1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo

73 720 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 759,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về phương diện xã hội thì tố cáo thể hiện sự bất bình của người này đối với hành vi sai trái, vi phạm pháp luật của người khác và báo cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc người khác b

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện

TS.PHAN TRUNG HIỀN TRẦN KIM HOA

MSSV: 5115712

Lớp: LK1163A1

Cần Thơ – 11/2014

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TỐ CÁO 8

1.1 Khái niệm 8

1.1.1 Khái niệm tố cáo 8

1.1.2 Khái niệm người tố cáo 10

1.1.3 Phân biệt khiếu nại tố cáo 12

1.2 Khái quát chung về quyền tố cáo của công dân 12

1.2.1 Quyền tố cáo của công dân nước ta trong thời phong kiến 13

1.2.2 Quyền tố cáo của công dân qua Hiến pháp và Pháp luật Việt Nam 14

1.2.2.1 Thời kỳ trước năm 1975 14

1.2.2.2 Thời kỳ từ năm 1975 đến năm 1998 17

1.2.2.3 Thời kỳ từ năm 1998 đến năm 2011 21

1.2.2.4 Thời kỳ từ năm 2011 đến nay 22

1.3 Yêu cầu thực tiễn và mục đích của việc quy định về bảo vệ người tố cáo 22

1.3.1 Yêu cầu thực tiễn về bảo vệ người tố cáo 22

1.3.2 Mục đích, ý nghĩa của việc quy định về bảo vệ người tố cáo của nước ta 23

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TỐ CÁO 25

2.1 Khái quát các quy định của nước ta về bảo vệ người tố cáo 25

2.1.1 Bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo 29

2.1.1.1 Bảo vệ bí mật thông tin về người tố cáo trong quá trình tiếp nhận, thụ lý, giải quyết tố cáo 29

2.1.1.2 Trách nhiệm bảo vệ bí mật thông tin về người tố cáo của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan 29

2.1.2 Bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tính và các quyền nhân thân khác của người tố cáo và người thân thích của người tố cáo 30

2.1.2.1 Bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người tố cáo và người thân thích của người tố cáo 30

2.1.2.2 Bảo vệ tài sản của người tố cáo, người thân thích của người tố cáo 31

2.1.2.3 Bảo vệ uy tín, danh dự, nhân phẩm và các quyền nhân thân khác của người tố cáo, người thân thích của người tố cáo 32

Trang 3

2.1.3 Bảo vệ vị trí công tác, việc làm của người tố cáo, người thân thích của

người tố cáo 32

2.1.3.1 Bảo vệ vị trí công tác, việc làm của người tố cáo, người thân thích của người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức 32

2.1.3.2 Bảo vệ việc làm đối với người tố cáo, người thân thích của người tố cáo là người làm việc theo hợp đồng lao động mà không phải là viên chức 33

2.1.4 Những điểm mới của pháp luật hiện hành về bảo vệ người tố cáo ở nước ta 33 2.1.4.1 Về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo 33

2.1.4.2 Về nghĩa vụ của người giải quyết tố cáo 34

2.1.4.3 Về công tác bảo vệ người tố cáo 35

2.2 Các phương thức bảo vệ người tố cáo 35

2.2.1 Các biện pháp hành chính 36

2.2.2 Các biện pháp kĩ thuật 36

2.2.3 Các biện pháp kinh tế 37

2.2.4 Các biện pháp hình sự 38

2.3 Chủ thể có trách nhiệm bảo vệ người tố cáo 38

2.3.1 Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết tố cáo 39

2.3.2 Cơ quan công an các cấp 42

2.3.3 Các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan 44

2.4 Xử lý đối với những vi phạm liên quan đến việc xét, giải quyết tố cáo và bảo vệ người tố cáo 46

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ BẢO VỆ NGƯỜI TỐ CÁO VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TỐ CÁO 48

3.1 Tình hình thực thi pháp luật về bảo vệ người tố cáo hiện nay 48

3.2 Những hạn chế của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo vệ người tố cáo 50

3.3 Một số hành vi phạm tội xâm hại quyền lợi người tố cáo hiện nay 52

3.3.1 Lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở quyền tố cáo, việc xét và giải quyết tố cáo hoặc việc xử lý người bị tố cáo 52

3.3.2 Có trách nhiệm mà cố ý không chấp hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền xét và giải quyết tố cáo gây thiệt hại cho người tố cáo 54

3.3.3 Trả thù người tố cáo 56

3.4 Nguyên nhân dẫn đến việc người tố cáo không được bảo vệ toàn diện 57

3.5 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác bảo vệ người tố cáo trên thực tế 58

Trang 4

3.5.1 Xây dựng và thực hiện nghiêm túc các quy trình, nghiệp vụ về tiếp nhận, xử

lý và giải quyết tố cáo, bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo 58 3.5.2 Xây dựng căn cứ để yêu cầu bảo vệ người tố cáo 60 3.5.3 Phối hợp giữa người giải quyết tố cáo và các cơ quan, tổ chức có liên quan 61

KẾT LUẬN 63

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU



1 Lí do chọn đề tài

Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân do dân và vì dân

là một mục tiêu quan trọng mà cả Đảng và Nhà nước ta đã đề ra và quyết tâm đạt được, trong đó sự phát triển bền vững và ổn định về mặt chính trị là vấn đề đầu tiên cần phải có Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “ Nước ta là Nhà nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”1, và “ Làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”2

có thể thấy để xây dựng được một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì người dân đóng vai trò quan trọng không thể thiếu, muốn có một xã hội văn minh và phát triển như ý muốn thì cần thiết phải có các cơ chế và những điều kiện tốt nhất để người dân nói lên tâm tư, nguyện vọng chính đáng của mình, chủ động và sẵn sàng bày tỏ sự bất bình của mình về hành

vi sai trái, hành vi vi phạm pháp luật của một cá nhân, tổ chức nào đó với cơ quan chức năng có thẩm quyền giải quyết kể cả đó là lãnh đạo, là người thủ trưởng trực tiếp của mình

Hiện nay, công tác giải quyết tố cáo của công dân luôn được Đảng và Nhà nước

ta quan tâm và coi đây là nhiệm vụ quan trọng của các cấp các ngành trong hoạt động quản lý Nhà nước, nhất là từ khi nước ta bước vào thực hiện công cuộc đổi mới, nhiều

cơ chế chính sách, pháp luật và các điều kiện kinh tế xã hội được đổi mới thì tình hình

tố cáo lại càng có chiều hướng gia tăng cả về số lượng, quy mô và mức độ, đặt ra những vấn đề hết sức bức xúc và phức tạp, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải thật sự thận trọng để giải quyết một cách triệt để, chặt chẽ và toàn diện Thời gian qua, Đảng

và Nhà nước đã ban hành rất nhiều quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo, nhờ đó pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo nói chung, những quy định về người tố cáo nói riêng ngày càng được hoàn thiện, nhất là sau khi Luật Tố cáo 2011 và Nghị định số 76/2012/ND-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số những quy định của Luật Tố cáo được ban hành

Tuy nhiên, thực tiễn công tác giải quyết tố cáo hiện nay vẫn còn gặp phải một

số khó khăn nhất định, trong nhiều vụ việc người tố cáo vẫn còn e ngại, bất hợp tác hoặc hợp tác không tích cực với các cơ quan có thẩm quyền trong việc kiểm tra, xác minh và xử lý vụ việc, người dân không chỉ không muốn lên án tố cáo những hành vi

vi phạm pháp luật khi những vi phạm đó không ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi

Trang 6

ích hợp pháp của mình vì sợ liên lụy, thậm chí có nhiều hành vi vi phạm pháp luật ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình nhưng người dân vẫn không muốn đứng ra tố cáo vì đối tượng vi phạm sử dụng các thủ đoạn che giấu hành vi phạm pháp của chúng bằng nhiều cách như mua chuộc, đe dọa và thực hiện các hành

vi bạo lực khiến cho người dân hoang mang, lo sợ3 Ý thức được sự cần thiết phải bảo

vệ người tố cáo và tầm quan trọng của công tác nói trên, người viết lựa chọn đề tài

“Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo” để làm luận văn tốt nghiệp cho mình,

qua đó người viết đã phân tích và đưa ra một số kiến nghị về việc triển khai thực hiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo trên thực tế để công tác này ngày càng hoàn thiện hơn

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của tác giả là nghiên cứu những quy định của pháp luật về bảo vệ người tố cáo, thực tiễn của công tác bảo vệ người tố cáo, qua đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhầm từng bước củng cố những quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ người tố cáo, góp phần tạo nên một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh

3 Phạm vi nghiên cứu

Trong luận văn này người viết chỉ tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền tố cáo của công dân, quyền được bảo vệ của người tố cáo và công tác bảo vệ người tố cáo mà chủ yếu là Luật Tố cáo năm 2011 và Nghị định số 76/2012/ND-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số những quy định của Luật Tố cáo được ban hành Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu người viết cũng đã tham khảo thêm về quyền tố cáo của công dân trong các triều đại phong kiến Việt Nam đồng thời có mở rộng nghiên cứu, phân tích các quy định của pháp luật liên quan để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu của luận văn

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn, bằng kiến thức đã học cùng với việc thu thập, tổng hợp các văn bản luật có liên quan đến quyền tố cáo của công dân Việt Nam nói chung và từ

đó tìm nhưng văn bản luật và văn bản dưới luật khác liên quan quy định về bảo vệ người tố cáo nói riêng Cùng với việc thu thập, tổng hợp tác giả đã dùng phương pháp phân tích, so sánh kết hợp với lý luận và thực tiễn để làm rõ đề tài nghiên cứu này

5 Cấu trúc của luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung chính nghiên cứu được kết cấu gồm có ba chương

3Hồng Thanh, “Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo với định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân”, Viện khoa học thanh tra

Trang 7

Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo vệ người tố cáo

Chương này giới thiệu các cơ sở lý luận chung nhất về khái niệm tố cáo, quan niệm bảo vệ người tố cáo và các khái niệm liên quan, lịch sử ra đời và phát triển của pháp luật quy định về quyền tố cáo của công dân qua các thời kỳ sau đó nêu lên yêu cầu thực tiễn phải bảo vệ người tố cáo, đồng thời phân tích và làm rõ mục đích, ý nghĩa của việc quy định về bảo vệ người tố cáo ở nước ta hiện nay Cuối cùng, dựa trên cơ sở lý luận theo quy định của pháp luật để làm nền tảng cho việc phân tích một

số quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ người tố cáo sẽ được trình bày ở chương 2

Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ người tố cáo

Nội dung của chương này là phân tích những quy định của pháp luật có liên quan về công tác bảo vệ người tố cáo, những phương thức được áp dụng để bảo vệ người tố cáo, chủ thể có trách nhiệm bảo vệ người tố cáo, các hành vi vi phạm trong quá trình bảo vệ người tố cáo và biện pháp xử lý những hành vi đó Từ đó, làm cơ sở

