị trường nhằm phục vụ nhu cầu nào đó của con người” 1.1.2.2 Định nghĩa khái niệm hợp đồng gia công hàng hóa

Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác Ngày nay khi mà phân công lao động xã hội diễn ra

6 Walter Good, Từ điển chính sách thương mại quốc tế, NXB Thống kê, Hà Nội, 2005, Tr 55

7 Walter Good, Từ điển chính sách thương mại quốc tế, NXB Thống kê, Hà Nội, 2005, Tr 228

8

Khoản 2, Điều 3, Luật Thương mại 2005

Trang 16

mạnh mẽ sản xuất và lưu thông hàng hoá ngày càng phát triển, các quan hệ trao đổi mua bán ngày càng đa dạng và phức tạp thì khái niệm về gia công hàng hóa cũng

ngày càng đa dạng Theo Điều 178, Luật Thương mại 2005 có định nghĩa “Gia công trong thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận gia công sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công để hưởng thù lao”

Trong Luật Thương mại Việt Nam hiện nay không quy định rõ khái niệm

về hợp đồng gia công hàng hóa nhưng về bản chất đây cũng là một dạng của hợp

đồng dịch vụ, “Hợp đồng dịch vụ trong là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ” Qua khái niệm này thì: “Hợp đồng gia công hàng hóa là sự thỏa thuận của các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ gia công thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ gia công, còn bên thuê dịch vụ gia công phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ gia công”

Theo đó, ta có thể rút ra cách hiểu đơn giản về hợp đồng về hợp đồng gia công hàng hóa cụ thể các chủ thể ở đây là bên nhận gia công và bên đặt gia công, bên nhận gia công thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công để hưởng thù lao

1.2 Đặc điểm của hợp đồng gia công hàng hóa

- Về bản chất của hợp đồng gia công hàng hóa là một loại hợp đồng gia công trong thương mại nói riêng và trong dân sự nói chung Cụ thể như sau:

+ Hợp đồng gia công có thể ở dạng là hợp đồng song vụ: bên nhận gia công phải thực hiện các hành vi pháp lý theo yêu cầu của bên đặt gia công, bên đặt gia công có nghĩa vụ tiếp nhận sản phẩm hoàn thành và trả tiền công cho bên nhận gia công

+ Hợp đồng gia công có thể ở dạng là hợp đồng có đền bù: bên đặt gia công phải trả tiền công cho bên nhận gia công khi bên nhận gia công đã thực hiện xong sản phẩm như mẫu đã thỏa thuận

- Chủ thể của hợp đồng gia công chủ yếu là các thương nhân hoặc một trong các bên phải là thương nhân Thương nhân ở đây bao gồm tổ chức kinh tế

Trang 17

được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh

- Đối tượng của hợp đồng gia công là các công đoạn trong quá trình sản xuất

ra sản phẩm mới Tất cả các hàng hóa đều có thể được gia công, trừ trường hợp hàng hóa thuộc diện cấm kinh doanh Trong trường hợp gia công hàng hóa cho thương nhân nước ngoài để tiêu thụ ở nước ngoài thì hàng hóa thuộc diện cấm kinh doanh, cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu có thể được gia công nếu được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép

- Nội dung của hợp đồng bao gồm các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc thực hiện hợp đồng gia công Cùng với sự tham gia của hai chủ thể giao kết hợp đồng là bên đặt gia công và bên nhân gia công vào quá trình chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa còn có sự tham gia của một số chủ thể khác như: người chuyên chở, người bảo hiểm,… Dẫn đến phạm vi trách nhiệm giữa các chủ thể tham gia hợp đồng gia công hàng hóa về những rủi ro tổn thất phát sinh trong quá trình chuyển giao quyền sở hữu giữa các bên trở nên phức tạp hợp hơn

- Đồng tiền tính giá hoặc thanh toán không còn là đồng nội tệ của một quốc gia mà còn có thể là đồng ngoại tệ đối với ít nhất một bên ký kết Phương thức thanh toán có thể thông qua hệ thống ngân hàng Đối với đặc điểm này các bên tham gia ký kết hợp đồng gia công hàng hóa cần phải nghiên cứu kỹ trước khi ký kết hợp đồng để hạn chế được những tổn thất do biến động của đồng tiền trong quá trình tính giá và thanh toán

- Nguồn của luật điều chỉnh hợp đồng gia công hàng hóa cũng đa dạng và phức tạp Có thể là luật quốc gia hoặc là các điều ước quốc tế về thương mại, luật nước ngoài và các tập quán thương mại quốc tế

- Cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng gia công hàng hóa là tòa án hay trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng

1.3 Các hình thức gia công hàng hóa

Hiện nay, hoạt động gia công hàng hóa có thể tổ chức theo nhiều hình thức khác nhau, mỗi hình thức có các đặc điểm riêng, có kỹ thuật tiến hành riệng Từ đó đáp ứng được yêu cầu của các bên khi tham gia giao kết hợp đồng Thông thường

có các hình thức gia công hàng hóa chủ yếu sau:

Trang 18

1.3.1 Theo quyền sở hữu nguyên liệu

- Bên đặt gia công giao nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất – chế tạo, sẽ thu hồi thành phẩm và trả phí gia công

Trong trường hợp này, trong thời gian chế tạo, quyền sở hữu về nguyên liệu vẫn thuộc về bên đặt gia công

- Bên đặt gia công bán đứt nguyên liệu cho bên nhận gia công và sau thời

gian sản xuất chế tạo, sẽ mua lại thành phẩm Trong trường hợp này quyền sở hữu

về nguyên liệu chuyển từ bên đặt gia công sang bên nhận gia công

1.3.2 Theo giá gia công

Gia công có thể tiến hành với hình thức sau:

- Hợp đồng thực thi, thực thanh : bên nhận gia công yêu cầu bên đặt gia công thanh toán toàn bộ chi phí thực tế công với tiền thù lao gia công

- Hợp đồng khoán: Người ta xác định một giá định mức cho mỗi sản phẩm,

trong đó có chi phí nguyên vật liệu và tiền lương định mức Dù chi phí thực tế của bên nhận gia công là bao nhiêu thì hai bên vẫn thanh toán với nhau theo giá định mức đó

1.4 Vai trò của hợp đồng gia công hàng hóa trong nền kinh tế hiện nay

Ngày nay, gia công hàng hóa khá phổ biến trong buôn bán trong nước và ngoài nước của nhiều quốc gia Đối với bên đặt gia công, phương thức này giúp họ lợi dụng được giá rẻ về nguyên liệu phụ và nhân công của nước nhận gia công Đối với bên nhận gia công, phương thức này giúp họ giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân lao động trong nước hoặc nhận được thiết bị hay công nghệ mới về cho nước mình, nhằm xây dựng một nền công nghiệp dân tộc Nhiều nước đang phát triển đã nhờ vận dụng phương thức gia công quốc tế mà có được một nền công

nghiệp hiện đại, chẳng hạn như Hàn Quốc,Thái Lan, Xingapo…

1.4.1 Đối với kinh tế quốc dân

Góp phần từng bước tham gia vào quá trình phân công lao động, khai thác có hiệu quả lợi thế so sánh Thông qua phương thức gia công hàng hóa mà các nước kém phát triển với khả năng sản xuất hạn chế có cơ hội tham gia vào phân công lao động quốc tế, khai thác được nguồn tài nguyên đặc biệt là giải quyết được vấn đề việc làm cho xã hội Đặc biệt gia công quốc tế không những cho phép chuyên môn

Trang 19

hoá với từng sản phẩm nhất định mà chuyên môn hoá trong từng công đoạn, từng chi tiết sản phẩm

Một là, tạo điều kiện để từng bước thiết lập nền công nghiệp hiện đại và quốc

tế hoá

Hai là, chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo hướng công nghiệp hoá hiện đại

hoá

Ba là, nâng cao tay nghề người lao động và tạo dựng đội ngũ quản lý có kiến

thức và kinh nghiệm trong việc tham gia kinh doanh trên thị trường quốc tế và quản

lý nền công nghiệp hiện đại

Bốn là, góp phần tạo nguồn tích luỹ với khối lượng lớn

Năm là, tiếp thu những công nghệ quản lý và công nghệ sản xuất hiện đại

thông qua chuyển giao công nghệ

Thông qua việc gia công những mặt hàng có thế mạnh chúng ta có thể phát huy được lợi thế so sánh, sử dụng lợi thế các nguồn lực trao đổi thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến Đây là yếu tố then chốt trong chương trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước đồng thời phát triển các ngành công nghiệp sản xuất hay xuất khẩu có tính cạnh tranh ngày càng cao hơn

Hoạt động gia công hàng hóa là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy mối quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta.Thông qua hoạt động gia công môi trường kinh tế được mở rộng tính cạnh tranh ngày càng cao đòi hỏi các doanh nghiệp luôn phải có

sự đổi mới để thích nghi, đáp ứng được nhu cầu của thị trường Hoạt động gia công góp phần hoàn thiện các cơ chế quản lý gia công của nhà nước và của từng điạ phương phù hợp với yêu cầu chính đáng của doanh nghiệp tham gia kinh doanh gia công hàng hóa

Đối với Việt Nam nhờ vận dụng được phương thức này đã khai thác được mặt lợi thế rất lớn về lao động và đã thu hút được thiết bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và giải quyết được công ăn việc làm cải thiện đời sống nhân Nâng cao tay nghề và kiến thức cho người lao động Tiếp cận và học hỏi các kiểu quản lý mới, mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng cường các mối quan hệ kinh tế đối ngoại với các nước, góp phần thúc đẩy nhanh công việc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trang 20

1.4.2 Đối với doanh nghiệp

Trong quá trình mở cửa và hội nhập nền kinh tế các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp gia công hàng hóa phụ thuộc rất nhiều vào nền kinh tế thế giới Các cơ hội và thách thức đặt ra cho các doanh nghiệp rất nhiều, nó là sự sống còn của nhiều doanh nghiệp, nếu như doanh nghiệp thu, tìm được nhiều bạn hàng thì sẽ nhận được nhiều hợp đồng, gia công được nhiều hàng hoá và sẽ thu được nhiều ngoại tệ cho quốc gia cũng như cho chính doanh nghiệp để đầu tư phát triển Thông qua gia công hàng hóa doanh nghiệp nhanh chóng tiếp thu được khoa học kỹ thuật,

từ đó có khả năng củng cố tổ chức sản xuất, nâng cao mẫu mã, chất lượng, uy thế và địa vị của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế cũng thông qua hoạt động gia công hàng hóa, các doanh nghiệp gia công hàng hóa nhanh chóng hoàn thiện sản phẩm của mình củng cố đội ngũ cán bộ công nhân viên nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ công nhân viên trong sản xuất cũng như trong gia công cụ thể, mục đích để tạo lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ khác trên thị trường thế giới