để chương 3 so sánh, đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn Đồng thời, tìm ra phương hướng hoàn thiện cho vấn đề nghiên cứu

Chương 3: Thực tiễn của vấn đề bảo vệ người tố cáo và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo

Chương này tập trung phân tích thực tiễn về công tác bảo vệ người tố cáo đang được thực hiện ở nước ta hiện nay, những điểm mới và hạn chế của pháp luật hiện hành quy định về bảo vệ người tố cáo, một số hành vi xâm hại đến quyền lợi của người

tố cáo và những nguyên nhân chính dẫn đến vấn đề người tố cáo không được bảo vệ một cách toàn diện Sau cùng là đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật để cho công tác bảo vệ người tố cáo ngày càng được hiệu quả hơn

Do thời gian nghiên cứu có hạn và kiến thức vẫn còn nhiều hạn chế, nên trong quá trình nghiên cứu đề tài sẽ không thể nào tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được sự góp ý từ quý thầy, cô và các bạn để người viết có thể có được những ý kiến tốt nhất làm cho đề tài nghiên cứu được hoàn chỉnh hơn

Trang 8

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TỐ CÁO

Chương này sẽ được người viết lần lượt trình bày các vấn đề: khái niệm tố cáo

và các khái niệm liên quan, quan niệm về bảo vệ người tố cáo, quyền tố cáo của công dân Việt Nam qua các thời kỳ Cuối cùng là yêu cầu, mục đích và ý nghĩa của việc pháp luật quy định về bảo vệ người tố cáo

1.1 Khái niệm

1.1.1 Khái niệm tố cáo

Nhà nước ra đời và trở thành công cụ bạo lực của giai cấp thống trị, họ sử dụng sức mạnh của Nhà nước để điều hòa những mâu thuẫn của các giai cấp trong xã hội và cũng để bảo vệ quyền lợi cho chính giai cấp của mình Bất kì Nhà nước nào muốn tồn tại và phát triển bền lâu cũng cần đến sự đồng thuận và ủng hộ từ phía người dân, do vậy trong hoạt động của mình, mọi nhà nước điều cần có những quy định về mặt pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân Mặt khác, bản thân Nhà nước nào cũng mong muốn quyền hành và bộ máy cai trị của mình lập ra không bị phá vỡ

và luôn được giữ vững Tuy nhiên, trên thực tiễn vì nhiều lý do khác nhau, chẳng hạn như lợi ích, tình cảm hay từ sự yếu kém của mình mà một số bộ phận nào đó đã vô ý hoặc cố tình làm sai, thậm chí là vi phạm nghiêm trọng những quy định của Nhà nước, của pháp luật làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, xã hội Chính vì để bảo đảm quyền lợi của công dân, đồng thời là

để dễ dàng quản lý và sớm phát hiện được những sai phạm đó, đưa chúng ra ánh sáng

và tìm ra biên pháp phù hợp để xử lý, “tố cáo” ra đời Tùy theo mức độ, phạm vi và

đối tượng, sẽ có nhiều cách nhìn khác nhau về tố cáo Về phương diện xã hội thì tố cáo thể hiện sự bất bình của người này đối với hành vi sai trái, vi phạm pháp luật của người khác và báo cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc người khác biết để có những thái độ và biện pháp chế tài thỏa đáng đối với hành vi đó, còn về phương diện Chính trị - pháp luật thì tố cáo là một quyền của công dân, là phương thức để người dân giám sát các hoạt động của bộ máy Nhà nước và bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội và công dân

- Theo từ điển tiếng việt “tố cáo” là vạch trần hành động xấu xa, phạm pháp

hay tội ác trước cơ quan có thẩm quyền hay trước dư luận4

- Theo quan niệm của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt, “tố cáo” là quyền của công

dân phát hiện với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các quyết định, hành vi trái pháp

4

Từ điển Tiếng Việt, Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, xuất bản ngày 20/11/1997, trang 438

Trang 9

luật của cơ quan tổ chức hoặc cá nhân đã gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích của công dân nói chung mà không gây thiệt hại trực tiếp cho công dân thực hiện việc tố cáo5

- Dưới góc độ pháp lý, luật khiếu nại tố cáo được quốc hội nước ta thông qua ngày 2/12/1998, lần đầu tiên đã quy định khái niệm tố cáo: “là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc

đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức6”

Đến Luật Tố cáo năm 2011 được ban hành thì khái niệm “tố cáo” vẫn được giữ nguyên so với khái niệm “tố cáo” của Luật Khiếu nại tố cáo năm 1998

1.1.2 Khái niệm người tố cáo

Theo quy định của luật Khiếu nại tố cáo năm 1998 lần đầu tiên nêu khái niệm

về người tố cáo “Người tố cáo là công dân thực hiện quyền tố cáo”, đến khi Luật Tố cáo năm 2011 được ban hành thay thế cho Luật Khiếu nại tố cáo năm 1998 thì quan niệm về người tố cáo vẫn không có gì thay đổi so với luật cũ

Từ định nghĩa của luật “Người tố cáo là công dân thực hiện quyền tố cáo”, có thể thấy người tố cáo là những người biết được hành vi vi phạm pháp luật của người khác đang được thực hiện hoặc đã thực hiện và trình báo với cơ quan, tổ chức, người

có thẩm quyền về những gì mình biết Họ không chỉ là công dân bình thường mà hơn nữa họ còn là một công dân đặc biệt, họ là những người nhân danh công lý đứng ra vạch trần những tiêu cực, sai phạm xảy ra trong xã hội Ngoài ra người tố cáo còn là những người cộng tác, phối hợp với cơ quan Nhà nước để cung cấp các chứng cứ, thông tin, tài liệu hữu ích góp phần lớn vào việc giải quyết đúng đắn các vụ việc tố cáo Chính vì người tố cáo đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc chỉ ra người sai phạm và cung cấp thông tin, tài liệu để vạch tội những người có hành vi tiêu cực nên

họ thường phải đối mặt với rất nhiều nguy hiểm như bị mua chuộc, đe dọa hay thậm chí là bị xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản…Vì vậy, người tố cáo cần phải được áp dụng những biện pháp bảo vệ cần thiết để họ có thể thực hiện tốt trách nhiệm công dân của mình, góp phần bảo vệ sự công bằng của xã hội

Trang 10

1.1.3 Phân biệt khiếu nại, tố cáo

Luật Khiếu nại năm 2011 quy định: “khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính Nhà Nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà Nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình7”

Xuất phát từ khái niệm, chúng ta có thể thấy rằng giữa khiếu nại và tố cáo có điểm chung là chúng sẽ cùng phát sinh khi có vi phạm pháp luật (hoặc bị người khiếu nại, tố cáo cho là có vi phạm pháp luật) của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân và họ đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết, xử lý việc làm đó để khôi phục hoặc bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tập thể; quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Tuy nhiên, giữa khiếu nại và tố cáo có những điểm khác nhau cơ bản sau:

- Về chủ thể:

Chủ thể của khiếu nại bao gồm công dân, cơ quan, tổ chức, trong khi chủ thể của tố cáo chỉ có thể là công dân Xuất phát từ tính chất của tố cáo là yêu cầu xử lý người bị tố cáo, nên nhà nước khuyến khích người tố cáo đúng, đồng thời quy định người nào lợi dụng quyền tố cáo, tố cáo sai sự thật, gây thiệt hại cho người khác thì phải bị xử lý để tránh tình trạng có người nhân danh cơ quan, tổ chức nào đó thực hiện việc tố cáo với mục đích cá nhân Để cá thể hóa trách nhiệm của người tố cáo, tạo điều kiện cho cơ quan nhà nước có thể dễ dàng xử lý người cố tình tố cáo sai sự thật luật quy định chủ thể của tố cáo phải là công dân (cá nhân) chứ không bao gồm cả cơ quan

và tổ chức như khiếu nại

Còn điểm khác nữa đó là, chủ thể của khiếu nại có thể đồng thời là chủ thể giải quyết khiếu nại, còn tố cáo thì không được phép như vậy

- Về đối tượng:

Khiếu nại: bao gồm quyết định hành chính, hành vi hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ công chức, những quyết định và hành vi này phải tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại, trong khi đối tượng của tố cáo rộng hơn nhiều bao gồm: hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, của mình và của người khác Như vậy, hành vi vi phạm pháp luật của người bị tố cáo có thể tác động trực tiếp

7

Xem khoản 1, điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011

Trang 11

hoặc không ảnh hưởng gì đến quyền lợi của người tố cáo, nhưng người tố cáo vẫn có quyền tố cáo

- Nguyên nhân phát sinh:

Đối với khiếu nại là khi quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại bị xâm phạm, còn đối với tố cáo là khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích không chỉ của cá nhân người tố cáo mà còn cả lợi ích của cơ quan, tổ chức và công dân khác Cũng có trường hợp quyền và lợi ích của người tố cáo không nhất thiết phải gắn liền với vấn đề tố cáo

- Mục đích:

Mục đích của khiếu nại là nhằm bảo vệ và khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp

của người khiếu nại

Mục đích của tố cáo không chỉ để bảo vệ quyền và lợi ích của người tố cáo mà

còn để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội và của tập thể, của cá nhân khác và nhằm trừng trị kịp thời, áp dụng các biện pháp nghiêm khắc để loại trừ những hành vi trái pháp luật xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể, của cá nhân

- Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, tố cáo:

Người khiếu nại có thể tự mình hoặc uỷ quyền cho người khác khiếu nại tại cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại Người tố cáo phải tự mình (không được uỷ quyền cho người khác) tố cáo hành vi vi phạm pháp luật đến bất kỳ tổ chức, cơ quan quản lý Nhà nước nào

Người khiếu nại được quyền rút khiếu nại Người tố cáo không được rút tố cáo

và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình, nếu cố ý tố cáo sai sự thật thì phải bồi thường thiệt hại

Người khiếu nại có quyền khiếu nại lần thứ hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính ra Toà án khi không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại (mà không cần phải có căn cứ cho rằng việc giải quyết khiếu nại không đúng pháp luật) Còn người tố cáo chỉ được tố cáo tiếp khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết chứ không được khởi kiện ra toà án

Trang 12

của người bị tố cáo, do đó người bị tố cáo bao giờ cũng lẫn tránh trách nhiệm, có nhiều thủ đoạn để đối phó nhằm che giấu khuyết điểm và hành vi vi phạm của mình