1.5 Cơ sở pháp lý của hợp đồng gia công hàng hóa

Hợp đồng gia công hàng hóa có thể chịu sự điều chỉnh của nhiều nguồn luật khác nhau như các điều ước quốc tế, pháp luật quốc gia, các tập quán quốc tế về thương mại, hoặc cũng có thể là án lệ Việc nguồn luật nào sẽ điều chỉnh còn tùy vào từng trường hợp như các tham gia ký kết hợp đồng gia công hàng hóa có thỏa thuận hay không, một trong hai bên hay cả hai bên tham gia giao kết có trụ sở tại các nước có giao kết điều ước hoặc là tập quán thương mại mà họ sử dụng khi giao

kết hợp đồng

1.5.1 Điều ước quốc tế

Điều ước quốc tế về thương mại là văn bản pháp lý quốc tế do các quốc gia xây dựng nên nhằm điều chỉnh các quan hệ về thương mại quốc tế Do đó, điều ước quốc tế có giá trị bắt buộc đối với tất cả các bên chủ thể trong giao dịch thương mại quốc tế trong trương hợp các bên này có quốc tịch, nơi cư trú ở các quốc gia là thành viên của điều ước đó Trong trường hợp các bên chủ thể không thỏa mãn các điều kiện trên thì điều ước quốc tế vẫn có thể áp dụng nếu các bên có thỏa thuận áp dụng điều ước quốc tế đó Điều ước quốc tế được áp dụng ưu tiên hơn trong trường

Trang 21

hợp có sự quy định khác nhau giữa pháp luật quốc gia và điều ước quốc tế về cùng

một vấn đề.9

1.5.2 Pháp luật quốc gia

Trong vai trò là nguồn của luật thương mại quốc tế, luật quốc gia là tổng thể

các quy phạm pháp luật có liên quan điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực

thương mại quốc tế Nguồn này được thể hiện dưới dạng thành văn là các văn bản

quy phạm pháp luật hoặc dưới hình thức luật không thành văn như án lệ tùy thuộc

vào hệ thống pháp luật mà nước đó theo đuổi Trong hoạt động thương mại quốc tế

nói chung và hoạt động gia công hàng hóa quốc tế nói riêng, luật quốc gia được áp

dụng trong hai trường hợp: khi có sự thỏa thuận của các chủ thể và khi có quy phạm

xung đột dẫn chiếu đến pháp luật quốc gia

Thứ nhất, áp dụng pháp luật quốc gia khi có sự thỏa thuận của các bên chủ

thể Trong quá trình ký kết các hợp đồng thương mại quốc tế, các bên có quyền thỏa

thuận áp dụng mọi điều kiện liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hợp

đồng, trong đó bao gồm cả thỏa thuận chon luật áp dụng Pháp luật mà hai bên thỏa

thuận lựa chọn có thể là pháp luật trong nước của mỗi bên hoặc pháp luật của một

nước thứ ba có liên quan với điều kiện không trái với những quy định của pháp luật

nước ký kết hợp đồng.10

Thứ hai, áp dụng pháp luật quốc gia khi có quy phạm xung đột dẫn chiếu

đến Mặc dù không được sự thỏa thuận trước, tuy nhiên trong một số trường hợp,

pháp luật quốc gia vẫn được áp dụng để điều chỉnh một quan hệ thương mại khi các

quy phạm xung đột dẫn chiếu đến hệ thống pháp luật quốc gia nào đó Việc áp dụng

pháp luật quốc gia trong trường hợp này phải tuân thủ theo hệ thống pháp luật nước

được dẫn chiếu về nội dung lẫn hình thức và cách giải thích pháp luật

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam có rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật

là nguồn của thương mại quốc tế như: Luật Thương mại 2005, Bộ luật Dân sự

Trang 22

Các tập quán thương mại quốc tế hình thành từ rất lâu đời Các tập quán này

sẽ trở thành nguồn luật điều chỉnh các hợp đồng gia công hàng hóa nếu các chủ thể tham gia ký kết hợp đồng thỏa thuận dẫn chiếu các tập quán thương mại quốc tế vào nội dung hợp đồng

Khi được dẫn chiếu vào hợp đồng gia công hàng hóa, các tập quán thương mại sẽ có hiệu lực bắt buộc áp dụng với các chủ thể ký kết, chúng được chia thành nhóm: Các tập quán có tính chất nguyên tắc các tập quán thương mại quốc tế chung

và các tập quán thương mại khu vực

Trang 23

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG GIA CÔNG HÀNG HÓA 2.1 Nguyên tắc khi giao kết hợp đồng gia công hàng hóa

Hợp đồng là kết quả của quá trình giao kết Bởi vậy, việc giao kết hợp đồng phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định Nguyên tắc khi giao kết hợp đồng gia công hàng hóa là những yêu cầu có tính chất bắt buộc đối với các bên khi tham gia giao kết hợp đồng Những nguyên tắc này nhằm đảm bảo sự an toàn pháp lý cho các bên giao kết, hướng dẫn xử sự của các chủ thể trong quá trình giao kết và thiết lập quan hệ hợp đồng một cách hợp pháp Luật thương mại 2005 không đề cập đến những nguyên tắc giao kết hợp đồng Vì vậy, việc giao kết hợp đồng thương mại nói chung và hợp đồng gia công hàng hóa nói riêng sẽ tuân thủ theo nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự Theo quy định tại Điều 389 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì việc giao kết hợp đồng phải tuân thủ theo những nguyên tắc sau đây:

2.1.1 Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật đạo

đức xã hội

Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng đã được đề cập đến trong hệ thống pháp luật Việt Nam từ thời phong kiến, tuy nhiên không được quy định cụ thể nhưng các điều luật trong bộ Quốc triều hình luật có quy định như: pháp luật trừng trị nặng những người cậy quyền thế ức hiếp để mua ruộng đất của người khác11 Bên cạnh

đó, trong bộ Hoàng Việt luật lệ tuy không có những quy định chung về khế ước của

ca nhân và pháp luật chỉ điều chỉnh những quan hệ giao kết có nguy cơ xâm phạm trật tự xã hội, thuần phong mỹ tục và được đề cập chủ yếu trong những quy định về

hôn nhân và gia đình Cụ thể: “Cấm các ty ấu ở chung với các bậc tôn trưởng tự tiện đem bán tài sản vượt quá giá 10 lượng bạc thì phải phạt 20 roi cho đến 100 trượng hoặc một quy định khác là trường hợp cha mẹ, ông bà còn sống, các cháu không có quyền giao kết khế ước phân sản, chia gia tài và xin đứng sổ riêng” 12 Ngoài ra, trong thời Pháp thuộc nguyên tắc nay cũng được ghi nhận, theo đó pháp luật luôn tôn trọng quyền tự do thỏa thuận của các bên nhưng không trái pháp luật, phong hóa hoặc trật tự công cộng

Trang 24

Một hợp đồng khi thực hiện thì điều kiện đầu tiên cần phải thỏa mãn là việc tuân thủ quy định của pháp luật và đạo đức xã hội Theo quy định của Bộ luật Dân

sự hiện hành thì “điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định” 13, vì thế khi xem xét hợp đồng có vi phạm điều cấm của pháp luật hay không thì cần dựa vào những quy định liên quan đến hợp đồng như chủ thể, nội dung… Bên cạnh đó, một hợp đồng muốn

có hiệu lực còn phải tuân thủ đạo đức xã hội “Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng” 14, đạo đức xã hội không được quy định cụ thể trong văn bản vi phạm pháp luật mà chỉ được thừa nhận trong ý thức cộng đồng, những chuẩn mực

xã hội đó tạo nên sự ràng buộc giữa các chủ thể của xã hội với nhau, đảm bảo sự tự

do của các bên khi giao kết hợp đồng nhưng không có bất kì chủ thể nào có thể xâm phạm đến sự tự do về quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người khác

Qua những quy định trên có thể thấy rằng tự do giao kết hợp đồng nhưng không trái với pháp luật, đạo đức xã hội là một trong những nguyên tắc, một tư tưởng chủ đạo đánh dấu một bước phát triển của pháp luật dân sự về hợp đồng Trước khi có Bộ luật Dân sự 1995 ra đời, Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 quy

định: “Hợp đồng dân sự được giao kết trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng nhưng không trái pháp luật và đạo đức xã hội”.15 Quy định này cho thấy pháp luật dân sự trước đây đã không phản ánh được quyền tự do giao kết hợp đồng của các chủ thể vốn là thuộc tính tất yếu phải có khi tham gia giao kết hợp đồng dân sự là nguyên tắc cốt lõi, quan trọng nhất của hợp đồng

Khắc phục hạn chế trên, theo quy định tại khoản 1 Điều 389 Bộ luật Dân sự

năm 2005 các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng được quyền “tự do giao kết hợp đồng” Theo nguyên tắc này, các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng có sự tự do ý

chỉ trong việc lựa chọn hợp đồng mà mình giao kết, tự do lựa chọn chủ thể giao kết Không một chủ thể nào được phép can thiệp trái pháp luật vào sự tự do giao kết hợp đồng của các chủ thể tham gia hợp đồng Tuy nhiên, sự tự do ý chí đó phải nằm trong khuôn khổ nhất định Bên cạnh việc chú ý đến quyền lợi của mình, các chủ thể cũng phải bảo đảm quyền lợi của những người khác cũng như lợi ích của toàn

xã hội Vì vậy, tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật và đạo đức

13 Điều 128 Bộ luật Dân sự, năm 2005

14 Điều 128 Bộ luật Dân sự, năm 2005

15

Điều 2 Pháp lệnh hợp đồng dân sự , năm 1991

Trang 25

xã hội, mỗi một chủ thể vừa có quyền “tự do giao kết hợp đồng” nhưng cũng đồng

thời có nghĩa vụ tương ứng đó là tôn trọng pháp luật và đạo đức xã hội và đây cũng chính là “sự giới hạn” ý chí tự do của mỗi một chủ thể trong việc giao kết hợp đồng nói riêng, cũng như đối với mọi hành vi của họ nói chung

2.1.2 Nguyên tắc tự nguyên, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng

Theo nguyên tắc này, khi tham gia giao kết hợp đồng, các bên phải hoàn toàn

tự nguyện Không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào Mọi hành vi tác động làm ảnh hưởng đến sự tự nguyện của chủ thể có thể làm cho hợp đồng mà các chủ thể giao kết bị vô hiệu

Nguyên tắc bình đẳng cũng là một nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự nói chung và hợp đồng dân sự nói riêng, đồng thời cũng là một trong những nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến pháp Theo đó, khi các bên tham gia giao kết hợp đồng, các bên đều bình đẳng không phân biệt tôn giáo, dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp,… Song song đó, trong một số trường

hợp nhất định, nếu pháp luật có quy định mang tính “cấm”, “buộc” hoặc dành

quyền ưu tiên nhất định cho một chủ thể nào đó thì cũng không làm mất đi tính bình đẳng của các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng dân sự

Nguyên tắc thiện chí, hợp tác trong giao kết hợp đồng dân sự cũng không ngoài mục đích bảo đảm được bản chất pháp lý của hợp đồng là sự thỏa thuận nhằm thiết lập quan hệ hợp đồng để thỏa mãn những nhu cầu vật chất, tinh thần của các bên Sự giao lưu ý chí đi đến thống nhất đòi hỏi thái độ thiện chí, hợp tác từ hai phía, có như vậy mới nhanh chóng đạt được sự thỏa thuận Trong quá trình giao kết hợp đồng, các bên phải tôn trọng ý chí của nhau trong quá trình thương lượng, biết thừa nhận lợi ích của nhau một cách công bằng, hợp lý.16

Ngoài ra, sự trung thực và ngay thẳng trong việc giao kết hợp đồng cũng là yêu cầu mà pháp luật đặt ra đối với các chủ thể giao kết hợp đồng Về mặt pháp lý,

sự gian dối, lừa lọc, biểu hiện của sự thiếu trung thực, thiếu ngay thẳng khi giao kết hợp đồng làm thiệt hại đến quyền lợi của một bên có thể làm cho hợp đồng bị coi là