1.1.4 Quan niệm về bảo vệ người tố cáo

Như chúng ta đã biết, tính chất của tố cáo thường là những vụ việc phức tạp, nguy hiểm, mức độ sai phạm nặng, người bị tố cáo có thể sẽ bị ảnh hưởng rất lớn đến danh dự, nhân phẩm và thậm chí là mất cả tương lai, sự nghiệp Do vậy, để bảo vệ bản thân, người bị tố cáo bao giờ cũng muốn lẫn tránh trách nhiệm, dùng mọi thủ đoạn để che giấu những khuyết điểm và hành vi sai phạm của mình, trong nhiều trường hợp người bị tố cáo đã không ngại dùng đến bạo lực để đe dọa, trả thù…gây cho người tố cáo và thân nhân tâm lý hoang mang, lo sợ, e ngại không dám đứng ra tố cáo, không chịu hợp tác hoặc hợp tác không tích cực với các cơ quan có thẩm quyền, gây nhiều cản trở, khó khăn trong quá trình xác minh, điều tra vụ việc Những yếu tố mà người bị

tố cáo thường lợi dụng để làm mục đích che giấu, tránh né sai phạm của mình là mua chuộc người tố cáo, đe dọa dùng bạo lực để trả thù, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, sức khỏe, làm thiệt hại tài sản và thậm chí là xâm phạm đến thân nhân của người tố cáo Thông thường, người bị tố cáo thường là những người có chức vụ, quyền hạn nên

để đạt được mục đích họ sẽ dùng đến những thủ đoạn tinh vi, khó lường, gây nguy hiểm nghiêm trọng cho người tố cáo

Từ đó cho thấy, người tố cáo là một chủ thể đặc biệt, để đứng ra bảo vệ cho công lý, lợi ích của Nhà nước và công dân, họ luôn phải đối mặt với rất nhiều áp lực từ người bị họ tố cáo như mua chuộc, đe dọa, trả thù…Chính vì thế, người tố cáo cần phải có được sự quan tâm đặc biệt từ phía Nhà nước nói chung, các cơ quan có thẩm quyền nói riêng để họ có thể an tâm hoàn thành tốt nghĩa vụ của mình và có được quyền công dân một cách đúng nghĩa

“Bảo vệ người tố cáo”, không đơn thuần chỉ là bảo vệ cho bản thân người tố

cáo mà bao gồm cả việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, sức khỏe và tài sản cho người thân của người tố cáo Ngoài ra bảo đảm các quyền, lợi ích vật chất, tinh thần cho họ cũng là vấn đề không kém phần quan trọng trong công tác bảo vệ người tố cáo

1.2 Khái quát chung về quyền tố cáo của công dân

Hành vi tố cáo là một hiện tượng khách quan trong xã hội và nó chỉ trở thành quyền một khi được Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật vì thế quyền tố cáo của công dân bao giờ cũng mang bản chất giai cấp Ở mỗi chế độ khác nhau, mỗi Nhà nước khác nhau thì quy định nội dung pháp luật về quyền tố cáo cũng khác nhau

Trang 13

1.2.1 Quyền tố cáo của công dân nước ta trong thời phong kiến

Theo nghiên cứu lịch sử Việt Nam cho thấy trong những thời kỳ hưng thịnh của Nhà nước phong kiến, các triều đại phong kiến Việt Nam luôn biết “dựa vào dân” và thực hiện nhiều kế sách để “an dân” Nguyễn Trãi đã từng viết “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”8, bởi ông nhận thấy “chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân” Với quan niệm lấy dân làm gốc, ông cha ta ngày xưa đã chú trọng và tạo mọi điều kiện để người dân được trình bày nguyện vọng cũng như bày tỏ nỗi oan ức của mình đến nhà vua thông qua việc thỉnh cầu và cáo giác các hành vi bạo ngược của quan lại, cường hào

Sử cũ ghi chép, vào thời vua Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) lên ngôi (1009-1028), nhà vua đã ra lệnh xây cung Long Đức làm nơi xử kiện và xuống chiếu “từ nay ai có việc tranh kiện, cho đến triều tâu bày, vua thân xét quyết9” Đến đời vua Lý Anh Tông (1138-1175), vào năm Mậu Dần (1158) nhà vua đã cho đặc một cái hòm gỗ ở giữa sân rồng để nhận đơn khiếu kiện của người dân10 Dưới triều vua Trần Nhân Tông (1271-1293) vua cho phép dân thường được tâu bày những điều oan ức và được thỉnh cầu trực tiếp với nhà vua khi vua xa giá kinh lý11 Đến triều đại nhà Lê Sơ (1428-1527) việc giải quyết tố cáo của người dân có quy định chặt chẽ hơn, vua ban hành “Quốc Triều Khám Tụng Điều Lệ” quy định về trình tự khiếu nại, tố cáo, trong đó quy định cấm việc khiếu nại vượt cấp: “các việc kiện tụng chưa kinh qua lần khám nào đã dẫn dắt khiếu nại vượt cấp thì các nha môn không được nhận khám, tuy nhiên mọi trường hợp bị người quyền uy ức hiếp gây thiệt hại nặng, cùng các trường hợp oan ức, không biết khám lệ ở nha môn nào, không còn đường nào có thể kêu cầu, cùng các trường hợp đã qua công luận, phúc đình nhưng chưa giải tỏa được công lý mới cho khua gióng mỏ mà kêu lên” Đến sau này, vào năm Ất Tỵ (1725), niên hiệu là Bảo Thái, chúa Trịnh Cương cho yết bảng ở các lỵ sở tại ngã ba đường để dân chúng phản ánh điều hay dở, thiện ác của các quan trong địa hạt và trình với vua những điều oan ức của mình Năm Nhâm Tý (1732), niên hiệu là Vĩnh Khánh, chúa Trịnh Giang tiếp tục cho đặt lại hòm thư ở phủ chúa để người dân tâu bẩm, trình bày oan ức của mình Đến năm Đinh Mão (1747), niên hiệu Cảnh Hưng, chúa Trịnh Doanh cho đặt chuông, mỏ

ở cổng phủ đường để người nào thấy mình có tài thì đến đánh chuông tự tiến cử, đồng thời người có oan ức, muốn khiếu nại, tố cáo cũng có thể đến đánh chuông để tâu bày với chúa Các khiếu nại, tố cáo của người dân phải được ghi rõ thành văn bản và phong kín để được chuyển lên phủ chúa xem xét Ở đàng trong, vào năm (1788) chúa

8 Xem “Bình Ngô Đại Cáo” (1428) của Nguyễn Trãi, bản dịch Ngô Tất Tố, phần 1, trang 1

9 Xem: www.vnmilitaryhistory.net [truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2014]

10 Xem: www.vnmilitaryhistory.net [truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2014]

11 Xem: http//quehuongonline.vn [truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2014]

Trang 14

Nguyễn Ánh cũng cho đặt một hòm ở cửa phủ chúa để ai có oan khuất hay bị người khác hãm hại có thể viết đơn trình bày rõ ràng sự việc, ghi rõ họ tên, quê quán để tiện việc tra xét, người nào bỏ thư nặc danh, vu khống cho người khác sẽ bị xử tội nặng Vào năm Quý Hợi (1803), vua Gia Long cho dân từ các trấn Nghệ An ra Bắc, ai có oan khuất thì đến công đường hay sở tại tâu bày Đơn thư kêu oan sẽ được chuyển lên vua và văn thần xét đoán, kẻ nào vu cáo, thêu dệt thì sẽ bị trị tội Năm sau, Giáp Tý (1804), theo lời tâu của các quan trấn Bắc thành, vua Gia Long cho dựng nhà coi việc

ở Nam thành Thăng Long, cứ năm ngày một lần, họp quan lại để bàn việc, ai có việc

gì oan ức đã qua ba trấn, phủ, huyện mà chưa được phục tình thì cho đầu đơn để xét cho rõ lý Từ thời vua Minh Mạng (1820-1841), tại Ty Tam Pháp (cơ quan pháp luật cao nhất của triều đình gồm ba cơ quan tương đương Viện Kiểm Sát, Tòa Án và bộ Tư Pháp hiện nay) có đặt một trống đăng văn, vào các ngày 6, 16 và 26 hàng tháng, cho phép ai có điều oan ức muốn tâu bày được đến đánh trống kêu oan Quan pháp ty sẽ ra nhận đơn và xét xử, còn các ngày khác nếu ai tự tiện đến đánh trống thì coi như phạm tội, dù có bị oan ức đến mấy cũng sẽ không được xem xét

Nhìn chung, để thực hiện tốt việc đảm bảo quyền tố cáo của công dân, một số triều đại phong kiến của Việt Nam đã ban hành nhiều loại văn bản luật quy định việc gửi đơn tố cáo và trách nhiệm của quan lại trong việc xem xét giải quyết tố cáo của người dân Đáng kể nhất là: Bộ Hình thư thời Lý (1042), bộ Quốc triều Hình thư và Quốc triều Hình luật (1341) thời Trần, Bộ luật Hồng Đức (1483) và Khám tụng điều lệ (1777) thời Lê, Bộ luật Gia Long thời Nguyễn (1815)… Trong đó có nhiều điều khoản quy định về các quyền và trách nhiệm giải quyết tố cáo của nhân dân Ngoài ra các vua còn ban hành các văn bản đơn lẽ như Lệnh, Lệ, Dụ, Chỉ để quy định cụ thể, chi tiết việc giải quyết tố cáo của người dân

Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng, triều đại nào mà người cầm quyền biết thông cảm với nỗi khổ của dân, biết lắng nghe ý kiến của nhân dân biết tôn trọng và đề cao tiếng nói người dân, tạo mọi điều kiện để giải quyết tốt các khiếu nại, tố cáo của dân thì thời đó đất nước sẽ thanh bình, thịnh vượng và bền vững

1.2.2 Quyền tố cáo của công dân qua Hiến pháp và Pháp luật Việt Nam

1.2.2.1 Thời kỳ trước năm 1975

Ngay sau khi đọc bản tuyên ngôn độc lập, tuyên bố khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (02/9/1945), bản Hiến pháp đầu tiên của dân tộc ta năm 1946 đã long trọng tuyên bố: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa, tất cả quyền

Trang 15

bính trong nước là của toàn dân Việt Nam12” Nhà nước dân chủ nhân dân kiểu mới do Đảng cộng sản lãnh đạo đã mang đến cho người dân Việt Nam các quyền dân chủ, dân sinh, các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa Mặc dù nhà nước sơ khai mới ra đời còn trăm công nghìn việc và phải lo chống thù trong giặc ngoài, nhưng do thấm nhuần quan điểm về quyền con người, quyền dân chủ và quyền hạnh phúc của người dân, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã quan tâm sâu sắc đến vấn đề xem xét và giải quyết tố cáo của công dân Trong quá trình xây dựng và quản lý đất nước, với sự nhạy bén về mặt Chính trị, chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận rõ sự cần thiết của công tác kiểm tra, giám sát các hoạt động của bộ máy chính quyền, kế thừa truyền thống quý báo của ông cha trong lĩnh vực này kết hợp với lý luận và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của mình, chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú trọng tới biện pháp tăng cường hiệu quả quản lý Nhà nước bằng việc thành lập “Ban thanh tra đặc biệt”

Ngày 23 tháng 11 năm 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 64/SL thành lập ban thanh tra đặc biệt, việc nhận đơn khiếu tố được Bác đặc ở tầm cao ngang với việc đi giám sát công việc thực tế ở các cấp chính quyền Nếu điều 1 ghi là:

“Chính phủ sẽ lập ngay một Ban Thanh tra đặc biệt, có ủy nhiệm là đi giám sát tất cả công việc và nhân viên của Ủy ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ”, thì điều

2 quy định: “nhận đơn khiếu nại của nhân dân; điều tra hỏi chứng, xem xét các giấy tờ của Ủy ban nhân dân hoặc các cơ quan của Chính phủ cần thiết cho công việc giám sát Trong sắc lệnh số 138b/SL ngày 18 tháng 12 năm 1949 cũng vậy, cùng với nhiệm

vụ: “xem xét thi hành chủ trương của Chính phủ” là nhiệm vụ “thanh tra sự khiếu nại

của người dân” Những quy định trên nói lên sự quan tâm của chủ tịch Hồ Chí Minh

và Chính phủ đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân Ngoài ra, Nhà nước ta còn ban hành nhiều văn bản, nhằm tạo ra cơ chế đảm bảo quyền tố cáo của công dân và tạo điều kiện thuận lợi để giải quyết tốt các trường hợp tố cáo của người dân Trong thông tư số 203 NV/VP ngày 25/5/1946 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về khiếu

tố nói rõ: “Chính phủ và các cơ quan của chính phủ thiết lập trên nền tảng dân chủ, có

bổn phận đảm bảo công lý và vì thế rất để ý đến nguyện vọng của dân chúng và sẵn lòng xem xét những nỗi oan khuất trong dân gian 13” Công văn này hướng dẫn cho người dân thủ tục gửi đơn, giới thiệu thẩm quyền của các cơ quan giải quyết và thời hạn để giải quyết khiếu tố Thông tư số 436/TTg ngày 13/9/1958 của thủ tướng Chính phủ quy định trách nhiệm, quyền hạn và tổ chức của các cơ quan chính quyền trong việc giải quyết các loại đơn thư khiếu nại, tố cáo (gọi tắt là khiếu tố) của nhân dân

Thông tư xác định: “Nghiên cứu và giải quyết các việc khiếu nại và tố giác của nhân

Trang 16

dân là một trách nhiệm quan trọng của tất cả các cơ quan Nhà nước trước nhân dân 14”, ngoài ra Thông tư còn nêu những nguyên tắc về quyền hạn và nghĩa vụ của nhân dân trong việc khiếu tố; những nguyên tắc về trách nhiệm và tổ chức của các cơ quan hành chính, cơ quan chuyên môn các cấp, các ngành trong việc nghiên cứu và giải quyết các loại đơn thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân

Ngày 01/01/1960, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh công bố Hiến pháp mới của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hiến pháp này đã dành riêng một điều quy định

về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân và trách nhiệm của cơ quan Nhà nước phải xem xét giải quyết kịp thời, nhanh chóng các khiếu nại, tố cáo, bảo vệ quyền lợi cho

người dân Điều 29 Hiến pháp 1959 quy định: “Công dân nước Việt Nam dân chủ

cộng hòa có quyền khiếu nại, tố cáo bất cứ cơ quan Nhà nước nào về những hành vi vi phạm pháp luật của nhân viên cơ quan Nhà nước Những khiếu nại và tố cáo phải được giải quyết nhanh chóng Người bị thiệt hại vì hành vi vi phạm pháp luật của nhân viên cơ quan Nhà nước có quyền được bồi thường 15” Tiếp đó Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản nhằm cụ thể hóa Hiến pháp, đảm bảo cho công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo mà Hiến pháp đã ghi nhận, đồng thời quy định trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân như Nghị quyết số 164/CP ngày 31/8/1970 của Hội đồng Chính phủ về việc tăng cường công tác thanh tra và trấn chỉnh hệ thống cơ quan thanh tra của Nhà nước Nghị định số 165/CP ngày 31/8/1970 của Hội đồng Chính phủ quy định nhiệm vụ quyền hạn của Ủy ban thanh tra của Chính phủ Thông tư số 60/UBTT ngày 22/5/1971 của

Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ hướng dẫn trách nhiệm của các ngành, các cấp về giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân Trong các văn bản nói trên, Chính phủ đã giao việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân cho Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ, đồng thời qui định cụ thể một số nguyên tắc trong việc giải quyết đơn thư khiếu tố như:

- Trách nhiệm giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo chủ yếu thuộc về cơ quan phát sinh vấn đề, trước hết là trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan

- Trình tự xem xét và giải quyết đơn thư khiếu tố của Uỷ ban hành chính các cấp và các ngành chuyên môn

Những qui định nói trên của Chính phủ đã tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền làm chủ trong việc tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, kiểm tra, giám sát hoạt động của cán bộ, nhân viên nhà nước, tổ chức xã hội trong việc thi

Trang 17

hành chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời qui định trách nhiệm của mỗi cấp mỗi ngành phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, nâng cao tinh thần phục

vụ nhân dân, giải quyết đúng đắn, kịp thời đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân

1.2.2.2 Thời kỳ từ năm 1975 đến năm 1998

Sau khi nước nhà được thống nhất, Quốc hội đã ban hành Hiến pháp mới, Hiến pháp năm 1980 Một lần nữa, quyền khiếu nại, tố cáo của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp 1980 và so với Điều 29 của Hiến pháp năm 1959 thì qui định về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân tại Điều 73 Hiến pháp năm 1980 cụ thể hơn, chi tiết hơn Tại điều 73 Hiến pháp quy định:

“Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức và đơn vị đó

Các điều khiếu nại, tố cáo phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng

Mọi hành động xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo16.”

Sau khi Hiến pháp năm 1980 được ban hành, ngày 27/11/1981, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh qui định việc xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân Có thể nói, đây là văn bản pháp lý đầu tiên qui định một cách tập trung, đầy đủ và chi tiết về việc tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân Pháp lệnh năm

1981 gồm những qui định chung về quyền khiếu nại, tố cáo và thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo (Chương I); việc tiếp nhận các khiếu nại, tố cáo (Chương II); thẩm quyền và thời hạn xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo (Chương III); việc quản lý kiểm tra công tác xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo (Chương IV); việc xử lý vi phạm (Chương V)

và Điều khoản cuối cùng (Chương VI) Nghị định số 58/HĐBT ngày 29/3/1982 của Hội đồng Bộ trưởng về việc thi hành Pháp lệnh đã qui định cụ thể về thẩm quyền và trách nhiệm của công dân trong việc khiếu nại, tố cáo Có thể khái quát một số đặc điểm của cơ chế giải quyết khiếu nại theo qui định của Pháp lệnh năm 1981 và Nghị định số 58 như sau:

- Về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, Điều 1 Pháp lệnh qui định: “Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái chính sách pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội và

16

Điều 73 Hiến pháp Việt Nam năm 1980

Trang 18

đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc cơ quan, đơn vị, tổ chức

đó làm thiệt hại đến lợí ích của Nhà nước, của tập thể và quyền lợi chính đáng của công dân17" Như vậy có thể thấy rằng, đối tượng của khiếu nại là rất rộng và không có

sự phân biệt với tố cáo và chưa thể hiện rõ tính chất của khiếu nại hành chính Điều này chỉ được thể hiện khi qui định thẩm quyền giải quyết thuộc về thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước

- Về việc bảo vệ người khiếu nại, tố cáo Pháp lệnh đã quy định tại điều 11 như sau: “Cấm tiết lộ hoặc chuyển đơn tố cáo, bản sao đơn tố cáo, bản ghi lời tố cáo của các đương sự cho cơ quan, tổ chức hoặc người bị tố cáo

Không được chuyển các khiếu nại cho cơ quan, tổ chức hoặc người bị khiếu nại nếu thấy có hại cho người khiếu nại”18 Có thể thấy, Nghị quyết đã phần nào xác định được tầm quan trọng của việc bảo vệ người khiếu nại, tố cáo, tuy nhiên những quy định trong Nghị quyết vẫn còn đơn giản, chưa chặt chẽ và chi tiết

- Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo, ngoài việc xác định trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo là thủ trưởng các cơ quan nhà nước, Pháp lệnh còn qui định cả Chủ nhiệm hợp tác xã và Trưởng tập đoàn sản xuất Điều này phù hợp với tình hình thời kỳ đó khi mà kinh tế tập thể chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế và mặc

dù là một tổ chức kinh tế có tính chất tập thể nhưng tổ chức và hoạt động của nó được thực hiện trên những nguyên tắc gần giống như các cơ quan nhà nước Những quyết định của ban lãnh đạo hợp tác xã hay tập đoàn sản xuất cũng có tính chất đơn phương, mệnh lệnh như một quyết định hành chính của cơ quan nhà nước

- Về cơ chế giải quyết tố cáo được thể hiện trong Điều 13 Pháp lệnh như sau:

“Các tố cáo đối với nhân viên thuộc cơ quan, tổ chức nào thì thủ trưởng hoặc ban lãnh đạo cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm xét, giải quyết Các tố cáo đối với thủ tưởng hoặc ban lãnh đạo cơ quan, tổ chức nào thì tùy tính chất sự việc thủ trưởng hoặc ban lãnh đạo cấp trên trực tiếp hoặc cao hơn một cấp của cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm xét, giải quyết các tố cáo đới với chủ nhiệm hoặc ban quản trị hợp tác xã, đối với tập đoàn trưởng hoặc ban quản lý tập đoàn sản xuất thì Ủy ban nhân dân huyện hoặc cấp tương đương có trách nhiệm xem xét và giải quyết19” Có thể thấy, cơ chế giải quyết theo Pháp lệnh năm 1981 là cơ chế cấp trên - cấp dưới theo hệ thống thứ bậc, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo phải là thủ trưởng của người bị

tố cáo; người bị tố cáo là thủ trưởng cơ quan Nhà nước thì không có thẩm quyền tự giải quyết tố cáo đối với việc làm của chính mình Điều 12 Nghị định số 58 qui định:

Trang 19

“Các khiếu nại, tố cáo do cơ quan, tổ chức cấp dưới đã xem xét, giải quyết nhưng đương sự còn khiếu nại, tố cáo thì thủ trưởng cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp có trách nhiệm thẩm tra lại, nếu thấy việc giải quyết của cấp dưới là đúng thì ra văn bản chuẩn y và thông báo cho đương sự biết; nếu phát hiện có sai lầm thì ra quyết định giải quyết lại và thông báo kết quả cho đương sự biết” Tuy nhiên, Pháp lệnh 1981 và Nghị định 58 không qui định cấp nào là cấp giải quyết cuối cùng đối với vụ việc khiếu nại,

tố cáo tức là chưa tạo ra được điểm dừng cho việc khiếu nại, tố cáo

Về trách nhiệm của các tổ chức thanh tra nhà nước, Pháp lệnh qui định Chủ nhiệm Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ xem xét và trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng giải quyết các khiếu nại, tố cáo về việc làm trái chính sách, pháp luật của thủ trưởng các ngành trung ương hoặc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương; xem xét và kiến nghị giải quyết lại hoặc trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng giải quyết các khiếu nại, tố cáo mà Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, thủ trưởng cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương đã giải quyết nhưng phát hiện có sai lầm Chủ nhiệm Uỷ ban Thanh tra các địa phương, Trưởng ban Thanh tra các ngành có trách nhiệm giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, thủ trưởng ngành xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo

Nhìn chung, Pháp lệnh qui định việc xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1981 thể hiện tư tưởng dân chủ và đề cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại của công dân với một trình tự, thủ tục còn tương đối đơn giản và theo xu hướng tạo mọi điều kiện cho công dân thực hiện được quyền khiếu nại, tố cáo của mình Chẳng hạn, qui định công dân có thể khiếu nại, tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước; qui định về việc chuyển đơn nhận được không đúng thẩm quyền Những qui định này phù hợp với trình độ hiểu biết pháp luật của người dân và sự phát triển pháp luật thời kỳ đó

Tiếp đó, Nhà nước ta đã ban hành thêm một số văn bản, những văn bản này được ban hành nhằm thực hiện tốt những qui định của Pháp lệnh năm 1981 và Nghị định 58 Đó là Thông tư 02/TTr ngày 4/5/1982 của Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ; Nghị quyết số 26-HĐBT ngày 12/5/1984 của Hội đồng Bộ trưởng về việc tăng cường

tổ chức và nâng cao hiệu lực của hoạt động thanh tra ; Chỉ thị số 17-CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ngày 3/7/1989 về kiểm điểm việc thực hiện Pháp lệnh năm 1981

Qua mười năm thi hành pháp lệnh qui định về việc xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, Nhà nước ta đã quyết định ban hành Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của

Trang 20

công dân năm 1991 thay thế cho Pháp lệnh năm 1981 Pháp lệnh năm 1991 có những nét mới và tiến bộ hơn so với Pháp lệnh năm 1981 như sau:

Về quyền tố cáo: Một mặt Pháp lệnh năm 1991 tiếp tục khẳng định tố cáo là một trong những quyền cơ bản của người dân được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhưng khác với trước kia, để bảo đảm thực hiện quyền tố cáo có hiệu quả thì công dân cần khiếu tố cáo đến đúng cơ quan nhà nước có thẩm quyền, qui định này nhằm khắc phục tình trạng đơn thư tố cáo gửi tràn lan, gây lãng phí về thời gian và công sức cho quá trình tiếp nhận và giải quyết tố cáo Đồng thời, Pháp lệnh cũng nêu ra những qui định cụ thể về quyền và trách nhiệm của từng chủ thể liên quan đến việc tố cáo (quyền

và nghĩa vụ của bên tố cáo và bên bị tố cáo) Điều đó bảo đảm sự bình đẳng của công dân trước pháp luật cũng như tạo điều kiện để các bên có cơ sở thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình vụ việc tố cáo được giải quyết

Thứ hai, khác với qui định trước kia, lần đầu tiên, Pháp lệnh đã nêu ra hai khái niệm khiếu nại và tố cáo với những nội dung khác nhau căn cứ vào tính chất của nó Đây là vấn đề hết sức quan trọng, nó làm cơ sở cho việc xác định thẩm quyền giải quyết đối với từng loại vụ việc (khiếu nại và tố cáo) cũng như trình tự, thủ tục giải quyết đối với từng loại đơn thư một cách phù hợp Đây có thể nói là cơ sở cho việc tiếp tục nghiên cứu và xây dựng một cơ chế giải quyết riêng đối với Tố cáo sau này

Thứ ba, Pháp lệnh đưa ra một trình tự và thủ tục tiếp nhận và giải quyết Tố cáo một cách tương đối chặt chẽ, tạo điều kiện để công dân có thể thực hiện quyền tố cáo của mình, đồng thời cũng giúp các cơ quan nhà nước có trách nhiệm có thể thực hiện việc tiếp nhận và giải quyết tố cáo một cách nề nếp, qui củ (quá trình tiếp nhận, phân loại xử lý đơn thư, thụ lý vụ việc…)

Thứ tư, Pháp lệnh qui định cụ thể về thẩm quyền giải quyết đối với vụ việc khiếu nại và tố cáo, nhất là đối với Tố cáo, theo đó một vụ việc Tố cáo sẽ được các cơ quan khác nhau giải quyết tùy vào nội dung của từng loại tố cáo:

“Tố cáo mà nội dung liên quan đến chức năng quản lý Nhà nước của cơ quan nào, thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết

Tố cáo hành vi vi phạm hành chính thì do cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính giải quyết

Tố cáo về hành vi phạm tội thì do cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát nhân dân giải quyết.20”

20

Xem điều 29 Pháp lệnh của Hội đồng Nhà nước số 53-LCT/HDND ngày 07/5/1991 về Khiếu nại tố cáo của công dân

Trang 21

Có thể nói, những qui định của Pháp lệnh năm 1991 có nhiều điểm thể hiện sự đổi mới về mặt nhận thức về quyền tố cáo của công dân cũng như công tác giải quyết

tố cáo nhưng cũng phải thừa nhận rằng, sự đổi mới đó còn rất ít cơ sở thực tế để phát huy hiệu lực và hiệu quả Những qui định về trình tự, thủ tục cũng tỏ ra không thực tế

và quá trình thực hiện có nhiều vi phạm kể cả người tố cáo cũng như cơ quan, tổ chức

có thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết Chính vì những vấn đề nêu trên cho nên hiệu lực và hiệu quả của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo kể từ sau khi Pháp lệnh 1991 ban hành không có những sự biến đổi tích cực và gần như đồng thời với việc ban hành Pháp lệnh năm 1991, Nhà nước ta đã có chủ trương nghiên cứu và thiết lập cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính bằng con đường tài phán để khắc phục những nhược điểm của phương thức giải quyết khiếu kiện hành chính từ trước đến nay

1.2.2.3 Thời kỳ từ năm 1998 đến năm 2011

Tháng 12 năm 1998, Quốc hội đã thông qua Luật khiếu nại, tố cáo thay thế cho Pháp lệnh khiếu nại tố cáo của công dân năm 1991 và như vậy cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính được thực hiện theo qui định của các văn bản này Sự ra đời của luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, coi đây là một trong những công tác góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng và quản lý đất nước, là cơ

sở pháp lý quan trọng để công dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của Nhà nước và của tập thể Đồng thời là phương tiện để công dân thực hiện quyền làm chủ và giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước, góp phần làm trong sạch bộ máy Nhà nước, loại trừ những biểu hiện tiêu cực của cán bộ, công chức Nhà nước như quan liêu, hách dịch, sách nhiễu, cửa quyền, những hành vi phạm pháp, tham nhũng…

Ngày 15/6/2004 Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, tại kỳ họp thứ 5 đã thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Khiếu nại, tố cáo Tại kỳ họp này Quốc hội đã ra nghị quyết số 30/2004/QH11, trong đó nêu rõ

“Chính phủ khẩn trương tiến hành tổng kết toàn diện việc thi hành Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998, làm cơ sở cho việc nghiên cứu sửa đổi cơ bản Luật khiếu nại, tố cáo, xây dựng cơ chế hữu hiệu để giải quyết các khiếu kiện hành chính phù hợp với tình hình thực tế của nước ta và thông lệ quốc tế”21 Luật sửa Khiếu nại, Tố cáo 1998 sửa đổi bổ sung 2004 sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/2004 Ngày 29/11/2005, tại kỳ họp thứ 8 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật khiếu nại, tố cáo Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày

21

Xem Nghị quyết số 30/2004/QH11, về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước, ngày 15/6/2004

Trang 22

01/6/2006 Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo năm 2004, năm 2005 được Quốc hội ban hành đã tạo khung pháp lý quan trọng để công dân, cơ quan, tổ chức thực hiện quyền khiếu nại, công dân thực hiện quyền tố cáo cũng như việc xác định trách nhiệm của các cơ quan nhà trong quá trình tiếp nhận, giải quyết tố cáo của công dân Tuy nhiên, sau một thời gian dài thực hiện Luật đã có nhiều quy định không phù hợp với thực tiễn và hội nhập quốc tế, đòi hỏi Nhà nước ta cần ban hành Luật mới phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước hiện tại hơn so với Luật Khiếu nại, Tố cáo năm 1998

1.2.2.4 Thời kỳ từ năm 2011 đến nay

Ngày 11 tháng 11 năm 2011, Quốc hội nước ta đã ban hành Luật khiếu nại, Luật tố cáo để thay thế Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo năm 2004, năm 2005 So với Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo năm

2004, năm 2005 chúng ta thấy Luật tố cáo năm 2011 đã quy định thêm một số nội dung mới về công khai nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm trong tố cáo Điểm nổi bật nhất của Luật Tố cáo 2011 là đã bổ sung một chương mới (Chương V)

về bảo vệ người tố cáo Trong đó xác định trách nhiệm chính trong việc bảo vệ người

tố cáo thuộc về người giải quyết tố cáo Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền tiếp cận thông tin về người tố cáo trong quá trình giải quyết tố cáo đều có trách nhiệm bảo đảm giữ bí mật các thông tin này không kể người tố cáo có yêu cầu hay không Việc quy định người tố cáo phải có văn bản yêu cầu bảo vệ chỉ áp dụng khi họ có căn

cứ cho rằng họ bị phân biệt đối xử về việc làm, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa

vụ công dân hay nguy hại đến sức khỏe, tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tính của mình Đây cũng là cơ sở để các cơ quan xác định các biện pháp bảo vệ phù hợp, bảo đảm tính khả thi trên thực tiễn, phù hợp với nguyên tắc bảo vệ bí mật thông tin cho người tố cáo

1.3 Yêu cầu thực tiễn và mục đích của việc quy định về bảo vệ người tố cáo

1.3.1 Yêu cầu thực tiễn về bảo vệ người tố cáo

Trong nhiều năm qua, công dân đã chủ động, tích cực thực hiện quyền tố cáo,

số đơn thư tố cáo của công dân có chiều hướng ngày càng gia tăng, điều này chứng tỏ người dân đã biết phát huy quyền dân chủ trong đấu tranh chống lại các hành vi vi phạm pháp luật, nhân dân không còn thờ ơ với công việc của Nhà nước, ý thức được trách nhiệm của mình và biết đấu tranh góp phần ổn định trật tự xã hội, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh Đặc biệt là trong công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng đã xuất hiện nhiều cá nhân tiêu biểu, đại diện cho đông đảo quần chúng nhân