16 Viện khoa học pháp lý: Bình luận khoa học bộ luật dân sự năm 2005 (tập II), phần thứ ba: Nghĩa vụ dân

sự và hợp đồng dân sự, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, Tr 203

Trang 26

vô hiệu Về mặt kinh tế, sự thiếu trung thực trong giao kết hợp đồng sẽ dẫn đến sự thiếu tin tưởng của bên còn lại và thiệt hại về kinh tế

2.2 Chủ thể giao kết hợp đồng gia công hàng hóa

Chủ thể không thể thiếu trong giao kết hợp đồng gia công hàng hóa đó là thương nhân Hầu hết các hợp đồng thương mại nói chung đều được các thương nhân tham gia xác lập khi tham gia các hoạt động thương mại trong đó có hoạt động gia công hàng hóa Bên cạnh đó, trong một số trường hợp đặc biệt một số chủ thể không phải thương nhân cũng có thể tham gia giao kết hợp đồng gia công hàng hóa Nhìn chung, chủ thể tham gia giao kết hợp đồng gia công hàng hóa có thể chia thành hai loại chủ thể: chủ thể là thương nhân và chủ thể không phải là thương nhân

2.2.1 Chủ thể là thương nhân

Trong Luật Thương mại năm 2005 thương nhân được định nghĩa như sau:

“Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” 17

Theo khái niệm này thì hoạt động thương mại là một yếu tố không thể thiếu được để xác định một thương nhân, hay nói cách khác muốn xác định xem chủ thể có phải là thương nhân hay không thì phải xem chủ thể đó có thực hiện hành vi thương mại hay không Như vậy, số lượng chủ thể được xem là thương nhân nhiều hay ít là phụ thuộc vào quan điểm của pháp luật về các hoạt động thương mại rộng hay hẹp

Nhưng để được xem là thương nhân thì ngoài việc dựa vào hoạt động thương mại cụ thể ở đây là thực hiện hoạt động gia công hàng hóa bên cạnh đó còn hai yếu

tố cần thiết khác theo như khái niệm trên đó là: các hoạt động thương mại phải được thương nhân thực hiện một cách thường xuyên và độc lập Luật Thương mại năm

2005 không nêu rõ thương nhân thực hiện hoạt động thương mại như thế nào là độc

lập và thường xuyên, nhưng phân tích nghĩa của cụm từ “độc lập” thì có nghĩa là

khi thực hiện hành vi thương mại nói chung và hành vi của hoạt động gia công hàng hóa nói riêng, thương nhân không bị chi phối bởi bất kỳ ý chí của chủ thể khác mà bởi chính ý chí của mình, chịu trách nhiệm trực tiếp về hành vi của mình Về tính thường xuyên, theo tinh thần pháp luật thương mại hiện hành thể hiện qua các quy phạm pháp luật trong Luật Thương mại năm 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 2005

17

Khoản 1, Điều 6, Luật Thượng mại năm 2005

Trang 27

có thể đưa ra một số dấu hiệu của tính thường xuyên như sau: “chủ thể chỉ được coi

là thương nhân, nếu chủ thể này tiến hành các hoạt động trên cơ sở có kế hoạch lâu dài như một nghề nghiệp để thu nhập Để trở thành thương nhân thì chủ thể phải thường xuyên thực hiện hoạt động thương mại một cách thực tế, lặp đi lặp lại, kế tiếp nhau, liên tục, mang tính nghề nghiệp”

Thương nhân có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh, Luật Thương mại năm 2005 xác định đây là một nghĩa vụ của thương nhân Nhưng theo quy định tại Điều 7 Luật Thương mại năm 2005 có ghi nhận nếu chủ thể có đầy đủ các điều kiện để trở thành thương nhân nhưng chưa có đăng ký kinh doanh thì vẫn phải chịu trách nhiệm

về hoạt động của mình Với quy định này pháp luật về thương mại có thể điều chỉnh được các hoạt động thương mại của các thương nhân chưa có đăng ký kinh doanh, việc làm nay đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các chủ thể khi tham gia hoạt động thương mại

Luật Thương mại năm 2005 cũng cho phép thương nhân nước ngoài tham gia hoạt động thương mại tại Việt Nam, tức có khả năng tham gia giao kết hợp đồng gia công hàng hóa Theo Khoản 1 Điều 16 Luật Thương mại năm 2005 đã đưa ra

khái niệm thế nào là thương nhân nước ngoài: “Thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài thừa nhận”.18

Thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam được pháp luật điều chỉnh và bảo vệ, các thương nhân nước ngoài ra được quyền tham gia hoạt động giao kết hợp đồng gia công hàng hóa mà pháp luật bảo vệ

2.2.2 Chủ thể không phải là thương nhân

Ngoài chủ thể không thể thiếu là thương nhân thì Luật Thương mại năm

2005 còn ghi nhận một loại chủ thể không phải là thương nhân cũng chịu sự điều chỉnh của luật thương mại Có nghĩa là chủ thể này cũng có khả năng tham gia hoạt động gia công hàng hóa và giao kết hợp đồng gia công hàng hóa Đây là một loại chủ thể khá đặc biệt, cá nhân hoạt động thương mại thường xuyên và độc lập và

không cần phải đăng ký kinh doanh Pháp luật Việt Nam có định nghĩa “Cá nhân hoạt động thương mại là cá nhân tự mình hằng ngày thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động được pháp luật cho phép về mua bán hàng hóa, cung ứng