Trang 23

dân tích cực trong việc phản ánh, lên án, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật (tham nhũng), tiêu cực tại nơi sinh sống, công tác và làm việc, góp phần to lớn vào việc ngăn ngừa và từng bước đẩy lùi các hành vi phạm pháp luật ở nước ta

tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc

đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức” Từ đó có thể hiểu người tố cáo là người biết được hành vi vi phạm pháp luật của người khác đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện và trình báo với

cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền về những gì mình biết Người tố cáo cần phải được áp dụng các biện pháp bảo vệ, bởi lẽ những người này trước hết là công dân, họ

có quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm Đây là những quyền cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp và được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật khác Mỗi công dân trong xã hội đương nhiên có quyền được bảo vệ trước nguy cơ xâm hại các quyền và lợi ích hợp pháp của mình Hơn nữa, người tố cáo là công dân có vai trò đặc biệt: họ là người cộng tác, phối hợp với cơ quan nhà nước trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật, họ là người cung cấp các thông tin hữu ích góp phần giải quyết đúng đắn vụ việc tố cáo Vì vậy, họ có nguy cơ bị người có hành vi vi phạm pháp luật đe dọa, xâm hại tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản với ý đồ nhằm ngăn cản, trả thù do sự cộng tác, phối hợp đó Mặt khác, xuất phát từ bản chất của quan hệ tố cáo, người tố cáo là những người yếu thế hơn người bị tố cáo (nhất là tố cáo các hành vi tham nhũng), người bị tố cáo thường là những người có chức vụ, quyền hạn nên các hình thức trả thù cũng rất tinh vi, khó lường Ngoài ra, để thu thập được đầy đủ, chính xác các thông tin từ người tố cáo, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải đảm bảo an toàn cho họ, tạo cho họ lòng tin và sự an tâm, phối hợp nhiệt tình với các cơ quan chức năng, giúp những vụ việc tố cáo sẽ được giải quyết một cách nhanh chóng Đó cũng là cách Nhà nước thể hiện rõ sức mạnh và trách nhiệm của mình đối với công dân nói chung cũng như đẩy mạnh tính tích cực của cộng đồng, ngăn chặn ý đồ gây khó khăn, cản trở, trả thù người tố cáo Bảo vệ người tố cáo cũng góp phần hạn chế những hành vi vi phạm pháp luật, bảo vệ sự công bằng của xã hội và kỹ cương phép nước

1.3.2 Mục đích, ý nghĩa của việc quy định về bảo vệ người tố cáo của nước ta

Thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ của mình, những quy định về bảo vệ người tố cáo nhằm hướng tới những mục đích sau đây:

Trang 24

- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức thông qua việc thực hiện chức năng của mình

- Bảo đảm cho việc giải quyết tố cáo được thực hiện đúng đắn và kịp thời

- Bảo đảm cho việc thi hành các quyết định đã có hiệu lực pháp luật của việc giải quyết tố cáo được thực hiện nghiêm chỉnh và có hiệu quả

Các quy định về bảo vệ người tố cáo có ý nghĩa quan trọng đối với việc đảm bảo thực thi pháp luật nói chung và thực thi pháp luật về tố cáo nói riêng Việc thực hiện các quy định về bảo vệ người tố cáo mang tính chất bắt buộc chung đối với tất cả mọi người, mọi cơ quan và tổ chức Việc tuân thủ triệt để các quy định về bảo vệ người tố cáo trước hết tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo một cách thuận lợi và nhanh chóng, đồng thời bảo đảm cho người tố cáo thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ công dân của mình, trên cơ sở đó mà các lợi ích hợp pháp của bản thân người tố cáo và xã hội được tôn trọng, bảo vệ

Ngoài ra, việc quy định về bảo vệ người tố cáo còn góp phần ngăn chặn mọi hành vi vi phạm pháp luật và những biểu hiện tiêu cực phát sinh trong quá trình giải quyết tố cáo

Trang 25

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ NGƯỜI

TỐ CÁO

Nội dung chính của chương này tập trung tìm hiểu những quy định của pháp luật Việt Nam về công tác bảo vệ người tố cáo như: Bảo vệ người tố cáo bằng những phương thức nào? Những chủ thể nào có trách nhiệm trong công tác bảo vệ người tố cáo? Những hành vi vi phạm liên quan đến việc bảo vệ người tố cáo sẽ được xử lý như thế nào? Sau khi phân tích và tìm hiểu về mặt lý luận, người viết sẽ lấy đó làm tiền

đề để tìm hiểu về thực tiễn công tác bảo vệ người tố cáo sẽ được trình bày ở chương 3.

2.1 Khái quát các quy định của nước ta về bảo vệ người tố cáo

Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến công tác giải quyết hiệu quả các khiếu nại, tố cáo nói chung, việc giải quyết tố cáo nói riêng và coi việc thực hiện quyền tố cáo là phương thức để người dân thể hiện quyền dân chủ trực tiếp và tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội và bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và các vi phạm pháp luật khác Xuất phát từ quan điểm đó, ở mỗi giai đoạn phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước đều có các chỉ thị, nghị quyết, văn bản pháp luật về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, trong đó có đề cập đến vấn đề bảo vệ người tố cáo Hiến pháp 1946 – Hiến pháp đầu tiên của nước ta tuy chưa có điều khoản cụ thể nào quy định về quyền tố cáo của công dân, song cơ chế dân chủ mà Hiến pháp tạo dựng đã là nền tảng cơ bản hình thành quyền tố cáo của công dân trên thực tế Hiến pháp năm

1959 lần đầu tiên quy định quyền khiếu nại, tố cáo của công dân tại Điều 29 “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền khiếu nại, tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những hành vi vi phạm của nhân viên cơ quan nhà nước Những việc khiếu nại và tố cáo phải được xét và giải quyết nhanh chóng Người bị thiệt hại vì hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan nhà nước có quyền được bồi thường”22 Bắt đầu từ đây, khái niệm tố cáo đã được chính thức sử dụng trong văn bản pháp luật Đến Hiến pháp năm 1980, quyền tố cáo của công dân tiếp tục được củng cố và phát triển hơn trước Điều 73 quy định: “Công dân có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan,

tổ chức, đơn vị đó; các điều khiếu nại, tố cáo phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng; mọi hành động xâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân phải được kịp

22

Điều 29, Hiến pháp năm 1959

Trang 26

thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh; người bị thiệt hại có quyền được bồi thường; nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo”23

Như vậy, những quy định về bảo vệ người tố cáo đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1980 Trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp của thời kỳ đổi mới, quyền tố cáo của công dân đã tiếp tục được hoàn thiện và có bước phát triển mới Điều 74 quy định: “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức

xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan nhà nước xem xét, giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được xử lý kịp thời nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác”24 Đến thời điểm hiện tại, Hiến pháp mới của nước ta đã được ban hành, trong các quy định mới của Hiến pháp 2013 hiển nhiên quyền công dân là quyền được chú trọng hàng đầu và một trong những quyền quan trọng của công dân đó là quyền khiếu nại, tố cáo Điều 30 Hiến pháp 2013 quy định:

1 Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân

2 Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật

3 Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.25

Hiến pháp không chỉ tuyên bố về quyền tố cáo của công dân mà còn bổ sung những quy định nhằm đảm bảo thực hiện quyền này Những đảm bảo pháp lý đối với quyền tố cáo và người tố cáo khẳng định tính chất đặc biệt quan trọng của vấn đề, đồng thời khẳng định ý chí của Nhà nước trong việc xử lý những người có hành vi cản trở việc thực hiện quyền tố cáo cũng như hành vi trả thù người tố cáo

Bên cạnh đó để thể chế hóa quyền tố cáo Hiến định, nhiều văn bản pháp luật cũng đã được ban hành như Pháp lệnh Quy định việc xét và giải quyết các khiếu tố, tố cáo của công dân năm 1981; Pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1991; Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2004, 2005) và

Trang 27

các văn bản hướng dẫn Sự ra đời của Luật Khiếu nại, tố cáo đã tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, phát huy dân chủ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, công dân

Ngoài ra, các quy định về bảo vệ người tố cáo còn được thể hiện trong các văn bản luật sau:

Điều 132 Bộ luật Hình sự năm 1999 của nước ta quy định: người nào có một trong các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc khiếu nại, tố cáo việc xét giải quyết các khiếu nại, tố cáo hoặc việc xử lý người bị khiếu nại, tố cáo thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm Người nào trả thù người khiếu nại, tố cáo thì bị cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.26

Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 quy định: “nghiêm cấm mọi hành vi cản trở việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo; đe dọa, trả thù, trù dập người khiếu nại, tố cáo; tiết lộ họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo; cố tình không giải quyết hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo trái pháp luật; bao che người bị khiếu nại, tố cáo; can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; kích động, cưỡng ép, dụ dỗ, mua chuộc người khác khiếu nại, tố cáo sai sự thật; đe dọa, xúc phạm người có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo; lợi dụng việc khiếu nại, tố cáo để xuyên tạc, vu khống, gây rối trật tự.”27

“Người tố cáo có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích của mình; yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe dọa, trù dập, trả thù.”28

“Cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận tố cáo, giải quyết tố cáo phải giữ bí mật cho người tố cáo; không được tiết lộ họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và các thông tin khác có hại cho người tố cáo.”29

“Khi công dân đến trụ sở tiếp công dân của các cơ quan nhà nước thì người tiếp công dân có trách nhiệm giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo khi người tố cáo yêu cầu”30

Ngoài ra, Luật Khiếu nại, tố cáo cũng xác định, nếu người giải quyết khiếu nại,

tố cáo có một trong các hành vi: thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại, tố

26

Điều 132, Bộ luật Hình sự năm 1999

27 Điều 16, Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2004 và 2005)

28 Khoản 1, Điều 57, Luật Khiếu nại, tố cáo 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2004 và 2005)

Trang 28

cáo; gây phiền hà, sách nhiễu, cản trở việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo; cố tình trì hoãn việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; làm sai lệch hồ sơ vụ việc trong quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo… hoặc đe dọa, trù dập, trả thù người khiếu nại, tố cáo; bao che cho người bị khiếu nại, tố cáo thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý

kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật (Điều 96)

Sau khi Luật Khiếu nại, tố cáo được ban hành, Chính phủ đã có văn bản hướng dẫn chi tiết các quy định của Luật này, theo Điều 38 Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 thì trong trường hợp Thủ trưởng cơ quan nhà nước các cấp, các ngành nhận được thông tin người tố cáo bị đe dọa, trù dập, trả thù thì phải có trách nhiệm chỉ đạo hoặc phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan làm rõ, có biện pháp bảo vệ người tố cáo, ngăn chặn và đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật người có hành vi đe dọa, trù dập, trả thù người tố cáo31