18

Khoản 1, Điều 16, Luật Thương mại năm 2005

Trang 28

dịch vụ và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác nhưng không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh

và không gọi là “thương nhân” theo quy định của pháp luật về thương mại”.19

Chủ thể này đáp ứng đủ điều kiện trở thành thương nhân với các đặc điểm là hoạt động thương mại một cách thường xuyên và độc lập Tuy nhiên, các chủ thể chỉ hoạt động thương mại một cách nhỏ lẻ nên việc trở thành thương nhân với họ là không cần thiết Cho nên pháp luật hiện hành không xếp nhóm chủ thể này vào nhóm chủ thể là thương nhân Tuy nhiên, các chủ thể này vẫn phải tuân thủ theo pháp luật điều chỉnh về thương nhân do thực hiện các hoạt động thương mại với quy mô nhỏ lẻ nhưng đó vẫn là hoạt động thương mại, ngoài ra các chủ thể này còn đáp ứng đủ điều kiện trở thành thương nhân

2.3 Trình tự giao kết hợp đồng gia công hàng hóa

Hợp đồng gia công hàng hóa có thể được giao kết bằng các phương thức trực tiếp hoặc gián tiếp

Giao kết hợp đồng bằng phương thức trực tiếp: các bên tham gia giao kết hợp đồng cử người đại diện để trực tiếp gặp nhau, cùng bàn bạc, thương lượng và thỏa thuận thống nhất về các nội dung của hợp đồng và cùng ký tên vào văn bản hợp đồng Kể từ thời điểm các bên có mặt ký vào hợp đồng, hợp đồng được xác lập

và phát sinh hiệu lực pháp lý

Giao kết hợp đồng bằng phương pháp gián tiếp: các bên không trực tiếp gặp nhau để bàn bạc, thảo luận mà thực hiện trao đổi qua các tài liệu giao dịch như công văn, thư điện tử, đơn đặt hàng, đơn chào hàng… có ghi rõ nội dung cần giao dịch Trình tự giao kết hợp đồng theo phương thức này bao gồm hai giai đoạn: Đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Những vấn đề này không được Luật Thương mại năm 2005 quy định chi tiết nên trong thực tiễn các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 được sử dụng cho giao kết hợp đồng gia công hàng hóa

- Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện ý chí giao kết hợp đồng và chịu

sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể Điều 390 Bộ luật Dân sự năm 2005 như vậy Bộ luật Dân sự năm 2005 không quy

19 Khoản 1, Điều 3, Nghị định 39/2007/NĐ-CP Nghị định về cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh, Ngày 16 tháng 3 năm 2007

Trang 29

định về hình thức của đề nghị giao kết hợp đồng nhưng có thể dựa vào hình thức của hợp đồng để xác định hình thức của đề nghị giao kết hợp đồng Vậy đề nghị giao kết hợp đồng gia công hàng hóa có thể được lập thành văn bản hoăc bằng các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương văn bản.20

- Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của các bên được đề nghị đối với các bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị Điều

396, Bộ luật Dân sự năm 2005 Thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết là trong một thời hạn được ấn định của bên đề nghị, ngoại trừ trường hợp có lý do khách quan thì việc trả lời đến chậm vẫn có hiệu lực; đối với giao kết trực tiếp thì phải trả lời ngay trừ trường hợp có thỏa thuận khác Điều 397, Bộ luật Dân sự năm 2005

- Thời điểm giao kết hợp đồng: hợp đồng gia công hàng hóa được giao kết vào thời điểm các bên đạt được sự thỏa thuận Theo Điều 404, Bộ luật Dân sự năm

2005 thời điểm giao kết hợp đồng gia công hàng hóa có các trường hợp sau:

+ Hợp đồng giao kết bằng văn bản thì thời điểm các bên cùng nhau ký vào văn bản

+ Hợp đồng giao kết gián tiếp bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng

là thời điểm các bên đạt được sự thỏa thuận, được xác định theo nguyên tắc tiếp thu

Tuy nhiên, cũng có trường hợp hợp đồng cũng được xem như được giao kết khi hết hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im lặng

là sự trả lời chấp nhận đề nghị giao kết.21

Thông thường hợp đồng gia công hàng hóa sẽ có hiệu lực từ thời điểm giao kết, bên cạnh đó trong nhiều trường hợp thời điểm giao kết hợp đồng gia công hàng hóa không trùng hợp với thời điểm có hiệu lực của hợp đồng nếu các bên có thỏa thuận khác.22

2.4 Đối tượng của hợp đồng gia công hàng hóa

Đối tượng của hợp đồng gia công hàng hóa trong thương mại là việc thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất ra sản phẩm mới Sản phẩm mới được sản xuất ra theo hợp đồng gia công hàng hóa trong thương mại được gọi

20 Điều 179, Luật Thương mại năm 2005

21 Khoản 2, Điều 404, Bộ luật Dân sự năm 2005

22

Điều 405, Bộ luật Dân sự năm 2005

Trang 30

là hàng hóa gia công Tất cả các loại hàng hóa đều có thể được gia công, trừ những hàng hóa thuộc diện cấm kinh doanh.23

Hàng hóa thuộc diện cấm kinh doanh được quy định cụ thể trong Danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh trong phụ lục số 01 ban hành kèm theo Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2006 Quy định chi tiết Luật Thương mại

về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện; và có sự bổ sung ở Điều 1, Nghị định 43/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 05 năm

2009 Hàng hóa có thể được gia công cho thương nhân nước ngoài, trường hợp hàng hóa được gia công cho thương nhân nước ngoài để tiêu thụ ở nước ngoài thì hàng hóa thuộc diện cấm kinh doanh, cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, có thể được gia công nếu được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.24

Điều 180 Luật Thương mại năm 2005 đây là một điều khoản hoàn toàn mới của Luật Thương mại năm 2005 mà Luật Thương mại năm 1997 chưa điều chỉnh đến.25

Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam được quy định trong phụ lục số 01 ban hành kèm theo Nghị định 187/2013/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2013 Quy định chi tiết Luật Thương mại

về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công

và hóa cảnh hàng hóa với nước ngoài Ở Việt Nam, gia công cho nước ngoài đóng một vài trò quan trọng

Như vậy, quy định của pháp luật Việt Nam đã quy định chi tiết về các đối tượng của hợp đồng gia công hàng hóa, đối tượng được phép gia công, đối tượng nào khi gia công phải cần được cơ quan có thẩm quyền cho phép Các đối tượng này có thể thay đổi theo từng thời kỳ khác nhau nhằm thực hiện chiến lược phát

triển của đất nước theo từng thời kỳ đó

2.5 Hình thức của hợp đồng gia công hàng hóa

Trong giao kết hợp đồng gia công hàng hóa các bên thường bày tỏ ý chí với nhau theo những nguyên tắc và trình tự nhất định Sự bày tỏ ý chí này phải được thể hiện ra ngoài bằng một hình thức nhất định để có thể nhận biết được Hình thức của

23

Văn phòng luật sư Tô Đình Huy, Hợp đồng gia công, trang web: thuc-ve-hop-dong/1597-hop-dong-gia-cong.html , [Truy cập ngày 10/10/2014]

http://luathopdong.com/thong-tin/kien-24 Điều 180, Luật Thương mại năm 2005

25 Đinh Thị Mai Phương-Nguyễn Văn Cương-Chu Thị Hoa-Lê Thị Hoàn Thanh-Phan Công Thành, Những

điểm mới của Luật Thương mại năm 2005, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2005, Tr 313

Trang 31

hợp đồng là cách thức bày tỏ ý chí giữa các chủ thể, nó ghi nhận nội dung của sự bày tỏ ý chí giữa các bên Hình thức của hợp đồng khá phong phú và đa dạng tùy theo đặc điểm của từng loại hợp đồng, cách thức khi giao kết và sự lựa chọn hình thức giao kết hợp đồng mà hình thức của hợp đồng có thể là lời nói, hành vi, văn bản hoặc các hình thức tương đương văn bản.26

Khi giao kết hợp đồng thì việc thể hiện ý của các bên chủ thể thông qua việc đưa ra đề nghị và chấp nhận đề nghị Hình thức của việc đưa ra đề nghị và chấp nhận đề nghị của các bên có thể không giống nhau Như vậy, trong giao kết hợp đồng các chủ thể có khả năng sử dụng các hình thức khác nhau để biểu lộ ý chí nhưng các hình thức này phải được pháp luật quy định

Công việc lựa chọn hình thức của hợp đồng có ý nghĩa quan trọng Nó mang lại nhưng thuận lợi khi các bên chủ thể tham gia ký kết hợp đồng Đặc biệt hình thức là những gì thể hiện ra bên ngoài của nội dung, nó là bằng chứng để chứng minh sự thỏa thuận của các bên Trong việc giao kết hợp đồng thương mại, để tránh được những rủ ro và thiệt hại các chủ thể luôn chọn hình thức hợp đồng bằng văn bản và các hình thức tương đương văn bản Cụ thể, theo Điều 179 Luật Thương mại

năm 2005 có quy định: “Hợp đồng gia công phải được lập thành văn bản hoặc bằng các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương” Đây là một điểm mới so với Luật Thương mại năm 1997 cụ thể ở Điều 131 “1) Việc gia công trong thương mại phải được xác lập bằng hợp đồng Hợp đồng gia công trong thương mại phải được lập thành văn bản giữa bên nhận gia công và bên đặt gia công 2) Nội dung hợp đồng gia công trong thương mại, quyền và nghĩa vụ của bên nhận gia công được áp dụng theo quy định về hợp đồng gia công của Bộ luật dân sự” Điểm mới

của Điều 179 của Luật Thương mại năm 2005 ở chỗ ngoài hình thức hợp đồng gia

công phải được lập thành văn bản còn bổ sung thêm cụm từ “hoặc bằng hình thức khác có giá trị tương đương” 27 Như vậy, về mặt hình thức của hợp đồng gia công

có thể ở dạng có giá trị tương đương văn bản Trong thực tế áp dụng hợp đồng gia

công hàng hóa được giao kết sau khi trải qua quá trình đàm phán phức tạp, nếu quá trình đàm phán của các bên đi đến sự thống nhất ý chí khi đó các bên sẽ soạn thảo một hợp đồng để ghi nhận lại các thỏa thuận và các bên cung ký vào bản hợp đồng Đây cũng là hình thức phổ biến trong giao kết hợp đồng thương mại Hình thức của

26 Điều 124, Bộ luật Dân sự năm 2005

27 Đinh Thị Mai Phương-Nguyễn Văn Cương-Chu Thị Hoa-Lê Thị Hoàn Thanh-Phan Công Thành, Sđd, Tr

312

Trang 32

hợp đồng bằng văn bản sẽ mang lại sự an toàn và đạt được hiệu quả cao vì các bên trực tiếp thể hiện ý chí

Bên cạnh đó hình thức của hợp đồng gia công hàng hóa còn ở dạng bằng các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương văn bản được quy định theo pháp luật thương mại gồm: điện báo, telex, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.28

2.6 Nội dung của hợp đồng gia công hàng hóa

Nội dung của hợp đồng thương mại nói chung và hợp đồng gia công hàng hóa nói riêng là tổng hợp các điều khoản mà các bên tham gia giao kết hợp đồng đã thỏa thuận, các điều khoản này xác định những quyền và nghĩa vụ dân sự cụ thể của các bên giao kết hợp đồng Tuy nhiên, sự khác biệt cơ bản của hợp đồng gia công so với các loại hợp đồng khác là nội dung của hợp đồng gia công là hoạt động gia công