Hiện tại, Luật Tố cáo lần đầu tiên được Quốc hội thông qua ngày 11/11/2011,

có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2012 đã dành hẳn một chương (Chương V, từ Điều 34 đến điều 40) để quy định về bảo vệ người tố cáo Trong đó điều 34 của luật quy định việc bảo vệ người tố cáo được thực hiện tại tất cả những nơi có thể ảnh hưởng đến người tố cáo, bao gồm: nơi cư trú, công tác, làm việc, học tập, nơi có tài sản của người cần được bảo vệ hoặc những nơi khác do cơ quan có thẩm quyền quy định Cũng theo quy định của điều này, người được bảo vệ không chỉ có người tố cáo mà bao gồm cả những người thân thích của người tố cáo như vợ hoặc chồng, con cái, cha mẹ, anh em ruột thịt… Thời hạn bảo vệ do cơ quan có thẩm quyền quyết định tùy thuộc vào tình hình thực tế của từng vụ việc, mức độ và tính chất của hành vi xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của đối tượng cần được bảo vệ Luật xác định trách nhiệm chính trong việc bảo vệ người tố cáo thuộc về người giải quyết tố cáo; đồng thời, cũng quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người tố cáo được bảo vệ và các nội dung cơ bản về bảo

vệ người tố cáo như bảo vệ bí mật thông tin, bảo vệ tại nơi công tác, nơi làm việc, nơi

cư trú; bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự nhân phẩm, uy tính của người tố cáo32 Để triển khai các chế định của Luật Tố cáo 2011, ngày 03/10/2012 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 76/2012/ NĐ-CP (có hiệu lực thi hành ngày 20/11/2012) quy định các biện pháp bảo vệ người tố cáo và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân

có thẩm quyền trong việc bảo vệ người tố cáo, bao gồm các nội dung cụ thể như sau:

Trang 29

2.1.1 Bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo

2.1.1.1 Bảo vệ bí mật thông tin về người tố cáo trong quá trình tiếp nhận, thụ lý, giải quyết tố cáo

Khi tiếp nhận, thụ lý và giải quyết tố cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải nghiên cứu, xác định nội dung sự việc, những thông tin nếu tiết lộ sẽ gây bất lợi cho người tố cáo, để áp dụng biện pháp phù hợp nhằm giữ bí mật thông tin cho người tố cáo Trong trường hợp cần thiết có thể lượt bỏ thông tin như họ tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của người tố cáo ra khỏi đơn tố cáo, các tài liệu khác và chứng cứ kèm theo Đồng thời lưu trữ và quản lý thông tin của người tố cáo theo chế độ thông tin mật

Trong quá trình giải quyết tố cáo, nếu có yêu cầu làm việc trực tiếp với người tố cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, người giải quyết tố cáo phải sắp xếp, bố trí thời gian và địa điểm cũng như lựa chọn phương thức làm việc phù hợp để đảm bảo giữ bí mật thông tin cho người tố cáo

Trong trường hợp phát hiện người không có thẩm quyền có hành vi thu thập thông tin về người tố cáo, người giải quyết tố cáo có trách nhiệm áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền của mình hoặc kiến nghị người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn hoặc xử lý đối với những người có hành vi vi phạm trên

Như vậy, theo quy định của Nghị định số 76/2012/ NĐ-CP thì trong suốt quá trình tiếp nhận, thụ lý và giải quyết tố cáo, để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp cho người tố cáo thì việc đầu tiên mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, người giải quyết tố cáo sẽ phải làm là bảo vệ bí mật về thông tin như họ tên, bút tích, nơi ở… của người tố cáo và đặc biệt là những thông tin liên quan đến người tố cáo điều phải được giữ bí mật kể cả khi người tố cáo không có yêu cầu

2.1.1.2 Trách nhiệm bảo vệ bí mật thông tin về người tố cáo của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc cung cấp thông tin, tài liệu, phối hợp giải quyết tố cáo, thi hành quyết định xử lý hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết phù hợp để bảo vệ bí mật thông tin cho người tố cáo

Ngoài những cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết tố cáo, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan như cơ quan quản lý người tố cáo tại nơi công tác,

cơ quan thanh tra, tổ chức công đoàn cơ sở, cơ quan quản lý người lao động, báo đài…

Trang 30

cũng phải có trách nhiệm đảm bảo bí mật về thông tin cho người tố cáo cho dù họ có yêu cầu hay không

2.1.2 Bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tính và các quyền nhân thân khác của người tố cáo và người thân thích của người tố cáo

2.1.2.1 Bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người tố cáo và người thân thích của người tố cáo

Khi có căn cứ cho rằng việc tố cáo có thể gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe của mình hoặc tính mạng, sức khỏe người thân thích của mình thì người tố cáo có quyền yêu cầu người giải quyết tố cáo, cơ quan công an nơi người tố cáo, người thân thích của người tố cáo cư trú, làm việc, học tập hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp để bảo vệ Yêu cầu bảo vệ của người tố cáo phải bằng văn bản, trong trường hợp khẩn cấp, người tố cáo có thể yêu cầu trực tiếp bằng miệng hoặc thông qua các phương tiện thông tin khác nhưng sau đó phải phải thể hiện lại

bằng văn bản

Trong quá trình giải quyết tố cáo, nếu có căn cứ cho thấy có nguy cơ gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của người tố cáo, người thân thích của người tố cáo (gọi chung là người được bảo vệ) thì người giải quyết tố cáo có trách nhiệm chỉ đạo hoặc phối hợp với cơ quan công an nơi người được bảo vệ cư trú, làm việc, học tập hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thẩm quyền để áp dụng ngay các biện pháp bảo vệ sau:

- Bố trí lực lượng, phương tiện, công cụ để bảo vệ an toàn cho người được bảo vệ tại nơi cần thiết

- Tạm thời di chuyển người được bảo vệ đến nơi an toàn

Khi đã ngăn chặn được hành vi xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của người được bảo vệ, tùy theo từng trường hợp cụ thể, người giải quyết tố cáo có thể chỉ đạo, phối hợp với cơ quan công an nơi người được bảo vệ cư trú làm việc, học tập hoặc cơ quan,

tổ chức, cá nhân khác có thẩm quyền áp dụng các biện pháp sau đây

- Xử lý theo thẩm quyền hoặc đề nghị người có thẩm quyền xử lý đối với những người có hành vi xâm hại đến người được bảo vệ

- Trường hợp xác định việc xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người được bảo

vệ có nguy cơ tái diễn thì ra quyết định bảo vệ và xây dựng kế hoạch bảo vệ Kế hoạch bảo vệ phải có các nội dung: Người được bảo vệ; biện pháp bảo vệ; thời hạn bảo vệ; lực lượng bảo vệ; trách nhiệm, hình thức, nội dung phối hợp giữa cơ quan, tổ chức

có liên quan và kinh phí bảo vệ

Trang 31

Căn cứ vào tính chất, mức độ và khả năng xảy ra trên thực tế của hành vi xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của người được bảo vệ, cơ quan ra quyết định bảo vệ xem xét, áp dụng các biện pháp được quy định tại Khoản 3 Điều 39 của Luật tố cáo và các biện pháp sau đây:

- Hạn chế phạm vi đi lại, quan hệ giao tiếp, thăm gặp, làm việc, học tập của người được bảo vệ trong một thời hạn nhất định;

- Di chuyển và giữ bí mật chỗ ở, nơi làm việc, học tập của người được bảo vệ;

- Xử lý hành chính hoặc kiến nghị xử lý hình sự đối với hành vi tấn công, xâm hại hoặc đe dọa tấn công, xâm hại;

- Áp dụng các biện pháp hành chính khác nhằm ngăn chặn hành vi tấn công, xâm hại hoặc đe dọa tấn công xâm hại người được bảo vệ;

- Thay đổi tung tích, lai lịch, đặc điểm nhân thân, nhận dạng của người được bảo

vệ Biện pháp này chỉ áp dụng khi có sự đồng ý của người được bảo vệ và hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại là đặc biệt nguy hiểm có liên quan đến tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, tội phạm về ma túy hoặc các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác theo quy định của pháp luật hình sự

2.1.2.2 Bảo vệ tài sản của người tố cáo, người thân thích của người tố cáo

Khi có căn cứ cho rằng, việc tố cáo có thể xâm hại đến tài sản của mình hoặc người thân thích của mình, người tố cáo có quyền yêu cầu người giải quyết tố cáo, cơ quan công an nơi có tài sản hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ Yêu cầu bảo vệ phải bằng văn bản

Trong quá trình giải quyết tố cáo nếu xét thấy có nguy cơ xâm hại đến tài sản của người được bảo vệ, người giải quyết tố cáo có trách nhiệm áp dụng theo thẩm quyền hoặc đề nghị người có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ và thông báo cho người được bảo vệ về tài sản biết

Trường hợp xác định hành vi xâm hại tài sản đang xảy ra hoặc có thể xảy ra ngay tức khắc, tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo chỉ đạo, phối hợp với cơ quan công an nơi có tài sản hoặc

cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thẩm quyền thực hiện biện pháp bảo vệ Khi đã ngăn chặn được hành vi xâm hại, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo theo thẩm quyền hoặc chỉ đạo, phối hợp với cơ quan công an nơi có tài sản hoặc cơ quan,

tổ chức, cá nhân khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ sau đây:

Trang 32

- Yêu cầu người có hành vi xâm hại đến tài sản của người được bảo vệ chấm dứt hành vi vi phạm

- Xử lý theo thẩm quyền hoặc đề nghị người có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật

2.1.2.3 Bảo vệ uy tín, danh dự, nhân phẩm và các quyền nhân thân khác của người tố cáo, người thân thích của người tố cáo

Khi có căn cứ cho rằng, việc tố cáo có thể xâm hại đến uy tín, danh dự, nhân phẩm hoặc các quyền nhân thân khác của mình, người thân thích của mình, người tố cáo có quyền yêu cầu người giải quyết tố cáo, cơ quan công an nơi người tố cáo, người thân thích của người tố cáo cư trú, làm việc, học tập hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ Yêu cầu bảo vệ phải bằng văn bản

Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, người có thẩm quyền bảo vệ

áp dụng các biện pháp bảo vệ sau đây:

- Yêu cầu người có hành vi xâm hại chấm dứt hành vi vi phạm và buộc xin lỗi, cải chính công khai;

- Xử lý theo thẩm quyền hoặc đề nghị người có thẩm quyền xử lý đối với người

Khi có căn cứ cho rằng việc tố cáo của mình bị người có thẩm quyền quản lý,

sử dụng có hành vi trù dập, phân biệt đối xử hoặc thuyên chuyển công tác dẫn đến giảm thu nhập, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình, người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức có quyền yêu cầu người giải quyết tố cáo thực hiện các biện pháp bảo vệ cần thiết Yêu cầu bảo vệ phải bằng văn bản

Chậm nhất là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu bảo vệ, người giải quyết tố cáo có trách nhiệm kiểm tra, xác minh Thời hạn kiểm tra, xác minh là 05 ngày làm việc Trường hợp có căn cứ cho rằng yêu cầu của người tố cáo là chính đáng thì chậm nhất là 05 ngày làm việc, người giải quyết tố cáo phải áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền hoặc yêu cầu người có thẩm quyền áp dụng các biện

Trang 33

pháp bảo vệ được quy định tại Khoản 4 Điều 37 của Luật tố cáo và các biện pháp sau đây:

- Thuyên chuyển công tác của người được bảo vệ sang cơ quan, tổ chức, đơn vị khác nếu có sự đồng ý của họ để tránh bị trù dập, phân biệt đối xử;

- Ra quyết định xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với người có hành vi trả thù, trù dập, đe dọa làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được bảo vệ

2.1.3.2 Bảo vệ việc làm đối với người tố cáo, người thân thích của người

tố cáo là người làm việc theo hợp đồng lao động mà không phải là viên chức

Người tố cáo, người thân thích của người tố cáo là người làm việc theo hợp đồng lao động có quyền yêu cầu tổ chức công đoàn cơ sở, cơ quan quản lý lao động hoặc cơ quan có thẩm quyền khác ở địa phương nơi người tố cáo, người thân thích của người tố cáo có biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Yêu cầu bảo vệ phải bằng văn bản

Chậm nhất là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu bảo vệ, người có thẩm quyền bảo vệ có trách nhiệm kiểm tra, xác minh Thời hạn kiểm tra xác minh là 05 ngày làm việc Trường hợp thấy yêu cầu của người tố cáo là chính đáng thì chậm nhất trong thời gian 03 ngày làm việc, người có thẩm quyền bảo vệ phải áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền hoặc đề nghị người có thẩm quyền áp dụng biện pháp

để bảo vệ sau đây:

- Yêu cầu người sử dụng lao động chấm dứt hành vi vi phạm; khôi phục vị trí công tác, việc làm, các khoản thu nhập và lợi ích hợp pháp khác từ việc làm cho người được bảo vệ;

- Kiến nghị người có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật

2.1.4 Những điểm mới của pháp luật hiện hành về bảo vệ người tố cáo ở nước ta

So với Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, sửa đổi bổ sung năm 2004, 2005 (gọi tắt là Luật Khiếu nại, tố cáo 1998) và một số văn bản có liên quan về công tác bảo vệ người tố cáo, Luật Tố cáo năm 2011 và Nghị định 76/2012/NĐ-CP đã thể hiện nhiều

ưu điểm hơn so với luật cũ, cụ thể về công tác bảo vệ người tố cáo Luật Tố cáo năm

2011 và Nghị định 76/2012/NĐ-CP đã bổ sung những quy định sau:

2.1.4.1 Về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo

Luật Tố cáo đã quy định bổ sung người tố cáo có thêm các quyền và nghĩa vụ sau:

Trang 34

- Quyền được giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và thông tin cá nhân khác là quyền đương nhiên của người tố cáo và các cơ quan nhà nước có trách nhiệm thực hiện các biện pháp để bảo đảm quyền này của người tố cáo Vì đây là quyền của người

tố cáo nên người tố cáo có thể thực hiện hoặc không thực hiện

- Nghĩa vụ phải nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình; trình bày trung thực về nội dung tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình và có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra

Luật quy định người tố cáo có nghĩa vụ phải nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình tuy nhiên, bên cạnh đó người tố cáo cũng có quyền được giữ bí mật về họ, tên, địa chỉ, bút tích của mình có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác bảo vệ người tố cáo Cụ thể

là khi người tố cáo tiến hành tố cáo thì phải nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình để người thụ lý, giải quyết tố cáo và những người có thẩm quyền bảo vệ có thể dễ dàng nắm được thông tin cụ thể về người tố cáo cũng như chi tiết về vụ việc tố cáo, như vậy công tác bảo vệ cho người tố cáo sẽ được thực hiện dễ dàng và triệt để hơn Việc được quyền giữ bí mật về họ, tên, bút tích, địa chỉ và được khen thưởng khi hoàn thành tốt nghĩa vụ góp phần giúp người tố cáo an tâm khi thực hiện nghĩa vụ của mình, tránh khỏi các nguy cơ bị đe dọa, trù dập, trả thù từ phía người bị tố cáo

2.1.4.2 Về nghĩa vụ của người giải quyết tố cáo

Tại khoản 2, Luật Tố cáo năm 2011 đã quy định một số điều mới về nghĩa vụ của người giải quyết tố cáo trong công tác bảo vệ người tố cáo như sau:

- Áp dụng các biện pháp cần thiết theo thẩm quyền hoặc yêu cầu cơ quan chức năng áp dụng các biện pháp để bảo vệ người tố cáo, người thân thích của người tố cáo, người cung cấp thông tin có liên quan đến việc tố cáo

- Không tiết lộ thông tin gây bất lợi cho người bị tố cáo khi chưa có kết luận về nội dung tố cáo

- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc giải quyết tố cáo

- Bồi thường, bồi hoàn thiệt hại do hành vi giải quyết tố cáo trái pháp luật do mình gây ra

Những quy định về nghĩa vụ của người giải quyết tố cáo có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác bảo vệ người tố cáo, bởi luật quy định người giải quyết tố cáo là người đi đầu trong công tác bảo vệ người tố cáo, quy định chi tiết về nghĩa vụ của người giải quyết tố cáo góp phần nâng cao ý thức và điều chỉnh các hoạt động trong quá trình giải quyết tố cáo, giúp công tác bảo vệ người tố cáo được hoàn thiện hơn

Trang 35

2.1.4.3 Về công tác bảo vệ người tố cáo

Tại chương V, từ điều 34 đến điều 40 quy định chi tiết về công tác bảo vệ người

tố cáo bao gồm các quy định về nơi thực hiện bảo vệ người tố cáo, đối tượng bảo vệ, thời hạn bảo vệ và người có trách nhiệm bảo vệ người tố cáo Đồng thời luật cũng có quy định việc quy định người tố cáo phải có văn bản yêu cầu bảo vệ chỉ áp dụng trong trường hợp họ có căn cứ cho rằng bị phân biệt đối xử về việc làm, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ công dân, hay nguy hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình Đây cũng là cơ sở để các cơ quan xác định các biện pháp bảo vệ phù hợp, bảo đảm tính khả thi trên thực tiễn, phù hợp với nguyên tắc bảo vệ bí mật thông tin cho người tố cáo

Ngoài ra, ngày 03 tháng 10 năm 2012, Chính phủ đã ban hành Nghi định 76/2012/NĐ-CP, để chi tiết một số điều của Luật Tố cáo năm 2011, Nghị định đã quy định cụ thể một số điều về công tác bảo vệ người tố cáo như bảo vệ bí mật thông tin về người tố cáo trong quá trình tiếp nhận, thụ lý, giải quyết tố cáo; bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các quyền nhân thân khác của người tố cáo và người thân thích của người tố cáo; bảo vệ vị trí công tác, việc làm của người tố cáo, người thân thích của người tố cáo

Nghị định 76/2012/NĐ-CP giúp những quy định của Luật Tố cáo năm 2011 về bảo vệ người tố cáo được chi tiết và hoàn chỉnh hơn, cụ thể là các biện pháp bảo vệ và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc bảo vệ người tố cáo

2.2 Các phương thức bảo vệ người tố cáo

Luật Tố cáo 2011 được ban hành có ý nghĩa to lớn trong việc phân biệt rành mạch các vấn đề liên quan đến tố cáo và khiếu nại, cho chúng ta thấy tố cáo và khiếu nại là hai vấn đề có bản chất hoàn toàn khác nhau, từ thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết điều được phân định khá độc lập Ngoài ý nghĩa trên, Luật Tố cáo 2011 ra đời còn xuất phát từ yêu cầu giải quyết hiệu quả hơn các tố cáo đang phát sinh trong thực

tế và để khắc phục các hạn chế đang tồn tại của pháp luật về lĩnh vực này Có thể nói, nhiều quy định mới đã được bổ sung, sửa đổi trong Luật Tố cáo, song đáng lưu ý là Luật đã có một chương riêng quy định về bảo vệ người tố cáo, bao gồm các nội dung như: quyền và nghĩa vụ của người tố cáo được bảo vệ; bảo vệ bí mật thông tin về người tố cáo; bảo vệ người tố cáo tại nơi công tác, làm việc và bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người tố cáo Trong đó, Điều 40 của Luật Tố cáo quy định:

Trang 36

“Chính phủ quy định chi tiết về các biện pháp bảo vệ người tố cáo, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc bảo vệ người tố cáo.33

Việc Quốc hội giao Chính phủ quy định chi tiết về biện pháp bảo vệ người tố cáo đã cho thấy ý nghĩa, tầm quan trọng cũng như sự cần thiết của vấn đề này trong thực tiễn Tuy nhiên, đây là vấn đề khá mới và nội dung phức tạp, vì thế cần phải có những tiến trình nghiên cứu và kháo sát thực tế để tạo cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp bảo vệ người tố cáo, bảo đảm tính khả thi của quy định sau khi được ban hành Mặc dù vậy, từ các quy định của Luật Tố cáo và thực tế công tác giải quyết tố cáo thời gian qua thì các biện pháp bảo vệ người tố cáo xét cho cùng cũng gần giống với các biện pháp bảo vệ nhân chứng và được thể hiện trên bốn nhóm cơ bản là: Các biện pháp hành chính, các biện pháp kĩ thuật, các biện pháp kin tế và các biện pháp hình sự

2.2.1 Các biện pháp hành chính

Biện pháp hành chính là việc các cơ quan Nhà nước ban hành và thực hiện các

quy định bảo vệ sự an toàn cho người tố cáo và người thân của họ về tính mạng, sức khỏe, công việc…và các biện pháp cần thiết khác cho sinh hoạt, làm việc bình thường trước khả năng đe dọa, trả thù từ phía những đối tượng bị tố cáo do có hành vi vi phạm pháp luật như: thuyên chuyển công tác của người được bảo vệ sang cơ quan, tổ chức, đơn vị khác nếu có sự đồng ý của họ để tránh bị trù dập, phân biệt đối xử; ra quyết định xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với người có hành vi trả thù, trù dập, đe dọa, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được bảo vệ

2.2.2 Các biện pháp kĩ thuật

Đây là các biện pháp mà cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sử dụng các phương tiện kĩ thuật để bảo vệ người tố cáo, chẳng hạn như việc kiểm soát và ghi âm các cuộc điện thoại của người tố cáo, người bị tố cáo Biện pháp này trước hết nhằm mục đích bảo vệ người tố cáo vì có thể biết được nội dung cuộc gọi, số điện thoại gọi đến của những người tác động hoặc đe dọa người tố cáo, từ đó chủ động áp dụng những biện pháp khác để bảo vệ người tố cáo Tuy nhiên đây là biện pháp liên quan đến vấn đề cá nhân, do vậy cần phải có những quy định cụ thể trong việc sử dụng biện pháp này, trong đó việc quan trọng là xác định ai là người có thẩm quyền sử dụng và sử dụng những biện pháp kĩ thuật này trong những trường hợp nào Ở một số nước xác định việc sử dụng các biện pháp kĩ thuật để kiểm soát điện thoại cá nhân chỉ được thực hiện

33

Điều 40, Luật Tố cáo năm 2011

Ngày đăng: 03/10/2015, 04:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w