Pháp luật đề cao sự thỏa thuận giữa các bên giao kết, tuy nhiên nội dung của hợp đồng gia công cũng phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.29 Điều 402 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: Tùy theo từng loại hợp đồng,

các bên có thể thỏa thuận về những nội dung sau đây: “Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không được làm; số lượng, chất lượng; giá, phương tiện thanh toán; thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; quyền, nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; phạt vi phạm hợp đồng; các nội dung khác”

Tùy theo tính chất của từng loại hợp đồng các bên có thể thỏa thuận hay không thỏa thuận tất cả các điều ghi trên Các bên cũng có thể bổ sung thêm vào hợp đồng những điều khoản không có quy định

Ngoài ra, để làm rõ nội dung của hợp đồng gia công hàng hóa, các bên có thể

bổ sung bởi phụ lục hợp đồng Phụ lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng , nhưng nội dung của phụ lục không được trái với hợp đồng Trường hợp phụ lục có điều khoản trái với nội dung của điều khoản trong hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Nếu các bên chấp nhận

Ngày đăng: 03/10/2015, 04:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Các Mác, Tư bản, Quyển 1, tập I, NXB. Sự thật, Hà Nội, năm 1973 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư bản
Nhà XB: NXB. Sự thật
2. Đinh Thị Mai Phương-Nguyễn Văn Cương-Chu Thị Hoa-Lê Thị Hoàn Thanh- Phan Công Thành, Những điểm mới của Luật Thương mại năm 2005, NXB Tư pháp, Hà Nội, năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm mới của Luật Thương mại năm 2005
Tác giả: Đinh Thị Mai Phương, Nguyễn Văn Cương, Chu Thị Hoa, Lê Thị Hoàn Thanh, Phan Công Thành
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2005
3. Đỗ Văn Đại, Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng
Tác giả: Đỗ Văn Đại
4. Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chử nghĩa Mác – Lênin, NXB Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội, năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chử nghĩa Mác – Lênin
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia – sự thật
5. Lê Hoàng Oanh, Bình luận các vấn đề mới của luật thương mại trong điều kiện hội nhập, NXB Tư pháp,Hà Nội, năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận các vấn đề mới của luật thương mại trong điều kiện hội nhập
Nhà XB: NXB Tư pháp
6. Lê Trung Thảo, Tài liệu nghiên cứu pháp luật thương mại, NXB Thời Đại, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu pháp luật thương mại
Nhà XB: NXB Thời Đại
7. Nguyễn Thị Mơ-Trọng tài viên VIAC, Quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về hợp đồng - Những bất cập đặt ra từ thực tiễn giao kết hợp đồng của doanh nghiệp và giải pháp sửa đổi, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về hợp đồng - Những bất cập đặt ra từ thực tiễn giao kết hợp đồng của doanh nghiệp và giải pháp sửa đổi
8. Nhà pháp luật Việt Pháp, Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại Quốc tế, NXB Tư pháp, năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại Quốc tế
Nhà XB: NXB Tư pháp
9. Phạm Thanh Phấn – Nguyễn Huy Anh, Kỹ thuật soạn thảo hợp đồng kinh tế hợp đồng thương mại, NXB Thống kê, Hà Nội, năm 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật soạn thảo hợp đồng kinh tế hợp đồng thương mại
Tác giả: Phạm Thanh Phấn, Nguyễn Huy Anh
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1998
10. Phan Trung Hiền, Để hoàn thành tốt luận văn ngành luật, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để hoàn thành tốt luận văn ngành luật
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
11. Trường Đại học Luật Hà Nội, Đinh Văn Thanh-Nguyễn Minh Tuấn, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
12. Trường Đại học Luật Hà Nội, Lê Minh Tâm, Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, NXB Tư pháp, năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Lê Minh Tâm
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2005
13. Trường Đại học Luật Hà Nội, Nông Quốc Bình, Giáo trình Luật Thương mại quốc tế, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Thương mại quốc tế
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
14. V.I.Lênin toàn tập, Tập 36, NXB. Sự thật, Hà Nội, năm 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: V.I.Lênin toàn tập
Nhà XB: NXB. Sự thật
15. Viện khoa học pháp lý: Bình luận khoa học bộ luật dân sự năm 2005 (tập II), phần thứ ba: Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học bộ luật dân sự năm 2005 (tập II), phần thứ ba: Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
16. Walter Good, Từ điển chính sách thương mại quốc tế, NXB Thống kê, Hà Nội, năm 2005. Các văn bản khác Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển chính sách thương mại quốc tế
Nhà XB: NXB Thống kê
1. Bản án sơ thẩm số 1314/2007/KDTM-ST về vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại “Về việc tranh chấp hợp đồng Gia công” ngày 26 tháng 07 năm 2007 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc tranh chấp hợp đồng Gia công
2. Công ước Viên 1980 Công ước của Liên hợp quốc về mua bán hàng hóa quốc tế. 3. Hoàng Việt luật lệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước Viên 1980 Công ước của Liên hợp quốc về mua bán hàng hóa quốc tế
Tác giả: Hoàng Việt
1. Văn phòng luật sư Tô Đình Huy, Hợp đồng gia công, trang web: http://luathopdong.com/thong-tin/kien-thuc-ve-hop-dong/1597-hop-dong-gia-cong.html, [Truy cập ngày 10/10/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp đồng gia công
Tác giả: Văn phòng luật sư Tô Đình Huy
2. Soạn điều khoản chất lượng dựa vào mẫu hàng, trang web: http://thuongmaiwto.com/vi/trang-chinh/Soan-hop-dong/Soan-dieu-khoan-chat-luong-dua-vao-mau-hang-258/, [Truy cập ngày 12/10/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Soạn điều khoản chất lượng dựa vào mẫu hàng

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w